File "ChuongIV-GiaoHoi.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/THIENCHUA/ThienChuavaTranThe/ChuongIV-GiaoHoi.htm
File size: 302.5 KiB (309764 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">
<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<LINK rel="stylesheet" href="../Suyniemmoingay/_common/colours.css" type="text/css">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<title>Thien Chua - Thiên Chúa và Trần Thế</title>
<style>
<!--
div.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-top:0cm;
margin-right:0cm;
margin-bottom:10.0pt;
margin-left:0cm;
line-height:115%;
font-size:12.0pt;
font-family:"Arial","sans-serif";
}
-->
</style>
<meta name="keywords" content="Năm Bánh - Hai Cá - Giêsu Kitô; tinmung.net; dongcong.net, suy niệm mỗi ngày">
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../_themes/network/netw1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="network 1011">
</head>
<body>
<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="10" bgcolor="#FFFFF2" cellpadding="10">
<tr>
<td style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 12pt; font-weight: bold; border-left-style:solid; border-left-width:1px; border-right-style:solid; border-right-width:1px; border-top-style:solid; border-top-width:1px">
<p align="center"><font color="#FF0000">CHƯƠNG IV:</font></p>
<p align="center"><font color="#FF0000">GIÁO HỘI</font></td>
</tr>
<tr>
<td style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 12pt" align="justify">
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thưa Hồng
Y, Đức Giê-su Ki-tô đã hứa với các tông đồ và những người kế
vị, là Ngài sẽ luôn nhắc nhở họ về những lời Chúa dạy, và Ngài
vẫn tiếp tục làm điều đó. Hồng Y có cảm nhận nào về lời hứa đó
không?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Việc Chúa nhắc nhở
không nên hiểu một cách máy móc, như kiểu mình có thể gọi ra một
dữ kiện từ máy vi tính. Đó là một lời hứa có giá trị cho toàn cả
Giáo Hội . Đức Giê-su nói thế này: “Chúa Thánh Linh, người được
Chúa Cha nhân danh thầy sai xuống, sẽ chỉ cho anh em mọi sự và
giúp anh em nhớ tất cả những gì thầy dạy”.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nói thế, có nghĩa là
Ngài không để Giáo Hội phải bước đi một mình, là Ngài không bỏ
rơi Giáo Hội, là Ngài giúp Giáo Hội đổi mới trí nhớ để hiểu ra
và đào sâu những gì trước đây chưa hiểu. Nhưng không có nghĩa là
mỗi cá nhân bất cứ lúc nào cũng có thể đòi cho mình quyền được
nhắc nhở đó; và việc nhắc nhở cũng không tới với Giáo Hội một
cách đương nhiên. Mà Giáo Hội cần phải cầu nguyện và ghi nhớ
liên lỉ, qua đó Chúa Thánh Linh rồi sẽ tác động. Song tôi có thể
nói, một cách nào đó, cầu nguyện chắc chắn đã giúp tôi có nhiều
cảm nhận.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Dù sao cũng đã có
nhiều tín hữu nam nữ tuyệt vời, họ nhìn thấu được những mối liên
hệ lớn lao và trình bày những hiểu biết phức tạp đó một cách tài
tình, để đám đông có thể nắm bắt được.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi nghĩ, cũng một
phần nhờ họ có mặt trong Giáo Hội và cùng sống với đức tin Giáo
Hội, nên họ đã có được ơn soi sáng đó. Giáo Hội có thể mở rộng
chân trời hiểu biết và giúp con người đi sâu vào những gì mà một
mình họ không thể hiểu nổi. Ngoài ra, cũng có những người được
ơn Chúa đặc biệt, mà ta gọi là thánh, nhờ tâm hồn gần Chúa nên
họ có khả năng đi sâu vào lời Chúa hơn và làm cho lời đó trở nên
sống động trước mắt ta.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có phải
tình yêu đã gắn bó ngài với Giáo Hội?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có thể nói như thế.
Giáo Hội là nhà của tôi, đó là đại gia đình của tôi, vì thế tôi
yêu thương gắn bó với nó, cũng như người ta gắn bó với gia đình
mình.Giáo Hội không phải là một sản phẩm tình cờ hay tuỳ nghi
của lịch sử, đặc biệt không phải là một sản phẩm như lịch sử
hiểu. Nhưng với người ngoài, nó thường được xem là một tổ chức
có của và quyền lực, giống như một công ti, nhưng ông chủ ở đây
suốt ngày mặc áo thụng chạy lòng vòng. Trước đây, đại giáo chủ
Lê-ô có lần nói, để có thể hiểu được đôi chút về Giáo Hội, người
ta trước hết phải cởi bỏ đi “cái màn đêm giác quan địa cầu và
màn khói khôn ngoan trần thế”.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có thể tiếp cận Giáo
Hội trên nhiều bình diện. Người ta có thể nhìn nó thuần tuý như
một định chế, như một trong những quyền lực có tổ chức hiện diện
trên thế giới, hay nhìn nó với cái nhìn thuần tuý xã hội. Người
ta có thể bị sứt mẻ vì những biến cố hoặc cá nhân riêng rẽ trong
Giáo Hội. Tuy nhiên, nếu cứ nhìn dưới khía cạnh định chế, ta chỉ
hiểu được Giáo Hội một cách phiến diện.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi thấy xã hội duy lí
và náo động ngày nay bị cám dỗ nhìn Giáo Hội qua những uỷ ban,
hội đồng và họp hành. Người ta muốn nó phải thực tế và dễ nắm
bắt hơn, muốn nó phải là một công trình của con người, trong đó
rồi ra đa số sẽ biểu quyết những chuyện nên tin hoặc không thể
tin, hoặc những chuyện khác nữa. Nhưng làm như vậy là người ta
càng ngày càng đẩy Giáo Hội xa khỏi chính nó. Giáo Hội, như thế,
sẽ chẳng còn đạt tới được sự sinh động – và dĩ nhiên chẳng còn
vươn được tới Chúa nữa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nếu muốn hiểu đúng
Giáo Hội, tôi nghĩ, ta nên tiếp cận nó từ bình diện phụng vụ.
Đây là bình diện nói lên nhiều nhất về bản tính Giáo Hội, bởi vì
đây là chỗ Chúa luôn tiếp xúc và đổi mới Giáo Hội. Trong phụng
vụ, ta phải sống cuộc sống Giáo Hội qua Kinh Thánh, qua các bí
tích và lời kinh của tín hữu hoàn vũ. Và nhờ thế, như đại giáo
chủ Lê-ô nói, người ta mới có thể gạt đi màn khói làm mờ cái
nhìn của ta và bóc đi những cái dằm trong đôi mắt, để chúng dần
trở nên sáng và thấy được.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Và rồi, người ta sẽ
thấy Giáo Hội trong chiều thẳm sâu hơn. Rằng trong đó gồm cả
cộng đoàn các thánh, hữu danh hoặc vô danh, những người đã ra đi
trước chúng ta. Rằng Giáo Hội hiện thân nơi vô số những tín hữu
gắn bó với Đức Ki-tô. Và rằng nguồn cội của Giáo Hội xuất phát
từ chính Đức Ki-tô. Chúa Ki-tô là động lực làm cho vườn nho sống
và giúp nó đơm hoa kết trái. Trong ý nghĩa đó,Giáo Hội có bản
chất sâu xa hơn là những gì có thể thống kê được, hay những gì
có được qua biểu quyết. Nó là một cơ phận sống được nhờ bởi
chính Đức Ki-tô.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<a name="1._THÁNH_LINH_"><span style="color: #FF0000"><b>1</b></span><span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI"><b>.
THÁNH LINH</b></span></a></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">NHƯ MỌI SỰ
KHỞI ĐẦU…</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">“Phúc cho
anh, Si-mon Ba-gio-na”, Đức Giê-su nói với người đàn ông, mà
tên tuổi được Giáo Hội ghi ấn muôn đời, “anh là Phê-rô, và trên
đá này ta sẽ xây Giáo Hội ta, và mọi quyền lực âm phủ sẽ không
chiến thắng nó được”. Câu nói mở đầu một lịch sử thành công vô
tiền khoáng hậu. Phải chăng, với câu nói đó, chính Đức Ki-tô đã
lập Giáo Hội?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu hỏi, phải chăng
chính Đức Ki-tô muốn có Giáo Hội, đã trở thành một cuộc bàn luận
sôi nổi. Nhiều người bảo không, Ngài chỉ muốn Nước Trời hay một
cái gì khác, chứ hoàn toàn không phải Giáo Hội. Lập luận như
thế, rõ ràng người ta đã không hiểu rằng, không những Đức
Giê-su đứng trong lịch sử cứu độ của dân Do-thái, mà còn không
hiểu cả í định đổi mới dân này của Ngài, nghĩa là Ngài muốn đổi
mới, đào sâu và mở rộng toàn bộ lịch sử cứu độ - và như vậy có
nghĩa là Ngài muốn lập cái mà ta nay gọi là Giáo Hội.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có nhiều hồ sơ thành
lập Giáo Hội trong cuộc đời Đức Giê-su. Bắt đầu từ việc chọn
mười hai tông đồ. Mà chúng ta hiểu đó là biểu tượng của mười hai
chi họ Is-ra-en mới. Rồi tới những lời Ngài nói với họ, và nhất
là trong bữa tiệc li, bữa tiệc được giao và trao tặng cho họ như
là tâm điểm cuộc sống mới của họ. Sự việc càng rõ nét hơn trong
lệnh rửa tội, lệnh truyền giáo và nhiều chỗ khác. Và việc chọn
Phê-rô đứng đầu nhóm tông đồ và làm tảng đá Giáo Hội là một sự
kiện trong gói hồ sơ thành lập đó.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Sau khi
mất, Đức Giê-su hiện ra với các tông đồ ở Giê-ru-sa-lem. Theo
phúc âm Mát-thêu, Ngài nói với các ông: “Bình an cho anh em! Như
Cha đã sai thầy, thầy cũng sai anh em”. Vừa nói, Ngài thổi hơi
vào các ông và nói: “Hãy nhận lấy Thánh Linh!” Có lẽ chẳng ai
trong các ông lúc đó hiểu được chuyện gì sẽ xẩy ra với việc thổi
hơi đó.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đó là một hoạt cảnh
đầy ấn tượng, nó cụ thể hoá việc chọn nhóm mười hai sau ngày
phục sinh. Các tông đồ trở thành những người mang Thánh Linh,
đấng tiếp nối sứ mạng của chính Chúa Giê-su Ki-tô trong họ. Thật
ra lúc đó chẳng ai có thể tưởng tượng được sứ mạng đó sẽ tác
động như thế nào. Đa số trong họ nghĩ tới ngày tận thế đang tới
gần. Họ tin chắc rằng, thời gian giờ đây đã viên mãn, và lịch sử
chẳng còn kéo dài bao lâu nữa. Các tông đồ chỉ cần biết, họ giờ
đây mang trong mình thần linh của Đức Ki-tô, và họ phải mang sự
bình an – đó là cái mới do Ngài mang tới - vượt biên giới
Do-thái ra cho các dân tộc khác nữa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Một chuyện kì diệu đã
xẩy ra sau ngày phục sinh. Vào một chiều tối, Phê-rô, Gio-an và
vài người khác đánh cá trong hồ Giê-nê-sa-ret. Bầu khí chẳng
vui, vì họ không đánh được con cá nào cả. Sáng sớm hôm sau, khi
thuyền cập bờ, họ gặp Đức Giê-su. Các môn đồ không nhận ra
Ngài, dù Ngài nói với họ như một người thân. Ngài nói: “Này, mấy
cậu, có gì ăn không?” Rồi Ngài bảo họ: “Hãy thả lưới bên phải
mạn thuyền thì sẽ có cá”. Không hiểu sao, họ làm theo lời, và
lưới đầy cá đến nỗi không thể kéo lên được. “Thầy đó!”, Gio-an
chợt la lên. Phê-rô phóng mình xuống nước, bơi vào bờ, những
người khác chèo thuyền vào theo. Họ bắt được 153 con cá to, mà
lưới không rách.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu chuyện mang tính
rất biểu trưng và đa nghĩa, lúc này đây ta không thể bàn vào chi
tiết được. Một mẻ lưới kì diệu. Các ngư phủ lưới cả đêm mà chẳng
bắt được gì, và với kinh nghiệm dày dạn của họ, không ai nghĩ
rằng sáng ra mà còn đánh được cá. Nhưng họ nghe lời Đức Giê-su,
trở ra lại, thả lưới và quả được như lời Ngài nói.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đâu là ý nghĩa con số
153 mà Gio-an đã cẩn thận ghi lại, các học giả chưa hiểu. Một số
người coi đó là chữ số tên gọi của Phê-rô. Dù sao, họ coi đó là
dấu chỉ của sự tràn đầy. Đây là một lời hứa vượt lên trên cái
hiện có. Một mặt, nó cho thấy con người chẳng cần nhọc công gì
trong việc bắt cá từ biển trần gian này, để từ đó có được những
con cá người sống động cho Chúa. Mặt khác, nó đồng thời nói lên
hứa hẹn luôn có thể xẩy ra điều không thể xẩy ra, rằng Giáo Hội
luôn vẫn có thể kéo lưới Ki-tô từ bể gian trần chóng qua, và
rằng trong mẻ lưới này của ngư phủ Phê-rô sẽ có vô số con người
được kéo lại với nhau.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Câu
chuyện tiếp tục. Họ đốt lửa, sửa soạn bữa ăn với cá và bánh mì.
Và rồi Đức Giê-su quay sang Si-mon Phê-rô: “Này Si-mon”, Ngài
nói, “con của Jo-nas, anh có yêu thầy hơn các anh em kia không?”
Phê-rô ngỡ ngàng, đáp: “Vâng, thưa Thầy, Thầy biết con yêu
Thầy”. Ngài hỏi đi hỏi lại ông ba lần như thế, lần nào cũng được
trả lời: “Vâng, thưa Thầy, Thầy biết con yêu thầy”. Cuối cùng,
Phê-rô hơi bực, thưa: “Thầy, Thầy biết mọi chuyện, Thầy cũng
biết là con yêu Thầy”. Sau đó, cũng với ba câu, Ngài đã trao cho
Phê-rô sứ mạng lạ lùng: “Hãy chăn dắt chiên của thầy”, “Hãy chăn
dắt chiên của thầy”, và cuối cùng “Hãy chăn dắt cừu của thầy”.
Những điều đó mang ý nghĩa gì?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước hết, các môn đệ
đã bắt cá cho Ngài, và Ngài đã cho các ông ăn. Rốt cuộc thì nỗ
lực của con người được đền bù nhiều hơn bởi tặng phẩm do chính
Đức Giê-su trao ban. Và cuối cùng, thêm một lần nữa, ta thấy ý
hướng sắp đặt người kế vị của Chúa. Lời thú nhận đầu tiên của
Phê-rô, mà chúng ta đã nói tới trước đây, xẩy ra sau khi vụ
thành công ở Ga-li-lê đã lắng đọng, và không còn ai đề cập tới
Đức Giê-su nữa. Nhiều người cho rằng câu nói Phê-rô là đá không
phải do Đức Giê-su nói, mà đó chỉ là điều do người ta thêm thắt
về sau cùng với câu chuyện phục sinh. Nhưng các Tin Mừng đã cố
tình ghi lại câu đó vào một thời điểm quyết định trong cuộc đời
tại thế của Đức Giê-su; nó đã được đan bện vào khung cảnh đó,
đến nỗi không thể nào tách rời ra được.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong phòng tiệc li
lại có một lời hứa mới với Phê-rô: Ngày nào đã vững, anh nhớ
củng cố anh em. Nghĩa là Phê-rô được giao cho nhiệm vụ củng cố
đức tin cho đồng bạn. Điều quan trọng, là những chứng cứ về
Phê-rô đó xuyên suốt các sách Tân Ước. Trong các Tin Mừng nhất
lãm, trong Tin Mừng Gio-an và thư Phao-lô ta đều thấy vai trò
đứng đầu đó; nghĩa là nhận thức về chỗ đứng đặc biệt của Phê-rô
đã được nói tới trong nhiều vùng truyền thống khác nhau.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tin Mừng Gio-an đoạn
21 trên nói về một nghi thức kế vị. Phê-rô từ đây phải chăm sóc
đàn chiên của Chúa. Và sau đó Chúa nói với ông, trong một tiên
tri về cuộc tử đạo, rằng nhiệm vụ đó chỉ được xây dựng trên tình
yêu đối với Ngài, và chỉ có thể thực thi với điều kiện sẵn sàng
bước vào con đường tử đạo. Như vậy, đối với tín hữu công giáo,
nền thần học đầy đủ về Phê-rô trong Tân Ước đã bằng nhiều cách
nói lên sứ mạng đặc biệt của ngài – và đó cũng là một di chúc
cho Giáo Hội mọi thời.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI"> Đức
Giê-su phục sinh đã truyền cho các môn đệ, anh em chỉ rời
Giê-ru-sa-lem sau khi đã nhận được “sức mạnh từ trời” là Chúa
Thánh Thần. Ngài có một câu đầy bí ẩn: “Gio-an đã làm phép rửa
bằng nước, còn anh em ít ngày nữa sẽ được rửa bằng Thánh Thần”.
Nghĩa là sao?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI"> Đức Giê-su loan báo
về quà tặng Thánh Linh, sẽ được đổ xuống lần đầu tiên trong ngày
lễ ngũ tuần. Câu chuyện đã được thánh Lu-ca thuật lại trong
Công-vụ Tông-đồ. Trong đó, ngài mô tả quà Thánh Linh đã đổ xuống
trên nhóm ưu tú 120 người đang tụ họp với mười hai tông đồ và mẹ
Maria như thế nào. Lu-ca viết sách đó rất cân nhắc, ngài cho hay
việc Thánh Linh hiện xuống là một cuộc tái cưu mang Đức Giê-su,
và như vậy con người Giê-su đã được đón nhận nơi trần gian. Giờ
đây Thánh Linh lại xuống, và như thế Giáo Hội, “nhiệm thể Đức
Ki-tô”, được hình thành để bước vào lịch sử. Điều đó xẩy ra
trong dấu chỉ mưa bão và lửa, và nhất là qua dấu chỉ phép lạ
ngôn ngữ - với những dấu chỉ đó Giáo Hội được thông báo và đón
nhận bằng mọi thứ tiếng. Đó là hình ảnh đối lập với tháp Babel.
Đó là xã hội mới và khác, mà Thiên Chúa giờ đây dựng lên trong
lòng người, nhờ bởi sức mạnh của Thánh Linh là ngọn lửa của
Thiên Chúa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhưng
phải chăng đã có lửa, những lưỡi lửa từ trời rơi xuống thật sự?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cảnh tượng đó thật sự
ra sao, tuỳ mỗi người hiểu. Các giáo phụ, và đặc biệt nền thần
học đông phương, coi biểu tượng đó mang ý nghĩa rất sâu xa.
Thánh Linh hiện ra dưới hình lưỡi, hình lửa, điều đó có nghĩa là
Ngài sẽ ngự lại nơi từng người một. Đó là những hình ảnh cơ bản
nói lên cho ta biết cái còn lại, cái mầu nhiệm của Thánh Linh,
của sự tái sinh Giáo Hội. Và phép lạ ngôn ngữ cũng nói lên cái
mà ta gọi là chất công giáo của Giáo Hội.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">BẢN CHẤT
CỦA GIÁO HỘI</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Giáo Hội
tái sinh. Thế nào là Giáo Hội? Nó phải nên như thế nào? Tại sao
lại gọi bản chất Giáo Hội là tông truyền và công giáo?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tông truyền có nghĩa
mối liên kết hàng ngang của Giáo Hội kinh qua mọi thời đại. Giáo
Hội, trước hết, được nối vào nguồn lịch sử với mười một người
được Chúa chọn (còn mười một người, sau đó Ma-thêu được chọn
thêm vào). Giáo Hội không phải là một huyền thoại hay một ý hệ
bịa đặt, nhưng nó thật sự thả neo nơi biến cố Đức Giê-su Ki-tô
lịch sử, và nó luôn có thể chỗi dậy một cách mới mẻ từ gốc tông
đồ đó. Điều này được biểu lộ không những qua việc Giáo Hội trung
thành với chứng tá và niềm tin của các tông đồ xưa, mà còn cả
qua việc bí tích. Vì thế, chúng ta không thể lâu lâu lại bắt
Giáo Hội phải như thế này hay như thế nọ được. Mà Giáo Hội luôn
phải gắn chặt với nguồn, phải là một tiếp nối liên tục của nguồn
đó. Bí tích truyền chức linh mục cho thấy mối liên kết với cái
nguồn không do ta tự nghĩ ra đó, và đồng thời cho ta biết Chúa
Thánh Linh là đấng bảo đảm cho sự liên tục.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Còn công
giáo?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Công giáo dịch nghĩa
là “bao gồm toàn thể”, là cho hết mọi người. Nghĩa là Giáo Hội
của toàn thế giới, của mọi nền văn hoá và mọi thời. Điểm này rất
quan trọng. Là vì Giáo Hội không bao giờ được hạn hẹp lại trong
một Giáo Hội quốc gia. Nó luôn phải vượt ra ngoài mọi biên
cương. Không được trở thành một Babylon. Giáo Hội có mặt để nhân
loại khỏi bị trấn át bởi cảnh hỗn loạn kình chống nhau. Nó có
mặt để, bằng qua muôn thứ ngôn ngữ, dâng lên Thiên Chúa toàn bộ
kho tàng tốt đẹp của nhân loại - và như vậy Giáo Hội cũng là lực
giao hoà ở ngay giữa chính nhân loại.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Người
công giáo có một lối nghĩ rất đặc biệt. Đó là một cách nhìn
riêng về các biến cố, về con người và tất cả những gì xẩy ra
trên sân khấu thế giới này. Có cách nào để định nghĩa lối nghĩ
đó không ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Khó nói. Tính cách
công giáo thật ra được hình thành và nuôi dưỡng từ toàn thể lịch
sử lòng tin, nhưng hình thái đặc thù của nó đã triển nở đặc biệt
nơi Giáo Hội phương tây. Vì thế, một số yếu tố, mà ngày nay ta
gọi là lối nghĩ công giáo, không đúng cho mọi thời và có thể đổi
thay. Nhờ sự gia nhập của các dân tộc mới, nhờ việc bước ra tiến
vào thời đại mới, mà ta có thể có được những thay đổi, những đào
sâu, những đổi mới.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tôi thấy
hình như tự do đức tin nơi người tin lành bị hạn chế, họ ở trong
tình trạng phải chọn một trong hai, hoặc cái này hoặc cái kia;
còn nơi người công giáo có sự mềm dẻo hơn: Hoặc cái này lẫn cái
kia. Công giáo coi trọng cái liên kết, nghĩa là chấp nhận cả
kinh sách lẫn truyền thống, cả quyền bính lẫn tự do, cả đức tin
lẫn việc lành. Đâu là cái khác đặc thù giữa tin lành và công
giáo ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Khó có thể trả lời một
cách dễ dàng, nhất là khó mà quy vào một điểm duy nhất, mặc dầu
quan điểm hoặc có hoặc không nơi Tin lành khá rõ ràng. Chủ
trương duy Ki-tô – chỉ có Đức Ki-tô mà thôi – rất mạnh trong lối
nghĩ của Luther. Trong khi đặc điểm của Công giáo là cố gắng
tổng hợp. Nhưng nên tránh lối phân biệt bằng những công thức mô
mẫu, bởi vì phía Tin lành có nhiều phái và bên Công giáo cũng
mang nhiều thể - và nhất là vì ta chưa khai thác hết được những
khả thể lịch sử trước mắt.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Dĩ nhiên, Công giáo
luôn bài bác các công thức ‘duy’ của Tin lành, đặc biệt là duy
Kinh, nghĩa là chỉ tin vào Kinh Thánh mà thôi. Công giáo vừa tin
Kinh lẫn những gì tông truyền sống động, bởi vì tông truyền là
chủ thể cưu mang Kinh, nó cũng là chủ thể Giáo Hội giải thích về
Giáo Hội. Điểm “duy tin” cũng mang nghĩa giới hạn, là vì đức
tin, trước hết, là cánh cửa duy nhất qua đó hồng ân Chúa đến với
ta, nhưng rồi đức tin đó, như trong thư gởi Ga-lát nói, phải
được thể hiện trong tình yêu. Ơn công chính hoá của cuộc sống
Ki-tô giáo hệ tại nơi sự hoà tan giữa đức tin và tình yêu. Vì
thế phải phá bỏ cái duy ở đây.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tóm lại, cái khuynh
hướng mở, khuynh hướng mà ta không thể coi thường tầm quan trọng
của nó, chống lại chủ nghĩa loại trừ mang tính một chiều của các
cái ‘duy’ trên, là một trong những cái khác biệt nền tảng.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">TÂM ĐIỂM
CỦA GIÁO HỘI</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tâm điểm
của Giáo Hội, nếu tôi hiểu không lầm, không phải là Vatican hay
giáo chủ, nhưng là một phụ nữ. Một trong những thành tựu lớn
nhất của thần học thế kỷ20 là tái khám phá ra mẹ Maria như là
“hình ảnh cội nguồn của Giáo Hội”. Đặc biệt nhờ thi sĩ Paul
Claudel* mà việc tôn sùng Mẹ gần như bị quên lãng đã thật sự
trổi dậy.Paul Claudel cho hay, khám phá của ông về Mẹ gắn liền
với một kinh nghiệm trong một thánh lễ chiều tối Giáng sinh năm
1886 tại Paris. Ông không háo hức lắm khi dự thánh lễ trong nhà
thờ đức Bà hôm đó, nhưng, lúc hát bài ca Magnificat, ông bỗng
như bị chấn động bởi một tiếng nổ dữ dội. Biến cố đó giúp ông
hiểu rằng tất cả những gì Maria nói đều có giá trị cho Giáo Hội.
Và ngược lại Giáo Hội nhìn thấy qua Mẹ hình ảnh cội nguồn toàn
hảo của mình. Ông cho hay, bản chất của Giáo Hội được cụ thể hoá
trong đức Maria, vì qua ngài ta thấy được nguyên tắc công giáo
về tầm quan trọng của sự cộng tác con người vào ơn cứu độ. “Mẹ
Thiên Chúa”, ông nói, “và Giáo Hội thánh, đối với tôi, là một.
Tôi chưa bao giờ học cách phân biệt hai thực thể đó”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Việc đồng hoá Giáo Hội
với một phụ nữ bắt nguồn sâu xa nơi Cựu Ước, khi Is-ra-en tự coi
mình là vị hôn thê mà Chúa muốn tin cậy và phó thác trong tình
yêu đời đời. Trong tinh thần nối tiếp cuộc sống của Cựu Ước,
Giáo Hội đã lấy lại hình ảnh đó. Ngay Phao-lô cũng gọi
Giê-ru-sa-lem là mẹ chúng ta. Với lối gọi đó, ngài khám phá ra
từ truyền thống do-thái hình ảnh Giáo Hội mẹ; thành phố mẹ này
đã sinh ra ta, trao tặng cho ta sự sống và tự do. Và các giáo
phụ, vì thế, đã lấy lại ý tưởng đó, một ý tưởng cũng đã xuất
hiện trong sách Khải-huyền – một người nữ bận áo mặt trời – và
dùng nó để trình bày bản chất rất thánh của Giáo Hội. Dù các
ngài lúc đó thường chẳng nghĩ gì tới Maria, nhưng trên căn bản,
toàn bộ môn Maria học cũng đã bao gồm yếu tố này. Nói cách khác:
Giáo Hội được cụ thể hoá trong Maria. Và những gì mang ý nghĩa
thần học nơi Maria đều được diễn tả nơi Giáo Hội. Có thể nói, cả
hai hoà nhập vào nhau : Maria là Giáo Hội bằng xương thịt, và
Giáo Hội trong tổng thể của mình là thân xác sẵn đó của Maria.
