|
CHƯƠNG IV: GIÁO HỘI |
|
Thưa Hồng Y, Đức Giê-su Ki-tô đã hứa với các tông đồ và những người kế vị, là Ngài sẽ luôn nhắc nhở họ về những lời Chúa dạy, và Ngài vẫn tiếp tục làm điều đó. Hồng Y có cảm nhận nào về lời hứa đó không? Việc Chúa nhắc nhở không nên hiểu một cách máy móc, như kiểu mình có thể gọi ra một dữ kiện từ máy vi tính. Đó là một lời hứa có giá trị cho toàn cả Giáo Hội . Đức Giê-su nói thế này: “Chúa Thánh Linh, người được Chúa Cha nhân danh thầy sai xuống, sẽ chỉ cho anh em mọi sự và giúp anh em nhớ tất cả những gì thầy dạy”. Nói thế, có nghĩa là Ngài không để Giáo Hội phải bước đi một mình, là Ngài không bỏ rơi Giáo Hội, là Ngài giúp Giáo Hội đổi mới trí nhớ để hiểu ra và đào sâu những gì trước đây chưa hiểu. Nhưng không có nghĩa là mỗi cá nhân bất cứ lúc nào cũng có thể đòi cho mình quyền được nhắc nhở đó; và việc nhắc nhở cũng không tới với Giáo Hội một cách đương nhiên. Mà Giáo Hội cần phải cầu nguyện và ghi nhớ liên lỉ, qua đó Chúa Thánh Linh rồi sẽ tác động. Song tôi có thể nói, một cách nào đó, cầu nguyện chắc chắn đã giúp tôi có nhiều cảm nhận. Dù sao cũng đã có nhiều tín hữu nam nữ tuyệt vời, họ nhìn thấu được những mối liên hệ lớn lao và trình bày những hiểu biết phức tạp đó một cách tài tình, để đám đông có thể nắm bắt được. Tôi nghĩ, cũng một phần nhờ họ có mặt trong Giáo Hội và cùng sống với đức tin Giáo Hội, nên họ đã có được ơn soi sáng đó. Giáo Hội có thể mở rộng chân trời hiểu biết và giúp con người đi sâu vào những gì mà một mình họ không thể hiểu nổi. Ngoài ra, cũng có những người được ơn Chúa đặc biệt, mà ta gọi là thánh, nhờ tâm hồn gần Chúa nên họ có khả năng đi sâu vào lời Chúa hơn và làm cho lời đó trở nên sống động trước mắt ta. Có phải tình yêu đã gắn bó ngài với Giáo Hội? Có thể nói như thế. Giáo Hội là nhà của tôi, đó là đại gia đình của tôi, vì thế tôi yêu thương gắn bó với nó, cũng như người ta gắn bó với gia đình mình.Giáo Hội không phải là một sản phẩm tình cờ hay tuỳ nghi của lịch sử, đặc biệt không phải là một sản phẩm như lịch sử hiểu. Nhưng với người ngoài, nó thường được xem là một tổ chức có của và quyền lực, giống như một công ti, nhưng ông chủ ở đây suốt ngày mặc áo thụng chạy lòng vòng. Trước đây, đại giáo chủ Lê-ô có lần nói, để có thể hiểu được đôi chút về Giáo Hội, người ta trước hết phải cởi bỏ đi “cái màn đêm giác quan địa cầu và màn khói khôn ngoan trần thế”. Có thể tiếp cận Giáo Hội trên nhiều bình diện. Người ta có thể nhìn nó thuần tuý như một định chế, như một trong những quyền lực có tổ chức hiện diện trên thế giới, hay nhìn nó với cái nhìn thuần tuý xã hội. Người ta có thể bị sứt mẻ vì những biến cố hoặc cá nhân riêng rẽ trong Giáo Hội. Tuy nhiên, nếu cứ nhìn dưới khía cạnh định chế, ta chỉ hiểu được Giáo Hội một cách phiến diện. Tôi thấy xã hội duy lí và náo động ngày nay bị cám dỗ nhìn Giáo Hội qua những uỷ ban, hội đồng và họp hành. Người ta muốn nó phải thực tế và dễ nắm bắt hơn, muốn nó phải là một công trình của con người, trong đó rồi ra đa số sẽ biểu quyết những chuyện nên tin hoặc không thể tin, hoặc những chuyện khác nữa. Nhưng làm như vậy là người ta càng ngày càng đẩy Giáo Hội xa khỏi chính nó. Giáo Hội, như thế, sẽ chẳng còn đạt tới được sự sinh động – và dĩ nhiên chẳng còn vươn được tới Chúa nữa. Nếu muốn hiểu đúng Giáo Hội, tôi nghĩ, ta nên tiếp cận nó từ bình diện phụng vụ. Đây là bình diện nói lên nhiều nhất về bản tính Giáo Hội, bởi vì đây là chỗ Chúa luôn tiếp xúc và đổi mới Giáo Hội. Trong phụng vụ, ta phải sống cuộc sống Giáo Hội qua Kinh Thánh, qua các bí tích và lời kinh của tín hữu hoàn vũ. Và nhờ thế, như đại giáo chủ Lê-ô nói, người ta mới có thể gạt đi màn khói làm mờ cái nhìn của ta và bóc đi những cái dằm trong đôi mắt, để chúng dần trở nên sáng và thấy được. Và rồi, người ta sẽ thấy Giáo Hội trong chiều thẳm sâu hơn. Rằng trong đó gồm cả cộng đoàn các thánh, hữu danh hoặc vô danh, những người đã ra đi trước chúng ta. Rằng Giáo Hội hiện thân nơi vô số những tín hữu gắn bó với Đức Ki-tô. Và rằng nguồn cội của Giáo Hội xuất phát từ chính Đức Ki-tô. Chúa Ki-tô là động lực làm cho vườn nho sống và giúp nó đơm hoa kết trái. Trong ý nghĩa đó,Giáo Hội có bản chất sâu xa hơn là những gì có thể thống kê được, hay những gì có được qua biểu quyết. Nó là một cơ phận sống được nhờ bởi chính Đức Ki-tô. NHƯ MỌI SỰ KHỞI ĐẦU… “Phúc cho anh, Si-mon Ba-gio-na”, Đức Giê-su nói với người đàn ông, mà tên tuổi được Giáo Hội ghi ấn muôn đời, “anh là Phê-rô, và trên đá này ta sẽ xây Giáo Hội ta, và mọi quyền lực âm phủ sẽ không chiến thắng nó được”. Câu nói mở đầu một lịch sử thành công vô tiền khoáng hậu. Phải chăng, với câu nói đó, chính Đức Ki-tô đã lập Giáo Hội? Câu hỏi, phải chăng chính Đức Ki-tô muốn có Giáo Hội, đã trở thành một cuộc bàn luận sôi nổi. Nhiều người bảo không, Ngài chỉ muốn Nước Trời hay một cái gì khác, chứ hoàn toàn không phải Giáo Hội. Lập luận như thế, rõ ràng người ta đã không hiểu rằng, không những Đức Giê-su đứng trong lịch sử cứu độ của dân Do-thái, mà còn không hiểu cả í định đổi mới dân này của Ngài, nghĩa là Ngài muốn đổi mới, đào sâu và mở rộng toàn bộ lịch sử cứu độ - và như vậy có nghĩa là Ngài muốn lập cái mà ta nay gọi là Giáo Hội. Có nhiều hồ sơ thành lập Giáo Hội trong cuộc đời Đức Giê-su. Bắt đầu từ việc chọn mười hai tông đồ. Mà chúng ta hiểu đó là biểu tượng của mười hai chi họ Is-ra-en mới. Rồi tới những lời Ngài nói với họ, và nhất là trong bữa tiệc li, bữa tiệc được giao và trao tặng cho họ như là tâm điểm cuộc sống mới của họ. Sự việc càng rõ nét hơn trong lệnh rửa tội, lệnh truyền giáo và nhiều chỗ khác. Và việc chọn Phê-rô đứng đầu nhóm tông đồ và làm tảng đá Giáo Hội là một sự kiện trong gói hồ sơ thành lập đó. Sau khi mất, Đức Giê-su hiện ra với các tông đồ ở Giê-ru-sa-lem. Theo phúc âm Mát-thêu, Ngài nói với các ông: “Bình an cho anh em! Như Cha đã sai thầy, thầy cũng sai anh em”. Vừa nói, Ngài thổi hơi vào các ông và nói: “Hãy nhận lấy Thánh Linh!” Có lẽ chẳng ai trong các ông lúc đó hiểu được chuyện gì sẽ xẩy ra với việc thổi hơi đó. Đó là một hoạt cảnh đầy ấn tượng, nó cụ thể hoá việc chọn nhóm mười hai sau ngày phục sinh. Các tông đồ trở thành những người mang Thánh Linh, đấng tiếp nối sứ mạng của chính Chúa Giê-su Ki-tô trong họ. Thật ra lúc đó chẳng ai có thể tưởng tượng được sứ mạng đó sẽ tác động như thế nào. Đa số trong họ nghĩ tới ngày tận thế đang tới gần. Họ tin chắc rằng, thời gian giờ đây đã viên mãn, và lịch sử chẳng còn kéo dài bao lâu nữa. Các tông đồ chỉ cần biết, họ giờ đây mang trong mình thần linh của Đức Ki-tô, và họ phải mang sự bình an – đó là cái mới do Ngài mang tới - vượt biên giới Do-thái ra cho các dân tộc khác nữa. Một chuyện kì diệu đã xẩy ra sau ngày phục sinh. Vào một chiều tối, Phê-rô, Gio-an và vài người khác đánh cá trong hồ Giê-nê-sa-ret. Bầu khí chẳng vui, vì họ không đánh được con cá nào cả. Sáng sớm hôm sau, khi thuyền cập bờ, họ gặp Đức Giê-su. Các môn đồ không nhận ra Ngài, dù Ngài nói với họ như một người thân. Ngài nói: “Này, mấy cậu, có gì ăn không?” Rồi Ngài bảo họ: “Hãy thả lưới bên phải mạn thuyền thì sẽ có cá”. Không hiểu sao, họ làm theo lời, và lưới đầy cá đến nỗi không thể kéo lên được. “Thầy đó!”, Gio-an chợt la lên. Phê-rô phóng mình xuống nước, bơi vào bờ, những người khác chèo thuyền vào theo. Họ bắt được 153 con cá to, mà lưới không rách. Câu chuyện mang tính rất biểu trưng và đa nghĩa, lúc này đây ta không thể bàn vào chi tiết được. Một mẻ lưới kì diệu. Các ngư phủ lưới cả đêm mà chẳng bắt được gì, và với kinh nghiệm dày dạn của họ, không ai nghĩ rằng sáng ra mà còn đánh được cá. Nhưng họ nghe lời Đức Giê-su, trở ra lại, thả lưới và quả được như lời Ngài nói. Đâu là ý nghĩa con số 153 mà Gio-an đã cẩn thận ghi lại, các học giả chưa hiểu. Một số người coi đó là chữ số tên gọi của Phê-rô. Dù sao, họ coi đó là dấu chỉ của sự tràn đầy. Đây là một lời hứa vượt lên trên cái hiện có. Một mặt, nó cho thấy con người chẳng cần nhọc công gì trong việc bắt cá từ biển trần gian này, để từ đó có được những con cá người sống động cho Chúa. Mặt khác, nó đồng thời nói lên hứa hẹn luôn có thể xẩy ra điều không thể xẩy ra, rằng Giáo Hội luôn vẫn có thể kéo lưới Ki-tô từ bể gian trần chóng qua, và rằng trong mẻ lưới này của ngư phủ Phê-rô sẽ có vô số con người được kéo lại với nhau. Câu chuyện tiếp tục. Họ đốt lửa, sửa soạn bữa ăn với cá và bánh mì. Và rồi Đức Giê-su quay sang Si-mon Phê-rô: “Này Si-mon”, Ngài nói, “con của Jo-nas, anh có yêu thầy hơn các anh em kia không?” Phê-rô ngỡ ngàng, đáp: “Vâng, thưa Thầy, Thầy biết con yêu Thầy”. Ngài hỏi đi hỏi lại ông ba lần như thế, lần nào cũng được trả lời: “Vâng, thưa Thầy, Thầy biết con yêu thầy”. Cuối cùng, Phê-rô hơi bực, thưa: “Thầy, Thầy biết mọi chuyện, Thầy cũng biết là con yêu Thầy”. Sau đó, cũng với ba câu, Ngài đã trao cho Phê-rô sứ mạng lạ lùng: “Hãy chăn dắt chiên của thầy”, “Hãy chăn dắt chiên của thầy”, và cuối cùng “Hãy chăn dắt cừu của thầy”. Những điều đó mang ý nghĩa gì? Trước hết, các môn đệ đã bắt cá cho Ngài, và Ngài đã cho các ông ăn. Rốt cuộc thì nỗ lực của con người được đền bù nhiều hơn bởi tặng phẩm do chính Đức Giê-su trao ban. Và cuối cùng, thêm một lần nữa, ta thấy ý hướng sắp đặt người kế vị của Chúa. Lời thú nhận đầu tiên của Phê-rô, mà chúng ta đã nói tới trước đây, xẩy ra sau khi vụ thành công ở Ga-li-lê đã lắng đọng, và không còn ai đề cập tới Đức Giê-su nữa. Nhiều người cho rằng câu nói Phê-rô là đá không phải do Đức Giê-su nói, mà đó chỉ là điều do người ta thêm thắt về sau cùng với câu chuyện phục sinh. Nhưng các Tin Mừng đã cố tình ghi lại câu đó vào một thời điểm quyết định trong cuộc đời tại thế của Đức Giê-su; nó đã được đan bện vào khung cảnh đó, đến nỗi không thể nào tách rời ra được. Trong phòng tiệc li lại có một lời hứa mới với Phê-rô: Ngày nào đã vững, anh nhớ củng cố anh em. Nghĩa là Phê-rô được giao cho nhiệm vụ củng cố đức tin cho đồng bạn. Điều quan trọng, là những chứng cứ về Phê-rô đó xuyên suốt các sách Tân Ước. Trong các Tin Mừng nhất lãm, trong Tin Mừng Gio-an và thư Phao-lô ta đều thấy vai trò đứng đầu đó; nghĩa là nhận thức về chỗ đứng đặc biệt của Phê-rô đã được nói tới trong nhiều vùng truyền thống khác nhau. Tin Mừng Gio-an đoạn 21 trên nói về một nghi thức kế vị. Phê-rô từ đây phải chăm sóc đàn chiên của Chúa. Và sau đó Chúa nói với ông, trong một tiên tri về cuộc tử đạo, rằng nhiệm vụ đó chỉ được xây dựng trên tình yêu đối với Ngài, và chỉ có thể thực thi với điều kiện sẵn sàng bước vào con đường tử đạo. Như vậy, đối với tín hữu công giáo, nền thần học đầy đủ về Phê-rô trong Tân Ước đã bằng nhiều cách nói lên sứ mạng đặc biệt của ngài – và đó cũng là một di chúc cho Giáo Hội mọi thời. Đức Giê-su phục sinh đã truyền cho các môn đệ, anh em chỉ rời Giê-ru-sa-lem sau khi đã nhận được “sức mạnh từ trời” là Chúa Thánh Thần. Ngài có một câu đầy bí ẩn: “Gio-an đã làm phép rửa bằng nước, còn anh em ít ngày nữa sẽ được rửa bằng Thánh Thần”. Nghĩa là sao? Đức Giê-su loan báo về quà tặng Thánh Linh, sẽ được đổ xuống lần đầu tiên trong ngày lễ ngũ tuần. Câu chuyện đã được thánh Lu-ca thuật lại trong Công-vụ Tông-đồ. Trong đó, ngài mô tả quà Thánh Linh đã đổ xuống trên nhóm ưu tú 120 người đang tụ họp với mười hai tông đồ và mẹ Maria như thế nào. Lu-ca viết sách đó rất cân nhắc, ngài cho hay việc Thánh Linh hiện xuống là một cuộc tái cưu mang Đức Giê-su, và như vậy con người Giê-su đã được đón nhận nơi trần gian. Giờ đây Thánh Linh lại xuống, và như thế Giáo Hội, “nhiệm thể Đức Ki-tô”, được hình thành để bước vào lịch sử. Điều đó xẩy ra trong dấu chỉ mưa bão và lửa, và nhất là qua dấu chỉ phép lạ ngôn ngữ - với những dấu chỉ đó Giáo Hội được thông báo và đón nhận bằng mọi thứ tiếng. Đó là hình ảnh đối lập với tháp Babel. Đó là xã hội mới và khác, mà Thiên Chúa giờ đây dựng lên trong lòng người, nhờ bởi sức mạnh của Thánh Linh là ngọn lửa của Thiên Chúa. Nhưng phải chăng đã có lửa, những lưỡi lửa từ trời rơi xuống thật sự? Cảnh tượng đó thật sự ra sao, tuỳ mỗi người hiểu. Các giáo phụ, và đặc biệt nền thần học đông phương, coi biểu tượng đó mang ý nghĩa rất sâu xa. Thánh Linh hiện ra dưới hình lưỡi, hình lửa, điều đó có nghĩa là Ngài sẽ ngự lại nơi từng người một. Đó là những hình ảnh cơ bản nói lên cho ta biết cái còn lại, cái mầu nhiệm của Thánh Linh, của sự tái sinh Giáo Hội. Và phép lạ ngôn ngữ cũng nói lên cái mà ta gọi là chất công giáo của Giáo Hội. BẢN CHẤT CỦA GIÁO HỘI Giáo Hội tái sinh. Thế nào là Giáo Hội? Nó phải nên như thế nào? Tại sao lại gọi bản chất Giáo Hội là tông truyền và công giáo? Tông truyền có nghĩa mối liên kết hàng ngang của Giáo Hội kinh qua mọi thời đại. Giáo Hội, trước hết, được nối vào nguồn lịch sử với mười một người được Chúa chọn (còn mười một người, sau đó Ma-thêu được chọn thêm vào). Giáo Hội không phải là một huyền thoại hay một ý hệ bịa đặt, nhưng nó thật sự thả neo nơi biến cố Đức Giê-su Ki-tô lịch sử, và nó luôn có thể chỗi dậy một cách mới mẻ từ gốc tông đồ đó. Điều này được biểu lộ không những qua việc Giáo Hội trung thành với chứng tá và niềm tin của các tông đồ xưa, mà còn cả qua việc bí tích. Vì thế, chúng ta không thể lâu lâu lại bắt Giáo Hội phải như thế này hay như thế nọ được. Mà Giáo Hội luôn phải gắn chặt với nguồn, phải là một tiếp nối liên tục của nguồn đó. Bí tích truyền chức linh mục cho thấy mối liên kết với cái nguồn không do ta tự nghĩ ra đó, và đồng thời cho ta biết Chúa Thánh Linh là đấng bảo đảm cho sự liên tục. Còn công giáo? Công giáo dịch nghĩa là “bao gồm toàn thể”, là cho hết mọi người. Nghĩa là Giáo Hội của toàn thế giới, của mọi nền văn hoá và mọi thời. Điểm này rất quan trọng. Là vì Giáo Hội không bao giờ được hạn hẹp lại trong một Giáo Hội quốc gia. Nó luôn phải vượt ra ngoài mọi biên cương. Không được trở thành một Babylon. Giáo Hội có mặt để nhân loại khỏi bị trấn át bởi cảnh hỗn loạn kình chống nhau. Nó có mặt để, bằng qua muôn thứ ngôn ngữ, dâng lên Thiên Chúa toàn bộ kho tàng tốt đẹp của nhân loại - và như vậy Giáo Hội cũng là lực giao hoà ở ngay giữa chính nhân loại. Người công giáo có một lối nghĩ rất đặc biệt. Đó là một cách nhìn riêng về các biến cố, về con người và tất cả những gì xẩy ra trên sân khấu thế giới này. Có cách nào để định nghĩa lối nghĩ đó không ? Khó nói. Tính cách công giáo thật ra được hình thành và nuôi dưỡng từ toàn thể lịch sử lòng tin, nhưng hình thái đặc thù của nó đã triển nở đặc biệt nơi Giáo Hội phương tây. Vì thế, một số yếu tố, mà ngày nay ta gọi là lối nghĩ công giáo, không đúng cho mọi thời và có thể đổi thay. Nhờ sự gia nhập của các dân tộc mới, nhờ việc bước ra tiến vào thời đại mới, mà ta có thể có được những thay đổi, những đào sâu, những đổi mới. Tôi thấy hình như tự do đức tin nơi người tin lành bị hạn chế, họ ở trong tình trạng phải chọn một trong hai, hoặc cái này hoặc cái kia; còn nơi người công giáo có sự mềm dẻo hơn: Hoặc cái này lẫn cái kia. Công giáo coi trọng cái liên kết, nghĩa là chấp nhận cả kinh sách lẫn truyền thống, cả quyền bính lẫn tự do, cả đức tin lẫn việc lành. Đâu là cái khác đặc thù giữa tin lành và công giáo ? Khó có thể trả lời một cách dễ dàng, nhất là khó mà quy vào một điểm duy nhất, mặc dầu quan điểm hoặc có hoặc không nơi Tin lành khá rõ ràng. Chủ trương duy Ki-tô – chỉ có Đức Ki-tô mà thôi – rất mạnh trong lối nghĩ của Luther. Trong khi đặc điểm của Công giáo là cố gắng tổng hợp. Nhưng nên tránh lối phân biệt bằng những công thức mô mẫu, bởi vì phía Tin lành có nhiều phái và bên Công giáo cũng mang nhiều thể - và nhất là vì ta chưa khai thác hết được những khả thể lịch sử trước mắt. Dĩ nhiên, Công giáo luôn bài bác các công thức ‘duy’ của Tin lành, đặc biệt là duy Kinh, nghĩa là chỉ tin vào Kinh Thánh mà thôi. Công giáo vừa tin Kinh lẫn những gì tông truyền sống động, bởi vì tông truyền là chủ thể cưu mang Kinh, nó cũng là chủ thể Giáo Hội giải thích về Giáo Hội. Điểm “duy tin” cũng mang nghĩa giới hạn, là vì đức tin, trước hết, là cánh cửa duy nhất qua đó hồng ân Chúa đến với ta, nhưng rồi đức tin đó, như trong thư gởi Ga-lát nói, phải được thể hiện trong tình yêu. Ơn công chính hoá của cuộc sống Ki-tô giáo hệ tại nơi sự hoà tan giữa đức tin và tình yêu. Vì thế phải phá bỏ cái duy ở đây. Tóm lại, cái khuynh hướng mở, khuynh hướng mà ta không thể coi thường tầm quan trọng của nó, chống lại chủ nghĩa loại trừ mang tính một chiều của các cái ‘duy’ trên, là một trong những cái khác biệt nền tảng. TÂM ĐIỂM CỦA GIÁO HỘI Tâm điểm của Giáo Hội, nếu tôi hiểu không lầm, không phải là Vatican hay giáo chủ, nhưng là một phụ nữ. Một trong những thành tựu lớn nhất của thần học thế kỷ20 là tái khám phá ra mẹ Maria như là “hình ảnh cội nguồn của Giáo Hội”. Đặc biệt nhờ thi sĩ Paul Claudel* mà việc tôn sùng Mẹ gần như bị quên lãng đã thật sự trổi dậy.Paul Claudel cho hay, khám phá của ông về Mẹ gắn liền với một kinh nghiệm trong một thánh lễ chiều tối Giáng sinh năm 1886 tại Paris. Ông không háo hức lắm khi dự thánh lễ trong nhà thờ đức Bà hôm đó, nhưng, lúc hát bài ca Magnificat, ông bỗng như bị chấn động bởi một tiếng nổ dữ dội. Biến cố đó giúp ông hiểu rằng tất cả những gì Maria nói đều có giá trị cho Giáo Hội. Và ngược lại Giáo Hội nhìn thấy qua Mẹ hình ảnh cội nguồn toàn hảo của mình. Ông cho hay, bản chất của Giáo Hội được cụ thể hoá trong đức Maria, vì qua ngài ta thấy được nguyên tắc công giáo về tầm quan trọng của sự cộng tác con người vào ơn cứu độ. “Mẹ Thiên Chúa”, ông nói, “và Giáo Hội thánh, đối với tôi, là một. Tôi chưa bao giờ học cách phân biệt hai thực thể đó”. Việc đồng hoá Giáo Hội với một phụ nữ bắt nguồn sâu xa