File "ChuongIV-GiaoHoi.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/THIENCHUA/ThienChuavaTranThe/ChuongIV-GiaoHoi.htm
File size: 302.5 KiB (309764 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<LINK rel="stylesheet" href="../Suyniemmoingay/_common/colours.css" type="text/css">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">

<title>Thien Chua - Thiên Chúa và Trần Thế</title>
<style>
<!--
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Arial","sans-serif";
	}
-->
</style>
<meta name="keywords" content="Năm Bánh - Hai Cá - Giêsu Kitô; tinmung.net; dongcong.net, suy niệm mỗi ngày">
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../_themes/network/netw1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="network 1011">
</head>

<body>

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="10" bgcolor="#FFFFF2" cellpadding="10">
	<tr>
		<td style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 12pt; font-weight: bold; border-left-style:solid; border-left-width:1px; border-right-style:solid; border-right-width:1px; border-top-style:solid; border-top-width:1px">
		<p align="center"><font color="#FF0000">CHƯƠNG IV:</font></p>
		<p align="center"><font color="#FF0000">GIÁO HỘI</font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 12pt" align="justify">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thưa Hồng 
				Y, &nbsp;Đức Giê-su Ki-tô đã hứa với các tông đồ và những người kế 
				vị, là Ngài sẽ luôn nhắc nhở họ về những lời Chúa dạy, và Ngài 
				vẫn tiếp tục làm điều đó. Hồng Y có cảm nhận nào về lời hứa đó 
				không?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Việc Chúa nhắc nhở 
				không nên hiểu một cách máy móc, như kiểu mình có thể gọi ra một 
				dữ kiện từ máy vi tính. Đó là một lời hứa có giá trị cho toàn cả 
				Giáo Hội . &nbsp;Đức Giê-su nói thế này: “Chúa Thánh Linh, người được 
				Chúa Cha nhân danh thầy sai xuống, sẽ chỉ cho anh em mọi sự và 
				giúp anh em nhớ tất cả những gì thầy dạy”.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nói thế, có nghĩa là 
				Ngài không để Giáo Hội phải bước đi một mình, là Ngài không bỏ 
				rơi Giáo Hội, là Ngài giúp Giáo Hội đổi mới trí nhớ để hiểu ra 
				và đào sâu những gì trước đây chưa hiểu. Nhưng không có nghĩa là 
				mỗi cá nhân bất cứ lúc nào cũng có thể đòi cho mình quyền được 
				nhắc nhở đó; và việc nhắc nhở cũng không tới với Giáo Hội một 
				cách đương nhiên. Mà Giáo Hội cần phải cầu nguyện và ghi nhớ 
				liên lỉ, qua đó Chúa Thánh Linh rồi sẽ tác động. Song tôi có thể 
				nói, một cách nào đó, cầu nguyện chắc chắn đã giúp tôi có nhiều 
				cảm nhận.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Dù sao cũng đã có 
				nhiều tín hữu nam nữ tuyệt vời, họ nhìn thấu được những mối liên 
				hệ lớn lao và trình bày những hiểu biết phức tạp đó một cách tài 
				tình, để đám đông có thể nắm bắt được.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi nghĩ, cũng một 
				phần nhờ họ có mặt trong Giáo Hội và cùng sống với đức tin Giáo 
				Hội, nên họ đã có được ơn soi sáng đó. Giáo Hội có thể mở rộng 
				chân trời hiểu biết và giúp con người đi sâu vào những gì mà một 
				mình họ không thể hiểu nổi. Ngoài ra, cũng có những người được 
				ơn Chúa đặc biệt, mà ta gọi là thánh, nhờ tâm hồn gần Chúa nên 
				họ có khả năng đi sâu vào lời Chúa hơn và làm cho lời đó trở nên 
				sống động trước mắt ta.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có phải 
				tình yêu đã gắn bó ngài với Giáo Hội?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có thể nói như thế. 
				Giáo Hội là nhà của tôi, đó là đại gia đình của tôi, vì thế tôi 
				yêu thương gắn bó với nó, cũng như người ta gắn bó với gia đình 
				mình.Giáo Hội không phải là một sản phẩm tình cờ hay tuỳ nghi 
				của lịch sử, đặc biệt không phải là một sản phẩm như lịch sử 
				hiểu. Nhưng với người ngoài, nó thường được xem là một tổ chức 
				có của và quyền lực, giống như một công ti, nhưng ông chủ ở đây 
				suốt ngày mặc áo thụng chạy lòng vòng. Trước đây, đại giáo chủ 
				Lê-ô có lần nói, để có thể hiểu được đôi chút về Giáo Hội, người 
				ta trước hết phải cởi bỏ đi “cái màn đêm giác quan địa cầu và 
				màn khói khôn ngoan trần thế”.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có thể tiếp cận Giáo 
				Hội trên nhiều bình diện. Người ta có thể nhìn nó thuần tuý như 
				một định chế, như một trong những quyền lực có tổ chức hiện diện 
				trên thế giới, hay nhìn nó với cái nhìn thuần tuý xã hội. Người 
				ta có thể bị sứt mẻ vì những biến cố hoặc cá nhân riêng rẽ trong 
				Giáo Hội. Tuy nhiên, nếu cứ nhìn dưới khía cạnh định chế, ta chỉ 
				hiểu được Giáo Hội một cách phiến diện.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi thấy xã hội duy lí 
				và náo động ngày nay bị cám dỗ nhìn Giáo Hội qua những uỷ ban, 
				hội đồng và họp hành. Người ta muốn nó phải thực tế và dễ nắm 
				bắt hơn, muốn nó phải là một công trình của con người, trong đó 
				rồi ra đa số sẽ biểu quyết những chuyện nên tin hoặc không thể 
				tin, hoặc những chuyện khác nữa. Nhưng làm như vậy là người ta 
				càng ngày càng đẩy Giáo Hội xa khỏi chính nó. Giáo Hội, như thế, 
				sẽ chẳng còn đạt tới được sự sinh động – và dĩ nhiên chẳng còn 
				vươn được tới Chúa nữa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nếu muốn hiểu đúng 
				Giáo Hội, tôi nghĩ, ta nên tiếp cận nó từ bình diện phụng vụ. 
				Đây là bình diện nói lên nhiều nhất về bản tính Giáo Hội, bởi vì 
				đây là chỗ Chúa luôn tiếp xúc và đổi mới Giáo Hội. Trong phụng 
				vụ, ta phải sống cuộc sống Giáo Hội qua Kinh Thánh, qua các bí 
				tích và lời kinh của tín hữu hoàn vũ. Và nhờ thế, như đại giáo 
				chủ Lê-ô nói, người ta mới có thể gạt đi màn khói làm mờ cái 
				nhìn của ta và bóc đi những cái dằm trong đôi mắt, để chúng dần 
				trở nên sáng và thấy được.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Và rồi, người ta sẽ 
				thấy Giáo Hội trong chiều thẳm sâu hơn. Rằng trong đó gồm cả 
				cộng đoàn các thánh, hữu danh hoặc vô danh, những người đã ra đi 
				trước chúng ta. Rằng Giáo Hội hiện thân nơi vô số những tín hữu 
				gắn bó với Đức Ki-tô. Và rằng nguồn cội của Giáo Hội xuất phát 
				từ chính Đức Ki-tô. Chúa Ki-tô là động lực làm cho vườn nho sống 
				và giúp nó đơm hoa kết trái. Trong ý nghĩa đó,Giáo Hội có bản 
				chất sâu xa hơn là những gì có thể thống kê được, hay những gì 
				có được qua biểu quyết. Nó là một cơ phận sống được nhờ bởi 
				chính Đức Ki-tô.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<a name="1._THÁNH_LINH_"><span style="color: #FF0000"><b>1</b></span><span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI"><b>. 
				THÁNH LINH</b></span></a></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">NHƯ MỌI SỰ 
				KHỞI ĐẦU…</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">“Phúc cho 
				anh, Si-mon Ba-gio-na”, &nbsp;Đức Giê-su nói với người đàn ông, mà 
				tên tuổi được Giáo Hội ghi ấn muôn đời, “anh là Phê-rô, và trên 
				đá này ta sẽ xây Giáo Hội ta, và mọi quyền lực âm phủ sẽ không 
				chiến thắng nó được”. Câu nói mở đầu một lịch sử thành công vô 
				tiền khoáng hậu. Phải chăng, với câu nói đó, chính Đức Ki-tô đã 
				lập Giáo Hội?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu hỏi, phải chăng 
				chính Đức Ki-tô muốn có Giáo Hội, đã trở thành một cuộc bàn luận 
				sôi nổi. Nhiều người bảo không, Ngài chỉ muốn Nước Trời hay một 
				cái gì khác, chứ hoàn toàn không phải Giáo Hội. Lập luận như 
				thế, rõ ràng người ta đã không hiểu rằng, không những &nbsp;Đức 
				Giê-su đứng trong lịch sử cứu độ của dân Do-thái, mà còn không 
				hiểu cả í định đổi mới dân này của Ngài, nghĩa là Ngài muốn đổi 
				mới, đào sâu và mở rộng toàn bộ lịch sử cứu độ - và như vậy có 
				nghĩa là Ngài muốn lập cái mà ta nay gọi là Giáo Hội.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có nhiều hồ sơ thành 
				lập Giáo Hội trong cuộc đời &nbsp;Đức Giê-su. Bắt đầu từ việc chọn 
				mười hai tông đồ. Mà chúng ta hiểu đó là biểu tượng của mười hai 
				chi họ Is-ra-en mới. Rồi tới những lời Ngài nói với họ, và nhất 
				là trong bữa tiệc li, bữa tiệc được giao và trao tặng cho họ như 
				là tâm điểm cuộc sống mới của họ. Sự việc càng rõ nét hơn trong 
				lệnh rửa tội, lệnh truyền giáo và nhiều chỗ khác. Và việc chọn 
				Phê-rô đứng đầu nhóm tông đồ và làm tảng đá Giáo Hội là một sự 
				kiện trong gói hồ sơ thành lập đó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Sau khi 
				mất, &nbsp;Đức Giê-su hiện ra với các tông đồ ở Giê-ru-sa-lem. Theo 
				phúc âm Mát-thêu, Ngài nói với các ông: “Bình an cho anh em! Như 
				Cha đã sai thầy, thầy cũng sai anh em”. Vừa nói, Ngài thổi hơi 
				vào các ông và nói: “Hãy nhận lấy Thánh Linh!” Có lẽ chẳng ai 
				trong các ông lúc đó hiểu được chuyện gì sẽ xẩy ra với việc thổi 
				hơi đó.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đó là một hoạt cảnh 
				đầy ấn tượng, nó cụ thể hoá việc chọn nhóm mười hai sau ngày 
				phục sinh. Các tông đồ trở thành những người mang Thánh Linh, 
				đấng tiếp nối sứ mạng của chính Chúa Giê-su Ki-tô trong họ. Thật 
				ra lúc đó chẳng ai có thể tưởng tượng được sứ mạng đó sẽ tác 
				động như thế nào. Đa số trong họ nghĩ tới ngày tận thế đang tới 
				gần. Họ tin chắc rằng, thời gian giờ đây đã viên mãn, và lịch sử 
				chẳng còn kéo dài bao lâu nữa. Các tông đồ chỉ cần biết, họ giờ 
				đây mang trong mình thần linh của Đức Ki-tô, và họ phải mang sự 
				bình an – đó là cái mới do Ngài mang tới - vượt biên giới 
				Do-thái ra cho các dân tộc khác nữa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Một chuyện kì diệu đã 
				xẩy ra sau ngày phục sinh. Vào một chiều tối, Phê-rô, Gio-an và 
				vài người khác đánh cá trong hồ Giê-nê-sa-ret. Bầu khí chẳng 
				vui, vì họ không đánh được con cá nào cả. Sáng sớm hôm sau, khi 
				thuyền cập bờ, họ gặp &nbsp;Đức Giê-su. Các môn đồ không nhận ra 
				Ngài, dù Ngài nói với họ như một người thân. Ngài nói: “Này, mấy 
				cậu, có gì ăn không?” Rồi Ngài bảo họ: “Hãy thả lưới bên phải 
				mạn thuyền thì sẽ có cá”. Không hiểu sao, họ làm theo lời, và 
				lưới đầy cá đến nỗi không thể kéo lên được. “Thầy đó!”, Gio-an 
				chợt la lên. Phê-rô phóng mình xuống nước, bơi vào bờ, những 
				người khác chèo thuyền vào theo. Họ bắt được 153 con cá to, mà 
				lưới không rách.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu chuyện mang tính 
				rất biểu trưng và đa nghĩa, lúc này đây ta không thể bàn vào chi 
				tiết được. Một mẻ lưới kì diệu. Các ngư phủ lưới cả đêm mà chẳng 
				bắt được gì, và với kinh nghiệm dày dạn của họ, không ai nghĩ 
				rằng sáng ra mà còn đánh được cá. Nhưng họ nghe lời &nbsp;Đức Giê-su, 
				trở ra lại, thả lưới và quả được như lời Ngài nói.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đâu là ý nghĩa con số 
				153 mà Gio-an đã cẩn thận ghi lại, các học giả chưa hiểu. Một số 
				người coi đó là chữ số tên gọi của Phê-rô. Dù sao, họ coi đó là 
				dấu chỉ của sự tràn đầy. Đây là một lời hứa vượt lên trên cái 
				hiện có. Một mặt, nó cho thấy con người chẳng cần nhọc công gì 
				trong việc bắt cá từ biển trần gian này, để từ đó có được những 
				con cá người sống động cho Chúa. Mặt khác, nó đồng thời nói lên 
				hứa hẹn luôn có thể xẩy ra điều không thể xẩy ra, rằng Giáo Hội 
				luôn vẫn có thể kéo lưới Ki-tô từ bể gian trần chóng qua, và 
				rằng trong mẻ lưới này của ngư phủ Phê-rô sẽ có vô số con người 
				được kéo lại với nhau.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Câu 
				chuyện tiếp tục. Họ đốt lửa, sửa soạn bữa ăn với cá và bánh mì. 
				Và rồi &nbsp;Đức Giê-su quay sang Si-mon Phê-rô: “Này Si-mon”, Ngài 
				nói, “con của Jo-nas, anh có yêu thầy hơn các anh em kia không?” 
				Phê-rô ngỡ ngàng, đáp: “Vâng, thưa Thầy, Thầy biết con yêu 
				Thầy”. Ngài hỏi đi hỏi lại ông ba lần như thế, lần nào cũng được 
				trả lời: “Vâng, thưa Thầy, Thầy biết con yêu thầy”. Cuối cùng, 
				Phê-rô hơi bực, thưa: “Thầy, Thầy biết mọi chuyện, Thầy cũng 
				biết là con yêu Thầy”. Sau đó, cũng với ba câu, Ngài đã trao cho 
				Phê-rô sứ mạng lạ lùng: “Hãy chăn dắt chiên của thầy”, “Hãy chăn 
				dắt chiên của thầy”, và cuối cùng “Hãy chăn dắt cừu của thầy”. 
				Những điều đó mang ý nghĩa gì?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước hết, các môn đệ 
				đã bắt cá cho Ngài, và Ngài đã cho các ông ăn. Rốt cuộc thì nỗ 
				lực của con người được đền bù nhiều hơn bởi tặng phẩm do chính 
				&nbsp;Đức Giê-su trao ban. Và cuối cùng, thêm một lần nữa, ta thấy &nbsp;ý 
				hướng sắp đặt người kế vị của Chúa. Lời thú nhận đầu tiên của 
				Phê-rô, mà chúng ta đã nói tới trước đây, xẩy ra sau khi vụ 
				thành công ở Ga-li-lê đã lắng đọng, và không còn ai đề cập tới 
				&nbsp;Đức Giê-su nữa. Nhiều người cho rằng câu nói Phê-rô là đá không 
				phải do &nbsp;Đức Giê-su nói, mà đó chỉ là điều do người ta thêm thắt 
				về sau cùng với câu chuyện phục sinh. Nhưng các Tin Mừng đã cố 
				tình ghi lại câu đó vào một thời điểm quyết định trong cuộc đời 
				tại thế của &nbsp;Đức Giê-su; nó đã được đan bện vào khung cảnh đó, 
				đến nỗi không thể nào tách rời ra được.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong phòng tiệc li 
				lại có một lời hứa mới với Phê-rô: Ngày nào đã vững, anh nhớ 
				củng cố anh em. Nghĩa là Phê-rô được giao cho nhiệm vụ củng cố 
				đức tin cho đồng bạn. Điều quan trọng, là những chứng cứ về 
				Phê-rô đó xuyên suốt các sách Tân Ước. Trong các Tin Mừng nhất 
				lãm, trong Tin Mừng Gio-an và thư Phao-lô ta đều thấy vai trò 
				đứng đầu đó; nghĩa là nhận thức về chỗ đứng đặc biệt của Phê-rô 
				đã được nói tới trong nhiều vùng truyền thống khác nhau.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tin Mừng Gio-an đoạn 
				21 trên nói về một nghi thức kế vị. Phê-rô từ đây phải chăm sóc 
				đàn chiên của Chúa. Và sau đó Chúa nói với ông, trong một tiên 
				tri về cuộc tử đạo, rằng nhiệm vụ đó chỉ được xây dựng trên tình 
				yêu đối với Ngài, và chỉ có thể thực thi với điều kiện sẵn sàng 
				bước vào con đường tử đạo. Như vậy, đối với tín hữu công giáo, 
				nền thần học đầy đủ về Phê-rô trong Tân Ước đã bằng nhiều cách 
				nói lên sứ mạng đặc biệt của ngài – và đó cũng là một di chúc 
				cho Giáo Hội mọi thời.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">&nbsp;Đức 
				Giê-su phục sinh đã truyền cho các môn đệ, anh em chỉ rời 
				Giê-ru-sa-lem sau khi đã nhận được “sức mạnh từ trời” là Chúa 
				Thánh Thần. Ngài có một câu đầy bí ẩn: “Gio-an đã làm phép rửa 
				bằng nước, còn anh em ít ngày nữa sẽ được rửa bằng Thánh Thần”. 
				Nghĩa là sao?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">&nbsp;Đức Giê-su loan báo 
				về quà tặng Thánh Linh, sẽ được đổ xuống lần đầu tiên trong ngày 
				lễ ngũ tuần. Câu chuyện đã được thánh Lu-ca thuật lại trong 
				Công-vụ Tông-đồ. Trong đó, ngài mô tả quà Thánh Linh đã đổ xuống 
				trên nhóm ưu tú 120 người đang tụ họp với mười hai tông đồ và mẹ 
				Maria như thế nào. Lu-ca viết sách đó rất cân nhắc, ngài cho hay 
				việc Thánh Linh hiện xuống là một cuộc tái cưu mang &nbsp;Đức Giê-su, 
				và như vậy con người Giê-su đã được đón nhận nơi trần gian. Giờ 
				đây Thánh Linh lại xuống, và như thế Giáo Hội, “nhiệm thể Đức 
				Ki-tô”, được hình thành để bước vào lịch sử. Điều đó xẩy ra 
				trong dấu chỉ mưa bão và lửa, và nhất là qua dấu chỉ phép lạ 
				ngôn ngữ - với những dấu chỉ đó Giáo Hội được thông báo và đón 
				nhận bằng mọi thứ tiếng. Đó là hình ảnh đối lập với tháp Babel. 
				Đó là xã hội mới và khác, mà Thiên Chúa giờ đây dựng lên trong 
				lòng người, nhờ bởi sức mạnh của Thánh Linh là ngọn lửa của 
				Thiên Chúa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhưng 
				phải chăng đã có lửa, những lưỡi lửa từ trời rơi xuống thật sự?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cảnh tượng đó thật sự 
				ra sao, tuỳ mỗi người hiểu. Các giáo phụ, và đặc biệt nền thần 
				học đông phương, coi biểu tượng đó mang ý nghĩa rất sâu xa. 
				Thánh Linh hiện ra dưới hình lưỡi, hình lửa, điều đó có nghĩa là 
				Ngài sẽ ngự lại nơi từng người một. Đó là những hình ảnh cơ bản 
				nói lên cho ta biết cái còn lại, cái mầu nhiệm của Thánh Linh, 
				của sự tái sinh Giáo Hội. Và phép lạ ngôn ngữ cũng nói lên cái 
				mà ta gọi là chất công giáo của Giáo Hội.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">BẢN CHẤT 
				CỦA GIÁO HỘI</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Giáo Hội 
				tái sinh. Thế nào là Giáo Hội? Nó phải nên như thế nào? Tại sao 
				lại gọi bản chất Giáo Hội là tông truyền và công giáo?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tông truyền có nghĩa 
				mối liên kết hàng ngang của Giáo Hội kinh qua mọi thời đại. Giáo 
				Hội, trước hết, được nối vào nguồn lịch sử với mười một người 
				được Chúa chọn (còn mười một người, sau đó Ma-thêu được chọn 
				thêm vào). Giáo Hội không phải là một huyền thoại hay một ý hệ 
				bịa đặt, nhưng nó thật sự thả neo nơi biến cố &nbsp;Đức Giê-su Ki-tô 
				lịch sử, và nó luôn có thể chỗi dậy một cách mới mẻ từ gốc tông 
				đồ đó. Điều này được biểu lộ không những qua việc Giáo Hội trung 
				thành với chứng tá và niềm tin của các tông đồ xưa, mà còn cả 
				qua việc bí tích. Vì thế, chúng ta không thể lâu lâu lại bắt 
				Giáo Hội phải như thế này hay như thế nọ được. Mà Giáo Hội luôn 
				phải gắn chặt với nguồn, phải là một tiếp nối liên tục của nguồn 
				đó. Bí tích truyền chức linh mục cho thấy mối liên kết với cái 
				nguồn không do ta tự nghĩ ra đó, và đồng thời cho ta biết Chúa 
				Thánh Linh là đấng bảo đảm cho sự liên tục.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Còn công 
				giáo?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Công giáo dịch nghĩa 
				là “bao gồm toàn thể”, là cho hết mọi người. Nghĩa là Giáo Hội 
				của toàn thế giới, của mọi nền văn hoá và mọi thời. Điểm này rất 
				quan trọng. Là vì Giáo Hội không bao giờ được hạn hẹp lại trong 
				một Giáo Hội quốc gia. Nó luôn phải vượt ra ngoài mọi biên 
				cương. Không được trở thành một Babylon. Giáo Hội có mặt để nhân 
				loại khỏi bị trấn át bởi cảnh hỗn loạn kình chống nhau. Nó có 
				mặt để, bằng qua muôn thứ ngôn ngữ, dâng lên Thiên Chúa toàn bộ 
				kho tàng tốt đẹp của nhân loại - và như vậy Giáo Hội cũng là lực 
				giao hoà ở ngay giữa chính nhân loại.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Người 
				công giáo có một lối nghĩ rất đặc biệt. Đó là một cách nhìn 
				riêng về các biến cố, về con người và tất cả những gì xẩy ra 
				trên sân khấu thế giới này. Có cách nào để định nghĩa lối nghĩ 
				đó không ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Khó nói. Tính cách 
				công giáo thật ra được hình thành và nuôi dưỡng từ toàn thể lịch 
				sử lòng tin, nhưng hình thái đặc thù của nó đã triển nở đặc biệt 
				nơi Giáo Hội phương tây. Vì thế, một số yếu tố, mà ngày nay ta 
				gọi là lối nghĩ công giáo, không đúng cho mọi thời và có thể đổi 
				thay. Nhờ sự gia nhập của các dân tộc mới, nhờ việc bước ra tiến 
				vào thời đại mới, mà ta có thể có được những thay đổi, những đào 
				sâu, những đổi mới.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tôi thấy 
				hình như tự do đức tin nơi người tin lành bị hạn chế, họ ở trong 
				tình trạng phải chọn một trong hai, hoặc cái này hoặc cái kia; 
				còn nơi người công giáo có sự mềm dẻo hơn: Hoặc cái này lẫn cái 
				kia. Công giáo coi trọng cái liên kết, nghĩa là chấp nhận cả 
				kinh sách lẫn truyền thống, cả quyền bính lẫn tự do, cả đức tin 
				lẫn việc lành. Đâu là cái khác đặc thù giữa tin lành và công 
				giáo ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Khó có thể trả lời một 
				cách dễ dàng, nhất là khó mà quy vào một điểm duy nhất, mặc dầu 
				quan điểm hoặc có hoặc không nơi Tin lành khá rõ ràng. Chủ 
				trương duy Ki-tô – chỉ có Đức Ki-tô mà thôi – rất mạnh trong lối 
				nghĩ của Luther. Trong khi đặc điểm của Công giáo là cố gắng 
				tổng hợp. Nhưng nên tránh lối phân biệt bằng những công thức mô 
				mẫu, bởi vì phía Tin lành có nhiều phái và bên Công giáo cũng 
				mang nhiều thể - và nhất là vì ta chưa khai thác hết được những 
				khả thể lịch sử trước mắt.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Dĩ nhiên, Công giáo 
				luôn bài bác các công thức ‘duy’ của Tin lành, đặc biệt là duy 
				Kinh, nghĩa là chỉ tin vào Kinh Thánh mà thôi. Công giáo vừa tin 
				Kinh lẫn những gì tông truyền sống động, bởi vì tông truyền là 
				chủ thể cưu mang Kinh, nó cũng là chủ thể Giáo Hội giải thích về 
				Giáo Hội. Điểm “duy tin” cũng mang nghĩa giới hạn, là vì đức 
				tin, trước hết, là cánh cửa duy nhất qua đó hồng ân Chúa đến với 
				ta, nhưng rồi đức tin đó, như trong thư gởi Ga-lát nói, phải 
				được thể hiện trong tình yêu. Ơn công chính hoá của cuộc sống 
				Ki-tô giáo hệ tại nơi sự hoà tan giữa đức tin và tình yêu. Vì 
				thế phải phá bỏ cái duy ở đây.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tóm lại, cái khuynh 
				hướng mở, khuynh hướng mà ta không thể coi thường tầm quan trọng 
				của nó, chống lại chủ nghĩa loại trừ mang tính một chiều của các 
				cái ‘duy’ trên, là một trong những cái khác biệt nền tảng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">TÂM ĐIỂM 
				CỦA GIÁO HỘI</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tâm điểm 
				của Giáo Hội, nếu tôi hiểu không lầm, không phải là Vatican hay 
				giáo chủ, nhưng là một phụ nữ. Một trong những thành tựu lớn 
				nhất của thần học thế kỷ20 là tái khám phá ra mẹ Maria như là 
				“hình ảnh cội nguồn của Giáo Hội”. Đặc biệt nhờ thi sĩ Paul 
				Claudel* mà việc tôn sùng Mẹ gần như bị quên lãng đã thật sự 
				trổi dậy.Paul Claudel cho hay, khám phá của ông về Mẹ gắn liền 
				với một kinh nghiệm trong một thánh lễ chiều tối Giáng sinh năm 
				1886 tại Paris. Ông không háo hức lắm khi dự thánh lễ trong nhà 
				thờ đức Bà hôm đó, nhưng, lúc hát bài ca Magnificat, ông bỗng 
				như bị chấn động bởi một tiếng nổ dữ dội. Biến cố đó giúp ông 
				hiểu rằng tất cả những gì Maria nói đều có giá trị cho Giáo Hội. 
				Và ngược lại Giáo Hội nhìn thấy qua Mẹ hình ảnh cội nguồn toàn 
				hảo của mình. Ông cho hay, bản chất của Giáo Hội được cụ thể hoá 
				trong đức Maria, vì qua ngài ta thấy được nguyên tắc công giáo 
				về tầm quan trọng của sự cộng tác con người vào ơn cứu độ. “Mẹ 
				Thiên Chúa”, ông nói, “và Giáo Hội thánh, đối với tôi, là một. 
				Tôi chưa bao giờ học cách phân biệt hai thực thể đó”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Việc đồng hoá Giáo Hội 
				với một phụ nữ bắt nguồn sâu xa nơi Cựu Ước, khi Is-ra-en tự coi 
				mình là vị hôn thê mà Chúa muốn tin cậy và phó thác trong tình 
				yêu đời đời. Trong tinh thần nối tiếp cuộc sống của Cựu Ước, 
				Giáo Hội đã lấy lại hình ảnh đó. Ngay Phao-lô cũng gọi 
				Giê-ru-sa-lem là mẹ chúng ta. Với lối gọi đó, ngài khám phá ra 
				từ truyền thống do-thái hình ảnh Giáo Hội mẹ; thành phố mẹ này 
				đã sinh ra ta, trao tặng cho ta sự sống và tự do. Và các giáo 
				phụ, vì thế, đã lấy lại ý tưởng đó, một ý tưởng cũng đã xuất 
				hiện trong sách Khải-huyền – một người nữ bận áo mặt trời – và 
				dùng nó để trình bày bản chất rất thánh của Giáo Hội. Dù các 
				ngài lúc đó thường chẳng nghĩ gì tới Maria, nhưng trên căn bản, 
				toàn bộ môn Maria học cũng đã bao gồm yếu tố này. Nói cách khác: 
				Giáo Hội được cụ thể hoá trong Maria. Và những gì mang ý nghĩa 
				thần học nơi Maria đều được diễn tả nơi Giáo Hội. Có thể nói, cả 
				hai hoà nhập vào nhau : Maria là Giáo Hội bằng xương thịt, và 
				Giáo Hội trong tổng thể của mình là thân xác sẵn đó của Maria. 