Như vậy, qua biến cố trở lại trên, Claudel đã thật sự tái trực
giác cái hình ảnh uyên nguyên và nhìn ra mối gắn bó khắng khít
giữa Maria học và Giáo Hội học.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong thế kỷchúng ta,
Hugo Rahner*, anh của Karl Rahner*, chuyên gia lớn về các giáo
phụ, đã trình bày một cách tuyệt vời toàn bộ bản văn của các
ngài, và đã chỉ ra rằng, chỗ nào các giáo phụ đề cập tới Giáo
Hội như một phụ nữ, chỗ ấy đồng thời xuất hiện Maria – và nhờ
vậy đã tránh được việc bó hẹp môn Maria học. Các chuyên gia khác
đang tiếp tục nghiên cứu điểm này. Công đồng Vatican II đã lấy
lại quan điểm trên qua việc nối kết Maria học vào Giáo Hội học.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi nghĩ, trên thực
tế, việc tái khám phá ra mối liên hệ vượt thời gian giữa Maria
và Giáo Hội, việc khám phá ra tính cách con người của Giáo Hội
trong Maria và tính cách Maria chung nơi Giáo Hội, là những phát
hiện lớn nhất của thần học trong thế kỷ20.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có một
giáo chủ ghi nhận : “Ai để tâm quan sát lịch sử Giáo Hội công
giáo, sẽ thấy ngay bàn tay độ trì của Mẹ đồng trinh Thiên Chúa
hiện diện trong mọi biến cố quan trọng của Giáo Hội. Mỗi khi đó
đây lầm lạc nổi lên tấn công sự thống nhất mỏng manh của Giáo
Hội và đẩy nó vào cuồng phong, thì các giáo phụ chúng ta lại tin
tưởng hướng về Mẹ, là người duy nhất chiến thắng mọi lầm lạc
trên thế gian ; và chiến thắng do Mẹ mang tới đó đã đưa Giáo Hội
bước vào những thời kì tốt đẹp hơn”. Nghe tuyệt quá nhỉ.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Người ta đã thi vị
hoá. Đó là lối nói của người xưa: Đức Bà chiến thắng mọi tà
giáo; một công thức xuất hiện trong thời có những tranh cãi về
bản tính Đức Ki-tô. Thời đó, người ta chạy tới Maria để cứu nhân
tính nơi Đức Giê-su, nhưng mặt khác, cũng là để cứu thiên tính
của Ngài, khi người ta cãi nhau về phẩm giá của Maria. Nhờ cuộc
tranh luận về Maria mà mầu nhiệm đồng bản tính thiên chúa và
loài người nơi Đức Giê-su Ki-tô được sáng tỏ. Từ đó nẩy ra lời
cầu đức Bà chiến thắng mọi tà giáo, và lời đó trong nhiều thời
kì đã thực sự trở thành một câu tuyên chiến. Tôi nghĩ, ta nên
nhìn đức Maria như là người ủi an, che chở, và dĩ nhiên như là
cây cầu đưa ta tới Chúa Ki-tô. Mẹ không lấy đi vương trượng của
Đức Ki-tô hay cản ngăn ta sùng mộ Ngài. Mà trái lại, nhờ Mẹ mà
ta mới hiểu được mầu nhiệm to lớn về Đức Ki-tô và mới được ở gần
Con ngài.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">SỨ MẠNG
GIÁO HỘI</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Sứ mạng
của Giáo Hội quá lớn và gần như vượt sức người. Có lẽ người ta
khó mô tả đầy đủ được sứ mạng đó. Thánh Phao-lô có lần dùng chữ
thật kêu để nói về Giáo Hội, bảo đó là cột trụ và nền móng của
chân lí. Ngài nói, đó là thầy dạy đức tin do Chúa cắt cử, đồng
thời có nhiệm vụ canh giữ không để mất chân lí đức tin và không
để sai lầm nào thấm nhập vào giáo huấn. Phải chăng Giáo Hội là
ông từ nghiêm khắc canh giữ đền thánh?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Điều anh nói được
trích từ các thư mục vụ, mà phần lớn các nhà chú giải Kinh Thánh
hiện nay bảo không phải do Phao-lô viết, nhưng ở đây ta không
bàn chuyện đó. Dù sao, những lá thư đó vẫn nằm trong truyền
thống phao-lô ; và, ít nhất trong trường phái Phao-lô, lối suy
nghĩ đó vẫn đang được tiếp tục. Ngay trong các thư quan trọng
của Phao-lô, ta thấy ngài viết rằng, Giáo Hội là kẻ cưu mang
sống động chân lí của Chúa Ki-tô. Giáo Hội có nhiệm vụ giữ gìn
chân lí đó, có thể nói là cột trụ của chân lí đó; và Giáo Hội
cũng sống, truyền bá chân lí đó một cách sống động và dễ hiểu,
để chân lí được triển nở. Chúng ta cũng đã nghe, Giáo Hội luôn
được Thánh Linh hướng dẫn để tìm tới sự thật, vì thế nơi giáo
huấn hai yếu tố trung thành và tiến bộ nối kết với nhau.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Điều đó
không chắc</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Luther đã phản đối
điều đó, bảo rằng, chẳng cần giáo huấn Giáo Hội, chỉ có Kinh
Thánh là đủ. Ông bảo, giáo huấn là kiêu ngạo, mỗi người có thể
tự mình hiểu Kinh Thánh, nếu đọc một cách đúng đắn. Ngày nay ta
thấy càng ngày càng rõ, là kinh sách thường mang nghĩa đôi. Lời
Chúa chỉ sống động trong Giáo Hội, nên phải bước vào trong đời
sống Giáo Hội. Như thế thì ta cũng cần một cơ quan được ủy quyền
diễn giải. Cơ quan đó dĩ nhiên phải hiểu là nó không đứng trên,
nhưng đứng dưới lời Chúa và phải lấy lời đó làm chuẩn.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngoài ra, trong lãnh
vực này, hiện nay cũng đã có những cuộc trao đổi làm hoà giữa
các Giáo Hội. Qua đó, phía Công giáo đã phải bỏ đi một số nội
dung diễn giải lời Chúa, trong khi phía Tin lành đang đưa việc
diễn giải đi vào thẩm quyền của Giáo Hội. Từ những nhận thức đó,
hệ quả sau đây đã nẩy sinh theo thời gian: Nếu lời diễn giải của
Giáo Hội có giá trị bó buộc, thì Giáo Hội phải có một lực đỡ,
một soi sáng nào đó, để Giáo Hội có thể diễn giải đúng như Chúa
Thánh Linh, đấng dẫn dắt mình, muốn. Với lối nghĩ đó, cuối cùng,
huấn giáo không sai lầm (bất khả ngộ) đã hình thành.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Điểm này
hẳn cần phải giải thích thêm</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Để không bị lạm dụng
và hiểu lầm, điểm này, dĩ nhiên, phải được hiểu thật đúng trong
khuôn khổ giới hạn của nó. Không phải mọi lời do giáo quyền hay
giáo chủ nói ra, đều không sai lầm. Nhưng chỉ những gì mà Giáo
Hội, sau những cuộc đấu tranh tinh thần khó khăn trong lịch sử
và qua quá trình cầu nguyện suy tư lâu dài, tuyên bố đây là điều
diễn giải chính thức. Và như thế, nhờ ơn soi sáng, Giáo Hội vạch
ra nơi đây một lằn ranh để giúp con người khỏi rơi vào lầm lạc,
và đồng thời cũng để nói cho họ hay rằng, Giáo Hội không phải là
một dụng cụ phá hoại lời Chúa, song là người Mẹ và là chủ thể,
qua đó lời Chúa được sống động, được phát biểu đúng và được diễn
giải đúng. Nhưng, như đã nói, tất cả phải có điều kiện. Có nghĩa
là tất cả những ai mang trách nhiệm trong Giáo Hội phải phục
tùng những điều kiện đó trong tinh thần trách nhiệm cao. Họ
không được lấy í mình ra để quàng lên Giáo Hội, nhưng phải đứng
vào trong cộng đoàn đức tin chung với tinh thần phục vụ và lắng
nghe lời Chúa. Họ phải để cho lời đó hướng dẫn và tẩy gội cuộc
sống, có như thế họ mới có thể diễn giải lời Ngài đúng được.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Sứ mạng Giáo Hội rõ
ràng cũng bao gồm cả tinh thần đối kháng và nhận lỗi. Với tinh
thần đó, Giáo Hội có một chút gì phản kháng và quá khích và khác
người. Nếu tôi không lầm, thì Giáo Hội luôn chống lại mốt độc
tài. Giáo chủ (Gio-an Phao-lô II) đã dùng tiếng nói tông đồ của
mình để phản đối thế giới và coi đó là nhiệm vụ cao cả của mình
: Hãy phản đối, ngài đã kêu gọi như thế. Chống lại quyền lực của
thực tại, chống lại cái quá trớn của chủ nghĩa vật chất và chống
lại sự mù loà của một thế giới vô đạo đức.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Sứ mạng
của Giáo Hội, hẳn nhiên, bao gồm việc sẵn sàng phản đối và đối
kháng. Ta đã thấy, trong con người luôn có khuynh hướng chống
lại những lời từ trên xuống; họ muốn được thoải mái, muốn được
tự quyết định cái gì họ muốn, bằng cách tự đặt ra những ý hệ, tự
tạo ra cho mình một mốt thời trang và đi theo mốt sống đó.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hãy trở lại lần nữa
với lời tiên tri của Si-mê-on. Ông đã nói về Chúa Ki-tô: Con trẻ
này sẽ là dấu cho người ta chống. Và ta hãy nhớ lại chính lời
Đức Giê-su : “Tôi không đến để đem bình an, nhưng đem gươm
giáo”. Câu nói đó cho thấy sứ mạng to lớn và quan trọng của Giáo
Hội chống lại thời thượng, quyền lực của thực tại và độc tài ý
hệ. Ngay thế kỷtrước, Giáo Hội cũng đã phản kháng lại những nền
độc tài lớn. Và ngày nay, chúng ta đau buồn thấy sự phản đối của
Giáo Hội quá yếu, tiếng nói phản kháng của chúng ta đã không
kiên quyết và đủ lớn cho thế giới nghe. Nhưng cám ơn Chúa đã có
những gương tử đạo. Trong khi giáo triều yếu đi vì tế nhị ngoại
giao, thì các vị tử đạo đã trả giá cái mâu thuẫn đó bằng chính
cuộc sống mình.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hẳn nhiên, không phải
phản kháng vì thích phản kháng, hay là một phản ứng suông hoặc
vì cảm thấy bất lực trước viễn ảnh tương lai. Mà thái độ hay
hành động đó phải luôn mở ra cho cái thiện mọi thời, cho cái mới
gói gém trong mọi thời đó – cái mới đó cũng luôn mở ra những
chiều kích hoàn toàn mới của lời Chúa. Lại nữa, khi hành động,
ta cũng không được vì bất cứ lí do gì đẩy đức tin ra lề hay để
cho nó bị lu mờ đi. Phải chống lại những gì ngược lại với Thiên
Chúa, cho dù vì thế mà mình phải tự chống mình – cho đến phải
can đảm chấp nhận tử đạo.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Đức tin
thường mâu thuẫn với tinh thần thời đại. Tinh thần thời đại,
ngược lại, càng chống lại đức tin nhiều hơn. Chuyện đó chẳng mới
lạ gì. Guardini có lần viết : “Ai sống với Giáo Hội, lúc đầu
thường thấy sốt ruột bực mình, vì Giáo Hội luôn cứ bắt họ phải
làm ngược lại những người khác”. Người tín hữu, theo ông, cảm
thấy mình lạc hậu trước dư luận đương thời, mà thoạt tiên người
ta luôn coi là tiến bộ hơn mình. Ông viết : “Nhưng khi miếng vải
bịt mắt được gỡ ra, họ nhận ra Giáo Hội luôn kéo con cái mình ra
khỏi lối đi của quyền lực thời đại và giữ họ lại theo cái đang
có. Thật lạ lùng, không ai có được thái độ hoài nghi và độc lập
nội tâm trước “cái mà mọi người đều nói” hơn là người thật sự
sống với Giáo Hội”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vâng, những điều giáo
sư ấy viết ra cũng phản ảnh cuộc đời của ông. Thời Guardini ngồi
trên ghế đại học là lúc gia sản chủ nghĩa tự do còn rất mạnh,
ngay cả trong thần học công giáo. Giáo sư Koch, một trong những
thầy dạy ông ở đại học Tübingen, bị ảnh hưởng chủ nghĩa đó khá
nặng. Dĩ nhiên anh sinh viên trẻ Guardini lúc đó cũng theo thầy.
Chuyện các sinh viên liên đới với một ông thầy ăn nói mạnh bạo,
tự do, bàn về những điều mới lạ vượt khỏi vòng vây truyền thống
và bốp chát lại với Rô-ma, là điều dễ hiểu.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tuy nhiên, trong thời
gian học, cũng là thời gian ông rơi vào mối hoài nghi lớn về đức
tin, rốt cuộc ông đã nhận ra được bộ mặt đích thực của Giáo Hội
qua phụng vụ. Ông cho hay, dù vẫn mê theo thầy, nhưng ông đã
chọn cho mình con đường chống lại tự do, bởi vì suy cho cùng,
theo ông, chỉ có Giáo Hội là thực lực duy nhất dám phê bình lại
chủ nghĩa này. Càng bước theo Giáo Hội, càng đi sâu vào trong
nó, càng tín thác vào đức tin Giáo Hội – sự tín thác này bị coi
là thái độ trẻ con, thiếu độc lập -, ông càng nhận ra mình có
được sự độc lập lớn hơn trước tinh thần thời đại, càng có được
đầu óc tỉnh táo, hơn là đứng ở bất cứ từ nơi đâu khác. Guardini
là một trong những kẻ tiên phong phá bỏ khuynh hướng tự do trong
thần học. Nhờ đó, họ đã đánh thức dậy, cho cả một giai đoạn
khoảng từ 1920 tới 1960, niềm vui lớn nơi Giáo Hội, niềm vui
cùng nghĩ, cùng tin với Giáo Hội. Cá nhân Guardini đã kinh
nghiệm điều đó như thể miếng vải che mắt được lột đi, và ông
bỗng thấy rằng : thì ra vấn đề hoàn toàn khác, không như thiên
hạ nghĩ. Đó không phải là thái độ thiếu độc lập trẻ con, mà là
can đảm phản đối, và đó là sự tự do đối kháng trước dư luận kìm
toả của thời thế Cái tự do đó đồng thời cung cấp cho ta một nền
tảng chắc chắn, nền tảng đó không do Giáo Hội tự nghĩ ra.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Và rồi
những chuyện song song khác cứ thế lạ lùng mở ra…</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vâng.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">THIÊN CHÚA
VÀ GIÁO HỘI</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Chẳng dễ
gì thấy được cái can đảm phản kháng đó của Giáo Hội. Nhiều cộng
đoàn công giáo xem ra mệt mỏi quá rồi. Thiếu trí tuệ và can đảm
để dám nghĩ vượt ra ngoài những dư luận và chủ nghĩa tân tiến
thường ngày, để còn muốn bảo vệ nền tảng vững chắc của đức tin.
Nhiều ki-tô hữu theo thời muốn tốt nhất trở thành một công ti
dịch vụ, qua đó dùng các cuộc thăm dò dư luận để đáp ứng nhu cầu
thành viên mình. Ngay cả các giám mục cũng cho ta cảm giác là
Chúa Thánh Linh đã bỏ họ từ lâu rồi.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có thể nói được rằng :
Phải chăng thời điểm của Giáo Hội đã thật sự chấm dứt ? Và biết
đâu, có thể Chúa đã bỏ Giáo Hội, Ngài chán ngấy Giáo Hội và đã
ẩn mặt rút lui, ít ra trong một thời gian ?</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có những mệt mỏi của
Giáo Hội, và chắc chắn có sự kiện “trụ đèn chỗ nào đó đã bị
khuất đi”, như trong Khải-huyền nói. Chỉ cần nghĩ tới thế kỷ16.
Sách vở hiện có về thời đó cho thấy Giáo Hội đã chạy theo thời
như thế nào, giám mục đã yếu tin như thế nào. Họ đã trở thành
một thành phần của hệ thống, chẳng còn là chứng nhân sống động
của đức tin, chẳng còn khả năng tông đồ và tử đạo. Họ nhìn trước
nhìn sau tìm lối thoát tốt nhất cho mình, và chỉ nỗ lực làm sao
đừng để những điều xấu hơn xẩy đến. Giáo Hội thời đó như ngủ
quên, gần như tiêu vong.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tình trạng như thế
luôn có thể xẩy ra. Chúa Thánh Linh làm ta xấu hổ, là vì cứ mỗi
lần như thế, đâu đó bỗng nhiên lại có làn gió canh tân cần thiết
hoàn toàn từ bên ngoài thổi vào. Những lực canh tân thời đó là
Tê-rê-xa ở Avila và Gio-an thánh giá, là I-nhã ở Loyola và
Phi-lip Nê-ri và những người khác như thế. Thoạt tiên, giáo
quyền ngỡ ngàng và sợ hãi trước những biến chuyển đó, nhưng rồi
cuối cùng chúng được nhìn nhận như là những bước đổi mới thật
sự.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Rõ ràng Giáo Hội có
mệt mỏi. Có thể Giáo Hội trong cả một vùng văn hoá nào đó mỏi
mệt và ngã đổ. Qua bảy lá thư gởi bảy Giáo Hội, sách Khải-huyền
điển hình cảnh cáo về tương lai : Coi chừng, nếu không thì tôi
sẽ xô ngã cột đèn. Quả thật, sau những cơn bão tố Islam, không
những Giáo Hội ở Tiểu Á, một thời là con cưng của Giáo Hội hoàn
vũ, mà cả Giáo Hội ở Phi châu, đã biến mất. Dĩ nhiên, việc suy
sụp của các Giáo Hội thời đó không đơn giản chỉ do mệt mỏi,
nhưng bạo lực của kẻ xâm chiếm cũng là một yếu tố phải kể đến,
bạo lực đó đã cày nát nhiều lớp dân chúng. Nhưng dù sao, chuyện
như thế có thể xẩy ra.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Lời hứa của Đức Ki-tô
: “Ta sẽ ở lại với anh em mọi ngày cho đến tận thế” không có
nghĩa là từng giáo phận đã có được bảo chứng tồn tại mãi mãi.
Nhưng lời đó có nghĩa là, cho tới ngày Ngài lại đến, Giáo Hội
chân thực sẽ là nơi Ngài ngự, là cơ thể, là thịt, là vườn nho
của Ngài.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có lẽ
Chúa không để cho Giáo Hội hoàn toàn sụp đổ. Nhưng có liều lĩnh
lắm không, nếu như giờ đây ta muốn bắt đầu làm lại một cái gì
hoàn toàn mới? Như vậy, sẽ có một Cựu Ước, một Trung ước và một
Tân Ước. Người ta vẫn nói, cái gì có ba thì tốt.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Điều đó Gio-a-kim ở
Fiore* trong thế kỷ12 cũng đã nghĩ tới. Ông cho rằng lịch sử
phải phù hợp với ba thời của ba ngôi Thiên Chúa. Thời Cha, thời
của Cựu Ước, là thời của lề luật nghiêm nhặt. Thời Con là thời
của Giáo Hội đã giảm nhẹ đi đôi chút, để bước sang thời Thánh
Thần, là thời của một Giáo Hội tinh thần hoàn toàn mới. Giáo Hội
tinh thần sẽ làm hoà lại Đông với Tây, Do-thái giáo với Ki-tô
giáo, sẽ mang lại tự do đích thực của lề luật. Lí thuyết đó đã
tạo nên những cơn sóng lịch sử lớn. Thoạt tiên, một phần dòng
Phan-sinh coi mình là Giáo Hội tinh thần mới đó. Tư tưởng kia
sau đó đi vào thế tục với sản phẩm “đệ tam quốc-xã” của Hitler.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Henri de Lubac đã viết
hai tập sách dày về những hậu quả do tư tưởng Gio-a-kim gây ra.
Trong đó, tác giả cho thấy tư tưởng đó đã tạo ra những tranh cãi
thần học lớn như thế nào, khi nó khiến một phần dòng Phan-sinh
tự coi mình là Giáo Hội thánh chân thực và đã chống lại một giáo
triều đã bị tục hoá. Trong sách, tác giả cũng phân tích cho thấy
lịch sử đã không chia thành ba thời kì như Gio-a-kim nghĩ. Toàn
bộ lịch sử là thời gian của một Thiên Chúa ba ngôi. Giáo Hội
(sống chân thực với sứ mạng mình) là Lời cuối cùng của Thiên
Chúa trong lịch sử, bởi vì Đức Ki-tô là Lời sau hết của Ngài, là
toàn bộ Lời của Ngài. Giáo Hội có thể triển nở ra muôn mặt,
nhưng nó không thể trở thành một cái gì khác. Nó phải thật sự
phản ảnh lời hứa : Ta ở với anh em, bên anh em, với Giáo Hội này
cho tới tận thế. Còn mọi thứ khác đều là tự chế, là sản phẩm của
con người, chúng đến rồi đi.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chúa Kitô nói: “Chúng
có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ
là giới luật phàm nhân”. Bản tường thuật lời tuyên bố song song
trong Thánh Mác-cô, Người nói tiếp: “Các ông thật khéo coi
thường điều răn của Thiên Chúa để năm giữ truyền thống của các
ông” (Mc 7,9).</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Kitô-giáo trên thế
giới đầy dẫy truyền thống. Một trong những truyền thống rộng lớn
nhất là cái nhìn truyền thống về Giáo Hội thời Tân Ước. Đa số
các thừa tác viên, các nhà thần học và những kẻ cuồng tín đều
định nghĩa một cách đặc trưng Giáo Hội theo cách nầy: “Tất cả
những ai chân thành tin nơi Chúa Giêsu Kitô như là Đâng Cứu Tinh
của họ, làm thành Giáo Hội đích thực”. Điều nầy thường được kèm
theo với tuyên bố quen thuộc nầy: “Có nhiều con đường dẫn tới
thiên đàng” hoặc “có nhiều nan hoa của chiếc bánh xe ơn cứu
rỗi”. Mặc dù Kinh Thánh không dạy rằng thiên đàng là phần thưởng
cho người được cứu thoát, nhưng hàm ý rõ ràng của những điều nầy
là người ta có thể tin vào những gì họ muốn, hoặc là một thành
phần của bất kỳ nhóm nào do họ chọn lựa và bao lâu họ còn là
Kitô-hữu, thì họ vẫn còn nhận được bất kỳ điều gì là ơn cứu rỗi.
Trong khi người ta có thể chân thành tin vào những ý tưởng
truyền thống nầy, thì họ lại bị sai lầm một cách chân thành.
(Trích Đâu Rồi Giáo Hội Thật Của Chúa, David C. Pack)</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<a name="2._ĐẶC_SỦNG_"><span style="color: #FF0000"><b>2</b></span><span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI"><b>.
ĐẶC SỦNG</b></span></a></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">GIÁO HỘI
SƠ KHAI</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Không một
vị thiên sai nào để lại cho tín đồ mình một của nợ thế chấp lớn
như Đức Giê-su đã để lại. Ngài tự để bị hạ nhục, bị tra tấn và
cuối cùng bị giết. Và đã không có gì xẩy ra. Không một toán quân
đến để kéo Ngài ra khỏi tay những kẻ làm nhục Ngài. Con Thiên
Chúa mà lại không tự mình xuống khỏi thập giá. Và cũng chẳng
phải hết mọi người tin vào sự sống lại của Ngài. Giờ đây, môn đồ
Ngài đang quanh quẩn ở Giê-ru-sa-lem. Họ sống một phần nhờ vào
quà tặng. Nhưng cũng nghe kể rằng, những tín hữu tiên khởi đó
sống trong yêu thương và tình anh em : “Mọi người đều cùng một
tâm một trí. Không ai trong họ phải khó khăn túng quẫn”. Làm sao
mô tả cái Giáo Hội nguyên thuỷ đó ? Đó là một kiểu công xã cộng
sản ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Người ta đã hay so
sánh Giáo Hội đó với công xã cộng sản. Nhưng không đúng, vì một
đàng là một tổ chức nhà nước trói buộc, một đàng là một cộng
đoàn hình thành từ tự do của lòng tin, từ lời rao giảng của các
tông đồ trong ngày lễ ngũ tuần.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Sách Công-vụ Tông-đồ
cho ta hay, lời giảng đó đã đi vào lòng người như thế nào. Lời
đó đã chạm tới con tim và đã rúng động nó ra sao. Người ta đã
cảm nhận được cái gì thực sự mới mà họ đang chờ đợi ; mình phải
thay đổi, mình phải quay về nẻo chính. Chỉ trong vòng một ngày
có tới 3000 người rửa tội, sách viết như thế. Và Giáo Hội tiên
khởi đã hình thành từ đó, lúc họ còn đang sống trong nỗi hân
hoan của Thánh Linh, trong cảm nhận trực tiếp của ngày ngũ tuần.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Những con người đó đã
thực hiện được một cộng đoàn trong đức tin kiểu mẫu – dĩ nhiên
không phải có thể áp dụng cho bất cứ ở đâu - : không để ai trong
họ phải nghèo đói, họ chia sẻ cho nhau và cùng chung nhau một
trái tim, một tâm trí. Trong lịch sử, khuôn mẫu cộng đoàn đó
luôn là một cái gai khó chịu cho một Giáo Hội đã tục hoá, sống
theo mẫu mực trần thế.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cả cuộc sống dòng tu
cũng hình thành theo lý tưởng trên. Thánh An-tịnh đã đem câu „
họ sống cùng một tâm một trí với nhau trong một cộng đoàn“ làm
trọng điểm áp dụng cho luật dòng của ngài. Ngài hi vọng giáo
phận mình ít ra sẽ giữ được ngọn lửa sống động của Giáo Hội tiên
khởi, nhờ sự có mặt của cộng đoàn tu nhỏ bé điển hình đó trong
giáo phận. Cùng với tiến trình phát triển của Giáo Hội, khuôn
mẫu trên hẳn đã không còn áp dụng được cho bất cứ nơi nào, kể cả
từ thời các tông đồ, nhưng nó trước sau vẫn là cái gai. Vấn đề
là, không được để ai trong Giáo Hội phải nghèo đói, không được
bỏ rơi ai. Đó là đòi hỏi ngày hôm nay đang đánh động ta một cách
cụ thể.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tại sao
những người Do-thái theo đạo đầu tiên lại bỏ tục cắt bì ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đó là cuộc tranh luận
lớn, chủ yếu do Phao-lô tạo ra. Thoạt tiên, người ta công nhận
Đức Giê-su Ki-tô là vị cứu tinh của Is-ra-en. Họ nhìn ra nơi
Ngài một kiểu sống do-thái giáo khác. Nhưng câu hỏi: như vậy
luật cũ, đặc biệt là một thói quen đã có trước luật Mai-sen như
tục cắt bì, còn tiếp tục có giá trị không? Câu hỏi này đã không
có câu trả lời một cách đương nhiên được.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tiến trình đi tới với
những người ngoại giáo diễn ra từng bước một. Đã có cuộc gặp gỡ
giữa Phê-rô với Cornelius, người lính đội Rô-ma. Trong một thị
kiến, Phê-rô thấy tất cả mọi người đều được thanh tẩy, và sự
thanh tẩy đó đến từ đức tin, chứ không phải do máu huyết
Abraham, như người ta lúc đó vẫn tin. Và cuối cùng, khi người
ngoại ở Antiokia bước chân vào đền thờ, họ nghe và muốn đón nhận
sứ điệp của Đức Ki-tô, thì câu hỏi được đặt ra : Nếu giờ đây họ
muốn trở thành ki-tô hữu, thì họ buộc phải tuân theo tục lệ
do-thái hay sao? Họ phải cắt bì ? Từ đó nẩy sinh ra nhận thức:
muốn thành môn đệ Đức Ki-tô, người ta không buộc tuân theo tục
lệ do-thái một cách bề ngoài, nhưng phải bước vào cộng đoàn tinh
thần của Ngài. Nhận thức trên đây chủ yếu do Phao-lô khởi xướng
và đã được công nhận. Nhận thức đó ngài đã lãnh hội được qua
cuộc gặp gỡ đặc biệt giữa ngài với Chúa Ki-tô phục sinh. Chính
Đức Ki-tô là sức mạnh thanh tẩy. Và nghi thức dẫn vào Dân Thiên
Chúa mới đó là phép rửa. Và ai đã nhận phép rửa, chẳng còn cần
cắt bì.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Phao-lô
chẳng phải luôn là người cấp tiến, như ngài đã chứng tỏ trong
việc cắt bì. Trong thư thứ nhất gởi giáo đoàn Kô-rin-tô, ngài đã
nói về địa vị phụ nữ trong Giáo Hội, họ phải đội khăn che mặt
mỗi khi dự lễ, như là “dấu chỉ của sự phục tùng”. Và nữa :
“Trong buổi họp họ phải im lặng. Họ không được phép mở miệng. Họ
phải phục tùng, như luật đã ra. Nếu muốn biết gì, nên về nhà hỏi
chồng. Bởi vì chuyện phụ nữ mở miệng trong buổi họp là điều
không xứng hợp”. Phải chăng đó là sự khinh miệt phụ nữ ? Quan
điểm của Phao-lô đã thắng thế trong Giáo Hội ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngay điểm này, các thư
Phao-lô phải được hiểu theo nhiều cách. Một mặt, câu trên dĩ
nhiên gợi lên ý tưởng phụ nữ phải phục tòng. Đã có người muốn
vứt đoạn đó ra khỏi thư ngài, nhưng làm vậy là vô nghĩa. Mặt
khác, phụ nữ ngày nay cũng hay nại tới Phao-lô, bởi vì họ thấy
nhiều chỗ trong các thư ngài các bà đóng một vai trò đặc biệt và
có sự cộng tác rất chặt chẽ với ngài. Ngài nói với người này, bà
là mẹ của tôi. Với những người khác, họ là “những kẻ mang ách
đồng hành”, những người cùng hợp tác với ngài để phục vụ Tin
Mừng. Một chỗ khác, ngài gọi một bà là tông đồ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nói vậy
thì nghe vậy.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI"> Đức Giê-su đã được
các phụ nữ thông cảm, đi theo và hỗ trợ. Cũng thế, các bà cũng
đã đóng một vai trò rất đặc biệt trong sứ mạng của Phao-lô.
Chẳng hạn như Lydia, cô bán phẩm đỏ ở Phi-li-pi, đã ép ngài và
những bạn đồng hành nghỉ lại nơi nhà cô, và như thế cô đã trở
thành khởi điểm của truyền giáo. Như vậy thì Phao-lô chẳng phải
là “tay tranh đấu cho nam quyền một cách ẩu tả”, như cảm tưởng
tạo ra bởi câu trích trên, nhưng ngài đã tiếp tục làm theo gương
của Đức Giê-su Ki-tô trước đó.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hẳn nhiên, ta cũng
thấy tính cách hai mặt nơi Phao-lô. Ngài là kẻ đã vượt qua luật
lệ do-thái để tới với dân ngoại, và nhờ vậy đã mở ra chiều kích
hoàn vũ cho Giáo Hội ; là kẻ chống lại Phê-rô trong tục lệ ăn
uống. Nhưng cũng một Phao-lô đó là người vẫn coi một số thói tục
cũ là tốt và không muốn bỏ chúng. Mỗi con người, dù sao, đều
muốn giữ lại một góc bảo thủ cho mình, nếu ta muốn nói như thế.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tóm lại, tôi nghĩ, có
hai mặt nơi Phao-lô. Một mặt, ngài không cho phụ nữ giảng trong
phụng vụ. Mặt khác, ngài lại dành cho phụ nữ một vai trò lớn
trong toàn bộ lịch sử Giáo Hội.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">PHAO-LÔ</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Hãy nhìn
nhân vật đó kĩ hơn. Phao-lô ra đời với tên Sao-lô vào khoảng năm
thứ 10 sau công nguyên và tiếp nhận từ cha mình truyền thống gia
đình pha-ri-sêu nghiêm nhặt. Nghĩa là trong ông sôi sục hận thù
và chém giết những tín hữu ki-tô đầu tiên – cho tới khi gặp được
tia sáng trên đường săn người gần Đa-mát, và đã trở lại đạo với
tên Phao-lô. Tiếp đó, ông vào sa mạc, một mình chuẩn bị cho công
cuộc phục vụ mới. Chính ông cũng chẳng hiểu ra được cái bí mật
khiến ông trở thành “thầy dạy cho dân ngoại”, như ông đã viết.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Quả có gì lạ lùng
trong đó. Thật ra ngài là một tay Pha-ri-sêu say mê và cực đoan.
Thái độ cuồng tín đó phù hợp với lòng đạo rực lửa của ngài. Chữ
‘cuồng tín’ đóng một vai trò lớn trong truyền thống Cựu Ước. Từ
“Zelot”, có nghĩa là cuồng tín, cũng mang nội dung đặc biệt
trong thời Đức Giê-su. Phao-lô là một kẻ cuồng tín như thế - và
đã được cải tà qui chính bởi tiếng gọi của Đấng Phục Sinh.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Từ trong làn ánh sáng
đó Phao-lô giờ đây nghe Đấng Phục Sinh nói với mình. Bởi thế,
ngài dám nói rằng, chính mình đã gặp đấng đó thêm một lần nữa,
rằng chính đấng đó đã gọi và ra lệnh cho mình. Và cũng vì vậy mà
ngài cảm thấy ngang hàng với mười hai tông đồ kia. Rõ ràng ngay
từ đầu, ngài đã nhận ra sứ mạng rao giảng cho dân ngoại của
mình. Với Phao-lô, chúng ta thật sự có được một nhân vật kiệt
xuất phục vụ Đức Giê-su Ki-tô, mà nếu không, hẳn chúng ta đã
không thể nói cho lương dân hay biết về Giáo Hội được.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phao-lô lặn lội từ đất
này qua đất khác, nhưng không phải luôn may mắn với số phận.
Ngài đã ghi lại : “Từ thành này sang thành khác, chỉ điều này
Chúa Thánh Linh làm chứng cho tôi, là xiềng xích và tai hoạ đang
chờ tôi”. Ngài bị tống ngục, bị đắm tàu giữa biển, cuối cùng lội
bộ được tới Rô-ma và bị hoàng đế Nero chém đầu năm 67. Ngài phải
là một tay hay cãi. Có lần một thầy cả thượng tế than : “Tay này
là một nạn dịch”. Và ngài đã thoải mái bốp chát lại : “Này bức
tường giả hình kia, Chúa sẽ đánh ngươi”.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhưng rồi
ngài lại làm chuyện lạ lùng, người ta dùng khăn lau của ngài để
chữa lành bệnh. Có lần ngài cạo trọc đầu vì một lời hứa. Lần
khác ngài bực dọc ra lệnh cho thần bói toán rời khỏi người đàn
bà vẫn dai dẳng đi theo ngài suốt ngày. Sau đó thì ngài bị tù,
chuyện chả có gì là khó hiểu. Những người chủ cũ của bà kia buồn
so, vì họ chẳng còn có được lời bói toán nào nữa.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Anh muốn nói đến cuộc
đời phiêu lưu của vị thừa sai nổi tiếng kia. Các thư của ngài
không phải là những luân thư được viết với đắn đo, nhưng chúng
thể hiện cá tính rực lửa của ngài. Các thư đó phản ảnh toàn bộ
nỗi đam mê khổ đau của một con người dấn thân. Chúng cũng cho ta
biết những gì đã xẩy đến cho ngài : bị quẳng cho thú vồ trong
thao trường, bị tống ngục, nhiều lần bị hình phạt do-thái đánh
40 trừ 1 roi, bị cướp trấn lột, bị đau khổ vì bạn bè và kẻ thù,
bị đắm tàu lênh đênh trên biển, và còn nhiều thứ nữa. Thật khó
có cuộc đời nào phiêu lưu và nhân bản hơn đời ngài.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Không
phải Phao-lô bao giờ cũng được báo cáo đầy đủ. Khi tới Ê-phê-sô,
ngài hỏi bà con ở đó : “Các bạn đã nhận Thánh Linh chưa ?” Họ
trả lời : “Chúng tôi chưa bao giờ nghe nói có một Chúa Thánh
Linh”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Dĩ nhiên ngài phải hỏi
xem tình hình tín hữu địa phương, mỗi khi ngài tới một cộng đoàn
nào đó. Xem ra, năng khiếu hạn chế của ngài không cho phép ngài
làm được một số chuyện lớn. Ngài nói về chính mình : Các bạn
cũng biết là tôi không có khiếu ăn nói, tôi không phải là nhà
hùng biện ; và người ta thầm thì về tôi : “đọc thư thì tưởng ông
ấy dữ, nhưng khi tới, thì thấy rất nhẹ nhàng”…</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">… có lần
có người ngủ gục khi đang nghe ngài giảng….</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">… vâng, và người đó đã
ngã qua cửa sổ. Đó là một chuyện. Ngài nói :”Tôi xuất hiện không
với khả năng hùng biện lớn, nhưng với sức mạnh”. Ngài muốn nói
với sức mạnh của Đức Giê-su Ki-tô, sức mạnh đó cũng đã được thể
hiện qua các phép lạ. Rõ ràng ngài đã được trao ban cho khả năng
chứng tỏ đúng lúc về sự hiện diện của chính đấng quyền năng hơn,
đó là Đức Giê-su Ki-tô, và qua đó tự giới thiệu mình như là một
kẻ thuộc về Ngài. Không phải năng khiếu riêng của Phao-lô đã tác
động, nhưng chính sự thật mà ngài phục vụ đã tác động.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nghe nói
Phê-rô thường lấy thư Phao-lô làm dẫn chứng cho tông thư mình.