nơi Cựu Ước, khi Is-ra-en tự coi mình là vị hôn thê mà Chúa muốn tin cậy và phó thác trong tình yêu đời đời. Trong tinh thần nối tiếp cuộc sống của Cựu Ước, Giáo Hội đã lấy lại hình ảnh đó. Ngay Phao-lô cũng gọi Giê-ru-sa-lem là mẹ chúng ta. Với lối gọi đó, ngài khám phá ra từ truyền thống do-thái hình ảnh Giáo Hội mẹ; thành phố mẹ này đã sinh ra ta, trao tặng cho ta sự sống và tự do. Và các giáo phụ, vì thế, đã lấy lại ý tưởng đó, một ý tưởng cũng đã xuất hiện trong sách Khải-huyền – một người nữ bận áo mặt trời – và dùng nó để trình bày bản chất rất thánh của Giáo Hội. Dù các ngài lúc đó thường chẳng nghĩ gì tới Maria, nhưng trên căn bản, toàn bộ môn Maria học cũng đã bao gồm yếu tố này. Nói cách khác: Giáo Hội được cụ thể hoá trong Maria. Và những gì mang ý nghĩa thần học nơi Maria đều được diễn tả nơi Giáo Hội. Có thể nói, cả hai hoà nhập vào nhau : Maria là Giáo Hội bằng xương thịt, và Giáo Hội trong tổng thể của mình là thân xác sẵn đó của Maria. Như vậy, qua biến cố trở lại trên, Claudel đã thật sự tái trực giác cái hình ảnh uyên nguyên và nhìn ra mối gắn bó khắng khít giữa Maria học và Giáo Hội học. Trong thế kỷchúng ta, Hugo Rahner*, anh của Karl Rahner*, chuyên gia lớn về các giáo phụ, đã trình bày một cách tuyệt vời toàn bộ bản văn của các ngài, và đã chỉ ra rằng, chỗ nào các giáo phụ đề cập tới Giáo Hội như một phụ nữ, chỗ ấy đồng thời xuất hiện Maria – và nhờ vậy đã tránh được việc bó hẹp môn Maria học. Các chuyên gia khác đang tiếp tục nghiên cứu điểm này. Công đồng Vatican II đã lấy lại quan điểm trên qua việc nối kết Maria học vào Giáo Hội học. Tôi nghĩ, trên thực tế, việc tái khám phá ra mối liên hệ vượt thời gian giữa Maria và Giáo Hội, việc khám phá ra tính cách con người của Giáo Hội trong Maria và tính cách Maria chung nơi Giáo Hội, là những phát hiện lớn nhất của thần học trong thế kỷ20. Có một giáo chủ ghi nhận : “Ai để tâm quan sát lịch sử Giáo Hội công giáo, sẽ thấy ngay bàn tay độ trì của Mẹ đồng trinh Thiên Chúa hiện diện trong mọi biến cố quan trọng của Giáo Hội. Mỗi khi đó đây lầm lạc nổi lên tấn công sự thống nhất mỏng manh của Giáo Hội và đẩy nó vào cuồng phong, thì các giáo phụ chúng ta lại tin tưởng hướng về Mẹ, là người duy nhất chiến thắng mọi lầm lạc trên thế gian ; và chiến thắng do Mẹ mang tới đó đã đưa Giáo Hội bước vào những thời kì tốt đẹp hơn”. Nghe tuyệt quá nhỉ. Người ta đã thi vị hoá. Đó là lối nói của người xưa: Đức Bà chiến thắng mọi tà giáo; một công thức xuất hiện trong thời có những tranh cãi về bản tính Đức Ki-tô. Thời đó, người ta chạy tới Maria để cứu nhân tính nơi Đức Giê-su, nhưng mặt khác, cũng là để cứu thiên tính của Ngài, khi người ta cãi nhau về phẩm giá của Maria. Nhờ cuộc tranh luận về Maria mà mầu nhiệm đồng bản tính thiên chúa và loài người nơi Đức Giê-su Ki-tô được sáng tỏ. Từ đó nẩy ra lời cầu đức Bà chiến thắng mọi tà giáo, và lời đó trong nhiều thời kì đã thực sự trở thành một câu tuyên chiến. Tôi nghĩ, ta nên nhìn đức Maria như là người ủi an, che chở, và dĩ nhiên như là cây cầu đưa ta tới Chúa Ki-tô. Mẹ không lấy đi vương trượng của Đức Ki-tô hay cản ngăn ta sùng mộ Ngài. Mà trái lại, nhờ Mẹ mà ta mới hiểu được mầu nhiệm to lớn về Đức Ki-tô và mới được ở gần Con ngài. SỨ MẠNG GIÁO HỘI Sứ mạng của Giáo Hội quá lớn và gần như vượt sức người. Có lẽ người ta khó mô tả đầy đủ được sứ mạng đó. Thánh Phao-lô có lần dùng chữ thật kêu để nói về Giáo Hội, bảo đó là cột trụ và nền móng của chân lí. Ngài nói, đó là thầy dạy đức tin do Chúa cắt cử, đồng thời có nhiệm vụ canh giữ không để mất chân lí đức tin và không để sai lầm nào thấm nhập vào giáo huấn. Phải chăng Giáo Hội là ông từ nghiêm khắc canh giữ đền thánh? Điều anh nói được trích từ các thư mục vụ, mà phần lớn các nhà chú giải Kinh Thánh hiện nay bảo không phải do Phao-lô viết, nhưng ở đây ta không bàn chuyện đó. Dù sao, những lá thư đó vẫn nằm trong truyền thống phao-lô ; và, ít nhất trong trường phái Phao-lô, lối suy nghĩ đó vẫn đang được tiếp tục. Ngay trong các thư quan trọng của Phao-lô, ta thấy ngài viết rằng, Giáo Hội là kẻ cưu mang sống động chân lí của Chúa Ki-tô. Giáo Hội có nhiệm vụ giữ gìn chân lí đó, có thể nói là cột trụ của chân lí đó; và Giáo Hội cũng sống, truyền bá chân lí đó một cách sống động và dễ hiểu, để chân lí được triển nở. Chúng ta cũng đã nghe, Giáo Hội luôn được Thánh Linh hướng dẫn để tìm tới sự thật, vì thế nơi giáo huấn hai yếu tố trung thành và tiến bộ nối kết với nhau. Điều đó không chắc Luther đã phản đối điều đó, bảo rằng, chẳng cần giáo huấn Giáo Hội, chỉ có Kinh Thánh là đủ. Ông bảo, giáo huấn là kiêu ngạo, mỗi người có thể tự mình hiểu Kinh Thánh, nếu đọc một cách đúng đắn. Ngày nay ta thấy càng ngày càng rõ, là kinh sách thường mang nghĩa đôi. Lời Chúa chỉ sống động trong Giáo Hội, nên phải bước vào trong đời sống Giáo Hội. Như thế thì ta cũng cần một cơ quan được ủy quyền diễn giải. Cơ quan đó dĩ nhiên phải hiểu là nó không đứng trên, nhưng đứng dưới lời Chúa và phải lấy lời đó làm chuẩn. Ngoài ra, trong lãnh vực này, hiện nay cũng đã có những cuộc trao đổi làm hoà giữa các Giáo Hội. Qua đó, phía Công giáo đã phải bỏ đi một số nội dung diễn giải lời Chúa, trong khi phía Tin lành đang đưa việc diễn giải đi vào thẩm quyền của Giáo Hội. Từ những nhận thức đó, hệ quả sau đây đã nẩy sinh theo thời gian: Nếu lời diễn giải của Giáo Hội có giá trị bó buộc, thì Giáo Hội phải có một lực đỡ, một soi sáng nào đó, để Giáo Hội có thể diễn giải đúng như Chúa Thánh Linh, đấng dẫn dắt mình, muốn. Với lối nghĩ đó, cuối cùng, huấn giáo không sai lầm (bất khả ngộ) đã hình thành. Điểm này hẳn cần phải giải thích thêm Để không bị lạm dụng và hiểu lầm, điểm này, dĩ nhiên, phải được hiểu thật đúng trong khuôn khổ giới hạn của nó. Không phải mọi lời do giáo quyền hay giáo chủ nói ra, đều không sai lầm. Nhưng chỉ những gì mà Giáo Hội, sau những cuộc đấu tranh tinh thần khó khăn trong lịch sử và qua quá trình cầu nguyện suy tư lâu dài, tuyên bố đây là điều diễn giải chính thức. Và như thế, nhờ ơn soi sáng, Giáo Hội vạch ra nơi đây một lằn ranh để giúp con người khỏi rơi vào lầm lạc, và đồng thời cũng để nói cho họ hay rằng, Giáo Hội không phải là một dụng cụ phá hoại lời Chúa, song là người Mẹ và là chủ thể, qua đó lời Chúa được sống động, được phát biểu đúng và được diễn giải đúng. Nhưng, như đã nói, tất cả phải có điều kiện. Có nghĩa là tất cả những ai mang trách nhiệm trong Giáo Hội phải phục tùng những điều kiện đó trong tinh thần trách nhiệm cao. Họ không được lấy í mình ra để quàng lên Giáo Hội, nhưng phải đứng vào trong cộng đoàn đức tin chung với tinh thần phục vụ và lắng nghe lời Chúa. Họ phải để cho lời đó hướng dẫn và tẩy gội cuộc sống, có như thế họ mới có thể diễn giải lời Ngài đúng được. Sứ mạng Giáo Hội rõ ràng cũng bao gồm cả tinh thần đối kháng và nhận lỗi. Với tinh thần đó, Giáo Hội có một chút gì phản kháng và quá khích và khác người. Nếu tôi không lầm, thì Giáo Hội luôn chống lại mốt độc tài. Giáo chủ (Gio-an Phao-lô II) đã dùng tiếng nói tông đồ của mình để phản đối thế giới và coi đó là nhiệm vụ cao cả của mình : Hãy phản đối, ngài đã kêu gọi như thế. Chống lại quyền lực của thực tại, chống lại cái quá trớn của chủ nghĩa vật chất và chống lại sự mù loà của một thế giới vô đạo đức. Sứ mạng của Giáo Hội, hẳn nhiên, bao gồm việc sẵn sàng phản đối và đối kháng. Ta đã thấy, trong con người luôn có khuynh hướng chống lại những lời từ trên xuống; họ muốn được thoải mái, muốn được tự quyết định cái gì họ muốn, bằng cách tự đặt ra những ý hệ, tự tạo ra cho mình một mốt thời trang và đi theo mốt sống đó. Hãy trở lại lần nữa với lời tiên tri của Si-mê-on. Ông đã nói về Chúa Ki-tô: Con trẻ này sẽ là dấu cho người ta chống. Và ta hãy nhớ lại chính lời Đức Giê-su : “Tôi không đến để đem bình an, nhưng đem gươm giáo”. Câu nói đó cho thấy sứ mạng to lớn và quan trọng của Giáo Hội chống lại thời thượng, quyền lực của thực tại và độc tài ý hệ. Ngay thế kỷtrước, Giáo Hội cũng đã phản kháng lại những nền độc tài lớn. Và ngày nay, chúng ta đau buồn thấy sự phản đối của Giáo Hội quá yếu, tiếng nói phản kháng của chúng ta đã không kiên quyết và đủ lớn cho thế giới nghe. Nhưng cám ơn Chúa đã có những gương tử đạo. Trong khi giáo triều yếu đi vì tế nhị ngoại giao, thì các vị tử đạo đã trả giá cái mâu thuẫn đó bằng chính cuộc sống mình. Hẳn nhiên, không phải phản kháng vì thích phản kháng, hay là một phản ứng suông hoặc vì cảm thấy bất lực trước viễn ảnh tương lai. Mà thái độ hay hành động đó phải luôn mở ra cho cái thiện mọi thời, cho cái mới gói gém trong mọi thời đó – cái mới đó cũng luôn mở ra những chiều kích hoàn toàn mới của lời Chúa. Lại nữa, khi hành động, ta cũng không được vì bất cứ lí do gì đẩy đức tin ra lề hay để cho nó bị lu mờ đi. Phải chống lại những gì ngược lại với Thiên Chúa, cho dù vì thế mà mình phải tự chống mình – cho đến phải can đảm chấp nhận tử đạo. Đức tin thường mâu thuẫn với tinh thần thời đại. Tinh thần thời đại, ngược lại, càng chống lại đức tin nhiều hơn. Chuyện đó chẳng mới lạ gì. Guardini có lần viết : “Ai sống với Giáo Hội, lúc đầu thường thấy sốt ruột bực mình, vì Giáo Hội luôn cứ bắt họ phải làm ngược lại những người khác”. Người tín hữu, theo ông, cảm thấy mình lạc hậu trước dư luận đương thời, mà thoạt tiên người ta luôn coi là tiến bộ hơn mình. Ông viết : “Nhưng khi miếng vải bịt mắt được gỡ ra, họ nhận ra Giáo Hội luôn kéo con cái mình ra khỏi lối đi của quyền lực thời đại và giữ họ lại theo cái đang có. Thật lạ lùng, không ai có được thái độ hoài nghi và độc lập nội tâm trước “cái mà mọi người đều nói” hơn là người thật sự sống với Giáo Hội”. Vâng, những điều giáo sư ấy viết ra cũng phản ảnh cuộc đời của ông. Thời Guardini ngồi trên ghế đại học là lúc gia sản chủ nghĩa tự do còn rất mạnh, ngay cả trong thần học công giáo. Giáo sư Koch, một trong những thầy dạy ông ở đại học Tübingen, bị ảnh hưởng chủ nghĩa đó khá nặng. Dĩ nhiên anh sinh viên trẻ Guardini lúc đó cũng theo thầy. Chuyện các sinh viên liên đới với một ông thầy ăn nói mạnh bạo, tự do, bàn về những điều mới lạ vượt khỏi vòng vây truyền thống và bốp chát lại với Rô-ma, là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, trong thời gian học, cũng là thời gian ông rơi vào mối hoài nghi lớn về đức tin, rốt cuộc ông đã nhận ra được bộ mặt đích thực của Giáo Hội qua phụng vụ. Ông cho hay, dù vẫn mê theo thầy, nhưng ông đã chọn cho mình con đường chống lại tự do, bởi vì suy cho cùng, theo ông, chỉ có Giáo Hội là thực lực duy nhất dám phê bình lại chủ nghĩa này. Càng bước theo Giáo Hội, càng đi sâu vào trong nó, càng tín thác vào đức tin Giáo Hội – sự tín thác này bị coi là thái độ trẻ con, thiếu độc lập -, ông càng nhận ra mình có được sự độc lập lớn hơn trước tinh thần thời đại, càng có được đầu óc tỉnh táo, hơn là đứng ở bất cứ từ nơi đâu khác. Guardini là một trong những kẻ tiên phong phá bỏ khuynh hướng tự do trong thần học. Nhờ đó, họ đã đánh thức dậy, cho cả một giai đoạn khoảng từ 1920 tới 1960, niềm vui lớn nơi Giáo Hội, niềm vui cùng nghĩ, cùng tin với Giáo Hội. Cá nhân Guardini đã kinh nghiệm điều đó như thể miếng vải che mắt được lột đi, và ông bỗng thấy rằng : thì ra vấn đề hoàn toàn khác, không như thiên hạ nghĩ. Đó không phải là thái độ thiếu độc lập trẻ con, mà là can đảm phản đối, và đó là sự tự do đối kháng trước dư luận kìm toả của thời thế Cái tự do đó đồng thời cung cấp cho ta một nền tảng chắc chắn, nền tảng đó không do Giáo Hội tự nghĩ ra. Và rồi những chuyện song song khác cứ thế lạ lùng mở ra… Vâng. THIÊN CHÚA VÀ GIÁO HỘI Chẳng dễ gì thấy được cái can đảm phản kháng đó của Giáo Hội. Nhiều cộng đoàn công giáo xem ra mệt mỏi quá rồi. Thiếu trí tuệ và can đảm để dám nghĩ vượt ra ngoài những dư luận và chủ nghĩa tân tiến thường ngày, để còn muốn bảo vệ nền tảng vững chắc của đức tin. Nhiều ki-tô hữu theo thời muốn tốt nhất trở thành một công ti dịch vụ, qua đó dùng các cuộc thăm dò dư luận để đáp ứng nhu cầu thành viên mình. Ngay cả các giám mục cũng cho ta cảm giác là Chúa Thánh Linh đã bỏ họ từ lâu rồi. Có thể nói được rằng : Phải chăng thời điểm của Giáo Hội đã thật sự chấm dứt ? Và biết đâu, có thể Chúa đã bỏ Giáo Hội, Ngài chán ngấy Giáo Hội và đã ẩn mặt rút lui, ít ra trong một thời gian ? Có những mệt mỏi của Giáo Hội, và chắc chắn có sự kiện “trụ đèn chỗ nào đó đã bị khuất đi”, như trong Khải-huyền nói. Chỉ cần nghĩ tới thế kỷ16. Sách vở hiện có về thời đó cho thấy Giáo Hội đã chạy theo thời như thế nào, giám mục đã yếu tin như thế nào. Họ đã trở thành một thành phần của hệ thống, chẳng còn là chứng nhân sống động của đức tin, chẳng còn khả năng tông đồ và tử đạo. Họ nhìn trước nhìn sau tìm lối thoát tốt nhất cho mình, và chỉ nỗ lực làm sao đừng để những điều xấu hơn xẩy đến. Giáo Hội thời đó như ngủ quên, gần như tiêu vong. Tình trạng như thế luôn có thể xẩy ra. Chúa Thánh Linh làm ta xấu hổ, là vì cứ mỗi lần như thế, đâu đó bỗng nhiên lại có làn gió canh tân cần thiết hoàn toàn từ bên ngoài thổi vào. Những lực canh tân thời đó là Tê-rê-xa ở Avila và Gio-an thánh giá, là I-nhã ở Loyola và Phi-lip Nê-ri và những người khác như thế. Thoạt tiên, giáo quyền ngỡ ngàng và sợ hãi trước những biến chuyển đó, nhưng rồi cuối cùng chúng được nhìn nhận như là những bước đổi mới thật sự. Rõ ràng Giáo Hội có mệt mỏi. Có thể Giáo Hội trong cả một vùng văn hoá nào đó mỏi mệt và ngã đổ. Qua bảy lá thư gởi bảy Giáo Hội, sách Khải-huyền điển hình cảnh cáo về tương lai : Coi chừng, nếu không thì tôi sẽ xô ngã cột đèn. Quả thật, sau những cơn bão tố Islam, không những Giáo Hội ở Tiểu Á, một thời là con cưng của Giáo Hội hoàn vũ, mà cả Giáo Hội ở Phi châu, đã biến mất. Dĩ nhiên, việc suy sụp của các Giáo Hội thời đó không đơn giản chỉ do mệt mỏi, nhưng bạo lực của kẻ xâm chiếm cũng là một yếu tố phải kể đến, bạo lực đó đã cày nát nhiều lớp dân chúng. Nhưng dù sao, chuyện như thế có thể xẩy ra. Lời hứa của Đức Ki-tô : “Ta sẽ ở lại với anh em mọi ngày cho đến tận thế” không có nghĩa là từng giáo phận đã có được bảo chứng tồn tại mãi mãi. Nhưng lời đó có nghĩa là, cho tới ngày Ngài lại đến, Giáo Hội chân thực sẽ là nơi Ngài ngự, là cơ thể, là thịt, là vườn nho của Ngài. Có lẽ Chúa không để cho Giáo Hội hoàn toàn sụp đổ. Nhưng có liều lĩnh lắm không, nếu như giờ đây ta muốn bắt đầu làm lại một cái gì hoàn toàn mới? Như vậy, sẽ có một Cựu Ước, một Trung ước và một Tân Ước. Người ta vẫn nói, cái gì có ba thì tốt. Điều đó Gio-a-kim ở Fiore* trong thế kỷ12 cũng đã nghĩ tới. Ông cho rằng lịch sử phải phù hợp với ba thời của ba ngôi Thiên Chúa. Thời Cha, thời của Cựu Ước, là thời của lề luật nghiêm nhặt. Thời Con là thời của Giáo Hội đã giảm nhẹ đi đôi chút, để bước sang thời Thánh Thần, là thời của một Giáo Hội tinh thần hoàn toàn mới. Giáo Hội tinh thần sẽ làm hoà lại Đông với Tây, Do-thái giáo với Ki-tô giáo, sẽ mang lại tự do đích thực của lề luật. Lí thuyết đó đã tạo nên những cơn sóng lịch sử lớn. Thoạt tiên, một phần dòng Phan-sinh coi mình là Giáo Hội tinh thần mới đó. Tư tưởng kia sau đó đi vào thế tục với sản phẩm “đệ tam quốc-xã” của Hitler. Henri de Lubac đã viết hai tập sách dày về những hậu quả do tư tưởng Gio-a-kim gây ra. Trong đó, tác giả cho thấy tư tưởng đó đã tạo ra những tranh cãi thần học lớn như thế nào, khi nó khiến một phần dòng Phan-sinh tự coi mình là Giáo Hội thánh chân thực và đã chống lại một giáo triều đã bị tục hoá. Trong sách, tác giả cũng phân tích cho thấy lịch sử đã không chia thành ba thời kì như Gio-a-kim nghĩ. Toàn bộ lịch sử là thời gian của một Thiên Chúa ba ngôi. Giáo Hội (sống chân thực với sứ mạng mình) là Lời cuối cùng của Thiên Chúa trong lịch sử, bởi vì Đức Ki-tô là Lời sau hết của Ngài, là toàn bộ Lời của Ngài. Giáo Hội có thể triển nở ra muôn mặt, nhưng nó không thể trở thành một cái gì khác. Nó phải thật sự phản ảnh lời hứa : Ta ở với anh em, bên anh em, với Giáo Hội này cho tới tận thế. Còn mọi thứ khác đều là tự chế, là sản phẩm của con người, chúng đến rồi đi. Chúa Kitô nói: “Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân”. Bản tường thuật lời tuyên bố song song trong Thánh Mác-cô, Người nói tiếp: “Các ông thật khéo coi thường điều răn của Thiên Chúa để năm giữ truyền thống của các ông” (Mc 7,9). Kitô-giáo trên thế giới đầy dẫy truyền thống. Một trong những truyền thống rộng lớn nhất là cái nhìn truyền thống về Giáo Hội thời Tân Ước. Đa số các thừa tác viên, các nhà thần học và những kẻ cuồng tín đều định nghĩa một cách đặc trưng Giáo Hội theo cách nầy: “Tất cả những ai chân thành tin nơi Chúa Giêsu Kitô như là Đâng Cứu Tinh của họ, làm thành Giáo Hội đích thực”. Điều nầy thường được kèm theo với tuyên bố quen thuộc nầy: “Có nhiều con đường dẫn tới thiên đàng” hoặc “có nhiều nan hoa của chiếc bánh xe ơn cứu rỗi”. Mặc dù Kinh Thánh không dạy rằng thiên đàng là phần thưởng cho người được cứu thoát, nhưng hàm ý rõ ràng của những điều nầy là người ta có thể tin vào những gì họ muốn, hoặc là một thành phần của bất kỳ nhóm nào do họ chọn lựa và bao lâu họ còn là Kitô-hữu, thì họ vẫn còn nhận được bất kỳ điều gì là ơn cứu rỗi. Trong khi người ta có thể chân thành tin vào những ý tưởng truyền thống nầy, thì họ lại bị sai lầm một cách chân thành. (Trích Đâu Rồi Giáo Hội Thật Của Chúa, David C. Pack) GIÁO HỘI SƠ KHAI Không một vị thiên sai nào để lại cho tín đồ mình một của nợ thế chấp lớn như Đức Giê-su đã để lại. Ngài tự để bị hạ nhục, bị tra tấn và cuối cùng bị giết. Và đã không có gì xẩy ra. Không một toán quân đến để kéo Ngài ra khỏi tay những kẻ làm nhục Ngài. Con Thiên Chúa mà lại không tự mình xuống khỏi thập giá. Và cũng chẳng phải