				Như vậy, qua biến cố trở lại trên, Claudel đã thật sự tái trực 
				giác cái hình ảnh uyên nguyên và nhìn ra mối gắn bó khắng khít 
				giữa Maria học và Giáo Hội học.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong thế kỷchúng ta, 
				Hugo Rahner*, anh của Karl Rahner*, chuyên gia lớn về các giáo 
				phụ, đã trình bày một cách tuyệt vời toàn bộ bản văn của các 
				ngài, và đã chỉ ra rằng, chỗ nào các giáo phụ đề cập tới Giáo 
				Hội như một phụ nữ, chỗ ấy đồng thời xuất hiện Maria – và nhờ 
				vậy đã tránh được việc bó hẹp môn Maria học. Các chuyên gia khác 
				đang tiếp tục nghiên cứu điểm này. Công đồng Vatican II đã lấy 
				lại quan điểm trên qua việc nối kết Maria học vào Giáo Hội học.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi nghĩ, trên thực 
				tế, việc tái khám phá ra mối liên hệ vượt thời gian giữa Maria 
				và Giáo Hội, việc khám phá ra tính cách con người của Giáo Hội 
				trong Maria và tính cách Maria chung nơi Giáo Hội, là những phát 
				hiện lớn nhất của thần học trong thế kỷ20.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có một 
				giáo chủ ghi nhận : “Ai để tâm quan sát lịch sử Giáo Hội công 
				giáo, sẽ thấy ngay bàn tay độ trì của Mẹ đồng trinh Thiên Chúa 
				hiện diện trong mọi biến cố quan trọng của Giáo Hội. Mỗi khi đó 
				đây lầm lạc nổi lên tấn công sự thống nhất mỏng manh của Giáo 
				Hội và đẩy nó vào cuồng phong, thì các giáo phụ chúng ta lại tin 
				tưởng hướng về Mẹ, là người duy nhất chiến thắng mọi lầm lạc 
				trên thế gian ; và chiến thắng do Mẹ mang tới đó đã đưa Giáo Hội 
				bước vào những thời kì tốt đẹp hơn”. Nghe tuyệt quá nhỉ.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Người ta đã thi vị 
				hoá. Đó là lối nói của người xưa: Đức Bà chiến thắng mọi tà 
				giáo; một công thức xuất hiện trong thời có những tranh cãi về 
				bản tính Đức Ki-tô. Thời đó, người ta chạy tới Maria để cứu nhân 
				tính nơi &nbsp;Đức Giê-su, nhưng mặt khác, cũng là để cứu thiên tính 
				của Ngài, khi người ta cãi nhau về phẩm giá của Maria. Nhờ cuộc 
				tranh luận về Maria mà mầu nhiệm đồng bản tính thiên chúa và 
				loài người nơi &nbsp;Đức Giê-su Ki-tô được sáng tỏ. Từ đó nẩy ra lời 
				cầu đức Bà chiến thắng mọi tà giáo, và lời đó trong nhiều thời 
				kì đã thực sự trở thành một câu tuyên chiến. Tôi nghĩ, ta nên 
				nhìn đức Maria như là người ủi an, che chở, và dĩ nhiên như là 
				cây cầu đưa ta tới Chúa Ki-tô. Mẹ không lấy đi vương trượng của 
				Đức Ki-tô hay cản ngăn ta sùng mộ Ngài. Mà trái lại, nhờ Mẹ mà 
				ta mới hiểu được mầu nhiệm to lớn về Đức Ki-tô và mới được ở gần 
				Con ngài.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">SỨ MẠNG 
				GIÁO HỘI</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Sứ mạng 
				của Giáo Hội quá lớn và gần như vượt sức người. Có lẽ người ta 
				khó mô tả đầy đủ được sứ mạng đó. Thánh Phao-lô có lần dùng chữ 
				thật kêu để nói về Giáo Hội, bảo đó là cột trụ và nền móng của 
				chân lí. Ngài nói, đó là thầy dạy đức tin do Chúa cắt cử, đồng 
				thời có nhiệm vụ canh giữ không để mất chân lí đức tin và không 
				để sai lầm nào thấm nhập vào giáo huấn. Phải chăng Giáo Hội là 
				ông từ nghiêm khắc canh giữ đền thánh?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Điều anh nói được 
				trích từ các thư mục vụ, mà phần lớn các nhà chú giải Kinh Thánh 
				hiện nay bảo không phải do Phao-lô viết, nhưng ở đây ta không 
				bàn chuyện đó. Dù sao, những lá thư đó vẫn nằm trong truyền 
				thống phao-lô ; và, ít nhất trong trường phái Phao-lô, lối suy 
				nghĩ đó vẫn đang được tiếp tục. Ngay trong các thư quan trọng 
				của Phao-lô, ta thấy ngài viết rằng, Giáo Hội là kẻ cưu mang 
				sống động chân lí của Chúa Ki-tô. Giáo Hội có nhiệm vụ giữ gìn 
				chân lí đó, có thể nói là cột trụ của chân lí đó; và Giáo Hội 
				cũng sống, truyền bá chân lí đó một cách sống động và dễ hiểu, 
				để chân lí được triển nở. Chúng ta cũng đã nghe, Giáo Hội luôn 
				được Thánh Linh hướng dẫn để tìm tới sự thật, vì thế nơi giáo 
				huấn hai yếu tố trung thành và tiến bộ nối kết với nhau.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Điều đó 
				không chắc</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Luther đã phản đối 
				điều đó, bảo rằng, chẳng cần giáo huấn Giáo Hội, chỉ có Kinh 
				Thánh là đủ. Ông bảo, giáo huấn là kiêu ngạo, mỗi người có thể 
				tự mình hiểu Kinh Thánh, nếu đọc một cách đúng đắn. Ngày nay ta 
				thấy càng ngày càng rõ, là kinh sách thường mang nghĩa đôi. Lời 
				Chúa chỉ sống động trong Giáo Hội, nên phải bước vào trong đời 
				sống Giáo Hội. Như thế thì ta cũng cần một cơ quan được ủy quyền 
				diễn giải. Cơ quan đó dĩ nhiên phải hiểu là nó không đứng trên, 
				nhưng đứng dưới lời Chúa và phải lấy lời đó làm chuẩn.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngoài ra, trong lãnh 
				vực này, hiện nay cũng đã có những cuộc trao đổi làm hoà giữa 
				các Giáo Hội. Qua đó, phía Công giáo đã phải bỏ đi một số nội 
				dung diễn giải lời Chúa, trong khi phía Tin lành đang đưa việc 
				diễn giải đi vào thẩm quyền của Giáo Hội. Từ những nhận thức đó, 
				hệ quả sau đây đã nẩy sinh theo thời gian: Nếu lời diễn giải của 
				Giáo Hội có giá trị bó buộc, thì Giáo Hội phải có một lực đỡ, 
				một soi sáng nào đó, để Giáo Hội có thể diễn giải đúng như Chúa 
				Thánh Linh, đấng dẫn dắt mình, muốn. Với lối nghĩ đó, cuối cùng, 
				huấn giáo không sai lầm (bất khả ngộ) đã hình thành.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Điểm này 
				hẳn cần phải giải thích thêm</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Để không bị lạm dụng 
				và hiểu lầm, điểm này, dĩ nhiên, phải được hiểu thật đúng trong 
				khuôn khổ giới hạn của nó. Không phải mọi lời do giáo quyền hay 
				giáo chủ nói ra, đều không sai lầm. Nhưng chỉ những gì mà Giáo 
				Hội, sau những cuộc đấu tranh tinh thần khó khăn trong lịch sử 
				và qua quá trình cầu nguyện suy tư lâu dài, tuyên bố đây là điều 
				diễn giải chính thức. Và như thế, nhờ ơn soi sáng, Giáo Hội vạch 
				ra nơi đây một lằn ranh để giúp con người khỏi rơi vào lầm lạc, 
				và đồng thời cũng để nói cho họ hay rằng, Giáo Hội không phải là 
				một dụng cụ phá hoại lời Chúa, song là người Mẹ và là chủ thể, 
				qua đó lời Chúa được sống động, được phát biểu đúng và được diễn 
				giải đúng. Nhưng, như đã nói, tất cả phải có điều kiện. Có nghĩa 
				là tất cả những ai mang trách nhiệm trong Giáo Hội phải phục 
				tùng những điều kiện đó trong tinh thần trách nhiệm cao. Họ 
				không được lấy í mình ra để quàng lên Giáo Hội, nhưng phải đứng 
				vào trong cộng đoàn đức tin chung với tinh thần phục vụ và lắng 
				nghe lời Chúa. Họ phải để cho lời đó hướng dẫn và tẩy gội cuộc 
				sống, có như thế họ mới có thể diễn giải lời Ngài đúng được.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Sứ mạng Giáo Hội rõ 
				ràng cũng bao gồm cả tinh thần đối kháng và nhận lỗi. Với tinh 
				thần đó, Giáo Hội có một chút gì phản kháng và quá khích và khác 
				người. Nếu tôi không lầm, thì Giáo Hội luôn chống lại mốt độc 
				tài. Giáo chủ (Gio-an Phao-lô II) đã dùng tiếng nói tông đồ của 
				mình để phản đối thế giới và coi đó là nhiệm vụ cao cả của mình 
				: Hãy phản đối, ngài đã kêu gọi như thế. Chống lại quyền lực của 
				thực tại, chống lại cái quá trớn của chủ nghĩa vật chất và chống 
				lại sự mù loà của một thế giới vô đạo đức.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Sứ mạng 
				của Giáo Hội, hẳn nhiên, bao gồm việc sẵn sàng phản đối và đối 
				kháng. Ta đã thấy, trong con người luôn có khuynh hướng chống 
				lại những lời từ trên xuống; họ muốn được thoải mái, muốn được 
				tự quyết định cái gì họ muốn, bằng cách tự đặt ra những ý hệ, tự 
				tạo ra cho mình một mốt thời trang và đi theo mốt sống đó.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hãy trở lại lần nữa 
				với lời tiên tri của Si-mê-on. Ông đã nói về Chúa Ki-tô: Con trẻ 
				này sẽ là dấu cho người ta chống. Và ta hãy nhớ lại chính lời 
				&nbsp;Đức Giê-su : “Tôi không đến để đem bình an, nhưng đem gươm 
				giáo”. Câu nói đó cho thấy sứ mạng to lớn và quan trọng của Giáo 
				Hội chống lại thời thượng, quyền lực của thực tại và độc tài ý 
				hệ. Ngay thế kỷtrước, Giáo Hội cũng đã phản kháng lại những nền 
				độc tài lớn. Và ngày nay, chúng ta đau buồn thấy sự phản đối của 
				Giáo Hội quá yếu, tiếng nói phản kháng của chúng ta đã không 
				kiên quyết và đủ lớn cho thế giới nghe. Nhưng cám ơn Chúa đã có 
				những gương tử đạo. Trong khi giáo triều yếu đi vì tế nhị ngoại 
				giao, thì các vị tử đạo đã trả giá cái mâu thuẫn đó bằng chính 
				cuộc sống mình.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hẳn nhiên, không phải 
				phản kháng vì thích phản kháng, hay là một phản ứng suông hoặc 
				vì cảm thấy bất lực trước viễn ảnh tương lai. Mà thái độ hay 
				hành động đó phải luôn mở ra cho cái thiện mọi thời, cho cái mới 
				gói gém trong mọi thời đó – cái mới đó cũng luôn mở ra những 
				chiều kích hoàn toàn mới của lời Chúa. Lại nữa, khi hành động, 
				ta cũng không được vì bất cứ lí do gì đẩy đức tin ra lề hay để 
				cho nó bị lu mờ đi. Phải chống lại những gì ngược lại với Thiên 
				Chúa, cho dù vì thế mà mình phải tự chống mình – cho đến phải 
				can đảm chấp nhận tử đạo.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Đức tin 
				thường mâu thuẫn với tinh thần thời đại. Tinh thần thời đại, 
				ngược lại, càng chống lại đức tin nhiều hơn. Chuyện đó chẳng mới 
				lạ gì. Guardini có lần viết : “Ai sống với Giáo Hội, lúc đầu 
				thường thấy sốt ruột bực mình, vì Giáo Hội luôn cứ bắt họ phải 
				làm ngược lại những người khác”. Người tín hữu, theo ông, cảm 
				thấy mình lạc hậu trước dư luận đương thời, mà thoạt tiên người 
				ta luôn coi là tiến bộ hơn mình. Ông viết : “Nhưng khi miếng vải 
				bịt mắt được gỡ ra, họ nhận ra Giáo Hội luôn kéo con cái mình ra 
				khỏi lối đi của quyền lực thời đại và giữ họ lại theo cái đang 
				có. Thật lạ lùng, không ai có được thái độ hoài nghi và độc lập 
				nội tâm trước “cái mà mọi người đều nói” hơn là người thật sự 
				sống với Giáo Hội”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vâng, những điều giáo 
				sư ấy viết ra cũng phản ảnh cuộc đời của ông. Thời Guardini ngồi 
				trên ghế đại học là lúc gia sản chủ nghĩa tự do còn rất mạnh, 
				ngay cả trong thần học công giáo. Giáo sư Koch, một trong những 
				thầy dạy ông ở đại học Tübingen, bị ảnh hưởng chủ nghĩa đó khá 
				nặng. Dĩ nhiên anh sinh viên trẻ Guardini lúc đó cũng theo thầy. 
				Chuyện các sinh viên liên đới với một ông thầy ăn nói mạnh bạo, 
				tự do, bàn về những điều mới lạ vượt khỏi vòng vây truyền thống 
				và bốp chát lại với Rô-ma, là điều dễ hiểu.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tuy nhiên, trong thời 
				gian học, cũng là thời gian ông rơi vào mối hoài nghi lớn về đức 
				tin, rốt cuộc ông đã nhận ra được bộ mặt đích thực của Giáo Hội 
				qua phụng vụ. Ông cho hay, dù vẫn mê theo thầy, nhưng ông đã 
				chọn cho mình con đường chống lại tự do, bởi vì suy cho cùng, 
				theo ông, chỉ có Giáo Hội là thực lực duy nhất dám phê bình lại 
				chủ nghĩa này. Càng bước theo Giáo Hội, càng đi sâu vào trong 
				nó, càng tín thác vào đức tin Giáo Hội – sự tín thác này bị coi 
				là thái độ trẻ con, thiếu độc lập -, ông càng nhận ra mình có 
				được sự độc lập lớn hơn trước tinh thần thời đại, càng có được 
				đầu óc tỉnh táo, hơn là đứng ở bất cứ từ nơi đâu khác. Guardini 
				là một trong những kẻ tiên phong phá bỏ khuynh hướng tự do trong 
				thần học. Nhờ đó, họ đã đánh thức dậy, cho cả một giai đoạn 
				khoảng từ 1920 tới 1960, niềm vui lớn nơi Giáo Hội, niềm vui 
				cùng nghĩ, cùng tin với Giáo Hội. Cá nhân Guardini đã kinh 
				nghiệm điều đó như thể miếng vải che mắt được lột đi, và ông 
				bỗng thấy rằng : thì ra vấn đề hoàn toàn khác, không như thiên 
				hạ nghĩ. Đó không phải là thái độ thiếu độc lập trẻ con, mà là 
				can đảm phản đối, và đó là sự tự do đối kháng trước dư luận kìm 
				toả của thời thế Cái tự do đó đồng thời cung cấp cho ta một nền 
				tảng chắc chắn, nền tảng đó không do Giáo Hội tự nghĩ ra.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Và rồi 
				những chuyện song song khác cứ thế lạ lùng mở ra…</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vâng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">THIÊN CHÚA 
				VÀ GIÁO HỘI</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Chẳng dễ 
				gì thấy được cái can đảm phản kháng đó của Giáo Hội. Nhiều cộng 
				đoàn công giáo xem ra mệt mỏi quá rồi. Thiếu trí tuệ và can đảm 
				để dám nghĩ vượt ra ngoài những dư luận và chủ nghĩa tân tiến 
				thường ngày, để còn muốn bảo vệ nền tảng vững chắc của đức tin. 
				Nhiều ki-tô hữu theo thời muốn tốt nhất trở thành một công ti 
				dịch vụ, qua đó dùng các cuộc thăm dò dư luận để đáp ứng nhu cầu 
				thành viên mình. Ngay cả các giám mục cũng cho ta cảm giác là 
				Chúa Thánh Linh đã bỏ họ từ lâu rồi.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có thể nói được rằng : 
				Phải chăng thời điểm của Giáo Hội đã thật sự chấm dứt ? Và biết 
				đâu, có thể Chúa đã bỏ Giáo Hội, Ngài chán ngấy Giáo Hội và đã 
				ẩn mặt rút lui, ít ra trong một thời gian ?</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có những mệt mỏi của 
				Giáo Hội, và chắc chắn có sự kiện “trụ đèn chỗ nào đó đã bị 
				khuất đi”, như trong Khải-huyền nói. Chỉ cần nghĩ tới thế kỷ16. 
				Sách vở hiện có về thời đó cho thấy Giáo Hội đã chạy theo thời 
				như thế nào, giám mục đã yếu tin như thế nào. Họ đã trở thành 
				một thành phần của hệ thống, chẳng còn là chứng nhân sống động 
				của đức tin, chẳng còn khả năng tông đồ và tử đạo. Họ nhìn trước 
				nhìn sau tìm lối thoát tốt nhất cho mình, và chỉ nỗ lực làm sao 
				đừng để những điều xấu hơn xẩy đến. Giáo Hội thời đó như ngủ 
				quên, gần như tiêu vong.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tình trạng như thế 
				luôn có thể xẩy ra. Chúa Thánh Linh làm ta xấu hổ, là vì cứ mỗi 
				lần như thế, đâu đó bỗng nhiên lại có làn gió canh tân cần thiết 
				hoàn toàn từ bên ngoài thổi vào. Những lực canh tân thời đó là 
				Tê-rê-xa ở Avila và Gio-an thánh giá, là I-nhã ở Loyola và 
				Phi-lip Nê-ri và những người khác như thế. Thoạt tiên, giáo 
				quyền ngỡ ngàng và sợ hãi trước những biến chuyển đó, nhưng rồi 
				cuối cùng chúng được nhìn nhận như là những bước đổi mới thật 
				sự.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Rõ ràng Giáo Hội có 
				mệt mỏi. Có thể Giáo Hội trong cả một vùng văn hoá nào đó mỏi 
				mệt và ngã đổ. Qua bảy lá thư gởi bảy Giáo Hội, sách Khải-huyền 
				điển hình cảnh cáo về tương lai : Coi chừng, nếu không thì tôi 
				sẽ xô ngã cột đèn. Quả thật, sau những cơn bão tố Islam, không 
				những Giáo Hội ở Tiểu Á, một thời là con cưng của Giáo Hội hoàn 
				vũ, mà cả Giáo Hội ở Phi châu, đã biến mất. Dĩ nhiên, việc suy 
				sụp của các Giáo Hội thời đó không đơn giản chỉ do mệt mỏi, 
				nhưng bạo lực của kẻ xâm chiếm cũng là một yếu tố phải kể đến, 
				bạo lực đó đã cày nát nhiều lớp dân chúng. Nhưng dù sao, chuyện 
				như thế có thể xẩy ra.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Lời hứa của Đức Ki-tô 
				: “Ta sẽ ở lại với anh em mọi ngày cho đến tận thế” không có 
				nghĩa là từng giáo phận đã có được bảo chứng tồn tại mãi mãi. 
				Nhưng lời đó có nghĩa là, cho tới ngày Ngài lại đến, Giáo Hội 
				chân thực sẽ là nơi Ngài ngự, là cơ thể, là thịt, là vườn nho 
				của Ngài.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có lẽ 
				Chúa không để cho Giáo Hội hoàn toàn sụp đổ. Nhưng có liều lĩnh 
				lắm không, nếu như giờ đây ta muốn bắt đầu làm lại một cái gì 
				hoàn toàn mới? Như vậy, sẽ có một Cựu Ước, một Trung ước và một 
				Tân Ước. Người ta vẫn nói, cái gì có ba thì tốt.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Điều đó Gio-a-kim ở 
				Fiore* trong thế kỷ12 cũng đã nghĩ tới. Ông cho rằng lịch sử 
				phải phù hợp với ba thời của ba ngôi Thiên Chúa. Thời Cha, thời 
				của Cựu Ước, là thời của lề luật nghiêm nhặt. Thời Con là thời 
				của Giáo Hội đã giảm nhẹ đi đôi chút, để bước sang thời Thánh 
				Thần, là thời của một Giáo Hội tinh thần hoàn toàn mới. Giáo Hội 
				tinh thần sẽ làm hoà lại Đông với Tây, Do-thái giáo với Ki-tô 
				giáo, sẽ mang lại tự do đích thực của lề luật. Lí thuyết đó đã 
				tạo nên những cơn sóng lịch sử lớn. Thoạt tiên, một phần dòng 
				Phan-sinh coi mình là Giáo Hội tinh thần mới đó. Tư tưởng kia 
				sau đó đi vào thế tục với sản phẩm “đệ tam quốc-xã” của Hitler.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Henri de Lubac đã viết 
				hai tập sách dày về những hậu quả do tư tưởng Gio-a-kim gây ra. 
				Trong đó, tác giả cho thấy tư tưởng đó đã tạo ra những tranh cãi 
				thần học lớn như thế nào, khi nó khiến một phần dòng Phan-sinh 
				tự coi mình là Giáo Hội thánh chân thực và đã chống lại một giáo 
				triều đã bị tục hoá. Trong sách, tác giả cũng phân tích cho thấy 
				lịch sử đã không chia thành ba thời kì như Gio-a-kim nghĩ. Toàn 
				bộ lịch sử là thời gian của một Thiên Chúa ba ngôi. Giáo Hội 
				(sống chân thực với sứ mạng mình) là Lời cuối cùng của Thiên 
				Chúa trong lịch sử, bởi vì Đức Ki-tô là Lời sau hết của Ngài, là 
				toàn bộ Lời của Ngài. Giáo Hội có thể triển nở ra muôn mặt, 
				nhưng nó không thể trở thành một cái gì khác. Nó phải thật sự 
				phản ảnh lời hứa : Ta ở với anh em, bên anh em, với Giáo Hội này 
				cho tới tận thế. Còn mọi thứ khác đều là tự chế, là sản phẩm của 
				con người, chúng đến rồi đi.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chúa Kitô nói: “Chúng 
				có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ 
				là giới luật phàm nhân”. Bản tường thuật lời tuyên bố song song 
				trong Thánh Mác-cô, Người nói tiếp: “Các ông thật khéo coi 
				thường điều răn của Thiên Chúa để năm giữ truyền thống của các 
				ông” (Mc 7,9).</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Kitô-giáo trên thế 
				giới đầy dẫy truyền thống. Một trong những truyền thống rộng lớn 
				nhất là cái nhìn truyền thống về Giáo Hội thời Tân Ước. Đa số 
				các thừa tác viên, các nhà thần học và những kẻ cuồng tín đều 
				định nghĩa một cách đặc trưng Giáo Hội theo cách nầy: “Tất cả 
				những ai chân thành tin nơi Chúa Giêsu Kitô như là Đâng Cứu Tinh 
				của họ, làm thành Giáo Hội đích thực”. Điều nầy thường được kèm 
				theo với tuyên bố quen thuộc nầy: “Có nhiều con đường dẫn tới 
				thiên đàng” hoặc “có nhiều nan hoa của chiếc bánh xe ơn cứu 
				rỗi”. Mặc dù Kinh Thánh không dạy rằng thiên đàng là phần thưởng 
				cho người được cứu thoát, nhưng hàm ý rõ ràng của những điều nầy 
				là người ta có thể tin vào những gì họ muốn, hoặc là một thành 
				phần của bất kỳ nhóm nào do họ chọn lựa và bao lâu họ còn là 
				Kitô-hữu, thì họ vẫn còn nhận được bất kỳ điều gì là ơn cứu rỗi. 
				Trong khi người ta có thể chân thành tin vào những ý tưởng 
				truyền thống nầy, thì họ lại bị sai lầm một cách chân thành. 
				(Trích Đâu Rồi Giáo Hội Thật Của Chúa, David C. Pack)</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<a name="2._ĐẶC_SỦNG_"><span style="color: #FF0000"><b>2</b></span><span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI"><b>. 
				ĐẶC SỦNG</b></span></a></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">GIÁO HỘI 
				SƠ KHAI</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Không một 
				vị thiên sai nào để lại cho tín đồ mình một của nợ thế chấp lớn 
				như &nbsp;Đức Giê-su đã để lại. Ngài tự để bị hạ nhục, bị tra tấn và 
				cuối cùng bị giết. Và đã không có gì xẩy ra. Không một toán quân 
				đến để kéo Ngài ra khỏi tay những kẻ làm nhục Ngài. Con Thiên 
				Chúa mà lại không tự mình xuống khỏi thập giá. Và cũng chẳng 
				phải hết mọi người tin vào sự sống lại của Ngài. Giờ đây, môn đồ 
				Ngài đang quanh quẩn ở Giê-ru-sa-lem. Họ sống một phần nhờ vào 
				quà tặng. Nhưng cũng nghe kể rằng, những tín hữu tiên khởi đó 
				sống trong yêu thương và tình anh em : “Mọi người đều cùng một 
				tâm một trí. Không ai trong họ phải khó khăn túng quẫn”. Làm sao 
				mô tả cái Giáo Hội nguyên thuỷ đó ? Đó là một kiểu công xã cộng 
				sản ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Người ta đã hay so 
				sánh Giáo Hội đó với công xã cộng sản. Nhưng không đúng, vì một 
				đàng là một tổ chức nhà nước trói buộc, một đàng là một cộng 
				đoàn hình thành từ tự do của lòng tin, từ lời rao giảng của các 
				tông đồ trong ngày lễ ngũ tuần.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Sách Công-vụ Tông-đồ 
				cho ta hay, lời giảng đó đã đi vào lòng người như thế nào. Lời 
				đó đã chạm tới con tim và đã rúng động nó ra sao. Người ta đã 
				cảm nhận được cái gì thực sự mới mà họ đang chờ đợi ; mình phải 
				thay đổi, mình phải quay về nẻo chính. Chỉ trong vòng một ngày 
				có tới 3000 người rửa tội, sách viết như thế. Và Giáo Hội tiên 
				khởi đã hình thành từ đó, lúc họ còn đang sống trong nỗi hân 
				hoan của Thánh Linh, trong cảm nhận trực tiếp của ngày ngũ tuần.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Những con người đó đã 
				thực hiện được một cộng đoàn trong đức tin kiểu mẫu – dĩ nhiên 
				không phải có thể áp dụng cho bất cứ ở đâu - : không để ai trong 
				họ phải nghèo đói, họ chia sẻ cho nhau và cùng chung nhau một 
				trái tim, một tâm trí. Trong lịch sử, khuôn mẫu cộng đoàn đó 
				luôn là một cái gai khó chịu cho một Giáo Hội đã tục hoá, sống 
				theo mẫu mực trần thế.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cả cuộc sống dòng tu 
				cũng hình thành theo lý tưởng trên. Thánh An-tịnh đã đem câu „ 
				họ sống cùng một tâm một trí với nhau trong một cộng đoàn“ làm 
				trọng điểm áp dụng cho luật dòng của ngài. Ngài hi vọng giáo 
				phận mình ít ra sẽ giữ được ngọn lửa sống động của Giáo Hội tiên 
				khởi, nhờ sự có mặt của cộng đoàn tu nhỏ bé điển hình đó trong 
				giáo phận. Cùng với tiến trình phát triển của Giáo Hội, khuôn 
				mẫu trên hẳn đã không còn áp dụng được cho bất cứ nơi nào, kể cả 
				từ thời các tông đồ, nhưng nó trước sau vẫn là cái gai. Vấn đề 
				là, không được để ai trong Giáo Hội phải nghèo đói, không được 
				bỏ rơi ai. Đó là đòi hỏi ngày hôm nay đang đánh động ta một cách 
				cụ thể.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tại sao 
				những người Do-thái theo đạo đầu tiên lại bỏ tục cắt bì ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đó là cuộc tranh luận 
				lớn, chủ yếu do Phao-lô tạo ra. Thoạt tiên, người ta công nhận 
				&nbsp;Đức Giê-su Ki-tô là vị cứu tinh của Is-ra-en. Họ nhìn ra nơi 
				Ngài một kiểu sống do-thái giáo khác. Nhưng câu hỏi: như vậy 
				luật cũ, đặc biệt là một thói quen đã có trước luật Mai-sen như 
				tục cắt bì, còn tiếp tục có giá trị không? Câu hỏi này đã không 
				có câu trả lời một cách đương nhiên được.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tiến trình đi tới với 
				những người ngoại giáo diễn ra từng bước một. Đã có cuộc gặp gỡ 
				giữa Phê-rô với Cornelius, người lính đội Rô-ma. Trong một thị 
				kiến, Phê-rô thấy tất cả mọi người đều được thanh tẩy, và sự 
				thanh tẩy đó đến từ đức tin, chứ không phải do máu huyết 
				Abraham, như người ta lúc đó vẫn tin. Và cuối cùng, khi người 
				ngoại ở Antiokia bước chân vào đền thờ, họ nghe và muốn đón nhận 
				sứ điệp của Đức Ki-tô, thì câu hỏi được đặt ra : Nếu giờ đây họ 
				muốn trở thành ki-tô hữu, thì họ buộc phải tuân theo tục lệ 
				do-thái hay sao? Họ phải cắt bì ? Từ đó nẩy sinh ra nhận thức: 
				muốn thành môn đệ Đức Ki-tô, người ta không buộc tuân theo tục 
				lệ do-thái một cách bề ngoài, nhưng phải bước vào cộng đoàn tinh 
				thần của Ngài. Nhận thức trên đây chủ yếu do Phao-lô khởi xướng 
				và đã được công nhận. Nhận thức đó ngài đã lãnh hội được qua 
				cuộc gặp gỡ đặc biệt giữa ngài với Chúa Ki-tô phục sinh. Chính 
				Đức Ki-tô là sức mạnh thanh tẩy. Và nghi thức dẫn vào Dân Thiên 
				Chúa mới đó là phép rửa. Và ai đã nhận phép rửa, chẳng còn cần 
				cắt bì.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Phao-lô 
				chẳng phải luôn là người cấp tiến, như ngài đã chứng tỏ trong 
				việc cắt bì. Trong thư thứ nhất gởi giáo đoàn Kô-rin-tô, ngài đã 
				nói về địa vị phụ nữ trong Giáo Hội, họ phải đội khăn che mặt 
				mỗi khi dự lễ, như là “dấu chỉ của sự phục tùng”. Và nữa : 
				“Trong buổi họp họ phải im lặng. Họ không được phép mở miệng. Họ 
				phải phục tùng, như luật đã ra. Nếu muốn biết gì, nên về nhà hỏi 
				chồng. Bởi vì chuyện phụ nữ mở miệng trong buổi họp là điều 
				không xứng hợp”. Phải chăng đó là sự khinh miệt phụ nữ ? Quan 
				điểm của Phao-lô đã thắng thế trong Giáo Hội ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngay điểm này, các thư 
				Phao-lô phải được hiểu theo nhiều cách. Một mặt, câu trên dĩ 
				nhiên gợi lên ý tưởng phụ nữ phải phục tòng. Đã có người muốn 
				vứt đoạn đó ra khỏi thư ngài, nhưng làm vậy là vô nghĩa. Mặt 
				khác, phụ nữ ngày nay cũng hay nại tới Phao-lô, bởi vì họ thấy 
				nhiều chỗ trong các thư ngài các bà đóng một vai trò đặc biệt và 
				có sự cộng tác rất chặt chẽ với ngài. Ngài nói với người này, bà 
				là mẹ của tôi. Với những người khác, họ là “những kẻ mang ách 
				đồng hành”, những người cùng hợp tác với ngài để phục vụ Tin 
				Mừng. Một chỗ khác, ngài gọi một bà là tông đồ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nói vậy 
				thì nghe vậy.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">&nbsp;Đức Giê-su đã được 
				các phụ nữ thông cảm, đi theo và hỗ trợ. Cũng thế, các bà cũng 
				đã đóng một vai trò rất đặc biệt trong sứ mạng của Phao-lô. 
				Chẳng hạn như Lydia, cô bán phẩm đỏ ở Phi-li-pi, đã ép ngài và 
				những bạn đồng hành nghỉ lại nơi nhà cô, và như thế cô đã trở 
				thành khởi điểm của truyền giáo. Như vậy thì Phao-lô chẳng phải 
				là “tay tranh đấu cho nam quyền một cách ẩu tả”, như cảm tưởng 
				tạo ra bởi câu trích trên, nhưng ngài đã tiếp tục làm theo gương 
				của &nbsp;Đức Giê-su Ki-tô trước đó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hẳn nhiên, ta cũng 
				thấy tính cách hai mặt nơi Phao-lô. Ngài là kẻ đã vượt qua luật 
				lệ do-thái để tới với dân ngoại, và nhờ vậy đã mở ra chiều kích 
				hoàn vũ cho Giáo Hội ; là kẻ chống lại Phê-rô trong tục lệ ăn 
				uống. Nhưng cũng một Phao-lô đó là người vẫn coi một số thói tục 
				cũ là tốt và không muốn bỏ chúng. Mỗi con người, dù sao, đều 
				muốn giữ lại một góc bảo thủ cho mình, nếu ta muốn nói như thế.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tóm lại, tôi nghĩ, có 
				hai mặt nơi Phao-lô. Một mặt, ngài không cho phụ nữ giảng trong 
				phụng vụ. Mặt khác, ngài lại dành cho phụ nữ một vai trò lớn 
				trong toàn bộ lịch sử Giáo Hội.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">PHAO-LÔ</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Hãy nhìn 
				nhân vật đó kĩ hơn. Phao-lô ra đời với tên Sao-lô vào khoảng năm 
				thứ 10 sau công nguyên và tiếp nhận từ cha mình truyền thống gia 
				đình pha-ri-sêu nghiêm nhặt. Nghĩa là trong ông sôi sục hận thù 
				và chém giết những tín hữu ki-tô đầu tiên – cho tới khi gặp được 
				tia sáng trên đường săn người gần Đa-mát, và đã trở lại đạo với 
				tên Phao-lô. Tiếp đó, ông vào sa mạc, một mình chuẩn bị cho công 
				cuộc phục vụ mới. Chính ông cũng chẳng hiểu ra được cái bí mật 
				khiến ông trở thành “thầy dạy cho dân ngoại”, như ông đã viết.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Quả có gì lạ lùng 
				trong đó. Thật ra ngài là một tay Pha-ri-sêu say mê và cực đoan. 
				Thái độ cuồng tín đó phù hợp với lòng đạo rực lửa của ngài. Chữ 
				‘cuồng tín’ đóng một vai trò lớn trong truyền thống Cựu Ước. Từ 
				“Zelot”, có nghĩa là cuồng tín, cũng mang nội dung đặc biệt 
				trong thời &nbsp;Đức Giê-su. Phao-lô là một kẻ cuồng tín như thế - và 
				đã được cải tà qui chính bởi tiếng gọi của &nbsp;Đấng Phục Sinh.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Từ trong làn ánh sáng 
				đó Phao-lô giờ đây nghe &nbsp;Đấng Phục Sinh nói với mình. Bởi thế, 
				ngài dám nói rằng, chính mình đã gặp đấng đó thêm một lần nữa, 
				rằng chính đấng đó đã gọi và ra lệnh cho mình. Và cũng vì vậy mà 
				ngài cảm thấy ngang hàng với mười hai tông đồ kia. Rõ ràng ngay 
				từ đầu, ngài đã nhận ra sứ mạng rao giảng cho dân ngoại của 
				mình. Với Phao-lô, chúng ta thật sự có được một nhân vật kiệt 
				xuất phục vụ &nbsp;Đức Giê-su Ki-tô, mà nếu không, hẳn chúng ta đã 
				không thể nói cho lương dân hay biết về Giáo Hội được.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phao-lô lặn lội từ đất 
				này qua đất khác, nhưng không phải luôn may mắn với số phận. 
				Ngài đã ghi lại : “Từ thành này sang thành khác, chỉ điều này 
				Chúa Thánh Linh làm chứng cho tôi, là xiềng xích và tai hoạ đang 
				chờ tôi”. Ngài bị tống ngục, bị đắm tàu giữa biển, cuối cùng lội 
				bộ được tới Rô-ma và bị hoàng đế Nero chém đầu năm 67. Ngài phải 
				là một tay hay cãi. Có lần một thầy cả thượng tế than : “Tay này 
				là một nạn dịch”. Và ngài đã thoải mái bốp chát lại : “Này bức 
				tường giả hình kia, Chúa sẽ đánh ngươi”.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhưng rồi 
				ngài lại làm chuyện lạ lùng, người ta dùng khăn lau của ngài để 
				chữa lành bệnh. Có lần ngài cạo trọc đầu vì một lời hứa. Lần 
				khác ngài bực dọc ra lệnh cho thần bói toán rời khỏi người đàn 
				bà vẫn dai dẳng đi theo ngài suốt ngày. Sau đó thì ngài bị tù, 
				chuyện chả có gì là khó hiểu. Những người chủ cũ của bà kia buồn 
				so, vì họ chẳng còn có được lời bói toán nào nữa.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Anh muốn nói đến cuộc 
				đời phiêu lưu của vị thừa sai nổi tiếng kia. Các thư của ngài 
				không phải là những luân thư được viết với đắn đo, nhưng chúng 
				thể hiện cá tính rực lửa của ngài. Các thư đó phản ảnh toàn bộ 
				nỗi đam mê khổ đau của một con người dấn thân. Chúng cũng cho ta 
				biết những gì đã xẩy đến cho ngài : bị quẳng cho thú vồ trong 
				thao trường, bị tống ngục, nhiều lần bị hình phạt do-thái đánh 
				40 trừ 1 roi, bị cướp trấn lột, bị đau khổ vì bạn bè và kẻ thù, 
				bị đắm tàu lênh đênh trên biển, và còn nhiều thứ nữa. Thật khó 
				có cuộc đời nào phiêu lưu và nhân bản hơn đời ngài.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Không 
				phải Phao-lô bao giờ cũng được báo cáo đầy đủ. Khi tới Ê-phê-sô, 
				ngài hỏi bà con ở đó : “Các bạn đã nhận Thánh Linh chưa ?” Họ 
				trả lời : “Chúng tôi chưa bao giờ nghe nói có một Chúa Thánh 
				Linh”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Dĩ nhiên ngài phải hỏi 
				xem tình hình tín hữu địa phương, mỗi khi ngài tới một cộng đoàn 
				nào đó. Xem ra, năng khiếu hạn chế của ngài không cho phép ngài 
				làm được một số chuyện lớn. Ngài nói về chính mình : Các bạn 
				cũng biết là tôi không có khiếu ăn nói, tôi không phải là nhà 
				hùng biện ; và người ta thầm thì về tôi : “đọc thư thì tưởng ông 
				ấy dữ, nhưng khi tới, thì thấy rất nhẹ nhàng”…</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">… có lần 
				có người ngủ gục khi đang nghe ngài giảng….</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">… vâng, và người đó đã 
				ngã qua cửa sổ. Đó là một chuyện. Ngài nói :”Tôi xuất hiện không 
				với khả năng hùng biện lớn, nhưng với sức mạnh”. Ngài muốn nói 
				với sức mạnh của &nbsp;Đức Giê-su Ki-tô, sức mạnh đó cũng đã được thể 
				hiện qua các phép lạ. Rõ ràng ngài đã được trao ban cho khả năng 
				chứng tỏ đúng lúc về sự hiện diện của chính đấng quyền năng hơn, 
				đó là &nbsp;Đức Giê-su Ki-tô, và qua đó tự giới thiệu mình như là một 
				kẻ thuộc về Ngài. Không phải năng khiếu riêng của Phao-lô đã tác 
				động, nhưng chính sự thật mà ngài phục vụ đã tác động.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nghe nói 
				Phê-rô thường lấy thư Phao-lô làm dẫn chứng cho tông thư mình. 