Tương quan giữa hai vị ấy với nhau thế nào ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Rõ ràng đã có những
căng thẳng giữa hai vị. Trong Kinh Thánh có hai thư của Phê-rô.
Nhưng các học giả không công nhận lá thư thứ hai là do ngài, mà
do một ai đó thuộc trường phái phê-rô viết, thư này có niên đại
rất trễ. Dù sao, thư đó muốn tiếp nối gia sản phê-rô một cách
đặc biệt (và cũng vì thế mà Giáo Hội nhận vào danh sách quy
điển). Thư thứ hai này đề cập tới hiện tượng lạm dụng của
Phao-lô. Thư viết : Ông bạn Phao-lô của chúng ta viết nhiều, có
chỗ rất khó hiểu – và cũng có chỗ ám chỉ sai. Và rồi Phê-rô cảnh
giác, việc diễn nghĩa kinh sách cần phải đi theo đường lối của
Giáo Hội. Thư đó một mặt cho thấy cử chỉ tôn trọng đối với
Phao-lô, người được công nhận là thầy dạy lớn, mặt khác cũng
cảnh cáo đừng lạm dụng hay hiểu sai Phao-lô.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">TRUYỀN
GIÁO</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Đại giáo
chủ Grê-gô-ri-ô lệnh cho các nhà truyền giáo người Anh: „Không
được phá các đền thờ của dân ngoại, nhưng chỉ phá các thần thánh
để trong đó mà thôi. Rồi chuẩn bị nước thánh, rẩy lên các đền
thờ đó. Lập bàn thờ, rồi mang vật thánh của mình vào“. Và tiếp:
„Khi chính dân đó không thấy đền thờ họ bị phá, họ sẽ vui lòng
từ bỏ lầm lẫn mà trở về nhìn nhận và cầu nguyện Thiên Chúa chân
thật“. Cái khôn của Ki-tô giáo là đó. Grê-gô-ri-ô viết: “Vì họ
đã quen giết trâu bò tế lễ quỷ thần, mình nên lập ra những lễ
hội khác cho họ tiếp tục tế“.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Do đâu
cuộc truyền giáo đã thành công vượt bực, vượt qua mọi văn hoá và
ngôn ngữ, như thế? Nhờ vào cách hiện diện khôn ngoan? Nhờ vào
những phép lạ? Hay nhờ vào những mệnh lệnh và phương thức truyền
giáo khôn khéo như của đại giáo chủ Grê-gô-ri-ô?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tại sao cuộc truyền
giáo đã quá thành công và đã bao trùm cả đế quốc nhanh như thế?
Đó là một câu hỏi lớn. Vì nó mang tầm vóc quá lớn, nên ta đừng
nên quá lạm trong câu trả lời. Dưới thời Constantinus*, Ki-tô
giáo chỉ có vài phần trăm, dù được hoàng đế này coi đó là thành
phần quyết định cho tương lai. Thành công nhờ đâu? Là vì tôn
giáo của dân ngoại đã mệt mỏi, và không còn đáp ứng lòng tin cậy
của con người. Nó chỉ còn là một cỗ xe chính trị, chẳng ai tin
vào huyền thoại thần thánh nữa. Ở thôn quê, nó vẫn còn là một
yếu tố thiết thân với đời sống với những cuộc rước xách, nhưng
tại các thành phố, các thần thoại một cách nào đó đã trở thành
trò cười cho thiên hạ. Các thần thoại có nhiệm vụ tạo ổn định
cho Đế quốc (Rô-ma), nhưng khi người ta không còn tin nữa, thì
đương nhiên vai trò ổn định đó không còn.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Vào giai
đoạn sau của Đế quốc Rô-ma, người ta bắt đầu đặt câu hỏi về con
người và thượng đế. Thời đó đã có những phong trào triết học đề
cập tới một thiên chúa duy nhất, nhưng chúa đó là do con người
nghĩ ra, không thể cầu khẩn gì được với vị đó. Giờ đây bỗng
nhiên nổi lên một phong trào cũng rao giảng về một Chúa, nhưng
Chúa này phát xuất từ nguồn gốc tôn giáo.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ở đây phải thêm điểm
này: Ngay từ cuối Cổ thời, trong khi đi tìm một đức tin phù hợp
với lí trí, người ta bắt gặp một lôi cuốn đặc biệt nơi Do-thái
giáo. Nhiều người coi tín ngưỡng độc thần đó là tôn giáo có thể
nối kết với khoa minh triết Hi-lạp, là tôn giáo loan báo một thứ
Chúa mà các triết gia hay các đầu óc khai hoá có thể hiểu được
một cách nào đó. Vì thế lúc đó, nhiều nhóm người được gọi là dân
kính sợ Chúa đã hình thành quanh các đền thờ do-thái, họ không
thể trở thành dân Do-thái được, nhưng muốn bằng mọi cách liên
kết với tôn giáo này được chừng nào hay chừng nấy. Từ đó các tập
thể đó bắt đầu làm quen và thân thiết với Ki-tô giáo. Và vì đối
với Do-thái giáo họ chỉ được làm cảm tình viên ở vòng ngoài mà
thôi, nên dần dà họ trao hẳn niềm tin vào vị Thiên Chúa đã tự tỏ
mình ra và đi tới với con người qua Đức Ki-tô.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Bằng cách đó, có sự
gặp nhau ở đây giữa một tôn giáo đã được thanh tẩy và có thể
hiểu được bằng lí trí, với sức mạnh tín ngưỡng của một đức tin
hoàn toàn không do con người nghĩ ra, nhưng được ban tặng và
kinh nghiệm từ Thiên Chúa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">QUẢ LÀ MỘT
THỜI ĐIỂM LÝ TƯỞNG.</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Về những
yếu tố cơ bản giúp ta hiểu sự thành công ban đầu của Ki-tô giáo,
tôi hiểu như vầy: Thứ nhất đó là sự tinh ròng của đức tin Ki-tô
giáo, rồi tới cái dễ hiểu của nó, và cuối cùng là yêu sách đạo
đức của đạo này, một tôn giáo đã làm sống lại các định đề triết
học khắc kỉ một cách trong sáng dễ hiểu trước một thế giới đã
mục nát. Và nhất là Ki-tô giáo đã mang lại một yếu tố hoàn toàn
mới lạ vào thời điểm đó, đó là bác ái Ki-tô giáo; đây được coi
là một chứng thực của đức tin, thể hiện qua việc chăm sóc những
người đau khổ, một điều từ trước tới giờ chưa hề có. Yếu tố này
làm cho bộ mặt Thiên Chúa trở nên thật đáng tin. Qua nó, người
ta nhận ra đó là một Thiên Chúa mới và thật.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong tương quan với
ngoại giáo, đã có nhiều diễn tiến phức tạp. Xét chung, cuộc
truyền giáo không thống nhất. Đã có những nhà truyền giáo cuồng
tín, họ đập phá các đền thờ ngoại giáo, coi đó là những thứ phục
vụ ngẫu thần, cần phải dẹp triệt để. Người ta thấy có điểm tương
đồng nơi triết học của dân ngoại, nhưng nơi tôn giáo họ thì
không, vì nó xem ra nặng tính chất thoả hiệp.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Lúc đại giáo chủ
Grê-gô-ri-ô khôn ngoan muốn vận dụng sự liên tục của lòng đạo
nơi con người vào lối truyền giáo của mình, thì tôn giáo của
lương dân từ lâu đã chẳng còn là một lực cạnh tranh nữa. Nó đã
kiệt sức từ lâu rồi. Tuy nhiên, lệnh của Grê-gô-ri-ô yêu cầu bảo
tồn sự tiếp nối những gì thánh thiêng đã trở thành một quy luật
Ki-tô giáo. Cái nhìn của ngài thật thâm sâu. Ngài hiểu rằng, các
tôn giáo tiền Ki-tô giáo, dù mang nhiều nội dung trái ngược, vẫn
là một tìm kiếm, một ngưỡng vọng về Thượng đế. Vì thế, thay vì
cắt đứt những tâm tình tín ngưỡng trong sáng này, ta nên tìm
cách nối vào chúng và làm biến đổi chúng. Như vậy, mình vẫn ở
trong cái liên tục của không gian thánh thiêng, nhưng đã đưa vào
đấy một nội dung mới.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Năm 1492,
với con thuyền Santa Maria, Christophus Columbus đã tìm ra tân
thế giới. Ông đặt tên cho hòn đảo nơi đặt chân đầu tiên là San
Salvador. Đó là khởi đầu của một cuộc truyền giáo vô tiền khoáng
hậu, Ki-tô giáo hoá toàn lục địa châu Mĩ. Cuộc truyền giáo ở
châu lục này, dĩ nhiên, đã không hẳn chỉ có vinh quang. Bên châu
Phi, mãi cho tới trong thế kỷ19, Ki-tô giáo vẫn bị Islam cản
bước ở miền bắc và đông bắc. Cả Ấn-độ và Trung-hoa, hai vùng
đông dân nhất thế giới, Ki-tô giáo cũng chưa bén rễ được. Tại
sao?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Anh nói đúng, Ki-tô
giáo trong hai vùng văn hoá lớn Ấn-độ và Trung-hoa vẫn chỉ mới
tạm có mặt hoặc chỉ mới thành công trên một vài nơi nhất định.
Trong thế kỷthứ 5 và 6, các đoàn truyền giáo thuộc phái
Nestorius đã xuống tới Ấn và Trung-hoa. Họ đã để lại đó dấu vết
và có lẽ cả ảnh hưởng trên việc tổ chức Phật giáo, nhưng rồi lại
biến mất. Tại sao? Theo tôi – mà có thể cũng rất sai – là vì hai
nơi đó đã sẵn có một nền văn hoá cao rồi. Trong khi các tôn giáo
bộ lạc ở Phi châu, khi đối diện với các nền văn minh lớn, đã mở
ra để đón nhận cái mới – mà cũng bởi vì chúng chỉ là những văn
hoá bộ lạc, nên chúng phải biến đi -, thì ở Ấn và Trung ta có
những nền văn hoá cao, trong đó tôn giáo, nhà nước, trật tự xã
hội – chẳng hạn như lối phân cấp xã hội mang tính tôn giáo ở Ấn
- quyện vào nhau không rời và những nền văn hoá đó cũng bước đi
trên một tầm mức tinh thần cao và lớn. Ấn-độ và cả Trung-hoa có
một triết lí tôn giáo cao. Việc chuyển tiếp sang Ki-tô giáo ở đó
khó hơn, là vì người ta nghĩ rằng, họ đã có sẵn một hình thái
tối ưu rồi, trong đó sự tổng hợp của nhà nước, triết lí, lí trí
và tôn giáo đề kháng lại những gì lạ từ ngoài vào. Tuy nhiên, ở
đây ta phải nói thêm, sự có mặt của Âu châu từ thế kỷ19 đã làm
bộ mặt Ấn giáo biến đổi nhiều. Những gì do loan báo, chẳng còn
mang* hay Radha Krishan*các khuôn mặt quen thuộc như Ghandi tính
chất ấn giáo thuần tuý nữa, nhưng là một Ấn giáo pha trộn nhiều
yếu tố Ki-tô giáo. Rõ ràng, Ki-tô giáo đã không thể bám rễ được,
nhưng nó là một thứ lực đổi mới được Ấn giáo hút vào cho mình.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Trường
hợp ngoại lệ: Hàn quốc. Hình như thông điệp Đức Ki-tô đã trực
tiếp đi vào lòng người ở đây mà không do các thừa sai. Chuyện đó
xẩy ra thế nào?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đã có một nhóm người
Hàn theo học ở Trung-hoa và họ đã tiếp xúc với các linh mục
Ki-tô giáo. Từ động lực ban đầu đó, khi trở về quê hương, họ tự
học Kinh Thánh, xác tín rằng đó là lời Chúa thật và đã cố gắng
mang Lời đó ra thực hành – nhưng luôn với tâm vọng là được nối
kết với Giáo Hội hoàn vũ. Thoạt tiên, tâm vọng đó đã không đạt
được, và trải qua nhiều thời kì họ bị bách hại nặng nề.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Quả thật đó là một
diễn biến lạ lùng. Một đàng, động lực đưa họ tìm về Đạo là Giáo
Hội sống động chứ không phải chỉ có Kinh Thánh. Nhưng mặt khác,
khi đã bị đánh động, họ quay ra tìm hiểu kinh sách. Và cuộc gặp
gỡ kinh sách đã đưa họ vào Đạo, nhưng không phải giữ Đạo trong
tâm tưởng, mà đã trở thành cộng đoàn nối kết chặt chẽ với Giáo
Hội sống động.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Sẽ còn có
người ở đất Á châu vào Đạo? Hay cánh cửa vùng này đã được khép
lại?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi nghĩ, ta không nên
đóng khung hi vọng. Như ta thấy đó, nhờ qua các trý thứcẤn mà
men Ki-tô giáo đã dậy được trong Ấn giáo. Con số những người Ấn
kính thờ và yêu mến Đức Ki-tô - thoạt tiên người Ấn coi Đức
Ki-tô chỉ là một trong nhiều vị thần cứu độ - lớn không thể tả,
lớn hơn nhiều so với con số tín hữu Ki-tô giáo.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nước Nhật tỏ ra đặc
biệt khó khăn đối với Ki-tô giáo. Dân Nhật thích học trường
Ki-tô giáo, thích phong tục Ki-tô giáo, ngay cả thích được làm
phép cưới trong nhà thờ công giáo, nhưng tinh thần của người
Nhật thì lại dị ứng với Ki-tô giáo. Trung-hoa thì đang nằm dưới
quyền lực ý hệ. Ý hệnày được coi là lực duy nhất để đoàn kết
dân, giữ bản sắc dân tộc và tạo đà cho họ tiến vào thế giới.
Nhưng nơi đây cũng có tín hữu dấn thân lạ lùng cho Chúa Ki-tô,
có thể nói họ là men trong bột. Vì vậy có thể nói lịch sử chưa
chấm dứt trên miền đất này.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hẳn có nhiều vùng Á
châu hiện chống lại Ki-tô giáo rất mạnh, coi đó là Đạo ngoại
bang. Ta đã thấy lòng thù hận ở Ấn đối với Giáo chủ công giáo
như thế nào, đã thấy dân ở đó chống ý niệmcải đạo và phúc âm hoá
ra sao. Phản ứng thật gay gắt. Nhưng cũng có thể hiểu như vầy,
sở dĩ người ta chống, là vì người ta cảm thấy đó là một sức mạnh
thật sự. Hiện lúc này chưa thể có được một dự đoán tương lai
nào, nhưng ta cũng không nên bực dọc mà bảo rằng miền đất đó đã
có chủ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Trên
nhiều quốc gia vẫn không ngừng xẩy ra những cuộc bách hại Ki-tô
giáo, mà dư luận phương tây chẳng quan tâm gì tới.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vâng, trên nhiều quốc
gia. Ta đã thấy ở Trung-hoa, đã chứng kiến ở Việt-nam, trên toàn
vùng đông dương. Ta cũng thấy diễn tiến đang trên đà nguy hiểm ở
Ấn-độ. Ta thấy sinh lộ của đức tin luôn phải trả bằng giá máu.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">GIÁO CHỦ</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhiều
người cho rằng Giáo Hội là một cỗ máy quyền lực ghê gớm.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đúng, nhưng người ta
phải hiểu cho rằng cơ cấu đó là để phục vụ. Giáo chủ không phải
là kẻ trị vì tối cao – mà, nói như đại giáo chủ Grê-gô-ri-ô, là
: “người phục vụ tất cả những kẻ phục vụ Thiên Chúa”. Tôi muốn
nói rằng, ngài là kẻ bảo đảm cho sự vâng lời, để Giáo Hội không
bị uốn theo í muốn con người. Chính giáo chủ cũng không thể nói,
tôi là Giáo Hội, hay tông truyền là tôi, mà trái lại, ngài bị
trói buộc, ngài là biểu tượng của sự trói buộc đó của Giáo Hội.
Nếu trong Giáo Hội nẩy ra cám dỗ muốn làm khác đi, muốn bỏ bớt
đi cho thoải mái, thì ngài là người sẽ tự hỏi, chúng ta có được
phép làm như thế không?</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Giáo chủ không phải là
một cơ quan, để người ta thông qua đó mà thay đổi Giáo Hội,
nhưng ngài là bức tường bảo vệ chống lại sự chuyên quyền. Lấy
một thí dụ: Theo Tân Ước, hôn nhân là bí tích không thể tháo gỡ.
Giờ đây, nhiều người bảo rằng, giáo chủ đương nhiên có thể sửa
điều đó. Không, ngài không thể sửa được. Tháng 2 năm 2000 ngài
đã đọc một diễn văn quan trọng trước các quan toà Rô-ma, và cho
biết, trước trào lưu muốn tháo gỡ mối dây ràng buộc đó, ngài
không thể làm tất cả những gì mình muốn, mà trái lại, phải luôn
nhắc nhở chúng ta về sự vâng lời, hay cũng một ý nghĩa đó nhưng
nói cách khác, là ngài phải tiếp tục thi hành động tác rửa chân.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ghế giáo
chủ là một trong những định chế mê hoặc nhất trong lịch sử. Bên
cạnh những hoàng kim, lịch sử cũng cho thấy những hố thẳm của
định chế đó. Chẳng hạn Biển-đức thứ IX bị cách chức nhiều lần và
đã là giáo chủ thứ 145, 147 và 150 trong Giáo Hội. Ngài nắm giữ
vai trò này lần đầu tiên lúc mới 12 tuổi. Vậy mà Giáo Hội vẫn cứ
trung thành với chức vụ đại diện Thiên Chúa trên trần gian đó.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Với cái nhìn thuần tuý
lịch sử thì ghế giáo chủ quả thật là một cái gì lạ lùng. Nó là
thể chế quân chủ duy nhất - nếu có thể nói được như thế - đứng
vững suốt gần hai ngàn năm, chuyện không thể hiểu được. Nhưng
tôi muốn nói, có một bí mật còn lớn hơn, đó là sự tồn tại của
dân Do-thái. Còn ghế giáo chủ, sự tồn tại lạ lùng của nó cũng
bắt mình phải đặt câu hỏi. Anh đã nói tới một thí dụ tiêu cực
của định chế đó, và nó đã phải trải qua bao nhiêu chấn thương
nặng nề, lẽ ra theo xác xuất lịch sử thì nó hẳn đã phải tiêu
vong, không phải chỉ một lần. Tôi tin Voltaire* đã nói như thế
này, đây là lúc Dalai Lama của Âu châu phải biến đi và nhân loại
sẽ được giải thoát khỏi ông ta. Nhưng, như anh thấy đó, mọi
chuyện vẫn cứ tiếp tục. Điều đó cho thấy rằng, sự tồn tại của nó
không phải do khôn khéo của cá nhân các giáo chủ - nhiều vị đã
ra công giật sập nó nữa là khác – nhưng là do một sức mạnh nào
đó đứng đàng sau. Đó chính là sức mạnh đã được hứa cho Phê-rô.
Quyền lực của hạ giới, của sự chết sẽ không thắng nổi Giáo Hội.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Chúng ta
đã bàn về chuyện bất khả ngộ. Tại sao tín điều đó được hình
thành quá trễ như vậy?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước hết phải hiểu là
có một học thuyết về vai trò Phê-rô – và đặc biệt là việc hành
xử vai trò đó – đã hình thành rất sớm. Trong lá thư của giáo chủ
Klê-men-tô I viết khoảng năm 90 cho giáo đoàn Kô-rin-tô – giáo
đoàn này đang có cơ tách ra khỏi tập thể -, ta đã thấy có đề cập
tới trách nhiệm của Giáo Hội ở Rô-ma và của giáo chủ Rô-ma rồi.
Trách nhiệm đặc biệt đó lại thể hiện rất rõ vào thế kỷthứ hai
trong cuộc tranh luận về lễ phục sinh. Tính cách trung ương của
Rô-ma đã từng bước lớn lên trong Giáo Hội, và nói chung, nó được
tập thể công nhận.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cuối cùng, công đồng
Ni-xê năm 325 đã nói tới ba vị trí ưu quyền trong Giáo Hội, đó
là Rô-ma, Alexandria và Antiochia. Rô-ma luôn được nói tới đầu
tiên, và hai ghế giáo chủ kia cũng luôn có mối liên hệ với
Phê-rô. Trong danh sách tham dự viên các công đồng, các đại biểu
của Rô-ma cũng luôn được ghi tên trên cùng. Rô-ma được kính
trọng như là prima sedes, vị trí ưu tiên, và chính công đồng
Ni-xê đã làm vững thêm hệ thống đó.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Lịch sử các công đồng
kế tiếp càng cho thấy rõ nhiệm vụ đặc biệt của giáo chủ Rô-ma.
Thời đó, giám mục Rô-ma không cai trị với một giáo triều hoàn vũ
liên tục như ngày nay, nhưng mỗi khi có nguy biến, ngài lại có
một nhiệm vụ đặc biệt. Trong cuộc khủng hoảng, mà chút nữa giáo
lý của Arius* sém trở thành giáo lýchung cho Giáo Hội, thánh
Anasthasius đã coi giáo chủ là tụ điểm phải theo. Và còn nhiều
lí chứng khác nữa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Năm 1054 Giáo Hội phía
đông và tây tách rời nhau. Phía đông vẫn công nhận vai trò đặc
biệt của Rô-ma, sự công nhận đó đã không được phía tây nhìn ra
một cách đúng đắn. Kể từ sau ngày phân rẽ, bên Rô-ma đẩy mạnh tư
tưởng về ưu quyền, nhất là với Grê-gô-ri-ô VII. Tư tưởng này
được tăng cường với việc xuất hiện các dòng tu ăn xin, khi họ
quay về với giáo chủ Rô-ma. Số là các dòng này không thuộc vào
một giáo phận nào cả, nên họ cần phải có một cơ quan hoàn vũ
chung. Và chỉ có cơ quan chung này mới có thể tổ chức được một
giới linh mục và các phong trào trải rộng khắp Giáo Hội và, qua
đó, tạo điều kiện cho công cuộc truyền giáo về sau.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Học thuyết ưu quyền
được hình thành từng bước vừa qua lí thuyết lẫn thực hành. Nó đã
được diễn tả thành văn ở công đồng Firenze trong thế kỷ15, nhưng
cũng đã được nói đến cả trong công đồng Lyon vào thế kỷ 13.
Trong công đồng Trento, người ta phải bàn quá nhiều chuyện liên
quan tới khủng hoảng tin lành, nên cuối cùng đề tài phải dành
lại cho công đồng Vatican I. Nhưng tại đây nhiều người đã ngỡ
ngàng, vì nội dung đề tài đã được trình bày quá chặt. Ta biết
rồi, nhiều giám mục đã bỏ ra về sớm để khỏi phải kí tên. Tuy
nhiên, số nghị phụ thiểu số đó vẫn công nhận bản chất học thuyết
ưu quyền không phải là một cái gì xa lạ với đức tin công giáo,
và học thuyết này cũng có nền tảng Kinh Thánh qua các lời hứa
của Chúa với Phê-rô. Thật ra, người ta đã trình bày tín điều với
một sự chính xác mới bằng một hình thức hơi quá mức mà thôi, chứ
nó chẳng phải là gì mới. Nội dung của nó chỉ là gom nhặt và cụ
thể hoá những gì đã diễn tiến và thành hình trong suốt lịch sử.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Phê-rô có
lẽ đã không nghĩ rằng, mình sẽ để lại cho những người kế vị một
việc làm quá nặng nề đến như thế: Là giám mục giáo phận Rô-ma,
giáo chủ phải giải quyết những vấn đề tại chỗ. Trong tư cách
nguyên thủ quốc gia trên “ngai thánh”, ngài phải điều hành công
việc của thành quốc. Lại vừa phải giải quyết chuyện của Giáo Hội
hoàn vũ với tư cách là đức Thánh cha. Phải soạn diễn văn, thư
chung, bài giảng, tiếp các loại khách lớn nhỏ. Rồi với những Bộ,
Toà án, Uỷ ban, Hội đồng về giáo lýđức tin, phụng vụ, kỉ luật,
giáo dục… Rồi cả hàng trăm nhà dòng mẹ, hơn một trăm học viện
v.v. May có đoàn Hồng Y như là ban cố vấn thượng thặng gồm những
chuyên gia từ mọi vùng văn hoá, dày kinh nghiệm suy tư và chính
trị. Nhưng mỗi ngày văn phòng đổng lí lại nhận được cả thùng đầy
ắp giấy, mỗi tờ là một vấn đề cần giải quyết. Các giám mục khắp
nơi tới tấp gởi về những câu hỏi có khi thật nặng đầu. Bên cạnh
đó, giáo chủ còn có cuộc sống tâm linh với giờ nguyện, giờ chầu
và công việc cá nhân riêng tư. Giáo Hội hoàn vũ càng ngày càng
lớn ra – như vậy vai trò và ghế giáo chủ có phải thay đổi không?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vấn đề điều hành công
việc thay đổi theo thời gian. Thế kỷ thứ 8 khác thế kỷ 15, và
thế kỷ 15 lại khác thế kỷ 20. Nhiều điều anh vừa kể không hẳn
phải như vậy. Hãy bắt đầu với quốc gia Vatican: Đó chỉ là một
khung hình hỗ trợ. Tự thân giáo chủ không cần quốc gia, nhưng
ngài cần tự do, cần bảo đảm cho sự độc lập thế quyền, ngài không
được phục vụ cho một chính quyền nào cả.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi dám cả quyết rằng,
sở dĩ ngôi vị giáo chủ ở Rô-ma triển nở được, là nhờ chế độ quân
chủ với Konstantinus đã dời đô về Byzanz. Nhờ đó giáo chủ mới có
được tự do cần thiết. Tôi coi lập luận cho rằng, nhờ có sự hiện
diện bên cạnh của chính quyền quân chủ nên vị thế giáo chủ mới
lớn lên được, là hơi ngược đời. Trong ba thế kỷ đầu, Rô-ma là
chốn chắc chắn nhất để các tín hữu đi vào tử đạo. Cũng vì vậy mà
giáo chủ thời đó được coi là những ứng viên tử đạo. Chỉ sau khi
hoàng triều dời đô sang phía đông, tạo nên ở Í khoảng trống
quyền lực, thì một thứ độc lập tinh thần đã xuất hiện, và nhờ đó
mà giáo chủ chẳng còn phải trực tiếp suy phục một thế quyền
chính trị nào nữa cả. Về sau, Quốc-gia Giáo-hội hình thành, kéo
theo biết bao nhiêu hệ lụy bất hạnh. Và Quốc-gia đó đã kéo dài
cho tới năm 1870. Ngày nay nhìn lại, ta phải cám ơn Chúa là nó
không còn nữa. Thay thế nó, nay ta có một khung hình mới là
thành quốc tí hon Vatican. Quốc gia này chỉ có mỗi một nhiệm vụ
là giữ cho giáo chủ được tự do trong công việc của ngài. Mô mẫu
thành quốc này còn có thể đơn giản hoá thêm được nữa không, hãy
chờ xem.Có những điều khác, mà anh kể ra, cũng không hẳn như
vậy. Không phải tất cả các nhà dòng mẹ đều có mặt ở Rô-ma. Và
giáo chủ phải ra bao nhiêu tông thư, phải viết bao nhiêu diễn
văn, cái đó tùy trường hợp và cũng tuỳ tâm tánh mỗi vị. Dù vậy,
ngài vẫn còn có quá nhiều chuyện phải làm. Bao nhiêu là cuộc gặp
gỡ để giữ liên lạc với Giáo Hội hoàn vũ; bao nhiêu là chuyện
phải quyết định ; rồi làm sao còn phải dành giờ cho việc tâm
linh, cho kinh nguyện – cả là một vấn nạn lưỡng nan.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhưng
ngày nay cũng có nhiều phương thức lãnh đạo hoàn toàn mới?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chúng tôi đang nghĩ
xem việc tản quyền có thể giúp giảm bớt được lượng công việc
không. Chính Giáo chủ trong Tông thư về đại kết đã mời gọi mọi
người đóng góp ý kiến về vai trò giáo chủ và tổ chức giáo triều.
Đã có nhiều vị cho ý kiến. Cựu tổng giám mục Quinn của giáo phận
San Francisco, chẳng hạn, đã đề cập rất nhiều về việc tản quyền.
Chắc chắn có thể tiến hành được nhiều chuyện. Tuy nhiên, tôi cho
rằng các chuyến thăm viếng ad limina của các Hội đồng giám mục
là rất quan trọng, đó cũng là dịp cho những chạm mặt, gặp gỡ.
Cần có chúng để tăng cường mối đoàn kết trong Giáo Hội. Thư từ
không thể thay thế được những gặp gỡ. Không có gì thế được những
cuộc trao đổi, bàn luận, nhìn nhau, lắng nghe nhau.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vì thế, tôi có thể
nói, những hình thức gặp gỡ cá nhân bất nghi thức mà Giáo chủ
hiện nay đang thực hiện, sẽ mang tầm quan trọng trong tương lai.
Chúng quan trọng, cũng là vì nếu không có gặp gỡ cá nhân – xuyên
qua mọi vấn đề và mọi thách đố văn hoá – thì không thể hiểu
nhau, không thể đoàn kết với nhau được.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngày nay, sau những
đắn đo suy nghĩ, càng ngày người ta càng nhận ra nhu cầu về một
tụ điểm đoàn kết, một tụ điểm gần như vai trò giáo chủ hiện đang
đóng. Anh em tin lành nay bảo rằng nên có một biểu tượng thống
nhất, một phát ngôn viên cho thế giới Ki-tô giáo. Và một số
trong họ nói, nếu như chức vụ giáo chủ được thay đổi thích hợp
thì họ có thể chấp nhận. Dù sao, như anh nói, đó là một “việc
vượt sức người”, tưởng như không thể kham nổi. Song mặt khác,
việc đó vẫn có và phải có – nhưng với ơn Chúa, mình cũng có thể
vượt qua được.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tản quyền
– có nghĩa trong Giáo Hội công giáo cũng sẽ có việc chia thành
các vùng thượng phụ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước đây tôi nghĩ
phải tổ chức thành các đơn vị châu lục lớn, nhưng quan điểm này
càng ngày tôi thấy càng không đứng vững. Vùng thượng phụ có
nguồn gốc liên quan tới địa điểm phát xuất của mỗi tông đồ.