hết mọi người tin vào sự sống lại của Ngài. Giờ đây, môn đồ Ngài đang quanh quẩn ở Giê-ru-sa-lem. Họ sống một phần nhờ vào quà tặng. Nhưng cũng nghe kể rằng, những tín hữu tiên khởi đó sống trong yêu thương và tình anh em : “Mọi người đều cùng một tâm một trí. Không ai trong họ phải khó khăn túng quẫn”. Làm sao mô tả cái Giáo Hội nguyên thuỷ đó ? Đó là một kiểu công xã cộng sản ? Người ta đã hay so sánh Giáo Hội đó với công xã cộng sản. Nhưng không đúng, vì một đàng là một tổ chức nhà nước trói buộc, một đàng là một cộng đoàn hình thành từ tự do của lòng tin, từ lời rao giảng của các tông đồ trong ngày lễ ngũ tuần. Sách Công-vụ Tông-đồ cho ta hay, lời giảng đó đã đi vào lòng người như thế nào. Lời đó đã chạm tới con tim và đã rúng động nó ra sao. Người ta đã cảm nhận được cái gì thực sự mới mà họ đang chờ đợi ; mình phải thay đổi, mình phải quay về nẻo chính. Chỉ trong vòng một ngày có tới 3000 người rửa tội, sách viết như thế. Và Giáo Hội tiên khởi đã hình thành từ đó, lúc họ còn đang sống trong nỗi hân hoan của Thánh Linh, trong cảm nhận trực tiếp của ngày ngũ tuần. Những con người đó đã thực hiện được một cộng đoàn trong đức tin kiểu mẫu – dĩ nhiên không phải có thể áp dụng cho bất cứ ở đâu - : không để ai trong họ phải nghèo đói, họ chia sẻ cho nhau và cùng chung nhau một trái tim, một tâm trí. Trong lịch sử, khuôn mẫu cộng đoàn đó luôn là một cái gai khó chịu cho một Giáo Hội đã tục hoá, sống theo mẫu mực trần thế. Cả cuộc sống dòng tu cũng hình thành theo lý tưởng trên. Thánh An-tịnh đã đem câu „ họ sống cùng một tâm một trí với nhau trong một cộng đoàn“ làm trọng điểm áp dụng cho luật dòng của ngài. Ngài hi vọng giáo phận mình ít ra sẽ giữ được ngọn lửa sống động của Giáo Hội tiên khởi, nhờ sự có mặt của cộng đoàn tu nhỏ bé điển hình đó trong giáo phận. Cùng với tiến trình phát triển của Giáo Hội, khuôn mẫu trên hẳn đã không còn áp dụng được cho bất cứ nơi nào, kể cả từ thời các tông đồ, nhưng nó trước sau vẫn là cái gai. Vấn đề là, không được để ai trong Giáo Hội phải nghèo đói, không được bỏ rơi ai. Đó là đòi hỏi ngày hôm nay đang đánh động ta một cách cụ thể. Tại sao những người Do-thái theo đạo đầu tiên lại bỏ tục cắt bì ? Đó là cuộc tranh luận lớn, chủ yếu do Phao-lô tạo ra. Thoạt tiên, người ta công nhận Đức Giê-su Ki-tô là vị cứu tinh của Is-ra-en. Họ nhìn ra nơi Ngài một kiểu sống do-thái giáo khác. Nhưng câu hỏi: như vậy luật cũ, đặc biệt là một thói quen đã có trước luật Mai-sen như tục cắt bì, còn tiếp tục có giá trị không? Câu hỏi này đã không có câu trả lời một cách đương nhiên được. Tiến trình đi tới với những người ngoại giáo diễn ra từng bước một. Đã có cuộc gặp gỡ giữa Phê-rô với Cornelius, người lính đội Rô-ma. Trong một thị kiến, Phê-rô thấy tất cả mọi người đều được thanh tẩy, và sự thanh tẩy đó đến từ đức tin, chứ không phải do máu huyết Abraham, như người ta lúc đó vẫn tin. Và cuối cùng, khi người ngoại ở Antiokia bước chân vào đền thờ, họ nghe và muốn đón nhận sứ điệp của Đức Ki-tô, thì câu hỏi được đặt ra : Nếu giờ đây họ muốn trở thành ki-tô hữu, thì họ buộc phải tuân theo tục lệ do-thái hay sao? Họ phải cắt bì ? Từ đó nẩy sinh ra nhận thức: muốn thành môn đệ Đức Ki-tô, người ta không buộc tuân theo tục lệ do-thái một cách bề ngoài, nhưng phải bước vào cộng đoàn tinh thần của Ngài. Nhận thức trên đây chủ yếu do Phao-lô khởi xướng và đã được công nhận. Nhận thức đó ngài đã lãnh hội được qua cuộc gặp gỡ đặc biệt giữa ngài với Chúa Ki-tô phục sinh. Chính Đức Ki-tô là sức mạnh thanh tẩy. Và nghi thức dẫn vào Dân Thiên Chúa mới đó là phép rửa. Và ai đã nhận phép rửa, chẳng còn cần cắt bì. Phao-lô chẳng phải luôn là người cấp tiến, như ngài đã chứng tỏ trong việc cắt bì. Trong thư thứ nhất gởi giáo đoàn Kô-rin-tô, ngài đã nói về địa vị phụ nữ trong Giáo Hội, họ phải đội khăn che mặt mỗi khi dự lễ, như là “dấu chỉ của sự phục tùng”. Và nữa : “Trong buổi họp họ phải im lặng. Họ không được phép mở miệng. Họ phải phục tùng, như luật đã ra. Nếu muốn biết gì, nên về nhà hỏi chồng. Bởi vì chuyện phụ nữ mở miệng trong buổi họp là điều không xứng hợp”. Phải chăng đó là sự khinh miệt phụ nữ ? Quan điểm của Phao-lô đã thắng thế trong Giáo Hội ? Ngay điểm này, các thư Phao-lô phải được hiểu theo nhiều cách. Một mặt, câu trên dĩ nhiên gợi lên ý tưởng phụ nữ phải phục tòng. Đã có người muốn vứt đoạn đó ra khỏi thư ngài, nhưng làm vậy là vô nghĩa. Mặt khác, phụ nữ ngày nay cũng hay nại tới Phao-lô, bởi vì họ thấy nhiều chỗ trong các thư ngài các bà đóng một vai trò đặc biệt và có sự cộng tác rất chặt chẽ với ngài. Ngài nói với người này, bà là mẹ của tôi. Với những người khác, họ là “những kẻ mang ách đồng hành”, những người cùng hợp tác với ngài để phục vụ Tin Mừng. Một chỗ khác, ngài gọi một bà là tông đồ. Nói vậy thì nghe vậy. Đức Giê-su đã được các phụ nữ thông cảm, đi theo và hỗ trợ. Cũng thế, các bà cũng đã đóng một vai trò rất đặc biệt trong sứ mạng của Phao-lô. Chẳng hạn như Lydia, cô bán phẩm đỏ ở Phi-li-pi, đã ép ngài và những bạn đồng hành nghỉ lại nơi nhà cô, và như thế cô đã trở thành khởi điểm của truyền giáo. Như vậy thì Phao-lô chẳng phải là “tay tranh đấu cho nam quyền một cách ẩu tả”, như cảm tưởng tạo ra bởi câu trích trên, nhưng ngài đã tiếp tục làm theo gương của Đức Giê-su Ki-tô trước đó. Hẳn nhiên, ta cũng thấy tính cách hai mặt nơi Phao-lô. Ngài là kẻ đã vượt qua luật lệ do-thái để tới với dân ngoại, và nhờ vậy đã mở ra chiều kích hoàn vũ cho Giáo Hội ; là kẻ chống lại Phê-rô trong tục lệ ăn uống. Nhưng cũng một Phao-lô đó là người vẫn coi một số thói tục cũ là tốt và không muốn bỏ chúng. Mỗi con người, dù sao, đều muốn giữ lại một góc bảo thủ cho mình, nếu ta muốn nói như thế. Tóm lại, tôi nghĩ, có hai mặt nơi Phao-lô. Một mặt, ngài không cho phụ nữ giảng trong phụng vụ. Mặt khác, ngài lại dành cho phụ nữ một vai trò lớn trong toàn bộ lịch sử Giáo Hội. PHAO-LÔ Hãy nhìn nhân vật đó kĩ hơn. Phao-lô ra đời với tên Sao-lô vào khoảng năm thứ 10 sau công nguyên và tiếp nhận từ cha mình truyền thống gia đình pha-ri-sêu nghiêm nhặt. Nghĩa là trong ông sôi sục hận thù và chém giết những tín hữu ki-tô đầu tiên – cho tới khi gặp được tia sáng trên đường săn người gần Đa-mát, và đã trở lại đạo với tên Phao-lô. Tiếp đó, ông vào sa mạc, một mình chuẩn bị cho công cuộc phục vụ mới. Chính ông cũng chẳng hiểu ra được cái bí mật khiến ông trở thành “thầy dạy cho dân ngoại”, như ông đã viết. Quả có gì lạ lùng trong đó. Thật ra ngài là một tay Pha-ri-sêu say mê và cực đoan. Thái độ cuồng tín đó phù hợp với lòng đạo rực lửa của ngài. Chữ ‘cuồng tín’ đóng một vai trò lớn trong truyền thống Cựu Ước. Từ “Zelot”, có nghĩa là cuồng tín, cũng mang nội dung đặc biệt trong thời Đức Giê-su. Phao-lô là một kẻ cuồng tín như thế - và đã được cải tà qui chính bởi tiếng gọi của Đấng Phục Sinh. Từ trong làn ánh sáng đó Phao-lô giờ đây nghe Đấng Phục Sinh nói với mình. Bởi thế, ngài dám nói rằng, chính mình đã gặp đấng đó thêm một lần nữa, rằng chính đấng đó đã gọi và ra lệnh cho mình. Và cũng vì vậy mà ngài cảm thấy ngang hàng với mười hai tông đồ kia. Rõ ràng ngay từ đầu, ngài đã nhận ra sứ mạng rao giảng cho dân ngoại của mình. Với Phao-lô, chúng ta thật sự có được một nhân vật kiệt xuất phục vụ Đức Giê-su Ki-tô, mà nếu không, hẳn chúng ta đã không thể nói cho lương dân hay biết về Giáo Hội được. Phao-lô lặn lội từ đất này qua đất khác, nhưng không phải luôn may mắn với số phận. Ngài đã ghi lại : “Từ thành này sang thành khác, chỉ điều này Chúa Thánh Linh làm chứng cho tôi, là xiềng xích và tai hoạ đang chờ tôi”. Ngài bị tống ngục, bị đắm tàu giữa biển, cuối cùng lội bộ được tới Rô-ma và bị hoàng đế Nero chém đầu năm 67. Ngài phải là một tay hay cãi. Có lần một thầy cả thượng tế than : “Tay này là một nạn dịch”. Và ngài đã thoải mái bốp chát lại : “Này bức tường giả hình kia, Chúa sẽ đánh ngươi”. Nhưng rồi ngài lại làm chuyện lạ lùng, người ta dùng khăn lau của ngài để chữa lành bệnh. Có lần ngài cạo trọc đầu vì một lời hứa. Lần khác ngài bực dọc ra lệnh cho thần bói toán rời khỏi người đàn bà vẫn dai dẳng đi theo ngài suốt ngày. Sau đó thì ngài bị tù, chuyện chả có gì là khó hiểu. Những người chủ cũ của bà kia buồn so, vì họ chẳng còn có được lời bói toán nào nữa. Anh muốn nói đến cuộc đời phiêu lưu của vị thừa sai nổi tiếng kia. Các thư của ngài không phải là những luân thư được viết với đắn đo, nhưng chúng thể hiện cá tính rực lửa của ngài. Các thư đó phản ảnh toàn bộ nỗi đam mê khổ đau của một con người dấn thân. Chúng cũng cho ta biết những gì đã xẩy đến cho ngài : bị quẳng cho thú vồ trong thao trường, bị tống ngục, nhiều lần bị hình phạt do-thái đánh 40 trừ 1 roi, bị cướp trấn lột, bị đau khổ vì bạn bè và kẻ thù, bị đắm tàu lênh đênh trên biển, và còn nhiều thứ nữa. Thật khó có cuộc đời nào phiêu lưu và nhân bản hơn đời ngài. Không phải Phao-lô bao giờ cũng được báo cáo đầy đủ. Khi tới Ê-phê-sô, ngài hỏi bà con ở đó : “Các bạn đã nhận Thánh Linh chưa ?” Họ trả lời : “Chúng tôi chưa bao giờ nghe nói có một Chúa Thánh Linh”. Dĩ nhiên ngài phải hỏi xem tình hình tín hữu địa phương, mỗi khi ngài tới một cộng đoàn nào đó. Xem ra, năng khiếu hạn chế của ngài không cho phép ngài làm được một số chuyện lớn. Ngài nói về chính mình : Các bạn cũng biết là tôi không có khiếu ăn nói, tôi không phải là nhà hùng biện ; và người ta thầm thì về tôi : “đọc thư thì tưởng ông ấy dữ, nhưng khi tới, thì thấy rất nhẹ nhàng”… … có lần có người ngủ gục khi đang nghe ngài giảng…. … vâng, và người đó đã ngã qua cửa sổ. Đó là một chuyện. Ngài nói :”Tôi xuất hiện không với khả năng hùng biện lớn, nhưng với sức mạnh”. Ngài muốn nói với sức mạnh của Đức Giê-su Ki-tô, sức mạnh đó cũng đã được thể hiện qua các phép lạ. Rõ ràng ngài đã được trao ban cho khả năng chứng tỏ đúng lúc về sự hiện diện của chính đấng quyền năng hơn, đó là Đức Giê-su Ki-tô, và qua đó tự giới thiệu mình như là một kẻ thuộc về Ngài. Không phải năng khiếu riêng của Phao-lô đã tác động, nhưng chính sự thật mà ngài phục vụ đã tác động. Nghe nói Phê-rô thường lấy thư Phao-lô làm dẫn chứng cho tông thư mình. Tương quan giữa hai vị ấy với nhau thế nào ? Rõ ràng đã có những căng thẳng giữa hai vị. Trong Kinh Thánh có hai thư của Phê-rô. Nhưng các học giả không công nhận lá thư thứ hai là do ngài, mà do một ai đó thuộc trường phái phê-rô viết, thư này có niên đại rất trễ. Dù sao, thư đó muốn tiếp nối gia sản phê-rô một cách đặc biệt (và cũng vì thế mà Giáo Hội nhận vào danh sách quy điển). Thư thứ hai này đề cập tới hiện tượng lạm dụng của Phao-lô. Thư viết : Ông bạn Phao-lô của chúng ta viết nhiều, có chỗ rất khó hiểu – và cũng có chỗ ám chỉ sai. Và rồi Phê-rô cảnh giác, việc diễn nghĩa kinh sách cần phải đi theo đường lối của Giáo Hội. Thư đó một mặt cho thấy cử chỉ tôn trọng đối với Phao-lô, người được công nhận là thầy dạy lớn, mặt khác cũng cảnh cáo đừng lạm dụng hay hiểu sai Phao-lô. TRUYỀN GIÁO Đại giáo chủ Grê-gô-ri-ô lệnh cho các nhà truyền giáo người Anh: „Không được phá các đền thờ của dân ngoại, nhưng chỉ phá các thần thánh để trong đó mà thôi. Rồi chuẩn bị nước thánh, rẩy lên các đền thờ đó. Lập bàn thờ, rồi mang vật thánh của mình vào“. Và tiếp: „Khi chính dân đó không thấy đền thờ họ bị phá, họ sẽ vui lòng từ bỏ lầm lẫn mà trở về nhìn nhận và cầu nguyện Thiên Chúa chân thật“. Cái khôn của Ki-tô giáo là đó. Grê-gô-ri-ô viết: “Vì họ đã quen giết trâu bò tế lễ quỷ thần, mình nên lập ra những lễ hội khác cho họ tiếp tục tế“. Do đâu cuộc truyền giáo đã thành công vượt bực, vượt qua mọi văn hoá và ngôn ngữ, như thế? Nhờ vào cách hiện diện khôn ngoan? Nhờ vào những phép lạ? Hay nhờ vào những mệnh lệnh và phương thức truyền giáo khôn khéo như của đại giáo chủ Grê-gô-ri-ô? Tại sao cuộc truyền giáo đã quá thành công và đã bao trùm cả đế quốc nhanh như thế? Đó là một câu hỏi lớn. Vì nó mang tầm vóc quá lớn, nên ta đừng nên quá lạm trong câu trả lời. Dưới thời Constantinus*, Ki-tô giáo chỉ có vài phần trăm, dù được hoàng đế này coi đó là thành phần quyết định cho tương lai. Thành công nhờ đâu? Là vì tôn giáo của dân ngoại đã mệt mỏi, và không còn đáp ứng lòng tin cậy của con người. Nó chỉ còn là một cỗ xe chính trị, chẳng ai tin vào huyền thoại thần thánh nữa. Ở thôn quê, nó vẫn còn là một yếu tố thiết thân với đời sống với những cuộc rước xách, nhưng tại các thành phố, các thần thoại một cách nào đó đã trở thành trò cười cho thiên hạ. Các thần thoại có nhiệm vụ tạo ổn định cho Đế quốc (Rô-ma), nhưng khi người ta không còn tin nữa, thì đương nhiên vai trò ổn định đó không còn. Vào giai đoạn sau của Đế quốc Rô-ma, người ta bắt đầu đặt câu hỏi về con người và thượng đế. Thời đó đã có những phong trào triết học đề cập tới một thiên chúa duy nhất, nhưng chúa đó là do con người nghĩ ra, không thể cầu khẩn gì được với vị đó. Giờ đây bỗng nhiên nổi lên một phong trào cũng rao giảng về một Chúa, nhưng Chúa này phát xuất từ nguồn gốc tôn giáo. Ở đây phải thêm điểm này: Ngay từ cuối Cổ thời, trong khi đi tìm một đức tin phù hợp với lí trí, người ta bắt gặp một lôi cuốn đặc biệt nơi Do-thái giáo. Nhiều người coi tín ngưỡng độc thần đó là tôn giáo có thể nối kết với khoa minh triết Hi-lạp, là tôn giáo loan báo một thứ Chúa mà các triết gia hay các đầu óc khai hoá có thể hiểu được một cách nào đó. Vì thế lúc đó, nhiều nhóm người được gọi là dân kính sợ Chúa đã hình thành quanh các đền thờ do-thái, họ không thể trở thành dân Do-thái được, nhưng muốn bằng mọi cách liên kết với tôn giáo này được chừng nào hay chừng nấy. Từ đó các tập thể đó bắt đầu làm quen và thân thiết với Ki-tô giáo. Và vì đối với Do-thái giáo họ chỉ được làm cảm tình viên ở vòng ngoài mà thôi, nên dần dà họ trao hẳn niềm tin vào vị Thiên Chúa đã tự tỏ mình ra và đi tới với con người qua Đức Ki-tô. Bằng cách đó, có sự gặp nhau ở đây giữa một tôn giáo đã được thanh tẩy và có thể hiểu được bằng lí trí, với sức mạnh tín ngưỡng của một đức tin hoàn toàn không do con người nghĩ ra, nhưng được ban tặng và kinh nghiệm từ Thiên Chúa. QUẢ LÀ MỘT THỜI ĐIỂM LÝ TƯỞNG. Về những yếu tố cơ bản giúp ta hiểu sự thành công ban đầu của Ki-tô giáo, tôi hiểu như vầy: Thứ nhất đó là sự tinh ròng của đức tin Ki-tô giáo, rồi tới cái dễ hiểu của nó, và cuối cùng là yêu sách đạo đức của đạo này, một tôn giáo đã làm sống lại các định đề triết học khắc kỉ một cách trong sáng dễ hiểu trước một thế giới đã mục nát. Và nhất là Ki-tô giáo đã mang lại một yếu tố hoàn toàn mới lạ vào thời điểm đó, đó là bác ái Ki-tô giáo; đây được coi là một chứng thực của đức tin, thể hiện qua việc chăm sóc những người đau khổ, một điều từ trước tới giờ chưa hề có. Yếu tố này làm cho bộ mặt Thiên Chúa trở nên thật đáng tin. Qua nó, người ta nhận ra đó là một Thiên Chúa mới và thật. Trong tương quan với ngoại giáo, đã có nhiều diễn tiến phức tạp. Xét chung, cuộc truyền giáo không thống nhất. Đã có những nhà truyền giáo cuồng tín, họ đập phá các đền thờ ngoại giáo, coi đó là những thứ phục vụ ngẫu thần, cần phải dẹp triệt để. Người ta thấy có điểm tương đồng nơi triết học của dân ngoại, nhưng nơi tôn giáo họ thì không, vì nó xem ra nặng tính chất thoả hiệp. Lúc đại giáo chủ Grê-gô-ri-ô khôn ngoan muốn vận dụng sự liên tục của lòng đạo nơi con người vào lối truyền giáo của mình, thì tôn giáo của lương dân từ lâu đã chẳng còn là một lực cạnh tranh nữa. Nó đã kiệt sức từ lâu rồi. Tuy nhiên, lệnh của Grê-gô-ri-ô yêu cầu bảo tồn sự tiếp nối những gì thánh thiêng đã trở thành một quy luật Ki-tô giáo. Cái nhìn của ngài thật thâm sâu. Ngài hiểu rằng, các tôn giáo tiền Ki-tô giáo, dù mang nhiều nội dung trái ngược, vẫn là một tìm kiếm, một ngưỡng vọng về Thượng đế. Vì thế, thay vì cắt đứt những tâm tình tín ngưỡng trong sáng này, ta nên tìm cách nối vào chúng và làm biến đổi chúng. Như vậy, mình vẫn ở trong cái liên tục của không gian thánh thiêng, nhưng đã đưa vào đấy một nội dung mới. Năm 1492, với con thuyền Santa Maria, Christophus Columbus đã tìm ra tân thế giới. Ông đặt tên cho hòn đảo nơi đặt chân đầu tiên là San Salvador. Đó là khởi đầu của một cuộc truyền giáo vô tiền khoáng hậu, Ki-tô giáo hoá toàn lục địa châu Mĩ. Cuộc truyền giáo ở châu lục này, dĩ nhiên, đã không hẳn chỉ có vinh quang. Bên châu Phi, mãi cho tới trong thế kỷ19, Ki-tô giáo vẫn bị Islam cản bước ở miền bắc và đông bắc. Cả Ấn-độ và Trung-hoa, hai vùng đông dân nhất thế giới, Ki-tô giáo cũng chưa bén rễ được. Tại sao? Anh nói đúng, Ki-tô giáo trong hai vùng văn hoá lớn Ấn-độ và Trung-hoa vẫn chỉ mới tạm có mặt hoặc chỉ mới thành công trên một vài nơi nhất định. Trong thế kỷthứ 5 và 6, các đoàn truyền giáo thuộc phái Nestorius đã xuống tới Ấn và Trung-hoa. Họ đã để lại đó dấu vết và có lẽ cả ảnh hưởng trên việc tổ chức Phật giáo, nhưng rồi lại biến mất. Tại sao? Theo tôi – mà có thể cũng rất sai – là vì hai nơi đó đã sẵn có một nền văn hoá cao rồi. Trong khi các tôn giáo bộ lạc ở Phi châu, khi đối diện với các nền văn minh lớn, đã mở ra để đón nhận cái mới – mà cũng bởi vì chúng chỉ là những văn hoá bộ lạc, nên chúng phải biến đi -, thì ở Ấn và Trung ta có những nền văn hoá cao, trong đó tôn giáo, nhà nước, trật tự xã hội – chẳng hạn như lối phân cấp xã hội mang tính tôn giáo ở Ấn - quyện vào nhau không rời và những nền văn hoá đó cũng bước đi trên một tầm mức tinh thần cao và lớn. Ấn-độ và cả Trung-hoa có một triết lí tôn giáo cao. Việc chuyển tiếp sang Ki-tô giáo ở đó khó hơn, là vì người ta nghĩ rằng, họ đã có sẵn một hình thái tối ưu rồi, trong đó sự tổng hợp của nhà nước, triết lí, lí trí và tôn giáo đề kháng lại những gì lạ từ ngoài vào. Tuy nhiên, ở đây ta phải nói thêm, sự có mặt của Âu châu