				Tương quan giữa hai vị ấy với nhau thế nào ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Rõ ràng đã có những 
				căng thẳng giữa hai vị. Trong Kinh Thánh có hai thư của Phê-rô. 
				Nhưng các học giả không công nhận lá thư thứ hai là do ngài, mà 
				do một ai đó thuộc trường phái phê-rô viết, thư này có niên đại 
				rất trễ. Dù sao, thư đó muốn tiếp nối gia sản phê-rô một cách 
				đặc biệt (và cũng vì thế mà Giáo Hội nhận vào danh sách quy 
				điển). Thư thứ hai này đề cập tới hiện tượng lạm dụng của 
				Phao-lô. Thư viết : Ông bạn Phao-lô của chúng ta viết nhiều, có 
				chỗ rất khó hiểu – và cũng có chỗ ám chỉ sai. Và rồi Phê-rô cảnh 
				giác, việc diễn nghĩa kinh sách cần phải đi theo đường lối của 
				Giáo Hội. Thư đó một mặt cho thấy cử chỉ tôn trọng đối với 
				Phao-lô, người được công nhận là thầy dạy lớn, mặt khác cũng 
				cảnh cáo đừng lạm dụng hay hiểu sai Phao-lô.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">TRUYỀN 
				GIÁO</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Đại giáo 
				chủ Grê-gô-ri-ô lệnh cho các nhà truyền giáo người Anh: „Không 
				được phá các đền thờ của dân ngoại, nhưng chỉ phá các thần thánh 
				để trong đó mà thôi. Rồi chuẩn bị nước thánh, rẩy lên các đền 
				thờ đó. Lập bàn thờ, rồi mang vật thánh của mình vào“. Và tiếp: 
				„Khi chính dân đó không thấy đền thờ họ bị phá, họ sẽ vui lòng 
				từ bỏ lầm lẫn mà trở về nhìn nhận và cầu nguyện Thiên Chúa chân 
				thật“. Cái khôn của Ki-tô giáo là đó. Grê-gô-ri-ô viết: “Vì họ 
				đã quen giết trâu bò tế lễ quỷ thần, mình nên lập ra những lễ 
				hội khác cho họ tiếp tục tế“.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Do đâu 
				cuộc truyền giáo đã thành công vượt bực, vượt qua mọi văn hoá và 
				ngôn ngữ, như thế? Nhờ vào cách hiện diện khôn ngoan? Nhờ vào 
				những phép lạ? Hay nhờ vào những mệnh lệnh và phương thức truyền 
				giáo khôn khéo như của đại giáo chủ Grê-gô-ri-ô?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tại sao cuộc truyền 
				giáo đã quá thành công và đã bao trùm cả đế quốc nhanh như thế? 
				Đó là một câu hỏi lớn. Vì nó mang tầm vóc quá lớn, nên ta đừng 
				nên quá lạm trong câu trả lời. Dưới thời Constantinus*, Ki-tô 
				giáo chỉ có vài phần trăm, dù được hoàng đế này coi đó là thành 
				phần quyết định cho tương lai. Thành công nhờ đâu? Là vì tôn 
				giáo của dân ngoại đã mệt mỏi, và không còn đáp ứng lòng tin cậy 
				của con người. Nó chỉ còn là một cỗ xe chính trị, chẳng ai tin 
				vào huyền thoại thần thánh nữa. Ở thôn quê, nó vẫn còn là một 
				yếu tố thiết thân với đời sống với những cuộc rước xách, nhưng 
				tại các thành phố, các thần thoại một cách nào đó đã trở thành 
				trò cười cho thiên hạ. Các thần thoại có nhiệm vụ tạo ổn định 
				cho Đế quốc (Rô-ma), nhưng khi người ta không còn tin nữa, thì 
				đương nhiên vai trò ổn định đó không còn.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Vào giai 
				đoạn sau của Đế quốc Rô-ma, người ta bắt đầu đặt câu hỏi về con 
				người và thượng đế. Thời đó đã có những phong trào triết học đề 
				cập tới một thiên chúa duy nhất, nhưng chúa đó là do con người 
				nghĩ ra, không thể cầu khẩn gì được với vị đó. Giờ đây bỗng 
				nhiên nổi lên một phong trào cũng rao giảng về một Chúa, nhưng 
				Chúa này phát xuất từ nguồn gốc tôn giáo.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ở đây phải thêm điểm 
				này: Ngay từ cuối Cổ thời, trong khi đi tìm một đức tin phù hợp 
				với lí trí, người ta bắt gặp một lôi cuốn đặc biệt nơi Do-thái 
				giáo. Nhiều người coi tín ngưỡng độc thần đó là tôn giáo có thể 
				nối kết với khoa minh triết Hi-lạp, là tôn giáo loan báo một thứ 
				Chúa mà các triết gia hay các đầu óc khai hoá có thể hiểu được 
				một cách nào đó. Vì thế lúc đó, nhiều nhóm người được gọi là dân 
				kính sợ Chúa đã hình thành quanh các đền thờ do-thái, họ không 
				thể trở thành dân Do-thái được, nhưng muốn bằng mọi cách liên 
				kết với tôn giáo này được chừng nào hay chừng nấy. Từ đó các tập 
				thể đó bắt đầu làm quen và thân thiết với Ki-tô giáo. Và vì đối 
				với Do-thái giáo họ chỉ được làm cảm tình viên ở vòng ngoài mà 
				thôi, nên dần dà họ trao hẳn niềm tin vào vị Thiên Chúa đã tự tỏ 
				mình ra và đi tới với con người qua Đức Ki-tô.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Bằng cách đó, có sự 
				gặp nhau ở đây giữa một tôn giáo đã được thanh tẩy và có thể 
				hiểu được bằng lí trí, với sức mạnh tín ngưỡng của một đức tin 
				hoàn toàn không do con người nghĩ ra, nhưng được ban tặng và 
				kinh nghiệm từ Thiên Chúa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">QUẢ LÀ MỘT 
				THỜI ĐIỂM LÝ TƯỞNG.</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Về những 
				yếu tố cơ bản giúp ta hiểu sự thành công ban đầu của Ki-tô giáo, 
				tôi hiểu như vầy: Thứ nhất đó là sự tinh ròng của đức tin Ki-tô 
				giáo, rồi tới cái dễ hiểu của nó, và cuối cùng là yêu sách đạo 
				đức của đạo này, một tôn giáo đã làm sống lại các định đề triết 
				học khắc kỉ một cách trong sáng dễ hiểu trước một thế giới đã 
				mục nát. Và nhất là Ki-tô giáo đã mang lại một yếu tố hoàn toàn 
				mới lạ vào thời điểm đó, đó là bác ái Ki-tô giáo; đây được coi 
				là một chứng thực của đức tin, thể hiện qua việc chăm sóc những 
				người đau khổ, một điều từ trước tới giờ chưa hề có. Yếu tố này 
				làm cho bộ mặt Thiên Chúa trở nên thật đáng tin. Qua nó, người 
				ta nhận ra đó là một Thiên Chúa mới và thật.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong tương quan với 
				ngoại giáo, đã có nhiều diễn tiến phức tạp. Xét chung, cuộc 
				truyền giáo không thống nhất. Đã có những nhà truyền giáo cuồng 
				tín, họ đập phá các đền thờ ngoại giáo, coi đó là những thứ phục 
				vụ ngẫu thần, cần phải dẹp triệt để. Người ta thấy có điểm tương 
				đồng nơi triết học của dân ngoại, nhưng nơi tôn giáo họ thì 
				không, vì nó xem ra nặng tính chất thoả hiệp.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Lúc đại giáo chủ 
				Grê-gô-ri-ô khôn ngoan muốn vận dụng sự liên tục của lòng đạo 
				nơi con người vào lối truyền giáo của mình, thì tôn giáo của 
				lương dân từ lâu đã chẳng còn là một lực cạnh tranh nữa. Nó đã 
				kiệt sức từ lâu rồi. Tuy nhiên, lệnh của Grê-gô-ri-ô yêu cầu bảo 
				tồn sự tiếp nối những gì thánh thiêng đã trở thành một quy luật 
				Ki-tô giáo. Cái nhìn của ngài thật thâm sâu. Ngài hiểu rằng, các 
				tôn giáo tiền Ki-tô giáo, dù mang nhiều nội dung trái ngược, vẫn 
				là một tìm kiếm, một ngưỡng vọng về Thượng đế. Vì thế, thay vì 
				cắt đứt những tâm tình tín ngưỡng trong sáng này, ta nên tìm 
				cách nối vào chúng và làm biến đổi chúng. Như vậy, mình vẫn ở 
				trong cái liên tục của không gian thánh thiêng, nhưng đã đưa vào 
				đấy một nội dung mới.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Năm 1492, 
				với con thuyền Santa Maria, Christophus Columbus đã tìm ra tân 
				thế giới. Ông đặt tên cho hòn đảo nơi đặt chân đầu tiên là San 
				Salvador. Đó là khởi đầu của một cuộc truyền giáo vô tiền khoáng 
				hậu, Ki-tô giáo hoá toàn lục địa châu Mĩ. Cuộc truyền giáo ở 
				châu lục này, dĩ nhiên, đã không hẳn chỉ có vinh quang. Bên châu 
				Phi, mãi cho tới trong thế kỷ19, Ki-tô giáo vẫn bị Islam cản 
				bước ở miền bắc và đông bắc. Cả Ấn-độ và Trung-hoa, hai vùng 
				đông dân nhất thế giới, Ki-tô giáo cũng chưa bén rễ được. Tại 
				sao?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Anh nói đúng, Ki-tô 
				giáo trong hai vùng văn hoá lớn Ấn-độ và Trung-hoa vẫn chỉ mới 
				tạm có mặt hoặc chỉ mới thành công trên một vài nơi nhất định. 
				Trong thế kỷthứ 5 và 6, các đoàn truyền giáo thuộc phái 
				Nestorius đã xuống tới Ấn và Trung-hoa. Họ đã để lại đó dấu vết 
				và có lẽ cả ảnh hưởng trên việc tổ chức Phật giáo, nhưng rồi lại 
				biến mất. Tại sao? Theo tôi – mà có thể cũng rất sai – là vì hai 
				nơi đó đã sẵn có một nền văn hoá cao rồi. Trong khi các tôn giáo 
				bộ lạc ở Phi châu, khi đối diện với các nền văn minh lớn, đã mở 
				ra để đón nhận cái mới – mà cũng bởi vì chúng chỉ là những văn 
				hoá bộ lạc, nên chúng phải biến đi -, thì ở Ấn và Trung ta có 
				những nền văn hoá cao, trong đó tôn giáo, nhà nước, trật tự xã 
				hội – chẳng hạn như lối phân cấp xã hội mang tính tôn giáo ở Ấn 
				- quyện vào nhau không rời và những nền văn hoá đó cũng bước đi 
				trên một tầm mức tinh thần cao và lớn. Ấn-độ và cả Trung-hoa có 
				một triết lí tôn giáo cao. Việc chuyển tiếp sang Ki-tô giáo ở đó 
				khó hơn, là vì người ta nghĩ rằng, họ đã có sẵn một hình thái 
				tối ưu rồi, trong đó sự tổng hợp của nhà nước, triết lí, lí trí 
				và tôn giáo đề kháng lại những gì lạ từ ngoài vào. Tuy nhiên, ở 
				đây ta phải nói thêm, sự có mặt của Âu châu từ thế kỷ19 đã làm 
				bộ mặt Ấn giáo biến đổi nhiều. Những gì do&nbsp;loan báo, chẳng còn 
				mang* hay Radha Krishan*các khuôn mặt quen thuộc như Ghandi tính 
				chất ấn giáo thuần tuý nữa, nhưng là một Ấn giáo pha trộn nhiều 
				yếu tố Ki-tô giáo. Rõ ràng, Ki-tô giáo đã không thể bám rễ được, 
				nhưng nó là một thứ lực đổi mới được Ấn giáo hút vào cho mình.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Trường 
				hợp ngoại lệ: Hàn quốc. Hình như thông điệp Đức Ki-tô đã trực 
				tiếp đi vào lòng người ở đây mà không do các thừa sai. Chuyện đó 
				xẩy ra thế nào?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đã có một nhóm người 
				Hàn theo học ở Trung-hoa và họ đã tiếp xúc với các linh mục 
				Ki-tô giáo. Từ động lực ban đầu đó, khi trở về quê hương, họ tự 
				học Kinh Thánh, xác tín rằng đó là lời Chúa thật và đã cố gắng 
				mang Lời đó ra thực hành – nhưng luôn với tâm vọng là được nối 
				kết với Giáo Hội hoàn vũ. Thoạt tiên, tâm vọng đó đã không đạt 
				được, và trải qua nhiều thời kì họ bị bách hại nặng nề.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Quả thật đó là một 
				diễn biến lạ lùng. Một đàng, động lực đưa họ tìm về Đạo là Giáo 
				Hội sống động chứ không phải chỉ có Kinh Thánh. Nhưng mặt khác, 
				khi đã bị đánh động, họ quay ra tìm hiểu kinh sách. Và cuộc gặp 
				gỡ kinh sách đã đưa họ vào Đạo, nhưng không phải giữ Đạo trong 
				tâm tưởng, mà đã trở thành cộng đoàn nối kết chặt chẽ với Giáo 
				Hội sống động.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Sẽ còn có 
				người ở đất Á châu vào Đạo? Hay cánh cửa vùng này đã được khép 
				lại?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi nghĩ, ta không nên 
				đóng khung hi vọng. Như ta thấy đó, nhờ qua các trý thứcẤn mà 
				men Ki-tô giáo đã dậy được trong Ấn giáo. Con số những người Ấn 
				kính thờ và yêu mến Đức Ki-tô - thoạt tiên người Ấn coi Đức 
				Ki-tô chỉ là một trong nhiều vị thần cứu độ - lớn không thể tả, 
				lớn hơn nhiều so với con số tín hữu Ki-tô giáo.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nước Nhật tỏ ra đặc 
				biệt khó khăn đối với Ki-tô giáo. Dân Nhật thích học trường 
				Ki-tô giáo, thích phong tục Ki-tô giáo, ngay cả thích được làm 
				phép cưới trong nhà thờ công giáo, nhưng tinh thần của người 
				Nhật thì lại dị ứng với Ki-tô giáo. Trung-hoa thì đang nằm dưới 
				quyền lực ý hệ. Ý hệnày được coi là lực duy nhất để đoàn kết 
				dân, giữ bản sắc dân tộc và tạo đà cho họ tiến vào thế giới. 
				Nhưng nơi đây cũng có tín hữu dấn thân lạ lùng cho Chúa Ki-tô, 
				có thể nói họ là men trong bột. Vì vậy có thể nói lịch sử chưa 
				chấm dứt trên miền đất này.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hẳn có nhiều vùng Á 
				châu hiện chống lại Ki-tô giáo rất mạnh, coi đó là Đạo ngoại 
				bang. Ta đã thấy lòng thù hận ở Ấn đối với Giáo chủ công giáo 
				như thế nào, đã thấy dân ở đó chống ý niệmcải đạo và phúc âm hoá 
				ra sao. Phản ứng thật gay gắt. Nhưng cũng có thể hiểu như vầy, 
				sở dĩ người ta chống, là vì người ta cảm thấy đó là một sức mạnh 
				thật sự. Hiện lúc này chưa thể có được một dự đoán tương lai 
				nào, nhưng ta cũng không nên bực dọc mà bảo rằng miền đất đó đã 
				có chủ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Trên 
				nhiều quốc gia vẫn không ngừng xẩy ra những cuộc bách hại Ki-tô 
				giáo, mà dư luận phương tây chẳng quan tâm gì tới.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vâng, trên nhiều quốc 
				gia. Ta đã thấy ở Trung-hoa, đã chứng kiến ở Việt-nam, trên toàn 
				vùng đông dương. Ta cũng thấy diễn tiến đang trên đà nguy hiểm ở 
				Ấn-độ. Ta thấy sinh lộ của đức tin luôn phải trả bằng giá máu.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">GIÁO CHỦ</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhiều 
				người cho rằng Giáo Hội là một cỗ máy quyền lực ghê gớm.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đúng, nhưng người ta 
				phải hiểu cho rằng cơ cấu đó là để phục vụ. Giáo chủ không phải 
				là kẻ trị vì tối cao – mà, nói như đại giáo chủ Grê-gô-ri-ô, là 
				: “người phục vụ tất cả những kẻ phục vụ Thiên Chúa”. Tôi muốn 
				nói rằng, ngài là kẻ bảo đảm cho sự vâng lời, để Giáo Hội không 
				bị uốn theo í muốn con người. Chính giáo chủ cũng không thể nói, 
				tôi là Giáo Hội, hay tông truyền là tôi, mà trái lại, ngài bị 
				trói buộc, ngài là biểu tượng của sự trói buộc đó của Giáo Hội. 
				Nếu trong Giáo Hội nẩy ra cám dỗ muốn làm khác đi, muốn bỏ bớt 
				đi cho thoải mái, thì ngài là người sẽ tự hỏi, chúng ta có được 
				phép làm như thế không?</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Giáo chủ không phải là 
				một cơ quan, để người ta thông qua đó mà thay đổi Giáo Hội, 
				nhưng ngài là bức tường bảo vệ chống lại sự chuyên quyền. Lấy 
				một thí dụ: Theo Tân Ước, hôn nhân là bí tích không thể tháo gỡ. 
				Giờ đây, nhiều người bảo rằng, giáo chủ đương nhiên có thể sửa 
				điều đó. Không, ngài không thể sửa được. Tháng 2 năm 2000 ngài 
				đã đọc một diễn văn quan trọng trước các quan toà Rô-ma, và cho 
				biết, trước trào lưu muốn tháo gỡ mối dây ràng buộc đó, ngài 
				không thể làm tất cả những gì mình muốn, mà trái lại, phải luôn 
				nhắc nhở chúng ta về sự vâng lời, hay cũng một ý nghĩa đó nhưng 
				nói cách khác, là ngài phải tiếp tục thi hành động tác rửa chân.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ghế giáo 
				chủ là một trong những định chế mê hoặc nhất trong lịch sử. Bên 
				cạnh những hoàng kim, lịch sử cũng cho thấy những hố thẳm của 
				định chế đó. Chẳng hạn Biển-đức thứ IX bị cách chức nhiều lần và 
				đã là giáo chủ thứ 145, 147 và 150 trong Giáo Hội. Ngài nắm giữ 
				vai trò này lần đầu tiên lúc mới 12 tuổi. Vậy mà Giáo Hội vẫn cứ 
				trung thành với chức vụ đại diện Thiên Chúa trên trần gian đó.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Với cái nhìn thuần tuý 
				lịch sử thì ghế giáo chủ quả thật là một cái gì lạ lùng. Nó là 
				thể chế quân chủ duy nhất - nếu có thể nói được như thế - đứng 
				vững suốt gần hai ngàn năm, chuyện không thể hiểu được. Nhưng 
				tôi muốn nói, có một bí mật còn lớn hơn, đó là sự tồn tại của 
				dân Do-thái. Còn ghế giáo chủ, sự tồn tại lạ lùng của nó cũng 
				bắt mình phải đặt câu hỏi. Anh đã nói tới một thí dụ tiêu cực 
				của định chế đó, và nó đã phải trải qua bao nhiêu chấn thương 
				nặng nề, lẽ ra theo xác xuất lịch sử thì nó hẳn đã phải tiêu 
				vong, không phải chỉ một lần. Tôi tin Voltaire* đã nói như thế 
				này, đây là lúc Dalai Lama của Âu châu phải biến đi và nhân loại 
				sẽ được giải thoát khỏi ông ta. Nhưng, như anh thấy đó, mọi 
				chuyện vẫn cứ tiếp tục. Điều đó cho thấy rằng, sự tồn tại của nó 
				không phải do khôn khéo của cá nhân các giáo chủ - nhiều vị đã 
				ra công giật sập nó nữa là khác – nhưng là do một sức mạnh nào 
				đó đứng đàng sau. Đó chính là sức mạnh đã được hứa cho Phê-rô. 
				Quyền lực của hạ giới, của sự chết sẽ không thắng nổi Giáo Hội.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Chúng ta 
				đã bàn về chuyện bất khả ngộ. Tại sao tín điều đó được hình 
				thành quá trễ như vậy?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước hết phải hiểu là 
				có một học thuyết về vai trò Phê-rô – và đặc biệt là việc hành 
				xử vai trò đó – đã hình thành rất sớm. Trong lá thư của giáo chủ 
				Klê-men-tô I viết khoảng năm 90 cho giáo đoàn Kô-rin-tô – giáo 
				đoàn này đang có cơ tách ra khỏi tập thể -, ta đã thấy có đề cập 
				tới trách nhiệm của Giáo Hội ở Rô-ma và của giáo chủ Rô-ma rồi. 
				Trách nhiệm đặc biệt đó lại thể hiện rất rõ vào thế kỷthứ hai 
				trong cuộc tranh luận về lễ phục sinh. Tính cách trung ương của 
				Rô-ma đã từng bước lớn lên trong Giáo Hội, và nói chung, nó được 
				tập thể công nhận.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cuối cùng, công đồng 
				Ni-xê năm 325 đã nói tới ba vị trí ưu quyền trong Giáo Hội, đó 
				là Rô-ma, Alexandria và Antiochia. Rô-ma luôn được nói tới đầu 
				tiên, và hai ghế giáo chủ kia cũng luôn có mối liên hệ với 
				Phê-rô. Trong danh sách tham dự viên các công đồng, các đại biểu 
				của Rô-ma cũng luôn được ghi tên trên cùng. Rô-ma được kính 
				trọng như là prima sedes, vị trí ưu tiên, và chính công đồng 
				Ni-xê đã làm vững thêm hệ thống đó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Lịch sử các công đồng 
				kế tiếp càng cho thấy rõ nhiệm vụ đặc biệt của giáo chủ Rô-ma. 
				Thời đó, giám mục Rô-ma không cai trị với một giáo triều hoàn vũ 
				liên tục như ngày nay, nhưng mỗi khi có nguy biến, ngài lại có 
				một nhiệm vụ đặc biệt. Trong cuộc khủng hoảng, mà chút nữa giáo 
				lý của Arius* sém trở thành giáo lýchung cho Giáo Hội, thánh 
				Anasthasius đã coi giáo chủ là tụ điểm phải theo. Và còn nhiều 
				lí chứng khác nữa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Năm 1054 Giáo Hội phía 
				đông và tây tách rời nhau. Phía đông vẫn công nhận vai trò đặc 
				biệt của Rô-ma, sự công nhận đó đã không được phía tây nhìn ra 
				một cách đúng đắn. Kể từ sau ngày phân rẽ, bên Rô-ma đẩy mạnh tư 
				tưởng về ưu quyền, nhất là với Grê-gô-ri-ô VII. Tư tưởng này 
				được tăng cường với việc xuất hiện các dòng tu ăn xin, khi họ 
				quay về với giáo chủ Rô-ma. Số là các dòng này không thuộc vào 
				một giáo phận nào cả, nên họ cần phải có một cơ quan hoàn vũ 
				chung. Và chỉ có cơ quan chung này mới có thể tổ chức được một 
				giới linh mục và các phong trào trải rộng khắp Giáo Hội và, qua 
				đó, tạo điều kiện cho công cuộc truyền giáo về sau.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Học thuyết ưu quyền 
				được hình thành từng bước vừa qua lí thuyết lẫn thực hành. Nó đã 
				được diễn tả thành văn ở công đồng Firenze trong thế kỷ15, nhưng 
				cũng đã được nói đến cả trong công đồng Lyon vào thế kỷ 13. 
				Trong công đồng Trento, người ta phải bàn quá nhiều chuyện liên 
				quan tới khủng hoảng tin lành, nên cuối cùng đề tài phải dành 
				lại cho công đồng Vatican I. Nhưng tại đây nhiều người đã ngỡ 
				ngàng, vì nội dung đề tài đã được trình bày quá chặt. Ta biết 
				rồi, nhiều giám mục đã bỏ ra về sớm để khỏi phải kí tên. Tuy 
				nhiên, số nghị phụ thiểu số đó vẫn công nhận bản chất học thuyết 
				ưu quyền không phải là một cái gì xa lạ với đức tin công giáo, 
				và học thuyết này cũng có nền tảng Kinh Thánh qua các lời hứa 
				của Chúa với Phê-rô. Thật ra, người ta đã trình bày tín điều với 
				một sự chính xác mới bằng một hình thức hơi quá mức mà thôi, chứ 
				nó chẳng phải là gì mới. Nội dung của nó chỉ là gom nhặt và cụ 
				thể hoá những gì đã diễn tiến và thành hình trong suốt lịch sử.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Phê-rô có 
				lẽ đã không nghĩ rằng, mình sẽ để lại cho những người kế vị một 
				việc làm quá nặng nề đến như thế: Là giám mục giáo phận Rô-ma, 
				giáo chủ phải giải quyết những vấn đề tại chỗ. Trong tư cách 
				nguyên thủ quốc gia trên “ngai thánh”, ngài phải điều hành công 
				việc của thành quốc. Lại vừa phải giải quyết chuyện của Giáo Hội 
				hoàn vũ với tư cách là đức Thánh cha. Phải soạn diễn văn, thư 
				chung, bài giảng, tiếp các loại khách lớn nhỏ. Rồi với những Bộ, 
				Toà án, Uỷ ban, Hội đồng về giáo lýđức tin, phụng vụ, kỉ luật, 
				giáo dục… Rồi cả hàng trăm nhà dòng mẹ, hơn một trăm học viện 
				v.v. May có đoàn Hồng Y như là ban cố vấn thượng thặng gồm những 
				chuyên gia từ mọi vùng văn hoá, dày kinh nghiệm suy tư và chính 
				trị. Nhưng mỗi ngày văn phòng đổng lí lại nhận được cả thùng đầy 
				ắp giấy, mỗi tờ là một vấn đề cần giải quyết. Các giám mục khắp 
				nơi tới tấp gởi về những câu hỏi có khi thật nặng đầu. Bên cạnh 
				đó, giáo chủ còn có cuộc sống tâm linh với giờ nguyện, giờ chầu 
				và công việc cá nhân riêng tư. Giáo Hội hoàn vũ càng ngày càng 
				lớn ra – như vậy vai trò và ghế giáo chủ có phải thay đổi không?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vấn đề điều hành công 
				việc thay đổi theo thời gian. Thế kỷ thứ 8 khác thế kỷ 15, và 
				thế kỷ 15 lại khác thế kỷ 20. Nhiều điều anh vừa kể không hẳn 
				phải như vậy. Hãy bắt đầu với quốc gia Vatican: Đó chỉ là một 
				khung hình hỗ trợ. Tự thân giáo chủ không cần quốc gia, nhưng 
				ngài cần tự do, cần bảo đảm cho sự độc lập thế quyền, ngài không 
				được phục vụ cho một chính quyền nào cả.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi dám cả quyết rằng, 
				sở dĩ ngôi vị giáo chủ ở Rô-ma triển nở được, là nhờ chế độ quân 
				chủ với Konstantinus đã dời đô về Byzanz. Nhờ đó giáo chủ mới có 
				được tự do cần thiết. Tôi coi lập luận cho rằng, nhờ có sự hiện 
				diện bên cạnh của chính quyền quân chủ nên vị thế giáo chủ mới 
				lớn lên được, là hơi ngược đời. Trong ba thế kỷ đầu, Rô-ma là 
				chốn chắc chắn nhất để các tín hữu đi vào tử đạo. Cũng vì vậy mà 
				giáo chủ thời đó được coi là những ứng viên tử đạo. Chỉ sau khi 
				hoàng triều dời đô sang phía đông, tạo nên ở Í khoảng trống 
				quyền lực, thì một thứ độc lập tinh thần đã xuất hiện, và nhờ đó 
				mà giáo chủ chẳng còn phải trực tiếp suy phục một thế quyền 
				chính trị nào nữa cả. Về sau, Quốc-gia Giáo-hội hình thành, kéo 
				theo biết bao nhiêu hệ lụy bất hạnh. Và Quốc-gia đó đã kéo dài 
				cho tới năm 1870. Ngày nay nhìn lại, ta phải cám ơn Chúa là nó 
				không còn nữa. Thay thế nó, nay ta có một khung hình mới là 
				thành quốc tí hon Vatican. Quốc gia này chỉ có mỗi một nhiệm vụ 
				là giữ cho giáo chủ được tự do trong công việc của ngài. Mô mẫu 
				thành quốc này còn có thể đơn giản hoá thêm được nữa không, hãy 
				chờ xem.Có những điều khác, mà anh kể ra, cũng không hẳn như 
				vậy. Không phải tất cả các nhà dòng mẹ đều có mặt ở Rô-ma. Và 
				giáo chủ phải ra bao nhiêu tông thư, phải viết bao nhiêu diễn 
				văn, cái đó tùy trường hợp và cũng tuỳ tâm tánh mỗi vị. Dù vậy, 
				ngài vẫn còn có quá nhiều chuyện phải làm. Bao nhiêu là cuộc gặp 
				gỡ để giữ liên lạc với Giáo Hội hoàn vũ; bao nhiêu là chuyện 
				phải quyết định ; rồi làm sao còn phải dành giờ cho việc tâm 
				linh, cho kinh nguyện – cả là một vấn nạn lưỡng nan.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhưng 
				ngày nay cũng có nhiều phương thức lãnh đạo hoàn toàn mới?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chúng tôi đang nghĩ 
				xem việc tản quyền có thể giúp giảm bớt được lượng công việc 
				không. Chính Giáo chủ trong Tông thư về đại kết đã mời gọi mọi 
				người đóng góp ý kiến về vai trò giáo chủ và tổ chức giáo triều. 
				Đã có nhiều vị cho ý kiến. Cựu tổng giám mục Quinn của giáo phận 
				San Francisco, chẳng hạn, đã đề cập rất nhiều về việc tản quyền. 
				Chắc chắn có thể tiến hành được nhiều chuyện. Tuy nhiên, tôi cho 
				rằng các chuyến thăm viếng ad limina của các Hội đồng giám mục 
				là rất quan trọng, đó cũng là dịp cho những chạm mặt, gặp gỡ. 
				Cần có chúng để tăng cường mối đoàn kết trong Giáo Hội. Thư từ 
				không thể thay thế được những gặp gỡ. Không có gì thế được những 
				cuộc trao đổi, bàn luận, nhìn nhau, lắng nghe nhau.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vì thế, tôi có thể 
				nói, những hình thức gặp gỡ cá nhân bất nghi thức mà Giáo chủ 
				hiện nay đang thực hiện, sẽ mang tầm quan trọng trong tương lai. 
				Chúng quan trọng, cũng là vì nếu không có gặp gỡ cá nhân – xuyên 
				qua mọi vấn đề và mọi thách đố văn hoá – thì không thể hiểu 
				nhau, không thể đoàn kết với nhau được.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngày nay, sau những 
				đắn đo suy nghĩ, càng ngày người ta càng nhận ra nhu cầu về một 
				tụ điểm đoàn kết, một tụ điểm gần như vai trò giáo chủ hiện đang 
				đóng. Anh em tin lành nay bảo rằng nên có một biểu tượng thống 
				nhất, một phát ngôn viên cho thế giới Ki-tô giáo. Và một số 
				trong họ nói, nếu như chức vụ giáo chủ được thay đổi thích hợp 
				thì họ có thể chấp nhận. Dù sao, như anh nói, đó là một “việc 
				vượt sức người”, tưởng như không thể kham nổi. Song mặt khác, 
				việc đó vẫn có và phải có – nhưng với ơn Chúa, mình cũng có thể 
				vượt qua được.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tản quyền 
				– có nghĩa trong Giáo Hội công giáo cũng sẽ có việc chia thành 
				các vùng thượng phụ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước đây tôi nghĩ 
				phải tổ chức thành các đơn vị châu lục lớn, nhưng quan điểm này 
				càng ngày tôi thấy càng không đứng vững. Vùng thượng phụ có 
				nguồn gốc liên quan tới địa điểm phát xuất của mỗi tông đồ. 