Nhưng công đồng Vatican II đã chọn các Hội đồng giám mục làm
hình thức tổ chức cho các vùng lớn. Và trên đó lại có các Thượng
hội đồng châu lục. Châu Mĩ la-tinh, châu Phi, châu Á hiện đã có
Thượng hội đồng với những cơ cấu tổ chức khác nhau. Có lẽ đó là
những cơ cấu thích hợp cho ngày nay. Dù sao, phải có cơ cấu cho
sự hợp tác vùng, nhưng chúng phải được tổ chức linh động để
tránh biến thành những bộ máy quan liêu, cửa quyền. Hẳn các kết
hợp vùng đó sẽ có thể cáng đáng cả những công tác của Rô-ma.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ngài có
nghĩ rằng một ngày nào đó giáo chủ công giáo lại cũng được nhìn
nhận bởi Giáo Hội Tin lành, Chính thống và Anh giáo?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đã có một cuộc đối
thoại thần học trên hình thức với Giáo Hội Chính thống, nhưng
chưa dám đề cập tới đề tài nóng bỏng đó. Một mặt, ưu quyền của
giáo chủ Rô-ma không hẳn xa lạ đối với truyền thống chính thống,
vì trước đây Rô-ma luôn được công nhận ở vị trí hàng đầu. Nhưng
mặt khác, ưu quyền đó đi ngược lại cơ cấu tự trị quốc gia của
bên Chính thống. Có rất nhiều tế nhị lịch sử cản ngăn hoặc gây
khó khăn cho việc công nhận. Có lẽ có một số lãnh vực bớt phức
tạp hơn. Khó hi vọng có một thành công nhanh chóng, nhưng phải
cố gắng đi tới mục tiêu đó.Anh giáo trả lời lại tông thư đại kết
của Giáo chủ với một viễn kiến về vị trí và vai trò của giáo chủ
theo cái nhìn của họ. Đó là một bước xích lại gần Rô-ma. Và với
Anh giáo, đang có một cuộc đối thoại về “Uy quyền trong Giáo
Hội”, nhưng trong cuộc đối thoại này vấn đề công nhận đã không
được đặt ra. Cũng đã có những tiến bộ trong đề tài đối thoại,
nhưng vẫn còn nhiều rào cản dựng lên từ nguồn gốc lịch sử của
Anh giáo. Chờ xem.Tin lành là một đại lượng phúc tạp. Một bên,
có những Giáo Hội truyền thống như Tin lành phái Luther, phái
methodisch, phái presbyterianisch và v.v. Nhiều nơi trên thế
giới họ đang rơi vào khủng hoảng. Ở những nơi đó, trọng lượng
của họ đang chuyển sang các phong trào evangelical, pentecostal*
và bảo căn. Sức sống đức tin các nhóm mới này đang nở rộ và đẩy
những phái truyền thống vào hậu trường. Tổ chức Evangelical và
bảo căn đã là hai đối thủ cổ điển chống lại Giáo chủ Rô-ma.
Nhưng gần đây hai tổ chức này đã có những thay đổi ngoạn mục, vì
họ nhận ra Giáo chủ quả thật là tảng đá biểu trưng chung, vì
ngài cũng như họ chống lại áp lực của tân tiến đang đè nặng trên
Ki-tô giáo. Trên một bình diện nào đó, họ xem Giáo chủ là một
đồng minh, mặc dù các dè dặt trước đây vẫn chưa hết. Tóm lại,
bức tranh đang chuyển động. Chúng ta tin tưởng vào những điều có
thể hi vọng, nhưng cũng cần kiên nhẫn.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">CƠ CẤU NỘI
BỘ GIÁO HỘI</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Giáo Hội
công giáo có một cơ cấu cổ điển, rõ ràng: Dân – Linh mục – Giám-
mục. Và trên tột cùng là Giáo chủ. Phẩm trật (Hierachie) - từ
ngữ này có nghĩa là “quyền cai trị thánh” – bắt nguồn từ Kinh
Thánh, hay từ nhu cầu tổ chức để có một bộ máy mạnh, hữu hiệu?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi chống lại quan
điểm của nhiều người, dịch chữ “Hierachie” ra nghĩa “quyền cai
trị thánh”. Tôi khẳng định nghĩa của nó là “nguồn gốc thánh”. Nó
muốn nói lên rằng, Giáo Hội không hình thành từ các quyết định,
nhưng luôn có thể được tái sinh từ chính Chúa, từ các bí tích.
Với cái nhìn đó, ta cũng có một nhận thức khác đối với chức linh
mục. Ở đây, ta không nói chuyện về một giai cấp cai trị muốn áp
đặt kỉ kuật sắt trong Giáo Hội. Chức linh mục, trái lại, là sự
nối kết Giáo Hội với Thiên Chúa. Nó là sự vượt lên trên chính
mình của một Giáo Hội do Chúa thành lập, chứ không phải do từ
các đại hội, từ các quyết định, từ sự thông thái hay sức mạnh
của tổ chức. Trong ý nghĩa đó, chức linh mục cũng không phải là
thứ có sẵn. Nếu vì thế mà ơn gọi linh mục không còn nữa, thì ta
phải cầu khẩn Chúa, chứ không thể tự mình đơn giản nặn ra được.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Giáo Hội
thường được gọi là “đoàn dân lữ hành”, tín hữu được gọi là “đàn
thú của Chúa”. Có người cũng gọi họ là đàn chiên, nghĩa là một
đàn súc vật chẳng có quyền gì cả, chỉ có việc tin và vâng lời .</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi thấy hai ý
niệm“dân Thiên Chúa” và “đàn thú” không có gì là chống nhau. Đạo
Do-thái phát triển từ nền văn hoá chăn nuôi, nên hình ảnh người
chủ chăn luôn giữ một vị trí quan trọng và hình ảnh đó đã đi vào
Tân Ước. Vì thế ta không nên đi từ hình ảnh làm thân chiên cừu
để xét đoán, nhưng nên đi từ mối tương quan tín thác giữa người
chăn và đàn cừu. “Dân Thiên Chúa” cũng mang ý nghĩa như thế: một
đoàn dân đang trên đường băng suốt qua lịch sử.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ở Í, sau khi Giáo Hội
làm hoà lại với nhà nước thế tục, Pi-ô XI đã cảnh tỉnh giáo dân,
giờ đây phải làm sao có được một cách sống đời giáo dân mới,
nghĩa là làm ki-tô hữu giữa trần thế, và ngài sau đó đã lập ra
tông đồ giáo dân. Tôi thấy, từ sau Công đồng II, nẩy ra chiều
hướng chống giáo sĩ, hô hào giáo dân phải dành lại quyền của
mình trong Giáo Hội.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Quan điểm
đó giờ đây đã trở thành khẩu hiệu chống Rô-ma, đã trở thành một
tín điều cho giới công dân tự do.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Theo tôi, chiều hướng
kia đặt trên một căn bản sai. Họ quan niệm rằng, Giáo Hội giờ
đây phải được cai trị bởi hai giới, giáo sĩ và giáo dân, cả hai
cùng quyết định về số phận Giáo Hội. Họ bảo, giáo dân phải cử ra
các đại diện – và các đại diện đó, ở Đức, có cơ quan cao nhất là
Uỷ ban Trung ương của người công giáo Đức – để nói lên tiếng nói
của giáo dân. Và phía giáo sĩ cũng cử ra đại diện của họ. Hoàn
toàn vô nghĩa. Như vậy thì giáo sĩ để cho ai? Nhất là người ta
còn bảo cả hai giới phải chung nhau nghĩ xem nên tổ chức Giáo
Hội như thế nào, nên giữ lại gì cho kho tàng đức tin. Rằng phải
hạ bệ giáo sĩ và giáo dân phải giành lại tiếng nói của mình.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có người
nghĩ như vậy.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nếu như giáo sĩ có lí,
thì họ cũng chẳng có quyền bắt Giáo Hội phải thế này thế nọ. Mà
họ phải vâng lời Thiên Chúa, mà người bảo đảm cho sự vâng lời đó
là giáo chủ. Giáo chủ là người giữ cho Giáo Hội luôn nằm trong
tay Thiên Chúa, không để nó bị nhào nặn bởi con người. Đó là ý
nghĩa của bí tích truyền chức linh mục, chức xuất phát từ một
nguồn không phải do chúng ta tạo ra. Lại nữa, giáo dân thì có gì
là xấu, đây là bậc sống bình thường của người theo Chúa, nhờ bậc
sống bình thường này mà Tin Mừng được sống và được đưa vào cuộc
sống bình nhật của thế giới. Và mục đích thật sự của tông đồ
giáo dân là làm sao cho đạo Chúa đi vào thế giới và biến đổi nó.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Giới tu
sĩ nam nữ trong Giáo Hội là bậc sống triệt để nhất của người
theo Chúa. Đâu là nhiệm vụ của họ, đặc biệt cho Giáo Hội tương
lai ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có nhiều bậc sống theo
Chúa, với nhiều nhiệm vụ khác nhau. Giáo dân là bậc cơ bản và
không thay thế được, họ sống đức tin trong hoàn cảnh hợp với
ngành nghề của họ, trong môi trường chính trị, khoa học, thủ
công nghệ hoặc những nghề bình thường nhất. Nhưng cũng cần có
một bậc dành toàn cuộc sống mình cho đức tin, họ là trạm nhiên
liệu cho việc rao truyền, cho việc thổi hồn cho Giáo Hội.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi tin rằng những cơ
cấu muôn mặt đó sẽ rất quan trọng cho tương lai Giáo Hội. Luôn
luôn cần có chỗ cho con người có thể thu mình về, nơi đó họ suốt
ngày có thể tham dự vào cuộc sống cầu nguyện, nơi đó lời cầu
kinh thấm đượm nhịp sống của ngày thường. Đó là những kho dự trữ
để đức tin lấy thêm năng lực làm mới mình và toả sáng. Chúng ta
đang kinh nghiệm những điều đó trong tu viện cổ xưa của các tu
sĩ Biển-đức ở Montecassino này. Hoặc hãy nghĩ tới các dòng chiêm
niệm nữ, như của các chị dòng kín, các chị dòng Klara*, chẳng
hạn. Đó cũng là những ốc đảo sa mạc cho nhiều người tìm tới để
tăng cường và đổi mới đức tin mình.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">
Montecassino là một trong những tu viện nổi tiếng nhất của Giáo
Hội la-tinh. Người ta nói, không có tu viện nào lâu đời và xứng
đáng như tu viện này. Vào đúng năm 529, khi người ta xây thành
phố tu viện trên núi này cho các tu sĩ biển-đức, thì đó cũng là
lúc Học viện Platon ở Athen đóng cửa.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi thấy sự trùng hợp
thời gian bất ngờ giữa việc đóng cửa Học viện Platon và việc mở
cửa tu viện Biển-đức ở Montescassino mang một ý nghĩa lớn. Học
viện là biểu tượng cho nền học thuật cổ điển. Montescassino được
coi là học viện cho thế giới Ki-tô giáo. Ta thấy một thế giới
đang qua đi thật sự. Đế-quốc Rô-ma tan vỡ, bên phương tây nó chỉ
còn là những mảng vỡ đang lịm tắt. Đế-quốc tan vỡ kéo theo sự đổ
vỡ của cả một nền văn hoá, nhưng Biển-đức đã giữ nó lại và tái
sinh nó. Như vậy, ngài đã thực hành đúng khẩu hiệu của các tu sĩ
Biển-đức : Succisa virescit – càng cắt ngắn thì nó lại càng mọc
xanh lên. Một cách nào đó việc cắt đứt văn hoá đó lại trở thành
một cuộc lên đường.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Và đó là
khởi nguyên nền tảng văn minh Âu châu.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Các tu sĩ biển-đức
thoạt tiên chỉ muốn giữ truyền thống dòng tu, là trở thành một
nơi cầu nguyện. Họ muốn là nơi tổng hợp việc làm tay chân, biến
đất đai thành vườn tược và phục vụ Chúa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Lý tưởng của cộng đoàn
biển-đức được diễn tả qua câu ora et labora – làm việc và cầu
nguyện. Trên hết là phụng vụ. Nó ưu tiên nhất, vì chính Chúa là
quan trọng nhất. Nó trải ra suốt ngày thâu đêm, thấm đượm và uốn
nắn thời gian và đã triển nở thành một dạng hình văn hoá cao và
tinh ròng. Nhưng tinh thần đạo đức của phụng vụ đồng thời là
trồng trọt làm mới đất đai. Chủ trương làm việc tay chân này đã
đẩy lùi thiên kiến cổ điển, coi đó chỉ là nhiệm vụ của đám nô
lệ. Giờ đây công việc tay chân trở thành một cái gì cao quý, Tin
Mừng Gio-an gọi đó là sự bắt chước đấng Tạo hoá.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cùng với tư tưởng mới
về làm việc, quan điểm về nhân phẩm cũng thay đổi. Xã hội thời
đó nặng tính đẳng cấp, coi con người hoặc là tự do hoặc là nô
lệ. Nhưng tu viện là nơi không còn đẳng cấp, ai vào đó, đều là
người tự do. Và, bắt nguồn từ tự do của Chúa, mọi người đều bình
đẳng và có cùng một sứ mạng là mang Chúa xuống cho trái đất và
nâng trái đất lên cùng Chúa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Với tất cả những cái
đó Montescassino đã cứu và thay thế nền văn hoá cổ điển. Nơi đây
người ta sao chép lại các tài liệu, nơi đây ngôn ngữ được chăm
sóc. Tu sĩ người Pháp Leclerq có lần nói, yêu Chúa và yêu văn
phạm gắn liền với nhau. Muốn hiểu Kinh Thánh, phải đọc nó. Vì
vậy mà khoa học ngôn ngữ đã ra đời và được chăm bón. Đó chỉ là
một thí dụ. Mặt khác, muốn làm vườn hiệu quả, bắt buộc phải
nghiên cứu đất đai. Tóm lại, có thể nói, từ nguồn đạo đức “phụng
vụ và làm việc” - ora et labora – đó, mà một nền văn hoá mới,
văn hoá âu châu, hình thành.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Di chúc
lớn của thánh Biển-đức để lại là bộ luật của ngài. Hẳn tác phẩm
nhỏ nhoi đó là một trong những thành quả lớn nhất của phương tây
- mà sứ điệp thực tế của nó là tạo nên một cuộc sống có “lớp
lang thứ thự” - cho tới ngày nay và mãi mãi vẫn có thể khám phá
ra được nét mới. Ngài ghi chú : “Chỉ cần Kinh Thánh cũng đủ làm
mẫu mực cho cuộc sống rồi”. Nhưng để người mới tập sự có thể
thực hành được luật đó, ngài đã viết ra một hướng dẫn đơn giản,
cho những ai “yêu cuộc sống và muốn thấy một ngày tươi đẹp”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Yếu tố nổi bật của
luật đó là mực thước. Nhiều bộ luật dòng khác quá gắt. Vì ganh
đua nên người ta thường đặt ra những luật quá triệt để, từng cá
nhân sốt sắng có thể theo được, nhưng về lâu về dài không thể áp
dụng cho cuộc sống chung. Biển-đức đã nối kết thành công giữa
cái đòi hỏi gắt gao cần thiết và cái giới hạn của bản chất con
người. Luật của ngài linh động, vì vị bề trên có quyền hạn rộng
rãi áp dụng luật đó tuỳ vào hoàn cảnh do ngài nhận định. Dù vậy,
luật cũng không phải là lỏng lẻo, mà trái lại, nó đề ra một cơ
cấu chặt chẽ : nhất là các giờ kinh nguyện ấn định thời biểu cho
cả ngày lẫn đêm, và cũng cả cơ cấu các bữa ăn và bổn phận làm
việc. Như ta đã thấy, công việc tay chân kéo theo công việc văn
hoá, học chữ để đáp ứng nhu cầu phụng vụ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Một cách nào đó,
Biển-đức được xem như một thứ Mai-sen, người đã đặt quy luật cho
cuộc sống. Nhưng luật của Biển-đức bắt nguồn từ Đức Ki-tô. Và
Đức Ki-tô là người đã làm mới và hoàn chỉnh luật Mai-sen, để nó
có thể trở thành luật sống cụ thể. Trong ý nghĩa đó Biển-đức đã
trở thành một nhà ban hành luật cao cấp của phương tây, và từ
con người văn hoá muôn mặt đó mà cuối cùng một châu lục mới – Âu
châu – đã thành hình, một nền văn hoá đã biến đổi bộ mặt thế
giới.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nếu như văn hoá chúng
ta ngày nay đứng trước cơ nguy mất thăng bằng, như ta đang thấy,
thì đó cũng là vì ta đã lìa quá xa luật ngài. Có lẽ thế giới
chúng ta luôn có thể tìm lại được thế thăng bằng một cách dễ
dàng, nếu ta chịu trở về với luật cơ bản của Biển-đức, bởi nó
chỉ ra thái độ và nhân đức nền tảng mà con người cần có, hầu tạo
thăng bằng nội tâm cho cuộc sống. Không có thăng bằng đó, không
thể có cuộc sống cộng đoàn, và cá nhân không thể trưởng thành
được.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ta tiếp
tục bàn thêm đôi chút về thành quả quan trọng đó của Biển-đức.
Chữ đầu tiên của bộ luật là “lắng nghe” : “Con ơi, hãy lắng nghe
lời dạy của thầy”, rồi Biển-đức thêm : “Hãy ghé tai nghe tiếng
tim con”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vâng, đó là lời mời
gọi lắng nghe, và đây là điều căn bản cho con người. Con người
không được tự mãn, nó phải khiêm tốn để học đón nhận một cái gì
đó – “cúi đầu con xuống”. Nó phải lắng nghe để lần ra ơn gọi
mình. Và nghe không có nghĩa là để một tai vào những gì vừa xẩy
ra chung quanh, nhưng là lắng mình đi vào chiều sâu – hoặc hướng
lên cao, bởi chưng những gì thầy nói đều không ngoài việc áp
dụng Kinh Thánh, áp dụng bộ luật nguyên thuỷ của kiếp người.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Biển-đức
tin rằng, lắng nghe và đáp trả cũng giống như hít vào và thở ra.
Và con người cũng cần học cách chấp nhận mình, nó cần “ở lại
trong chính mình”, cần im lặng, lắng nghe, tìm yên tĩnh cho
mình. Từ hơn 1500 năm nay bộ luật vẫn không mất tính thời sự.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Qua luật biển-đức, ta
thấy cái gì thực sự là người trong đó thì không mất tính thời
sự. Cái gì thật sự toát ra từ chiều sâu thì vẫn là một cách sống
không bao giờ lỗi thời. Người ta có thể phê bình nó, có thể thử
tìm trong đó những hình thức vận dụng khác nhau, nhưng trên căn
bản, quy luật sống đó vẫn luôn mang tính thời sự. Ngay ngày hôm
nay, ta lại thấy cần phải thân thiện với địa cầu, cần coi trọng
những quy luật của nó và bảo tồn tạo vật của nó. Và có lẽ ta lại
bắt đầu thấy cần dành thời gian nghỉ ngơi cho việc phụng vụ,
đừng bắt trí óc đêm ngày chỉ phải bận tâm với chuyện năng suất.
Ta biết việc lắng nghe cũng là một phần của đời sống – bởi lẽ
phụng vụ là việc Chúa đi vào lòng người và là sự lắng nghe. Ta
biết kỉ luật, chừng mực và trật tự có liên quan với nhau ; vâng
lời liên quan với tự do ; cũng thế, việc có thể chịu đựng lẫn
nhau trong tinh thần đức tin không chỉ là quy luật nền tảng của
một cộng đoàn dòng tu, nhưng tất cả những điều trên thật ra là
những yếu tố nền tảng cho việc hình thành bất cứ một cộng đoàn
xã hội nào. Đó là một bộ luật rất người, và nó cũng diễn tả được
cái tính người đó, bởi vì nó nhìn vượt lên trên con người và –
đã nghe và đã nhìn ra được những gì thuộc Thiên Chúa. Con người
chỉ trở thành người khi nó được Chúa đụng đến.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Câu
chuyện sau đây ta không được phép quên. Tên thật người đó là
Gio-an Bernardone. Người ta gọi ngài là Francesco, nghĩa là ´chú
Pháp nhỏ´, vì ngài thích hát nhạc Pháp. Ơn gọi của ngài là cả
một câu chuyện thật cảm động. Có thể nói rằng Franciscus
(Phan-sinh) đã cứu được Giáo Hội khỏi sụp đổ ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Giáo Hội có lẽ chẳng
bao giờ sụp đổ hoàn toàn đâu, nhưng trong cơn khủng hoảng của
Giáo Hội, ngài đã làm được chuyện quyết định để chống đỡ nó. Ai
trong chúng ta cũng biết câu chuyện của giáo chủ In-nô-xen-xô
III. Ngài mơ thấy nguyện đường Lateran đổ và bỗng dưng có người
ghé vai chống đỡ. Ngài cho rằng người đó chính là Phan-sinh và
cho mời tới. Và nhà chính trị tài ba In-nô-xen-xô nhìn ra sức
mạnh cần có cho Giáo Hội nơi anh nhà tu vô chính trị và có cuộc
sống Tin Mừng cực đoan kia. Giáo Hội cần một đổi mới đoàn sủng
từ bên trong, cần một ngọn lửa đức tin mới, chứ không phải chỉ
với khả năng và chiến lược của giáo triều và của trật tự chính
trị là đủ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi tin rằng câu nói
của Đức Ki-tô “Hãy theo tôi”, hãy dứt khoát triệt để theo tôi,
quả mang nhiều kết quả. Bao nhiêu xung lực và câu đáp trả mới đã
không ngừng nẩy sinh từ đó. Và Giáo Hội, mỗi khi trở nên nhàm
chán hay đứng trước đổ vỡ, vẫn không ngừng hi vọng vào những sức
bật mới do Chúa Thánh Linh thúc đẩy từ bên trong. Những sức bật
không bao giờ được chuẩn bị trước, nhưng chúng phát sinh từ
những con người được chúc phúc và chúng làm cho Tin Mừng luôn
mang lại hoa trái mới.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phan-sinh là một trong
những người đó. Sau thời gian tuổi trẻ vui chơi và nông nổi,
bỗng dưng ngài nghe được tiếng gọi triệt để, và hân hoan bước đi
theo Chúa. Ngài bằng lòng với cuộc sống tu trì đang có, chứ
không nghĩ lập ra một dòng mới. Đứng trước nếp sống nặng nề, vô
vị – và bị choáng ngộp bởi ích kỉ - của ki-tô hữu, ngài chỉ muốn
đơn giản rao giảng lại Tin Mừng theo lối mới và góp nhặt người
về cho Chúa. Ngài chỉ muốn trình bày Tin Mừng, nói về bài giảng
trên núi, mà thôi, để khích động bà con ăn năn quay về với Chúa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng từ đó, gần như
ngược lại với ý ngài, một phong trào sống đạo đã hình thành, và
cuối cùng nó đã trở thành khung pháp lí cho một dòng tu. Giáo
chủ nhận ra nhu cầu phải cho phong trào này một khung hình tổ
chức, để làm dụng cụ rao truyền sự hiện diện mới của Tin Mừng,
mà Phan-sinh đang phát động. Nhưng đây rốt cuộc lại là bi kịch
của dòng Phan-sinh : Một đàng, chủ trương sống tin mừng triệt để
đòi hỏi phải có nhiều tự do, phải sống nghèo hơn, chủ trương đó
không thể bị bó hẹp trong một khuôn khổ định chế. Nhưng đàng
khác lại cần có một hình thức nào đó phù hợp cho một cộng đoàn
con người bình thường tổ chức đời sống. Ngọn lửa sống đạo cực
đoan kia thỉnh thoảng đã vượt ra khỏi định chế, nhưng dù vậy
dòng vẫn luôn nhận ra chỗ đứng trong Giáo Hội của mình.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngay chính Giáo Hội
cũng sống trong tình trạng lưỡng nan đó. Một mặt, tất cả chúng
ta phải luôn nỗ lực, triệt để hơn trong việc vượt ra khỏi những
thoả hiệp cuộc sống thường nhật. Nhưng mặt khác, nếu như phải
chấp nhận tiếp tục sống với những thoả hiệp phải có trong thế
gian này, thì ta nên chấp nhận cái gai bất an đó thôi thúc trong
lòng, và hãy mở chính cuộc sống mình và cuộc sống thế giới ra
cho chiều kích lớn rộng của Tin Mừng.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Phan-sinh
đã chẳng bao giờ chịu làm linh mục, tại sao ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngài là một người
khiêm tốn. Ngài sống theo ý nghĩa nguyên thuỷ của lời Chúa, muốn
trở nên bé mọn trước mặt Ngài, vì như Chúa đã nói, chỉ những ai
bé mọn mới thấu hiểu được Tin Mừng. Linh mục trong thời xã hội
đẳng cấp của ngài là giới thuộc cấp cao, ưu đãi, mà một kẻ chủ
trương sống đơn giản phục vụ như ngài không muốn bước vào. Ngài
muốn mình là một người loan báo Tin Mừng tầm thường, một kẻ hát
rong ca ngợi Chúa. Theo truyền thuyết thì ngài đã là phó tế, một
chức vị có quyền đọc Kinh Thánh trong các buổi phụng vụ. Ở đây
xem ra chức phó tế, một bí tích phục vụ, là tác vụ thích hợp cho
cuộc đời ngài.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">GIÀU CÓ
TRONG KHÓ NGHÈO</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có một người đàn ông
mà chúng tôi tìm thấy trong ống cống, một nửa người bị dòi bọ
gậm nhắm và sau khi chúng tôi đem ông về nhà, ông chỉ nói :”Tôi
đã sống như một con vật trên đường phố, nhưng tôi sẽ chết như
một thiên thần, được yêu thương và được săn sóc”. Thế rồi sau
khi được gắp bỏ mọi sâu bọ trên cơ thể, tất cả những gì ông nói,
với nụ cười vui, là :”Thưa Seour, tôi đi về nhà Chúa đây”. Và
ông tắt thở.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thật là tuyệt vời khi
nhìn sự cao cả của con người nầy đã có thể nói như vậy, không
oán trách ai, không so đọ tính toán gì. Như một thiên thần, -
chính là sự cao cả của những ai giàu có về mặt thiêng liêng – dù
họ có thể nghèo về vật chất.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chúng tôi không phải
là những người làm công tác xã hội. Chúng tôi có thể đang làm
công tác xã hội dưới mắt một số người, nhưng chúng tôi phải là
những người chiêm niệm trong lòng thế giới. Vì chúng tôi phải
đem sự hiện diện của Chúa đến trong gia đình bạn, vì gia đình
đang cầu nguyện chung, đang ở chung với nhau. Có quá nhiều hận
thù, quá nhiều lầm than khốn khổ và chúng tôi, cùng với lời cầu
nguyện, cùng với hy sinh của mình, chúng tôi bắt đầu tại nhà
mình. Tình thương yêu khởi đầu tại nhà và đó không phải là chúng
tôi làm yêu thương bao nhiêu, mà là chúng tôi đặt bao nhiêu yêu
thương vào những gì chúng tôi làm…Tôi muốn các bạn tìm thấy ở
đây những người nghèo, trước hết ngay trong chính nhà bạn. Và
tình thương yêu khởi đầu ở đó. Hãy nên Tin Mừng cho những người
của bạn trước hết. Và hãy tìm hiểu về những hàng xóm gần nhà
bạn. Bạn có biết họ là ai chưa? (Chân phước Mẹ Têrêxa Calcutta)</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<a name="3._CÁC_BÍ_TÍCH_"><span style="color: #FF0000"><b>3</b></span><span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI"><b>.
CÁC BÍ TÍCH</b></span></a></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">HOẠ ĐỒ
KIẾN TRÚC ĐỜI SỐNG</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhiều
người trước sau vẫn sử dụng các kiểu nói Ki-tô giáo, nhưng chẳng
còn hiểu gì về nội dung chúng, chứ đứng nói là sống theo những
lời đó. Hãy nhìn vào bảy bí tích. Ngài có lần nói, trong các bí
tích đó chứa đựng hoạ đồ kiến trúc cho cả cuộc sống. Và Johann
Wolfgang von Goethe*, lớn lên trong giáo dục tin lành, quả quyết
rằng, bí tích của Giáo Hội công giáo không những là cái “cao cả
nhất của tôn giáo”, mà còn là “biểu tượng khả giác của lòng tốt
và hồng ân tuyệt vời của Thiên Chúa”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước khi đi vào từng
bí tích, tôi tự hỏi: Không hiểu những bí tích đó có ích gì? Bí
tích thêm sức, chẳng hạn, đâu có giữ cho thanh thiếu niên khỏi
rơi vào nghiện ngập. Hay bí tích hôn nhân đâu phải là bảo chứng
cho vợ chồng không ngoại tình, không dối nhau, không bỏ nhau sau
một năm sống chung.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi tin rằng bảy phép
bí tích thật sự đóng ấn cho cấu trúc và những chặng đường lớn
của đời người. Người ta cần cho những thời điểm quan trọng - như
sinh ra và chết, trưởng thành và kết hôn – một dấu chỉ nào đó,
qua đó chúng nhận được tầm quan trọng, niềm hứa hẹn cho tương
lai và như vậy cả sự nâng đỡ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nếu chỉ nhìn bí tích
dưới khía cạnh hiệu năng và coi chúng như phương tiện giúp con
người có được thần lực để hoán cải mình, thì ta sẽ thất vọng.
Vấn đề ở đây không phải vậy. Đức tin không phải một thứ gì lơ
lửng trong không khí.Nó nhập vào thế giới vật chất. Các dấu chỉ
của thế giới vật chất lại giúp ta đụng chạm được với Thiên Chúa.