từ thế kỷ19 đã làm bộ mặt Ấn giáo biến đổi nhiều. Những gì do loan báo, chẳng còn mang* hay Radha Krishan*các khuôn mặt quen thuộc như Ghandi tính chất ấn giáo thuần tuý nữa, nhưng là một Ấn giáo pha trộn nhiều yếu tố Ki-tô giáo. Rõ ràng, Ki-tô giáo đã không thể bám rễ được, nhưng nó là một thứ lực đổi mới được Ấn giáo hút vào cho mình. Trường hợp ngoại lệ: Hàn quốc. Hình như thông điệp Đức Ki-tô đã trực tiếp đi vào lòng người ở đây mà không do các thừa sai. Chuyện đó xẩy ra thế nào? Đã có một nhóm người Hàn theo học ở Trung-hoa và họ đã tiếp xúc với các linh mục Ki-tô giáo. Từ động lực ban đầu đó, khi trở về quê hương, họ tự học Kinh Thánh, xác tín rằng đó là lời Chúa thật và đã cố gắng mang Lời đó ra thực hành – nhưng luôn với tâm vọng là được nối kết với Giáo Hội hoàn vũ. Thoạt tiên, tâm vọng đó đã không đạt được, và trải qua nhiều thời kì họ bị bách hại nặng nề. Quả thật đó là một diễn biến lạ lùng. Một đàng, động lực đưa họ tìm về Đạo là Giáo Hội sống động chứ không phải chỉ có Kinh Thánh. Nhưng mặt khác, khi đã bị đánh động, họ quay ra tìm hiểu kinh sách. Và cuộc gặp gỡ kinh sách đã đưa họ vào Đạo, nhưng không phải giữ Đạo trong tâm tưởng, mà đã trở thành cộng đoàn nối kết chặt chẽ với Giáo Hội sống động. Sẽ còn có người ở đất Á châu vào Đạo? Hay cánh cửa vùng này đã được khép lại? Tôi nghĩ, ta không nên đóng khung hi vọng. Như ta thấy đó, nhờ qua các trý thứcẤn mà men Ki-tô giáo đã dậy được trong Ấn giáo. Con số những người Ấn kính thờ và yêu mến Đức Ki-tô - thoạt tiên người Ấn coi Đức Ki-tô chỉ là một trong nhiều vị thần cứu độ - lớn không thể tả, lớn hơn nhiều so với con số tín hữu Ki-tô giáo. Nước Nhật tỏ ra đặc biệt khó khăn đối với Ki-tô giáo. Dân Nhật thích học trường Ki-tô giáo, thích phong tục Ki-tô giáo, ngay cả thích được làm phép cưới trong nhà thờ công giáo, nhưng tinh thần của người Nhật thì lại dị ứng với Ki-tô giáo. Trung-hoa thì đang nằm dưới quyền lực ý hệ. Ý hệnày được coi là lực duy nhất để đoàn kết dân, giữ bản sắc dân tộc và tạo đà cho họ tiến vào thế giới. Nhưng nơi đây cũng có tín hữu dấn thân lạ lùng cho Chúa Ki-tô, có thể nói họ là men trong bột. Vì vậy có thể nói lịch sử chưa chấm dứt trên miền đất này. Hẳn có nhiều vùng Á châu hiện chống lại Ki-tô giáo rất mạnh, coi đó là Đạo ngoại bang. Ta đã thấy lòng thù hận ở Ấn đối với Giáo chủ công giáo như thế nào, đã thấy dân ở đó chống ý niệmcải đạo và phúc âm hoá ra sao. Phản ứng thật gay gắt. Nhưng cũng có thể hiểu như vầy, sở dĩ người ta chống, là vì người ta cảm thấy đó là một sức mạnh thật sự. Hiện lúc này chưa thể có được một dự đoán tương lai nào, nhưng ta cũng không nên bực dọc mà bảo rằng miền đất đó đã có chủ. Trên nhiều quốc gia vẫn không ngừng xẩy ra những cuộc bách hại Ki-tô giáo, mà dư luận phương tây chẳng quan tâm gì tới. Vâng, trên nhiều quốc gia. Ta đã thấy ở Trung-hoa, đã chứng kiến ở Việt-nam, trên toàn vùng đông dương. Ta cũng thấy diễn tiến đang trên đà nguy hiểm ở Ấn-độ. Ta thấy sinh lộ của đức tin luôn phải trả bằng giá máu. GIÁO CHỦ Nhiều người cho rằng Giáo Hội là một cỗ máy quyền lực ghê gớm. Đúng, nhưng người ta phải hiểu cho rằng cơ cấu đó là để phục vụ. Giáo chủ không phải là kẻ trị vì tối cao – mà, nói như đại giáo chủ Grê-gô-ri-ô, là : “người phục vụ tất cả những kẻ phục vụ Thiên Chúa”. Tôi muốn nói rằng, ngài là kẻ bảo đảm cho sự vâng lời, để Giáo Hội không bị uốn theo í muốn con người. Chính giáo chủ cũng không thể nói, tôi là Giáo Hội, hay tông truyền là tôi, mà trái lại, ngài bị trói buộc, ngài là biểu tượng của sự trói buộc đó của Giáo Hội. Nếu trong Giáo Hội nẩy ra cám dỗ muốn làm khác đi, muốn bỏ bớt đi cho thoải mái, thì ngài là người sẽ tự hỏi, chúng ta có được phép làm như thế không? Giáo chủ không phải là một cơ quan, để người ta thông qua đó mà thay đổi Giáo Hội, nhưng ngài là bức tường bảo vệ chống lại sự chuyên quyền. Lấy một thí dụ: Theo Tân Ước, hôn nhân là bí tích không thể tháo gỡ. Giờ đây, nhiều người bảo rằng, giáo chủ đương nhiên có thể sửa điều đó. Không, ngài không thể sửa được. Tháng 2 năm 2000 ngài đã đọc một diễn văn quan trọng trước các quan toà Rô-ma, và cho biết, trước trào lưu muốn tháo gỡ mối dây ràng buộc đó, ngài không thể làm tất cả những gì mình muốn, mà trái lại, phải luôn nhắc nhở chúng ta về sự vâng lời, hay cũng một ý nghĩa đó nhưng nói cách khác, là ngài phải tiếp tục thi hành động tác rửa chân. Ghế giáo chủ là một trong những định chế mê hoặc nhất trong lịch sử. Bên cạnh những hoàng kim, lịch sử cũng cho thấy những hố thẳm của định chế đó. Chẳng hạn Biển-đức thứ IX bị cách chức nhiều lần và đã là giáo chủ thứ 145, 147 và 150 trong Giáo Hội. Ngài nắm giữ vai trò này lần đầu tiên lúc mới 12 tuổi. Vậy mà Giáo Hội vẫn cứ trung thành với chức vụ đại diện Thiên Chúa trên trần gian đó. Với cái nhìn thuần tuý lịch sử thì ghế giáo chủ quả thật là một cái gì lạ lùng. Nó là thể chế quân chủ duy nhất - nếu có thể nói được như thế - đứng vững suốt gần hai ngàn năm, chuyện không thể hiểu được. Nhưng tôi muốn nói, có một bí mật còn lớn hơn, đó là sự tồn tại của dân Do-thái. Còn ghế giáo chủ, sự tồn tại lạ lùng của nó cũng bắt mình phải đặt câu hỏi. Anh đã nói tới một thí dụ tiêu cực của định chế đó, và nó đã phải trải qua bao nhiêu chấn thương nặng nề, lẽ ra theo xác xuất lịch sử thì nó hẳn đã phải tiêu vong, không phải chỉ một lần. Tôi tin Voltaire* đã nói như thế này, đây là lúc Dalai Lama của Âu châu phải biến đi và nhân loại sẽ được giải thoát khỏi ông ta. Nhưng, như anh thấy đó, mọi chuyện vẫn cứ tiếp tục. Điều đó cho thấy rằng, sự tồn tại của nó không phải do khôn khéo của cá nhân các giáo chủ - nhiều vị đã ra công giật sập nó nữa là khác – nhưng là do một sức mạnh nào đó đứng đàng sau. Đó chính là sức mạnh đã được hứa cho Phê-rô. Quyền lực của hạ giới, của sự chết sẽ không thắng nổi Giáo Hội. Chúng ta đã bàn về chuyện bất khả ngộ. Tại sao tín điều đó được hình thành quá trễ như vậy? Trước hết phải hiểu là có một học thuyết về vai trò Phê-rô – và đặc biệt là việc hành xử vai trò đó – đã hình thành rất sớm. Trong lá thư của giáo chủ Klê-men-tô I viết khoảng năm 90 cho giáo đoàn Kô-rin-tô – giáo đoàn này đang có cơ tách ra khỏi tập thể -, ta đã thấy có đề cập tới trách nhiệm của Giáo Hội ở Rô-ma và của giáo chủ Rô-ma rồi. Trách nhiệm đặc biệt đó lại thể hiện rất rõ vào thế kỷthứ hai trong cuộc tranh luận về lễ phục sinh. Tính cách trung ương của Rô-ma đã từng bước lớn lên trong Giáo Hội, và nói chung, nó được tập thể công nhận. Cuối cùng, công đồng Ni-xê năm 325 đã nói tới ba vị trí ưu quyền trong Giáo Hội, đó là Rô-ma, Alexandria và Antiochia. Rô-ma luôn được nói tới đầu tiên, và hai ghế giáo chủ kia cũng luôn có mối liên hệ với Phê-rô. Trong danh sách tham dự viên các công đồng, các đại biểu của Rô-ma cũng luôn được ghi tên trên cùng. Rô-ma được kính trọng như là prima sedes, vị trí ưu tiên, và chính công đồng Ni-xê đã làm vững thêm hệ thống đó. Lịch sử các công đồng kế tiếp càng cho thấy rõ nhiệm vụ đặc biệt của giáo chủ Rô-ma. Thời đó, giám mục Rô-ma không cai trị với một giáo triều hoàn vũ liên tục như ngày nay, nhưng mỗi khi có nguy biến, ngài lại có một nhiệm vụ đặc biệt. Trong cuộc khủng hoảng, mà chút nữa giáo lý của Arius* sém trở thành giáo lýchung cho Giáo Hội, thánh Anasthasius đã coi giáo chủ là tụ điểm phải theo. Và còn nhiều lí chứng khác nữa. Năm 1054 Giáo Hội phía đông và tây tách rời nhau. Phía đông vẫn công nhận vai trò đặc biệt của Rô-ma, sự công nhận đó đã không được phía tây nhìn ra một cách đúng đắn. Kể từ sau ngày phân rẽ, bên Rô-ma đẩy mạnh tư tưởng về ưu quyền, nhất là với Grê-gô-ri-ô VII. Tư tưởng này được tăng cường với việc xuất hiện các dòng tu ăn xin, khi họ quay về với giáo chủ Rô-ma. Số là các dòng này không thuộc vào một giáo phận nào cả, nên họ cần phải có một cơ quan hoàn vũ chung. Và chỉ có cơ quan chung này mới có thể tổ chức được một giới linh mục và các phong trào trải rộng khắp Giáo Hội và, qua đó, tạo điều kiện cho công cuộc truyền giáo về sau. Học thuyết ưu quyền được hình thành từng bước vừa qua lí thuyết lẫn thực hành. Nó đã được diễn tả thành văn ở công đồng Firenze trong thế kỷ15, nhưng cũng đã được nói đến cả trong công đồng Lyon vào thế kỷ 13. Trong công đồng Trento, người ta phải bàn quá nhiều chuyện liên quan tới khủng hoảng tin lành, nên cuối cùng đề tài phải dành lại cho công đồng Vatican I. Nhưng tại đây nhiều người đã ngỡ ngàng, vì nội dung đề tài đã được trình bày quá chặt. Ta biết rồi, nhiều giám mục đã bỏ ra về sớm để khỏi phải kí tên. Tuy nhiên, số nghị phụ thiểu số đó vẫn công nhận bản chất học thuyết ưu quyền không phải là một cái gì xa lạ với đức tin công giáo, và học thuyết này cũng có nền tảng Kinh Thánh qua các lời hứa của Chúa với Phê-rô. Thật ra, người ta đã trình bày tín điều với một sự chính xác mới bằng một hình thức hơi quá mức mà thôi, chứ nó chẳng phải là gì mới. Nội dung của nó chỉ là gom nhặt và cụ thể hoá những gì đã diễn tiến và thành hình trong suốt lịch sử. Phê-rô có lẽ đã không nghĩ rằng, mình sẽ để lại cho những người kế vị một việc làm quá nặng nề đến như thế: Là giám mục giáo phận Rô-ma, giáo chủ phải giải quyết những vấn đề tại chỗ. Trong tư cách nguyên thủ quốc gia trên “ngai thánh”, ngài phải điều hành công việc của thành quốc. Lại vừa phải giải quyết chuyện của Giáo Hội hoàn vũ với tư cách là đức Thánh cha. Phải soạn diễn văn, thư chung, bài giảng, tiếp các loại khách lớn nhỏ. Rồi với những Bộ, Toà án, Uỷ ban, Hội đồng về giáo lýđức tin, phụng vụ, kỉ luật, giáo dục… Rồi cả hàng trăm nhà dòng mẹ, hơn một trăm học viện v.v. May có đoàn Hồng Y như là ban cố vấn thượng thặng gồm những chuyên gia từ mọi vùng văn hoá, dày kinh nghiệm suy tư và chính trị. Nhưng mỗi ngày văn phòng đổng lí lại nhận được cả thùng đầy ắp giấy, mỗi tờ là một vấn đề cần giải quyết. Các giám mục khắp nơi tới tấp gởi về những câu hỏi có khi thật nặng đầu. Bên cạnh đó, giáo chủ còn có cuộc sống tâm linh với giờ nguyện, giờ chầu và công việc cá nhân riêng tư. Giáo Hội hoàn vũ càng ngày càng lớn ra – như vậy vai trò và ghế giáo chủ có phải thay đổi không? Vấn đề điều hành công việc thay đổi theo thời gian. Thế kỷ thứ 8 khác thế kỷ 15, và thế kỷ 15 lại khác thế kỷ 20. Nhiều điều anh vừa kể không hẳn phải như vậy. Hãy bắt đầu với quốc gia Vatican: Đó chỉ là một khung hình hỗ trợ. Tự thân giáo chủ không cần quốc gia, nhưng ngài cần tự do, cần bảo đảm cho sự độc lập thế quyền, ngài không được phục vụ cho một chính quyền nào cả. Tôi dám cả quyết rằng, sở dĩ ngôi vị giáo chủ ở Rô-ma triển nở được, là nhờ chế độ quân chủ với Konstantinus đã dời đô về Byzanz. Nhờ đó giáo chủ mới có được tự do cần thiết. Tôi coi lập luận cho rằng, nhờ có sự hiện diện bên cạnh của chính quyền quân chủ nên vị thế giáo chủ mới lớn lên được, là hơi ngược đời. Trong ba thế kỷ đầu, Rô-ma là chốn chắc chắn nhất để các tín hữu đi vào tử đạo. Cũng vì vậy mà giáo chủ thời đó được coi là những ứng viên tử đạo. Chỉ sau khi hoàng triều dời đô sang phía đông, tạo nên ở Í khoảng trống quyền lực, thì một thứ độc lập tinh thần đã xuất hiện, và nhờ đó mà giáo chủ chẳng còn phải trực tiếp suy phục một thế quyền chính trị nào nữa cả. Về sau, Quốc-gia Giáo-hội hình thành, kéo theo biết bao nhiêu hệ lụy bất hạnh. Và Quốc-gia đó đã kéo dài cho tới năm 1870. Ngày nay nhìn lại, ta phải cám ơn Chúa là nó không còn nữa. Thay thế nó, nay ta có một khung hình mới là thành quốc tí hon Vatican. Quốc gia này chỉ có mỗi một nhiệm vụ là giữ cho giáo chủ được tự do trong công việc của ngài. Mô mẫu thành quốc này còn có thể đơn giản hoá thêm được nữa không, hãy chờ xem.Có những điều khác, mà anh kể ra, cũng không hẳn như vậy. Không phải tất cả các nhà dòng mẹ đều có mặt ở Rô-ma. Và giáo chủ phải ra bao nhiêu tông thư, phải viết bao nhiêu diễn văn, cái đó tùy trường hợp và cũng tuỳ tâm tánh mỗi vị. Dù vậy, ngài vẫn còn có quá nhiều chuyện phải làm. Bao nhiêu là cuộc gặp gỡ để giữ liên lạc với Giáo Hội hoàn vũ; bao nhiêu là chuyện phải quyết định ; rồi làm sao còn phải dành giờ cho việc tâm linh, cho kinh nguyện – cả là một vấn nạn lưỡng nan. Nhưng ngày nay cũng có nhiều phương thức lãnh đạo hoàn toàn mới? Chúng tôi đang nghĩ xem việc tản quyền có thể giúp giảm bớt được lượng công việc không. Chính Giáo chủ trong Tông thư về đại kết đã mời gọi mọi người đóng góp ý kiến về vai trò giáo chủ và tổ chức giáo triều. Đã có nhiều vị cho ý kiến. Cựu tổng giám mục Quinn của giáo phận San Francisco, chẳng hạn, đã đề cập rất nhiều về việc tản quyền. Chắc chắn có thể tiến hành được nhiều chuyện. Tuy nhiên, tôi cho rằng các chuyến thăm viếng ad limina của các Hội đồng giám mục là rất quan trọng, đó cũng là dịp cho những chạm mặt, gặp gỡ. Cần có chúng để tăng cường mối đoàn kết trong Giáo Hội. Thư từ không thể thay thế được những gặp gỡ. Không có gì thế được những cuộc trao đổi, bàn luận, nhìn nhau, lắng nghe nhau. Vì thế, tôi có thể nói, những hình thức gặp gỡ cá nhân bất nghi thức mà Giáo chủ hiện nay đang thực hiện, sẽ mang tầm quan trọng trong tương lai. Chúng quan trọng, cũng là vì nếu không có gặp gỡ cá nhân – xuyên qua mọi vấn đề và mọi thách đố văn hoá – thì không thể hiểu nhau, không thể đoàn kết với nhau được. Ngày nay, sau những đắn đo suy nghĩ, càng ngày người ta càng nhận ra nhu cầu về một tụ điểm đoàn kết, một tụ điểm gần như vai trò giáo chủ hiện đang đóng. Anh em tin lành nay bảo rằng nên có một biểu tượng thống nhất, một phát ngôn viên cho thế giới Ki-tô giáo. Và một số trong họ nói, nếu như chức vụ giáo chủ được thay đổi thích hợp thì họ có thể chấp nhận. Dù sao, như anh nói, đó là một “việc vượt sức người”, tưởng như không thể kham nổi. Song mặt khác, việc đó vẫn có và phải có – nhưng với ơn Chúa, mình cũng có thể vượt qua được. Tản quyền – có nghĩa trong Giáo Hội công giáo cũng sẽ có việc chia thành các vùng thượng phụ? Trước đây tôi nghĩ phải tổ chức thành các đơn vị châu lục lớn, nhưng quan điểm này càng ngày tôi thấy càng không đứng vững. Vùng thượng phụ có nguồn gốc liên quan tới địa điểm phát xuất của mỗi tông đồ. Nhưng công đồng Vatican II đã chọn các Hội đồng giám mục làm hình thức tổ chức cho các vùng lớn. Và trên đó lại có các Thượng hội đồng châu lục. Châu Mĩ la-tinh, châu Phi, châu Á hiện đã có Thượng hội đồng với những cơ cấu tổ chức khác nhau. Có lẽ đó là những cơ cấu thích hợp cho ngày nay. Dù sao, phải có cơ cấu cho sự hợp tác vùng, nhưng chúng phải được tổ chức linh động để tránh biến thành những bộ máy quan liêu, cửa quyền. Hẳn các kết hợp vùng đó sẽ có thể cáng đáng cả những công tác của Rô-ma. Ngài có nghĩ rằng một ngày nào đó giáo chủ công giáo lại cũng được nhìn nhận bởi Giáo Hội Tin lành, Chính thống và Anh giáo? Đã có một cuộc đối thoại thần học trên hình thức với Giáo Hội Chính thống, nhưng chưa dám đề cập tới đề tài nóng bỏng đó. Một mặt, ưu quyền của giáo chủ Rô-ma không hẳn xa lạ đối với truyền thống chính thống, vì trước đây Rô-ma luôn được công nhận ở vị trí hàng đầu. Nhưng mặt khác, ưu quyền đó đi ngược lại cơ cấu tự trị quốc gia của bên Chính thống. Có rất nhiều tế nhị lịch sử cản ngăn hoặc gây khó khăn cho việc công nhận. Có lẽ có một số lãnh vực bớt phức tạp hơn. Khó hi vọng có một thành công nhanh chóng, nhưng phải cố gắng đi tới mục tiêu đó.Anh giáo trả lời lại tông thư đại kết của Giáo chủ với một viễn kiến về vị trí và vai trò của giáo chủ theo cái nhìn của họ. Đó là một bước xích lại gần Rô-ma. Và với Anh giáo, đang có một cuộc đối thoại về “Uy quyền trong Giáo Hội”, nhưng trong cuộc đối thoại này vấn đề công nhận đã không được đặt ra. Cũng đã có những tiến bộ trong đề tài đối thoại, nhưng vẫn còn nhiều rào cản dựng lên từ nguồn gốc lịch sử của Anh giáo. Chờ xem.Tin lành là một đại lượng phúc tạp. Một bên, có những Giáo Hội truyền thống như Tin lành phái Luther, phái methodisch, phái presbyterianisch và v.v. Nhiều nơi trên thế giới họ đang rơi vào khủng hoảng. Ở những nơi đó, trọng lượng của họ đang chuyển sang các phong trào evangelical, pentecostal* và bảo căn. Sức sống đức tin các nhóm mới này đang nở rộ và đẩy những phái truyền thống vào hậu trường. Tổ chức Evangelical và bảo căn đã là hai đối thủ cổ điển chống lại Giáo chủ Rô-ma. Nhưng gần đây hai tổ chức này đã có những thay đổi ngoạn mục, vì họ nhận ra Giáo chủ quả thật là tảng đá biểu trưng chung, vì ngài cũng như họ chống lại áp lực của tân tiến đang đè nặng trên Ki-tô giáo. Trên một bình diện nào đó, họ xem Giáo chủ là một đồng minh, mặc dù các dè dặt trước đây vẫn chưa hết. Tóm lại, bức tranh đang chuyển động. Chúng ta tin tưởng vào những điều có thể hi vọng, nhưng cũng cần kiên nhẫn. CƠ CẤU NỘI BỘ GIÁO HỘI Giáo Hội công giáo có một cơ cấu cổ điển, rõ ràng: Dân – Linh mục – Giám- mục. Và trên tột cùng là Giáo chủ. Phẩm trật (Hierachie) - từ ngữ này có nghĩa là “quyền cai trị thánh” – bắt nguồn từ Kinh Thánh, hay từ nhu cầu tổ chức để có một bộ máy mạnh, hữu hiệu? Tôi chống lại quan điểm của nhiều người, dịch chữ “Hierachie” ra nghĩa “quyền cai trị thánh”. Tôi khẳng định nghĩa của nó là “nguồn gốc thánh”. Nó muốn nói lên rằng, Giáo Hội không hình thành từ các quyết định, nhưng luôn có thể được tái sinh từ chính Chúa, từ các bí tích. Với cái nhìn đó, ta cũng có một nhận thức khác đối với chức linh mục. Ở đây, ta không nói chuyện về một giai cấp cai trị muốn áp đặt kỉ kuật sắt trong Giáo Hội. Chức linh mục, trái lại, là sự nối kết Giáo Hội với Thiên Chúa. Nó là sự vượt lên trên chính mình của một Giáo Hội do Chúa thành lập, chứ không phải do từ các đại hội, từ các quyết định, từ sự thông thái hay sức mạnh của tổ chức. Trong ý nghĩa đó, chức linh mục cũng không phải là thứ có sẵn. Nếu vì