				Nhưng công đồng Vatican II đã chọn các Hội đồng giám mục làm 
				hình thức tổ chức cho các vùng lớn. Và trên đó lại có các Thượng 
				hội đồng châu lục. Châu Mĩ la-tinh, châu Phi, châu Á hiện đã có 
				Thượng hội đồng với những cơ cấu tổ chức khác nhau. Có lẽ đó là 
				những cơ cấu thích hợp cho ngày nay. Dù sao, phải có cơ cấu cho 
				sự hợp tác vùng, nhưng chúng phải được tổ chức linh động để 
				tránh biến thành những bộ máy quan liêu, cửa quyền. Hẳn các kết 
				hợp vùng đó sẽ có thể cáng đáng cả những công tác của Rô-ma.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ngài có 
				nghĩ rằng một ngày nào đó giáo chủ công giáo lại cũng được nhìn 
				nhận bởi Giáo Hội Tin lành, Chính thống và Anh giáo?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đã có một cuộc đối 
				thoại thần học trên hình thức với Giáo Hội Chính thống, nhưng 
				chưa dám đề cập tới đề tài nóng bỏng đó. Một mặt, ưu quyền của 
				giáo chủ Rô-ma không hẳn xa lạ đối với truyền thống chính thống, 
				vì trước đây Rô-ma luôn được công nhận ở vị trí hàng đầu. Nhưng 
				mặt khác, ưu quyền đó đi ngược lại cơ cấu tự trị quốc gia của 
				bên Chính thống. Có rất nhiều tế nhị lịch sử cản ngăn hoặc gây 
				khó khăn cho việc công nhận. Có lẽ có một số lãnh vực bớt phức 
				tạp hơn. Khó hi vọng có một thành công nhanh chóng, nhưng phải 
				cố gắng đi tới mục tiêu đó.Anh giáo trả lời lại tông thư đại kết 
				của Giáo chủ với một viễn kiến về vị trí và vai trò của giáo chủ 
				theo cái nhìn của họ. Đó là một bước xích lại gần Rô-ma. Và với 
				Anh giáo, đang có một cuộc đối thoại về “Uy quyền trong Giáo 
				Hội”, nhưng trong cuộc đối thoại này vấn đề công nhận đã không 
				được đặt ra. Cũng đã có những tiến bộ trong đề tài đối thoại, 
				nhưng vẫn còn nhiều rào cản dựng lên từ nguồn gốc lịch sử của 
				Anh giáo. Chờ xem.Tin lành là một đại lượng phúc tạp. Một bên, 
				có những Giáo Hội truyền thống như Tin lành phái Luther, phái 
				methodisch, phái presbyterianisch và v.v. Nhiều nơi trên thế 
				giới họ đang rơi vào khủng hoảng. Ở những nơi đó, trọng lượng 
				của họ đang chuyển sang các phong trào evangelical, pentecostal* 
				và bảo căn. Sức sống đức tin các nhóm mới này đang nở rộ và đẩy 
				những phái truyền thống vào hậu trường. Tổ chức Evangelical và 
				bảo căn đã là hai đối thủ cổ điển chống lại Giáo chủ Rô-ma. 
				Nhưng gần đây hai tổ chức này đã có những thay đổi ngoạn mục, vì 
				họ nhận ra Giáo chủ quả thật là tảng đá biểu trưng chung, vì 
				ngài cũng như họ chống lại áp lực của tân tiến đang đè nặng trên 
				Ki-tô giáo. Trên một bình diện nào đó, họ xem Giáo chủ là một 
				đồng minh, mặc dù các dè dặt trước đây vẫn chưa hết. Tóm lại, 
				bức tranh đang chuyển động. Chúng ta tin tưởng vào những điều có 
				thể hi vọng, nhưng cũng cần kiên nhẫn.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">CƠ CẤU NỘI 
				BỘ GIÁO HỘI</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Giáo Hội 
				công giáo có một cơ cấu cổ điển, rõ ràng: Dân – Linh mục – Giám- 
				mục. Và trên tột cùng là Giáo chủ. Phẩm trật (Hierachie) - từ 
				ngữ này có nghĩa là “quyền cai trị thánh” – bắt nguồn từ Kinh 
				Thánh, hay từ nhu cầu tổ chức để có một bộ máy mạnh, hữu hiệu?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi chống lại quan 
				điểm của nhiều người, dịch chữ “Hierachie” ra nghĩa “quyền cai 
				trị thánh”. Tôi khẳng định nghĩa của nó là “nguồn gốc thánh”. Nó 
				muốn nói lên rằng, Giáo Hội không hình thành từ các quyết định, 
				nhưng luôn có thể được tái sinh từ chính Chúa, từ các bí tích. 
				Với cái nhìn đó, ta cũng có một nhận thức khác đối với chức linh 
				mục. Ở đây, ta không nói chuyện về một giai cấp cai trị muốn áp 
				đặt kỉ kuật sắt trong Giáo Hội. Chức linh mục, trái lại, là sự 
				nối kết Giáo Hội với Thiên Chúa. Nó là sự vượt lên trên chính 
				mình của một Giáo Hội do Chúa thành lập, chứ không phải do từ 
				các đại hội, từ các quyết định, từ sự thông thái hay sức mạnh 
				của tổ chức. Trong ý nghĩa đó, chức linh mục cũng không phải là 
				thứ có sẵn. Nếu vì thế mà ơn gọi linh mục không còn nữa, thì ta 
				phải cầu khẩn Chúa, chứ không thể tự mình đơn giản nặn ra được.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Giáo Hội 
				thường được gọi là “đoàn dân lữ hành”, tín hữu được gọi là “đàn 
				thú của Chúa”. Có người cũng gọi họ là đàn chiên, nghĩa là một 
				đàn súc vật chẳng có quyền gì cả, chỉ có việc tin và vâng lời .</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi thấy hai ý 
				niệm“dân Thiên Chúa” và “đàn thú” không có gì là chống nhau. Đạo 
				Do-thái phát triển từ nền văn hoá chăn nuôi, nên hình ảnh người 
				chủ chăn luôn giữ một vị trí quan trọng và hình ảnh đó đã đi vào 
				Tân Ước. Vì thế ta không nên đi từ hình ảnh làm thân chiên cừu 
				để xét đoán, nhưng nên đi từ mối tương quan tín thác giữa người 
				chăn và đàn cừu. “Dân Thiên Chúa” cũng mang ý nghĩa như thế: một 
				đoàn dân đang trên đường băng suốt qua lịch sử.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ở Í, sau khi Giáo Hội 
				làm hoà lại với nhà nước thế tục, Pi-ô XI đã cảnh tỉnh giáo dân, 
				giờ đây phải làm sao có được một cách sống đời giáo dân mới, 
				nghĩa là làm ki-tô hữu giữa trần thế, và ngài sau đó đã lập ra 
				tông đồ giáo dân. Tôi thấy, từ sau Công đồng II, nẩy ra chiều 
				hướng chống giáo sĩ, hô hào giáo dân phải dành lại quyền của 
				mình trong Giáo Hội.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Quan điểm 
				đó giờ đây đã trở thành khẩu hiệu chống Rô-ma, đã trở thành một 
				tín điều cho giới công dân tự do.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Theo tôi, chiều hướng 
				kia đặt trên một căn bản sai. Họ quan niệm rằng, Giáo Hội giờ 
				đây phải được cai trị bởi hai giới, giáo sĩ và giáo dân, cả hai 
				cùng quyết định về số phận Giáo Hội. Họ bảo, giáo dân phải cử ra 
				các đại diện – và các đại diện đó, ở Đức, có cơ quan cao nhất là 
				Uỷ ban Trung ương của người công giáo Đức – để nói lên tiếng nói 
				của giáo dân. Và phía giáo sĩ cũng cử ra đại diện của họ. Hoàn 
				toàn vô nghĩa. Như vậy thì giáo sĩ để cho ai? Nhất là người ta 
				còn bảo cả hai giới phải chung nhau nghĩ xem nên tổ chức Giáo 
				Hội như thế nào, nên giữ lại gì cho kho tàng đức tin. Rằng phải 
				hạ bệ giáo sĩ và giáo dân phải giành lại tiếng nói của mình.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có người 
				nghĩ như vậy.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nếu như giáo sĩ có lí, 
				thì họ cũng chẳng có quyền bắt Giáo Hội phải thế này thế nọ. Mà 
				họ phải vâng lời Thiên Chúa, mà người bảo đảm cho sự vâng lời đó 
				là giáo chủ. Giáo chủ là người giữ cho Giáo Hội luôn nằm trong 
				tay Thiên Chúa, không để nó bị nhào nặn bởi con người. Đó là ý 
				nghĩa của bí tích truyền chức linh mục, chức xuất phát từ một 
				nguồn không phải do chúng ta tạo ra. Lại nữa, giáo dân thì có gì 
				là xấu, đây là bậc sống bình thường của người theo Chúa, nhờ bậc 
				sống bình thường này mà Tin Mừng được sống và được đưa vào cuộc 
				sống bình nhật của thế giới. Và mục đích thật sự của tông đồ 
				giáo dân là làm sao cho đạo Chúa đi vào thế giới và biến đổi nó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Giới tu 
				sĩ nam nữ trong Giáo Hội là bậc sống triệt để nhất của người 
				theo Chúa. Đâu là nhiệm vụ của họ, đặc biệt cho Giáo Hội tương 
				lai ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có nhiều bậc sống theo 
				Chúa, với nhiều nhiệm vụ khác nhau. Giáo dân là bậc cơ bản và 
				không thay thế được, họ sống đức tin trong hoàn cảnh hợp với 
				ngành nghề của họ, trong môi trường chính trị, khoa học, thủ 
				công nghệ hoặc những nghề bình thường nhất. Nhưng cũng cần có 
				một bậc dành toàn cuộc sống mình cho đức tin, họ là trạm nhiên 
				liệu cho việc rao truyền, cho việc thổi hồn cho Giáo Hội.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi tin rằng những cơ 
				cấu muôn mặt đó sẽ rất quan trọng cho tương lai Giáo Hội. Luôn 
				luôn cần có chỗ cho con người có thể thu mình về, nơi đó họ suốt 
				ngày có thể tham dự vào cuộc sống cầu nguyện, nơi đó lời cầu 
				kinh thấm đượm nhịp sống của ngày thường. Đó là những kho dự trữ 
				để đức tin lấy thêm năng lực làm mới mình và toả sáng. Chúng ta 
				đang kinh nghiệm những điều đó trong tu viện cổ xưa của các tu 
				sĩ Biển-đức ở Montecassino này. Hoặc hãy nghĩ tới các dòng chiêm 
				niệm nữ, như của các chị dòng kín, các chị dòng Klara*, chẳng 
				hạn. Đó cũng là những ốc đảo sa mạc cho nhiều người tìm tới để 
				tăng cường và đổi mới đức tin mình.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">
				Montecassino là một trong những tu viện nổi tiếng nhất của Giáo 
				Hội la-tinh. Người ta nói, không có tu viện nào lâu đời và xứng 
				đáng như tu viện này. Vào đúng năm 529, khi người ta xây thành 
				phố tu viện trên núi này cho các tu sĩ biển-đức, thì đó cũng là 
				lúc Học viện Platon ở Athen đóng cửa.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi thấy sự trùng hợp 
				thời gian bất ngờ giữa việc đóng cửa Học viện Platon và việc mở 
				cửa tu viện Biển-đức ở Montescassino mang một ý nghĩa lớn. Học 
				viện là biểu tượng cho nền học thuật cổ điển. Montescassino được 
				coi là học viện cho thế giới Ki-tô giáo. Ta thấy một thế giới 
				đang qua đi thật sự. Đế-quốc Rô-ma tan vỡ, bên phương tây nó chỉ 
				còn là những mảng vỡ đang lịm tắt. Đế-quốc tan vỡ kéo theo sự đổ 
				vỡ của cả một nền văn hoá, nhưng Biển-đức đã giữ nó lại và tái 
				sinh nó. Như vậy, ngài đã thực hành đúng khẩu hiệu của các tu sĩ 
				Biển-đức : Succisa virescit – càng cắt ngắn thì nó lại càng mọc 
				xanh lên. Một cách nào đó việc cắt đứt văn hoá đó lại trở thành 
				một cuộc lên đường.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Và đó là 
				khởi nguyên nền tảng văn minh Âu châu.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Các tu sĩ biển-đức 
				thoạt tiên chỉ muốn giữ truyền thống dòng tu, là trở thành một 
				nơi cầu nguyện. Họ muốn là nơi tổng hợp việc làm tay chân, biến 
				đất đai thành vườn tược và phục vụ Chúa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Lý tưởng của cộng đoàn 
				biển-đức được diễn tả qua câu ora et labora – làm việc và cầu 
				nguyện. Trên hết là phụng vụ. Nó ưu tiên nhất, vì chính Chúa là 
				quan trọng nhất. Nó trải ra suốt ngày thâu đêm, thấm đượm và uốn 
				nắn thời gian và đã triển nở thành một dạng hình văn hoá cao và 
				tinh ròng. Nhưng tinh thần đạo đức của phụng vụ đồng thời là 
				trồng trọt làm mới đất đai. Chủ trương làm việc tay chân này đã 
				đẩy lùi thiên kiến cổ điển, coi đó chỉ là nhiệm vụ của đám nô 
				lệ. Giờ đây công việc tay chân trở thành một cái gì cao quý, Tin 
				Mừng Gio-an gọi đó là sự bắt chước đấng Tạo hoá.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cùng với tư tưởng mới 
				về làm việc, quan điểm về nhân phẩm cũng thay đổi. Xã hội thời 
				đó nặng tính đẳng cấp, coi con người hoặc là tự do hoặc là nô 
				lệ. Nhưng tu viện là nơi không còn đẳng cấp, ai vào đó, đều là 
				người tự do. Và, bắt nguồn từ tự do của Chúa, mọi người đều bình 
				đẳng và có cùng một sứ mạng là mang Chúa xuống cho trái đất và 
				nâng trái đất lên cùng Chúa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Với tất cả những cái 
				đó Montescassino đã cứu và thay thế nền văn hoá cổ điển. Nơi đây 
				người ta sao chép lại các tài liệu, nơi đây ngôn ngữ được chăm 
				sóc. Tu sĩ người Pháp Leclerq có lần nói, yêu Chúa và yêu văn 
				phạm gắn liền với nhau. Muốn hiểu Kinh Thánh, phải đọc nó. Vì 
				vậy mà khoa học ngôn ngữ đã ra đời và được chăm bón. Đó chỉ là 
				một thí dụ. Mặt khác, muốn làm vườn hiệu quả, bắt buộc phải 
				nghiên cứu đất đai. Tóm lại, có thể nói, từ nguồn đạo đức “phụng 
				vụ và làm việc” - ora et labora – đó, mà một nền văn hoá mới, 
				văn hoá âu châu, hình thành.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Di chúc 
				lớn của thánh Biển-đức để lại là bộ luật của ngài. Hẳn tác phẩm 
				nhỏ nhoi đó là một trong những thành quả lớn nhất của phương tây 
				- mà sứ điệp thực tế của nó là tạo nên một cuộc sống có “lớp 
				lang thứ thự” - cho tới ngày nay và mãi mãi vẫn có thể khám phá 
				ra được nét mới. Ngài ghi chú : “Chỉ cần Kinh Thánh cũng đủ làm 
				mẫu mực cho cuộc sống rồi”. Nhưng để người mới tập sự có thể 
				thực hành được luật đó, ngài đã viết ra một hướng dẫn đơn giản, 
				cho những ai “yêu cuộc sống và muốn thấy một ngày tươi đẹp”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Yếu tố nổi bật của 
				luật đó là mực thước. Nhiều bộ luật dòng khác quá gắt. Vì ganh 
				đua nên người ta thường đặt ra những luật quá triệt để, từng cá 
				nhân sốt sắng có thể theo được, nhưng về lâu về dài không thể áp 
				dụng cho cuộc sống chung. Biển-đức đã nối kết thành công giữa 
				cái đòi hỏi gắt gao cần thiết và cái giới hạn của bản chất con 
				người. Luật của ngài linh động, vì vị bề trên có quyền hạn rộng 
				rãi áp dụng luật đó tuỳ vào hoàn cảnh do ngài nhận định. Dù vậy, 
				luật cũng không phải là lỏng lẻo, mà trái lại, nó đề ra một cơ 
				cấu chặt chẽ : nhất là các giờ kinh nguyện ấn định thời biểu cho 
				cả ngày lẫn đêm, và cũng cả cơ cấu các bữa ăn và bổn phận làm 
				việc. Như ta đã thấy, công việc tay chân kéo theo công việc văn 
				hoá, học chữ để đáp ứng nhu cầu phụng vụ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Một cách nào đó, 
				Biển-đức được xem như một thứ Mai-sen, người đã đặt quy luật cho 
				cuộc sống. Nhưng luật của Biển-đức bắt nguồn từ Đức Ki-tô. Và 
				Đức Ki-tô là người đã làm mới và hoàn chỉnh luật Mai-sen, để nó 
				có thể trở thành luật sống cụ thể. Trong ý nghĩa đó Biển-đức đã 
				trở thành một nhà ban hành luật cao cấp của phương tây, và từ 
				con người văn hoá muôn mặt đó mà cuối cùng một châu lục mới – Âu 
				châu – đã thành hình, một nền văn hoá đã biến đổi bộ mặt thế 
				giới.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nếu như văn hoá chúng 
				ta ngày nay đứng trước cơ nguy mất thăng bằng, như ta đang thấy, 
				thì đó cũng là vì ta đã lìa quá xa luật ngài. Có lẽ thế giới 
				chúng ta luôn có thể tìm lại được thế thăng bằng một cách dễ 
				dàng, nếu ta chịu trở về với luật cơ bản của Biển-đức, bởi nó 
				chỉ ra thái độ và nhân đức nền tảng mà con người cần có, hầu tạo 
				thăng bằng nội tâm cho cuộc sống. Không có thăng bằng đó, không 
				thể có cuộc sống cộng đoàn, và cá nhân không thể trưởng thành 
				được.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ta tiếp 
				tục bàn thêm đôi chút về thành quả quan trọng đó của Biển-đức. 
				Chữ đầu tiên của bộ luật là “lắng nghe” : “Con ơi, hãy lắng nghe 
				lời dạy của thầy”, rồi Biển-đức thêm : “Hãy ghé tai nghe tiếng 
				tim con”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vâng, đó là lời mời 
				gọi lắng nghe, và đây là điều căn bản cho con người. Con người 
				không được tự mãn, nó phải khiêm tốn để học đón nhận một cái gì 
				đó – “cúi đầu con xuống”. Nó phải lắng nghe để lần ra ơn gọi 
				mình. Và nghe không có nghĩa là để một tai vào những gì vừa xẩy 
				ra chung quanh, nhưng là lắng mình đi vào chiều sâu – hoặc hướng 
				lên cao, bởi chưng những gì thầy nói đều không ngoài việc áp 
				dụng Kinh Thánh, áp dụng bộ luật nguyên thuỷ của kiếp người.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Biển-đức 
				tin rằng, lắng nghe và đáp trả cũng giống như hít vào và thở ra. 
				Và con người cũng cần học cách chấp nhận mình, nó cần “ở lại 
				trong chính mình”, cần im lặng, lắng nghe, tìm yên tĩnh cho 
				mình. Từ hơn 1500 năm nay bộ luật vẫn không mất tính thời sự.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Qua luật biển-đức, ta 
				thấy cái gì thực sự là người trong đó thì không mất tính thời 
				sự. Cái gì thật sự toát ra từ chiều sâu thì vẫn là một cách sống 
				không bao giờ lỗi thời. Người ta có thể phê bình nó, có thể thử 
				tìm trong đó những hình thức vận dụng khác nhau, nhưng trên căn 
				bản, quy luật sống đó vẫn luôn mang tính thời sự. Ngay ngày hôm 
				nay, ta lại thấy cần phải thân thiện với địa cầu, cần coi trọng 
				những quy luật của nó và bảo tồn tạo vật của nó. Và có lẽ ta lại 
				bắt đầu thấy cần dành thời gian nghỉ ngơi cho việc phụng vụ, 
				đừng bắt trí óc đêm ngày chỉ phải bận tâm với chuyện năng suất. 
				Ta biết việc lắng nghe cũng là một phần của đời sống – bởi lẽ 
				phụng vụ là việc Chúa đi vào lòng người và là sự lắng nghe. Ta 
				biết kỉ luật, chừng mực và trật tự có liên quan với nhau ; vâng 
				lời liên quan với tự do ; cũng thế, việc có thể chịu đựng lẫn 
				nhau trong tinh thần đức tin không chỉ là quy luật nền tảng của 
				một cộng đoàn dòng tu, nhưng tất cả những điều trên thật ra là 
				những yếu tố nền tảng cho việc hình thành bất cứ một cộng đoàn 
				xã hội nào. Đó là một bộ luật rất người, và nó cũng diễn tả được 
				cái tính người đó, bởi vì nó nhìn vượt lên trên con người và – 
				đã nghe và đã nhìn ra được những gì thuộc Thiên Chúa. Con người 
				chỉ trở thành người khi nó được Chúa đụng đến.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Câu 
				chuyện sau đây ta không được phép quên. Tên thật người đó là 
				Gio-an Bernardone. Người ta gọi ngài là Francesco, nghĩa là ´chú 
				Pháp nhỏ´, vì ngài thích hát nhạc Pháp. Ơn gọi của ngài là cả 
				một câu chuyện thật cảm động. Có thể nói rằng Franciscus 
				(Phan-sinh) đã cứu được Giáo Hội khỏi sụp đổ ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Giáo Hội có lẽ chẳng 
				bao giờ sụp đổ hoàn toàn đâu, nhưng trong cơn khủng hoảng của 
				Giáo Hội, ngài đã làm được chuyện quyết định để chống đỡ nó. Ai 
				trong chúng ta cũng biết câu chuyện của giáo chủ In-nô-xen-xô 
				III. Ngài mơ thấy nguyện đường Lateran đổ và bỗng dưng có người 
				ghé vai chống đỡ. Ngài cho rằng người đó chính là Phan-sinh và 
				cho mời tới. Và nhà chính trị tài ba In-nô-xen-xô nhìn ra sức 
				mạnh cần có cho Giáo Hội nơi anh nhà tu vô chính trị và có cuộc 
				sống Tin Mừng cực đoan kia. Giáo Hội cần một đổi mới đoàn sủng 
				từ bên trong, cần một ngọn lửa đức tin mới, chứ không phải chỉ 
				với khả năng và chiến lược của giáo triều và của trật tự chính 
				trị là đủ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi tin rằng câu nói 
				của Đức Ki-tô “Hãy theo tôi”, hãy dứt khoát triệt để theo tôi, 
				quả mang nhiều kết quả. Bao nhiêu xung lực và câu đáp trả mới đã 
				không ngừng nẩy sinh từ đó. Và Giáo Hội, mỗi khi trở nên nhàm 
				chán hay đứng trước đổ vỡ, vẫn không ngừng hi vọng vào những sức 
				bật mới do Chúa Thánh Linh thúc đẩy từ bên trong. Những sức bật 
				không bao giờ được chuẩn bị trước, nhưng chúng phát sinh từ 
				những con người được chúc phúc và chúng làm cho Tin Mừng luôn 
				mang lại hoa trái mới.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phan-sinh là một trong 
				những người đó. Sau thời gian tuổi trẻ vui chơi và nông nổi, 
				bỗng dưng ngài nghe được tiếng gọi triệt để, và hân hoan bước đi 
				theo Chúa. Ngài bằng lòng với cuộc sống tu trì đang có, chứ 
				không nghĩ lập ra một dòng mới. Đứng trước nếp sống nặng nề, vô 
				vị – và bị choáng ngộp bởi ích kỉ - của ki-tô hữu, ngài chỉ muốn 
				đơn giản rao giảng lại Tin Mừng theo lối mới và góp nhặt người 
				về cho Chúa. Ngài chỉ muốn trình bày Tin Mừng, nói về bài giảng 
				trên núi, mà thôi, để khích động bà con ăn năn quay về với Chúa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng từ đó, gần như 
				ngược lại với ý ngài, một phong trào sống đạo đã hình thành, và 
				cuối cùng nó đã trở thành khung pháp lí cho một dòng tu. Giáo 
				chủ nhận ra nhu cầu phải cho phong trào này một khung hình tổ 
				chức, để làm dụng cụ rao truyền sự hiện diện mới của Tin Mừng, 
				mà Phan-sinh đang phát động. Nhưng đây rốt cuộc lại là bi kịch 
				của dòng Phan-sinh : Một đàng, chủ trương sống tin mừng triệt để 
				đòi hỏi phải có nhiều tự do, phải sống nghèo hơn, chủ trương đó 
				không thể bị bó hẹp trong một khuôn khổ định chế. Nhưng đàng 
				khác lại cần có một hình thức nào đó phù hợp cho một cộng đoàn 
				con người bình thường tổ chức đời sống. Ngọn lửa sống đạo cực 
				đoan kia thỉnh thoảng đã vượt ra khỏi định chế, nhưng dù vậy 
				dòng vẫn luôn nhận ra chỗ đứng trong Giáo Hội của mình.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngay chính Giáo Hội 
				cũng sống trong tình trạng lưỡng nan đó. Một mặt, tất cả chúng 
				ta phải luôn nỗ lực, triệt để hơn trong việc vượt ra khỏi những 
				thoả hiệp cuộc sống thường nhật. Nhưng mặt khác, nếu như phải 
				chấp nhận tiếp tục sống với những thoả hiệp phải có trong thế 
				gian này, thì ta nên chấp nhận cái gai bất an đó thôi thúc trong 
				lòng, và hãy mở chính cuộc sống mình và cuộc sống thế giới ra 
				cho chiều kích lớn rộng của Tin Mừng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Phan-sinh 
				đã chẳng bao giờ chịu làm linh mục, tại sao ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngài là một người 
				khiêm tốn. Ngài sống theo ý nghĩa nguyên thuỷ của lời Chúa, muốn 
				trở nên bé mọn trước mặt Ngài, vì như Chúa đã nói, chỉ những ai 
				bé mọn mới thấu hiểu được Tin Mừng. Linh mục trong thời xã hội 
				đẳng cấp của ngài là giới thuộc cấp cao, ưu đãi, mà một kẻ chủ 
				trương sống đơn giản phục vụ như ngài không muốn bước vào. Ngài 
				muốn mình là một người loan báo Tin Mừng tầm thường, một kẻ hát 
				rong ca ngợi Chúa. Theo truyền thuyết thì ngài đã là phó tế, một 
				chức vị có quyền đọc Kinh Thánh trong các buổi phụng vụ. Ở đây 
				xem ra chức phó tế, một bí tích phục vụ, là tác vụ thích hợp cho 
				cuộc đời ngài.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">GIÀU CÓ 
				TRONG KHÓ NGHÈO</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có một người đàn ông 
				mà chúng tôi tìm thấy trong ống cống, một nửa người bị dòi bọ 
				gậm nhắm và sau khi chúng tôi đem ông về nhà, ông chỉ nói :”Tôi 
				đã sống như một con vật trên đường phố, nhưng tôi sẽ chết như 
				một thiên thần, được yêu thương và được săn sóc”. Thế rồi sau 
				khi được gắp bỏ mọi sâu bọ trên cơ thể, tất cả những gì ông nói, 
				với nụ cười vui, là :”Thưa Seour, tôi đi về nhà Chúa đây”. Và 
				ông tắt thở.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thật là tuyệt vời khi 
				nhìn sự cao cả của con người nầy đã có thể nói như vậy, không 
				oán trách ai, không so đọ tính toán gì. Như một thiên thần, - 
				chính là sự cao cả của những ai giàu có về mặt thiêng liêng – dù 
				họ có thể nghèo về vật chất.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chúng tôi không phải 
				là những người làm công tác xã hội. Chúng tôi có thể đang làm 
				công tác xã hội dưới mắt một số người, nhưng chúng tôi phải là 
				những người chiêm niệm trong lòng thế giới. Vì chúng tôi phải 
				đem sự hiện diện của Chúa đến trong gia đình bạn, vì gia đình 
				đang cầu nguyện chung, đang ở chung với nhau. Có quá nhiều hận 
				thù, quá nhiều lầm than khốn khổ và chúng tôi, cùng với lời cầu 
				nguyện, cùng với hy sinh của mình, chúng tôi bắt đầu tại nhà 
				mình. Tình thương yêu khởi đầu tại nhà và đó không phải là chúng 
				tôi làm yêu thương bao nhiêu, mà là chúng tôi đặt bao nhiêu yêu 
				thương vào những gì chúng tôi làm…Tôi muốn các bạn tìm thấy ở 
				đây những người nghèo, trước hết ngay trong chính nhà bạn. Và 
				tình thương yêu khởi đầu ở đó. Hãy nên Tin Mừng cho những người 
				của bạn trước hết. Và hãy tìm hiểu về những hàng xóm gần nhà 
				bạn. Bạn có biết họ là ai chưa? (Chân phước Mẹ Têrêxa Calcutta)</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<a name="3._CÁC_BÍ_TÍCH_"><span style="color: #FF0000"><b>3</b></span><span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI"><b>. 
				CÁC BÍ TÍCH</b></span></a></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">HOẠ ĐỒ 
				KIẾN TRÚC ĐỜI SỐNG</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhiều 
				người trước sau vẫn sử dụng các kiểu nói Ki-tô giáo, nhưng chẳng 
				còn hiểu gì về nội dung chúng, chứ đứng nói là sống theo những 
				lời đó. Hãy nhìn vào bảy bí tích. Ngài có lần nói, trong các bí 
				tích đó chứa đựng hoạ đồ kiến trúc cho cả cuộc sống. Và Johann 
				Wolfgang von Goethe*, lớn lên trong giáo dục tin lành, quả quyết 
				rằng, bí tích của Giáo Hội công giáo không những là cái “cao cả 
				nhất của tôn giáo”, mà còn là “biểu tượng khả giác của lòng tốt 
				và hồng ân tuyệt vời của Thiên Chúa”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước khi đi vào từng 
				bí tích, tôi tự hỏi: Không hiểu những bí tích đó có ích gì? Bí 
				tích thêm sức, chẳng hạn, đâu có giữ cho thanh thiếu niên khỏi 
				rơi vào nghiện ngập. Hay bí tích hôn nhân đâu phải là bảo chứng 
				cho vợ chồng không ngoại tình, không dối nhau, không bỏ nhau sau 
				một năm sống chung.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi tin rằng bảy phép 
				bí tích thật sự đóng ấn cho cấu trúc và những chặng đường lớn 
				của đời người. Người ta cần cho những thời điểm quan trọng - như 
				sinh ra và chết, trưởng thành và kết hôn – một dấu chỉ nào đó, 
				qua đó chúng nhận được tầm quan trọng, niềm hứa hẹn cho tương 
				lai và như vậy cả sự nâng đỡ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nếu chỉ nhìn bí tích 
				dưới khía cạnh hiệu năng và coi chúng như phương tiện giúp con 
				người có được thần lực để hoán cải mình, thì ta sẽ thất vọng. 
				Vấn đề ở đây không phải vậy. Đức tin không phải một thứ gì lơ 
				lửng trong không khí.Nó nhập vào thế giới vật chất. Các dấu chỉ 
				của thế giới vật chất lại giúp ta đụng chạm được với Thiên Chúa. 