Như vậy, các dấu chỉ là sự biểu lộ tính thể lí của đức tin. Việc
thấm nhập giác quan và trí tuệ là sự tiếp nối biến cố Thiên Chúa
đã trở thành xương thịt và đã đã tỏ mình ra cho ta qua những dấu
chỉ trần thế.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Bí tích, vì thế, là
một cách chạm vào chính Thiên Chúa. Nó cho thấy Thiên Chúa không
phải là chuyện thuần tinh thần, nhưng Ngài có cộng đoàn và thiết
lập cộng đoàn; và Ngài kéo theo cả trái đất và tạo vật vào Ngài,
và như vậy, tạo vật cùng các thành tố của chúng cũng trở nên
siêu việt.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cơ bản ở đây là, qua
các bí tích, tính cộng đoàn và tính thể lí của đức tin được thể
hiện; và chúng còn cho thấy rằng đức tin không phải do ta mà có,
nhưng nó đến từ một sự uỷ quyền cao hơn. Các bí tích, cũng như
toàn bộ hành động của Chúa, tất cả dĩ nhiên đều được tín thác
vào tự do của ta. Và bí tích – cũng giống i như Tin Mừng – không
tác động trong ta một cách máy móc, chúng chỉ tác động khi được
ta chấp nhận và cùng bước đi với chúng.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">GIÁC NGỘ</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Khởi đầu
là phép rửa, mà thời Giáo Hội nguyên thuỷ cũng gọi là sự giác
ngộ. Đó là một nghi thức đầy tôn kính và trịnh trọng, ghi dấu
cuộc đời bằng những bài đọc quan trọng. Trong phụng vụ phép rửa,
khi trao thánh giá, người trao phép nói: “Tôi chúc lành cho anh
/ chị bằng dấu thánh giá, để anh /chị nhận ra rằng Đức Giê-su
yêu qúy anh /chị. – Tôi làm dấu thánh giá trên mắt anh /chị, để
anh / chị thấy việc Ngài làm. – Tôi làm dấu thánh giá lên tai
anh /chị, để anh / chị nghe được lời Ngài nói. – Tôi làm dấu
thánh giá lên miệng anh / chị, để anh /chị đáp trả lại tiếng gọi
của Ngài. – Tôi làm dấu thánh giá trên tay anh /chị, để anh /
chị hành động như Đức Giê-su“. Công thức trên là một biểu
tượng. Nó muốn nói gì?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Biểu tượng dịch nghĩa
là “trùng hợp với nhau”. Thoạt tiên, biểu tượng là một cách tự
giới thiệu. Nó gồm sự kiện như sau: Có hai người, mỗi vị chia
nhau một phần – cái triện đóng dấu chẳng hạn - , và hai vị đó đã
nhận ra nhau, sau khi so hai phần triện đó có sự phù hợp với
nhau. Về sau, biểu tượng mang nghĩa rộng hơn, nó dùng những hình
ảnh giác quan để diễn tả một cái gì đó không thể thấy được.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có nhiều biểu tượng
kết tinh trong phép rửa. Người ta đã đưa vào đó những bước căn
bản của quá trình dạy và học giáo lýnhập đạo thời xưa. Điều đó
cũng ám chỉ rằng, phép rửa đòi hỏi một quá trình giáo lí, nghĩa
là đòi hỏi một cộng đoàn cùng học và sống với nhau. Những bước
của quá trình đó được tóm lại trong phép rửa. Mở mắt, mở miệng,
mở tai. Đó là câu “Ephata“ mà Đức Giê-su đã công khai nói với
người câm điếc, và rồi miệng và tai người đó đã mở ra và anh ta
nói được, nghe được.Cũng vậy,nhờ phép rửa và nhờ cộng đoàn đồng
hành, mà người tân tòng được đưa vào gia nhập trong đó, chúng ta
hết câm để trả lời Chúa,hết điếc để nghe được tiếng Ngài. Nếu
không nghe được Chúa, ta cũng không thể nói được lời đúng
đắn,không thể cầu nguyện được với Ngài.Mở tai và mắt trong phép
rửa cũng là để biết tập lắng nghe và tập ăn nói trong cộng đoàn
sống đức tin, là để ta nhìn thấy được thiên tính trong tạo vật
và thiên tính đó nối ta vào với Chúa qua dấu thánh giá.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Trong
Giáo Hội cổ, phép rửa là một phần thưởng to tát. Ngoài việc phải
qua thời gian học giáo lí, người dự tòng còn phải có hai người
lớn làm chứng. Ngài chống lại việc rửa tội trẻ em?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phép rửa còn có mục
đích giúp cho đời người có một ý nghĩa vượt lên trên đời sống
sinh vật, để họ hiểu rằng cuộc sống này đáng sống. Nhất là giữa
thời buổi với tương lai đen tối như hiện nay, ta có thể đặt câu
hỏi, là liệu còn có chút đạo đức nào không, khi sinh một đứa trẻ
ra đời và như vậy là vứt nó vào một tương lai vô định, muốn sống
cho ra người cũng khó? Và quả thật, khi người ta chẳng còn biết
có nên làm người nữa không, thì phép rửa chỉ đáng nên làm, nếu
như ta hiểu rằng, làm thế là ta trao cho con người mới đó một
cái gì hơn thể xác nó, ta trao cho nó một ý nghĩa mà ta biết còn
mạnh hơn mọi tăm tối của lịch sử. Chính phép rửa đưa con người
đó vào chung cộng đoàn với Đức Ki-tô.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Như thế thì phép rửa
trẻ em rõ ràng nên làm. Nhưng phải xét lại, nếu như không có
thời gian học giáo lýđi trước, đây là chuyện thường xẩy ra trong
xã hội mất hết tính Ki-tô giáo hiện nay. Nếu chỉ coi phép rửa
như một nghi thức phải có, như một dịp lễ hội mà thôi, thì phải
đặt lại vấn đề. Nhiều người ngày nay coi phép rửa là việc xã hội
hoá trong một giáo xứ. Không, nó còn hơn điều đó nhiều; đó là
một cuộc tái sinh mở ra những chiều kích sống mới.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Khoản 849
giáo luật viết: “Việc lãnh nhận phép rửa thật sự, hay ít ra ước
ao nhận lãnh nó, cần thiết cho sự cứu rỗi”. Nếu vậy, chết trước
khi nhận phép rửa thì sao? Và số phận nào dành cho hàng triệu
thai nhi bị giết trong bụng mẹ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu hỏi, phép rửa có
cần cho việc cứu rỗi không, càng ngày càng trở nên nóng bỏng
trong thời hiện đại. Công đồng Vatican II dạy, những ai trên
đường tìm Chúa và mở lòng ra cho cái mà ta gọi là phép rửa, thì
cũng được cứu rỗi. Điều đó có nghĩa là việc đi tìm Chúa cũng là
một tham dự tinh thần với phép rửa, với Giáo Hội, với Đức Ki-tô
rồi.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Như vậy, câu hỏi trên
ngày nay xem ra đã được trả lời. Nhưng câu hỏi về các trẻ chưa
lãnh phép rửa vì đã bị giết trong bụng mẹ, càng khiến chúng tôi
nóng ruột hơn.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Xưa kia người ta luận
rằng, phép rửa ban cho ta ơn nên thánh, nhờ đó ta có thể chiêm
ngưỡng Chúa. Việc chưa nhận phép rửa, nghĩa là đang ở trong tình
trạng mang tội tổ tông, làm ta không có được ơn nên thánh đó.
Các trẻ chết sớm như thế thì không mang tội cá nhân nào, nên
không phải sa hoả ngục, nhưng mặt khác vì không có ơn nên thánh,
nên không được diễm phúc hưởng nhan thánh Chúa. Các em chỉ được
ở trong tình trạng hạnh phúc tự nhiên mà thôi, tình trạng đó ta
gọi là lâm-bô (Limbus). Đối với tôi, giáo lýđó thiếu rõ ràng.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vấn đề trên càng trở
nên phức tạp hơn trong thế kỷ20. Giáo lýkia là một hình thức để
biện minh cho việc phải rửa tội trẻ em thật sớm, nhưng lối giải
quyết của nó không vững. Rốt cuộc, với thông điệp Tin-mừng
Sự-sống (Evangelium Vitae) Giáo chủ đã quyết định thay đổi. Í
định này đã được đề cập trước đó trong sách Giáo-lí Công giáo,
khi sách viết rằng, Chúa có đủ quyền năng để kéo vào Ngài cả
những ai không thể nhận phép rửa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">TRƯỞNG
THÀNH</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Theo niềm
tin của Giáo Hội công giáo, thêm sức là “bí tích để lớn lên
trong đời sống siêu nhiên”. Nghĩa là sao? Đâu là tác dụng thật
sự của nó ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có hai cử chỉ cơ bản
nơi phép thêm sức : xức dầu và đặt tay. Đặt tay là dấu chỉ được
Chúa che chở và cũng là dấu chỉ sự hiện diện của Chúa Thánh
Linh. Xức dầu nối kết kẻ nhận phép với chính đấng được xức dầu,
là Chúa Ki-tô, và trở thành dấu chỉ Chúa Thánh Linh, đấng tiếp
nối cuộc sống của Đức Ki-tô. Phép thêm sức hoàn tất phép rửa ;
phép rửa nhấn mạnh chủ yếu tới việc nối kết với Chúa Ki-tô, thêm
sức nhấn mạnh việc chung sống với Chúa Thánh Linh.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phép thêm sức cũng nói
lên rằng người nhận từ nay là một thành phần tích cực, đầy đủ
trách nhiệm trong Giáo Hội. Vì vậy mà thời gian gần đây người ta
hay gọi đó là bí tích thành niên. Trước đây còn có “tát tai”,
gợi nhớ lại nghi thức thành niên ngoài đời. Công đồng Vatican II
đã bỏ điểm này. Vì nghĩ là một bí tích thành niên, nên nhiều
người hiện nay thường hay nhận trễ, ở tuổi khoảng 16 hay 18.
Nhưng cũng có một cái nhìn khác. Các Giáo Hội phương đông cho
nhận thêm sức cùng một lần với phép rửa (trẻ em). Người ta lí
luận rằng, chỉ được phép rước mình thánh Chúa, sau khi đã nhận
hai bí tích dẫn nhập là phép rửa và thêm sức, và sau khi đã được
nhận vào chung cộng đoàn với Đức Ki-tô trong Chúa Thánh Linh.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thêm sức là một thứ lễ
gia nhập, qua đó người thanh thiếu niên làm lễ mừng bước vào
giai đoạn trưởng thành, giai đoạn làm người lớn. Thời Trung cổ,
tu sĩ dòng An-tịnh Thomas ở Kempen đã viết cuốn sách nhan đề
“Theo gương Chúa Ki-tô”, trong đó nói về những qui điều chỉ lối
cho ta sống đúng đắn. Sách đó là tác phẩm được nhiều người đọc
nhất sau Kinh Thánh. Một vài điều trong đó xem ra xa lạ đối với
ngày nay. Nhưng ngay một triết gia cộng sản là Ludwig Marcuse
cũng công nhận đó là “nghệ thuật để trở nên tinh sạch». Tu sĩ
Thomas viết : “Nhiệm vụ cao cả nhất của mỗi người là học cách
nhận chân con người mình”. Và tiếp : “Phải có khôn ngoan và toàn
hảo lắm mới có thể tự hạ mình và luôn nghĩ tốt, nghĩ điều cao cả
cho người khác”.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trở về với nội tâm
cũng là điều quan trọng cho ngày nay. Một trong những khía cạnh
rõ ràng của thêm sức là nó đưa ta ra khỏi cái suy nghĩ thuần
chuyện bề ngoài, thuần chuyện thành công và hiệu năng, đồng thời
muốn nói cho ta hiểu rằng, ta còn có một nội tâm. Nó nhắc ta,
như thánh Phao-lô nói xưa, hãy làm vững con người bên trong của
mình. Nội tâm èo uột đang là một trong những vấn nạn lớn của
thời đại. Trong ý nghĩa đó, có lẽ phép thêm sức quả thật là một
đối trọng của khuynh hướng chạy theo bề ngoài, nó giúp cho những
gì trong cuộc sống làm người giữ được cân bằng.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thành công vật chất,
trong nền văn minh tân tiến hiện nay, đã trở thành thước đo của
mọi giá trị. “Ai cũng có thể làm được”, đó là lời hứa của đạo
quân các nhà tâm lí kích-động. Thái độ này gần như trở thành mồi
thuốc phiện.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nó làm cho người ta
theo nhau nghiện. Thấy người ta làm được, mình cũng muốn theo.
Cha mẹ thấy con cái người khác chải chuốt và có tương lai, dĩ
nhiên cũng muốn cho con mình được như thế. Nhưng tôi nghĩ, như
thế, là người ta chỉ còn nhìn về một phía. Người ta muốn có thật
nhiều, muốn nở mặt nở mày với thiên hạ. Tiếc rằng, chúng ta đã
quên mất sự cần thiết của văn hoá nội tâm trong cuộc sống chúng
ta.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Lúc này người ta cũng
đang thử dùng các phương pháp tĩnh tâm để tìm cách dựng lại một
thứ nội tâm nào đó. Nhưng, nhìn chung, những văn hoá tĩnh tâm đó
lại thường nhằm để tăng cường khả năng thành đạt bề ngoài. Hoặc
đó là những kĩ thuật đổ rác, làm cho con người rốt cuộc chẳng
còn chút nội lực thật sự nào nữa. Tôi muốn nhắc lại, chúng ta
phải thật sự tìm lại cho mình một nền văn hoá nội tâm mới, phải
học lại cách làm sao để “con người bên trong”, chữ của thánh
Phao-lô dùng, cùng lớn lên với con người bên ngoài, và làm sao
để có được năng lực, hầu có thể chống lại được những cái bên
ngoài đi ngược lại với ta.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">HÀNH ĐỘNG
CỰC THÁNH TẠI NƠI CỰC THÁNH</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Khoảng
năm 150 công nguyên, một học giả tên Justinus đã dâng lên hoàng
đế Antonius Pius một thỉnh nguyện thư nhằm bảo vệ người Ki-tô
giáo. Nhờ thư đó ta biết được việc cử hành thánh lễ thời đó. Thư
viết : “Vào ngày gọi là Chúa nhật, mọi người trong thành và ở
miền quê tụ tập nhau lại. Họ đọc lên cho nhau nghe những điều
đáng suy nghĩ của các tông đồ hoặc sách các tiên tri, lâu hay
mau tuỳ theo thì giờ họ có. Sau khi nghe xong, người chủ trì yêu
cầu mọi người hãy noi theo những điều tốt trong các bài đọc. Sau
đó tất cả chúng tôi đứng dậy và cầu nguyện. Sau cầu nguyện,
bánh, rượu và nước được mang tới ; người chủ trì lớn tiếng dâng
lên lời nguyện và cảm tạ, và dân chúng đồng thanh thưa Amen.
Tiếp đó là phần chia các tặng vật. Mỗi người được lãnh một phần
của thánh đó. Ai vắng mặt, các phó tế sẽ mang tới cho. Của ăn đó
giờ đây gọi là lễ tạ ơn (Eucharistie). Được phép tham dự chỉ
những ai coi giáo lýchúng tôi là đúng, đã được tẩy sạch tội lỗi
và tái sinh trong bể nước, và sống theo như Đức Ki-tô đã dạy”.
Cho tới ngày nay, sau 2000 năm, nghi thức đó xem ra vẫn không
đổi ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vâng, đó là cơ cấu nền
tảng của thánh lễ, mặc dù ngày nay một số chi tiết đã được phát
triển thêm.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có lẽ
phải cần một thời gian nào đó để hiểu rằng đằng sau các nghi
thức kia còn có một cái gì hơn thế nữa. Cũng như chỉ khi ta đứng
từ bên trong nhà thờ mới thấy các tranh kính màu trên cửa sổ nhà
thờ rạng sáng. Trước hết, ngài có thể giải thích cho tôi hay về
diễn tiến của một thánh lễ ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước hết là phần bài
đọc. Người ta tụ họp nhau lại để lắng nghe và nhận lãnh bài đọc,
đúng như những gì đã xẩy ra trong Giáo Hội sơ khai gần núi
Si-nai. Các bài đọc nói tới trong thư trên là của các tiên tri
và các thánh sử. Chúng giữ chỗ quan trọng trong thánh lễ, vì,
như người ta nói, người ta muốn lắng nghe tiên tri, các tông đồ
và Đức Ki-tô. Tiên tri ở đây là toàn bộ Kinh Thánh Cựu Ước. Tông
đồ là các tông thư và Đức Ki-tô là tin mừng Tân Ước. Như thế,
lời Chúa có thể nói gồm ba phần. Justinus viết, sau đó là phần
cảnh cáo của vị chủ trì, điều này có nghĩa là có phần giải thích
ý nghĩa bài đọc, bởi vì lời Chúa do những người không gần gũi
với ta viết, nên muốn hiểu cần phải được diễn giảng.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Sau phần căn bản đó
của thánh lễ: tụ tập nhau nghe lời Chúa, lời đổi mới, sửa dạy và
khai sáng ta, mới đến phần thực sự là lễ tạ ơn. Phần này cũng
chia ra ba giai đoạn. Trước hết giai đoạn chuẩn bị của lễ, bánh
và rượu. Phần này tượng trưng cho việc ta dâng tạo vật lên cho
Chúa. Tiếp đó là lời nguyện cảm tạ. Có nghĩa là vị giám mục hay
linh mục đọc lên những gì mà Đức Giê-su đã nói ra trong đêm
trước ngày chịu nạn. Đó là bài ca lớn ngợi khen Thiên Chúa. Bài
ca bao gồm việc cảm tạ Chúa Ki-tô, đồng thời nhắc nhớ lại những
gì Ngài đã nói và làm trong những giờ cuối của Ngài – và như
thế, bánh và rượu không còn là của lễ của ta nữa, mà biến thành
của lễ của Chúa Ki-tô, qua đó Ngài thực sự hiện diện đúng như
những lời trong bữa tiệc li. Justinus là một tác giả cổ, ông
viết rằng các của lễ đã “trở thành tạ ơn” (eucharistiert). Nói
khác đi, bánh không còn là bánh, nhưng thành thịt Đức Ki-tô.
Rượu chẳng còn là rượu, mà là máu Đức Ki-tô. Của lễ như vậy đã
biến thành Lời sống động, thành lời của Đức Ki-tô, lời cảm tạ
của Thiên Chúa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cuối cùng, qua cảnh
phân phối quà chung góp, Justinus nói tới việc rước lễ và đề ra
những điều kiện. Ông cho hay, đây là thánh lễ của những người đã
tin. Như Chúa Ki-tô xưa trong bữa tiệc li đã chia sẻ với nhóm
mười hai như thế nào, thì nay thánh lễ là cuộc tụ họp của những
ai đã tin vào Đức Ki-tô, đã qua phép rửa trở thành Giáo Hội. Xem
thế thì điều kiện tham dự cũng như cơ cấu cuộc lễ đã được hình
thành hoàn chỉnh từ xa xưa rồi, và tới nay nói chung vẫn không
thay đổi.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thánh lễ
được xem là hành động cực thánh nhất trần gian diễn ra nơi cực
thánh nhất trần gian. Trong bí tích đó có thịt, máu, hồn và cả
thiên tính của Đức Giê-su. Tôi muốn hỏi thêm một câu thật cụ
thể : Phải chăng, với nghi thức trên, mỗi ngày thật sự diễn ra
một phép lạ mới ? Việc bánh rượu trở thành mình máu chỉ có thể
là một hình ảnh biểu tượng mà thôi.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không. Giáo Hội xác
tín rằng Đấng Phục Sinh hiện diện thực sự trong đó. Điểm này
hẳn đã là đề tài gây tranh luận trong nhiều giai đoạn lịch sử
của Giáo Hội. Cuộc tranh luận lớn đầu tiên xẩy ra trong buổi đầu
thời Trung cổ, cuộc thứ hai trong thế kỷ16. Trong lần sau,
Luther vẫn công nhận sự biến hình, trong khi Calvin và Zwingli*
cho rằng đó chỉ là biểu trưng, nhưng mỗi người diễn giải mỗi
cách, vì thế mà có sự phân rẽ lớn trong nội bộ phong trào Cải
cách.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng Luther tin Chúa
hiện diện chỉ trong chốc lát lúc truyền phép mà thôi, còn Giáo
Hội công giáo tin rằng Chúa tiếp tục ở lại trong của lễ. Bởi vì,
nếu bánh và rượu đã “biến hình” thật sự, như vậy nếu của lễ của
con người đã biến thành của lễ Đức Ki-tô, thì hẳn Chúa cũng đã
chiếm hữu hoàn toàn của lễ ấy. Vấn đề này lại được mang ra tranh
luận trong thế kỷnày. Nhưng dù có nhiều nhà chú giải Kinh Thánh
công giáo không đồng quan điểm với nhau, thì vẫn có những nhà
chú giải không công giáo như Käsemann nhất mực bảo vệ sự hiện
diện thật sự của Chúa. Ông cho hay, điều đó chính Kinh Thánh đã
nói và đã trình bày rõ. Và trên thực tế, Kinh Thánh – và cả lưu
truyền của Giáo Hội nữa – đã nói rất rõ : Chúa Ki-tô không những
trao cho ta những biểu tượng, mà còn thật sự trao cho ta chính
mình Ngài. Điều đó có nghĩa : rước lễ là một cuộc gặp gỡ giữa
người với người ; qua đó Chúa Ki-tô đi vào trong tôi và tôi được
vào trong Ngài.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhưng ai
cũng thấy là rượu vẫn còn nguyên rượu…</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đó không phải là một
phát biểu vật lí. Chưa bao giờ Giáo Hội xác quyết rằng, có một
cái gọi là biến đổi vật lí sẽ xẩy ra. Biến hình ở đây mang một
chiều sâu khác. Truyền tụng bảo rằng đó là một hành vi siêu
hình. Bánh và rượu thuần vật lí đã được Chúa Ki-tô chiếm lấy và
làm chúng biến đổi trong tận cùng sâu thẳm, và Chúa thực sự đã
hiện mình trong đó.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Và khi
một người rước mình thánh Chúa bằng cách đó, bí tích cực thánh
này sẽ tác động thế nào trên người đó ? Hoặc ít ra nó có thể tác
động ra sao?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cả ở đây nữa, chúng ta
cũng nên bỏ đi lối suy nghĩ xem mọi chuyện đều là phép lạ hoặc
ma thuật. Đây là một diễn biến nội tâm cá nhân. Đấng Phục Sinh,
mà giờ đây đang hiện diện trong bánh rượu kia, không phải là một
sự vật. (Chữ “thịt và máu” luôn nói lên tính cách toàn thể của
đấng Nhập thể, đấng vẫn giữ nguyên hình hài con người trong thế
giới mới của phục sinh). Tôi không rước lấy một phần Chúa Ki-tô.
Hiểu như thế quả là vô lí, nhưng đây là một diễn biến nội tâm.
Chính Ngài tỏ lộ cho tôi và muốn đồng hoá tôi làm một với Ngài.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thánh An-tịnh tin rằng
ngài đã nghe câu này trong một thị kiến :”Hãy ăn ta, ta là bánh
của kẻ mạnh”. Với câu đó, Đức Giê-su muốn nói một điều trái
ngược với sự thường. Khi ta ăn gì, của ăn đó bị tiêu tán và trở
thành một phần của cơ thể ta. Nhưng với Đức Giê-su thì khác :
Ăn Ngài vào thì Ngài sẽ hoà tan ta vào trong Ngài. Ngài là kẻ
mạnh hơn, Ngài sẽ đồng hoá ta vào Ngài. Như đã nói, đó là một
diễn biến nội tâm. Trong cuộc trao đổi này, ta là người được
nhận lãnh. Ta được trở nên ngang bằng với Chúa, được trở nên
giống như Ngài. Và đây mới chính là quá trình giao tiếp: Ta để
cho Chúa kéo vào Ngài, kéo vào chung làm một với Ngài, và rốt
cuộc nhờ đó tâm hồn ta được trở nên giống Ngài.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">PHỤNG VỤ</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thánh lễ
có được tính cách lễ hội và tôn kính nhờ qua một cái gì đó rất
tuyệt vời và cao cả trong tâm linh công giáo, đó là phụng vụ.
Trong phụng vụ, mỗi chữ mỗi cử chỉ đều mang một ý nghĩa cá biệt,
có thể nói gần như ẩn chứa một bí mật riêng. Qua phụng vụ trần
gian, người tín hữu được tham dự trước – điều này cũng được công
đồng Vatican II nói tới – vào “phụng vụ thiên đình”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đây là một điểm rất
quan trọng. Phụng vụ không bao giờ chỉ là cuộc lễ hội do một
nhóm người tự nghĩ ra và tổ chức. Nhưng ở đây, qua sự thông phần
vào việc Đức Giê-su Ki-tô trình diện trước mặt Thiên Chúa Cha,
chúng ta luôn cùng đứng trong cộng đoàn hoàn vũ của toàn thể
Giáo Hội cũng như trong cộng đoàn các Thánh. Vâng, có thể nói
đây là một phụng vụ thiên đình. Cái thực sự cao cả ở đây là
thiên đình mở ra, và chúng ta nhập vào ca đoàn thiên quốc. Đó là
lí do mà kinh tiền tụng đã kết thúc bằng : Chúng ta cùng hát với
ca đoàn các thiên thần Se-ra-fim và Ke-ru-bim. Và ta biết, là ta
không đơn độc, nhưng chúng ta đang cùng chung lời ca để thật sự
xé tan đi làn ranh ngăn cách trần gian với thiên quốc.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Đại giáo
phụ Basilius* nhận định rằng, thánh lễ cũng là nguồn mạc khải
lớn như Kinh Thánh. Vì thế ngài cấm nghiêm nhặt không được tuỳ
tiện giải thích hay cải đổi phụng vụ. Nếu phụng vụ không do con
người làm ra, nhưng là một cái gì qua đó con người được kinh
nghiệm với cái tuyệt vời thần linh – thì lẽ ra ta phải coi thánh
lễ cũ của đại giáo chủ Grê-gô-ri-ô như là một quà tặng từ trên
và không được thay đổi nó ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vấn đề này có một vài
phân cách giữa đông và tây. Chẳng hạn Giáo Hội Byzantin thừa
nhận hình thái phụng vụ của thế kỷthứ 4 và 5 với Basilius và
Gio-an Chrysostomos. Cũng như các Giáo Hội đông phương khác,
Giáo Hội Byzantin coi đó là một quà tặng thần linh, không thể
sửa đổi : Chúng ta bước vào nó, chứ không tạo ra nó (dĩ nhiên
một số chi tiết cũng đã biến chuyển theo thời gian).</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phương tây, trái lại,
luôn có một nhạy cảm lịch sử mạnh hơn. Họ cũng nhận ra tính cách
quà tặng nơi phụng vụ, nhưng quà đó đã được hội hập vào Giáo Hội
sống động, và đã cùng lớn lên với Giáo Hội. Ta cũng có thể so
sánh với Kinh Thánh. Đó không phải là Lời rơi thẳng từ trời
xuống, nhưng là Lời đã được đưa vào lịch sử, và được cùng lớn
lên với lịch sử. Vì vậy, Giáo Hội phương tây vẫn chấp nhận tính
cách bất khả xâm phạm cơ bản của phụng vụ trong tổng thể nội
dung và hình thức của nó, nhưng đồng thời vẫn thận trọng để cho
nó lớn lên với lịch sử.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Lễ quy thánh lễ Rô-ma
giống như bên phương đông, cũng hình thành trong thế kỷthứ 4.
Sau đó, cả bên tây cũng đã nẩy sinh thêm nhiều kiểu phụng vụ, do
ảnh hưởng của Pháp, của Tây-ban-nha, của Đức và tiếp theo từ
nhiều nguồn khác. Mỗi quốc gia xuất hiện đều được phép góp vào
tiến trình phát triển đó một phần của mình, trong đó Rô-ma luôn
góp í một cách thận trọng và đôi khi phải chận cắt bớt những cái
thái quá. Trong quá trình lớn lên này, Rô-ma là kẻ đã giữ phụng
vụ trong hình thái cổ của nó một cách nghiêm nhặt nhất, tôi có
thể nói, còn cổ hơn bên đông nữa, ít nhất là nhìn từ mô thức
thần học.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Với cách đó, phụng vụ
luôn sống động trong quá trình lịch sử - nhờ đó ta có thể đưa
vào được những cái mới, đặc biệt các thánh mới -, nhưng trong
bản chất, phụng vụ vẫn luôn không đổi. Cũng vì vậy bên tây mới
có thể nghĩ tới chuyện cải tổ phụng vụ. Song cải tổ không được
phép cắt đứt với truyền thống, nhưng phải diễn ra trong sự quan
tâm tới những phát triển sống động, cũng như phải canh chừng cái
phát triển, để làm sao giữ được sự sống động. Chẳng hạn giáo chủ
Pi-ô X đã hạn chế bớt lễ kính các thánh. Ngài cũng đã nhấn mạnh
trở lại ngày chủ nhật trong bộ luật của ngài và bỏ bớt những cái
dư thừa trong đó. Ngay Pi-ô V cũng đã bỏ đi một một số bài ca đã
len lỏi vào phụng vụ. Công đồng Vatican II cũng đứng trong quan
điểm đó. Việc tiếp tục phát triển để tránh không bị xơ cứng đã
thuộc vào truyền thống phụng vụ của Giáo Hội. Nhưng sự khác biệt
mà tôi muốn nói ở đây là, tôi đang canh giữ một cái gì đang sinh
động phát triển, và biết rằng sự sống của nó không nằm trong tay
tôi – nhưng tôi phải phục vụ nó và phải để ý tới quy luật nội
tại của cái sống động đó -, hay là tôi xem cái đó như một thứ
sản phẩm con người, nó diễn tiến như kiểu theo quy luật của một
chiếc máy mà tôi có thể cải biến hoặc làm khác đi.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Công đồng Vatican II
hẳn có quan tâm tới những phát triển và đổi mới cơ chế. Nhưng
chúng ta phải thấy rằng, ngày nay đang có nhiều khuynh hướng
muốn lắp ráp thêm hoặc tháo gỡ bớt - chuyện này không phù hợp
với bản chất của phụng vụ. Không phải đơn giản các uỷ ban giáo
sư tự nghĩ ra chuyện làm sao để phụng vụ được tốt hơn về mặt mục
vụ, để nó được thực tế hơn hay là gì gì đi nữa. Nhưng ta phải
coi xem chỗ nào cần và có thể thêm gì, chỗ nào cần và có thể bớt
gì, trong sự quan tâm lớn tới khối hành trang đã có từ nhiều thế
kỉ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Và đây có thể là lời
cảnh cáo quan trọng đối với tất cả những ai có trách nhiệm với
phụng vụ : Họ nên thi hành công tác với tinh thần phục vụ những
gì đã sinh động lớn lên, những gì đã từ bao thế kỷnay mang lại
cho ta đức tin, chứ đừng nghĩ mình là những kẻ toàn năng, có thể
sáng tạo hoặc chế biến ra được cái hay hơn.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Chẳng còn
ai quan tâm gì tới những phê bình về phụng vụ hiện tại. Nhiều
người cho rằng phụng vụ chẳng còn linh thiêng đủ. Phải chăng cần
cải tổ tiếp cái đã cải tổ, để tìm lại tính chất linh thiêng ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cái cần tối thiểu bây
giờ là làm sao phải tạo lại một ý thứcmới về phụng vụ, để cho
tinh thần tự biên tự diễn kia biến đi. Vấn đề đã đi quá xa, có
những nhóm tự bày ra luôn hình thức dâng lễ chủ nhật. Đây quả là
sản phẩm của một số đầu óc khôn ngoan và mạnh dạn, dám nghĩ ra
một cái gì. Nhưng làm vậy thì đâu còn chỗ cho cái thánh thiêng
được trao tặng cho ta, mà chỉ còn là cái khéo tay của một vài
người. Và rồi ta sẽ nhận ra đó không phải là cái ta tìm, cái đó
quá ít, ta chờ đợi một cái gì khác kia.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Điều quan trọng nhất
ngày nay, là ta phải tìm lại được lòng kính trọng và tính chất
bất khả nguỵ tạo của phụng vụ. Phải học lại cách để nhận biết đó
là một tặng phẩm và là một phát triển sống động, qua đó ta tham
dự vào phụng vụ thiên quốc. Phải coi đó là một món quà Chúa gởi
đến cho ta, chứ không phải là một sản phẩm tự chế của ta.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi nghĩ, việc đầu
tiên là phải chấm dứt tinh thần tự biên tự diễn và phải để cho
cảm thức về sự thánh thiêng lớn lên. Bước thứ hai, ta có thể rồi
sẽ nhận ra được lãnh vực nào đã bị cắt xén quá nhiều, chữa lại
để làm sao sự liên hệ với toàn bộ lịch sử có được rõ ràng và
linh động trở lại. Trong ý nghĩa đó, tôi chủ trương cải tổ lại
những cải tổ. Tuy nhiên, theo tôi, tiến trình này phải bắt đầu
bằng sự giáo dục nhằm chống lại việc phá nát phụng vụ bằng những
sáng chế cá nhân.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phải chấm dứt thái độ
khinh miệt hình thức phụng vụ đã có giá trị cho tới năm 1970,
đây cũng là điểm quan trọng trong việc giáo dục một ý thứcphụng
vụ đúng đắn. Cho tới nay, những ai tranh đấu hay cổ xuý cho việc
tiếp tục cử hành nghi lễ cũ, đều bị đối xử như những người phung
hủi ; thật chẳng có chút gì gọi là bao dung cả. Chưa bao giờ xẩy
ra chuyện như thế trong lịch sử, làm vậy là người ta khinh cả
toàn bộ quá khứ của Giáo Hội. Khinh quá khứ thì làm sao tin vào
hiện tại của Giáo Hội được? Nói thật lòng, tôi cũng không hiểu
nổi, tại sao có nhiều đồng nghiệp giám mục của tôi lại chấp nhận
hành động bất khoan dung rõ ràng đi ngược lại những hoà giải cần
thiết trong nội bộ Giáo Hội như thế.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tới bao
giờ mới thật sự diễn ra bước thứ hai mà Hồng Y đã nói tới : cải
tổ lại những cải tổ ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi nghĩ, nó cũng
giống như phong trào phụng vụ trước đây đã đưa tới công đồng
Vatican II. Phong trào đó lúc đầu tiến triển khá chậm, về sau đã
nhanh chóng trở thành dòng nước mạnh. Quan trọng là phải có một
thúc đẩy từ các tín hữu sống động nhiệt thành, phải có những địa
điểm thí điểm, nơi đó phụng vụ được cử hành một cách đúng đắn,
khiến người ta nhận ra được đâu là ý nghĩa thực sự của thánh lễ.