thế mà ơn gọi linh mục không còn nữa, thì ta phải cầu khẩn Chúa, chứ không thể tự mình đơn giản nặn ra được. Giáo Hội thường được gọi là “đoàn dân lữ hành”, tín hữu được gọi là “đàn thú của Chúa”. Có người cũng gọi họ là đàn chiên, nghĩa là một đàn súc vật chẳng có quyền gì cả, chỉ có việc tin và vâng lời . Tôi thấy hai ý niệm“dân Thiên Chúa” và “đàn thú” không có gì là chống nhau. Đạo Do-thái phát triển từ nền văn hoá chăn nuôi, nên hình ảnh người chủ chăn luôn giữ một vị trí quan trọng và hình ảnh đó đã đi vào Tân Ước. Vì thế ta không nên đi từ hình ảnh làm thân chiên cừu để xét đoán, nhưng nên đi từ mối tương quan tín thác giữa người chăn và đàn cừu. “Dân Thiên Chúa” cũng mang ý nghĩa như thế: một đoàn dân đang trên đường băng suốt qua lịch sử. Ở Í, sau khi Giáo Hội làm hoà lại với nhà nước thế tục, Pi-ô XI đã cảnh tỉnh giáo dân, giờ đây phải làm sao có được một cách sống đời giáo dân mới, nghĩa là làm ki-tô hữu giữa trần thế, và ngài sau đó đã lập ra tông đồ giáo dân. Tôi thấy, từ sau Công đồng II, nẩy ra chiều hướng chống giáo sĩ, hô hào giáo dân phải dành lại quyền của mình trong Giáo Hội. Quan điểm đó giờ đây đã trở thành khẩu hiệu chống Rô-ma, đã trở thành một tín điều cho giới công dân tự do. Theo tôi, chiều hướng kia đặt trên một căn bản sai. Họ quan niệm rằng, Giáo Hội giờ đây phải được cai trị bởi hai giới, giáo sĩ và giáo dân, cả hai cùng quyết định về số phận Giáo Hội. Họ bảo, giáo dân phải cử ra các đại diện – và các đại diện đó, ở Đức, có cơ quan cao nhất là Uỷ ban Trung ương của người công giáo Đức – để nói lên tiếng nói của giáo dân. Và phía giáo sĩ cũng cử ra đại diện của họ. Hoàn toàn vô nghĩa. Như vậy thì giáo sĩ để cho ai? Nhất là người ta còn bảo cả hai giới phải chung nhau nghĩ xem nên tổ chức Giáo Hội như thế nào, nên giữ lại gì cho kho tàng đức tin. Rằng phải hạ bệ giáo sĩ và giáo dân phải giành lại tiếng nói của mình. Có người nghĩ như vậy. Nếu như giáo sĩ có lí, thì họ cũng chẳng có quyền bắt Giáo Hội phải thế này thế nọ. Mà họ phải vâng lời Thiên Chúa, mà người bảo đảm cho sự vâng lời đó là giáo chủ. Giáo chủ là người giữ cho Giáo Hội luôn nằm trong tay Thiên Chúa, không để nó bị nhào nặn bởi con người. Đó là ý nghĩa của bí tích truyền chức linh mục, chức xuất phát từ một nguồn không phải do chúng ta tạo ra. Lại nữa, giáo dân thì có gì là xấu, đây là bậc sống bình thường của người theo Chúa, nhờ bậc sống bình thường này mà Tin Mừng được sống và được đưa vào cuộc sống bình nhật của thế giới. Và mục đích thật sự của tông đồ giáo dân là làm sao cho đạo Chúa đi vào thế giới và biến đổi nó. Giới tu sĩ nam nữ trong Giáo Hội là bậc sống triệt để nhất của người theo Chúa. Đâu là nhiệm vụ của họ, đặc biệt cho Giáo Hội tương lai ? Có nhiều bậc sống theo Chúa, với nhiều nhiệm vụ khác nhau. Giáo dân là bậc cơ bản và không thay thế được, họ sống đức tin trong hoàn cảnh hợp với ngành nghề của họ, trong môi trường chính trị, khoa học, thủ công nghệ hoặc những nghề bình thường nhất. Nhưng cũng cần có một bậc dành toàn cuộc sống mình cho đức tin, họ là trạm nhiên liệu cho việc rao truyền, cho việc thổi hồn cho Giáo Hội. Tôi tin rằng những cơ cấu muôn mặt đó sẽ rất quan trọng cho tương lai Giáo Hội. Luôn luôn cần có chỗ cho con người có thể thu mình về, nơi đó họ suốt ngày có thể tham dự vào cuộc sống cầu nguyện, nơi đó lời cầu kinh thấm đượm nhịp sống của ngày thường. Đó là những kho dự trữ để đức tin lấy thêm năng lực làm mới mình và toả sáng. Chúng ta đang kinh nghiệm những điều đó trong tu viện cổ xưa của các tu sĩ Biển-đức ở Montecassino này. Hoặc hãy nghĩ tới các dòng chiêm niệm nữ, như của các chị dòng kín, các chị dòng Klara*, chẳng hạn. Đó cũng là những ốc đảo sa mạc cho nhiều người tìm tới để tăng cường và đổi mới đức tin mình. Montecassino là một trong những tu viện nổi tiếng nhất của Giáo Hội la-tinh. Người ta nói, không có tu viện nào lâu đời và xứng đáng như tu viện này. Vào đúng năm 529, khi người ta xây thành phố tu viện trên núi này cho các tu sĩ biển-đức, thì đó cũng là lúc Học viện Platon ở Athen đóng cửa. Tôi thấy sự trùng hợp thời gian bất ngờ giữa việc đóng cửa Học viện Platon và việc mở cửa tu viện Biển-đức ở Montescassino mang một ý nghĩa lớn. Học viện là biểu tượng cho nền học thuật cổ điển. Montescassino được coi là học viện cho thế giới Ki-tô giáo. Ta thấy một thế giới đang qua đi thật sự. Đế-quốc Rô-ma tan vỡ, bên phương tây nó chỉ còn là những mảng vỡ đang lịm tắt. Đế-quốc tan vỡ kéo theo sự đổ vỡ của cả một nền văn hoá, nhưng Biển-đức đã giữ nó lại và tái sinh nó. Như vậy, ngài đã thực hành đúng khẩu hiệu của các tu sĩ Biển-đức : Succisa virescit – càng cắt ngắn thì nó lại càng mọc xanh lên. Một cách nào đó việc cắt đứt văn hoá đó lại trở thành một cuộc lên đường. Và đó là khởi nguyên nền tảng văn minh Âu châu. Các tu sĩ biển-đức thoạt tiên chỉ muốn giữ truyền thống dòng tu, là trở thành một nơi cầu nguyện. Họ muốn là nơi tổng hợp việc làm tay chân, biến đất đai thành vườn tược và phục vụ Chúa. Lý tưởng của cộng đoàn biển-đức được diễn tả qua câu ora et labora – làm việc và cầu nguyện. Trên hết là phụng vụ. Nó ưu tiên nhất, vì chính Chúa là quan trọng nhất. Nó trải ra suốt ngày thâu đêm, thấm đượm và uốn nắn thời gian và đã triển nở thành một dạng hình văn hoá cao và tinh ròng. Nhưng tinh thần đạo đức của phụng vụ đồng thời là trồng trọt làm mới đất đai. Chủ trương làm việc tay chân này đã đẩy lùi thiên kiến cổ điển, coi đó chỉ là nhiệm vụ của đám nô lệ. Giờ đây công việc tay chân trở thành một cái gì cao quý, Tin Mừng Gio-an gọi đó là sự bắt chước đấng Tạo hoá. Cùng với tư tưởng mới về làm việc, quan điểm về nhân phẩm cũng thay đổi. Xã hội thời đó nặng tính đẳng cấp, coi con người hoặc là tự do hoặc là nô lệ. Nhưng tu viện là nơi không còn đẳng cấp, ai vào đó, đều là người tự do. Và, bắt nguồn từ tự do của Chúa, mọi người đều bình đẳng và có cùng một sứ mạng là mang Chúa xuống cho trái đất và nâng trái đất lên cùng Chúa. Với tất cả những cái đó Montescassino đã cứu và thay thế nền văn hoá cổ điển. Nơi đây người ta sao chép lại các tài liệu, nơi đây ngôn ngữ được chăm sóc. Tu sĩ người Pháp Leclerq có lần nói, yêu Chúa và yêu văn phạm gắn liền với nhau. Muốn hiểu Kinh Thánh, phải đọc nó. Vì vậy mà khoa học ngôn ngữ đã ra đời và được chăm bón. Đó chỉ là một thí dụ. Mặt khác, muốn làm vườn hiệu quả, bắt buộc phải nghiên cứu đất đai. Tóm lại, có thể nói, từ nguồn đạo đức “phụng vụ và làm việc” - ora et labora – đó, mà một nền văn hoá mới, văn hoá âu châu, hình thành. Di chúc lớn của thánh Biển-đức để lại là bộ luật của ngài. Hẳn tác phẩm nhỏ nhoi đó là một trong những thành quả lớn nhất của phương tây - mà sứ điệp thực tế của nó là tạo nên một cuộc sống có “lớp lang thứ thự” - cho tới ngày nay và mãi mãi vẫn có thể khám phá ra được nét mới. Ngài ghi chú : “Chỉ cần Kinh Thánh cũng đủ làm mẫu mực cho cuộc sống rồi”. Nhưng để người mới tập sự có thể thực hành được luật đó, ngài đã viết ra một hướng dẫn đơn giản, cho những ai “yêu cuộc sống và muốn thấy một ngày tươi đẹp”. Yếu tố nổi bật của luật đó là mực thước. Nhiều bộ luật dòng khác quá gắt. Vì ganh đua nên người ta thường đặt ra những luật quá triệt để, từng cá nhân sốt sắng có thể theo được, nhưng về lâu về dài không thể áp dụng cho cuộc sống chung. Biển-đức đã nối kết thành công giữa cái đòi hỏi gắt gao cần thiết và cái giới hạn của bản chất con người. Luật của ngài linh động, vì vị bề trên có quyền hạn rộng rãi áp dụng luật đó tuỳ vào hoàn cảnh do ngài nhận định. Dù vậy, luật cũng không phải là lỏng lẻo, mà trái lại, nó đề ra một cơ cấu chặt chẽ : nhất là các giờ kinh nguyện ấn định thời biểu cho cả ngày lẫn đêm, và cũng cả cơ cấu các bữa ăn và bổn phận làm việc. Như ta đã thấy, công việc tay chân kéo theo công việc văn hoá, học chữ để đáp ứng nhu cầu phụng vụ. Một cách nào đó, Biển-đức được xem như một thứ Mai-sen, người đã đặt quy luật cho cuộc sống. Nhưng luật của Biển-đức bắt nguồn từ Đức Ki-tô. Và Đức Ki-tô là người đã làm mới và hoàn chỉnh luật Mai-sen, để nó có thể trở thành luật sống cụ thể. Trong ý nghĩa đó Biển-đức đã trở thành một nhà ban hành luật cao cấp của phương tây, và từ con người văn hoá muôn mặt đó mà cuối cùng một châu lục mới – Âu châu – đã thành hình, một nền văn hoá đã biến đổi bộ mặt thế giới. Nếu như văn hoá chúng ta ngày nay đứng trước cơ nguy mất thăng bằng, như ta đang thấy, thì đó cũng là vì ta đã lìa quá xa luật ngài. Có lẽ thế giới chúng ta luôn có thể tìm lại được thế thăng bằng một cách dễ dàng, nếu ta chịu trở về với luật cơ bản của Biển-đức, bởi nó chỉ ra thái độ và nhân đức nền tảng mà con người cần có, hầu tạo thăng bằng nội tâm cho cuộc sống. Không có thăng bằng đó, không thể có cuộc sống cộng đoàn, và cá nhân không thể trưởng thành được. Ta tiếp tục bàn thêm đôi chút về thành quả quan trọng đó của Biển-đức. Chữ đầu tiên của bộ luật là “lắng nghe” : “Con ơi, hãy lắng nghe lời dạy của thầy”, rồi Biển-đức thêm : “Hãy ghé tai nghe tiếng tim con”. Vâng, đó là lời mời gọi lắng nghe, và đây là điều căn bản cho con người. Con người không được tự mãn, nó phải khiêm tốn để học đón nhận một cái gì đó – “cúi đầu con xuống”. Nó phải lắng nghe để lần ra ơn gọi mình. Và nghe không có nghĩa là để một tai vào những gì vừa xẩy ra chung quanh, nhưng là lắng mình đi vào chiều sâu – hoặc hướng lên cao, bởi chưng những gì thầy nói đều không ngoài việc áp dụng Kinh Thánh, áp dụng bộ luật nguyên thuỷ của kiếp người. Biển-đức tin rằng, lắng nghe và đáp trả cũng giống như hít vào và thở ra. Và con người cũng cần học cách chấp nhận mình, nó cần “ở lại trong chính mình”, cần im lặng, lắng nghe, tìm yên tĩnh cho mình. Từ hơn 1500 năm nay bộ luật vẫn không mất tính thời sự. Qua luật biển-đức, ta thấy cái gì thực sự là người trong đó thì không mất tính thời sự. Cái gì thật sự toát ra từ chiều sâu thì vẫn là một cách sống không bao giờ lỗi thời. Người ta có thể phê bình nó, có thể thử tìm trong đó những hình thức vận dụng khác nhau, nhưng trên căn bản, quy luật sống đó vẫn luôn mang tính thời sự. Ngay ngày hôm nay, ta lại thấy cần phải thân thiện với địa cầu, cần coi trọng những quy luật của nó và bảo tồn tạo vật của nó. Và có lẽ ta lại bắt đầu thấy cần dành thời gian nghỉ ngơi cho việc phụng vụ, đừng bắt trí óc đêm ngày chỉ phải bận tâm với chuyện năng suất. Ta biết việc lắng nghe cũng là một phần của đời sống – bởi lẽ phụng vụ là việc Chúa đi vào lòng người và là sự lắng nghe. Ta biết kỉ luật, chừng mực và trật tự có liên quan với nhau ; vâng lời liên quan với tự do ; cũng thế, việc có thể chịu đựng lẫn nhau trong tinh thần đức tin không chỉ là quy luật nền tảng của một cộng đoàn dòng tu, nhưng tất cả những điều trên thật ra là những yếu tố nền tảng cho việc hình thành bất cứ một cộng đoàn xã hội nào. Đó là một bộ luật rất người, và nó cũng diễn tả được cái tính người đó, bởi vì nó nhìn vượt lên trên con người và – đã nghe và đã nhìn ra được những gì thuộc Thiên Chúa. Con người chỉ trở thành người khi nó được Chúa đụng đến. Câu chuyện sau đây ta không được phép quên. Tên thật người đó là Gio-an Bernardone. Người ta gọi ngài là Francesco, nghĩa là ´chú Pháp nhỏ´, vì ngài thích hát nhạc Pháp. Ơn gọi của ngài là cả một câu chuyện thật cảm động. Có thể nói rằng Franciscus (Phan-sinh) đã cứu được Giáo Hội khỏi sụp đổ ? Giáo Hội có lẽ chẳng bao giờ sụp đổ hoàn toàn đâu, nhưng trong cơn khủng hoảng của Giáo Hội, ngài đã làm được chuyện quyết định để chống đỡ nó. Ai trong chúng ta cũng biết câu chuyện của giáo chủ In-nô-xen-xô III. Ngài mơ thấy nguyện đường Lateran đổ và bỗng dưng có người ghé vai chống đỡ. Ngài cho rằng người đó chính là Phan-sinh và cho mời tới. Và nhà chính trị tài ba In-nô-xen-xô nhìn ra sức mạnh cần có cho Giáo Hội nơi anh nhà tu vô chính trị và có cuộc sống Tin Mừng cực đoan kia. Giáo Hội cần một đổi mới đoàn sủng từ bên trong, cần một ngọn lửa đức tin mới, chứ không phải chỉ với khả năng và chiến lược của giáo triều và của trật tự chính trị là đủ. Tôi tin rằng câu nói của Đức Ki-tô “Hãy theo tôi”, hãy dứt khoát triệt để theo tôi, quả mang nhiều kết quả. Bao nhiêu xung lực và câu đáp trả mới đã không ngừng nẩy sinh từ đó. Và Giáo Hội, mỗi khi trở nên nhàm chán hay đứng trước đổ vỡ, vẫn không ngừng hi vọng vào những sức bật mới do Chúa Thánh Linh thúc đẩy từ bên trong. Những sức bật không bao giờ được chuẩn bị trước, nhưng chúng phát sinh từ những con người được chúc phúc và chúng làm cho Tin Mừng luôn mang lại hoa trái mới. Phan-sinh là một trong những người đó. Sau thời gian tuổi trẻ vui chơi và nông nổi, bỗng dưng ngài nghe được tiếng gọi triệt để, và hân hoan bước đi theo Chúa. Ngài bằng lòng với cuộc sống tu trì đang có, chứ không nghĩ lập ra một dòng mới. Đứng trước nếp sống nặng nề, vô vị – và bị choáng ngộp bởi ích kỉ - của ki-tô hữu, ngài chỉ muốn đơn giản rao giảng lại Tin Mừng theo lối mới và góp nhặt người về cho Chúa. Ngài chỉ muốn trình bày Tin Mừng, nói về bài giảng trên núi, mà thôi, để khích động bà con ăn năn quay về với Chúa. Nhưng từ đó, gần như ngược lại với ý ngài, một phong trào sống đạo đã hình thành, và cuối cùng nó đã trở thành khung pháp lí cho một dòng tu. Giáo chủ nhận ra nhu cầu phải cho phong trào này một khung hình tổ chức, để làm dụng cụ rao truyền sự hiện diện mới của Tin Mừng, mà Phan-sinh đang phát động. Nhưng đây rốt cuộc lại là bi kịch của dòng Phan-sinh : Một đàng, chủ trương sống tin mừng triệt để đòi hỏi phải có nhiều tự do, phải sống nghèo hơn, chủ trương đó không thể bị bó hẹp trong một khuôn khổ định chế. Nhưng đàng khác lại cần có một hình thức nào đó phù hợp cho một cộng đoàn con người bình thường tổ chức đời sống. Ngọn lửa sống đạo cực đoan kia thỉnh thoảng đã vượt ra khỏi định chế, nhưng dù vậy dòng vẫn luôn nhận ra chỗ đứng trong Giáo Hội của mình. Ngay chính Giáo Hội cũng sống trong tình trạng lưỡng nan đó. Một mặt, tất cả chúng ta phải luôn nỗ lực, triệt để hơn trong việc vượt ra khỏi những thoả hiệp cuộc sống thường nhật. Nhưng mặt khác, nếu như phải chấp nhận tiếp tục sống với những thoả hiệp phải có trong thế gian này, thì ta nên chấp nhận cái gai bất an đó thôi thúc trong lòng, và hãy mở chính cuộc sống mình và cuộc sống thế giới ra cho chiều kích lớn rộng của Tin Mừng. Phan-sinh đã chẳng bao giờ chịu làm linh mục, tại sao ? Ngài là một người khiêm tốn. Ngài sống theo ý nghĩa nguyên thuỷ của lời Chúa, muốn trở nên bé mọn trước mặt Ngài, vì như Chúa đã nói, chỉ những ai bé mọn mới thấu hiểu được Tin Mừng. Linh mục trong thời xã hội đẳng cấp của ngài là giới thuộc cấp cao, ưu đãi, mà một kẻ chủ trương sống đơn giản phục vụ như ngài không muốn bước vào. Ngài muốn mình là một người loan báo Tin Mừng tầm thường, một kẻ hát rong ca ngợi Chúa. Theo truyền thuyết thì ngài đã là phó tế, một chức vị có quyền đọc Kinh Thánh trong các buổi phụng vụ. Ở đây xem ra chức phó tế, một bí tích phục vụ, là tác vụ thích hợp cho cuộc đời ngài. GIÀU CÓ TRONG KHÓ NGHÈO Có một người đàn ông mà chúng tôi tìm thấy trong ống cống, một nửa người bị dòi bọ gậm nhắm và sau khi chúng tôi đem ông về nhà, ông chỉ nói :”Tôi đã sống như một con vật trên đường phố, nhưng tôi sẽ chết như một thiên thần, được yêu thương và được săn sóc”. Thế rồi sau khi được gắp bỏ mọi sâu bọ trên cơ thể, tất cả những gì ông nói, với nụ cười vui, là :”Thưa Seour, tôi đi về nhà Chúa đây”. Và ông tắt thở. Thật là tuyệt vời khi nhìn sự cao cả của con người nầy đã có thể nói như vậy, không oán trách ai, không so đọ tính toán gì. Như một thiên thần, - chính là sự cao cả của những ai giàu có về mặt thiêng liêng – dù họ có thể nghèo về vật chất. Chúng tôi không phải là những người làm công tác xã hội. Chúng tôi có thể đang làm công tác xã hội dưới mắt một số người, nhưng chúng tôi phải là những người chiêm niệm trong lòng thế giới. Vì chúng tôi phải đem sự hiện diện của Chúa đến trong gia đình bạn, vì gia đình đang cầu nguyện chung, đang ở chung với nhau. Có quá nhiều hận thù, quá nhiều lầm than khốn khổ và chúng tôi, cùng với lời cầu nguyện, cùng với hy sinh của mình, chúng tôi bắt đầu tại nhà mình. Tình thương yêu khởi đầu tại nhà và đó không phải là chúng tôi làm yêu thương bao nhiêu, mà là chúng tôi đặt bao nhiêu yêu thương vào những gì chúng tôi làm…Tôi muốn các bạn tìm thấy ở đây những người nghèo, trước hết ngay trong chính nhà bạn. Và tình thương yêu khởi đầu ở đó. Hãy nên Tin Mừng cho những người của bạn trước hết. Và hãy tìm hiểu về những hàng xóm gần nhà bạn. Bạn có biết họ là ai chưa? (Chân phước Mẹ Têrêxa Calcutta) HOẠ ĐỒ KIẾN TRÚC ĐỜI SỐNG Nhiều người trước sau vẫn sử dụng các kiểu nói Ki-tô giáo, nhưng chẳng còn hiểu gì về nội dung chúng, chứ đứng nói là sống theo những lời đó. Hãy nhìn vào bảy bí tích. Ngài có lần nói, trong các bí tích đó chứa đựng hoạ đồ kiến trúc cho cả cuộc sống. Và Johann Wolfgang von Goethe*, lớn lên trong giáo dục tin lành, quả quyết rằng, bí tích của Giáo Hội công giáo không những là cái “cao cả nhất của tôn giáo”, mà còn là “biểu tượng khả giác của lòng tốt và hồng ân tuyệt vời của Thiên Chúa”. Trước khi đi vào từng bí tích, tôi tự hỏi: Không hiểu những bí tích đó có ích gì? Bí tích thêm sức, chẳng hạn, đâu có giữ cho thanh thiếu niên khỏi rơi vào nghiện ngập. Hay bí tích hôn nhân đâu phải là bảo chứng cho vợ chồng không ngoại tình, không dối nhau, không bỏ nhau sau một năm sống chung. Tôi tin rằng bảy phép bí tích thật sự đóng ấn cho cấu trúc và những chặng đường lớn của đời người. Người ta cần cho những thời điểm quan trọng - như sinh ra và chết, trưởng thành và kết hôn – một dấu chỉ nào đó, qua đó chúng nhận được tầm quan trọng, niềm hứa hẹn cho tương lai và như