				Như vậy, các dấu chỉ là sự biểu lộ tính thể lí của đức tin. Việc 
				thấm nhập giác quan và trí tuệ là sự tiếp nối biến cố Thiên Chúa 
				đã trở thành xương thịt và đã đã tỏ mình ra cho ta qua những dấu 
				chỉ trần thế.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Bí tích, vì thế, là 
				một cách chạm vào chính Thiên Chúa. Nó cho thấy Thiên Chúa không 
				phải là chuyện thuần tinh thần, nhưng Ngài có cộng đoàn và thiết 
				lập cộng đoàn; và Ngài kéo theo cả trái đất và tạo vật vào Ngài, 
				và như vậy, tạo vật cùng các thành tố của chúng cũng trở nên 
				siêu việt.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cơ bản ở đây là, qua 
				các bí tích, tính cộng đoàn và tính thể lí của đức tin được thể 
				hiện; và chúng còn cho thấy rằng đức tin không phải do ta mà có, 
				nhưng nó đến từ một sự uỷ quyền cao hơn. Các bí tích, cũng như 
				toàn bộ hành động của Chúa, tất cả dĩ nhiên đều được tín thác 
				vào tự do của ta. Và bí tích – cũng giống i như Tin Mừng – không 
				tác động trong ta một cách máy móc, chúng chỉ tác động khi được 
				ta chấp nhận và cùng bước đi với chúng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">GIÁC NGỘ</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Khởi đầu 
				là phép rửa, mà thời Giáo Hội nguyên thuỷ cũng gọi là sự giác 
				ngộ. Đó là một nghi thức đầy tôn kính và trịnh trọng, ghi dấu 
				cuộc đời bằng những bài đọc quan trọng. Trong phụng vụ phép rửa, 
				khi trao thánh giá, người trao phép nói: “Tôi chúc lành cho anh 
				/ chị bằng dấu thánh giá, để anh /chị nhận ra rằng &nbsp;Đức Giê-su 
				yêu qúy anh /chị. – Tôi làm dấu thánh giá trên mắt anh /chị, để 
				anh / chị thấy việc Ngài làm. – Tôi làm dấu thánh giá lên tai 
				anh /chị, để anh / chị nghe được lời Ngài nói. – Tôi làm dấu 
				thánh giá lên miệng anh / chị, để anh /chị đáp trả lại tiếng gọi 
				của Ngài. – Tôi làm dấu thánh giá trên tay anh /chị, để anh / 
				chị hành động như &nbsp;Đức Giê-su“. Công thức trên là một biểu 
				tượng. Nó muốn nói gì?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Biểu tượng dịch nghĩa 
				là “trùng hợp với nhau”. Thoạt tiên, biểu tượng là một cách tự 
				giới thiệu. Nó gồm sự kiện như sau: Có hai người, mỗi vị chia 
				nhau một phần – cái triện đóng dấu chẳng hạn - , và hai vị đó đã 
				nhận ra nhau, sau khi so hai phần triện đó có sự phù hợp với 
				nhau. Về sau, biểu tượng mang nghĩa rộng hơn, nó dùng những hình 
				ảnh giác quan để diễn tả một cái gì đó không thể thấy được.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có nhiều biểu tượng 
				kết tinh trong phép rửa. Người ta đã đưa vào đó những bước căn 
				bản của quá trình dạy và học giáo lýnhập đạo thời xưa. Điều đó 
				cũng ám chỉ rằng, phép rửa đòi hỏi một quá trình giáo lí, nghĩa 
				là đòi hỏi một cộng đoàn cùng học và sống với nhau. Những bước 
				của quá trình đó được tóm lại trong phép rửa. Mở mắt, mở miệng, 
				mở tai. Đó là câu “Ephata“ mà &nbsp;Đức Giê-su đã công khai nói với 
				người câm điếc, và rồi miệng và tai người đó đã mở ra và anh ta 
				nói được, nghe được.Cũng vậy,nhờ phép rửa và nhờ cộng đoàn đồng 
				hành, mà người tân tòng được đưa vào gia nhập trong đó, chúng ta 
				hết câm để trả lời Chúa,hết điếc để nghe được tiếng Ngài. Nếu 
				không nghe được Chúa, ta cũng không thể nói được lời đúng 
				đắn,không thể cầu nguyện được với Ngài.Mở tai và mắt trong phép 
				rửa cũng là để biết tập lắng nghe và tập ăn nói trong cộng đoàn 
				sống đức tin, là để ta nhìn thấy được thiên tính trong tạo vật 
				và thiên tính đó nối ta vào với Chúa qua dấu thánh giá.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Trong 
				Giáo Hội cổ, phép rửa là một phần thưởng to tát. Ngoài việc phải 
				qua thời gian học giáo lí, người dự tòng còn phải có hai người 
				lớn làm chứng. Ngài chống lại việc rửa tội trẻ em?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phép rửa còn có mục 
				đích giúp cho đời người có một ý nghĩa vượt lên trên đời sống 
				sinh vật, để họ hiểu rằng cuộc sống này đáng sống. Nhất là giữa 
				thời buổi với tương lai đen tối như hiện nay, ta có thể đặt câu 
				hỏi, là liệu còn có chút đạo đức nào không, khi sinh một đứa trẻ 
				ra đời và như vậy là vứt nó vào một tương lai vô định, muốn sống 
				cho ra người cũng khó? Và quả thật, khi người ta chẳng còn biết 
				có nên làm người nữa không, thì phép rửa chỉ đáng nên làm, nếu 
				như ta hiểu rằng, làm thế là ta trao cho con người mới đó một 
				cái gì hơn thể xác nó, ta trao cho nó một ý nghĩa mà ta biết còn 
				mạnh hơn mọi tăm tối của lịch sử. Chính phép rửa đưa con người 
				đó vào chung cộng đoàn với Đức Ki-tô.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Như thế thì phép rửa 
				trẻ em rõ ràng nên làm. Nhưng phải xét lại, nếu như không có 
				thời gian học giáo lýđi trước, đây là chuyện thường xẩy ra trong 
				xã hội mất hết tính Ki-tô giáo hiện nay. Nếu chỉ coi phép rửa 
				như một nghi thức phải có, như một dịp lễ hội mà thôi, thì phải 
				đặt lại vấn đề. Nhiều người ngày nay coi phép rửa là việc xã hội 
				hoá trong một giáo xứ. Không, nó còn hơn điều đó nhiều; đó là 
				một cuộc tái sinh mở ra những chiều kích sống mới.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Khoản 849 
				giáo luật viết: “Việc lãnh nhận phép rửa thật sự, hay ít ra ước 
				ao nhận lãnh nó, cần thiết cho sự cứu rỗi”. Nếu vậy, chết trước 
				khi nhận phép rửa thì sao? Và số phận nào dành cho hàng triệu 
				thai nhi bị giết trong bụng mẹ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu hỏi, phép rửa có 
				cần cho việc cứu rỗi không, càng ngày càng trở nên nóng bỏng 
				trong thời hiện đại. Công đồng Vatican II dạy, những ai trên 
				đường tìm Chúa và mở lòng ra cho cái mà ta gọi là phép rửa, thì 
				cũng được cứu rỗi. Điều đó có nghĩa là việc đi tìm Chúa cũng là 
				một tham dự tinh thần với phép rửa, với Giáo Hội, với Đức Ki-tô 
				rồi.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Như vậy, câu hỏi trên 
				ngày nay xem ra đã được trả lời. Nhưng câu hỏi về các trẻ chưa 
				lãnh phép rửa vì đã bị giết trong bụng mẹ, càng khiến chúng tôi 
				nóng ruột hơn.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Xưa kia người ta luận 
				rằng, phép rửa ban cho ta ơn nên thánh, nhờ đó ta có thể chiêm 
				ngưỡng Chúa. Việc chưa nhận phép rửa, nghĩa là đang ở trong tình 
				trạng mang tội tổ tông, làm ta không có được ơn nên thánh đó. 
				Các trẻ chết sớm như thế thì không mang tội cá nhân nào, nên 
				không phải sa hoả ngục, nhưng mặt khác vì không có ơn nên thánh, 
				nên không được diễm phúc hưởng nhan thánh Chúa. Các em chỉ được 
				ở trong tình trạng hạnh phúc tự nhiên mà thôi, tình trạng đó ta 
				gọi là lâm-bô (Limbus). Đối với tôi, giáo lýđó thiếu rõ ràng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vấn đề trên càng trở 
				nên phức tạp hơn trong thế kỷ20. Giáo lýkia là một hình thức để 
				biện minh cho việc phải rửa tội trẻ em thật sớm, nhưng lối giải 
				quyết của nó không vững. Rốt cuộc, với thông điệp Tin-mừng 
				Sự-sống (Evangelium Vitae) Giáo chủ đã quyết định thay đổi. Í 
				định này đã được đề cập trước đó trong sách Giáo-lí Công giáo, 
				khi sách viết rằng, Chúa có đủ quyền năng để kéo vào Ngài cả 
				những ai không thể nhận phép rửa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">TRƯỞNG 
				THÀNH</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Theo niềm 
				tin của Giáo Hội công giáo, thêm sức là “bí tích để lớn lên 
				trong đời sống siêu nhiên”. Nghĩa là sao? Đâu là tác dụng thật 
				sự của nó ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có hai cử chỉ cơ bản 
				nơi phép thêm sức : xức dầu và đặt tay. Đặt tay là dấu chỉ được 
				Chúa che chở và cũng là dấu chỉ sự hiện diện của Chúa Thánh 
				Linh. Xức dầu nối kết kẻ nhận phép với chính đấng được xức dầu, 
				là Chúa Ki-tô, và trở thành dấu chỉ Chúa Thánh Linh, đấng tiếp 
				nối cuộc sống của Đức Ki-tô. Phép thêm sức hoàn tất phép rửa ; 
				phép rửa nhấn mạnh chủ yếu tới việc nối kết với Chúa Ki-tô, thêm 
				sức nhấn mạnh việc chung sống với Chúa Thánh Linh.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phép thêm sức cũng nói 
				lên rằng người nhận từ nay là một thành phần tích cực, đầy đủ 
				trách nhiệm trong Giáo Hội. Vì vậy mà thời gian gần đây người ta 
				hay gọi đó là bí tích thành niên. Trước đây còn có “tát tai”, 
				gợi nhớ lại nghi thức thành niên ngoài đời. Công đồng Vatican II 
				đã bỏ điểm này. Vì nghĩ là một bí tích thành niên, nên nhiều 
				người hiện nay thường hay nhận trễ, ở tuổi khoảng 16 hay 18. 
				Nhưng cũng có một cái nhìn khác. Các Giáo Hội phương đông cho 
				nhận thêm sức cùng một lần với phép rửa (trẻ em). Người ta lí 
				luận rằng, chỉ được phép rước mình thánh Chúa, sau khi đã nhận 
				hai bí tích dẫn nhập là phép rửa và thêm sức, và sau khi đã được 
				nhận vào chung cộng đoàn với Đức Ki-tô trong Chúa Thánh Linh.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thêm sức là một thứ lễ 
				gia nhập, qua đó người thanh thiếu niên làm lễ mừng bước vào 
				giai đoạn trưởng thành, giai đoạn làm người lớn. Thời Trung cổ, 
				tu sĩ dòng An-tịnh Thomas ở Kempen đã viết cuốn sách nhan đề 
				“Theo gương Chúa Ki-tô”, trong đó nói về những qui điều chỉ lối 
				cho ta sống đúng đắn. Sách đó là tác phẩm được nhiều người đọc 
				nhất sau Kinh Thánh. Một vài điều trong đó xem ra xa lạ đối với 
				ngày nay. Nhưng ngay một triết gia cộng sản là Ludwig Marcuse 
				cũng công nhận đó là “nghệ thuật để trở nên tinh sạch». Tu sĩ 
				Thomas viết : “Nhiệm vụ cao cả nhất của mỗi người là học cách 
				nhận chân con người mình”. Và tiếp : “Phải có khôn ngoan và toàn 
				hảo lắm mới có thể tự hạ mình và luôn nghĩ tốt, nghĩ điều cao cả 
				cho người khác”.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trở về với nội tâm 
				cũng là điều quan trọng cho ngày nay. Một trong những khía cạnh 
				rõ ràng của thêm sức là nó đưa ta ra khỏi cái suy nghĩ thuần 
				chuyện bề ngoài, thuần chuyện thành công và hiệu năng, đồng thời 
				muốn nói cho ta hiểu rằng, ta còn có một nội tâm. Nó nhắc ta, 
				như thánh Phao-lô nói xưa, hãy làm vững con người bên trong của 
				mình. Nội tâm èo uột đang là một trong những vấn nạn lớn của 
				thời đại. Trong ý nghĩa đó, có lẽ phép thêm sức quả thật là một 
				đối trọng của khuynh hướng chạy theo bề ngoài, nó giúp cho những 
				gì trong cuộc sống làm người giữ được cân bằng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thành công vật chất, 
				trong nền văn minh tân tiến hiện nay, đã trở thành thước đo của 
				mọi giá trị. “Ai cũng có thể làm được”, đó là lời hứa của đạo 
				quân các nhà tâm lí kích-động. Thái độ này gần như trở thành mồi 
				thuốc phiện.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nó làm cho người ta 
				theo nhau nghiện. Thấy người ta làm được, mình cũng muốn theo. 
				Cha mẹ thấy con cái người khác chải chuốt và có tương lai, dĩ 
				nhiên cũng muốn cho con mình được như thế. Nhưng tôi nghĩ, như 
				thế, là người ta chỉ còn nhìn về một phía. Người ta muốn có thật 
				nhiều, muốn nở mặt nở mày với thiên hạ. Tiếc rằng, chúng ta đã 
				quên mất sự cần thiết của văn hoá nội tâm trong cuộc sống chúng 
				ta.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Lúc này người ta cũng 
				đang thử dùng các phương pháp tĩnh tâm để tìm cách dựng lại một 
				thứ nội tâm nào đó. Nhưng, nhìn chung, những văn hoá tĩnh tâm đó 
				lại thường nhằm để tăng cường khả năng thành đạt bề ngoài. Hoặc 
				đó là những kĩ thuật đổ rác, làm cho con người rốt cuộc chẳng 
				còn chút nội lực thật sự nào nữa. Tôi muốn nhắc lại, chúng ta 
				phải thật sự tìm lại cho mình một nền văn hoá nội tâm mới, phải 
				học lại cách làm sao để “con người bên trong”, chữ của thánh 
				Phao-lô dùng, cùng lớn lên với con người bên ngoài, và làm sao 
				để có được năng lực, hầu có thể chống lại được những cái bên 
				ngoài đi ngược lại với ta.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">HÀNH ĐỘNG 
				CỰC THÁNH TẠI NƠI CỰC THÁNH</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Khoảng 
				năm 150 công nguyên, một học giả tên Justinus đã dâng lên hoàng 
				đế Antonius Pius một thỉnh nguyện thư nhằm bảo vệ người Ki-tô 
				giáo. Nhờ thư đó ta biết được việc cử hành thánh lễ thời đó. Thư 
				viết : “Vào ngày gọi là Chúa nhật, mọi người trong thành và ở 
				miền quê tụ tập nhau lại. Họ đọc lên cho nhau nghe những điều 
				đáng suy nghĩ của các tông đồ hoặc sách các tiên tri, lâu hay 
				mau tuỳ theo thì giờ họ có. Sau khi nghe xong, người chủ trì yêu 
				cầu mọi người hãy noi theo những điều tốt trong các bài đọc. Sau 
				đó tất cả chúng tôi đứng dậy và cầu nguyện. Sau cầu nguyện, 
				bánh, rượu và nước được mang tới ; người chủ trì lớn tiếng dâng 
				lên lời nguyện và cảm tạ, và dân chúng đồng thanh thưa Amen. 
				Tiếp đó là phần chia các tặng vật. Mỗi người được lãnh một phần 
				của thánh đó. Ai vắng mặt, các phó tế sẽ mang tới cho. Của ăn đó 
				giờ đây gọi là lễ tạ ơn (Eucharistie). Được phép tham dự chỉ 
				những ai coi giáo lýchúng tôi là đúng, đã được tẩy sạch tội lỗi 
				và tái sinh trong bể nước, và sống theo như Đức Ki-tô đã dạy”. 
				Cho tới ngày nay, sau 2000 năm, nghi thức đó xem ra vẫn không 
				đổi ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vâng, đó là cơ cấu nền 
				tảng của thánh lễ, mặc dù ngày nay một số chi tiết đã được phát 
				triển thêm.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có lẽ 
				phải cần một thời gian nào đó để hiểu rằng đằng sau các nghi 
				thức kia còn có một cái gì hơn thế nữa. Cũng như chỉ khi ta đứng 
				từ bên trong nhà thờ mới thấy các tranh kính màu trên cửa sổ nhà 
				thờ rạng sáng. Trước hết, ngài có thể giải thích cho tôi hay về 
				diễn tiến của một thánh lễ ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước hết là phần bài 
				đọc. Người ta tụ họp nhau lại để lắng nghe và nhận lãnh bài đọc, 
				đúng như những gì đã xẩy ra trong Giáo Hội sơ khai gần núi 
				Si-nai. Các bài đọc nói tới trong thư trên là của các tiên tri 
				và các thánh sử. Chúng giữ chỗ quan trọng trong thánh lễ, vì, 
				như người ta nói, người ta muốn lắng nghe tiên tri, các tông đồ 
				và Đức Ki-tô. Tiên tri ở đây là toàn bộ Kinh Thánh Cựu Ước. Tông 
				đồ là các tông thư và Đức Ki-tô là tin mừng Tân Ước. Như thế, 
				lời Chúa có thể nói gồm ba phần. Justinus viết, sau đó là phần 
				cảnh cáo của vị chủ trì, điều này có nghĩa là có phần giải thích 
				ý nghĩa bài đọc, bởi vì lời Chúa do những người không gần gũi 
				với ta viết, nên muốn hiểu cần phải được diễn giảng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Sau phần căn bản đó 
				của thánh lễ: tụ tập nhau nghe lời Chúa, lời đổi mới, sửa dạy và 
				khai sáng ta, mới đến phần thực sự là lễ tạ ơn. Phần này cũng 
				chia ra ba giai đoạn. Trước hết giai đoạn chuẩn bị của lễ, bánh 
				và rượu. Phần này tượng trưng cho việc ta dâng tạo vật lên cho 
				Chúa. Tiếp đó là lời nguyện cảm tạ. Có nghĩa là vị giám mục hay 
				linh mục đọc lên những gì mà &nbsp;Đức Giê-su đã nói ra trong đêm 
				trước ngày chịu nạn. Đó là bài ca lớn ngợi khen Thiên Chúa. Bài 
				ca bao gồm việc cảm tạ Chúa Ki-tô, đồng thời nhắc nhớ lại những 
				gì Ngài đã nói và làm trong những giờ cuối của Ngài – và như 
				thế, bánh và rượu không còn là của lễ của ta nữa, mà biến thành 
				của lễ của Chúa Ki-tô, qua đó Ngài thực sự hiện diện đúng như 
				những lời trong bữa tiệc li. Justinus là một tác giả cổ, ông 
				viết rằng các của lễ đã “trở thành tạ ơn” (eucharistiert). Nói 
				khác đi, bánh không còn là bánh, nhưng thành thịt Đức Ki-tô. 
				Rượu chẳng còn là rượu, mà là máu Đức Ki-tô. Của lễ như vậy đã 
				biến thành Lời sống động, thành lời của Đức Ki-tô, lời cảm tạ 
				của Thiên Chúa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cuối cùng, qua cảnh 
				phân phối quà chung góp, Justinus nói tới việc rước lễ và đề ra 
				những điều kiện. Ông cho hay, đây là thánh lễ của những người đã 
				tin. Như Chúa Ki-tô xưa trong bữa tiệc li đã chia sẻ với nhóm 
				mười hai như thế nào, thì nay thánh lễ là cuộc tụ họp của những 
				ai đã tin vào Đức Ki-tô, đã qua phép rửa trở thành Giáo Hội. Xem 
				thế thì điều kiện tham dự cũng như cơ cấu cuộc lễ đã được hình 
				thành hoàn chỉnh từ xa xưa rồi, và tới nay nói chung vẫn không 
				thay đổi.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thánh lễ 
				được xem là hành động cực thánh nhất trần gian diễn ra nơi cực 
				thánh nhất trần gian. Trong bí tích đó có thịt, máu, hồn và cả 
				thiên tính của &nbsp;Đức Giê-su. Tôi muốn hỏi thêm một câu thật cụ 
				thể : Phải chăng, với nghi thức trên, mỗi ngày thật sự diễn ra 
				một phép lạ mới ? Việc bánh rượu trở thành mình máu chỉ có thể 
				là một hình ảnh biểu tượng mà thôi.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không. Giáo Hội xác 
				tín rằng &nbsp;Đấng Phục Sinh hiện diện thực sự trong đó. Điểm này 
				hẳn đã là đề tài gây tranh luận trong nhiều giai đoạn lịch sử 
				của Giáo Hội. Cuộc tranh luận lớn đầu tiên xẩy ra trong buổi đầu 
				thời Trung cổ, cuộc thứ hai trong thế kỷ16. Trong lần sau, 
				Luther vẫn công nhận sự biến hình, trong khi Calvin và Zwingli* 
				cho rằng đó chỉ là biểu trưng, nhưng mỗi người diễn giải mỗi 
				cách, vì thế mà có sự phân rẽ lớn trong nội bộ phong trào Cải 
				cách.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng Luther tin Chúa 
				hiện diện chỉ trong chốc lát lúc truyền phép mà thôi, còn Giáo 
				Hội công giáo tin rằng Chúa tiếp tục ở lại trong của lễ. Bởi vì, 
				nếu bánh và rượu đã “biến hình” thật sự, như vậy nếu của lễ của 
				con người đã biến thành của lễ Đức Ki-tô, thì hẳn Chúa cũng đã 
				chiếm hữu hoàn toàn của lễ ấy. Vấn đề này lại được mang ra tranh 
				luận trong thế kỷnày. Nhưng dù có nhiều nhà chú giải Kinh Thánh 
				công giáo không đồng quan điểm với nhau, thì vẫn có những nhà 
				chú giải không công giáo như Käsemann nhất mực bảo vệ sự hiện 
				diện thật sự của Chúa. Ông cho hay, điều đó chính Kinh Thánh đã 
				nói và đã trình bày rõ. Và trên thực tế, Kinh Thánh – và cả lưu 
				truyền của Giáo Hội nữa – đã nói rất rõ : Chúa Ki-tô không những 
				trao cho ta những biểu tượng, mà còn thật sự trao cho ta chính 
				mình Ngài. Điều đó có nghĩa : rước lễ là một cuộc gặp gỡ giữa 
				người với người ; qua đó Chúa Ki-tô đi vào trong tôi và tôi được 
				vào trong Ngài.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhưng ai 
				cũng thấy là rượu vẫn còn nguyên rượu…</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đó không phải là một 
				phát biểu vật lí. Chưa bao giờ Giáo Hội xác quyết rằng, có một 
				cái gọi là biến đổi vật lí sẽ xẩy ra. Biến hình ở đây mang một 
				chiều sâu khác. Truyền tụng bảo rằng đó là một hành vi siêu 
				hình. Bánh và rượu thuần vật lí đã được Chúa Ki-tô chiếm lấy và 
				làm chúng biến đổi trong tận cùng sâu thẳm, và Chúa thực sự đã 
				hiện mình trong đó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Và khi 
				một người rước mình thánh Chúa bằng cách đó, bí tích cực thánh 
				này sẽ tác động thế nào trên người đó ? Hoặc ít ra nó có thể tác 
				động ra sao?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cả ở đây nữa, chúng ta 
				cũng nên bỏ đi lối suy nghĩ xem mọi chuyện đều là phép lạ hoặc 
				ma thuật. Đây là một diễn biến nội tâm cá nhân. &nbsp;Đấng Phục Sinh, 
				mà giờ đây đang hiện diện trong bánh rượu kia, không phải là một 
				sự vật. (Chữ “thịt và máu” luôn nói lên tính cách toàn thể của 
				đấng Nhập thể, đấng vẫn giữ nguyên hình hài con người trong thế 
				giới mới của phục sinh). Tôi không rước lấy một phần Chúa Ki-tô. 
				Hiểu như thế quả là vô lí, nhưng đây là một diễn biến nội tâm. 
				Chính Ngài tỏ lộ cho tôi và muốn đồng hoá tôi làm một với Ngài.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thánh An-tịnh tin rằng 
				ngài đã nghe câu này trong một thị kiến :”Hãy ăn ta, ta là bánh 
				của kẻ mạnh”. Với câu đó, &nbsp;Đức Giê-su muốn nói một điều trái 
				ngược với sự thường. Khi ta ăn gì, của ăn đó bị tiêu tán và trở 
				thành một phần của cơ thể ta. Nhưng với &nbsp;Đức Giê-su thì khác : 
				Ăn Ngài vào thì Ngài sẽ hoà tan ta vào trong Ngài. Ngài là kẻ 
				mạnh hơn, Ngài sẽ đồng hoá ta vào Ngài. Như đã nói, đó là một 
				diễn biến nội tâm. Trong cuộc trao đổi này, ta là người được 
				nhận lãnh. Ta được trở nên ngang bằng với Chúa, được trở nên 
				giống như Ngài. Và đây mới chính là quá trình giao tiếp: Ta để 
				cho Chúa kéo vào Ngài, kéo vào chung làm một với Ngài, và rốt 
				cuộc nhờ đó tâm hồn ta được trở nên giống Ngài.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">PHỤNG VỤ</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thánh lễ 
				có được tính cách lễ hội và tôn kính nhờ qua một cái gì đó rất 
				tuyệt vời và cao cả trong tâm linh công giáo, đó là phụng vụ. 
				Trong phụng vụ, mỗi chữ mỗi cử chỉ đều mang một ý nghĩa cá biệt, 
				có thể nói gần như ẩn chứa một bí mật riêng. Qua phụng vụ trần 
				gian, người tín hữu được tham dự trước – điều này cũng được công 
				đồng Vatican II nói tới – vào “phụng vụ thiên đình”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đây là một điểm rất 
				quan trọng. Phụng vụ không bao giờ chỉ là cuộc lễ hội do một 
				nhóm người tự nghĩ ra và tổ chức. Nhưng ở đây, qua sự thông phần 
				vào việc &nbsp;Đức Giê-su Ki-tô trình diện trước mặt Thiên Chúa Cha, 
				chúng ta luôn cùng đứng trong cộng đoàn hoàn vũ của toàn thể 
				Giáo Hội cũng như trong cộng đoàn các Thánh. Vâng, có thể nói 
				đây là một phụng vụ thiên đình. Cái thực sự cao cả ở đây là 
				thiên đình mở ra, và chúng ta nhập vào ca đoàn thiên quốc. Đó là 
				lí do mà kinh tiền tụng đã kết thúc bằng : Chúng ta cùng hát với 
				ca đoàn các thiên thần Se-ra-fim và Ke-ru-bim. Và ta biết, là ta 
				không đơn độc, nhưng chúng ta đang cùng chung lời ca để thật sự 
				xé tan đi làn ranh ngăn cách trần gian với thiên quốc.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Đại giáo 
				phụ Basilius* nhận định rằng, thánh lễ cũng là nguồn mạc khải 
				lớn như Kinh Thánh. Vì thế ngài cấm nghiêm nhặt không được tuỳ 
				tiện giải thích hay cải đổi phụng vụ. Nếu phụng vụ không do con 
				người làm ra, nhưng là một cái gì qua đó con người được kinh 
				nghiệm với cái tuyệt vời thần linh – thì lẽ ra ta phải coi thánh 
				lễ cũ của đại giáo chủ Grê-gô-ri-ô như là một quà tặng từ trên 
				và không được thay đổi nó ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vấn đề này có một vài 
				phân cách giữa đông và tây. Chẳng hạn Giáo Hội Byzantin thừa 
				nhận hình thái phụng vụ của thế kỷthứ 4 và 5 với Basilius và 
				Gio-an Chrysostomos. Cũng như các Giáo Hội đông phương khác, 
				Giáo Hội Byzantin coi đó là một quà tặng thần linh, không thể 
				sửa đổi : Chúng ta bước vào nó, chứ không tạo ra nó (dĩ nhiên 
				một số chi tiết cũng đã biến chuyển theo thời gian).</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phương tây, trái lại, 
				luôn có một nhạy cảm lịch sử mạnh hơn. Họ cũng nhận ra tính cách 
				quà tặng nơi phụng vụ, nhưng quà đó đã được hội hập vào Giáo Hội 
				sống động, và đã cùng lớn lên với Giáo Hội. Ta cũng có thể so 
				sánh với Kinh Thánh. Đó không phải là Lời rơi thẳng từ trời 
				xuống, nhưng là Lời đã được đưa vào lịch sử, và được cùng lớn 
				lên với lịch sử. Vì vậy, Giáo Hội phương tây vẫn chấp nhận tính 
				cách bất khả xâm phạm cơ bản của phụng vụ trong tổng thể nội 
				dung và hình thức của nó, nhưng đồng thời vẫn thận trọng để cho 
				nó lớn lên với lịch sử.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Lễ quy thánh lễ Rô-ma 
				giống như bên phương đông, cũng hình thành trong thế kỷthứ 4. 
				Sau đó, cả bên tây cũng đã nẩy sinh thêm nhiều kiểu phụng vụ, do 
				ảnh hưởng của Pháp, của Tây-ban-nha, của Đức và tiếp theo từ 
				nhiều nguồn khác. Mỗi quốc gia xuất hiện đều được phép góp vào 
				tiến trình phát triển đó một phần của mình, trong đó Rô-ma luôn 
				góp í một cách thận trọng và đôi khi phải chận cắt bớt những cái 
				thái quá. Trong quá trình lớn lên này, Rô-ma là kẻ đã giữ phụng 
				vụ trong hình thái cổ của nó một cách nghiêm nhặt nhất, tôi có 
				thể nói, còn cổ hơn bên đông nữa, ít nhất là nhìn từ mô thức 
				thần học.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Với cách đó, phụng vụ 
				luôn sống động trong quá trình lịch sử - nhờ đó ta có thể đưa 
				vào được những cái mới, đặc biệt các thánh mới -, nhưng trong 
				bản chất, phụng vụ vẫn luôn không đổi. Cũng vì vậy bên tây mới 
				có thể nghĩ tới chuyện cải tổ phụng vụ. Song cải tổ không được 
				phép cắt đứt với truyền thống, nhưng phải diễn ra trong sự quan 
				tâm tới những phát triển sống động, cũng như phải canh chừng cái 
				phát triển, để làm sao giữ được sự sống động. Chẳng hạn giáo chủ 
				Pi-ô X đã hạn chế bớt lễ kính các thánh. Ngài cũng đã nhấn mạnh 
				trở lại ngày chủ nhật trong bộ luật của ngài và bỏ bớt những cái 
				dư thừa trong đó. Ngay Pi-ô V cũng đã bỏ đi một một số bài ca đã 
				len lỏi vào phụng vụ. Công đồng Vatican II cũng đứng trong quan 
				điểm đó. Việc tiếp tục phát triển để tránh không bị xơ cứng đã 
				thuộc vào truyền thống phụng vụ của Giáo Hội. Nhưng sự khác biệt 
				mà tôi muốn nói ở đây là, tôi đang canh giữ một cái gì đang sinh 
				động phát triển, và biết rằng sự sống của nó không nằm trong tay 
				tôi – nhưng tôi phải phục vụ nó và phải &nbsp;để ý tới quy luật nội 
				tại của cái sống động đó -, hay là tôi xem cái đó như một thứ 
				sản phẩm con người, nó diễn tiến như kiểu theo quy luật của một 
				chiếc máy mà tôi có thể cải biến hoặc làm khác đi.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Công đồng Vatican II 
				hẳn có quan tâm tới những phát triển và đổi mới cơ chế. Nhưng 
				chúng ta phải thấy rằng, ngày nay đang có nhiều khuynh hướng 
				muốn lắp ráp thêm hoặc tháo gỡ bớt - chuyện này không phù hợp 
				với bản chất của phụng vụ. Không phải đơn giản các uỷ ban giáo 
				sư tự nghĩ ra chuyện làm sao để phụng vụ được tốt hơn về mặt mục 
				vụ, để nó được thực tế hơn hay là gì gì đi nữa. Nhưng ta phải 
				coi xem chỗ nào cần và có thể thêm gì, chỗ nào cần và có thể bớt 
				gì, trong sự quan tâm lớn tới khối hành trang đã có từ nhiều thế 
				kỉ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Và đây có thể là lời 
				cảnh cáo quan trọng đối với tất cả những ai có trách nhiệm với 
				phụng vụ : Họ nên thi hành công tác với tinh thần phục vụ những 
				gì đã sinh động lớn lên, những gì đã từ bao thế kỷnay mang lại 
				cho ta đức tin, chứ đừng nghĩ mình là những kẻ toàn năng, có thể 
				sáng tạo hoặc chế biến ra được cái hay hơn.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Chẳng còn 
				ai quan tâm gì tới những phê bình về phụng vụ hiện tại. Nhiều 
				người cho rằng phụng vụ chẳng còn linh thiêng đủ. Phải chăng cần 
				cải tổ tiếp cái đã cải tổ, để tìm lại tính chất linh thiêng ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cái cần tối thiểu bây 
				giờ là làm sao phải tạo lại một ý thứcmới về phụng vụ, để cho 
				tinh thần tự biên tự diễn kia biến đi. Vấn đề đã đi quá xa, có 
				những nhóm tự bày ra luôn hình thức dâng lễ chủ nhật. Đây quả là 
				sản phẩm của một số đầu óc khôn ngoan và mạnh dạn, dám nghĩ ra 
				một cái gì. Nhưng làm vậy thì đâu còn chỗ cho cái thánh thiêng 
				được trao tặng cho ta, mà chỉ còn là cái khéo tay của một vài 
				người. Và rồi ta sẽ nhận ra đó không phải là cái ta tìm, cái đó 
				quá ít, ta chờ đợi một cái gì khác kia.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Điều quan trọng nhất 
				ngày nay, là ta phải tìm lại được lòng kính trọng và tính chất 
				bất khả nguỵ tạo của phụng vụ. Phải học lại cách để nhận biết đó 
				là một tặng phẩm và là một phát triển sống động, qua đó ta tham 
				dự vào phụng vụ thiên quốc. Phải coi đó là một món quà Chúa gởi 
				đến cho ta, chứ không phải là một sản phẩm tự chế của ta.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi nghĩ, việc đầu 
				tiên là phải chấm dứt tinh thần tự biên tự diễn và phải để cho 
				cảm thức về sự thánh thiêng lớn lên. Bước thứ hai, ta có thể rồi 
				sẽ nhận ra được lãnh vực nào đã bị cắt xén quá nhiều, chữa lại 
				để làm sao sự liên hệ với toàn bộ lịch sử có được rõ ràng và 
				linh động trở lại. Trong ý nghĩa đó, tôi chủ trương cải tổ lại 
				những cải tổ. Tuy nhiên, theo tôi, tiến trình này phải bắt đầu 
				bằng sự giáo dục nhằm chống lại việc phá nát phụng vụ bằng những 
				sáng chế cá nhân.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phải chấm dứt thái độ 
				khinh miệt hình thức phụng vụ đã có giá trị cho tới năm 1970, 
				đây cũng là điểm quan trọng trong việc giáo dục một ý thứcphụng 
				vụ đúng đắn. Cho tới nay, những ai tranh đấu hay cổ xuý cho việc 
				tiếp tục cử hành nghi lễ cũ, đều bị đối xử như những người phung 
				hủi ; thật chẳng có chút gì gọi là bao dung cả. Chưa bao giờ xẩy 
				ra chuyện như thế trong lịch sử, làm vậy là người ta khinh cả 
				toàn bộ quá khứ của Giáo Hội. Khinh quá khứ thì làm sao tin vào 
				hiện tại của Giáo Hội được? Nói thật lòng, tôi cũng không hiểu 
				nổi, tại sao có nhiều đồng nghiệp giám mục của tôi lại chấp nhận 
				hành động bất khoan dung rõ ràng đi ngược lại những hoà giải cần 
				thiết trong nội bộ Giáo Hội như thế.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tới bao 
				giờ mới thật sự diễn ra bước thứ hai mà Hồng Y đã nói tới : cải 
				tổ lại những cải tổ ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi nghĩ, nó cũng 
				giống như phong trào phụng vụ trước đây đã đưa tới công đồng 
				Vatican II. Phong trào đó lúc đầu tiến triển khá chậm, về sau đã 
				nhanh chóng trở thành dòng nước mạnh. Quan trọng là phải có một 
				thúc đẩy từ các tín hữu sống động nhiệt thành, phải có những địa 
				điểm thí điểm, nơi đó phụng vụ được cử hành một cách đúng đắn, 
				khiến người ta nhận ra được đâu là ý nghĩa thực sự của thánh lễ. 