Nếu như từ đó mà một phong trào nổi lên và không bị dập tắt từ
trên, thì rồi chuyện sẽ tới. Và tôi tin rằng, đã có một khơi
nguồn về hướng đó rồi nơi thế hệ mới hiện nay.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Hồng Y đã
hình dung ra được một hình thái phụng vụ đích thực, thánh
thiêng, một phụng vụ cho tương lai dân Chúa và Giáo Hội chưa ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chuyện căn bản là làm
sao chúng ta đón nhận lại những hình thức quà tặng và để lòng
mình thấm nhập vào chúng. Khi nghĩ lại những giai đoạn của phong
trào phụng vụ mà tôi may mắn đã trải qua, tôi thấy đó quả là một
cái gì tuyệt vời, khi mình lần hồi thấy được các thánh lễ mùa
chay đã phát triển thế nào, hiểu được cấu trúc của mùa chay ra
sao, hiểu được toàn bộ cấu trúc thánh lễ và nhiều thứ nữa. Vấn
đề là làm sao thấm nhập được vào kho tàng của cái đã hình thành
và lớn lên đó, và qua đó gặp được nỗi huy hoàng của Thiên Chúa
đang trao tặng cho ta. Quan trọng nhất, theo tôi, là học lại
được tinh thần lắng nghe – “hỡi con, hãy lắng nghe”, thánh
Biển-đức đã nói thế, và hiểu được rằng mình là kẻ đón nhận hơn
là người sáng chế.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thánh lễ
nên cử hành lại bằng tiếng La-tinh ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chuyện đó, xét chung,
không còn thực hiện được nữa đâu, và có lẽ cũng không phải là
điều mong muốn. Thánh lễ có lẽ tốt hơn nên cử hành bằng tiếng mẹ
đẻ. Nhưng tôi chủ trương nên có một cởi mở mới cho tiếng
La-tinh.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tiếng La-tinh trong
thánh lễ lúc này xem ra mắc phải tội tổ tông. Tuy nhiên, thiếu
nó, là ta mất đi những trao đổi giao tiếp rất cần thiết trong
những vùng nhiều sắc dân. Chẳng hạn, một chánh sở nhà thờ chính
toà ở Avignon kể cho tôi hay, ngày chủ nhật nọ xuất hiện một lúc
ba nhóm ngôn ngữ. Ông đề nghị làm lễ chung bằng La-tinh, để tất
cả có thể cùng thông công, nhưng cả ba phản đối thẳng thừng :
Không, mỗi nhóm phải có gì riêng cho họ. Hay ta hãy nghĩ tới
những địa điểm du lịch, thật tuyệt khi nơi đây nhờ có một điểm
chung mà người ta nhận ra nhau. Vì thế, cần suy nghĩ về điểm
này. Nếu như ở Rô-ma ngay trong những dịp lễ lớn không còn ai
hát được Kyrie hay Sanctus nữa, không còn ai hiểu được Gloria
nghĩa là gì, thì đó là một mất mát văn hoá và là một mất mát
những cái chung. Như vậy tôi có thể nói, thánh lễ nhất định nên
bằng tiếng địa phương, tuy nhiên cũng cần giữ lại La-tinh như
một cái nền chung liên kết chúng ta lại với nhau.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">- <b><i>
Nhà văn Martin Mosebach có lần kể câu chuyện ngắn về một thánh
lễ, đã diễn ra nhiều năm trước đây trên đảo Capri. Ngày nọ trên
đảo xuất hiện một linh mục người Anh, linh mục này thời đó còn
bận áo chùng, một sự kiện đã hiếm thấy ở miền nam nước Í. Khi
nghe ông có í muốn dâng lễ mỗi ngày, sau những đắn đo ban đầu,
người dân trên đảo cuối cùng đã dành cho ông một nhà nguyện
chênh vênh trên một đống đá trên biển, nơi gọi là Monte Tiberio,
chỗ xưa kia có dinh Jovis, một trong những dinh phụ của hoàng đế
Tiberius. Nhà nguyện này mỗi năm chỉ mở cửa một lần, vào ngày 8
tháng 9, ngày lễ sinh nhật đức Bà. Thời gian còn lại trong năm
được dành cho lũ chuột, chúng gặm nhấm đến cả các ngăn tủ nhà
mặc áo.</i></b></span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">- <b><i>
Ông linh mục người Anh là người thực tế, không phải là nhà thần
học lớn, bắt tay vào việc. Ông leo lên núi, phóng cái nhìn xuống
toàn vịnh biển chung quanh. Trước hết, phải chật vật lắm mới mở
được ổ khoá cửa vào nhà nguyện đã rỉ sét. Rồi ông bước vào, theo
ông là một làn tia sáng mặt trời, rọi chiếu vào căn phòng ẩm
mốc. Cánh cửa thiếc nhà tạm mở toang, nến cháy cạn đáy, ghế vứt
ngổn ngang, và nhà mặc áo bừa bãi như người ta đã bỏ trốn vội
vàng. Bình hoa bẩn, khăn bàn thờ mốc meo, một chén thánh hoa văn
loè loẹt, các khăn bàn ẩm dính lại với nhau trong tủ, cuốn sách
lễ rách bươm, ngay cả thánh giá cũng đã cong queo.</i></b></span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">- <b><i>
Vị linh mục nhìn qua mọi thứ, suy nghĩ. Ông mở toang cửa sở, cầm
lấy cây chổi rơm ở góc nhà và bắt đầu quét. Rồi ông cầm cây
thánh giá, đưa lên hôn và bỏ vào tủ phòng mặc áo. Chùi sạch chén
thánh, bật sáng các ngọn đèn. Nhìn thấy đoạn dây chuông, ông lấy
thang leo lên tháp và buộc dây vào chuông. Giờ thì mọi chuyện kể
như đã ổn.</i></b></span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">- <b><i>
Vị linh mục đeo vào người tấm dây Stola màu tím, đổ ít nước từ
một bình nhựa nhỏ mang theo vào cái nồi nhỏ, đọc lời nguyện, bỏ
thêm vào ít muối, rồi dơ tay làm phép, đoạn đổ nước phép đó vào
chậu con sò bằng đá dựng bên cánh cửa ra vào, tiếng nước đổ lao
xao nghe như thể chậu đá thức dậy, thở phào. Ông kéo chuông. Xa
xa vài ba tín hữu, đàn bà và trẻ con, xuất hiện kéo tới, chẳng
mấy lúc đầy nhà nguyện.</i></b></span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">- <b><i>
Giờ thì có thể bắt đầu thánh lễ. Linh mục cúi mình trước bàn thờ
và cất giọng đọc : Introibo ad altare dei (Con bước tới trước
bàn thờ Chúa).</i></b></span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">- <b><i>
Ai để tâm quan sát thì có thể nhận ra hình như có một chuyện gì
đặc biệt đã xẩy ra, khi vị linh mục mặc áo chùng thâm kia lau
sạch bàn thờ, đốt nến, làm phép nước, lau bụi bám, vứt bẩy chuột
vào một góc nhà. Vì cũng giống như Abel hay Noê xưa, thoạt tiên
dựng bàn thờ rồi sau đó mới dâng của lễ. Và cũng như Mai-sen, vị
linh mục cắm cọc xác định chỗ dựng lều làm bàn thờ. Đó là một sự
chuẩn bị và cắm cọc xác định chỗ thánh.</i></b></span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Mosebach mô tả thật
thi vị, nhưng tình hình chung ở Capri không đến nỗi thê thảm như
người ta nghĩ đâu. Nhưng hãy bàn tiếp việc chuẩn bị bề ngoài và
bề trong, hai chuyện đó đương nhiên liên quan với nhau. Sứ mạng
thừa sai của thánh Phan-sinh cũng bắt đầu như thế. Ngài đọc ra ý
nghĩa của những chữ nổi tiếng trên thánh giá là – “con hãy xây
lại nhà nguyện cho Ta” - và đã nghĩ ngay tới nhà thờ đổ nát ở
Portiuncula. Ngài đã xây nó lại thành một nguyện đường đẹp đẽ,
và rồi nhận ra rằng mình phải làm hơn thế nữa, đó là phải xây
lại nhà thờ Giáo Hội sinh động.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng công việc tay
chân bước đầu đó cũng là một công đoạn không thể thiếu. Phải lo
làm sao phòng ốc, nhà nguyện luôn được sửa soạn mới mẻ, làm sao
để người ta có thể nhận ra và cảm được sự thánh thiêng cả bề
ngoài lẫn bề trong, đó là điều rất quan trọng. Cám ơn Chúa,
chúng ta có rất nhiều nguyện đường tuyệt diệu trên khắp thế
giới, giờ ta cũng nên học lại cách yêu mến sự thánh thiêng nơi
chúng. Ngọn lửa trước nhà tạm giúp ta cảm được sự hiện hiện âm
thầm đêm ngày của Chúa. Ngày nay, nhiều nhà thờ thường được dùng
làm nơi hoà nhạc, làm nơi gần như để khoa trương cái đẹp của quá
khứ mình, như vậy có nghĩa là trên thực tế ta đã mất đi cảm quan
về sự thánh. Phải có lại được cảm quan đó, phải có lại được sự
chuẩn bị căn phòng bên ngoài lẫn bên trong, đó là điều kiện để
ta nhập tâm vào thánh lễ, hầu thực sự gặp được sự thánh thiêng
trong đó.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Phải
chuẩn bị rước Mình thánh như thế nào ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cách chuẩn bị đúng
nhất là khi ta thật sự lãnh hội được ý nghĩa của hành động đó,
khi ta để cho lời Chúa đánh động, khi ta hướng lòng tới Đức
Ki-tô trong những lời nguyện đã được Giáo Hội lưu truyền lại từ
rất xa xưa. Cùng cầu nguyện và dâng lễ một cách đúng đắn trong
thánh lễ có nghĩa là ta phải để tâm lắng nghe và sẵn sàng đón
nhận, qua đó cửa lòng mình hé mở ra để Chúa có thể đi vào. Và
ngược lại, cái tôi của tôi lúc đó cũng thật thanh thản và rộng
mở, đến nỗi tôi có thể bắt đầu bước được vào trong Ngài.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Khi rước
lễ phải có thái độ nào ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phải cư xử như đang
đối diện thật sự với Chúa. Những dấu chỉ của lòng kính sợ đã
thay đổi theo thời gian. Nhưng căn bản là thái độ của ta phải
biểu lộ được những cảm nhận trong lòng, và sự kính trọng cũng
phải được tỏ ra qua phong cách của cơ thể. Trước kia, rước lễ
quỳ gối, động tác này rất có ý nghĩa. Nay rước lễ đứng. Nhưng
cái đứng này cũng phải là một cái đứng đầy kính trọng trước mặt
Chúa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong Giáo Hội, không
bao giờ được để mất hành vi quỳ gối. Đây là phong cách thâm sâu
nhất nói lên lòng đạo nơi ki-tô hữu. Phong cách này cho thấy
thái độ thẳng thắn của ta nhìn hướng lên Chúa, đồng thời nói lên
vị trí thấp bé khiêm tốn của ta. Giáo chủ Gio-an XXIII nói :
“Con người không bao giờ lớn khi họ quỳ gối”. Vì thế tôi tin
rằng đây là cung cách không thể thiếu được nơi tín hữu ki-tô,
cung cách cầu nguyện đó đã có từ thời Cựu Ước rồi.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">NỢ VÀ TỘI</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Bí tích
hoà giải : Người thì bảo, nó đẩy con người vào một hoàn cảnh
không thể giải quyết và thật ra chỉ làm cho con người sợ hãi và
mặc cảm tội lỗi. Kẻ lại quả quyết rằng, nếu không có nó, thì lúc
này phải tạo ra nó.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Xưng tội, trong quá
trình lịch sử của nó, hẳn đã trải qua nhiều biến đổi hình thức
bên ngoài hơn tất cả mọi bí tích khác. Chính bởi vì mang tính
cách quá cá nhân, nên nó phải mang hình thái biểu hiện tùy vào
cá tính thay đổi của mỗi người và vào truyền thống cởi mở hay
khép kín của mỗi nền văn hoá. Sau công đồng Vatican II, người ta
đã thử tạo ra nhiều cách để có thể giúp cho việc xưng tội cá
nhân, trong số đó có lối xét mình tập thể, mà theo tôi quả rất
hay.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cách thứ hai là xưng
tội bằng đối thoại, chứ không phải ngồi toà như xưa nay. Lối này
cũng giúp cho người ta thắng vượt được ngại ngùng trong việc thú
tội. Nhưng lối này có thể khiến việc xưng tội thành ra những
cuộc chuyện trò không đâu, hoặc thành ra chơi trò tâm lí, vì thế
mất đi chiều sâu của nó. Người ta cũng rất thích lối xưng tội
tập thể. Nhưng đây không thể là cách đúng đắn được, vì bản chất
của xưng tội là một hành vi cá nhân ; lối này chỉ phù hợp và có
thể làm trong hoàn cảnh thật đặc biệt mà thôi.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Một câu
của Hồng Y Ratzinger : “Không có khả năng nhận lỗi là hình thức
nguy hiểm nhất của sự thui chột tận cùng của tinh thần, bởi vì
chính nó làm mất khả năng tự cải tiến nơi con người “.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Người ta vẫn nói điều
này: Ki-tô giáo đẩy con người vào mặc cảm tội lỗi để chèn ép họ.
Dĩ nhiên cũng có thể có những lạm dụng kiểu đó. Nhưng xoá đi khả
năng nhìn nhận tội lỗi nơi con người lại càng nguy hơn, bởi vì
như thế tâm họ sẽ trở nên chai đá và bệnh hoạn. Ta hãy nghĩ thêm
một bước nữa về hệ quả cao hơn của việc mất khả năng xét mình.
Đó là điều Quốc-xã Đức trước đây đã làm. Người đã phát*ta đã tin
rằng vừa cùng một lúc giết người mà vẫn đạo đức, như Himmler
biểu, như thế là lương tâm con người đã bị dày nát và con người
đã bị biến thể. Khả năng xét mình sẽ trở nên dễ chấp nhận và
triển nở, nếu như tội được tha. Mà tha tội lại nhất thiết đòi
hỏi phải có lời xá giải. Khoa tâm lí chữa trị có thể giúp nhiều
cho việc nhận ra những trục trặc trong cấu trúc tâm trí và chữa
lành chúng, nhưng nó không thể thắng vượt được tội lỗi. Khoa tâm
trị bị giới hạn ở chỗ đó, vì thế nó cũng rất thường thất bại.
Chỉ có bí tích, sự uỷ quyền của Chúa, mới có thể thật sự vượt
thắng được tội lỗi.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tuy nhiên ta phải thú
nhận rằng, trong thời buổi cá nhân chủ nghĩa này, con người vô
cùng khó mà vượt qua được những cản trở tâm lí trong việc xét
mình. Nhưng ở đâu có tinh thần đức tin hướng dẫn ta, ở đó có thể
tập lại được khả năng đó. Có thể tập được, nhất là vì ta xét
mình nhận lỗi trước mặt Chúa, chứ đâu có phải trước con người,
lại nữa việc xét mình này sẽ được kết thúc bằng lời xá giải tha
thứ - và biết đâu trong toà giải ta cũng nhận được những lời
khuyên giúp mình vượt thắng cả trong những hậu quả của tội.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Trước
đây, trẻ con chúng tôi từng lớp bước vào toà cáo giải. “ Trong
khiêm tốn và ăn năn con xưng những tội con “ rồi là kể đủ thứ
tội. Chẳng phải bao giờ cũng là chuyện dễ dàng, nhưng việc xưng
tội quả thật có tác dụng như một thứ máy giặt, người ta cảm thấy
sau đó như đã được giặt sạch tội lỗi. Trong sách “ Phụng-ca “
tôi thấy Giáo Hội Đức có ghi phần chuẩn bị xét mình xưng tội,
với một chuỗi câu hỏi như kiểu “ bảng kiểm tra “. Sau đây là vài
câu đọc được trong đó : “ Tôi có cố gắng gần Chúa không ? – Tôi
có tỏ ra yêu thương và biết ơn cha mẹ không ? – Tôi có hay nói
xấu và chửi người khác không ? “ Hoặc : “ Tôi có tìm cách đẩy
việc cho người khác không ? – Tôi có tôn trọng cá tính của người
khác không ? – Tôi có nỗ lực giáo dục con cái về đường ngay
không ? – Tôi lười biếng ? Hay ích kỉ ? Hay hoang phí ? Ham mê
ăn uống ? – Tôi thích khoe khoang sống không thật với mình? “
Xem thế thì Giáo Hội đâu là cái gì xa lạ với con người đâu.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi tin rằng, điều hết
sức quan trọng là làm sao giúp cho lương tâm nói ra được. Trên
phương diện này, tội tổ tông đã khiến lương tâm ta chai đá, và
ta muốn dấu nó dưới miếng vải quên, bằng cách đối xử với người
khác như những kẻ hoàn toàn xa lạ. Ta muốn, chẳng hạn, nuốt nhẹ
đi những lời dối trá, và nhiều thứ khác nữa. Lương tâm chai đá
là mối nguy lớn của chúng ta. Nó đè bẹp con người. Vì thế, dạy
cho người ta nghe được tiếng lương tâm là chuyện cơ bản. Cho nên
nhiệm vụ của Giáo Hội là biết nhìn ra tội lỗi cá biệt của mình
trong từng thời đại, và nhờ đó giúp cho xã hội khỏi bị chai đá
và đổ vỡ trong những lãnh vực đời sống quan trọng này.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Câu hỏi
thêm: Có được phép nói dối khi cần không, chẳng hạn giả làm như
không ở nhà lúc người ta gọi điện thoại?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đó là những chuyện rất
thực tế, mà các nhà đạo đức cũng không đồng í với nhau. Có một
trường phái lớn, trong đó có cả Kant, cho rằng chân lí tự nó đã
có phẩm giá, nên mọi xúc phạm tới nó đều không được chấp nhận.
Giả vắng qua điện thoại, là chuyện dễ hiểu. Nhưng phải coi chừng
chính mình, vì một khi cánh cửa đã mở hé, thì nó có thể lại tiếp
tục mở lớn ra. Lúc này tôi không muốn kết tội cái cách tự bảo vệ
mình đó - vì tôi cũng sử dụng nó.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">“Ân xá”
là một hình thức rốt ráo của bí tích hoà giải. Những ân xá đầu
tiên được các giáo chủ ban cho những ai tham dự vào các cuộc
thánh chiến. Và việc lạm dụng nó rốt cuộc đã là nguyên cớ bề
ngoài cho Luther nổi giận và dẫn tới phong trào cải cách và phân
rẽ. Tôi nghĩ, ngày nay chẳng còn mấy ai hiểu gì về chuyện ân xá.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đó là một chương khó
khăn trong lịch sử Giáo Hội. Trong huấn dụ năm thánh 2000 Giáo
chủ đã cố gắng tạo cho ân xá một ý nghĩa mới. Trước đây người ta
phân biệt tội và hình phạt của tội. Phép giải chỉ tha tội, chứ
hình phạt của tội vẫn còn nguyên. Điều đó ta hiểu một cách đương
nhiên. Nay Giáo chủ có một giải thích mới. Ngài bảo, dù ta đã
hết nợ, nhưng cái vết thương ta gây ra nơi kẻ khác vẫn còn đó,
đó là một thiệt hại, là những hậu quả do lời nói hay việc làm
của ta gây ra. Và trong chính con người tôi vẫn còn một lực giật
lùi, một bẻ cong của hữu thể mình.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Như vậy, vấn đề là làm
sao giải quyết những hậu quả tồn tại của tội. Việc giải quyết
này chỉ có thể diễn ra một cách tập thể, bởi vì tội luôn vượt ra
ngoài cái tôi của mình. Vì thế, ân xá có nghĩa là ta đi vào sự
trợ giúp của cộng đoàn các thánh, trong đó là nơi diễn ra sự
trao đổi các sản vật thiêng liêng, nơi ta tặng cái của ta và
nhận nơi kẻ khác cái của họ. Trong ý nghĩa này, ân xá có thể nên
hiểu như là việc tẩy xoá những gì thặng dư còn tồn lại, như là
việc cùng nhau gánh vác hay gánh vác cho nhau.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">HÔN NHÂN</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Hàng loạt
người trẻ hôm nay đứng trước đắn đo, có nên bước vào một hôn
nhân thật sự hay nên sống với nhau một cách lỏng lẻo. Về phía
nhà nước, họ muốn coi việc chung sống không cưới hoặc đồng phái
ngang như những cặp hôn nhân khác phái. Câu hỏi đặt ra : Tại sao
hôn nhân là hình thức duy nhất có thể chấp nhận được trong việc
sống chung ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thứ nhất, là vì chỉ có
sự chung thuỷ là chỗ đích thực vững chắc hợp với phẩm giá của
cuộc chung sống giữa hai con người. Và hôn nhân không phải là
cái gì chỉ liên hệ tới trách nhiệm giữa hai người mà thôi, mà nó
còn liên hệ tới cả tương lai con cái sẽ sinh ra nữa. Như vậy,
hôn nhân không bao giờ đơn thuần là một chuyện riêng tư, nhưng
nó mang tính chất công cộng và xã hội. Hôn nhân quyết định dạng
thái tổ chức nền tảng của xã hội.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Rốt cuộc ta cũng thấy
được điều đó, nếu như giờ đây các cặp không cưới cũng có được
những khung pháp lí nào đó. Dù đây chỉ được coi là những hình
thức kết hợp thấp hơn hôn nhân thường, chúng cũng không thể
thoát ra khỏi trách nhiệm công, không thể thoát ra khỏi liên hệ
chung của xã hội. Và chỉ mỗi điều đó thôi cũng buộc phải có cho
chúng một quy chế pháp lí kéo theo quy chế xã hội và công cộng,
ngay cả khi người ta giờ đây tin rằng mình phải chấp nhận những
bậc sống thấp hơn đó.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thứ hai : Ta thấy ở
đâu hai người sống cho nhau và sinh con đẻ cái, ở đó cũng có
giao tiếp với sự thánh và với mầu nhiệm làm người, là những thứ
vượt lên những gì ta tự có. Tôi không đơn giản chỉ là tôi mà
thôi. Trong mỗi con người có một bí ẩn thần thánh. Vì thế, việc
sống chung giữa người nam và người nữ cũng được đưa vào vòng tôn
giáo, vào vòng thánh thiêng, vào trách nhiệm trước Thiên Chúa.
Việc sống chung đó cần có trách nhiệm với Chúa – và chính vì thế
mà, qua bí tích hôn nhân, nó nhận được cội nguồn sâu xa và đích
thực cũng như lí do hiện hữu của nó.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tất cả những lối sống
chung khác, vì thế, chỉ là hình thức tạm, mà mục tiêu cuối cùng
của chúng chỉ là tìm cách trốn trách nhiệm đối với nhau và để
thoát ra khỏi vòng bí ẩn của kiếp người – và như thế chúng mang
vào xã hội một sự bất ổn với những hậu quả khó lường.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vấn đề sống chung giữa
những người đồng phái lại hoàn toàn khác. Tôi nghĩ, nếu người ta
quan niệm hôn nhân và gia đình không nhất thiết gồm một nam một
nữ nữa, mà cũng là của hai người đồng phái, thì cấu trúc xây
dựng nền tảng cuộc sống con người như thế đã bị tổn thương. Như
vậy, về lâu về dài, xã hội sẽ rơi vào những vấn đề lớn. Nếu ta
lắng nghe lời Chúa, ta sẽ thấy ra rằng việc sống chung vợ chồng
và con cái là một cái gì thánh thiêng. Và xã hội sẽ đạt tới một
hình thức đúng đắn, khi nó coi gia đình – hình thái sống chung
được Chúa chúc phúc – là hình thái đúng đắn của trật tự phái
tính.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Đây là
công thức của hôn nhân : “Anh /em nhận em/anh làm vợ /chồng và
hứa chung thuỷ khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh
cũng như lúc mạnh khoẻ. Anh /em muốn yêu em /anh và tôn trọng em
/anh mọi ngày suốt đời “. Nghe thật hay, nhưng tại sao hôn nhân
lại phải kéo dài suốt đời “ cho đến khi sự chết chia lìa “ ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vì nó nằm nơi sự dứt
khoát của tình yêu con người và sự rốt ráo của trách nhiệm mà ta
bước vào. Chúng ta không nên tìm cách chi li lí luận chứng minh
điều đó. Khôn ngoan con người đã chứng thực cho ta điều đó và
chính lời Chúa cũng đã nói như vậy. Điều đó chỉ phù hợp hoàn
toàn với phẩm giá con người, khi tôi hoàn toàn cho mình đi, mà
không giữ lại một phần nào cho mình và có thể nói không hề xét
lại hay đòi bỏ hợp đồng. Cuộc sống con người không phải là cuộc
thí nghiệm. Đó không phải là hợp đồng thuê nhà. Nhưng là sự trao
tặng cái tôi cho em /anh. Và sự trao tặng giữa người với người
chỉ có thể phù hợp với bản chất người qua hình thức một tình yêu
toàn vẹn và cho nhau tất cả.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ta đã nói
nhiều về tính dục, rõ ràng Giáo Hội đoán có một cái gì rất bí ẩn
trong tính dục. Nhưng không hiểu tại sao Giáo Hội lại có những
quan điểm khắt khe về nó, ngay cả trong hôn nhân. Có phải vì có
một quan niệm khác về cuộc sống và về con người, nên Giáo Hội
mới cấm ngừa thai ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thật ra, Giáo Hội xem
tính dục là một thực tế trung tâm của tạo vật. Tính dục đưa con
người tới thật gần đấng tạo hoá và đặt nó trước một trách nhiệm
cao nhất. Qua tính dục, con người dự phần vào chính nguồn sự
sống một cách có trách nhiệm. Mỗi một con người là một tạo vật
của Chúa – và đồng thời cũng là một đứa con của cha mẹ nó. Do đó
mà giữa sự sáng tạo của Chúa và sự sinh sôi của con người như có
một hoà quyện vào nhau. Tính dục là một cái gì dữ dội ; ta cũng
nhận ra điểm này qua mối liên quan tới trách nhiệm đối với một
sự sống mới, sự sống này thuộc về ta mà cũng không thuộc ta, nó
do ta làm nên mà cũng chẳng phải do ta mà có. Từ đó, mà tôi nghĩ
rằng, tính dục đồng thời cũng là một cái gì linh thiêng, ở chỗ
nó được phép tạo ra một sự sống và mang trách nhiệm cả đối với
những gì vượt trên cội nguồn sinh vật của sự sống đó. Từ những
lí do muôn mặt đó, Giáo Hội cũng phải triển khai những gì nói
trên và đã được đề cập một cách nền tảng trong mười giới răn.
Giáo Hội phải luôn đưa nó vào cuộc sống con người như là trách
nhiệm.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có thể
vừa sống trái với giáo huấn tính dục của Giáo Hội mà cũng vừa là
một tín hữu tốt ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chuyện sống không theo
kịp nội dung lời Chúa đã được Giáo Hội diễn giải, lại là một vấn
đề khác. Tuy nhiên, nếu người ta vẫn tiếp tục ở lại trên đường,
nếu người ta chấp nhận sự linh thiêng của việc đồng tạo dựng với
Đức Ki-tô, thì họ vẫn không mất tính cách công giáo, dù có gặp
thất bại. Khi đang trên đường đi tìm thì người ta, nếu muốn nói
như thế, vẫn là một “ tín hữu tốt “.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Các giám
mục ở Í kêu gọi tín hữu can đảm hơn trong việc sinh con. Các
ngài viết trong thư luân lưu : Một xã hội khiếp sợ sinh con sẽ “
giảm đi tính chất nhân bản”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ở đâu không còn tình
yêu đối với trẻ con, ở đó quả thật mất mát nhiều lắm. Trước đây,
người Í nổi tiếng yêu gia đình và con cái. Ngày nay, có những
vùng trong nước Í lại có số sinh thấp nhất trên thế giới. Biến
chuyển to lớn đó xảy ra do sự xuất hiện cuộc sống phồn vinh mới.
Quả thật, có một cám dỗ lớn trong các xã hội phương tây coi trẻ
con là đối thủ, chúng lấy mất tương lai và phần nào không gian
sống của mình. Cùng lắm người ta coi đó là vật sở hữu và dùng
chúng để khoe mình. Rốt cuộc chẳng ai sẵn sàng công nhận con trẻ
với những quyền lợi riêng của chúng, để phải hi sinh thời giờ và
cả đời mình cho chúng.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có lần một giám mục Í
nói với tôi, người nghèo đầu tư vào sự sống, kẻ giàu vào sự vật.
Tôi không muốn phóng đại ý nghĩa câu nói đó, nhưng rõ ràng trên
đất nước ta khuynh hướng lo đầu tư vào sự vật, lo bảo hiểm cho
mình bằng giá trị sự vật, có nghĩa là muốn nhân bội cái tôi của
mình lên, mạnh hơn việc sẵn sàng phục vụ cho sự sống khác. Sự
gia tăng dân số có vấn nạn của nó, nhưng mặt khác, ta cũng phải
công nhận rằng, xã hội chúng ta đang đánh mất chính tương lai
mình với đà lão hoá.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Vấn đề
gia tăng dân số. Người ta tố cáo Giáo Hội vì chủ trương cấm ngừa
thai nên đã tạo ra tại một số nơi trong thế giới thứ ba những
vấn đề trầm trọng, kể cả việc tạo ra bần cùng nghèo đói.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Quả là chuyện hoàn
toàn vô lí. Bần cùng là sản phẩm của việc sụp đổ luân lí. Trước
đây, luân lí trong các xã hội bộ lạc và trong các cộng đồng
Ki-tô giáo đã giữ cho cuộc sống có trật tự nên đã loại trừ được
bất hạnh nghèo đói. Nay trật tự đó mất, và ta đã thấy hậu quả.
Đổ lỗi cho Giáo Hội qua việc cấm ngừa thai, là chuyện ngớ ngẩn,
chứng tỏ những người đó có cái nhìn hoàn toàn ngược ngạo về thế
giới. Tôi sẽ giải thích.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Giáo Hội dạy về sự
thánh thiêng và chung thuỷ trong hôn nhân. Đó là tiếng nói đích
thực của Giáo Hội. Nơi đâu nghe theo tiếng nói đó, ở đó trẻ con
được sống trong môi trường làm quen với yêu thương, tự chế, kỉ
luật đời sống, dù chúng phải ở trong tình trạng túng thiếu vật
chất. Ở đâu chung thuỷ gia đình còn, ở đó còn kiên nhẫn và quan
tâm cho nhau, đó cũng là điều kiện cho việc kế hoạch hoá gia
đình một cách tự nhiên và hữu hiệu. Bần cùng không xuất phát từ
các đại gia đình, nhưng từ việc sinh con bừa bãi thiếu trách
nhiệm, chúng chẳng biết ai là cha hoặc cả ai là mẹ, phải lang
thang trên đường phố trong một thế giới bị phá nát tinh thần.