vậy cả sự nâng đỡ. Nếu chỉ nhìn bí tích dưới khía cạnh hiệu năng và coi chúng như phương tiện giúp con người có được thần lực để hoán cải mình, thì ta sẽ thất vọng. Vấn đề ở đây không phải vậy. Đức tin không phải một thứ gì lơ lửng trong không khí.Nó nhập vào thế giới vật chất. Các dấu chỉ của thế giới vật chất lại giúp ta đụng chạm được với Thiên Chúa. Như vậy, các dấu chỉ là sự biểu lộ tính thể lí của đức tin. Việc thấm nhập giác quan và trí tuệ là sự tiếp nối biến cố Thiên Chúa đã trở thành xương thịt và đã đã tỏ mình ra cho ta qua những dấu chỉ trần thế. Bí tích, vì thế, là một cách chạm vào chính Thiên Chúa. Nó cho thấy Thiên Chúa không phải là chuyện thuần tinh thần, nhưng Ngài có cộng đoàn và thiết lập cộng đoàn; và Ngài kéo theo cả trái đất và tạo vật vào Ngài, và như vậy, tạo vật cùng các thành tố của chúng cũng trở nên siêu việt. Cơ bản ở đây là, qua các bí tích, tính cộng đoàn và tính thể lí của đức tin được thể hiện; và chúng còn cho thấy rằng đức tin không phải do ta mà có, nhưng nó đến từ một sự uỷ quyền cao hơn. Các bí tích, cũng như toàn bộ hành động của Chúa, tất cả dĩ nhiên đều được tín thác vào tự do của ta. Và bí tích – cũng giống i như Tin Mừng – không tác động trong ta một cách máy móc, chúng chỉ tác động khi được ta chấp nhận và cùng bước đi với chúng. GIÁC NGỘ Khởi đầu là phép rửa, mà thời Giáo Hội nguyên thuỷ cũng gọi là sự giác ngộ. Đó là một nghi thức đầy tôn kính và trịnh trọng, ghi dấu cuộc đời bằng những bài đọc quan trọng. Trong phụng vụ phép rửa, khi trao thánh giá, người trao phép nói: “Tôi chúc lành cho anh / chị bằng dấu thánh giá, để anh /chị nhận ra rằng Đức Giê-su yêu qúy anh /chị. – Tôi làm dấu thánh giá trên mắt anh /chị, để anh / chị thấy việc Ngài làm. – Tôi làm dấu thánh giá lên tai anh /chị, để anh / chị nghe được lời Ngài nói. – Tôi làm dấu thánh giá lên miệng anh / chị, để anh /chị đáp trả lại tiếng gọi của Ngài. – Tôi làm dấu thánh giá trên tay anh /chị, để anh / chị hành động như Đức Giê-su“. Công thức trên là một biểu tượng. Nó muốn nói gì? Biểu tượng dịch nghĩa là “trùng hợp với nhau”. Thoạt tiên, biểu tượng là một cách tự giới thiệu. Nó gồm sự kiện như sau: Có hai người, mỗi vị chia nhau một phần – cái triện đóng dấu chẳng hạn - , và hai vị đó đã nhận ra nhau, sau khi so hai phần triện đó có sự phù hợp với nhau. Về sau, biểu tượng mang nghĩa rộng hơn, nó dùng những hình ảnh giác quan để diễn tả một cái gì đó không thể thấy được. Có nhiều biểu tượng kết tinh trong phép rửa. Người ta đã đưa vào đó những bước căn bản của quá trình dạy và học giáo lýnhập đạo thời xưa. Điều đó cũng ám chỉ rằng, phép rửa đòi hỏi một quá trình giáo lí, nghĩa là đòi hỏi một cộng đoàn cùng học và sống với nhau. Những bước của quá trình đó được tóm lại trong phép rửa. Mở mắt, mở miệng, mở tai. Đó là câu “Ephata“ mà Đức Giê-su đã công khai nói với người câm điếc, và rồi miệng và tai người đó đã mở ra và anh ta nói được, nghe được.Cũng vậy,nhờ phép rửa và nhờ cộng đoàn đồng hành, mà người tân tòng được đưa vào gia nhập trong đó, chúng ta hết câm để trả lời Chúa,hết điếc để nghe được tiếng Ngài. Nếu không nghe được Chúa, ta cũng không thể nói được lời đúng đắn,không thể cầu nguyện được với Ngài.Mở tai và mắt trong phép rửa cũng là để biết tập lắng nghe và tập ăn nói trong cộng đoàn sống đức tin, là để ta nhìn thấy được thiên tính trong tạo vật và thiên tính đó nối ta vào với Chúa qua dấu thánh giá. Trong Giáo Hội cổ, phép rửa là một phần thưởng to tát. Ngoài việc phải qua thời gian học giáo lí, người dự tòng còn phải có hai người lớn làm chứng. Ngài chống lại việc rửa tội trẻ em? Phép rửa còn có mục đích giúp cho đời người có một ý nghĩa vượt lên trên đời sống sinh vật, để họ hiểu rằng cuộc sống này đáng sống. Nhất là giữa thời buổi với tương lai đen tối như hiện nay, ta có thể đặt câu hỏi, là liệu còn có chút đạo đức nào không, khi sinh một đứa trẻ ra đời và như vậy là vứt nó vào một tương lai vô định, muốn sống cho ra người cũng khó? Và quả thật, khi người ta chẳng còn biết có nên làm người nữa không, thì phép rửa chỉ đáng nên làm, nếu như ta hiểu rằng, làm thế là ta trao cho con người mới đó một cái gì hơn thể xác nó, ta trao cho nó một ý nghĩa mà ta biết còn mạnh hơn mọi tăm tối của lịch sử. Chính phép rửa đưa con người đó vào chung cộng đoàn với Đức Ki-tô. Như thế thì phép rửa trẻ em rõ ràng nên làm. Nhưng phải xét lại, nếu như không có thời gian học giáo lýđi trước, đây là chuyện thường xẩy ra trong xã hội mất hết tính Ki-tô giáo hiện nay. Nếu chỉ coi phép rửa như một nghi thức phải có, như một dịp lễ hội mà thôi, thì phải đặt lại vấn đề. Nhiều người ngày nay coi phép rửa là việc xã hội hoá trong một giáo xứ. Không, nó còn hơn điều đó nhiều; đó là một cuộc tái sinh mở ra những chiều kích sống mới. Khoản 849 giáo luật viết: “Việc lãnh nhận phép rửa thật sự, hay ít ra ước ao nhận lãnh nó, cần thiết cho sự cứu rỗi”. Nếu vậy, chết trước khi nhận phép rửa thì sao? Và số phận nào dành cho hàng triệu thai nhi bị giết trong bụng mẹ? Câu hỏi, phép rửa có cần cho việc cứu rỗi không, càng ngày càng trở nên nóng bỏng trong thời hiện đại. Công đồng Vatican II dạy, những ai trên đường tìm Chúa và mở lòng ra cho cái mà ta gọi là phép rửa, thì cũng được cứu rỗi. Điều đó có nghĩa là việc đi tìm Chúa cũng là một tham dự tinh thần với phép rửa, với Giáo Hội, với Đức Ki-tô rồi. Như vậy, câu hỏi trên ngày nay xem ra đã được trả lời. Nhưng câu hỏi về các trẻ chưa lãnh phép rửa vì đã bị giết trong bụng mẹ, càng khiến chúng tôi nóng ruột hơn. Xưa kia người ta luận rằng, phép rửa ban cho ta ơn nên thánh, nhờ đó ta có thể chiêm ngưỡng Chúa. Việc chưa nhận phép rửa, nghĩa là đang ở trong tình trạng mang tội tổ tông, làm ta không có được ơn nên thánh đó. Các trẻ chết sớm như thế thì không mang tội cá nhân nào, nên không phải sa hoả ngục, nhưng mặt khác vì không có ơn nên thánh, nên không được diễm phúc hưởng nhan thánh Chúa. Các em chỉ được ở trong tình trạng hạnh phúc tự nhiên mà thôi, tình trạng đó ta gọi là lâm-bô (Limbus). Đối với tôi, giáo lýđó thiếu rõ ràng. Vấn đề trên càng trở nên phức tạp hơn trong thế kỷ20. Giáo lýkia là một hình thức để biện minh cho việc phải rửa tội trẻ em thật sớm, nhưng lối giải quyết của nó không vững. Rốt cuộc, với thông điệp Tin-mừng Sự-sống (Evangelium Vitae) Giáo chủ đã quyết định thay đổi. Í định này đã được đề cập trước đó trong sách Giáo-lí Công giáo, khi sách viết rằng, Chúa có đủ quyền năng để kéo vào Ngài cả những ai không thể nhận phép rửa. TRƯỞNG THÀNH Theo niềm tin của Giáo Hội công giáo, thêm sức là “bí tích để lớn lên trong đời sống siêu nhiên”. Nghĩa là sao? Đâu là tác dụng thật sự của nó ? Có hai cử chỉ cơ bản nơi phép thêm sức : xức dầu và đặt tay. Đặt tay là dấu chỉ được Chúa che chở và cũng là dấu chỉ sự hiện diện của Chúa Thánh Linh. Xức dầu nối kết kẻ nhận phép với chính đấng được xức dầu, là Chúa Ki-tô, và trở thành dấu chỉ Chúa Thánh Linh, đấng tiếp nối cuộc sống của Đức Ki-tô. Phép thêm sức hoàn tất phép rửa ; phép rửa nhấn mạnh chủ yếu tới việc nối kết với Chúa Ki-tô, thêm sức nhấn mạnh việc chung sống với Chúa Thánh Linh. Phép thêm sức cũng nói lên rằng người nhận từ nay là một thành phần tích cực, đầy đủ trách nhiệm trong Giáo Hội. Vì vậy mà thời gian gần đây người ta hay gọi đó là bí tích thành niên. Trước đây còn có “tát tai”, gợi nhớ lại nghi thức thành niên ngoài đời. Công đồng Vatican II đã bỏ điểm này. Vì nghĩ là một bí tích thành niên, nên nhiều người hiện nay thường hay nhận trễ, ở tuổi khoảng 16 hay 18. Nhưng cũng có một cái nhìn khác. Các Giáo Hội phương đông cho nhận thêm sức cùng một lần với phép rửa (trẻ em). Người ta lí luận rằng, chỉ được phép rước mình thánh Chúa, sau khi đã nhận hai bí tích dẫn nhập là phép rửa và thêm sức, và sau khi đã được nhận vào chung cộng đoàn với Đức Ki-tô trong Chúa Thánh Linh. Thêm sức là một thứ lễ gia nhập, qua đó người thanh thiếu niên làm lễ mừng bước vào giai đoạn trưởng thành, giai đoạn làm người lớn. Thời Trung cổ, tu sĩ dòng An-tịnh Thomas ở Kempen đã viết cuốn sách nhan đề “Theo gương Chúa Ki-tô”, trong đó nói về những qui điều chỉ lối cho ta sống đúng đắn. Sách đó là tác phẩm được nhiều người đọc nhất sau Kinh Thánh. Một vài điều trong đó xem ra xa lạ đối với ngày nay. Nhưng ngay một triết gia cộng sản là Ludwig Marcuse cũng công nhận đó là “nghệ thuật để trở nên tinh sạch». Tu sĩ Thomas viết : “Nhiệm vụ cao cả nhất của mỗi người là học cách nhận chân con người mình”. Và tiếp : “Phải có khôn ngoan và toàn hảo lắm mới có thể tự hạ mình và luôn nghĩ tốt, nghĩ điều cao cả cho người khác”. Trở về với nội tâm cũng là điều quan trọng cho ngày nay. Một trong những khía cạnh rõ ràng của thêm sức là nó đưa ta ra khỏi cái suy nghĩ thuần chuyện bề ngoài, thuần chuyện thành công và hiệu năng, đồng thời muốn nói cho ta hiểu rằng, ta còn có một nội tâm. Nó nhắc ta, như thánh Phao-lô nói xưa, hãy làm vững con người bên trong của mình. Nội tâm èo uột đang là một trong những vấn nạn lớn của thời đại. Trong ý nghĩa đó, có lẽ phép thêm sức quả thật là một đối trọng của khuynh hướng chạy theo bề ngoài, nó giúp cho những gì trong cuộc sống làm người giữ được cân bằng. Thành công vật chất, trong nền văn minh tân tiến hiện nay, đã trở thành thước đo của mọi giá trị. “Ai cũng có thể làm được”, đó là lời hứa của đạo quân các nhà tâm lí kích-động. Thái độ này gần như trở thành mồi thuốc phiện. Nó làm cho người ta theo nhau nghiện. Thấy người ta làm được, mình cũng muốn theo. Cha mẹ thấy con cái người khác chải chuốt và có tương lai, dĩ nhiên cũng muốn cho con mình được như thế. Nhưng tôi nghĩ, như thế, là người ta chỉ còn nhìn về một phía. Người ta muốn có thật nhiều, muốn nở mặt nở mày với thiên hạ. Tiếc rằng, chúng ta đã quên mất sự cần thiết của văn hoá nội tâm trong cuộc sống chúng ta. Lúc này người ta cũng đang thử dùng các phương pháp tĩnh tâm để tìm cách dựng lại một thứ nội tâm nào đó. Nhưng, nhìn chung, những văn hoá tĩnh tâm đó lại thường nhằm để tăng cường khả năng thành đạt bề ngoài. Hoặc đó là những kĩ thuật đổ rác, làm cho con người rốt cuộc chẳng còn chút nội lực thật sự nào nữa. Tôi muốn nhắc lại, chúng ta phải thật sự tìm lại cho mình một nền văn hoá nội tâm mới, phải học lại cách làm sao để “con người bên trong”, chữ của thánh Phao-lô dùng, cùng lớn lên với con người bên ngoài, và làm sao để có được năng lực, hầu có thể chống lại được những cái bên ngoài đi ngược lại với ta. HÀNH ĐỘNG CỰC THÁNH TẠI NƠI CỰC THÁNH Khoảng năm 150 công nguyên, một học giả tên Justinus đã dâng lên hoàng đế Antonius Pius một thỉnh nguyện thư nhằm bảo vệ người Ki-tô giáo. Nhờ thư đó ta biết được việc cử hành thánh lễ thời đó. Thư viết : “Vào ngày gọi là Chúa nhật, mọi người trong thành và ở miền quê tụ tập nhau lại. Họ đọc lên cho nhau nghe những điều đáng suy nghĩ của các tông đồ hoặc sách các tiên tri, lâu hay mau tuỳ theo thì giờ họ có. Sau khi nghe xong, người chủ trì yêu cầu mọi người hãy noi theo những điều tốt trong các bài đọc. Sau đó tất cả chúng tôi đứng dậy và cầu nguyện. Sau cầu nguyện, bánh, rượu và nước được mang tới ; người chủ trì lớn tiếng dâng lên lời nguyện và cảm tạ, và dân chúng đồng thanh thưa Amen. Tiếp đó là phần chia các tặng vật. Mỗi người được lãnh một phần của thánh đó. Ai vắng mặt, các phó tế sẽ mang tới cho. Của ăn đó giờ đây gọi là lễ tạ ơn (Eucharistie). Được phép tham dự chỉ những ai coi giáo lýchúng tôi là đúng, đã được tẩy sạch tội lỗi và tái sinh trong bể nước, và sống theo như Đức Ki-tô đã dạy”. Cho tới ngày nay, sau 2000 năm, nghi thức đó xem ra vẫn không đổi ? Vâng, đó là cơ cấu nền tảng của thánh lễ, mặc dù ngày nay một số chi tiết đã được phát triển thêm. Có lẽ phải cần một thời gian nào đó để hiểu rằng đằng sau các nghi thức kia còn có một cái gì hơn thế nữa. Cũng như chỉ khi ta đứng từ bên trong nhà thờ mới thấy các tranh kính màu trên cửa sổ nhà thờ rạng sáng. Trước hết, ngài có thể giải thích cho tôi hay về diễn tiến của một thánh lễ ? Trước hết là phần bài đọc. Người ta tụ họp nhau lại để lắng nghe và nhận lãnh bài đọc, đúng như những gì đã xẩy ra trong Giáo Hội sơ khai gần núi Si-nai. Các bài đọc nói tới trong thư trên là của các tiên tri và các thánh sử. Chúng giữ chỗ quan trọng trong thánh lễ, vì, như người ta nói, người ta muốn lắng nghe tiên tri, các tông đồ và Đức Ki-tô. Tiên tri ở đây là toàn bộ Kinh Thánh Cựu Ước. Tông đồ là các tông thư và Đức Ki-tô là tin mừng Tân Ước. Như thế, lời Chúa có thể nói gồm ba phần. Justinus viết, sau đó là phần cảnh cáo của vị chủ trì, điều này có nghĩa là có phần giải thích ý nghĩa bài đọc, bởi vì lời Chúa do những người không gần gũi với ta viết, nên muốn hiểu cần phải được diễn giảng. Sau phần căn bản đó của thánh lễ: tụ tập nhau nghe lời Chúa, lời đổi mới, sửa dạy và khai sáng ta, mới đến phần thực sự là lễ tạ ơn. Phần này cũng chia ra ba giai đoạn. Trước hết giai đoạn chuẩn bị của lễ, bánh và rượu. Phần này tượng trưng cho việc ta dâng tạo vật lên cho Chúa. Tiếp đó là lời nguyện cảm tạ. Có nghĩa là vị giám mục hay linh mục đọc lên những gì mà Đức Giê-su đã nói ra trong đêm trước ngày chịu nạn. Đó là bài ca lớn ngợi khen Thiên Chúa. Bài ca bao gồm việc cảm tạ Chúa Ki-tô, đồng thời nhắc nhớ lại những gì Ngài đã nói và làm trong những giờ cuối của Ngài – và như thế, bánh và rượu không còn là của lễ của ta nữa, mà biến thành của lễ của Chúa Ki-tô, qua đó Ngài thực sự hiện diện đúng như những lời trong bữa tiệc li. Justinus là một tác giả cổ, ông viết rằng các của lễ đã “trở thành tạ ơn” (eucharistiert). Nói khác đi, bánh không còn là bánh, nhưng thành thịt Đức Ki-tô. Rượu chẳng còn là rượu, mà là máu Đức Ki-tô. Của lễ như vậy đã biến thành Lời sống động, thành lời của Đức Ki-tô, lời cảm tạ của Thiên Chúa. Cuối cùng, qua cảnh phân phối quà chung góp, Justinus nói tới việc rước lễ và đề ra những điều kiện. Ông cho hay, đây là thánh lễ của những người đã tin. Như Chúa Ki-tô xưa trong bữa tiệc li đã chia sẻ với nhóm mười hai như thế nào, thì nay thánh lễ là cuộc tụ họp của những ai đã tin vào Đức Ki-tô, đã qua phép rửa trở thành Giáo Hội. Xem thế thì điều kiện tham dự cũng như cơ cấu cuộc lễ đã được hình thành hoàn chỉnh từ xa xưa rồi, và tới nay nói chung vẫn không thay đổi. Thánh lễ được xem là hành động cực thánh nhất trần gian diễn ra nơi cực thánh nhất trần gian. Trong bí tích đó có thịt, máu, hồn và cả thiên tính của Đức Giê-su. Tôi muốn hỏi thêm một câu thật cụ thể : Phải chăng, với nghi thức trên, mỗi ngày thật sự diễn ra một phép lạ mới ? Việc bánh rượu trở thành mình máu chỉ có thể là một hình ảnh biểu tượng mà thôi. Không. Giáo Hội xác tín rằng Đấng Phục Sinh hiện diện thực sự trong đó. Điểm này hẳn đã là đề tài gây tranh luận trong nhiều giai đoạn lịch sử của Giáo Hội. Cuộc tranh luận lớn đầu tiên xẩy ra trong buổi đầu thời Trung cổ, cuộc thứ hai trong thế kỷ16. Trong lần sau, Luther vẫn công nhận sự biến hình, trong khi Calvin và Zwingli* cho rằng đó chỉ là biểu trưng, nhưng mỗi người diễn giải mỗi cách, vì thế mà có sự phân rẽ lớn trong nội bộ phong trào Cải cách. Nhưng Luther tin Chúa hiện diện chỉ trong chốc lát lúc truyền phép mà thôi, còn Giáo Hội công giáo tin rằng Chúa tiếp tục ở lại trong của lễ. Bởi vì, nếu bánh và rượu đã “biến hình” thật sự, như vậy nếu của lễ của con người đã biến thành của lễ Đức Ki-tô, thì hẳn Chúa cũng đã chiếm hữu hoàn toàn của lễ ấy. Vấn đề này lại được mang ra tranh luận trong thế kỷnày. Nhưng dù có nhiều nhà chú giải Kinh Thánh công giáo không đồng quan điểm với nhau, thì vẫn có những nhà chú giải không công giáo như Käsemann nhất mực bảo vệ sự hiện diện thật sự của Chúa. Ông cho hay, điều đó chính Kinh Thánh đã nói và đã trình bày rõ. Và trên thực tế, Kinh Thánh – và cả lưu truyền của Giáo Hội nữa – đã nói rất rõ : Chúa Ki-tô không những trao cho ta những biểu tượng, mà còn thật sự trao cho ta chính mình Ngài. Điều đó có nghĩa : rước lễ là một cuộc gặp gỡ giữa người với người ; qua đó Chúa Ki-tô đi vào trong tôi và tôi được vào trong Ngài. Nhưng ai cũng thấy là rượu vẫn còn nguyên rượu… Đó không phải là một phát biểu vật lí. Chưa bao giờ Giáo Hội xác quyết rằng, có một cái gọi là biến đổi vật lí sẽ xẩy ra. Biến hình ở đây mang một chiều sâu khác. Truyền tụng bảo rằng đó là một hành vi siêu hình. Bánh và rượu thuần vật lí đã được Chúa Ki-tô chiếm lấy và làm chúng biến đổi trong tận cùng sâu thẳm, và Chúa thực sự đã hiện mình trong đó. Và khi một người rước mình thánh Chúa bằng cách đó, bí tích cực thánh này sẽ tác động thế nào trên người đó ? Hoặc ít ra nó có thể tác động ra sao? Cả ở đây nữa, chúng ta cũng nên bỏ đi lối suy nghĩ xem mọi chuyện đều là phép lạ hoặc ma thuật. Đây là một diễn biến nội tâm cá nhân. Đấng Phục Sinh, mà giờ đây đang hiện diện trong bánh rượu kia, không phải là một sự vật. (Chữ “thịt và máu” luôn nói lên tính cách toàn thể của đấng Nhập thể, đấng vẫn giữ nguyên hình hài con người trong thế giới mới của phục sinh). Tôi không rước lấy một phần Chúa Ki-tô. Hiểu như thế quả là vô lí, nhưng đây là một diễn biến nội tâm. Chính Ngài tỏ lộ cho tôi và muốn đồng hoá tôi làm một với Ngài. Thánh An-tịnh tin rằng ngài đã nghe câu này trong một thị kiến :”Hãy ăn ta, ta là bánh của kẻ mạnh”. Với câu đó, Đức Giê-su muốn nói một điều trái ngược với sự thường. Khi ta ăn gì, của ăn đó bị tiêu tán và trở thành một phần của cơ thể ta. Nhưng với Đức Giê-su thì khác : Ăn Ngài vào thì Ngài sẽ hoà tan ta vào trong Ngài. Ngài là kẻ mạnh hơn, Ngài sẽ đồng hoá ta vào Ngài. Như đã nói, đó là một diễn biến nội tâm. Trong cuộc trao đổi này, ta là người được nhận lãnh. Ta được trở nên ngang bằng với Chúa, được