				Nếu như từ đó mà một phong trào nổi lên và không bị dập tắt từ 
				trên, thì rồi chuyện sẽ tới. Và tôi tin rằng, đã có một khơi 
				nguồn về hướng đó rồi nơi thế hệ mới hiện nay.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Hồng Y đã 
				hình dung ra được một hình thái phụng vụ đích thực, thánh 
				thiêng, một phụng vụ cho tương lai dân Chúa và Giáo Hội chưa ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chuyện căn bản là làm 
				sao chúng ta đón nhận lại những hình thức quà tặng và để lòng 
				mình thấm nhập vào chúng. Khi nghĩ lại những giai đoạn của phong 
				trào phụng vụ mà tôi may mắn đã trải qua, tôi thấy đó quả là một 
				cái gì tuyệt vời, khi mình lần hồi thấy được các thánh lễ mùa 
				chay đã phát triển thế nào, hiểu được cấu trúc của mùa chay ra 
				sao, hiểu được toàn bộ cấu trúc thánh lễ và nhiều thứ nữa. Vấn 
				đề là làm sao thấm nhập được vào kho tàng của cái đã hình thành 
				và lớn lên đó, và qua đó gặp được nỗi huy hoàng của Thiên Chúa 
				đang trao tặng cho ta. Quan trọng nhất, theo tôi, là học lại 
				được tinh thần lắng nghe – “hỡi con, hãy lắng nghe”, thánh 
				Biển-đức đã nói thế, và hiểu được rằng mình là kẻ đón nhận hơn 
				là người sáng chế.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thánh lễ 
				nên cử hành lại bằng tiếng La-tinh ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chuyện đó, xét chung, 
				không còn thực hiện được nữa đâu, và có lẽ cũng không phải là 
				điều mong muốn. Thánh lễ có lẽ tốt hơn nên cử hành bằng tiếng mẹ 
				đẻ. Nhưng tôi chủ trương nên có một cởi mở mới cho tiếng 
				La-tinh.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tiếng La-tinh trong 
				thánh lễ lúc này xem ra mắc phải tội tổ tông. Tuy nhiên, thiếu 
				nó, là ta mất đi những trao đổi giao tiếp rất cần thiết trong 
				những vùng nhiều sắc dân. Chẳng hạn, một chánh sở nhà thờ chính 
				toà ở Avignon kể cho tôi hay, ngày chủ nhật nọ xuất hiện một lúc 
				ba nhóm ngôn ngữ. Ông đề nghị làm lễ chung bằng La-tinh, để tất 
				cả có thể cùng thông công, nhưng cả ba phản đối thẳng thừng : 
				Không, mỗi nhóm phải có gì riêng cho họ. Hay ta hãy nghĩ tới 
				những địa điểm du lịch, thật tuyệt khi nơi đây nhờ có một điểm 
				chung mà người ta nhận ra nhau. Vì thế, cần suy nghĩ về điểm 
				này. Nếu như ở Rô-ma ngay trong những dịp lễ lớn không còn ai 
				hát được Kyrie hay Sanctus nữa, không còn ai hiểu được Gloria 
				nghĩa là gì, thì đó là một mất mát văn hoá và là một mất mát 
				những cái chung. Như vậy tôi có thể nói, thánh lễ nhất định nên 
				bằng tiếng địa phương, tuy nhiên cũng cần giữ lại La-tinh như 
				một cái nền chung liên kết chúng ta lại với nhau.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">- <b><i>
				Nhà văn Martin Mosebach có lần kể câu chuyện ngắn về một thánh 
				lễ, đã diễn ra nhiều năm trước đây trên đảo Capri. Ngày nọ trên 
				đảo xuất hiện một linh mục người Anh, linh mục này thời đó còn 
				bận áo chùng, một sự kiện đã hiếm thấy ở miền nam nước Í. Khi 
				nghe ông có í muốn dâng lễ mỗi ngày, sau những đắn đo ban đầu, 
				người dân trên đảo cuối cùng đã dành cho ông một nhà nguyện 
				chênh vênh trên một đống đá trên biển, nơi gọi là Monte Tiberio, 
				chỗ xưa kia có dinh Jovis, một trong những dinh phụ của hoàng đế 
				Tiberius. Nhà nguyện này mỗi năm chỉ mở cửa một lần, vào ngày 8 
				tháng 9, ngày lễ sinh nhật đức Bà. Thời gian còn lại trong năm 
				được dành cho lũ chuột, chúng gặm nhấm đến cả các ngăn tủ nhà 
				mặc áo.</i></b></span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">- <b><i>
				Ông linh mục người Anh là người thực tế, không phải là nhà thần 
				học lớn, bắt tay vào việc. Ông leo lên núi, phóng cái nhìn xuống 
				toàn vịnh biển chung quanh. Trước hết, phải chật vật lắm mới mở 
				được ổ khoá cửa vào nhà nguyện đã rỉ sét. Rồi ông bước vào, theo 
				ông là một làn tia sáng mặt trời, rọi chiếu vào căn phòng ẩm 
				mốc. Cánh cửa thiếc nhà tạm mở toang, nến cháy cạn đáy, ghế vứt 
				ngổn ngang, và nhà mặc áo bừa bãi như người ta đã bỏ trốn vội 
				vàng. Bình hoa bẩn, khăn bàn thờ mốc meo, một chén thánh hoa văn 
				loè loẹt, các khăn bàn ẩm dính lại với nhau trong tủ, cuốn sách 
				lễ rách bươm, ngay cả thánh giá cũng đã cong queo.</i></b></span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">- <b><i>
				Vị linh mục nhìn qua mọi thứ, suy nghĩ. Ông mở toang cửa sở, cầm 
				lấy cây chổi rơm ở góc nhà và bắt đầu quét. Rồi ông cầm cây 
				thánh giá, đưa lên hôn và bỏ vào tủ phòng mặc áo. Chùi sạch chén 
				thánh, bật sáng các ngọn đèn. Nhìn thấy đoạn dây chuông, ông lấy 
				thang leo lên tháp và buộc dây vào chuông. Giờ thì mọi chuyện kể 
				như đã ổn.</i></b></span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">- <b><i>
				Vị linh mục đeo vào người tấm dây Stola màu tím, đổ ít nước từ 
				một bình nhựa nhỏ mang theo vào cái nồi nhỏ, đọc lời nguyện, bỏ 
				thêm vào ít muối, rồi dơ tay làm phép, đoạn đổ nước phép đó vào 
				chậu con sò bằng đá dựng bên cánh cửa ra vào, tiếng nước đổ lao 
				xao nghe như thể chậu đá thức dậy, thở phào. Ông kéo chuông. Xa 
				xa vài ba tín hữu, đàn bà và trẻ con, xuất hiện kéo tới, chẳng 
				mấy lúc đầy nhà nguyện.</i></b></span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">- <b><i>
				Giờ thì có thể bắt đầu thánh lễ. Linh mục cúi mình trước bàn thờ 
				và cất giọng đọc : Introibo ad altare dei (Con bước tới trước 
				bàn thờ Chúa).</i></b></span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">- <b><i>
				Ai để tâm quan sát thì có thể nhận ra hình như có một chuyện gì 
				đặc biệt đã xẩy ra, khi vị linh mục mặc áo chùng thâm kia lau 
				sạch bàn thờ, đốt nến, làm phép nước, lau bụi bám, vứt bẩy chuột 
				vào một góc nhà. Vì cũng giống như Abel hay Noê xưa, thoạt tiên 
				dựng bàn thờ rồi sau đó mới dâng của lễ. Và cũng như Mai-sen, vị 
				linh mục cắm cọc xác định chỗ dựng lều làm bàn thờ. Đó là một sự 
				chuẩn bị và cắm cọc xác định chỗ thánh.</i></b></span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Mosebach mô tả thật 
				thi vị, nhưng tình hình chung ở Capri không đến nỗi thê thảm như 
				người ta nghĩ đâu. Nhưng hãy bàn tiếp việc chuẩn bị bề ngoài và 
				bề trong, hai chuyện đó đương nhiên liên quan với nhau. Sứ mạng 
				thừa sai của thánh Phan-sinh cũng bắt đầu như thế. Ngài đọc ra ý 
				nghĩa của những chữ nổi tiếng trên thánh giá là – “con hãy xây 
				lại nhà nguyện cho Ta” - và đã nghĩ ngay tới nhà thờ đổ nát ở 
				Portiuncula. Ngài đã xây nó lại thành một nguyện đường đẹp đẽ, 
				và rồi nhận ra rằng mình phải làm hơn thế nữa, đó là phải xây 
				lại nhà thờ Giáo Hội sinh động.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng công việc tay 
				chân bước đầu đó cũng là một công đoạn không thể thiếu. Phải lo 
				làm sao phòng ốc, nhà nguyện luôn được sửa soạn mới mẻ, làm sao 
				để người ta có thể nhận ra và cảm được sự thánh thiêng cả bề 
				ngoài lẫn bề trong, đó là điều rất quan trọng. Cám ơn Chúa, 
				chúng ta có rất nhiều nguyện đường tuyệt diệu trên khắp thế 
				giới, giờ ta cũng nên học lại cách yêu mến sự thánh thiêng nơi 
				chúng. Ngọn lửa trước nhà tạm giúp ta cảm được sự hiện hiện âm 
				thầm đêm ngày của Chúa. Ngày nay, nhiều nhà thờ thường được dùng 
				làm nơi hoà nhạc, làm nơi gần như để khoa trương cái đẹp của quá 
				khứ mình, như vậy có nghĩa là trên thực tế ta đã mất đi cảm quan 
				về sự thánh. Phải có lại được cảm quan đó, phải có lại được sự 
				chuẩn bị căn phòng bên ngoài lẫn bên trong, đó là điều kiện để 
				ta nhập tâm vào thánh lễ, hầu thực sự gặp được sự thánh thiêng 
				trong đó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Phải 
				chuẩn bị rước Mình thánh như thế nào ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cách chuẩn bị đúng 
				nhất là khi ta thật sự lãnh hội được ý nghĩa của hành động đó, 
				khi ta để cho lời Chúa đánh động, khi ta hướng lòng tới Đức 
				Ki-tô trong những lời nguyện đã được Giáo Hội lưu truyền lại từ 
				rất xa xưa. Cùng cầu nguyện và dâng lễ một cách đúng đắn trong 
				thánh lễ có nghĩa là ta phải để tâm lắng nghe và sẵn sàng đón 
				nhận, qua đó cửa lòng mình hé mở ra để Chúa có thể đi vào. Và 
				ngược lại, cái tôi của tôi lúc đó cũng thật thanh thản và rộng 
				mở, đến nỗi tôi có thể bắt đầu bước được vào trong Ngài.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Khi rước 
				lễ phải có thái độ nào ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phải cư xử như đang 
				đối diện thật sự với Chúa. Những dấu chỉ của lòng kính sợ đã 
				thay đổi theo thời gian. Nhưng căn bản là thái độ của ta phải 
				biểu lộ được những cảm nhận trong lòng, và sự kính trọng cũng 
				phải được tỏ ra qua phong cách của cơ thể. Trước kia, rước lễ 
				quỳ gối, động tác này rất có ý nghĩa. Nay rước lễ đứng. Nhưng 
				cái đứng này cũng phải là một cái đứng đầy kính trọng trước mặt 
				Chúa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong Giáo Hội, không 
				bao giờ được để mất hành vi quỳ gối. Đây là phong cách thâm sâu 
				nhất nói lên lòng đạo nơi ki-tô hữu. Phong cách này cho thấy 
				thái độ thẳng thắn của ta nhìn hướng lên Chúa, đồng thời nói lên 
				vị trí thấp bé khiêm tốn của ta. Giáo chủ Gio-an XXIII nói : 
				“Con người không bao giờ lớn khi họ quỳ gối”. Vì thế tôi tin 
				rằng đây là cung cách không thể thiếu được nơi tín hữu ki-tô, 
				cung cách cầu nguyện đó đã có từ thời Cựu Ước rồi.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">NỢ VÀ TỘI</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Bí tích 
				hoà giải : Người thì bảo, nó đẩy con người vào một hoàn cảnh 
				không thể giải quyết và thật ra chỉ làm cho con người sợ hãi và 
				mặc cảm tội lỗi. Kẻ lại quả quyết rằng, nếu không có nó, thì lúc 
				này phải tạo ra nó.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Xưng tội, trong quá 
				trình lịch sử của nó, hẳn đã trải qua nhiều biến đổi hình thức 
				bên ngoài hơn tất cả mọi bí tích khác. Chính bởi vì mang tính 
				cách quá cá nhân, nên nó phải mang hình thái biểu hiện tùy vào 
				cá tính thay đổi của mỗi người và vào truyền thống cởi mở hay 
				khép kín của mỗi nền văn hoá. Sau công đồng Vatican II, người ta 
				đã thử tạo ra nhiều cách để có thể giúp cho việc xưng tội cá 
				nhân, trong số đó có lối xét mình tập thể, mà theo tôi quả rất 
				hay.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cách thứ hai là xưng 
				tội bằng đối thoại, chứ không phải ngồi toà như xưa nay. Lối này 
				cũng giúp cho người ta thắng vượt được ngại ngùng trong việc thú 
				tội. Nhưng lối này có thể khiến việc xưng tội thành ra những 
				cuộc chuyện trò không đâu, hoặc thành ra chơi trò tâm lí, vì thế 
				mất đi chiều sâu của nó. Người ta cũng rất thích lối xưng tội 
				tập thể. Nhưng đây không thể là cách đúng đắn được, vì bản chất 
				của xưng tội là một hành vi cá nhân ; lối này chỉ phù hợp và có 
				thể làm trong hoàn cảnh thật đặc biệt mà thôi.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Một câu 
				của Hồng Y Ratzinger : “Không có khả năng nhận lỗi là hình thức 
				nguy hiểm nhất của sự thui chột tận cùng của tinh thần, bởi vì 
				chính nó làm mất khả năng tự cải tiến nơi con người “.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Người ta vẫn nói điều 
				này: Ki-tô giáo đẩy con người vào mặc cảm tội lỗi để chèn ép họ. 
				Dĩ nhiên cũng có thể có những lạm dụng kiểu đó. Nhưng xoá đi khả 
				năng nhìn nhận tội lỗi nơi con người lại càng nguy hơn, bởi vì 
				như thế tâm họ sẽ trở nên chai đá và bệnh hoạn. Ta hãy nghĩ thêm 
				một bước nữa về hệ quả cao hơn của việc mất khả năng xét mình. 
				Đó là điều Quốc-xã Đức trước đây đã làm. Người&nbsp;đã phát*ta đã tin 
				rằng vừa cùng một lúc giết người mà vẫn đạo đức, như Himmler 
				biểu, như thế là lương tâm con người đã bị dày nát và con người 
				đã bị biến thể. Khả năng xét mình sẽ trở nên dễ chấp nhận và 
				triển nở, nếu như tội được tha. Mà tha tội lại nhất thiết đòi 
				hỏi phải có lời xá giải. Khoa tâm lí chữa trị có thể giúp nhiều 
				cho việc nhận ra những trục trặc trong cấu trúc tâm trí và chữa 
				lành chúng, nhưng nó không thể thắng vượt được tội lỗi. Khoa tâm 
				trị bị giới hạn ở chỗ đó, vì thế nó cũng rất thường thất bại. 
				Chỉ có bí tích, sự uỷ quyền của Chúa, mới có thể thật sự vượt 
				thắng được tội lỗi.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tuy nhiên ta phải thú 
				nhận rằng, trong thời buổi cá nhân chủ nghĩa này, con người vô 
				cùng khó mà vượt qua được những cản trở tâm lí trong việc xét 
				mình. Nhưng ở đâu có tinh thần đức tin hướng dẫn ta, ở đó có thể 
				tập lại được khả năng đó. Có thể tập được, nhất là vì ta xét 
				mình nhận lỗi trước mặt Chúa, chứ đâu có phải trước con người, 
				lại nữa việc xét mình này sẽ được kết thúc bằng lời xá giải tha 
				thứ - và biết đâu trong toà giải ta cũng nhận được những lời 
				khuyên giúp mình vượt thắng cả trong những hậu quả của tội.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Trước 
				đây, trẻ con chúng tôi từng lớp bước vào toà cáo giải. “ Trong 
				khiêm tốn và ăn năn con xưng những tội con “ rồi là kể đủ thứ 
				tội. Chẳng phải bao giờ cũng là chuyện dễ dàng, nhưng việc xưng 
				tội quả thật có tác dụng như một thứ máy giặt, người ta cảm thấy 
				sau đó như đã được giặt sạch tội lỗi. Trong sách “ Phụng-ca “ 
				tôi thấy Giáo Hội Đức có ghi phần chuẩn bị xét mình xưng tội, 
				với một chuỗi câu hỏi như kiểu “ bảng kiểm tra “. Sau đây là vài 
				câu đọc được trong đó : “ Tôi có cố gắng gần Chúa không ? – Tôi 
				có tỏ ra yêu thương và biết ơn cha mẹ không ? – Tôi có hay nói 
				xấu và chửi người khác không ? “ Hoặc : “ Tôi có tìm cách đẩy 
				việc cho người khác không ? – Tôi có tôn trọng cá tính của người 
				khác không ? – Tôi có nỗ lực giáo dục con cái về đường ngay 
				không ? – Tôi lười biếng ? Hay ích kỉ ? Hay hoang phí ? Ham mê 
				ăn uống ? – Tôi thích khoe khoang sống không thật với mình? “ 
				Xem thế thì Giáo Hội đâu là cái gì xa lạ với con người đâu.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi tin rằng, điều hết 
				sức quan trọng là làm sao giúp cho lương tâm nói ra được. Trên 
				phương diện này, tội tổ tông đã khiến lương tâm ta chai đá, và 
				ta muốn dấu nó dưới miếng vải quên, bằng cách đối xử với người 
				khác như những kẻ hoàn toàn xa lạ. Ta muốn, chẳng hạn, nuốt nhẹ 
				đi những lời dối trá, và nhiều thứ khác nữa. Lương tâm chai đá 
				là mối nguy lớn của chúng ta. Nó đè bẹp con người. Vì thế, dạy 
				cho người ta nghe được tiếng lương tâm là chuyện cơ bản. Cho nên 
				nhiệm vụ của Giáo Hội là biết nhìn ra tội lỗi cá biệt của mình 
				trong từng thời đại, và nhờ đó giúp cho xã hội khỏi bị chai đá 
				và đổ vỡ trong những lãnh vực đời sống quan trọng này.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Câu hỏi 
				thêm: Có được phép nói dối khi cần không, chẳng hạn giả làm như 
				không ở nhà lúc người ta gọi điện thoại?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đó là những chuyện rất 
				thực tế, mà các nhà đạo đức cũng không đồng í với nhau. Có một 
				trường phái lớn, trong đó có cả Kant, cho rằng chân lí tự nó đã 
				có phẩm giá, nên mọi xúc phạm tới nó đều không được chấp nhận. 
				Giả vắng qua điện thoại, là chuyện dễ hiểu. Nhưng phải coi chừng 
				chính mình, vì một khi cánh cửa đã mở hé, thì nó có thể lại tiếp 
				tục mở lớn ra. Lúc này tôi không muốn kết tội cái cách tự bảo vệ 
				mình đó - vì tôi cũng sử dụng nó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">“Ân xá” 
				là một hình thức rốt ráo của bí tích hoà giải. Những ân xá đầu 
				tiên được các giáo chủ ban cho những ai tham dự vào các cuộc 
				thánh chiến. Và việc lạm dụng nó rốt cuộc đã là nguyên cớ bề 
				ngoài cho Luther nổi giận và dẫn tới phong trào cải cách và phân 
				rẽ. Tôi nghĩ, ngày nay chẳng còn mấy ai hiểu gì về chuyện ân xá.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đó là một chương khó 
				khăn trong lịch sử Giáo Hội. Trong huấn dụ năm thánh 2000 Giáo 
				chủ đã cố gắng tạo cho ân xá một ý nghĩa mới. Trước đây người ta 
				phân biệt tội và hình phạt của tội. Phép giải chỉ tha tội, chứ 
				hình phạt của tội vẫn còn nguyên. Điều đó ta hiểu một cách đương 
				nhiên. Nay Giáo chủ có một giải thích mới. Ngài bảo, dù ta đã 
				hết nợ, nhưng cái vết thương ta gây ra nơi kẻ khác vẫn còn đó, 
				đó là một thiệt hại, là những hậu quả do lời nói hay việc làm 
				của ta gây ra. Và trong chính con người tôi vẫn còn một lực giật 
				lùi, một bẻ cong của hữu thể mình.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Như vậy, vấn đề là làm 
				sao giải quyết những hậu quả tồn tại của tội. Việc giải quyết 
				này chỉ có thể diễn ra một cách tập thể, bởi vì tội luôn vượt ra 
				ngoài cái tôi của mình. Vì thế, ân xá có nghĩa là ta đi vào sự 
				trợ giúp của cộng đoàn các thánh, trong đó là nơi diễn ra sự 
				trao đổi các sản vật thiêng liêng, nơi ta tặng cái của ta và 
				nhận nơi kẻ khác cái của họ. Trong ý nghĩa này, ân xá có thể nên 
				hiểu như là việc tẩy xoá những gì thặng dư còn tồn lại, như là 
				việc cùng nhau gánh vác hay gánh vác cho nhau.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">HÔN NHÂN</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Hàng loạt 
				người trẻ hôm nay đứng trước đắn đo, có nên bước vào một hôn 
				nhân thật sự hay nên sống với nhau một cách lỏng lẻo. Về phía 
				nhà nước, họ muốn coi việc chung sống không cưới hoặc đồng phái 
				ngang như những cặp hôn nhân khác phái. Câu hỏi đặt ra : Tại sao 
				hôn nhân là hình thức duy nhất có thể chấp nhận được trong việc 
				sống chung ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thứ nhất, là vì chỉ có 
				sự chung thuỷ là chỗ đích thực vững chắc hợp với phẩm giá của 
				cuộc chung sống giữa hai con người. Và hôn nhân không phải là 
				cái gì chỉ liên hệ tới trách nhiệm giữa hai người mà thôi, mà nó 
				còn liên hệ tới cả tương lai con cái sẽ sinh ra nữa. Như vậy, 
				hôn nhân không bao giờ đơn thuần là một chuyện riêng tư, nhưng 
				nó mang tính chất công cộng và xã hội. Hôn nhân quyết định dạng 
				thái tổ chức nền tảng của xã hội.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Rốt cuộc ta cũng thấy 
				được điều đó, nếu như giờ đây các cặp không cưới cũng có được 
				những khung pháp lí nào đó. Dù đây chỉ được coi là những hình 
				thức kết hợp thấp hơn hôn nhân thường, chúng cũng không thể 
				thoát ra khỏi trách nhiệm công, không thể thoát ra khỏi liên hệ 
				chung của xã hội. Và chỉ mỗi điều đó thôi cũng buộc phải có cho 
				chúng một quy chế pháp lí kéo theo quy chế xã hội và công cộng, 
				ngay cả khi người ta giờ đây tin rằng mình phải chấp nhận những 
				bậc sống thấp hơn đó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thứ hai : Ta thấy ở 
				đâu hai người sống cho nhau và sinh con đẻ cái, ở đó cũng có 
				giao tiếp với sự thánh và với mầu nhiệm làm người, là những thứ 
				vượt lên những gì ta tự có. Tôi không đơn giản chỉ là tôi mà 
				thôi. Trong mỗi con người có một bí ẩn thần thánh. Vì thế, việc 
				sống chung giữa người nam và người nữ cũng được đưa vào vòng tôn 
				giáo, vào vòng thánh thiêng, vào trách nhiệm trước Thiên Chúa. 
				Việc sống chung đó cần có trách nhiệm với Chúa – và chính vì thế 
				mà, qua bí tích hôn nhân, nó nhận được cội nguồn sâu xa và đích 
				thực cũng như lí do hiện hữu của nó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tất cả những lối sống 
				chung khác, vì thế, chỉ là hình thức tạm, mà mục tiêu cuối cùng 
				của chúng chỉ là tìm cách trốn trách nhiệm đối với nhau và để 
				thoát ra khỏi vòng bí ẩn của kiếp người – và như thế chúng mang 
				vào xã hội một sự bất ổn với những hậu quả khó lường.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vấn đề sống chung giữa 
				những người đồng phái lại hoàn toàn khác. Tôi nghĩ, nếu người ta 
				quan niệm hôn nhân và gia đình không nhất thiết gồm một nam một 
				nữ nữa, mà cũng là của hai người đồng phái, thì cấu trúc xây 
				dựng nền tảng cuộc sống con người như thế đã bị tổn thương. Như 
				vậy, về lâu về dài, xã hội sẽ rơi vào những vấn đề lớn. Nếu ta 
				lắng nghe lời Chúa, ta sẽ thấy ra rằng việc sống chung vợ chồng 
				và con cái là một cái gì thánh thiêng. Và xã hội sẽ đạt tới một 
				hình thức đúng đắn, khi nó coi gia đình – hình thái sống chung 
				được Chúa chúc phúc – là hình thái đúng đắn của trật tự phái 
				tính.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Đây là 
				công thức của hôn nhân : “Anh /em nhận em/anh làm vợ /chồng và 
				hứa chung thuỷ khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh 
				cũng như lúc mạnh khoẻ. Anh /em muốn yêu em /anh và tôn trọng em 
				/anh mọi ngày suốt đời “. Nghe thật hay, nhưng tại sao hôn nhân 
				lại phải kéo dài suốt đời “ cho đến khi sự chết chia lìa “ ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vì nó nằm nơi sự dứt 
				khoát của tình yêu con người và sự rốt ráo của trách nhiệm mà ta 
				bước vào. Chúng ta không nên tìm cách chi li lí luận chứng minh 
				điều đó. Khôn ngoan con người đã chứng thực cho ta điều đó và 
				chính lời Chúa cũng đã nói như vậy. Điều đó chỉ phù hợp hoàn 
				toàn với phẩm giá con người, khi tôi hoàn toàn cho mình đi, mà 
				không giữ lại một phần nào cho mình và có thể nói không hề xét 
				lại hay đòi bỏ hợp đồng. Cuộc sống con người không phải là cuộc 
				thí nghiệm. Đó không phải là hợp đồng thuê nhà. Nhưng là sự trao 
				tặng cái tôi cho em /anh. Và sự trao tặng giữa người với người 
				chỉ có thể phù hợp với bản chất người qua hình thức một tình yêu 
				toàn vẹn và cho nhau tất cả.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ta đã nói 
				nhiều về tính dục, rõ ràng Giáo Hội đoán có một cái gì rất bí ẩn 
				trong tính dục. Nhưng không hiểu tại sao Giáo Hội lại có những 
				quan điểm khắt khe về nó, ngay cả trong hôn nhân. Có phải vì có 
				một quan niệm khác về cuộc sống và về con người, nên Giáo Hội 
				mới cấm ngừa thai ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thật ra, Giáo Hội xem 
				tính dục là một thực tế trung tâm của tạo vật. Tính dục đưa con 
				người tới thật gần đấng tạo hoá và đặt nó trước một trách nhiệm 
				cao nhất. Qua tính dục, con người dự phần vào chính nguồn sự 
				sống một cách có trách nhiệm. Mỗi một con người là một tạo vật 
				của Chúa – và đồng thời cũng là một đứa con của cha mẹ nó. Do đó 
				mà giữa sự sáng tạo của Chúa và sự sinh sôi của con người như có 
				một hoà quyện vào nhau. Tính dục là một cái gì dữ dội ; ta cũng 
				nhận ra điểm này qua mối liên quan tới trách nhiệm đối với một 
				sự sống mới, sự sống này thuộc về ta mà cũng không thuộc ta, nó 
				do ta làm nên mà cũng chẳng phải do ta mà có. Từ đó, mà tôi nghĩ 
				rằng, tính dục đồng thời cũng là một cái gì linh thiêng, ở chỗ 
				nó được phép tạo ra một sự sống và mang trách nhiệm cả đối với 
				những gì vượt trên cội nguồn sinh vật của sự sống đó. Từ những 
				lí do muôn mặt đó, Giáo Hội cũng phải triển khai những gì nói 
				trên và đã được đề cập một cách nền tảng trong mười giới răn. 
				Giáo Hội phải luôn đưa nó vào cuộc sống con người như là trách 
				nhiệm.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có thể 
				vừa sống trái với giáo huấn tính dục của Giáo Hội mà cũng vừa là 
				một tín hữu tốt ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chuyện sống không theo 
				kịp nội dung lời Chúa đã được Giáo Hội diễn giải, lại là một vấn 
				đề khác. Tuy nhiên, nếu người ta vẫn tiếp tục ở lại trên đường, 
				nếu người ta chấp nhận sự linh thiêng của việc đồng tạo dựng với 
				Đức Ki-tô, thì họ vẫn không mất tính cách công giáo, dù có gặp 
				thất bại. Khi đang trên đường đi tìm thì người ta, nếu muốn nói 
				như thế, vẫn là một “ tín hữu tốt “.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Các giám 
				mục ở Í kêu gọi tín hữu can đảm hơn trong việc sinh con. Các 
				ngài viết trong thư luân lưu : Một xã hội khiếp sợ sinh con sẽ “ 
				giảm đi tính chất nhân bản”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ở đâu không còn tình 
				yêu đối với trẻ con, ở đó quả thật mất mát nhiều lắm. Trước đây, 
				người Í nổi tiếng yêu gia đình và con cái. Ngày nay, có những 
				vùng trong nước Í lại có số sinh thấp nhất trên thế giới. Biến 
				chuyển to lớn đó xảy ra do sự xuất hiện cuộc sống phồn vinh mới. 
				Quả thật, có một cám dỗ lớn trong các xã hội phương tây coi trẻ 
				con là đối thủ, chúng lấy mất tương lai và phần nào không gian 
				sống của mình. Cùng lắm người ta coi đó là vật sở hữu và dùng 
				chúng để khoe mình. Rốt cuộc chẳng ai sẵn sàng công nhận con trẻ 
				với những quyền lợi riêng của chúng, để phải hi sinh thời giờ và 
				cả đời mình cho chúng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có lần một giám mục Í 
				nói với tôi, người nghèo đầu tư vào sự sống, kẻ giàu vào sự vật. 
				Tôi không muốn phóng đại ý nghĩa câu nói đó, nhưng rõ ràng trên 
				đất nước ta khuynh hướng lo đầu tư vào sự vật, lo bảo hiểm cho 
				mình bằng giá trị sự vật, có nghĩa là muốn nhân bội cái tôi của 
				mình lên, mạnh hơn việc sẵn sàng phục vụ cho sự sống khác. Sự 
				gia tăng dân số có vấn nạn của nó, nhưng mặt khác, ta cũng phải 
				công nhận rằng, xã hội chúng ta đang đánh mất chính tương lai 
				mình với đà lão hoá.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Vấn đề 
				gia tăng dân số. Người ta tố cáo Giáo Hội vì chủ trương cấm ngừa 
				thai nên đã tạo ra tại một số nơi trong thế giới thứ ba những 
				vấn đề trầm trọng, kể cả việc tạo ra bần cùng nghèo đói.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Quả là chuyện hoàn 
				toàn vô lí. Bần cùng là sản phẩm của việc sụp đổ luân lí. Trước 
				đây, luân lí trong các xã hội bộ lạc và trong các cộng đồng 
				Ki-tô giáo đã giữ cho cuộc sống có trật tự nên đã loại trừ được 
				bất hạnh nghèo đói. Nay trật tự đó mất, và ta đã thấy hậu quả. 
				Đổ lỗi cho Giáo Hội qua việc cấm ngừa thai, là chuyện ngớ ngẩn, 
				chứng tỏ những người đó có cái nhìn hoàn toàn ngược ngạo về thế 
				giới. Tôi sẽ giải thích.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Giáo Hội dạy về sự 
				thánh thiêng và chung thuỷ trong hôn nhân. Đó là tiếng nói đích 
				thực của Giáo Hội. Nơi đâu nghe theo tiếng nói đó, ở đó trẻ con 
				được sống trong môi trường làm quen với yêu thương, tự chế, kỉ 
				luật đời sống, dù chúng phải ở trong tình trạng túng thiếu vật 
				chất. Ở đâu chung thuỷ gia đình còn, ở đó còn kiên nhẫn và quan 
				tâm cho nhau, đó cũng là điều kiện cho việc kế hoạch hoá gia 
				đình một cách tự nhiên và hữu hiệu. Bần cùng không xuất phát từ 
				các đại gia đình, nhưng từ việc sinh con bừa bãi thiếu trách 
				nhiệm, chúng chẳng biết ai là cha hoặc cả ai là mẹ, phải lang 
				thang trên đường phố trong một thế giới bị phá nát tinh thần. 