Ngoài ra, ai trong chúng ta cũng biết, Phi châu ngày nay với đà
gia tăng ghê gớm bệnh liệt kháng từ lâu đã cho thấy một mối nguy
ngược lại : Không phải bùng nổ dân số, nhưng là cảnh xoá sạch
hàng loạt bộ lạc, và đất đai trở thành hoang địa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngoài ra, khi tôi nghĩ
tới cảnh tiền thưởng ở Âu châu cho những nông dân giết bớt súc
vật, hủy bớt lúa, nho, trái cây đủ loại vì lí do thặng dư sản
xuất, thì tôi tự nhủ, tại sao các ngài chuyên viên quản trị
không tìm cách chuyển những thứ đó cho mọi người cùng hưởng,
thay vì huỷ của của Trời ban đi như vậy.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Bần cùng không tạo ra
bởi những ai dạy cho con người chung thuỷ, yêu thương, kính
trọng sự sống và từ bỏ, nhưng nó là sản phẩm của những kẻ miệng
bô bô đạo đức và nhìn con người một cách máy móc : Túi cao su
ngừa thai xem ra hữu hiệu hơn luân lí đạo đức! Nhưng, nếu ta tin
rằng phẩm giá đạo đức con người có thể thay thế bằng túi cao su,
để tránh nguy hiểm cho tự do của họ, thì như thế là ta đã lột
hết phẩm giá con người từ nền tảng, và ta đã tạo cái mà mình
muốn ngăn ngừa: một xã hội ích kỉ, trong đó mỗi người đều có
quyền hưởng mọi thứ theo í mình và chẳng còn ai mang trách
nhiệm. Bần cùng đến từ tuột dốc đạo đức xã hội, chứ không phải
ngược lại – và việc quảng cáo túi cao su là một phần quan trọng
của việc tuột dốc đó, nó nói lên chiều hướng khinh miệt con
người, chẳng còn tin vào cái thiện mĩ nơi con người.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">LINH MỤC</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Mọi tôn
giáo đều có những người đặc biệt, lo việc phụng tự và giáo luật
đức tin. Đâu là điểm khác của một linh mục công giáo so với các
đồng nghiệp trong các tôn giáo khác ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước hết, linh mục
công giáo là người mang một sứ vụ đặc biệt của Đức Giê-su Ki-tô
và được hình thành theo khuôn mẫu các tông đồ. Vì vậy họ không
giống như các đồng nghiệp trong hàng tư tế nơi các tôn giáo
khác. Thước đo đặc biệt của giai tầng này, nếu ta nói được như
vậy, là hình ảnh các tông đồ, những người đã được Đức Ki-tô đào
tạo nên. Linh mục được Đức Ki-tô trao cho trách nhiệm rao giảng
lời Ngài, rao giảng chính Ngài, rao giảng lời hứa mà Ngài đã cho
chúng ta. Và trong khuôn khổ việc rao giảng đó – luôn cũng là
một nhiệm vụ tình yêu, xây dựng thân thể Đức Ki-tô, phục vụ kẻ
nghèo – nhiệm vụ trung tâm là loan báo cái chết của Ngài, mà
chúng ta gọi là Thánh thể, và là bí tích.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nếu chính
Chúa Ki-tô đã gọi họ, thì tại sao có những linh mục xấu ? Tại
sao có ngay cả những giám mục tồi ? Có lẽ Ngài đã lầm khi chọn
những vị đó ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hẳn có thể có những
người không có ơn gọi thật sự, nhưng đã len lỏi vào. Nhưng cũng
có những “ ơn gọi bị phản bội “, nghĩa là người ta đã không sống
đúng ơn gọi. Mà quả lạ, không hiểu tại sao Chúa vẫn hay tín thác
vào những chiếc bình mỏng dòn, điều này ta đã nói ở trên rồi,
không hiểu tại sao Ngài lại cùng Giáo Hội bước vào một cơ nguy
khủng khiếp như thế. Ngài trao thân cho những bàn tay luôn sẵn
sàng phản mình. Và Ngài để mặc ta vấp té và sa ngã, để cho những
dụng cụ thiếu khả năng hành động, để rồi lại phải chính mình
đứng ra nâng đỡ Giáo Hội. Một mặt, ta có được an ủi, là vì Chúa
mạnh hơn tội lỗi con người. Nhưng mặt khác, đây lại là một thách
đố lớn cho tất cả những ai nghĩ rằng mình đã nghe được tiếng gọi
của Chúa, đi theo nó, và đã thật sự để nó chín muồi cùng với Đức
Ki-tô.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI"> Đức
Giê-su Ki-tô đã lệnh cho các môn đồ: “ Hãy đi khắp thế giới và
giảng Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo “. Cũng như trước đây các
tông đồ coi việc rao giảng là một trong những vai trò chính của
các ngài, thì sau này cũng có những nhân vật lớn của các dòng tu
– các tu sĩ Phan-sinh được coi là những “ anh em giảng thuyết “
- đã luôn tụ họp được từng đoàn lũ đông đảo quần chúng quanh
mình. Savonarola đánh động cả thành Firenze với một bài giảng
mùa chay. Các bài giảng của An-tịnh, như người ta nói, càng ngày
càng ngắn đi ; mỗi câu là một trọng điểm mang sức mạnh, mỗi từ
đều giá trị và trịnh trọng. Một trong những tác giả nghiên cứu
về ngài viết : “Ngài vẫn không ngừng giảng, cho tới khi tiếng
hoan hô hay nước mắt tràn lên mắt thính giả cho biết bức tường
chống lại chân lí và ân huệ cuối cùng đã bị bẻ gẫy “.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Giảng được cũng là một
quà tặng, một ân huệ, và thánh An-tịnh cũng luôn kính trọng các
linh mục bình thường khi giảng cần phải cầm sách. Ngài nói :
quan trọng không phải là cái độc đáo, nhưng là sự phục vụ trong
khiêm tốn. Nếu sách giúp cho người ta giảng được, thì đó là điều
tốt. Cám ơn Chúa đã cho ta những nhà giảng thuyết hùng biện,
nhưng cũng nên học sự khiêm tốn của người nghe trước những nhà
giảng thuyết kém khả năng.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Một linh mục quản xứ
trong một thành phố lớn ở Đức mới đây kể cho tôi hay, nhờ một
linh mục chẳng có tài năng bề ngoài nào cả mà ông đã quyết định
làm linh mục. Linh mục kia giảng dở, hát dở v.v.. vậy mà giáo xứ
của ông không hiểu sao vẫn tràn sức sống. Giáo xứ đó đã đánh
thức được bốn hay năm ơn gọi linh mục. Các vị quản xứ trước và
sau linh mục kia mọi mặt giỏi hơn nhiều, nhưng đã không đánh
thức được ơn gọi nào. Ta thấy đó, gương khiêm tốn của một linh
mục không có tài giảng có thể chính là một bài giảng và mình nên
cám ơn Chúa về những tài năng đa biệt đó.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">CHẾT</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Khi kết
thúc cuộc đời, mẹ Giáo Hội lo cho có một cuộc ra đi khỏi thế
gian tốt đẹp. Bà ban cho con cái bí tích kẻ liệt. Trước đây
người ta gọi đó là phép “ xức dầu lần cuối “.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">… và khi ai được hỏi
có muốn lãnh không thì người đó chối đay đảy, vì sợ rằng như vậy
là tên mình đã nằm trong danh sách người chết.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chữ “ xức dầu lần cuối
“ đã thành như một từ ngữ gây kinh hãi nơi người bệnh, và từ lâu
đã được Giáo Hội cố tình thay thế bằng chữ “ xức dầu bệnh nhân
“. Từ này đúng hơn và nó không còn gây ấn tượng sắp chết nơi
người bệnh, khi thấy linh mục đến.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thật ra, phép xức dầu
bệnh nhân nâng đỡ tinh thần người bệnh, và tiến trình nâng đỡ
này đôi khi cũng có thể đưa người đó tới lành bệnh. Đây là sự
nâng đỡ bằng bí tích của Giáo Hội trong hoàn cảnh đau bệnh, hơn
là một bí tích cho người sắp lìa đời. Đây là của ăn Thánh thể đi
đường thật sự. Qua lời nguyện kẻ liệt, qua phép lành kẻ liệt và
một lần nữa với phép giải tội, Giáo Hội trao cho người bệnh
những lời an ủi. Đó là những động viên trợ giúp vượt qua giai
đoạn chuyển tiếp khó khăn, mà người bệnh nhiều lúc xem ra như đi
vào một vùng tối, chẳng có chút ánh sáng nào.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phép xức dầu bệnh nhân
đúng hơn là một nâng đỡ để người bệnh chấp nhận đau khổ. Nó giúp
tôi bước vào cộng đoàn bí tích với Đức Ki-tô qua việc thăng hoa
cơn đau và nỗi khổ của tôi. Đây không nhất thiết là sự khỏi bệnh
thân xác. Bởi vì bệnh cũng có thể chữa lành tâm hồn tôi, nó có
khi cần thiết cho tâm hồn tôi. Đức Ki-tô đã dạy cho tôi đau khổ
và đã đau khổ với tôi, vì vậy Ngài có thể là vị bác sĩ thật sự
cho chính tôi, giúp tôi thắng vượt được căn bệnh tâm hồn sâu xa
hơn.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Người ta
nói, trong giờ lâm tử con người hay thay đổi cảm quan một cách
cực đoan. Những tay vô thần sắt thép vào giây phút cuối bỗng mềm
nhũn như con chi chi. Chuyên gia nghiên cứu sự chết, bà
Elisabeth Kübler-Ross, qua những tìm hiểu về kinh nghiệm lâm tử,
đã nhận ra : “ Hầu hết thay đổi một cách triệt để. Mọi giá trị
đều đổi. Giá trị của họ không còn quá vật chất, quá gây gỗ nữa.
Họ hướng về những giá trị thiêng liêng nhiều hơn “. Nghĩa là,
khi một người gần “ cửa tử “, phải chăng người đó đột nhiên có
thể nhận ra được rõ ràng đâu là cái thật sự đáng kể của cuộc đời
?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hẳn nhiên tình trạng
tiếp biên đó có thể giúp người ta nhận ra rằng của cải chồng
chất hay những huy chương, tưởng lục và ảnh hưởng của mình chẳng
phải cái cuối cùng, cái đáng kể. Một cuộc xét lại giá trị có thể
- nhưng không nhất thiết - sẽ diễn ra. Có những tâm hồn chai đá
và cùn mòn đến nỗi không nhìn ra được gì nữa. Thật ra những hoàn
cảnh tiếp biên đó chỉ có thể đẩy được ra ánh sáng những gì đang
nằm kẹt một cách nào đó trong tâm mà thôi. Như vậy, đừng đợi cho
đến giờ sau hết, cũng đừng để cho kho phúc đức cạn kiệt đi, kẻo
khi chú rể xuất hiện – nói theo dụ ngôn của Chúa – thì dầu trong
đèn đã cạn.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có một
kinh nghiệm khôn ngoan của công giáo cổ xưa : Chủ nhật thế nào
thì ngày chết cũng thế.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu đó cũng ám chỉ sự
chuẩn bị như trên. Nếu ngày chủ nhật vắng Chúa hoàn toàn, thì ta
sẽ mất hết nhiên liệu dự trữ, không còn sức để tạo ra được cái
chuyển mình sau hết. Và dù cho ân huệ Chúa vô tận đi nữa – thì
cũng không nên tiêu pha hết phần dự trữ trong tâm, kẻo vào lúc
cần tới, ta chẳng còn gì hết, đó là một cảnh cáo đối với ta.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Giáo Hội
dạy nên vui vẻ đón nhận cái chết : “Sống là chết, chết là sống
“. Sau chết, cuộc sống đời đời đang chờ ta.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đúng. Nhưng bản tính
con người không giống nhau. Khi An-tịnh nằm trên giường chết,
tội lỗi lại hiện ra rõ nét trong tâm trý ngài. Vì vậy, An-tịnh
cho treo lên tường các Thánh Vịnh sám hối, để mình có thể không
ngừng đọc theo. Ngài còn từ chối rước Mình thánh trong một thời
gian, để trầm mình vào ăn năn sám hối. Lúc đó ngài nghĩ tới
người cha tinh thần của mình Ambrosius*, là người đã đón nhận
cái chết một cách rất thanh thản, và đã nói : Ngài là con người
vĩ đại, nên được tặng cái chết ; còn tôi là một người khác, nên
không được tặng, tôi cần khiêm tốn sám hối, với hi vọng rồi Chúa
sẽ đón nhận tôi.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Song có lẽ cũng phải
nói rằng, nhiệm vụ của giáo dục Ki-tô giáo và của các bài giảng
là dạy cho tín hữu tin tưởng rằng, qua cái chết, ta đang bước
vào sự sống đích thực. Đó cũng là một cách giúp người ta vượt
qua sự sợ hãi trước nỗi bí ẩn, hay ít nhất vượt qua nỗi sợ thuần
thể lí, để thanh thản đón cái chết như một món quà.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Còn Hồng
Y, ngài có sợ chết không ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi vẫn biết mình
thiếu sót nhiều thứ, nên vẫn luôn nghĩ đến toà phán xét. Nhưng
dù vậy vẫn mang hi vọng, vì Chúa lớn mạnh hơn những yếu đuối của
mình.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ngài có
nghĩ nhiều tới cái chết ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có, vì càng về già,
người ta càng tới gần nó.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có được
phép hoả táng không, hay đó chỉ là một phong tục ngoại giáo ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngay người Do-thái,
khác với các dân tộc khác trong vùng biển Địa-trung, đã không
biết đến hoả táng. Họ chôn xác, và coi đó là hạt mầm của sự sống
lại. Người ki-tô sau đó đã lấy lại phong tục này. Trong mộ táng
cũng đã và đang tiềm ẩn một niềm tin sống lại, một niềm hi vọng.
Cho tới công đồng Vatican II ai hoả táng sẽ bị phạt. Do hoàn
cảnh của thế giới tân thời, Giáo Hội đã bỏ việc cấm đoán đó.
Niềm tin sống lại không nhất thiết phải diễn tả qua việc mộ
táng, bởi vì Chúa hẳn sẽ phải cho ta thân xác mới sau khi chết,
vì thế giờ đây được phép thiêu xác. Quan điểm của tôi còn khá cổ
hũ, tôi cho rằng mộ táng luôn vẫn là hình thức đích thực, qua đó
ki-tô hữu nói lên sự kính trọng đối với người chết, nhất là đối
với thân xác, và nói lên hi vọng vào quà tặng tương lai.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ngài nói,
Chúa sẽ cho ta trong đời sau một thân xác mới – điều này có
nghĩa là con người đời sau sẽ không còn giống với con người đời
nay ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trên một bình diện nào
đó, con người tái sinh trong ngày phán xét là một tạo vật mới,
nhưng nó vẫn giữ nguyên bản sắc người cả hồn lẫn xác. Thánh
Tô-ma nói, lúc đó hồn là lực hình thành của xác – hồn là xác,
hồn tạo cho mình thân xác. Bản sắc như vậy có nghĩa là hồn – hồn
này đã được tiếng gọi tái sinh trao cho một lực tác tạo mới - tự
tạo nên một thân xác đồng dạng. Nhưng tôi nghĩ, thật vô ích, nếu
ta cứ ngồi đây mà đoán chừng con người thân xác và con người vật
chất đời sau sẽ ra như thế nào.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Rất cụ
thể : Anh tôi mất lúc 14 tuổi. Hiện giờ anh ở đâu ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ở bên Chúa. Tôi nghĩ,
ở đây, ta phải bỏ những phạm trù xác định vị trí thuần vật chất
đi. Cũng như ta không thể xác định vị trí Chúa ở đâu, thì đối
với người chết cũng vậy, họ đã bước vào một tương quan vật chất
khác. Tương quan của Chúa đối với không gian vật chất là một
tương quan ngự trị xuyên suốt. Ta đã nói về những cấp độ gần
Chúa, chúng không bị giới hạn bởi những nơi chốn không gian, và
ta cũng đã nói rằng linh hồn, nguyên lí tinh thần trong con
người, cũng không phải là một cơ phận nào đó nằm ở đâu trong
thân xác, nhưng lại là hình thái xác định cái toàn thể. Cũng
thế, người chết tham dự vào một tương giao không gian khác của
Chúa, tương giao đó tôi không thể xác định được bằng phạm trù
địa lí.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Một số người dám nói,
người chết sống quanh quẩn bên mộ. Quan điểm đó làm tôi hơi kinh
khiếp. Không, họ đã ra khỏi hình thái không gian vật chất này
rồi, và đã bước vào một tương giao không gian khác, một không
gian trỗi vượt của Chúa. Thỉnh thoảng có người, trong tâm tưởng,
thấy mình vượt qua được tới bờ bên kia đại dương. Ta có thể coi
đó là thứ không gian vượt trội, một cấp độ không gian khác, đó
là sự gần gũi tinh thần. Dù sao, nên bỏ đi quan niệm người chết
phải ở một địa điểm nhất định nào đó. Thay vào đó ta nên nói :
Họ đang ở bên Chúa – như thế, họ đang hiện diện trong một thực
tại vũ trụ mới và cũng rất gần bên tôi.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Con người
chúng ta thích tò mò, chúng ta muốn biết một chút về thiên
đường. Nó ra sao, Kinh Thánh có nói cái gì đang đợi ta ở thiên
đường không?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Kinh Thánh cũng chỉ có
thể đề cập bằng hình ảnh. Chẳng hạn như cảnh phụng vụ thiên
quốc. Theo đó, thiên đường là cơn xuất thần của phụng vụ đích
thực đó, và cả ca hát và bay lượn cũng bằng hình ảnh.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng tất cả những cái
đó có thể bị hiểu lầm. Ta biết ở Đức có câu chuyện về một anh
người Bayern tới được thiên đàng, và rồi đêm ngày miệng cứ ca
hoài bài Alleluia muôn thủa, không dứt được nữa. Đây là điểm tôi
cho là quan trọng : không những hình thái không gian mà cả ý
niệmthời gian cũng đổi khác trong tình trạng khác mới (thiên
đàng) này. Nếu ta quan niệm thiên đàng là sự kéo dài vô tận của
thời gian, thì tới một lúc nào đó, sợ ta sẽ nghĩ là quá lâu đi.
Nhưng tình trạng được bứng ra khỏi diễn tiến thời gian ngày ngày
giờ giờ dính liền với những vòng quay địa cầu quen thuộc của ta,
để được đưa vào một thứ kết hợp mới giữa người với người bên
nhau, cũng có nghĩa là cái nhịp thời gian vĩnh cửu tiếp nối nhau
đó không còn nữa – mà chỉ còn lại một khoảnh khắc hiện tại độc
nhất ngập niềm vui. Vì thế, ta nên hình dung vĩnh cửu như là
khoảnh khắc ngập niềm vui đó, khoảnh khắc này nằm ngoài mọi thời
gian.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Hình như
ngài sẵn sàng hiến tặng cơ phận sau khi chết ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vâng, dù vẫn biết các
cơ phận già nua của tôi có lẽ chẳng còn hữu dụng lắm.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Một hình
ảnh dễ sợ : Trái tim Hồng Y Ratzinger trong một bác người Phi
châu theo đạo Islam tại Paris ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">… có thể lắm chứ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Bà
Elisabeth Kübler-Ross, chuyên nghiên cứu về sự chết, có ý kiến
rất rõ về câu hỏi có nên kéo dài sự sống bằng phương pháp nhân
tạo không. Bà nói : “ Một trăm phần trăm không. Không nên kéo
dài mà cũng không nên rút ngắn. Mỗi người có một thời điểm đúng
lúc để chết “. Người ta có thể nại lí do, vì còn nhiều việc dở
dang chưa xong nên phải kéo dài thêm sự sống. Hơn nữa, đây là
chuyện ít do bởi cá nhân quyết định, nhưng do “ một ông chủ lớn
hơn, người đó có quyền”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có nhiều cách hoặc
nhiều lối kéo dài sự sống, mà tôi chống, vì cho đó là cách dùng
bạo lực. Nhưng việc chữa trị, tự nó, cũng là những cách kéo dài
sự sống. Ngày nay, người ta có thể chữa được nhiều căn bệnh
trước đây phải bó tay. Tôi xem những lối chữa trị bằng kĩ thuật
phát triển của i khoa không phải là việc kéo dài sự sống bằng
nhân tạo.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Như vậy, vấn đề đặt ra
là, đến mức độ nào thì việc hiến cơ phận cho nhu cầu chữa bệnh
được coi là phương tiện bình thường và đáng làm trong mục đích
nới rộng khả năng của bác sĩ. Tôi nghĩ, việc ghép các cơ phận
đôi như mắt hay thận không có vấn đề lớn, cho dù ở đây đã có một
hi sinh rất lớn cho một phía. Rắc rối là khi ghép những cơ phận
như tim, mà người ta được phép lấy từ một nạn nhân đã chết về
phương-diện i khoa, nhưng phải lấy thật sớm, để cơ phận đó còn
“sống “. Bao giờ thì một người chết thật mà – mặt khác, chính cơ
phận của người đó thì lại phải còn sống -, đó là một câu hỏi
tiếp biên phải trả lời với ý thứctrách nhiệm lớn. Tiêu chuẩn `óc
ngưng hoạt động` tuy đã được nghiệm xét kĩ, nhưng theo tôi, vấn
đề này luôn phải được xét đi xét lại một cách chu đáo, vì người
ta luôn bị cám dỗ muốn lấy cơ phận thật sớm. Vì thế, ghép tim
trên thực tế là một việc chữa trị tiếp biên. Dù vậy, tôi không
hoàn toàn phản đối lối chữa này. Tôi nghĩ, trong lãnh vực chữa
trị đúng đắn cũng còn có những phương pháp chính đáng khác có
thể đưa vào.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<a name="4._TƯƠNG_LAI_"><span style="color: #FF0000"><b>4</b></span><span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI"><b>.
TƯƠNG LAI</b></span></a></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">GIÁO HỘI
THIỂU SỐ HAY GIÁO HỘI ĐA SỐ ?</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhiều năm
trước đây ngài đã nói điều rất tiên tri về Giáo Hội tương lai.
Lúc đó ngài bảo : “ Giáo Hội sẽ nhỏ lại, nó sẽ phải bắt đầu lại
từ đầu. Nhưng sau tiến trình thử thách, một sức mạnh sẽ toả tràn
ra từ Giáo Hội gọn nhẹ và tâm linh đó. Bởi vì con người trong
thế giới được hoạch định chu đáo hiện nay sẽ cảm thấy vô cùng cô
đơn… Và rồi người ta sẽ nhìn ra một cái gì mới mẻ trong các nhóm
nhỏ tín hữu sống đạo. Một hi họng mà họ vẫn trông mong, một giải
đáp mà họ vẫn âm thầm tìm kiếm “. Xem ra ngài có lí. Nhưng Âu
châu hiện sẽ đi về đâu ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước hết : Giáo Hội
có nhỏ lại không ? Khi tôi nói điều đó, khắp nơi người ta tố cáo
tôi là người bi quan. Và ngày nay xem ra chẳng có gì cấm kị hơn
cái mà người ta gọi là bi quan – cái đó cũng thường chỉ có nghĩa
là thực tế. Lúc này thì đa số đã chấp nhận là số tín hữu ki-tô
hiện nay ở Âu châu đang giảm. Chẳng hạn, thành phố Magdeburg
(Đức) chỉ còn 8% ki-tô hữu – nên nhớ : đủ mọi loại ki-tô hữu đấy
nhé. Các thống kê đó là những thực tế mà ta không thể chối cãi.
Với đà đó, Giáo Hội trên nhiều vùng văn hoá âu châu, chẳng hạn ở
Đức, đã mất tính cách Giáo Hội quần chúng (nghĩa là của đa số)
rồi. Ta phải quan tâm chuyện này.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nghĩa là
sao ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Giáo Hội đa số có thể
là cái gì đó rất đẹp, nhưng không hẳn cần thiết. Trong ba thế
kỷđầu, Giáo Hội tuy nhỏ, nhưng không chia năm sẻ bảy. Trái lại,
nó không co cụm lại, mà đứng ra lo cho người nghèo, người bệnh,
cho tất cả mọi người. Trong Giáo Hội đó có chỗ cho tất cả những
ai tin vào một Chúa, cho những ai đi tìm lời hứa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thoạt tiên là những
người kính sợ Thiên Chúa quây quần quanh các đền thờ do-thái
trong khắp Đế-quốc Rô-ma, họ tới với đền thờ và tạo thành một
vòng ngoài mở rộng. Việc dạy giáo lýnhập đạo trong Giáo Hội xưa
cũng mở ra gần giống i như vậy. Vì họ cảm thấy không thể đồng
hoá hoàn toàn được với Do-thái giáo, nên họ đã bám vào Giáo Hội
để xem có nên bước vào trong đó không. Giáo Hội không phải là
một câu lạc bộ khép kín, nhưng luôn mở ra cho mọi người, đó là
một ý thứcdính liền với Giáo Hội ngay từ đầu. Và khi các cộng
đoàn chúng ta trở nên nhỏ lại, như chiều hướng ta đang thấy,
chúng ta sẽ phải tìm lại hình thái mở rộng cho vòng trong vòng
ngoài như trước đây. Vì thế, tôi không chống lại những người mỗi
năm chỉ đến nhà thờ một hai lần vào dịp giáng sinh, tết hay một
dịp đặc biệt nào đó, vì điều này, một cách nào đó, cho thấy họ
còn muốn bám víu vào ơn thánh, vào ánh sáng. Vì thế, Giáo Hội
phải mở rộng cửa, phải có những cách thế cho các hình thức nương
tựa hay tham dự khác nhau.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhưng
Giáo Hội đa số cũng là thành quả cao nhất của văn minh tôn giáo
mà ! Giáo Hội thật sự là một tổ chức chung, có chỗ cho mọi
người, nó là thân cây với nhiều cành lá rợp bóng cho hết mọi
người mà ! Ta có thật được phép từ chối tính chất quần chúng,
nghĩa là tổ chức của đa số, không ? Dù sao thì đây cũng là một
thành quả đạt được với bao nhiêu cố gắng và hi sinh.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chúng ta phải chấp
nhận mất mát, nhưng chúng ta sẽ luôn là một Giáo Hội mở. Giáo
Hội không được đóng kín để thoả mãn cho riêng một nhóm nào. Nhất
là ta phải mang tinh thần truyền giáo, bằng cách luôn nhắc nhở
xã hội về những giá trị làm nên lương tri của nó, về những giá
trị làm nên nền tảng hiện hữu của quốc gia, và ta luôn phải là
một cộng đồng xã hội thật sự nhân bản.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong ý nghĩa đó, cuộc
tranh luận về tình trạng quá khứ của Giáo Hội quần chúng chắc
chắn sẽ được tiếp tục – trong một số quốc gia Giáo Hội vẫn sẽ là
tổ chức của đa số, nhưng ở một số khác, tình hình sẽ thay đổi.
Giáo Hội sẽ tham gia vào tiến trình lập pháp và sẽ phải luôn
quan tâm tới những hằng số nhân bản lớn của tiến trình kết tụ xã
hội của con người. Vì chưng, nếu luật pháp mất nền tảng luân lí
chung của nó, thì cả luật pháp cũng sụp đổ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhìn như thế, Giáo Hội
phải có trách nhiệm cho cả toàn thể. Trách nhiệm truyền giáo có
nghĩa là, như Giáo chủ đã nói, phải tìm cách nỗ lực tân phúc âm
hoá. Ta không được an tâm ngồi nhìn mọi thứ bên ngoài mình rơi
vào vòng ngoại giáo, nhưng phải tìm cho ra con đường mới đem Tin
Mừng tới cho cả những vùng chưa tin. Đã có những mô mẫu cho lãnh
vực này rồi. Nhóm tân giáo lýhọc đạo (Neukatechumenat) đã có mô
mẫu riêng, các tổ chức khác đang đi tìm con đường phù hợp cho
họ. Giáo Hội phải có thật nhiều sáng tạo, để cho Tin Mừng luôn
giữ được sức mạnh công chúng. Để Tin Mừng thấm nhập, cải hoá dân
chúng và dậy men trong họ. Trước đây chỉ là một cộng đoàn nhỏ bé
giữa các tông đồ, nhưng như Chúa nói, họ đã là men và muối đất.