trở nên giống như Ngài. Và đây mới chính là quá trình giao tiếp: Ta để cho Chúa kéo vào Ngài, kéo vào chung làm một với Ngài, và rốt cuộc nhờ đó tâm hồn ta được trở nên giống Ngài. PHỤNG VỤ Thánh lễ có được tính cách lễ hội và tôn kính nhờ qua một cái gì đó rất tuyệt vời và cao cả trong tâm linh công giáo, đó là phụng vụ. Trong phụng vụ, mỗi chữ mỗi cử chỉ đều mang một ý nghĩa cá biệt, có thể nói gần như ẩn chứa một bí mật riêng. Qua phụng vụ trần gian, người tín hữu được tham dự trước – điều này cũng được công đồng Vatican II nói tới – vào “phụng vụ thiên đình”. Đây là một điểm rất quan trọng. Phụng vụ không bao giờ chỉ là cuộc lễ hội do một nhóm người tự nghĩ ra và tổ chức. Nhưng ở đây, qua sự thông phần vào việc Đức Giê-su Ki-tô trình diện trước mặt Thiên Chúa Cha, chúng ta luôn cùng đứng trong cộng đoàn hoàn vũ của toàn thể Giáo Hội cũng như trong cộng đoàn các Thánh. Vâng, có thể nói đây là một phụng vụ thiên đình. Cái thực sự cao cả ở đây là thiên đình mở ra, và chúng ta nhập vào ca đoàn thiên quốc. Đó là lí do mà kinh tiền tụng đã kết thúc bằng : Chúng ta cùng hát với ca đoàn các thiên thần Se-ra-fim và Ke-ru-bim. Và ta biết, là ta không đơn độc, nhưng chúng ta đang cùng chung lời ca để thật sự xé tan đi làn ranh ngăn cách trần gian với thiên quốc. Đại giáo phụ Basilius* nhận định rằng, thánh lễ cũng là nguồn mạc khải lớn như Kinh Thánh. Vì thế ngài cấm nghiêm nhặt không được tuỳ tiện giải thích hay cải đổi phụng vụ. Nếu phụng vụ không do con người làm ra, nhưng là một cái gì qua đó con người được kinh nghiệm với cái tuyệt vời thần linh – thì lẽ ra ta phải coi thánh lễ cũ của đại giáo chủ Grê-gô-ri-ô như là một quà tặng từ trên và không được thay đổi nó ? Vấn đề này có một vài phân cách giữa đông và tây. Chẳng hạn Giáo Hội Byzantin thừa nhận hình thái phụng vụ của thế kỷthứ 4 và 5 với Basilius và Gio-an Chrysostomos. Cũng như các Giáo Hội đông phương khác, Giáo Hội Byzantin coi đó là một quà tặng thần linh, không thể sửa đổi : Chúng ta bước vào nó, chứ không tạo ra nó (dĩ nhiên một số chi tiết cũng đã biến chuyển theo thời gian). Phương tây, trái lại, luôn có một nhạy cảm lịch sử mạnh hơn. Họ cũng nhận ra tính cách quà tặng nơi phụng vụ, nhưng quà đó đã được hội hập vào Giáo Hội sống động, và đã cùng lớn lên với Giáo Hội. Ta cũng có thể so sánh với Kinh Thánh. Đó không phải là Lời rơi thẳng từ trời xuống, nhưng là Lời đã được đưa vào lịch sử, và được cùng lớn lên với lịch sử. Vì vậy, Giáo Hội phương tây vẫn chấp nhận tính cách bất khả xâm phạm cơ bản của phụng vụ trong tổng thể nội dung và hình thức của nó, nhưng đồng thời vẫn thận trọng để cho nó lớn lên với lịch sử. Lễ quy thánh lễ Rô-ma giống như bên phương đông, cũng hình thành trong thế kỷthứ 4. Sau đó, cả bên tây cũng đã nẩy sinh thêm nhiều kiểu phụng vụ, do ảnh hưởng của Pháp, của Tây-ban-nha, của Đức và tiếp theo từ nhiều nguồn khác. Mỗi quốc gia xuất hiện đều được phép góp vào tiến trình phát triển đó một phần của mình, trong đó Rô-ma luôn góp í một cách thận trọng và đôi khi phải chận cắt bớt những cái thái quá. Trong quá trình lớn lên này, Rô-ma là kẻ đã giữ phụng vụ trong hình thái cổ của nó một cách nghiêm nhặt nhất, tôi có thể nói, còn cổ hơn bên đông nữa, ít nhất là nhìn từ mô thức thần học. Với cách đó, phụng vụ luôn sống động trong quá trình lịch sử - nhờ đó ta có thể đưa vào được những cái mới, đặc biệt các thánh mới -, nhưng trong bản chất, phụng vụ vẫn luôn không đổi. Cũng vì vậy bên tây mới có thể nghĩ tới chuyện cải tổ phụng vụ. Song cải tổ không được phép cắt đứt với truyền thống, nhưng phải diễn ra trong sự quan tâm tới những phát triển sống động, cũng như phải canh chừng cái phát triển, để làm sao giữ được sự sống động. Chẳng hạn giáo chủ Pi-ô X đã hạn chế bớt lễ kính các thánh. Ngài cũng đã nhấn mạnh trở lại ngày chủ nhật trong bộ luật của ngài và bỏ bớt những cái dư thừa trong đó. Ngay Pi-ô V cũng đã bỏ đi một một số bài ca đã len lỏi vào phụng vụ. Công đồng Vatican II cũng đứng trong quan điểm đó. Việc tiếp tục phát triển để tránh không bị xơ cứng đã thuộc vào truyền thống phụng vụ của Giáo Hội. Nhưng sự khác biệt mà tôi muốn nói ở đây là, tôi đang canh giữ một cái gì đang sinh động phát triển, và biết rằng sự sống của nó không nằm trong tay tôi – nhưng tôi phải phục vụ nó và phải để ý tới quy luật nội tại của cái sống động đó -, hay là tôi xem cái đó như một thứ sản phẩm con người, nó diễn tiến như kiểu theo quy luật của một chiếc máy mà tôi có thể cải biến hoặc làm khác đi. Công đồng Vatican II hẳn có quan tâm tới những phát triển và đổi mới cơ chế. Nhưng chúng ta phải thấy rằng, ngày nay đang có nhiều khuynh hướng muốn lắp ráp thêm hoặc tháo gỡ bớt - chuyện này không phù hợp với bản chất của phụng vụ. Không phải đơn giản các uỷ ban giáo sư tự nghĩ ra chuyện làm sao để phụng vụ được tốt hơn về mặt mục vụ, để nó được thực tế hơn hay là gì gì đi nữa. Nhưng ta phải coi xem chỗ nào cần và có thể thêm gì, chỗ nào cần và có thể bớt gì, trong sự quan tâm lớn tới khối hành trang đã có từ nhiều thế kỉ. Và đây có thể là lời cảnh cáo quan trọng đối với tất cả những ai có trách nhiệm với phụng vụ : Họ nên thi hành công tác với tinh thần phục vụ những gì đã sinh động lớn lên, những gì đã từ bao thế kỷnay mang lại cho ta đức tin, chứ đừng nghĩ mình là những kẻ toàn năng, có thể sáng tạo hoặc chế biến ra được cái hay hơn. Chẳng còn ai quan tâm gì tới những phê bình về phụng vụ hiện tại. Nhiều người cho rằng phụng vụ chẳng còn linh thiêng đủ. Phải chăng cần cải tổ tiếp cái đã cải tổ, để tìm lại tính chất linh thiêng ? Cái cần tối thiểu bây giờ là làm sao phải tạo lại một ý thứcmới về phụng vụ, để cho tinh thần tự biên tự diễn kia biến đi. Vấn đề đã đi quá xa, có những nhóm tự bày ra luôn hình thức dâng lễ chủ nhật. Đây quả là sản phẩm của một số đầu óc khôn ngoan và mạnh dạn, dám nghĩ ra một cái gì. Nhưng làm vậy thì đâu còn chỗ cho cái thánh thiêng được trao tặng cho ta, mà chỉ còn là cái khéo tay của một vài người. Và rồi ta sẽ nhận ra đó không phải là cái ta tìm, cái đó quá ít, ta chờ đợi một cái gì khác kia. Điều quan trọng nhất ngày nay, là ta phải tìm lại được lòng kính trọng và tính chất bất khả nguỵ tạo của phụng vụ. Phải học lại cách để nhận biết đó là một tặng phẩm và là một phát triển sống động, qua đó ta tham dự vào phụng vụ thiên quốc. Phải coi đó là một món quà Chúa gởi đến cho ta, chứ không phải là một sản phẩm tự chế của ta. Tôi nghĩ, việc đầu tiên là phải chấm dứt tinh thần tự biên tự diễn và phải để cho cảm thức về sự thánh thiêng lớn lên. Bước thứ hai, ta có thể rồi sẽ nhận ra được lãnh vực nào đã bị cắt xén quá nhiều, chữa lại để làm sao sự liên hệ với toàn bộ lịch sử có được rõ ràng và linh động trở lại. Trong ý nghĩa đó, tôi chủ trương cải tổ lại những cải tổ. Tuy nhiên, theo tôi, tiến trình này phải bắt đầu bằng sự giáo dục nhằm chống lại việc phá nát phụng vụ bằng những sáng chế cá nhân. Phải chấm dứt thái độ khinh miệt hình thức phụng vụ đã có giá trị cho tới năm 1970, đây cũng là điểm quan trọng trong việc giáo dục một ý thứcphụng vụ đúng đắn. Cho tới nay, những ai tranh đấu hay cổ xuý cho việc tiếp tục cử hành nghi lễ cũ, đều bị đối xử như những người phung hủi ; thật chẳng có chút gì gọi là bao dung cả. Chưa bao giờ xẩy ra chuyện như thế trong lịch sử, làm vậy là người ta khinh cả toàn bộ quá khứ của Giáo Hội. Khinh quá khứ thì làm sao tin vào hiện tại của Giáo Hội được? Nói thật lòng, tôi cũng không hiểu nổi, tại sao có nhiều đồng nghiệp giám mục của tôi lại chấp nhận hành động bất khoan dung rõ ràng đi ngược lại những hoà giải cần thiết trong nội bộ Giáo Hội như thế. Tới bao giờ mới thật sự diễn ra bước thứ hai mà Hồng Y đã nói tới : cải tổ lại những cải tổ ? Tôi nghĩ, nó cũng giống như phong trào phụng vụ trước đây đã đưa tới công đồng Vatican II. Phong trào đó lúc đầu tiến triển khá chậm, về sau đã nhanh chóng trở thành dòng nước mạnh. Quan trọng là phải có một thúc đẩy từ các tín hữu sống động nhiệt thành, phải có những địa điểm thí điểm, nơi đó phụng vụ được cử hành một cách đúng đắn, khiến người ta nhận ra được đâu là ý nghĩa thực sự của thánh lễ. Nếu như từ đó mà một phong trào nổi lên và không bị dập tắt từ trên, thì rồi chuyện sẽ tới. Và tôi tin rằng, đã có một khơi nguồn về hướng đó rồi nơi thế hệ mới hiện nay. Hồng Y đã hình dung ra được một hình thái phụng vụ đích thực, thánh thiêng, một phụng vụ cho tương lai dân Chúa và Giáo Hội chưa ? Chuyện căn bản là làm sao chúng ta đón nhận lại những hình thức quà tặng và để lòng mình thấm nhập vào chúng. Khi nghĩ lại những giai đoạn của phong trào phụng vụ mà tôi may mắn đã trải qua, tôi thấy đó quả là một cái gì tuyệt vời, khi mình lần hồi thấy được các thánh lễ mùa chay đã phát triển thế nào, hiểu được cấu trúc của mùa chay ra sao, hiểu được toàn bộ cấu trúc thánh lễ và nhiều thứ nữa. Vấn đề là làm sao thấm nhập được vào kho tàng của cái đã hình thành và lớn lên đó, và qua đó gặp được nỗi huy hoàng của Thiên Chúa đang trao tặng cho ta. Quan trọng nhất, theo tôi, là học lại được tinh thần lắng nghe – “hỡi con, hãy lắng nghe”, thánh Biển-đức đã nói thế, và hiểu được rằng mình là kẻ đón nhận hơn là người sáng chế. Thánh lễ nên cử hành lại bằng tiếng La-tinh ? Chuyện đó, xét chung, không còn thực hiện được nữa đâu, và có lẽ cũng không phải là điều mong muốn. Thánh lễ có lẽ tốt hơn nên cử hành bằng tiếng mẹ đẻ. Nhưng tôi chủ trương nên có một cởi mở mới cho tiếng La-tinh. Tiếng La-tinh trong thánh lễ lúc này xem ra mắc phải tội tổ tông. Tuy nhiên, thiếu nó, là ta mất đi những trao đổi giao tiếp rất cần thiết trong những vùng nhiều sắc dân. Chẳng hạn, một chánh sở nhà thờ chính toà ở Avignon kể cho tôi hay, ngày chủ nhật nọ xuất hiện một lúc ba nhóm ngôn ngữ. Ông đề nghị làm lễ chung bằng La-tinh, để tất cả có thể cùng thông công, nhưng cả ba phản đối thẳng thừng : Không, mỗi nhóm phải có gì riêng cho họ. Hay ta hãy nghĩ tới những địa điểm du lịch, thật tuyệt khi nơi đây nhờ có một điểm chung mà người ta nhận ra nhau. Vì thế, cần suy nghĩ về điểm này. Nếu như ở Rô-ma ngay trong những dịp lễ lớn không còn ai hát được Kyrie hay Sanctus nữa, không còn ai hiểu được Gloria nghĩa là gì, thì đó là một mất mát văn hoá và là một mất mát những cái chung. Như vậy tôi có thể nói, thánh lễ nhất định nên bằng tiếng địa phương, tuy nhiên cũng cần giữ lại La-tinh như một cái nền chung liên kết chúng ta lại với nhau. - Nhà văn Martin Mosebach có lần kể câu chuyện ngắn về một thánh lễ, đã diễn ra nhiều năm trước đây trên đảo Capri. Ngày nọ trên đảo xuất hiện một linh mục người Anh, linh mục này thời đó còn bận áo chùng, một sự kiện đã hiếm thấy ở miền nam nước Í. Khi nghe ông có í muốn dâng lễ mỗi ngày, sau những đắn đo ban đầu, người dân trên đảo cuối cùng đã dành cho ông một nhà nguyện chênh vênh trên một đống đá trên biển, nơi gọi là Monte Tiberio, chỗ xưa kia có dinh Jovis, một trong những dinh phụ của hoàng đế Tiberius. Nhà nguyện này mỗi năm chỉ mở cửa một lần, vào ngày 8 tháng 9, ngày lễ sinh nhật đức Bà. Thời gian còn lại trong năm được dành cho lũ chuột, chúng gặm nhấm đến cả các ngăn tủ nhà mặc áo. - Ông linh mục người Anh là người thực tế, không phải là nhà thần học lớn, bắt tay vào việc. Ông leo lên núi, phóng cái nhìn xuống toàn vịnh biển chung quanh. Trước hết, phải chật vật lắm mới mở được ổ khoá cửa vào nhà nguyện đã rỉ sét. Rồi ông bước vào, theo ông là một làn tia sáng mặt trời, rọi chiếu vào căn phòng ẩm mốc. Cánh cửa thiếc nhà tạm mở toang, nến cháy cạn đáy, ghế vứt ngổn ngang, và nhà mặc áo bừa bãi như người ta đã bỏ trốn vội vàng. Bình hoa bẩn, khăn bàn thờ mốc meo, một chén thánh hoa văn loè loẹt, các khăn bàn ẩm dính lại với nhau trong tủ, cuốn sách lễ rách bươm, ngay cả thánh giá cũng đã cong queo. - Vị linh mục nhìn qua mọi thứ, suy nghĩ. Ông mở toang cửa sở, cầm lấy cây chổi rơm ở góc nhà và bắt đầu quét. Rồi ông cầm cây thánh giá, đưa lên hôn và bỏ vào tủ phòng mặc áo. Chùi sạch chén thánh, bật sáng các ngọn đèn. Nhìn thấy đoạn dây chuông, ông lấy thang leo lên tháp và buộc dây vào chuông. Giờ thì mọi chuyện kể như đã ổn. - Vị linh mục đeo vào người tấm dây Stola màu tím, đổ ít nước từ một bình nhựa nhỏ mang theo vào cái nồi nhỏ, đọc lời nguyện, bỏ thêm vào ít muối, rồi dơ tay làm phép, đoạn đổ nước phép đó vào chậu con sò bằng đá dựng bên cánh cửa ra vào, tiếng nước đổ lao xao nghe như thể chậu đá thức dậy, thở phào. Ông kéo chuông. Xa xa vài ba tín hữu, đàn bà và trẻ con, xuất hiện kéo tới, chẳng mấy lúc đầy nhà nguyện. - Giờ thì có thể bắt đầu thánh lễ. Linh mục cúi mình trước bàn thờ và cất giọng đọc : Introibo ad altare dei (Con bước tới trước bàn thờ Chúa). - Ai để tâm quan sát thì có thể nhận ra hình như có một chuyện gì đặc biệt đã xẩy ra, khi vị linh mục mặc áo chùng thâm kia lau sạch bàn thờ, đốt nến, làm phép nước, lau bụi bám, vứt bẩy chuột vào một góc nhà. Vì cũng giống như Abel hay Noê xưa, thoạt tiên dựng bàn thờ rồi sau đó mới dâng của lễ. Và cũng như Mai-sen, vị linh mục cắm cọc xác định chỗ dựng lều làm bàn thờ. Đó là một sự chuẩn bị và cắm cọc xác định chỗ thánh. Mosebach mô tả thật thi vị, nhưng tình hình chung ở Capri không đến nỗi thê thảm như người ta nghĩ đâu. Nhưng hãy bàn tiếp việc chuẩn bị bề ngoài và bề trong, hai chuyện đó đương nhiên liên quan với nhau. Sứ mạng thừa sai của thánh Phan-sinh cũng bắt đầu như thế. Ngài đọc ra ý nghĩa của những chữ nổi tiếng trên thánh giá là – “con hãy xây lại nhà nguyện cho Ta” - và đã nghĩ ngay tới nhà thờ đổ nát ở Portiuncula. Ngài đã xây nó lại thành một nguyện đường đẹp đẽ, và rồi nhận ra rằng mình phải làm hơn thế nữa, đó là phải xây lại nhà thờ Giáo Hội sinh động. Nhưng công việc tay chân bước đầu đó cũng là một công đoạn không thể thiếu. Phải lo làm sao phòng ốc, nhà nguyện luôn được sửa soạn mới mẻ, làm sao để người ta có thể nhận ra và cảm được sự thánh thiêng cả bề ngoài lẫn bề trong, đó là điều rất quan trọng. Cám ơn Chúa, chúng ta có rất nhiều nguyện đường tuyệt diệu trên khắp thế giới, giờ ta cũng nên học lại cách yêu mến sự thánh thiêng nơi chúng. Ngọn lửa trước nhà tạm giúp ta cảm được sự hiện hiện âm thầm đêm ngày của Chúa. Ngày nay, nhiều nhà thờ thường được dùng làm nơi hoà nhạc, làm nơi gần như để khoa trương cái đẹp của quá khứ mình, như vậy có nghĩa là trên thực tế ta đã mất đi cảm quan về sự thánh. Phải có lại được cảm quan đó, phải có lại được sự chuẩn bị căn phòng bên ngoài lẫn bên trong, đó là điều kiện để ta nhập tâm vào thánh lễ, hầu thực sự gặp được sự thánh thiêng trong đó. Phải chuẩn bị rước Mình thánh như thế nào ? Cách chuẩn bị đúng nhất là khi ta thật sự lãnh hội được ý nghĩa của hành động đó, khi ta để cho lời Chúa đánh động, khi ta hướng lòng tới Đức Ki-tô trong những lời nguyện đã được Giáo Hội lưu truyền lại từ rất xa xưa. Cùng cầu nguyện và dâng lễ một cách đúng đắn trong thánh lễ có nghĩa là ta phải để tâm lắng nghe và sẵn sàng đón nhận, qua đó cửa lòng mình hé mở ra để Chúa có thể đi vào. Và ngược lại, cái tôi của tôi lúc đó cũng thật thanh thản và rộng mở, đến nỗi tôi có thể bắt đầu bước được vào trong Ngài. Khi rước lễ phải có thái độ nào ? Phải cư xử như đang đối diện thật sự với Chúa. Những dấu chỉ của lòng kính sợ đã thay đổi theo thời gian. Nhưng căn bản là thái độ của ta phải biểu lộ được những cảm nhận trong lòng, và sự kính trọng cũng phải được tỏ ra qua phong cách của cơ thể. Trước kia, rước lễ quỳ gối, động tác này rất có ý nghĩa. Nay rước lễ đứng. Nhưng cái đứng này cũng phải là một cái đứng đầy kính trọng trước mặt Chúa. Trong Giáo Hội, không bao giờ được để mất hành vi quỳ gối. Đây là phong cách thâm sâu nhất nói lên lòng đạo nơi ki-tô hữu. Phong cách này cho thấy thái độ thẳng thắn của ta nhìn hướng lên Chúa, đồng thời nói lên vị trí thấp bé khiêm tốn của ta. Giáo chủ Gio-an XXIII nói : “Con người không bao giờ lớn khi họ quỳ gối”. Vì thế tôi tin rằng đây là cung cách không thể thiếu được nơi tín hữu ki-tô, cung cách cầu nguyện đó đã có từ thời Cựu Ước rồi. NỢ VÀ TỘI Bí tích hoà giải : Người thì bảo, nó đẩy con người vào một hoàn cảnh không thể giải quyết và thật ra chỉ làm cho con người sợ hãi và mặc cảm tội lỗi. Kẻ lại quả quyết rằng, nếu không có nó, thì lúc này phải tạo ra nó. Xưng tội, trong quá trình lịch sử của nó, hẳn đã trải qua nhiều biến đổi hình thức bên ngoài hơn tất cả mọi bí tích khác. Chính bởi vì mang tính cách quá cá nhân, nên nó phải mang hình thái biểu hiện tùy vào cá tính thay đổi của mỗi người và vào truyền thống cởi mở hay khép kín của mỗi nền văn hoá. Sau công đồng Vatican II, người ta đã thử tạo ra nhiều cách để có thể giúp cho việc xưng tội cá nhân, trong số đó có lối xét mình tập thể, mà theo tôi quả rất hay. Cách thứ hai là xưng tội bằng đối thoại, chứ không phải ngồi toà như xưa nay. Lối này cũng giúp cho người ta thắng vượt được ngại ngùng trong việc thú tội. Nhưng lối này có thể khiến việc xưng tội thành ra những cuộc chuyện trò không đâu, hoặc thành ra chơi trò tâm lí, vì thế mất đi chiều sâu của nó. Người ta cũng rất thích lối xưng tội tập thể. Nhưng đây không thể là cách đúng đắn được, vì bản chất của xưng tội là một hành vi cá nhân ; lối này chỉ phù hợp và có thể làm trong hoàn cảnh thật đặc biệt mà thôi. Một câu của Hồng Y Ratzinger : “Không có khả năng nhận lỗi là hình thức nguy hiểm nhất của sự thui chột tận cùng của tinh thần, bởi vì chính nó làm mất khả năng tự cải tiến nơi con người “. Người ta vẫn nói điều này: Ki-tô giáo đẩy con người vào mặc cảm tội lỗi để chèn ép họ. Dĩ nhiên cũng có thể có những lạm dụng kiểu đó. Nhưng xoá đi khả năng nhìn nhận tội lỗi nơi con người lại càng nguy hơn, bởi vì như