				Ngoài ra, ai trong chúng ta cũng biết, Phi châu ngày nay với đà 
				gia tăng ghê gớm bệnh liệt kháng từ lâu đã cho thấy một mối nguy 
				ngược lại : Không phải bùng nổ dân số, nhưng là cảnh xoá sạch 
				hàng loạt bộ lạc, và đất đai trở thành hoang địa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngoài ra, khi tôi nghĩ 
				tới cảnh tiền thưởng ở Âu châu cho những nông dân giết bớt súc 
				vật, hủy bớt lúa, nho, trái cây đủ loại vì lí do thặng dư sản 
				xuất, thì tôi tự nhủ, tại sao các ngài chuyên viên quản trị 
				không tìm cách chuyển những thứ đó cho mọi người cùng hưởng, 
				thay vì huỷ của của Trời ban đi như vậy.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Bần cùng không tạo ra 
				bởi những ai dạy cho con người chung thuỷ, yêu thương, kính 
				trọng sự sống và từ bỏ, nhưng nó là sản phẩm của những kẻ miệng 
				bô bô đạo đức và nhìn con người một cách máy móc : Túi cao su 
				ngừa thai xem ra hữu hiệu hơn luân lí đạo đức! Nhưng, nếu ta tin 
				rằng phẩm giá đạo đức con người có thể thay thế bằng túi cao su, 
				để tránh nguy hiểm cho tự do của họ, thì như thế là ta đã lột 
				hết phẩm giá con người từ nền tảng, và ta đã tạo cái mà mình 
				muốn ngăn ngừa: một xã hội ích kỉ, trong đó mỗi người đều có 
				quyền hưởng mọi thứ theo í mình và chẳng còn ai mang trách 
				nhiệm. Bần cùng đến từ tuột dốc đạo đức xã hội, chứ không phải 
				ngược lại – và việc quảng cáo túi cao su là một phần quan trọng 
				của việc tuột dốc đó, nó nói lên chiều hướng khinh miệt con 
				người, chẳng còn tin vào cái thiện mĩ nơi con người.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">LINH MỤC</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Mọi tôn 
				giáo đều có những người đặc biệt, lo việc phụng tự và giáo luật 
				đức tin. Đâu là điểm khác của một linh mục công giáo so với các 
				đồng nghiệp trong các tôn giáo khác ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước hết, linh mục 
				công giáo là người mang một sứ vụ đặc biệt của &nbsp;Đức Giê-su Ki-tô 
				và được hình thành theo khuôn mẫu các tông đồ. Vì vậy họ không 
				giống như các đồng nghiệp trong hàng tư tế nơi các tôn giáo 
				khác. Thước đo đặc biệt của giai tầng này, nếu ta nói được như 
				vậy, là hình ảnh các tông đồ, những người đã được Đức Ki-tô đào 
				tạo nên. Linh mục được Đức Ki-tô trao cho trách nhiệm rao giảng 
				lời Ngài, rao giảng chính Ngài, rao giảng lời hứa mà Ngài đã cho 
				chúng ta. Và trong khuôn khổ việc rao giảng đó – luôn cũng là 
				một nhiệm vụ tình yêu, xây dựng thân thể Đức Ki-tô, phục vụ kẻ 
				nghèo – nhiệm vụ trung tâm là loan báo cái chết của Ngài, mà 
				chúng ta gọi là Thánh thể, và là bí tích.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nếu chính 
				Chúa Ki-tô đã gọi họ, thì tại sao có những linh mục xấu ? Tại 
				sao có ngay cả những giám mục tồi ? Có lẽ Ngài đã lầm khi chọn 
				những vị đó ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hẳn có thể có những 
				người không có ơn gọi thật sự, nhưng đã len lỏi vào. Nhưng cũng 
				có những “ ơn gọi bị phản bội “, nghĩa là người ta đã không sống 
				đúng ơn gọi. Mà quả lạ, không hiểu tại sao Chúa vẫn hay tín thác 
				vào những chiếc bình mỏng dòn, điều này ta đã nói ở trên rồi, 
				không hiểu tại sao Ngài lại cùng Giáo Hội bước vào một cơ nguy 
				khủng khiếp như thế. Ngài trao thân cho những bàn tay luôn sẵn 
				sàng phản mình. Và Ngài để mặc ta vấp té và sa ngã, để cho những 
				dụng cụ thiếu khả năng hành động, để rồi lại phải chính mình 
				đứng ra nâng đỡ Giáo Hội. Một mặt, ta có được an ủi, là vì Chúa 
				mạnh hơn tội lỗi con người. Nhưng mặt khác, đây lại là một thách 
				đố lớn cho tất cả những ai nghĩ rằng mình đã nghe được tiếng gọi 
				của Chúa, đi theo nó, và đã thật sự để nó chín muồi cùng với Đức 
				Ki-tô.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">&nbsp;Đức 
				Giê-su Ki-tô đã lệnh cho các môn đồ: “ Hãy đi khắp thế giới và 
				giảng Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo “. Cũng như trước đây các 
				tông đồ coi việc rao giảng là một trong những vai trò chính của 
				các ngài, thì sau này cũng có những nhân vật lớn của các dòng tu 
				– các tu sĩ Phan-sinh được coi là những “ anh em giảng thuyết “ 
				- đã luôn tụ họp được từng đoàn lũ đông đảo quần chúng quanh 
				mình. Savonarola đánh động cả thành Firenze với một bài giảng 
				mùa chay. Các bài giảng của An-tịnh, như người ta nói, càng ngày 
				càng ngắn đi ; mỗi câu là một trọng điểm mang sức mạnh, mỗi từ 
				đều giá trị và trịnh trọng. Một trong những tác giả nghiên cứu 
				về ngài viết : “Ngài vẫn không ngừng giảng, cho tới khi tiếng 
				hoan hô hay nước mắt tràn lên mắt thính giả cho biết bức tường 
				chống lại chân lí và ân huệ cuối cùng đã bị bẻ gẫy “.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Giảng được cũng là một 
				quà tặng, một ân huệ, và thánh An-tịnh cũng luôn kính trọng các 
				linh mục bình thường khi giảng cần phải cầm sách. Ngài nói : 
				quan trọng không phải là cái độc đáo, nhưng là sự phục vụ trong 
				khiêm tốn. Nếu sách giúp cho người ta giảng được, thì đó là điều 
				tốt. Cám ơn Chúa đã cho ta những nhà giảng thuyết hùng biện, 
				nhưng cũng nên học sự khiêm tốn của người nghe trước những nhà 
				giảng thuyết kém khả năng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Một linh mục quản xứ 
				trong một thành phố lớn ở Đức mới đây kể cho tôi hay, nhờ một 
				linh mục chẳng có tài năng bề ngoài nào cả mà ông đã quyết định 
				làm linh mục. Linh mục kia giảng dở, hát dở v.v.. vậy mà giáo xứ 
				của ông không hiểu sao vẫn tràn sức sống. Giáo xứ đó đã đánh 
				thức được bốn hay năm ơn gọi linh mục. Các vị quản xứ trước và 
				sau linh mục kia mọi mặt giỏi hơn nhiều, nhưng đã không đánh 
				thức được ơn gọi nào. Ta thấy đó, gương khiêm tốn của một linh 
				mục không có tài giảng có thể chính là một bài giảng và mình nên 
				cám ơn Chúa về những tài năng đa biệt đó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">CHẾT</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Khi kết 
				thúc cuộc đời, mẹ Giáo Hội lo cho có một cuộc ra đi khỏi thế 
				gian tốt đẹp. Bà ban cho con cái bí tích kẻ liệt. Trước đây 
				người ta gọi đó là phép “ xức dầu lần cuối “.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">… và khi ai được hỏi 
				có muốn lãnh không thì người đó chối đay đảy, vì sợ rằng như vậy 
				là tên mình đã nằm trong danh sách người chết.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chữ “ xức dầu lần cuối 
				“ đã thành như một từ ngữ gây kinh hãi nơi người bệnh, và từ lâu 
				đã được Giáo Hội cố tình thay thế bằng chữ “ xức dầu bệnh nhân 
				“. Từ này đúng hơn và nó không còn gây ấn tượng sắp chết nơi 
				người bệnh, khi thấy linh mục đến.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thật ra, phép xức dầu 
				bệnh nhân nâng đỡ tinh thần người bệnh, và tiến trình nâng đỡ 
				này đôi khi cũng có thể đưa người đó tới lành bệnh. Đây là sự 
				nâng đỡ bằng bí tích của Giáo Hội trong hoàn cảnh đau bệnh, hơn 
				là một bí tích cho người sắp lìa đời. Đây là của ăn Thánh thể đi 
				đường thật sự. Qua lời nguyện kẻ liệt, qua phép lành kẻ liệt và 
				một lần nữa với phép giải tội, Giáo Hội trao cho người bệnh 
				những lời an ủi. Đó là những động viên trợ giúp vượt qua giai 
				đoạn chuyển tiếp khó khăn, mà người bệnh nhiều lúc xem ra như đi 
				vào một vùng tối, chẳng có chút ánh sáng nào.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phép xức dầu bệnh nhân 
				đúng hơn là một nâng đỡ để người bệnh chấp nhận đau khổ. Nó giúp 
				tôi bước vào cộng đoàn bí tích với Đức Ki-tô qua việc thăng hoa 
				cơn đau và nỗi khổ của tôi. Đây không nhất thiết là sự khỏi bệnh 
				thân xác. Bởi vì bệnh cũng có thể chữa lành tâm hồn tôi, nó có 
				khi cần thiết cho tâm hồn tôi. Đức Ki-tô đã dạy cho tôi đau khổ 
				và đã đau khổ với tôi, vì vậy Ngài có thể là vị bác sĩ thật sự 
				cho chính tôi, giúp tôi thắng vượt được căn bệnh tâm hồn sâu xa 
				hơn.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Người ta 
				nói, trong giờ lâm tử con người hay thay đổi cảm quan một cách 
				cực đoan. Những tay vô thần sắt thép vào giây phút cuối bỗng mềm 
				nhũn như con chi chi. Chuyên gia nghiên cứu sự chết, bà 
				Elisabeth Kübler-Ross, qua những tìm hiểu về kinh nghiệm lâm tử, 
				đã nhận ra : “ Hầu hết thay đổi một cách triệt để. Mọi giá trị 
				đều đổi. Giá trị của họ không còn quá vật chất, quá gây gỗ nữa. 
				Họ hướng về những giá trị thiêng liêng nhiều hơn “. Nghĩa là, 
				khi một người gần “ cửa tử “, phải chăng người đó đột nhiên có 
				thể nhận ra được rõ ràng đâu là cái thật sự đáng kể của cuộc đời 
				?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hẳn nhiên tình trạng 
				tiếp biên đó có thể giúp người ta nhận ra rằng của cải chồng 
				chất hay những huy chương, tưởng lục và ảnh hưởng của mình chẳng 
				phải cái cuối cùng, cái đáng kể. Một cuộc xét lại giá trị có thể 
				- nhưng không nhất thiết - sẽ diễn ra. Có những tâm hồn chai đá 
				và cùn mòn đến nỗi không nhìn ra được gì nữa. Thật ra những hoàn 
				cảnh tiếp biên đó chỉ có thể đẩy được ra ánh sáng những gì đang 
				nằm kẹt một cách nào đó trong tâm mà thôi. Như vậy, đừng đợi cho 
				đến giờ sau hết, cũng đừng để cho kho phúc đức cạn kiệt đi, kẻo 
				khi chú rể xuất hiện – nói theo dụ ngôn của Chúa – thì dầu trong 
				đèn đã cạn.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có một 
				kinh nghiệm khôn ngoan của công giáo cổ xưa : Chủ nhật thế nào 
				thì ngày chết cũng thế.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu đó cũng ám chỉ sự 
				chuẩn bị như trên. Nếu ngày chủ nhật vắng Chúa hoàn toàn, thì ta 
				sẽ mất hết nhiên liệu dự trữ, không còn sức để tạo ra được cái 
				chuyển mình sau hết. Và dù cho ân huệ Chúa vô tận đi nữa – thì 
				cũng không nên tiêu pha hết phần dự trữ trong tâm, kẻo vào lúc 
				cần tới, ta chẳng còn gì hết, đó là một cảnh cáo đối với ta.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Giáo Hội 
				dạy nên vui vẻ đón nhận cái chết : “Sống là chết, chết là sống 
				“. Sau chết, cuộc sống đời đời đang chờ ta.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đúng. Nhưng bản tính 
				con người không giống nhau. Khi An-tịnh nằm trên giường chết, 
				tội lỗi lại hiện ra rõ nét trong tâm trý ngài. Vì vậy, An-tịnh 
				cho treo lên tường các Thánh Vịnh sám hối, để mình có thể không 
				ngừng đọc theo. Ngài còn từ chối rước Mình thánh trong một thời 
				gian, để trầm mình vào ăn năn sám hối. Lúc đó ngài nghĩ tới 
				người cha tinh thần của mình Ambrosius*, là người đã đón nhận 
				cái chết một cách rất thanh thản, và đã nói : Ngài là con người 
				vĩ đại, nên được tặng cái chết ; còn tôi là một người khác, nên 
				không được tặng, tôi cần khiêm tốn sám hối, với hi vọng rồi Chúa 
				sẽ đón nhận tôi.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Song có lẽ cũng phải 
				nói rằng, nhiệm vụ của giáo dục Ki-tô giáo và của các bài giảng 
				là dạy cho tín hữu tin tưởng rằng, qua cái chết, ta đang bước 
				vào sự sống đích thực. Đó cũng là một cách giúp người ta vượt 
				qua sự sợ hãi trước nỗi bí ẩn, hay ít nhất vượt qua nỗi sợ thuần 
				thể lí, để thanh thản đón cái chết như một món quà.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Còn Hồng 
				Y, ngài có sợ chết không ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi vẫn biết mình 
				thiếu sót nhiều thứ, nên vẫn luôn nghĩ đến toà phán xét. Nhưng 
				dù vậy vẫn mang hi vọng, vì Chúa lớn mạnh hơn những yếu đuối của 
				mình.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ngài có 
				nghĩ nhiều tới cái chết ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có, vì càng về già, 
				người ta càng tới gần nó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có được 
				phép hoả táng không, hay đó chỉ là một phong tục ngoại giáo ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngay người Do-thái, 
				khác với các dân tộc khác trong vùng biển Địa-trung, đã không 
				biết đến hoả táng. Họ chôn xác, và coi đó là hạt mầm của sự sống 
				lại. Người ki-tô sau đó đã lấy lại phong tục này. Trong mộ táng 
				cũng đã và đang tiềm ẩn một niềm tin sống lại, một niềm hi vọng. 
				Cho tới công đồng Vatican II ai hoả táng sẽ bị phạt. Do hoàn 
				cảnh của thế giới tân thời, Giáo Hội đã bỏ việc cấm đoán đó. 
				Niềm tin sống lại không nhất thiết phải diễn tả qua việc mộ 
				táng, bởi vì Chúa hẳn sẽ phải cho ta thân xác mới sau khi chết, 
				vì thế giờ đây được phép thiêu xác. Quan điểm của tôi còn khá cổ 
				hũ, tôi cho rằng mộ táng luôn vẫn là hình thức đích thực, qua đó 
				ki-tô hữu nói lên sự kính trọng đối với người chết, nhất là đối 
				với thân xác, và nói lên hi vọng vào quà tặng tương lai.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ngài nói, 
				Chúa sẽ cho ta trong đời sau một thân xác mới – điều này có 
				nghĩa là con người đời sau sẽ không còn giống với con người đời 
				nay ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trên một bình diện nào 
				đó, con người tái sinh trong ngày phán xét là một tạo vật mới, 
				nhưng nó vẫn giữ nguyên bản sắc người cả hồn lẫn xác. Thánh 
				Tô-ma nói, lúc đó hồn là lực hình thành của xác – hồn là xác, 
				hồn tạo cho mình thân xác. Bản sắc như vậy có nghĩa là hồn – hồn 
				này đã được tiếng gọi tái sinh trao cho một lực tác tạo mới - tự 
				tạo nên một thân xác đồng dạng. Nhưng tôi nghĩ, thật vô ích, nếu 
				ta cứ ngồi đây mà đoán chừng con người thân xác và con người vật 
				chất đời sau sẽ ra như thế nào.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Rất cụ 
				thể : Anh tôi mất lúc 14 tuổi. Hiện giờ anh ở đâu ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ở bên Chúa. Tôi nghĩ, 
				ở đây, ta phải bỏ những phạm trù xác định vị trí thuần vật chất 
				đi. Cũng như ta không thể xác định vị trí Chúa ở đâu, thì đối 
				với người chết cũng vậy, họ đã bước vào một tương quan vật chất 
				khác. Tương quan của Chúa đối với không gian vật chất là một 
				tương quan ngự trị xuyên suốt. Ta đã nói về những cấp độ gần 
				Chúa, chúng không bị giới hạn bởi những nơi chốn không gian, và 
				ta cũng đã nói rằng linh hồn, nguyên lí tinh thần trong con 
				người, cũng không phải là một cơ phận nào đó nằm ở đâu trong 
				thân xác, nhưng lại là hình thái xác định cái toàn thể. Cũng 
				thế, người chết tham dự vào một tương giao không gian khác của 
				Chúa, tương giao đó tôi không thể xác định được bằng phạm trù 
				địa lí.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Một số người dám nói, 
				người chết sống quanh quẩn bên mộ. Quan điểm đó làm tôi hơi kinh 
				khiếp. Không, họ đã ra khỏi hình thái không gian vật chất này 
				rồi, và đã bước vào một tương giao không gian khác, một không 
				gian trỗi vượt của Chúa. Thỉnh thoảng có người, trong tâm tưởng, 
				thấy mình vượt qua được tới bờ bên kia đại dương. Ta có thể coi 
				đó là thứ không gian vượt trội, một cấp độ không gian khác, đó 
				là sự gần gũi tinh thần. Dù sao, nên bỏ đi quan niệm người chết 
				phải ở một địa điểm nhất định nào đó. Thay vào đó ta nên nói : 
				Họ đang ở bên Chúa – như thế, họ đang hiện diện trong một thực 
				tại vũ trụ mới và cũng rất gần bên tôi.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Con người 
				chúng ta thích tò mò, chúng ta muốn biết một chút về thiên 
				đường. Nó ra sao, Kinh Thánh có nói cái gì đang đợi ta ở thiên 
				đường không?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Kinh Thánh cũng chỉ có 
				thể đề cập bằng hình ảnh. Chẳng hạn như cảnh phụng vụ thiên 
				quốc. Theo đó, thiên đường là cơn xuất thần của phụng vụ đích 
				thực đó, và cả ca hát và bay lượn cũng bằng hình ảnh.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng tất cả những cái 
				đó có thể bị hiểu lầm. Ta biết ở Đức có câu chuyện về một anh 
				người Bayern tới được thiên đàng, và rồi đêm ngày miệng cứ ca 
				hoài bài Alleluia muôn thủa, không dứt được nữa. Đây là điểm tôi 
				cho là quan trọng : không những hình thái không gian mà cả ý 
				niệmthời gian cũng đổi khác trong tình trạng khác mới (thiên 
				đàng) này. Nếu ta quan niệm thiên đàng là sự kéo dài vô tận của 
				thời gian, thì tới một lúc nào đó, sợ ta sẽ nghĩ là quá lâu đi. 
				Nhưng tình trạng được bứng ra khỏi diễn tiến thời gian ngày ngày 
				giờ giờ dính liền với những vòng quay địa cầu quen thuộc của ta, 
				để được đưa vào một thứ kết hợp mới giữa người với người bên 
				nhau, cũng có nghĩa là cái nhịp thời gian vĩnh cửu tiếp nối nhau 
				đó không còn nữa – mà chỉ còn lại một khoảnh khắc hiện tại độc 
				nhất ngập niềm vui. Vì thế, ta nên hình dung vĩnh cửu như là 
				khoảnh khắc ngập niềm vui đó, khoảnh khắc này nằm ngoài mọi thời 
				gian.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Hình như 
				ngài sẵn sàng hiến tặng cơ phận sau khi chết ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vâng, dù vẫn biết các 
				cơ phận già nua của tôi có lẽ chẳng còn hữu dụng lắm.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Một hình 
				ảnh dễ sợ : Trái tim Hồng Y Ratzinger trong một bác người Phi 
				châu theo đạo Islam tại Paris ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">… có thể lắm chứ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Bà 
				Elisabeth Kübler-Ross, chuyên nghiên cứu về sự chết, có ý kiến 
				rất rõ về câu hỏi có nên kéo dài sự sống bằng phương pháp nhân 
				tạo không. Bà nói : “ Một trăm phần trăm không. Không nên kéo 
				dài mà cũng không nên rút ngắn. Mỗi người có một thời điểm đúng 
				lúc để chết “. Người ta có thể nại lí do, vì còn nhiều việc dở 
				dang chưa xong nên phải kéo dài thêm sự sống. Hơn nữa, đây là 
				chuyện ít do bởi cá nhân quyết định, nhưng do “ một ông chủ lớn 
				hơn, người đó có quyền”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có nhiều cách hoặc 
				nhiều lối kéo dài sự sống, mà tôi chống, vì cho đó là cách dùng 
				bạo lực. Nhưng việc chữa trị, tự nó, cũng là những cách kéo dài 
				sự sống. Ngày nay, người ta có thể chữa được nhiều căn bệnh 
				trước đây phải bó tay. Tôi xem những lối chữa trị bằng kĩ thuật 
				phát triển của i khoa không phải là việc kéo dài sự sống bằng 
				nhân tạo.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Như vậy, vấn đề đặt ra 
				là, đến mức độ nào thì việc hiến cơ phận cho nhu cầu chữa bệnh 
				được coi là phương tiện bình thường và đáng làm trong mục đích 
				nới rộng khả năng của bác sĩ. Tôi nghĩ, việc ghép các cơ phận 
				đôi như mắt hay thận không có vấn đề lớn, cho dù ở đây đã có một 
				hi sinh rất lớn cho một phía. Rắc rối là khi ghép những cơ phận 
				như tim, mà người ta được phép lấy từ một nạn nhân đã chết về 
				phương-diện i khoa, nhưng phải lấy thật sớm, để cơ phận đó còn 
				“sống “. Bao giờ thì một người chết thật mà – mặt khác, chính cơ 
				phận của người đó thì lại phải còn sống -, đó là một câu hỏi 
				tiếp biên phải trả lời với ý thứctrách nhiệm lớn. Tiêu chuẩn `óc 
				ngưng hoạt động` tuy đã được nghiệm xét kĩ, nhưng theo tôi, vấn 
				đề này luôn phải được xét đi xét lại một cách chu đáo, vì người 
				ta luôn bị cám dỗ muốn lấy cơ phận thật sớm. Vì thế, ghép tim 
				trên thực tế là một việc chữa trị tiếp biên. Dù vậy, tôi không 
				hoàn toàn phản đối lối chữa này. Tôi nghĩ, trong lãnh vực chữa 
				trị đúng đắn cũng còn có những phương pháp chính đáng khác có 
				thể đưa vào.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<a name="4._TƯƠNG_LAI_"><span style="color: #FF0000"><b>4</b></span><span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI"><b>. 
				TƯƠNG LAI</b></span></a></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">GIÁO HỘI 
				THIỂU SỐ HAY GIÁO HỘI ĐA SỐ ?</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhiều năm 
				trước đây ngài đã nói điều rất tiên tri về Giáo Hội tương lai. 
				Lúc đó ngài bảo : “ Giáo Hội sẽ nhỏ lại, nó sẽ phải bắt đầu lại 
				từ đầu. Nhưng sau tiến trình thử thách, một sức mạnh sẽ toả tràn 
				ra từ Giáo Hội gọn nhẹ và tâm linh đó. Bởi vì con người trong 
				thế giới được hoạch định chu đáo hiện nay sẽ cảm thấy vô cùng cô 
				đơn… Và rồi người ta sẽ nhìn ra một cái gì mới mẻ trong các nhóm 
				nhỏ tín hữu sống đạo. Một hi họng mà họ vẫn trông mong, một giải 
				đáp mà họ vẫn âm thầm tìm kiếm “. Xem ra ngài có lí. Nhưng Âu 
				châu hiện sẽ đi về đâu ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước hết : Giáo Hội 
				có nhỏ lại không ? Khi tôi nói điều đó, khắp nơi người ta tố cáo 
				tôi là người bi quan. Và ngày nay xem ra chẳng có gì cấm kị hơn 
				cái mà người ta gọi là bi quan – cái đó cũng thường chỉ có nghĩa 
				là thực tế. Lúc này thì đa số đã chấp nhận là số tín hữu ki-tô 
				hiện nay ở Âu châu đang giảm. Chẳng hạn, thành phố Magdeburg 
				(Đức) chỉ còn 8% ki-tô hữu – nên nhớ : đủ mọi loại ki-tô hữu đấy 
				nhé. Các thống kê đó là những thực tế mà ta không thể chối cãi. 
				Với đà đó, Giáo Hội trên nhiều vùng văn hoá âu châu, chẳng hạn ở 
				Đức, đã mất tính cách Giáo Hội quần chúng (nghĩa là của đa số) 
				rồi. Ta phải quan tâm chuyện này.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nghĩa là 
				sao ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Giáo Hội đa số có thể 
				là cái gì đó rất đẹp, nhưng không hẳn cần thiết. Trong ba thế 
				kỷđầu, Giáo Hội tuy nhỏ, nhưng không chia năm sẻ bảy. Trái lại, 
				nó không co cụm lại, mà đứng ra lo cho người nghèo, người bệnh, 
				cho tất cả mọi người. Trong Giáo Hội đó có chỗ cho tất cả những 
				ai tin vào một Chúa, cho những ai đi tìm lời hứa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thoạt tiên là những 
				người kính sợ Thiên Chúa quây quần quanh các đền thờ do-thái 
				trong khắp Đế-quốc Rô-ma, họ tới với đền thờ và tạo thành một 
				vòng ngoài mở rộng. Việc dạy giáo lýnhập đạo trong Giáo Hội xưa 
				cũng mở ra gần giống i như vậy. Vì họ cảm thấy không thể đồng 
				hoá hoàn toàn được với Do-thái giáo, nên họ đã bám vào Giáo Hội 
				để xem có nên bước vào trong đó không. Giáo Hội không phải là 
				một câu lạc bộ khép kín, nhưng luôn mở ra cho mọi người, đó là 
				một ý thứcdính liền với Giáo Hội ngay từ đầu. Và khi các cộng 
				đoàn chúng ta trở nên nhỏ lại, như chiều hướng ta đang thấy, 
				chúng ta sẽ phải tìm lại hình thái mở rộng cho vòng trong vòng 
				ngoài như trước đây. Vì thế, tôi không chống lại những người mỗi 
				năm chỉ đến nhà thờ một hai lần vào dịp giáng sinh, tết hay một 
				dịp đặc biệt nào đó, vì điều này, một cách nào đó, cho thấy họ 
				còn muốn bám víu vào ơn thánh, vào ánh sáng. Vì thế, Giáo Hội 
				phải mở rộng cửa, phải có những cách thế cho các hình thức nương 
				tựa hay tham dự khác nhau.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhưng 
				Giáo Hội đa số cũng là thành quả cao nhất của văn minh tôn giáo 
				mà ! Giáo Hội thật sự là một tổ chức chung, có chỗ cho mọi 
				người, nó là thân cây với nhiều cành lá rợp bóng cho hết mọi 
				người mà ! Ta có thật được phép từ chối tính chất quần chúng, 
				nghĩa là tổ chức của đa số, không ? Dù sao thì đây cũng là một 
				thành quả đạt được với bao nhiêu cố gắng và hi sinh.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chúng ta phải chấp 
				nhận mất mát, nhưng chúng ta sẽ luôn là một Giáo Hội mở. Giáo 
				Hội không được đóng kín để thoả mãn cho riêng một nhóm nào. Nhất 
				là ta phải mang tinh thần truyền giáo, bằng cách luôn nhắc nhở 
				xã hội về những giá trị làm nên lương tri của nó, về những giá 
				trị làm nên nền tảng hiện hữu của quốc gia, và ta luôn phải là 
				một cộng đồng xã hội thật sự nhân bản.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong ý nghĩa đó, cuộc 
				tranh luận về tình trạng quá khứ của Giáo Hội quần chúng chắc 
				chắn sẽ được tiếp tục – trong một số quốc gia Giáo Hội vẫn sẽ là 
				tổ chức của đa số, nhưng ở một số khác, tình hình sẽ thay đổi. 
				Giáo Hội sẽ tham gia vào tiến trình lập pháp và sẽ phải luôn 
				quan tâm tới những hằng số nhân bản lớn của tiến trình kết tụ xã 
				hội của con người. Vì chưng, nếu luật pháp mất nền tảng luân lí 
				chung của nó, thì cả luật pháp cũng sụp đổ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhìn như thế, Giáo Hội 
				phải có trách nhiệm cho cả toàn thể. Trách nhiệm truyền giáo có 
				nghĩa là, như Giáo chủ đã nói, phải tìm cách nỗ lực tân phúc âm 
				hoá. Ta không được an tâm ngồi nhìn mọi thứ bên ngoài mình rơi 
				vào vòng ngoại giáo, nhưng phải tìm cho ra con đường mới đem Tin 
				Mừng tới cho cả những vùng chưa tin. Đã có những mô mẫu cho lãnh 
				vực này rồi. Nhóm tân giáo lýhọc đạo (Neukatechumenat) đã có mô 
				mẫu riêng, các tổ chức khác đang đi tìm con đường phù hợp cho 
				họ. Giáo Hội phải có thật nhiều sáng tạo, để cho Tin Mừng luôn 
				giữ được sức mạnh công chúng. Để Tin Mừng thấm nhập, cải hoá dân 
				chúng và dậy men trong họ. Trước đây chỉ là một cộng đoàn nhỏ bé 
				giữa các tông đồ, nhưng như Chúa nói, họ đã là men và muối đất. 