Mọi chuyện đều khởi đầu từ nhỏ. Nhưng cũng phải khởi đầu với
trách nhiệm cho cả toàn thể.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">GIOAN -
PHAOLÔ II</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Gio-an
Phao-lô II là tảng đá của thế kỷ20. Giáo chủ từ Ba-lan là người
ảnh hưởng trên Giáo Hội mạnh hơn nhiều vị tiền nhiệm khác. Ngay
trong thông điệp đầu tiên Redemptor hominis (Đấng cứu chuộc nhân
loại) ngài đã xác định chương trình làm việc: Theo ngài, con
người, thế giới, các hệ thống chính trị đã xa lìa “những đòi hỏi
của luân lí và công chính”. Giờ đây Giáo Hội phải có một giáo
huấn rõ ràng để đối lại. Quan điểm này được nói đi nói lại trong
tất cả các thông điệp của ngài. Ngài bảo, ta phải xướng lên “văn
hoá sự sống” để chống lại “văn hoá sự chết”. Cái nền tảng Gio-an
Phao-lô II để lại đó có thể là bàn đạp tốt để tiến vào thế kỷ21
không?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nền tảng đích thực dĩ
nhiên là Đức Ki-tô, nhưng Giáo Hội luôn cần những lực đẩy mới,
luôn cần được tiếp tục xây dựng. Có thể nói rằng, nhiệm kì giáo
chủ của Gio-an Phao-lô II có một sức mạnh ngoại lệ. Đó là một
cuộc vật lộn chống lại tất cả những vấn nạn nền tảng của thời
đại chúng ta – và ngoài ra ngài còn tặng cho chúng ta nguồn vốn
tích cực để đi tới.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Các thông điệp lớn của
Giáo chủ, mở đầu với “Đấng cứu chuộc nhân loại”, rồi tới bộ ba
thông điệp trình bày khuôn mặt của Thiên Chúa, thông điệp quan
trọng về luân lí, thông điệp về sự sống, thông điệp về đức tin
và lí trí cắm lên những trụ cọc, như anh nói, làm nền cho ta có
thể xây tiếp lên đó. Sở dĩ nói xây tiếp, là vì Ki-tô giáo, trong
một thế giới biến chuyển quá nhanh như hiện nay, luôn phải phát
biểu một cách mới mẻ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước đây, khi đối
diện với Do-thái giáo, Hồi giáo và văn hoá la-hi, Tô-ma ở Aquino
đã phải đưa Ki-tô giáo vào một lối nghĩ mới, để tạo cho nó một
hình thù kéo dài mãi cho tới Thời mới. Hình thù này sau đó đã
được thay đổi khi nhân loại bước vào Thời mới, qua các quyết
định nền tảng của công đồng Trento do hậu quả của Cải cách. Mô
hình Giáo Hội này đã kéo dài 500 năm. Ngày nay, trước cuộc biến
chuyển quan trọng của thời đại, chúng ta phải làm sao một mặt
vẫn duy trì được cái bản sắc của toàn thể, mặt khác tìm ra được
cái khả năng sống động, làm sao phát biểu chúng một cách mới mẻ
và hiện tại hoá chúng. Trên lãnh vực này, giáo chủ Gio-an
Phao-lô II đã có một đóng góp lớn.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">GIÁO HỘI
HOÀN VŨ TRONG TƯƠNG LAI</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Trước đây
50 năm, các nước kĩ nghệ còn chiếm một phần ba nhân loại. Chỉ
cần hai thế hệ nữa thì 90 phần trăm dân số thế giới thuộc về các
nước đang phát triển. Tới giữa thế kỷ21, riêng Trung-quốc hay
Ấn-độ mỗi nước cũng sẽ có số dân nhiều hơn cả thế giới phương
tây gộp lại.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Và Giáo
Hội hoàn vũ trong tương lai cũng sẽ có những biến chuyển dân số
lớn. Hiện nay, các cộng đoàn Giáo Hội trong thế giới thứ ba
trước đây, không chỉ xét riêng về số lượng, đã vượt số giáo xứ
của các nước trung Âu. Phi châu, chẳng hạn, đầu thế kỷ20 mới có
1,7 triệu tín hữu công giáo, nay bước vào thế kỷ21 đã lên tới
110 triệu. Lúc này đã có thể mường tượng được hình thái Giáo
Hội, cả phụng vụ và mục vụ, sẽ thay đổi ra sao chưa?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi nghĩ lúc này mình
không nên tính toán ngoại suy, bởi vì lịch sử luôn có quá nhiều
biến chuyển bất ngờ. Mọi chẩn đoán tương lai sẽ bị yếu tố bất
ngờ lật nhào. Chẳng hạn, đã chẳng ai dám tiên đoán sự sụp đổ của
các chế độ cộng sản, biến cố này đã tạo nên một tình trạng lịch
sử hoàn toàn mới. Đúng, hình ảnh xã hội thế giới sẽ thay đổi rất
lớn. Thế giới phương tây, nơi lượng người đang giảm và hiện đang
là vùng có sức mạnh trấn át, rồi ra sẽ ra như thế nào? Việc di
dân – dĩ nhiên hết người thì phải đưa thêm vào chứ - sẽ biến bộ
mặt Âu châu ra sao? Lực ảnh hưởng sẽ nghiêng về đâu, nền văn
minh nào, hình thái xã hội nào sẽ thắng thế ? Tất cả những cái
đó lúc này chưa thể đoán được.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vì thế, phải vô cùng
thận trọng với những phát biểu về tương lai. Tuy nhiên, chắc
chắn là tiềm năng tín hữu sẽ khác đi. Con người phương tây với
thái độ hiện thời của họ về thế giới sẽ không thể tiếp tục giữ
được sức mạnh trấn át như đã có. Những tâm tính mới, những đặc
sủng mới sẽ phải xuất hiện và ấn dấu lên bộ mặt Giáo Hội.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Do đó, theo tôi, quan
trọng nhất là ta phải cơ bản hoá/ nền tảng hoá
(Verwesentlichung), chữ Guardini dùng. Đây không hẳn là việc
tưởng tượng tiền chế ra một cái gì đó, mà rồi trong thực tế lại
xẩy ra khác, và cái đó ta không thể biến chế được trong ống
nghiệm. Nhưng đúng hơn, là tìm ra cái nền tảng và sống với nó,
để rồi nó có thể sẽ hoá thân ra trong cái mới và được trình bày
một cách mới mẻ. Trong ý nghĩa đó, đơn giản hoá cũng là một công
tác quan trọng, nghĩa là mình phải tìm ra cái gì thực sự còn lại
và cơ bản toả ra từ giáo huấn, từ đức tin của ta. Phải mang ra
ánh sáng những hằng số nền tảng lớn, như vấn đề về Chúa, về sự
cứu độ, về hi vọng, về sự sống, về cái gì là nền tảng trong luân
lí, rồi hệ thống hoá chúng lại một cách mới.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phải sửa đổi lại phụng
vụ cho hợp với thế giới kĩ thuật và với những nền văn minh nào
đó ư? Tôi không tin câu hỏi này cần thiết. Tất cả những thứ đó
là sản phẩm tự chế của con người. Phụng vụ có được cái cao cả,
là vì nó bắt nguồn từ khởi nguyên và lớn lên trong sống động. Nó
phải được chúng ta bao bọc và gìn giữ một cách kính cẩn. Có như
thế nó mới cao cả và mới nói được cho con người thuộc mọi nền
văn minh khác nhau. Lại nữa, kho tàng nghi lễ đa dạng của phụng
vụ đã có từ lâu. Nó sẽ cho ta biết dạng nào sẽ mang sức sống
mạnh nhất trong các nền văn minh khác nhau.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Hãy để
mắt quan sát nước Hoa-kì. Rõ ràng đó là quốc gia dẫn đầu thế
giới. Chính trị, khoa học, kinh tế và nhất là lối sống của chúng
ta ngày nay tất thảy đều bị ảnh hưởng mạnh do Hoa-kì. Công giáo
Mĩ đã và đang có những đóng góp nào cho công giáo thế giới?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngày nay, công giáo
hoa-kì đã trở thành một trong những lực quyết định của công giáo
hoàn vũ. Giáo Hội ở Mĩ rất năng động. Dĩ nhiên nó cũng có những
căng thẳng. Một mặt, có những nhóm nặng phê bình chỉ trích, họ
muốn có một Ki-tô giáo duy lí và dân chủ hơn. Nhưng đồng thời
cũng có những tâm điểm tôn giáo mới đang trỗi dậy, những cộng
đoàn dòng tu mới hình thành và đòi phải có một nếp sống tu trì
triệt để. Họ sống cuộc sống đó trong niềm tin vui, họ muốn đọc
lại các giáo phụ và thánh Tô-ma ở Aquino, và muốn được huấn
luyện theo tinh thần của các ngài. Đó là một Giáo Hội đang sống
lại cái căn bản tôn giáo rất mạnh: dám hi sinh đời sống vì và
cho đức tin, can đảm phục vụ vì đức tin. Đó là một Giáo Hội cũng
mang trách nhiệm lớn đối với xã hội qua hệ thống giáo dục và nhà
thương trải rộng của mình.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong Bộ chúng tôi,
chẳng hạn, không phải chính chúng tôi quyết định về những vấn
nạn liên quan tới luân lí i học, mà mỗi ngày do tiến bộ của i
khoa càng tạo ra nhiều thêm. Người Mĩ có một mạng lưới bệnh viện
công giáo rất rộng. Nhờ thế ngày nay họ có một đội ngũ chuyên
viên có hiểu biết sâu và kinh nghiệm sinh động trong lãnh vực i
khoa tân tiến. Chúng tôi trao những câu hỏi đó cho họ thảo luận,
phác hoạ nên những đường hướng chỉ dẫn (Guidelines) và trao đổi
với họ về những phác hoạ đó. Những giải đáp thoạt tiên mang tính
địa phương, nghĩa là cho Hoa-kì mà thôi, nhưng vẫn để ngỏ để
tiếp tục bổ túc kinh nghiệm các nơi khác. Nhưng dù vậy, các giải
đáp trên cũng được kể như là những lời giải mẫu về mặt luân lí i
học có thể áp dụng hay làm chuẩn cho các nơi khác.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vì thế tôi tin rằng,
với vốn kinh nghiệm to lớn về mặt đời cũng như kinh nghiệm đức
tin mà họ đã trải qua, Giáo Hội hoa-kì sẽ ảnh hưởng quan trọng
lên thế giới ki-tô hữu ở Âu, Phi và Á châu. Trước đây người ta
nói, cái gì xuất hiện ở Pháp, thì sẽ xuất hiện trên toàn thế
giới. Nhưng nay thì khác. Hoa-kì, về mặt đời, cung cấp cho thế
giới thời trang và khẩu hiệu. Còn về mặt đạo, Giáo Hội của họ
tạo ra những mô hình kiểu mẫu. Lạ lùng là các mô mẫu đó đã đẩy
lui đi cái Ki-tô giáo xem ra tân tiến và đồng thời quá lí trí và
quá ít thấm nhuần đức tin, để đưa vào đó những xung lực đức tin
thật sự và cả những hình thái sống đức tin điển hình.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nghĩa là
cũng có cả “sống lối Mĩ” (american way of life) cho đời sống
Ki-tô giáo, công giáo?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Lối sống đó thật sự
thấm nhuần chất công giáo, chứ không chỉ chất “mĩ” mà thôi. Tôi
tin rằng người dân trên nước Mĩ nhận vào mình toàn thể cái công
giáo tính và muốn làm mới thế giới tân tiến.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nước nào
hiện nay có nền thần học được coi là hướng đạo hay có Giáo Hội
mẫu mực? Con ngựa kéo đầu đàn nằm ở đâu?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chẳng có chú ngựa cổ
điển nào cả. Đúng hơn có một thuyết đa tâm.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước hết, châu Mĩ
la-tinh đã thách đố hoàn vũ Ki-tô giáo với thần học giải phóng.
Nhưng nay nó đang đi dần vào quá khứ. Chỉ còn lại lời kêu gọi
trách nhiệm đức tin về mặt chính trị và xã hội. Lúc này, châu Mĩ
la-tinh đang đam mê vấn đề hội nhập với những nền văn hoá thổ
dân. Hoa-kì đang ở tuyến đầu trong việc vật lộn với những thách
đố của thời đại mới. Cả trong khoa diễn giải, họ cũng đã có
những thành tựu mới, lí luận một chiều của phương pháp phê bình
lịch sử đã được họ thay thế bằng cái gọi là phương pháp diễn
giải quy điển, nghĩa là bằng lối đọc hiểu Tin Mừng trong toàn
thể của nó. Như vậy, nền thần học hoa-kì đã có một đóng góp quan
trọng. Nhưng Âu châu, cả Đức, luôn vẫn là nơi có tiềm năng lớn
về thần học.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhờ hệ thống phân khoa
thần học trong các đại học của chúng ta, nhờ tiền của và phương
tiện ta sẵn có, việc nghiên cứu vẫn đang rất mạnh và sinh hoa
kết quả. Dĩ nhiên có một thứ chủ nghĩa duy lí mới, mà người ta
coi như là yếu tố hàn lâm bắt buộc, hiện đang là nguy cơ cho
công tác thần học. Cái lối thần học duy lí này sẽ không tiến xa
được, vì nó chối từ ngay những nền tảng của nó. Tôi tin thế hệ
thần học mới sẽ lại nhìn ra được rõ hơn về nguồn cội của thần
học, nó chủ yếu phải bắt nguồn từ đức tin, chứ không thể là nơi
tính cách hàn lâm thuần tuý. Dù sao, Âu châu vẫn đang là điểm
nóng của thần học.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Á châu có Ấn-độ, là
nơi đang vật lộn với thế giới các tôn giáo và đang nỗ lực xác
định chỗ đứng của đức tin trong thế giới ngày nay một cách điển
hình. Phi châu ngày nay đang trở về với các giá trị truyền
thống. Ta hãy nghĩ tới trọng lượng của Phi châu đã đạt được
trong Hội đồng tôn giáo thế giới. Nơi đây, trong khi Tin lành
phương tây đang phải lặn ngụp trong các vấn đề sắc tộc, thì thế
giới Ki-tô giáo châu Phi ung dung đặt nổi lên lại cảm thức uyên
nguyên về những giá trị truyền thống của họ. Dĩ nhiên họ cũng đề
cập rất cụ thể tới những câu hỏi liên quan tới việc xây dựng xã
hội – như làm sao Ki-tô giáo có thể trở thành một sức mạnh kiến
tạo hoà bình, một sức mạnh thúc đẩy hoà giải – có lẽ họ ít lí
thuyết hơn, nhưng với những đau khổ và những kinh nghiệm đau
thương đã trải qua, Giáo Hội trên lục địa này hẳn có gì để nói
cho con người.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">HỢP NHẤT
KITÔ HỮU</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Vào cuối
thế kỷvừa qua, các nhà thần học của hai Giáo Hội tin lành và
công giáo đã kí với nhau một “Tuyên ngôn chung về công chính
hoá”. Theo đó, ơn công chính không chủ yếu do những việc làm của
con người, nhưng trên hết chỉ là do ân huệ của Chúa, dù con
người đã có một cuộc sống tốt hay xấu. Đó có phải là một bước
tiến thực sự đi tới đại kết hay không? Bên cạnh những điểm giống
nhau, ta có phải bằng mọi cách giữ lại những điểm cá biệt về đức
tin, để không rơi vào nguy cơ mất bản sắc?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tiếc rằng ta đã không
truyền thông cho mọi người hiểu được đúng nội dung của tuyên
ngôn, đơn giản là vì ngày nay chẳng ai còn hiểu “giáo huấn về
công chính hoá” nghĩa là gì nữa cả. Thời Luther, đó là một đề
tài lớn, làm nôn lòng mọi người, và dĩ nhiên việc bành trướng
của Tin lành không chỉ do điểm này mà ra, nhưng còn do chuyện
các ông hoàng đã lợi dụng nó để trục lợi cho mình. Ngày nay, câu
hỏi trên chẳng còn là đề tài thực tiễn gì nữa trong thế giới tin
lành. Vì vậy, công luận chỉ còn hiểu một cách đơn giản là chỉ có
ân huệ Chúa mới đáng kể, còn việc lành (cuộc sống) chẳng quan
trọng gì cả. Phát biểu như vậy là không những giản tiện hoá quan
điểm của Luther, mà còn là không hiểu gì về những vấn nạn con
người thật sự đặt ra cho Ki-tô giáo ngày hôm nay. Hơn nữa, 500
năm qua, kể từ Cải cách, cả thế giới Ki-tô giáo đã có được những
kinh nghiệm mới và đã trải qua một cuộc đổi thay thời đại. Ở đây
tôi không thể trình bày hết mọi chuyện được. Chỉ cần điều này:
Trước hết, bản tuyên ngôn chung xác nhận: khởi đầu của một cuộc
sống với Chúa quả là do chính Chúa định đặt. Chúng ta không thể
tự mình vươn tới Chúa được, nhưng chỉ có Ngài mới có thể đưa ta
tới Ngài mà thôi. Đức tin là bước khởi đầu đưa con người tới
đường công chính. Và đức tin lại là dấu chỉ của sáng kiến của
Chúa, sáng kiến này ta không tự mình tạo nên và ta không xứng
đáng để hưởng nó.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong quá trình hình
thành tuyên ngôn, Giáo Hội công giáo coi trọng điểm này: một mặt
hoàn toàn công nhận sáng kiến khởi đầu đó của Chúa, song mặt
khác cũng công nhận là Ngài đã thực hiện một cái gì đó trong
tôi. Ngài nhận tôi vào, giao cho tôi trách nhiệm, để tôi cùng
cộng tác và tạo nên hoa trái – và bản án cuối cùng sẽ được căn
cứ trên nỗ lực đồng trách nhiệm của tôi. Tiếc thay cột trụ thứ
hai này đã không được công luận chú í đến.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nói cách khác: Chúa
không cần có những kẻ nô lệ, để Ngài cầm tay lôi vào đường công
chính và chính Ngài cũng chẳng quan tâm gì tới họ. Nhưng Ngài
muốn làm cho con người trở thành đích thực là những bạn đồng
hành, những chủ thể thật sự, những người tự có khả năng dùng quà
tặng khởi đầu của Ngài để cùng tác động và cùng mang trách nhiệm
về tác động đó. Tôi muốn nói đó là hai cột trụ chứa đựng trong
tuyên ngôn. Trong đó, kinh nghiệm của Luther rất phù hợp với Tin
Mừng đã được đưa vào. Nhưng đồng thời cũng có cả điều mà Giáo
Hội công giáo xưa nay vẫn luôn rao giảng. Cả hai tạo nên sự cân
đối.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Giáo Hội
cầu nguyện cho hiệp nhất ki-tô hữu. </span>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Nhưng ai
hiệp nhất với ai?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Công thức mà các nhà
đại kết lớn đã tìm ra, là chúng ta cứ đi tới. Chúng ta không
nhất thiết muốn có những nối kết cụ thể, nhưng hi vọng ở đâu
được Chúa đánh thức đức tin, ở đó Ngài sẽ đưa về một mối và ở đó
có một Giáo Hội duy nhất. Là người công giáo, chúng ta xác tín
rằng Giáo Hội duy nhất đó có khuôn hình nền tảng nơi Giáo Hội
công giáo, nhưng cả Giáo Hội này vẫn bước tới tương lai và vẫn
để cho Chúa giáo dục và chăn dắt. Như vậy, chúng ta không đề ra
một kiểu mẫu nối kết nào cả, mà đơn giản cứ tiếp tục bước đi
trong niềm tin dưới sự hướng dẫn của Chúa – là đấng biết con
đường sẽ đưa tới đâu. Và chúng ta tin tưởng vào Ngài.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Đã có
những suy nghĩ mạnh bạo về mặt đại kết?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Không, vì chuyện kết
hợp không thể là một màn diễn chính trị, hay do thanh gươm dí
vào cổ mà thành được. Cũng không do giáo chủ công giáo hay Hội
đồng tôn giáo thế giới muốn là được. Mà đó là những diễn tiến
sống động. Đức tin là một cái gì sống động và cắm rễ sâu trong
mỗi người và nó mang trách nhiệm trước mặt Chúa. Giáo chủ không
phải là ông vua độc tài hay chuyên chế muốn làm gì thì làm,
nhưng nhiệm vụ của ngài là phục vụ sự vâng lời đức tin.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Trong đức tin, người
ta không thể ra lệnh cho ai phải soạn ra những dự án đại kết như
thế nào, hoặc bảo rằng, thôi bây giờ Giáo Hội anh bỏ bớt đi một
chút, phía tôi thêm vô một chút, không thể có chuyện như vậy
được. Hoặc là ta tin vào Chúa – như vậy thì không thể nói được
ngày mai ta sẽ làm khác đi. Hoặc là ta coi mình có quyền quyết
định – như thế thì mọi chuyện sẽ vô giá trị. Không, đức tin là
cái gì sống, trong đức tin chúng ta tín thác vào Chúa, và Ngài
sẽ không vì mưu đồ chính trị mà phải đi tới một công thức thoả
hiệp.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Chúng ta chỉ có thể
khiêm tốn nỗ lực cơ bản hoá đức tin, nghĩa là nhận ra cái gì là
nền tảng nơi nó - cái đó không do ta làm ra nhưng ta đã nhận
được từ Chúa-, và từ tâm điểm cái nền tảng đức tin đó ta mở ra
và để Chúa, chỉ một mình Chúa mà thôi, dẫn đi tiếp.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">NHỮNG NGUY
CƠ MỚI CHO ĐỨC TIN</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Liên quan
tới việc Ki-tô giáo mất ảnh hưởng trong thế giới tục hoá, ngài
đã nói tới một nguy cơ đe doạ đức tin rất tinh tế mà tới nay
chẳng được mấy ai quan tâm, đó là nền độc tài dư luận. Nền độc
tài này chỉ chấp nhận một Ki-tô giáo dễ bảo, chịu thích nghi,
không góc cạnh, trong lúc những người sống đức tin thực sự thì
bị nó đóng ấn là “bảo căn”, “cứng đầu”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tôi tin đó là một mối
nguy thực sự. Người ta không truy nã đàn áp ki-tô hữu một cách
công khai, làm như vậy thì cổ hũ và quá lỗi thời. Không, người
ta tỏ ra rất khoan dung, hoàn toàn cởi mở. Nhưng nơi nào có đức
tin hiện diện đích thực, nơi đó họ lại loại trừ và kết án là bảo
căn.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tôi nghĩ có thể xẩy ra
trường hợp buộc mình phải chống lại một nền độc tài xem ra khoan
dung, nhưng nó lại đồng thời triệt tiêu đức tin bằng cách kết án
đức tin thiếu khoan dung. Nghĩa là có một bất khoan dung của
những “người khoan dung”. Đức tin không đi tìm mâu thuẫn, nó tìm
không gian tự do và nơi chịu đựng nhau. Nhưng nó không thể để
cho những công thức tiêu chuẩn của tân tiến sai khiến. Đức tin
có một nhiệm vụ cao hơn là trung thành với Chúa và phải sẵn sàng
chấp nhận thứ mâu thuẫn mới này.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">PHỤC HƯNG
TÂM LINH</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Ki-tô hữu
trẻ đi tìm một tôn giáo đậm cảm giác. Họ muốn quay trở lại thủa
ban đầu của Giáo Hội, trở lại cội nguồn của mầu nhiệm, và đòi
hỏi phải có một cuộc đổi mới tâm linh, hầu làm sống lại một cách
mới mẻ cả những mặt lưu truyền đã bị bỏ quên của Ki-tô giáo.
Giáo Hội có cần một cú xốc để tạo lại tiếng nói cho các biểu
tượng câm lặng của mình không?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Hẳn nhiên Giáo Hội cần
những cuộc lên đường tâm linh sống động. Trong mọi thời, Giáo
Hội trân quý tất cả những hình thức làm dấy lên đam mê mới cho
đức tin; những phương thức đó không do chính trị khởi xướng,
nhưng phải xuất phát từ lòng Giáo Hội. Như ta đã thấy, cuộc đổi
mới trong thế kỷ16 không đến từ các định chế, nhưng đã do những
con người được cảm hoá và họ đã tạo nên những phong trào mới.
Ngày nay, ta cũng nhận ra cuộc đổi mới đó trong nhiều hình thái
đa dạng – mà phong trào đặc sủng là một trong những thí dụ. Đây
có thể nói là một an ủi mà Chúa đã tặng cho ta; qua các phong
trào đó, Chúa chứng tỏ cho ta thấy Thánh Linh vẫn hiện diện và
có sức mạnh.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Trên thực tế, Công
giáo không bao giờ chỉ được hoạch định và quản trị bằng định chế
hay bằng đầu óc hàn lâm. Mà nó luôn hiện diện như là một món
quà, như một sinh lực tâm linh. Và món quà đó rất đa dạng. Không
có Công giáo đồng phục. Trong Công giáo có đủ kiểu: Focolare,
Schönstatt, Cursillo, Thánh linh. v.v. cũng như bên cạnh
Phan-sinh còn có Biển-đức, Đa-minh… Trong một chung cư mỗi gia
đình sống đạo mỗi khác. Và cái kho tàng trăm hoa năng động đó ta
nên duy trì.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ngày nay, có một chiều
hướng đòi đồng phục nơi các đại biểu tân tiến nhất của Công
giáo. Họ ngờ vực và đóng ấn phản động lên những gì sinh động và
mới, những gì không tuân theo khuôn mẫu hàn lâm hoặc không theo
quyết định của các uỷ ban hay của các kì họp hội đồng. Dĩ nhiên
luôn có những nguy cơ, những sai lầm, những bất cập v.v. Ông làm
vườn Giáo Hội phải luôn cảnh tỉnh sửa sai, nhưng đồng thời cũng
phải chấp nhận cái mới sống động đó như là một quà tặng.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tôi nghĩ, cần có một
khoan dung lớn trong nội tình Giáo Hội, để chấp nhận, coi lối
sống đa dạng đó như là một cái gì thuộc độ lớn công giáo – để
rồi không đơn giản loại bỏ nó, cho dù nó không hợp với khẩu vị
mình. Chẳng hạn ở Đức, khi nghe nói đến tu hội “Opus Dei”, hội
“Hướng đạo âu châu” hay một cái gì khác, người ta phải tỏ ra bực
bội, là vì nếu không thì mình chẳng còn được xem là một tín hữu
công giáo tốt nữa! Có những cái không hợp với khẩu vị “bình
thường”, hay nói khác đi, không hợp với khẩu vị người “Đức”. Ở
đây, mình cần phải bao dung để chấp nhận cái độ lớn công giáo
kia.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Hẳn nhiên, những người
khác cũng phải sẵn sàng bỏ đi những cá biệt hoặc nguy cơ đóng
kín của mình để phục vụ cho toàn thể. Sự hiện diện của ghế giáo
chủ hay giám mục cũng là để duy trì cái độ lớn kia, đồng thời để
ngăn chặn những đóng kín đưa tới kết bè lập phái và đưa chúng
trở về hoà nhập với toàn thể.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">ĐIỀU CÓ
THẬT.</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Thánh
An-tịnh chăm lo cho gia sản quý nhất của Giáo Hội, đó là những
kẻ nghèo, người goá bụa, trẻ mồ côi. Cuộc sống thay đổi của ngài
sau khi vào Ki-tô giáo đã khiến cho những lời ngài nói trở nên
khả tín, xác thực và nẩy lửa. Phải chăng gương sống thật của
ki-tô hữu có nhiều giá trị trên xã hội hơn là những bài giảng
xoa dầu cù là hay những cuộc nghị luận hàn lâm?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Dĩ nhiên đúng là như
thế, và đội ơn Chúa, cũng đã có những tấm gương đó. Ở đây tôi
nghĩ tới, chẳng hạn, Hồng Y O´Connor ở Nữu-ước đã lập một hội
dòng mới để lo cho những người bệnh liệt kháng và chính ngài
cũng bỏ ra mỗi tuần một ngày cho công tác này. Tôi cũng nghĩ tới
“các chị nhân ái” (Sister of Mercy), một dòng tu mới tại Hoa-kì,
chuyên lo việc giáo dục và nhiều công tác phục vụ chữa bệnh
khác. Hoặc mẹ Tê-rê-xa ở Calcutta với tu hội của mẹ. Đội ơn Chúa
đã có biết bao tấm gương sống niềm tin một cách âm thầm triệt để
chứng minh cho cái có thật đó, và những chứng tá cũng đã mang
hiệu quả.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Nhà văn
người Pháp Georges Bernanos có lần viết: “Thánh là một cuộc
phiêu lưu, ngay cả là cuộc phiêu lưu duy nhất có thể có. Có hiểu
được điều đó, thì mới đi vào được trái tim đức tin công giáo”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Trong đức tin, chúng
ta nhìn nhận chính Giáo Hội là “thánh”. Điều này không có nghĩa
tất cả mọi người trong Giáo Hội đều là thánh. Cũng không phải
trong Giáo Hội cái gì cũng tốt cả, nhưng có nghĩa là Giáo Hội đã
được Chúa chạm tới và trong đó luôn có thánh xuất hiện. Điều
quan trọng ở đây là ta nên quan niệm thánh một cách rộng rãi,
bởi vì thánh có muôn hình vạn trạng. Cứ xem những vị đã xuất
hiện trước mắt ta, thì sẽ thấy có bao nhiêu là cách thức và loại
hình nên thánh. Từ một bác sĩ xả thân phục vụ cho tới những học
giả, những người bình thường, những nữ tu và giáo dân, tất cả họ
đều sống trong thế giới này.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Cũng có những vị thánh
âm thầm, điều này luôn quan trọng đối với tôi, họ là những người
bình thường mà tôi đã làm quen lúc còn nhỏ, những cụ già nông
dân hiền từ và những bà mẹ hiền lành quên mình cho con cái, cho
gia đình, cho Giáo Hội, và cũng luôn hi sinh cho những người
khác trong thôn xóm. Không nhất thiết phải là một cái gì anh
hùng, nhưng cũng có thể ngay cả cái thật tầm thường, cái khiêm
tốn.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Và dĩ nhiên cũng luôn
có những khuôn mặt gây rúng động. Ở </span>
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">ý</span><span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">
này có linh mục Pi-ô nổi tiếng kinh khủng, nghe nói ngài đồng
thời cũng là một linh mục giải tội rất nóng tính. Xưng tội với
ngài chẳng thoải mái lắm, nhưng qua khuôn dáng và cung cách
ngài, con người cảm thấy như chính Chúa đang nói với họ thật, và
nếu cần, thì Chúa cũng cho họ ít roi. Roi vọt nhiều khi không
phải là vô bổ. Trong Tin Mừng, ta thấy Đức Giê-su tỏ ra vừa
cứng rắn, vừa rất hiền từ và hay giúp đỡ. Hình ảnh đó, trong thế
kỷnày, lại hiện thân qua linh mục Pi-ô. Như vậy, qua những gì
hiện ra trước mắt ta, ta biết rằng thánh là có thật và nó giúp
ta những lực sống mới. Có những vị thánh khiêm nhường, đơn sơ,
không ai viết ra, nhưng quả thật vô cùng quan trọng cho đời sống
Giáo Hội.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Luôn có
những chuyện không thể lường trước được, bất ngờ xẩy đến làm
xoay chuyển cuộc sống. Đặc biệt dễ thấy là sự phục hưng phong
trào sùng kính mẹ Maria trên khắp thế giới hiện nay. Ngài có
nghĩ rằng mẹ Maria sẽ là cửa ngõ cho hàng triệu người tìm đến
Giáo Hội không?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ta chẳng bao giờ tiên
đoán được tình hình sẽ diễn biến như thế nào. Ai chỉ biết ngồi
đó dùng thống kê về tình trạng hiện tại ở Âu châu mà hàn lâm
ngoại suy về sự sụp đổ của Giáo Hội, người đó chẳng hiểu gì về
sự bất lường của lịch sử con người, nói chung – và về lực khởi
xướng của Chúa có thể tới bất cứ lúc nào, nói riêng.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Rõ ràng có những đợt
sóng mới ít ai ngờ về việc sùng kính đức Mẹ trên thế giới. Nhưng
trong đó cũng có một số hình thức hiện ra và sứ điệp giả. Phải
rất thận trọng, đừng quá dễ dãi tin ngay đó là những phép lạ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng trái lại, cũng
đừng quá cứng lòng khiến thực tế có thật không thấm nhập được
vào mình. Hãy nghĩ về biến cố ở Lộ-đức, lúc đầu người ta cứ bảo
là cô bé kia bày chuyện. Nhưng rồi chính mẹ Maria đã thực sự có
ở đó. Chắc chắn chẳng phải vô tình mà ngày nay rất đông người
quay trở về với Mẹ, qua đó Ki-tô giáo lại trở nên thân thương và
gần gũi với ta, đồng thời nhờ Mẹ mà ta tìm ra được lối vào.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ta đã nói chuyện về
Nam Mĩ, nhờ Guadeloupe mà thổ dân ở đó đã có thể thấy được đạo
không phải là của thực dân, song là của Mẹ nhân từ và của Thiên
Chúa đã khổ đau vì chúng ta – và Mẹ thật đã trở thành cửa ngõ
dẫn tới Đức Ki-tô -, cho tới nay người ta vẫn tin như thế. Cả
ngày nay, không riêng gì Nam Mĩ, nhờ qua Mẹ mà một nhân loại
kiệt sức vì thế giới kĩ thuật lạnh lẽo và một Ki-tô giáo duy lí
và mỏi mệt có thể tìm gặp lại được chính Đức Ki-tô một cách sống
động. Ta có quyền mạnh dạn bước vào tương lai với niềm vững tin
đó.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Giáo chủ
Gio-an XXIII đã có thể nói: “Tôi thuộc về một Giáo Hội sống động
và trẻ trung, Giáo Hội đó đang tiếp tục dẫn công trình của mình
đi vào tương lai không chút âu lo”. Hồng Y Joseph Ratzinger cũng
có thể nói được câu đó?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có! Tôi có thể vui vẻ
nói lên điều đó. Tôi thấy có nhiều cành cây Giáo Hội già cội và
đang chết dần, chúng chậm rãi lìa thân, lúc lặng lẽ, lúc ồn ào.
Nhưng trên hết tôi thấy sự trẻ trung của Giáo Hội. Tôi đã được
gặp bao nhiêu người trẻ, từ khắp mọi miền thế giới, tôi đã được
gặp bao nhiêu phong trào mới, thấy được đức tin hân hoan bừng
lên trong đó. Và tất cả những kẻ phê bình chỉ trích Giáo Hội –
họ luôn có lí của họ - đã chẳng đánh đổ được nỗi hân hoan đó, vì
niềm vui nơi Chúa Ki-tô lớn hơn mọi phê bình chỉ trích. Vì vậy,
tôi có được một nơi chốn, ở đó tuy có nhiều nỗ lực khó khăn,
nhưng lại có nhiều gặp gỡ cho thấy sự trẻ trung của Giáo Hội
hơn. Và chúng ta được phép yên tâm tiến vào tương lai, vì Chúa
hẳn sẽ không bỏ rơi tương lai.</span></td>
</tr>
<tr>
<td style="border-left-style: solid; border-left-width: 1px; border-right-style: solid; border-right-width: 1px; border-bottom-style: solid; border-bottom-width: 1px">
<p align="center">
<img border="0" src="../Suyniemmoingay/Nam2011/thanggieng/02.gif" align="right" width="200" height="200"></p>
<p align="center">
</p>
<p align="center">
<br>
</p> </td>
</tr>
</table>
</body>
</html>