				Mọi chuyện đều khởi đầu từ nhỏ. Nhưng cũng phải khởi đầu với 
				trách nhiệm cho cả toàn thể.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">GIOAN - 
				PHAOLÔ II</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Gio-an 
				Phao-lô II là tảng đá của thế kỷ20. Giáo chủ từ Ba-lan là người 
				ảnh hưởng trên Giáo Hội mạnh hơn nhiều vị tiền nhiệm khác. Ngay 
				trong thông điệp đầu tiên Redemptor hominis (Đấng cứu chuộc nhân 
				loại) ngài đã xác định chương trình làm việc: Theo ngài, con 
				người, thế giới, các hệ thống chính trị đã xa lìa “những đòi hỏi 
				của luân lí và công chính”. Giờ đây Giáo Hội phải có một giáo 
				huấn rõ ràng để đối lại. Quan điểm này được nói đi nói lại trong 
				tất cả các thông điệp của ngài. Ngài bảo, ta phải xướng lên “văn 
				hoá sự sống” để chống lại “văn hoá sự chết”. Cái nền tảng Gio-an 
				Phao-lô II để lại đó có thể là bàn đạp tốt để tiến vào thế kỷ21 
				không?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nền tảng đích thực dĩ 
				nhiên là Đức Ki-tô, nhưng Giáo Hội luôn cần những lực đẩy mới, 
				luôn cần được tiếp tục xây dựng. Có thể nói rằng, nhiệm kì giáo 
				chủ của Gio-an Phao-lô II có một sức mạnh ngoại lệ. Đó là một 
				cuộc vật lộn chống lại tất cả những vấn nạn nền tảng của thời 
				đại chúng ta – và ngoài ra ngài còn tặng cho chúng ta nguồn vốn 
				tích cực để đi tới.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Các thông điệp lớn của 
				Giáo chủ, mở đầu với “Đấng cứu chuộc nhân loại”, rồi tới bộ ba 
				thông điệp trình bày khuôn mặt của Thiên Chúa, thông điệp quan 
				trọng về luân lí, thông điệp về sự sống, thông điệp về đức tin 
				và lí trí cắm lên những trụ cọc, như anh nói, làm nền cho ta có 
				thể xây tiếp lên đó. Sở dĩ nói xây tiếp, là vì Ki-tô giáo, trong 
				một thế giới biến chuyển quá nhanh như hiện nay, luôn phải phát 
				biểu một cách mới mẻ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước đây, khi đối 
				diện với Do-thái giáo, Hồi giáo và văn hoá la-hi, Tô-ma ở Aquino 
				đã phải đưa Ki-tô giáo vào một lối nghĩ mới, để tạo cho nó một 
				hình thù kéo dài mãi cho tới Thời mới. Hình thù này sau đó đã 
				được thay đổi khi nhân loại bước vào Thời mới, qua các quyết 
				định nền tảng của công đồng Trento do hậu quả của Cải cách. Mô 
				hình Giáo Hội này đã kéo dài 500 năm. Ngày nay, trước cuộc biến 
				chuyển quan trọng của thời đại, chúng ta phải làm sao một mặt 
				vẫn duy trì được cái bản sắc của toàn thể, mặt khác tìm ra được 
				cái khả năng sống động, làm sao phát biểu chúng một cách mới mẻ 
				và hiện tại hoá chúng. Trên lãnh vực này, giáo chủ Gio-an 
				Phao-lô II đã có một đóng góp lớn.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">GIÁO HỘI 
				HOÀN VŨ TRONG TƯƠNG LAI</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Trước đây 
				50 năm, các nước kĩ nghệ còn chiếm một phần ba nhân loại. Chỉ 
				cần hai thế hệ nữa thì 90 phần trăm dân số thế giới thuộc về các 
				nước đang phát triển. Tới giữa thế kỷ21, riêng Trung-quốc hay 
				Ấn-độ mỗi nước cũng sẽ có số dân nhiều hơn cả thế giới phương 
				tây gộp lại.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Và Giáo 
				Hội hoàn vũ trong tương lai cũng sẽ có những biến chuyển dân số 
				lớn. Hiện nay, các cộng đoàn Giáo Hội trong thế giới thứ ba 
				trước đây, không chỉ xét riêng về số lượng, đã vượt số giáo xứ 
				của các nước trung Âu. Phi châu, chẳng hạn, đầu thế kỷ20 mới có 
				1,7 triệu tín hữu công giáo, nay bước vào thế kỷ21 đã lên tới 
				110 triệu. Lúc này đã có thể mường tượng được hình thái Giáo 
				Hội, cả phụng vụ và mục vụ, sẽ thay đổi ra sao chưa?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi nghĩ lúc này mình 
				không nên tính toán ngoại suy, bởi vì lịch sử luôn có quá nhiều 
				biến chuyển bất ngờ. Mọi chẩn đoán tương lai sẽ bị yếu tố bất 
				ngờ lật nhào. Chẳng hạn, đã chẳng ai dám tiên đoán sự sụp đổ của 
				các chế độ cộng sản, biến cố này đã tạo nên một tình trạng lịch 
				sử hoàn toàn mới. Đúng, hình ảnh xã hội thế giới sẽ thay đổi rất 
				lớn. Thế giới phương tây, nơi lượng người đang giảm và hiện đang 
				là vùng có sức mạnh trấn át, rồi ra sẽ ra như thế nào? Việc di 
				dân – dĩ nhiên hết người thì phải đưa thêm vào chứ - sẽ biến bộ 
				mặt Âu châu ra sao? Lực ảnh hưởng sẽ nghiêng về đâu, nền văn 
				minh nào, hình thái xã hội nào sẽ thắng thế ? Tất cả những cái 
				đó lúc này chưa thể đoán được.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vì thế, phải vô cùng 
				thận trọng với những phát biểu về tương lai. Tuy nhiên, chắc 
				chắn là tiềm năng tín hữu sẽ khác đi. Con người phương tây với 
				thái độ hiện thời của họ về thế giới sẽ không thể tiếp tục giữ 
				được sức mạnh trấn át như đã có. Những tâm tính mới, những đặc 
				sủng mới sẽ phải xuất hiện và ấn dấu lên bộ mặt Giáo Hội.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Do đó, theo tôi, quan 
				trọng nhất là ta phải cơ bản hoá/ nền tảng hoá 
				(Verwesentlichung), chữ Guardini dùng. Đây không hẳn là việc 
				tưởng tượng tiền chế ra một cái gì đó, mà rồi trong thực tế lại 
				xẩy ra khác, và cái đó ta không thể biến chế được trong ống 
				nghiệm. Nhưng đúng hơn, là tìm ra cái nền tảng và sống với nó, 
				để rồi nó có thể sẽ hoá thân ra trong cái mới và được trình bày 
				một cách mới mẻ. Trong ý nghĩa đó, đơn giản hoá cũng là một công 
				tác quan trọng, nghĩa là mình phải tìm ra cái gì thực sự còn lại 
				và cơ bản toả ra từ giáo huấn, từ đức tin của ta. Phải mang ra 
				ánh sáng những hằng số nền tảng lớn, như vấn đề về Chúa, về sự 
				cứu độ, về hi vọng, về sự sống, về cái gì là nền tảng trong luân 
				lí, rồi hệ thống hoá chúng lại một cách mới.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phải sửa đổi lại phụng 
				vụ cho hợp với thế giới kĩ thuật và với những nền văn minh nào 
				đó ư? Tôi không tin câu hỏi này cần thiết. Tất cả những thứ đó 
				là sản phẩm tự chế của con người. Phụng vụ có được cái cao cả, 
				là vì nó bắt nguồn từ khởi nguyên và lớn lên trong sống động. Nó 
				phải được chúng ta bao bọc và gìn giữ một cách kính cẩn. Có như 
				thế nó mới cao cả và mới nói được cho con người thuộc mọi nền 
				văn minh khác nhau. Lại nữa, kho tàng nghi lễ đa dạng của phụng 
				vụ đã có từ lâu. Nó sẽ cho ta biết dạng nào sẽ mang sức sống 
				mạnh nhất trong các nền văn minh khác nhau.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Hãy để 
				mắt quan sát nước Hoa-kì. Rõ ràng đó là quốc gia dẫn đầu thế 
				giới. Chính trị, khoa học, kinh tế và nhất là lối sống của chúng 
				ta ngày nay tất thảy đều bị ảnh hưởng mạnh do Hoa-kì. Công giáo 
				Mĩ đã và đang có những đóng góp nào cho công giáo thế giới?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngày nay, công giáo 
				hoa-kì đã trở thành một trong những lực quyết định của công giáo 
				hoàn vũ. Giáo Hội ở Mĩ rất năng động. Dĩ nhiên nó cũng có những 
				căng thẳng. Một mặt, có những nhóm nặng phê bình chỉ trích, họ 
				muốn có một Ki-tô giáo duy lí và dân chủ hơn. Nhưng đồng thời 
				cũng có những tâm điểm tôn giáo mới đang trỗi dậy, những cộng 
				đoàn dòng tu mới hình thành và đòi phải có một nếp sống tu trì 
				triệt để. Họ sống cuộc sống đó trong niềm tin vui, họ muốn đọc 
				lại các giáo phụ và thánh Tô-ma ở Aquino, và muốn được huấn 
				luyện theo tinh thần của các ngài. Đó là một Giáo Hội đang sống 
				lại cái căn bản tôn giáo rất mạnh: dám hi sinh đời sống vì và 
				cho đức tin, can đảm phục vụ vì đức tin. Đó là một Giáo Hội cũng 
				mang trách nhiệm lớn đối với xã hội qua hệ thống giáo dục và nhà 
				thương trải rộng của mình.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong Bộ chúng tôi, 
				chẳng hạn, không phải chính chúng tôi quyết định về những vấn 
				nạn liên quan tới luân lí i học, mà mỗi ngày do tiến bộ của i 
				khoa càng tạo ra nhiều thêm. Người Mĩ có một mạng lưới bệnh viện 
				công giáo rất rộng. Nhờ thế ngày nay họ có một đội ngũ chuyên 
				viên có hiểu biết sâu và kinh nghiệm sinh động trong lãnh vực i 
				khoa tân tiến. Chúng tôi trao những câu hỏi đó cho họ thảo luận, 
				phác hoạ nên những đường hướng chỉ dẫn (Guidelines) và trao đổi 
				với họ về những phác hoạ đó. Những giải đáp thoạt tiên mang tính 
				địa phương, nghĩa là cho Hoa-kì mà thôi, nhưng vẫn để ngỏ để 
				tiếp tục bổ túc kinh nghiệm các nơi khác. Nhưng dù vậy, các giải 
				đáp trên cũng được kể như là những lời giải mẫu về mặt luân lí i 
				học có thể áp dụng hay làm chuẩn cho các nơi khác.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vì thế tôi tin rằng, 
				với vốn kinh nghiệm to lớn về mặt đời cũng như kinh nghiệm đức 
				tin mà họ đã trải qua, Giáo Hội hoa-kì sẽ ảnh hưởng quan trọng 
				lên thế giới ki-tô hữu ở Âu, Phi và Á châu. Trước đây người ta 
				nói, cái gì xuất hiện ở Pháp, thì sẽ xuất hiện trên toàn thế 
				giới. Nhưng nay thì khác. Hoa-kì, về mặt đời, cung cấp cho thế 
				giới thời trang và khẩu hiệu. Còn về mặt đạo, Giáo Hội của họ 
				tạo ra những mô hình kiểu mẫu. Lạ lùng là các mô mẫu đó đã đẩy 
				lui đi cái Ki-tô giáo xem ra tân tiến và đồng thời quá lí trí và 
				quá ít thấm nhuần đức tin, để đưa vào đó những xung lực đức tin 
				thật sự và cả những hình thái sống đức tin điển hình.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nghĩa là 
				cũng có cả “sống lối Mĩ” (american way of life) cho đời sống 
				Ki-tô giáo, công giáo?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Lối sống đó thật sự 
				thấm nhuần chất công giáo, chứ không chỉ chất “mĩ” mà thôi. Tôi 
				tin rằng người dân trên nước Mĩ nhận vào mình toàn thể cái công 
				giáo tính và muốn làm mới thế giới tân tiến.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nước nào 
				hiện nay có nền thần học được coi là hướng đạo hay có Giáo Hội 
				mẫu mực? Con ngựa kéo đầu đàn nằm ở đâu?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chẳng có chú ngựa cổ 
				điển nào cả. Đúng hơn có một thuyết đa tâm.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước hết, châu Mĩ 
				la-tinh đã thách đố hoàn vũ Ki-tô giáo với thần học giải phóng. 
				Nhưng nay nó đang đi dần vào quá khứ. Chỉ còn lại lời kêu gọi 
				trách nhiệm đức tin về mặt chính trị và xã hội. Lúc này, châu Mĩ 
				la-tinh đang đam mê vấn đề hội nhập với những nền văn hoá thổ 
				dân. Hoa-kì đang ở tuyến đầu trong việc vật lộn với những thách 
				đố của thời đại mới. Cả trong khoa diễn giải, họ cũng đã có 
				những thành tựu mới, lí luận một chiều của phương pháp phê bình 
				lịch sử đã được họ thay thế bằng cái gọi là phương pháp diễn 
				giải quy điển, nghĩa là bằng lối đọc hiểu Tin Mừng trong toàn 
				thể của nó. Như vậy, nền thần học hoa-kì đã có một đóng góp quan 
				trọng. Nhưng Âu châu, cả Đức, luôn vẫn là nơi có tiềm năng lớn 
				về thần học.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhờ hệ thống phân khoa 
				thần học trong các đại học của chúng ta, nhờ tiền của và phương 
				tiện ta sẵn có, việc nghiên cứu vẫn đang rất mạnh và sinh hoa 
				kết quả. Dĩ nhiên có một thứ chủ nghĩa duy lí mới, mà người ta 
				coi như là yếu tố hàn lâm bắt buộc, hiện đang là nguy cơ cho 
				công tác thần học. Cái lối thần học duy lí này sẽ không tiến xa 
				được, vì nó chối từ ngay những nền tảng của nó. Tôi tin thế hệ 
				thần học mới sẽ lại nhìn ra được rõ hơn về nguồn cội của thần 
				học, nó chủ yếu phải bắt nguồn từ đức tin, chứ không thể là nơi 
				tính cách hàn lâm thuần tuý. Dù sao, Âu châu vẫn đang là điểm 
				nóng của thần học.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Á châu có Ấn-độ, là 
				nơi đang vật lộn với thế giới các tôn giáo và đang nỗ lực xác 
				định chỗ đứng của đức tin trong thế giới ngày nay một cách điển 
				hình. Phi châu ngày nay đang trở về với các giá trị truyền 
				thống. Ta hãy nghĩ tới trọng lượng của Phi châu đã đạt được 
				trong Hội đồng tôn giáo thế giới. Nơi đây, trong khi Tin lành 
				phương tây đang phải lặn ngụp trong các vấn đề sắc tộc, thì thế 
				giới Ki-tô giáo châu Phi ung dung đặt nổi lên lại cảm thức uyên 
				nguyên về những giá trị truyền thống của họ. Dĩ nhiên họ cũng đề 
				cập rất cụ thể tới những câu hỏi liên quan tới việc xây dựng xã 
				hội – như làm sao Ki-tô giáo có thể trở thành một sức mạnh kiến 
				tạo hoà bình, một sức mạnh thúc đẩy hoà giải – có lẽ họ ít lí 
				thuyết hơn, nhưng với những đau khổ và những kinh nghiệm đau 
				thương đã trải qua, Giáo Hội trên lục địa này hẳn có gì để nói 
				cho con người.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">HỢP NHẤT 
				KITÔ HỮU</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Vào cuối 
				thế kỷvừa qua, các nhà thần học của hai Giáo Hội tin lành và 
				công giáo đã kí với nhau một “Tuyên ngôn chung về công chính 
				hoá”. Theo đó, ơn công chính không chủ yếu do những việc làm của 
				con người, nhưng trên hết chỉ là do ân huệ của Chúa, dù con 
				người đã có một cuộc sống tốt hay xấu. Đó có phải là một bước 
				tiến thực sự đi tới đại kết hay không? Bên cạnh những điểm giống 
				nhau, ta có phải bằng mọi cách giữ lại những điểm cá biệt về đức 
				tin, để không rơi vào nguy cơ mất bản sắc?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tiếc rằng ta đã không 
				truyền thông cho mọi người hiểu được đúng nội dung của tuyên 
				ngôn, đơn giản là vì ngày nay chẳng ai còn hiểu “giáo huấn về 
				công chính hoá” nghĩa là gì nữa cả. Thời Luther, đó là một đề 
				tài lớn, làm nôn lòng mọi người, và dĩ nhiên việc bành trướng 
				của Tin lành không chỉ do điểm này mà ra, nhưng còn do chuyện 
				các ông hoàng đã lợi dụng nó để trục lợi cho mình. Ngày nay, câu 
				hỏi trên chẳng còn là đề tài thực tiễn gì nữa trong thế giới tin 
				lành. Vì vậy, công luận chỉ còn hiểu một cách đơn giản là chỉ có 
				ân huệ Chúa mới đáng kể, còn việc lành (cuộc sống) chẳng quan 
				trọng gì cả. Phát biểu như vậy là không những giản tiện hoá quan 
				điểm của Luther, mà còn là không hiểu gì về những vấn nạn con 
				người thật sự đặt ra cho Ki-tô giáo ngày hôm nay. Hơn nữa, 500 
				năm qua, kể từ Cải cách, cả thế giới Ki-tô giáo đã có được những 
				kinh nghiệm mới và đã trải qua một cuộc đổi thay thời đại. Ở đây 
				tôi không thể trình bày hết mọi chuyện được. Chỉ cần điều này: 
				Trước hết, bản tuyên ngôn chung xác nhận: khởi đầu của một cuộc 
				sống với Chúa quả là do chính Chúa định đặt. Chúng ta không thể 
				tự mình vươn tới Chúa được, nhưng chỉ có Ngài mới có thể đưa ta 
				tới Ngài mà thôi. Đức tin là bước khởi đầu đưa con người tới 
				đường công chính. Và đức tin lại là dấu chỉ của sáng kiến của 
				Chúa, sáng kiến này ta không tự mình tạo nên và ta không xứng 
				đáng để hưởng nó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong quá trình hình 
				thành tuyên ngôn, Giáo Hội công giáo coi trọng điểm này: một mặt 
				hoàn toàn công nhận sáng kiến khởi đầu đó của Chúa, song mặt 
				khác cũng công nhận là Ngài đã thực hiện một cái gì đó trong 
				tôi. Ngài nhận tôi vào, giao cho tôi trách nhiệm, để tôi cùng 
				cộng tác và tạo nên hoa trái – và bản án cuối cùng sẽ được căn 
				cứ trên nỗ lực đồng trách nhiệm của tôi. Tiếc thay cột trụ thứ 
				hai này đã không được công luận chú í đến.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nói cách khác: Chúa 
				không cần có những kẻ nô lệ, để Ngài cầm tay lôi vào đường công 
				chính và chính Ngài cũng chẳng quan tâm gì tới họ. Nhưng Ngài 
				muốn làm cho con người trở thành đích thực là những bạn đồng 
				hành, những chủ thể thật sự, những người tự có khả năng dùng quà 
				tặng khởi đầu của Ngài để cùng tác động và cùng mang trách nhiệm 
				về tác động đó. Tôi muốn nói đó là hai cột trụ chứa đựng trong 
				tuyên ngôn. Trong đó, kinh nghiệm của Luther rất phù hợp với Tin 
				Mừng đã được đưa vào. Nhưng đồng thời cũng có cả điều mà Giáo 
				Hội công giáo xưa nay vẫn luôn rao giảng. Cả hai tạo nên sự cân 
				đối.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Giáo Hội 
				cầu nguyện cho hiệp nhất ki-tô hữu. </span>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Nhưng ai 
				hiệp nhất với ai?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Công thức mà các nhà 
				đại kết lớn đã tìm ra, là chúng ta cứ đi tới. Chúng ta không 
				nhất thiết muốn có những nối kết cụ thể, nhưng hi vọng ở đâu 
				được Chúa đánh thức đức tin, ở đó Ngài sẽ đưa về một mối và ở đó 
				có một Giáo Hội duy nhất. Là người công giáo, chúng ta xác tín 
				rằng Giáo Hội duy nhất đó có khuôn hình nền tảng nơi Giáo Hội 
				công giáo, nhưng cả Giáo Hội này vẫn bước tới tương lai và vẫn 
				để cho Chúa giáo dục và chăn dắt. Như vậy, chúng ta không đề ra 
				một kiểu mẫu nối kết nào cả, mà đơn giản cứ tiếp tục bước đi 
				trong niềm tin dưới sự hướng dẫn của Chúa – là đấng biết con 
				đường sẽ đưa tới đâu. Và chúng ta tin tưởng vào Ngài.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Đã có 
				những suy nghĩ mạnh bạo về mặt đại kết?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Không, vì chuyện kết 
				hợp không thể là một màn diễn chính trị, hay do thanh gươm dí 
				vào cổ mà thành được. Cũng không do giáo chủ công giáo hay Hội 
				đồng tôn giáo thế giới muốn là được. Mà đó là những diễn tiến 
				sống động. Đức tin là một cái gì sống động và cắm rễ sâu trong 
				mỗi người và nó mang trách nhiệm trước mặt Chúa. Giáo chủ không 
				phải là ông vua độc tài hay chuyên chế muốn làm gì thì làm, 
				nhưng nhiệm vụ của ngài là phục vụ sự vâng lời đức tin.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Trong đức tin, người 
				ta không thể ra lệnh cho ai phải soạn ra những dự án đại kết như 
				thế nào, hoặc bảo rằng, thôi bây giờ Giáo Hội anh bỏ bớt đi một 
				chút, phía tôi thêm vô một chút, không thể có chuyện như vậy 
				được. Hoặc là ta tin vào Chúa – như vậy thì không thể nói được 
				ngày mai ta sẽ làm khác đi. Hoặc là ta coi mình có quyền quyết 
				định – như thế thì mọi chuyện sẽ vô giá trị. Không, đức tin là 
				cái gì sống, trong đức tin chúng ta tín thác vào Chúa, và Ngài 
				sẽ không vì mưu đồ chính trị mà phải đi tới một công thức thoả 
				hiệp.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Chúng ta chỉ có thể 
				khiêm tốn nỗ lực cơ bản hoá đức tin, nghĩa là nhận ra cái gì là 
				nền tảng nơi nó - cái đó không do ta làm ra nhưng ta đã nhận 
				được từ Chúa-, và từ tâm điểm cái nền tảng đức tin đó ta mở ra 
				và để Chúa, chỉ một mình Chúa mà thôi, dẫn đi tiếp.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">NHỮNG NGUY 
				CƠ MỚI CHO ĐỨC TIN</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Liên quan 
				tới việc Ki-tô giáo mất ảnh hưởng trong thế giới tục hoá, ngài 
				đã nói tới một nguy cơ đe doạ đức tin rất tinh tế mà tới nay 
				chẳng được mấy ai quan tâm, đó là nền độc tài dư luận. Nền độc 
				tài này chỉ chấp nhận một Ki-tô giáo dễ bảo, chịu thích nghi, 
				không góc cạnh, trong lúc những người sống đức tin thực sự thì 
				bị nó đóng ấn là “bảo căn”, “cứng đầu”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tôi tin đó là một mối 
				nguy thực sự. Người ta không truy nã đàn áp ki-tô hữu một cách 
				công khai, làm như vậy thì cổ hũ và quá lỗi thời. Không, người 
				ta tỏ ra rất khoan dung, hoàn toàn cởi mở. Nhưng nơi nào có đức 
				tin hiện diện đích thực, nơi đó họ lại loại trừ và kết án là bảo 
				căn.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tôi nghĩ có thể xẩy ra 
				trường hợp buộc mình phải chống lại một nền độc tài xem ra khoan 
				dung, nhưng nó lại đồng thời triệt tiêu đức tin bằng cách kết án 
				đức tin thiếu khoan dung. Nghĩa là có một bất khoan dung của 
				những “người khoan dung”. Đức tin không đi tìm mâu thuẫn, nó tìm 
				không gian tự do và nơi chịu đựng nhau. Nhưng nó không thể để 
				cho những công thức tiêu chuẩn của tân tiến sai khiến. Đức tin 
				có một nhiệm vụ cao hơn là trung thành với Chúa và phải sẵn sàng 
				chấp nhận thứ mâu thuẫn mới này.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">PHỤC HƯNG 
				TÂM LINH</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Ki-tô hữu 
				trẻ đi tìm một tôn giáo đậm cảm giác. Họ muốn quay trở lại thủa 
				ban đầu của Giáo Hội, trở lại cội nguồn của mầu nhiệm, và đòi 
				hỏi phải có một cuộc đổi mới tâm linh, hầu làm sống lại một cách 
				mới mẻ cả những mặt lưu truyền đã bị bỏ quên của Ki-tô giáo. 
				Giáo Hội có cần một cú xốc để tạo lại tiếng nói cho các biểu 
				tượng câm lặng của mình không?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Hẳn nhiên Giáo Hội cần 
				những cuộc lên đường tâm linh sống động. Trong mọi thời, Giáo 
				Hội trân quý tất cả những hình thức làm dấy lên đam mê mới cho 
				đức tin; những phương thức đó không do chính trị khởi xướng, 
				nhưng phải xuất phát từ lòng Giáo Hội. Như ta đã thấy, cuộc đổi 
				mới trong thế kỷ16 không đến từ các định chế, nhưng đã do những 
				con người được cảm hoá và họ đã tạo nên những phong trào mới. 
				Ngày nay, ta cũng nhận ra cuộc đổi mới đó trong nhiều hình thái 
				đa dạng – mà phong trào đặc sủng là một trong những thí dụ. Đây 
				có thể nói là một an ủi mà Chúa đã tặng cho ta; qua các phong 
				trào đó, Chúa chứng tỏ cho ta thấy Thánh Linh vẫn hiện diện và 
				có sức mạnh.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Trên thực tế, Công 
				giáo không bao giờ chỉ được hoạch định và quản trị bằng định chế 
				hay bằng đầu óc hàn lâm. Mà nó luôn hiện diện như là một món 
				quà, như một sinh lực tâm linh. Và món quà đó rất đa dạng. Không 
				có Công giáo đồng phục. Trong Công giáo có đủ kiểu: Focolare, 
				Schönstatt, Cursillo, Thánh linh. v.v. cũng như bên cạnh 
				Phan-sinh còn có Biển-đức, Đa-minh… Trong một chung cư mỗi gia 
				đình sống đạo mỗi khác. Và cái kho tàng trăm hoa năng động đó ta 
				nên duy trì.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ngày nay, có một chiều 
				hướng đòi đồng phục nơi các đại biểu tân tiến nhất của Công 
				giáo. Họ ngờ vực và đóng ấn phản động lên những gì sinh động và 
				mới, những gì không tuân theo khuôn mẫu hàn lâm hoặc không theo 
				quyết định của các uỷ ban hay của các kì họp hội đồng. Dĩ nhiên 
				luôn có những nguy cơ, những sai lầm, những bất cập v.v. Ông làm 
				vườn Giáo Hội phải luôn cảnh tỉnh sửa sai, nhưng đồng thời cũng 
				phải chấp nhận cái mới sống động đó như là một quà tặng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tôi nghĩ, cần có một 
				khoan dung lớn trong nội tình Giáo Hội, để chấp nhận, coi lối 
				sống đa dạng đó như là một cái gì thuộc độ lớn công giáo – để 
				rồi không đơn giản loại bỏ nó, cho dù nó không hợp với khẩu vị 
				mình. Chẳng hạn ở Đức, khi nghe nói đến tu hội “Opus Dei”, hội 
				“Hướng đạo âu châu” hay một cái gì khác, người ta phải tỏ ra bực 
				bội, là vì nếu không thì mình chẳng còn được xem là một tín hữu 
				công giáo tốt nữa! Có những cái không hợp với khẩu vị “bình 
				thường”, hay nói khác đi, không hợp với khẩu vị người “Đức”. Ở 
				đây, mình cần phải bao dung để chấp nhận cái độ lớn công giáo 
				kia.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Hẳn nhiên, những người 
				khác cũng phải sẵn sàng bỏ đi những cá biệt hoặc nguy cơ đóng 
				kín của mình để phục vụ cho toàn thể. Sự hiện diện của ghế giáo 
				chủ hay giám mục cũng là để duy trì cái độ lớn kia, đồng thời để 
				ngăn chặn những đóng kín đưa tới kết bè lập phái và đưa chúng 
				trở về hoà nhập với toàn thể.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">ĐIỀU CÓ 
				THẬT.</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Thánh 
				An-tịnh chăm lo cho gia sản quý nhất của Giáo Hội, đó là những 
				kẻ nghèo, người goá bụa, trẻ mồ côi. Cuộc sống thay đổi của ngài 
				sau khi vào Ki-tô giáo đã khiến cho những lời ngài nói trở nên 
				khả tín, xác thực và nẩy lửa. Phải chăng gương sống thật của 
				ki-tô hữu có nhiều giá trị trên xã hội hơn là những bài giảng 
				xoa dầu cù là hay những cuộc nghị luận hàn lâm?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Dĩ nhiên đúng là như 
				thế, và đội ơn Chúa, cũng đã có những tấm gương đó. Ở đây tôi 
				nghĩ tới, chẳng hạn, Hồng Y O´Connor ở Nữu-ước đã lập một hội 
				dòng mới để lo cho những người bệnh liệt kháng và chính ngài 
				cũng bỏ ra mỗi tuần một ngày cho công tác này. Tôi cũng nghĩ tới 
				“các chị nhân ái” (Sister of Mercy), một dòng tu mới tại Hoa-kì, 
				chuyên lo việc giáo dục và nhiều công tác phục vụ chữa bệnh 
				khác. Hoặc mẹ Tê-rê-xa ở Calcutta với tu hội của mẹ. Đội ơn Chúa 
				đã có biết bao tấm gương sống niềm tin một cách âm thầm triệt để 
				chứng minh cho cái có thật đó, và những chứng tá cũng đã mang 
				hiệu quả.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Nhà văn 
				người Pháp Georges Bernanos có lần viết: “Thánh là một cuộc 
				phiêu lưu, ngay cả là cuộc phiêu lưu duy nhất có thể có. Có hiểu 
				được điều đó, thì mới đi vào được trái tim đức tin công giáo”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Trong đức tin, chúng 
				ta nhìn nhận chính Giáo Hội là “thánh”. Điều này không có nghĩa 
				tất cả mọi người trong Giáo Hội đều là thánh. Cũng không phải 
				trong Giáo Hội cái gì cũng tốt cả, nhưng có nghĩa là Giáo Hội đã 
				được Chúa chạm tới và trong đó luôn có thánh xuất hiện. Điều 
				quan trọng ở đây là ta nên quan niệm thánh một cách rộng rãi, 
				bởi vì thánh có muôn hình vạn trạng. Cứ xem những vị đã xuất 
				hiện trước mắt ta, thì sẽ thấy có bao nhiêu là cách thức và loại 
				hình nên thánh. Từ một bác sĩ xả thân phục vụ cho tới những học 
				giả, những người bình thường, những nữ tu và giáo dân, tất cả họ 
				đều sống trong thế giới này.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Cũng có những vị thánh 
				âm thầm, điều này luôn quan trọng đối với tôi, họ là những người 
				bình thường mà tôi đã làm quen lúc còn nhỏ, những cụ già nông 
				dân hiền từ và những bà mẹ hiền lành quên mình cho con cái, cho 
				gia đình, cho Giáo Hội, và cũng luôn hi sinh cho những người 
				khác trong thôn xóm. Không nhất thiết phải là một cái gì anh 
				hùng, nhưng cũng có thể ngay cả cái thật tầm thường, cái khiêm 
				tốn.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Và dĩ nhiên cũng luôn 
				có những khuôn mặt gây rúng động. Ở </span>
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">ý</span><span style="font-size: 12.0pt" lang="IT"> 
				này có linh mục Pi-ô nổi tiếng kinh khủng, nghe nói ngài đồng 
				thời cũng là một linh mục giải tội rất nóng tính. Xưng tội với 
				ngài chẳng thoải mái lắm, nhưng qua khuôn dáng và cung cách 
				ngài, con người cảm thấy như chính Chúa đang nói với họ thật, và 
				nếu cần, thì Chúa cũng cho họ ít roi. Roi vọt nhiều khi không 
				phải là vô bổ. Trong Tin Mừng, ta thấy &nbsp;Đức Giê-su tỏ ra vừa 
				cứng rắn, vừa rất hiền từ và hay giúp đỡ. Hình ảnh đó, trong thế 
				kỷnày, lại hiện thân qua linh mục Pi-ô. Như vậy, qua những gì 
				hiện ra trước mắt ta, ta biết rằng thánh là có thật và nó giúp 
				ta những lực sống mới. Có những vị thánh khiêm nhường, đơn sơ, 
				không ai viết ra, nhưng quả thật vô cùng quan trọng cho đời sống 
				Giáo Hội.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Luôn có 
				những chuyện không thể lường trước được, bất ngờ xẩy đến làm 
				xoay chuyển cuộc sống. Đặc biệt dễ thấy là sự phục hưng phong 
				trào sùng kính mẹ Maria trên khắp thế giới hiện nay. Ngài có 
				nghĩ rằng mẹ Maria sẽ là cửa ngõ cho hàng triệu người tìm đến 
				Giáo Hội không?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ta chẳng bao giờ tiên 
				đoán được tình hình sẽ diễn biến như thế nào. Ai chỉ biết ngồi 
				đó dùng thống kê về tình trạng hiện tại ở Âu châu mà hàn lâm 
				ngoại suy về sự sụp đổ của Giáo Hội, người đó chẳng hiểu gì về 
				sự bất lường của lịch sử con người, nói chung – và về lực khởi 
				xướng của Chúa có thể tới bất cứ lúc nào, nói riêng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Rõ ràng có những đợt 
				sóng mới ít ai ngờ về việc sùng kính đức Mẹ trên thế giới. Nhưng 
				trong đó cũng có một số hình thức hiện ra và sứ điệp giả. Phải 
				rất thận trọng, đừng quá dễ dãi tin ngay đó là những phép lạ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng trái lại, cũng 
				đừng quá cứng lòng khiến thực tế có thật không thấm nhập được 
				vào mình. Hãy nghĩ về biến cố ở Lộ-đức, lúc đầu người ta cứ bảo 
				là cô bé kia bày chuyện. Nhưng rồi chính mẹ Maria đã thực sự có 
				ở đó. Chắc chắn chẳng phải vô tình mà ngày nay rất đông người 
				quay trở về với Mẹ, qua đó Ki-tô giáo lại trở nên thân thương và 
				gần gũi với ta, đồng thời nhờ Mẹ mà ta tìm ra được lối vào.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ta đã nói chuyện về 
				Nam Mĩ, nhờ Guadeloupe mà thổ dân ở đó đã có thể thấy được đạo 
				không phải là của thực dân, song là của Mẹ nhân từ và của Thiên 
				Chúa đã khổ đau vì chúng ta – và Mẹ thật đã trở thành cửa ngõ 
				dẫn tới Đức Ki-tô -, cho tới nay người ta vẫn tin như thế. Cả 
				ngày nay, không riêng gì Nam Mĩ, nhờ qua Mẹ mà một nhân loại 
				kiệt sức vì thế giới kĩ thuật lạnh lẽo và một Ki-tô giáo duy lí 
				và mỏi mệt có thể tìm gặp lại được chính Đức Ki-tô một cách sống 
				động. Ta có quyền mạnh dạn bước vào tương lai với niềm vững tin 
				đó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Giáo chủ 
				Gio-an XXIII đã có thể nói: “Tôi thuộc về một Giáo Hội sống động 
				và trẻ trung, Giáo Hội đó đang tiếp tục dẫn công trình của mình 
				đi vào tương lai không chút âu lo”. Hồng Y Joseph Ratzinger cũng 
				có thể nói được câu đó?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có! Tôi có thể vui vẻ 
				nói lên điều đó. Tôi thấy có nhiều cành cây Giáo Hội già cội và 
				đang chết dần, chúng chậm rãi lìa thân, lúc lặng lẽ, lúc ồn ào. 
				Nhưng trên hết tôi thấy sự trẻ trung của Giáo Hội. Tôi đã được 
				gặp bao nhiêu người trẻ, từ khắp mọi miền thế giới, tôi đã được 
				gặp bao nhiêu phong trào mới, thấy được đức tin hân hoan bừng 
				lên trong đó. Và tất cả những kẻ phê bình chỉ trích Giáo Hội – 
				họ luôn có lí của họ - đã chẳng đánh đổ được nỗi hân hoan đó, vì 
				niềm vui nơi Chúa Ki-tô lớn hơn mọi phê bình chỉ trích. Vì vậy, 
				tôi có được một nơi chốn, ở đó tuy có nhiều nỗ lực khó khăn, 
				nhưng lại có nhiều gặp gỡ cho thấy sự trẻ trung của Giáo Hội 
				hơn. Và chúng ta được phép yên tâm tiến vào tương lai, vì Chúa 
				hẳn sẽ không bỏ rơi tương lai.</span></td>
	</tr>
	<tr>
		<td style="border-left-style: solid; border-left-width: 1px; border-right-style: solid; border-right-width: 1px; border-bottom-style: solid; border-bottom-width: 1px">
		<p align="center">
		<img border="0" src="../Suyniemmoingay/Nam2011/thanggieng/02.gif" align="right" width="200" height="200"></p>
		<p align="center">
		&nbsp;</p>
		<p align="center">
		<br>
		&nbsp;</p>&nbsp;</td>
	</tr>
</table>

</body>

</html>

PHP File Manager