thế tâm họ sẽ trở nên chai đá và bệnh hoạn. Ta hãy nghĩ thêm một bước nữa về hệ quả cao hơn của việc mất khả năng xét mình. Đó là điều Quốc-xã Đức trước đây đã làm. Người đã phát*ta đã tin rằng vừa cùng một lúc giết người mà vẫn đạo đức, như Himmler biểu, như thế là lương tâm con người đã bị dày nát và con người đã bị biến thể. Khả năng xét mình sẽ trở nên dễ chấp nhận và triển nở, nếu như tội được tha. Mà tha tội lại nhất thiết đòi hỏi phải có lời xá giải. Khoa tâm lí chữa trị có thể giúp nhiều cho việc nhận ra những trục trặc trong cấu trúc tâm trí và chữa lành chúng, nhưng nó không thể thắng vượt được tội lỗi. Khoa tâm trị bị giới hạn ở chỗ đó, vì thế nó cũng rất thường thất bại. Chỉ có bí tích, sự uỷ quyền của Chúa, mới có thể thật sự vượt thắng được tội lỗi. Tuy nhiên ta phải thú nhận rằng, trong thời buổi cá nhân chủ nghĩa này, con người vô cùng khó mà vượt qua được những cản trở tâm lí trong việc xét mình. Nhưng ở đâu có tinh thần đức tin hướng dẫn ta, ở đó có thể tập lại được khả năng đó. Có thể tập được, nhất là vì ta xét mình nhận lỗi trước mặt Chúa, chứ đâu có phải trước con người, lại nữa việc xét mình này sẽ được kết thúc bằng lời xá giải tha thứ - và biết đâu trong toà giải ta cũng nhận được những lời khuyên giúp mình vượt thắng cả trong những hậu quả của tội. Trước đây, trẻ con chúng tôi từng lớp bước vào toà cáo giải. “ Trong khiêm tốn và ăn năn con xưng những tội con “ rồi là kể đủ thứ tội. Chẳng phải bao giờ cũng là chuyện dễ dàng, nhưng việc xưng tội quả thật có tác dụng như một thứ máy giặt, người ta cảm thấy sau đó như đã được giặt sạch tội lỗi. Trong sách “ Phụng-ca “ tôi thấy Giáo Hội Đức có ghi phần chuẩn bị xét mình xưng tội, với một chuỗi câu hỏi như kiểu “ bảng kiểm tra “. Sau đây là vài câu đọc được trong đó : “ Tôi có cố gắng gần Chúa không ? – Tôi có tỏ ra yêu thương và biết ơn cha mẹ không ? – Tôi có hay nói xấu và chửi người khác không ? “ Hoặc : “ Tôi có tìm cách đẩy việc cho người khác không ? – Tôi có tôn trọng cá tính của người khác không ? – Tôi có nỗ lực giáo dục con cái về đường ngay không ? – Tôi lười biếng ? Hay ích kỉ ? Hay hoang phí ? Ham mê ăn uống ? – Tôi thích khoe khoang sống không thật với mình? “ Xem thế thì Giáo Hội đâu là cái gì xa lạ với con người đâu. Tôi tin rằng, điều hết sức quan trọng là làm sao giúp cho lương tâm nói ra được. Trên phương diện này, tội tổ tông đã khiến lương tâm ta chai đá, và ta muốn dấu nó dưới miếng vải quên, bằng cách đối xử với người khác như những kẻ hoàn toàn xa lạ. Ta muốn, chẳng hạn, nuốt nhẹ đi những lời dối trá, và nhiều thứ khác nữa. Lương tâm chai đá là mối nguy lớn của chúng ta. Nó đè bẹp con người. Vì thế, dạy cho người ta nghe được tiếng lương tâm là chuyện cơ bản. Cho nên nhiệm vụ của Giáo Hội là biết nhìn ra tội lỗi cá biệt của mình trong từng thời đại, và nhờ đó giúp cho xã hội khỏi bị chai đá và đổ vỡ trong những lãnh vực đời sống quan trọng này. Câu hỏi thêm: Có được phép nói dối khi cần không, chẳng hạn giả làm như không ở nhà lúc người ta gọi điện thoại? Đó là những chuyện rất thực tế, mà các nhà đạo đức cũng không đồng í với nhau. Có một trường phái lớn, trong đó có cả Kant, cho rằng chân lí tự nó đã có phẩm giá, nên mọi xúc phạm tới nó đều không được chấp nhận. Giả vắng qua điện thoại, là chuyện dễ hiểu. Nhưng phải coi chừng chính mình, vì một khi cánh cửa đã mở hé, thì nó có thể lại tiếp tục mở lớn ra. Lúc này tôi không muốn kết tội cái cách tự bảo vệ mình đó - vì tôi cũng sử dụng nó. “Ân xá” là một hình thức rốt ráo của bí tích hoà giải. Những ân xá đầu tiên được các giáo chủ ban cho những ai tham dự vào các cuộc thánh chiến. Và việc lạm dụng nó rốt cuộc đã là nguyên cớ bề ngoài cho Luther nổi giận và dẫn tới phong trào cải cách và phân rẽ. Tôi nghĩ, ngày nay chẳng còn mấy ai hiểu gì về chuyện ân xá. Đó là một chương khó khăn trong lịch sử Giáo Hội. Trong huấn dụ năm thánh 2000 Giáo chủ đã cố gắng tạo cho ân xá một ý nghĩa mới. Trước đây người ta phân biệt tội và hình phạt của tội. Phép giải chỉ tha tội, chứ hình phạt của tội vẫn còn nguyên. Điều đó ta hiểu một cách đương nhiên. Nay Giáo chủ có một giải thích mới. Ngài bảo, dù ta đã hết nợ, nhưng cái vết thương ta gây ra nơi kẻ khác vẫn còn đó, đó là một thiệt hại, là những hậu quả do lời nói hay việc làm của ta gây ra. Và trong chính con người tôi vẫn còn một lực giật lùi, một bẻ cong của hữu thể mình. Như vậy, vấn đề là làm sao giải quyết những hậu quả tồn tại của tội. Việc giải quyết này chỉ có thể diễn ra một cách tập thể, bởi vì tội luôn vượt ra ngoài cái tôi của mình. Vì thế, ân xá có nghĩa là ta đi vào sự trợ giúp của cộng đoàn các thánh, trong đó là nơi diễn ra sự trao đổi các sản vật thiêng liêng, nơi ta tặng cái của ta và nhận nơi kẻ khác cái của họ. Trong ý nghĩa này, ân xá có thể nên hiểu như là việc tẩy xoá những gì thặng dư còn tồn lại, như là việc cùng nhau gánh vác hay gánh vác cho nhau. HÔN NHÂN Hàng loạt người trẻ hôm nay đứng trước đắn đo, có nên bước vào một hôn nhân thật sự hay nên sống với nhau một cách lỏng lẻo. Về phía nhà nước, họ muốn coi việc chung sống không cưới hoặc đồng phái ngang như những cặp hôn nhân khác phái. Câu hỏi đặt ra : Tại sao hôn nhân là hình thức duy nhất có thể chấp nhận được trong việc sống chung ? Thứ nhất, là vì chỉ có sự chung thuỷ là chỗ đích thực vững chắc hợp với phẩm giá của cuộc chung sống giữa hai con người. Và hôn nhân không phải là cái gì chỉ liên hệ tới trách nhiệm giữa hai người mà thôi, mà nó còn liên hệ tới cả tương lai con cái sẽ sinh ra nữa. Như vậy, hôn nhân không bao giờ đơn thuần là một chuyện riêng tư, nhưng nó mang tính chất công cộng và xã hội. Hôn nhân quyết định dạng thái tổ chức nền tảng của xã hội. Rốt cuộc ta cũng thấy được điều đó, nếu như giờ đây các cặp không cưới cũng có được những khung pháp lí nào đó. Dù đây chỉ được coi là những hình thức kết hợp thấp hơn hôn nhân thường, chúng cũng không thể thoát ra khỏi trách nhiệm công, không thể thoát ra khỏi liên hệ chung của xã hội. Và chỉ mỗi điều đó thôi cũng buộc phải có cho chúng một quy chế pháp lí kéo theo quy chế xã hội và công cộng, ngay cả khi người ta giờ đây tin rằng mình phải chấp nhận những bậc sống thấp hơn đó. Thứ hai : Ta thấy ở đâu hai người sống cho nhau và sinh con đẻ cái, ở đó cũng có giao tiếp với sự thánh và với mầu nhiệm làm người, là những thứ vượt lên những gì ta tự có. Tôi không đơn giản chỉ là tôi mà thôi. Trong mỗi con người có một bí ẩn thần thánh. Vì thế, việc sống chung giữa người nam và người nữ cũng được đưa vào vòng tôn giáo, vào vòng thánh thiêng, vào trách nhiệm trước Thiên Chúa. Việc sống chung đó cần có trách nhiệm với Chúa – và chính vì thế mà, qua bí tích hôn nhân, nó nhận được cội nguồn sâu xa và đích thực cũng như lí do hiện hữu của nó. Tất cả những lối sống chung khác, vì thế, chỉ là hình thức tạm, mà mục tiêu cuối cùng của chúng chỉ là tìm cách trốn trách nhiệm đối với nhau và để thoát ra khỏi vòng bí ẩn của kiếp người – và như thế chúng mang vào xã hội một sự bất ổn với những hậu quả khó lường. Vấn đề sống chung giữa những người đồng phái lại hoàn toàn khác. Tôi nghĩ, nếu người ta quan niệm hôn nhân và gia đình không nhất thiết gồm một nam một nữ nữa, mà cũng là của hai người đồng phái, thì cấu trúc xây dựng nền tảng cuộc sống con người như thế đã bị tổn thương. Như vậy, về lâu về dài, xã hội sẽ rơi vào những vấn đề lớn. Nếu ta lắng nghe lời Chúa, ta sẽ thấy ra rằng việc sống chung vợ chồng và con cái là một cái gì thánh thiêng. Và xã hội sẽ đạt tới một hình thức đúng đắn, khi nó coi gia đình – hình thái sống chung được Chúa chúc phúc – là hình thái đúng đắn của trật tự phái tính. Đây là công thức của hôn nhân : “Anh /em nhận em/anh làm vợ /chồng và hứa chung thuỷ khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh cũng như lúc mạnh khoẻ. Anh /em muốn yêu em /anh và tôn trọng em /anh mọi ngày suốt đời “. Nghe thật hay, nhưng tại sao hôn nhân lại phải kéo dài suốt đời “ cho đến khi sự chết chia lìa “ ? Vì nó nằm nơi sự dứt khoát của tình yêu con người và sự rốt ráo của trách nhiệm mà ta bước vào. Chúng ta không nên tìm cách chi li lí luận chứng minh điều đó. Khôn ngoan con người đã chứng thực cho ta điều đó và chính lời Chúa cũng đã nói như vậy. Điều đó chỉ phù hợp hoàn toàn với phẩm giá con người, khi tôi hoàn toàn cho mình đi, mà không giữ lại một phần nào cho mình và có thể nói không hề xét lại hay đòi bỏ hợp đồng. Cuộc sống con người không phải là cuộc thí nghiệm. Đó không phải là hợp đồng thuê nhà. Nhưng là sự trao tặng cái tôi cho em /anh. Và sự trao tặng giữa người với người chỉ có thể phù hợp với bản chất người qua hình thức một tình yêu toàn vẹn và cho nhau tất cả. Ta đã nói nhiều về tính dục, rõ ràng Giáo Hội đoán có một cái gì rất bí ẩn trong tính dục. Nhưng không hiểu tại sao Giáo Hội lại có những quan điểm khắt khe về nó, ngay cả trong hôn nhân. Có phải vì có một quan niệm khác về cuộc sống và về con người, nên Giáo Hội mới cấm ngừa thai ? Thật ra, Giáo Hội xem tính dục là một thực tế trung tâm của tạo vật. Tính dục đưa con người tới thật gần đấng tạo hoá và đặt nó trước một trách nhiệm cao nhất. Qua tính dục, con người dự phần vào chính nguồn sự sống một cách có trách nhiệm. Mỗi một con người là một tạo vật của Chúa – và đồng thời cũng là một đứa con của cha mẹ nó. Do đó mà giữa sự sáng tạo của Chúa và sự sinh sôi của con người như có một hoà quyện vào nhau. Tính dục là một cái gì dữ dội ; ta cũng nhận ra điểm này qua mối liên quan tới trách nhiệm đối với một sự sống mới, sự sống này thuộc về ta mà cũng không thuộc ta, nó do ta làm nên mà cũng chẳng phải do ta mà có. Từ đó, mà tôi nghĩ rằng, tính dục đồng thời cũng là một cái gì linh thiêng, ở chỗ nó được phép tạo ra một sự sống và mang trách nhiệm cả đối với những gì vượt trên cội nguồn sinh vật của sự sống đó. Từ những lí do muôn mặt đó, Giáo Hội cũng phải triển khai những gì nói trên và đã được đề cập một cách nền tảng trong mười giới răn. Giáo Hội phải luôn đưa nó vào cuộc sống con người như là trách nhiệm. Có thể vừa sống trái với giáo huấn tính dục của Giáo Hội mà cũng vừa là một tín hữu tốt ? Chuyện sống không theo kịp nội dung lời Chúa đã được Giáo Hội diễn giải, lại là một vấn đề khác. Tuy nhiên, nếu người ta vẫn tiếp tục ở lại trên đường, nếu người ta chấp nhận sự linh thiêng của việc đồng tạo dựng với Đức Ki-tô, thì họ vẫn không mất tính cách công giáo, dù có gặp thất bại. Khi đang trên đường đi tìm thì người ta, nếu muốn nói như thế, vẫn là một “ tín hữu tốt “. Các giám mục ở Í kêu gọi tín hữu can đảm hơn trong việc sinh con. Các ngài viết trong thư luân lưu : Một xã hội khiếp sợ sinh con sẽ “ giảm đi tính chất nhân bản”. Ở đâu không còn tình yêu đối với trẻ con, ở đó quả thật mất mát nhiều lắm. Trước đây, người Í nổi tiếng yêu gia đình và con cái. Ngày nay, có những vùng trong nước Í lại có số sinh thấp nhất trên thế giới. Biến chuyển to lớn đó xảy ra do sự xuất hiện cuộc sống phồn vinh mới. Quả thật, có một cám dỗ lớn trong các xã hội phương tây coi trẻ con là đối thủ, chúng lấy mất tương lai và phần nào không gian sống của mình. Cùng lắm người ta coi đó là vật sở hữu và dùng chúng để khoe mình. Rốt cuộc chẳng ai sẵn sàng công nhận con trẻ với những quyền lợi riêng của chúng, để phải hi sinh thời giờ và cả đời mình cho chúng. Có lần một giám mục Í nói với tôi, người nghèo đầu tư vào sự sống, kẻ giàu vào sự vật. Tôi không muốn phóng đại ý nghĩa câu nói đó, nhưng rõ ràng trên đất nước ta khuynh hướng lo đầu tư vào sự vật, lo bảo hiểm cho mình bằng giá trị sự vật, có nghĩa là muốn nhân bội cái tôi của mình lên, mạnh hơn việc sẵn sàng phục vụ cho sự sống khác. Sự gia tăng dân số có vấn nạn của nó, nhưng mặt khác, ta cũng phải công nhận rằng, xã hội chúng ta đang đánh mất chính tương lai mình với đà lão hoá. Vấn đề gia tăng dân số. Người ta tố cáo Giáo Hội vì chủ trương cấm ngừa thai nên đã tạo ra tại một số nơi trong thế giới thứ ba những vấn đề trầm trọng, kể cả việc tạo ra bần cùng nghèo đói. Quả là chuyện hoàn toàn vô lí. Bần cùng là sản phẩm của việc sụp đổ luân lí. Trước đây, luân lí trong các xã hội bộ lạc và trong các cộng đồng Ki-tô giáo đã giữ cho cuộc sống có trật tự nên đã loại trừ được bất hạnh nghèo đói. Nay trật tự đó mất, và ta đã thấy hậu quả. Đổ lỗi cho Giáo Hội qua việc cấm ngừa thai, là chuyện ngớ ngẩn, chứng tỏ những người đó có cái nhìn hoàn toàn ngược ngạo về thế giới. Tôi sẽ giải thích. Giáo Hội dạy về sự thánh thiêng và chung thuỷ trong hôn nhân. Đó là tiếng nói đích thực của Giáo Hội. Nơi đâu nghe theo tiếng nói đó, ở đó trẻ con được sống trong môi trường làm quen với yêu thương, tự chế, kỉ luật đời sống, dù chúng phải ở trong tình trạng túng thiếu vật chất. Ở đâu chung thuỷ gia đình còn, ở đó còn kiên nhẫn và quan tâm cho nhau, đó cũng là điều kiện cho việc kế hoạch hoá gia đình một cách tự nhiên và hữu hiệu. Bần cùng không xuất phát từ các đại gia đình, nhưng từ việc sinh con bừa bãi thiếu trách nhiệm, chúng chẳng biết ai là cha hoặc cả ai là mẹ, phải lang thang trên đường phố trong một thế giới bị phá nát tinh thần. Ngoài ra, ai trong chúng ta cũng biết, Phi châu ngày nay với đà gia tăng ghê gớm bệnh liệt kháng từ lâu đã cho thấy một mối nguy ngược lại : Không phải bùng nổ dân số, nhưng là cảnh xoá sạch hàng loạt bộ lạc, và đất đai trở thành hoang địa. Ngoài ra, khi tôi nghĩ tới cảnh tiền thưởng ở Âu châu cho những nông dân giết bớt súc vật, hủy bớt lúa, nho, trái cây đủ loại vì lí do thặng dư sản xuất, thì tôi tự nhủ, tại sao các ngài chuyên viên quản trị không tìm cách chuyển những thứ đó cho mọi người cùng hưởng, thay vì huỷ của của Trời ban đi như vậy. Bần cùng không tạo ra bởi những ai dạy cho con người chung thuỷ, yêu thương, kính trọng sự sống và từ bỏ, nhưng nó là sản phẩm của những kẻ miệng bô bô đạo đức và nhìn con người một cách máy móc : Túi cao su ngừa thai xem ra hữu hiệu hơn luân lí đạo đức! Nhưng, nếu ta tin rằng phẩm giá đạo đức con người có thể thay thế bằng túi cao su, để tránh nguy hiểm cho tự do của họ, thì như thế là ta đã lột hết phẩm giá con người từ nền tảng, và ta đã tạo cái mà mình muốn ngăn ngừa: một xã hội ích kỉ, trong đó mỗi người đều có quyền hưởng mọi thứ theo í mình và chẳng còn ai mang trách nhiệm. Bần cùng đến từ tuột dốc đạo đức xã hội, chứ không phải ngược lại – và việc quảng cáo túi cao su là một phần quan trọng của việc tuột dốc đó, nó nói lên chiều hướng khinh miệt con người, chẳng còn tin vào cái thiện mĩ nơi con người. LINH MỤC Mọi tôn giáo đều có những người đặc biệt, lo việc phụng tự và giáo luật đức tin. Đâu là điểm khác của một linh mục công giáo so với các đồng nghiệp trong các tôn giáo khác ? Trước hết, linh mục công giáo là người mang một sứ vụ đặc biệt của Đức Giê-su Ki-tô và được hình thành theo khuôn mẫu các tông đồ. Vì vậy họ không giống như các đồng nghiệp trong hàng tư tế nơi các tôn giáo khác. Thước đo đặc biệt của giai tầng này, nếu ta nói được như vậy, là hình ảnh các tông đồ, những người đã được Đức Ki-tô đào tạo nên. Linh mục được Đức Ki-tô trao cho trách nhiệm rao giảng lời Ngài, rao giảng chính Ngài, rao giảng lời hứa mà Ngài đã cho chúng ta. Và trong khuôn khổ việc rao giảng đó – luôn cũng là một nhiệm vụ tình yêu, xây dựng thân thể Đức Ki-tô, phục vụ kẻ nghèo – nhiệm vụ trung tâm là loan báo cái chết của Ngài, mà chúng ta gọi là Thánh thể, và là bí tích. Nếu chính Chúa Ki-tô đã gọi họ, thì tại sao có những linh mục xấu ? Tại sao có ngay cả những giám mục tồi ? Có lẽ Ngài đã lầm khi chọn những vị đó ? Hẳn có thể có những người không có ơn gọi thật sự, nhưng đã len lỏi vào. Nhưng cũng có những “ ơn gọi bị phản bội “, nghĩa là người ta đã không sống đúng ơn gọi. Mà quả lạ, không hiểu tại sao Chúa vẫn hay tín thác vào những chiếc bình mỏng dòn, điều này ta đã nói ở trên rồi, không hiểu tại sao Ngài lại cùng Giáo Hội bước vào một cơ nguy khủng khiếp như thế. Ngài trao thân cho những bàn tay luôn sẵn sàng phản mình. Và Ngài để mặc ta vấp té và sa ngã, để cho những dụng cụ thiếu khả năng hành động, để rồi lại phải chính mình đứng ra nâng đỡ Giáo Hội. Một mặt, ta có được an ủi, là vì Chúa mạnh hơn tội lỗi con người. Nhưng mặt khác, đây lại là một thách đố lớn cho tất cả những ai nghĩ rằng mình đã nghe được tiếng gọi của Chúa, đi theo nó, và đã thật sự để nó chín muồi cùng với Đức Ki-tô. Đức Giê-su Ki-tô đã lệnh cho các môn đồ: “ Hãy đi khắp thế giới và giảng Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo “. Cũng như trước đây các tông đồ coi việc rao giảng là một trong những vai trò chính của các ngài, thì sau này cũng có những nhân vật lớn của các dòng tu – các tu sĩ Phan-sinh được coi là những “ anh em giảng thuyết “ - đã luôn tụ họp được từng đoàn lũ đông đảo quần chúng quanh mình. Savonarola đánh động cả thành Firenze với một bài giảng mùa chay. Các bài giảng của An-tịnh, như người ta nói, càng ngày càng ngắn đi ; mỗi câu là một trọng điểm mang sức mạnh, mỗi từ đều giá trị và trịnh trọng. Một trong những tác giả nghiên cứu về ngài viết : “Ngài vẫn không ngừng giảng, cho tới khi tiếng hoan hô hay nước mắt tràn lên mắt thính giả cho biết bức tường chống lại chân lí và ân huệ cuối cùng đã bị bẻ gẫy “. Giảng được cũng là một quà tặng, một ân huệ, và thánh An-tịnh cũng luôn kính trọng các linh mục bình thường khi giảng cần phải cầm sách. Ngài nói : quan trọng không phải là cái độc đáo, nhưng là sự phục vụ trong khiêm tốn. Nếu sách giúp cho người ta giảng được, thì đó là điều tốt. Cám ơn Chúa đã cho ta những nhà giảng thuyết hùng biện, nhưng cũng nên học sự khiêm tốn của người nghe trước những nhà giảng thuyết kém khả năng. Một linh mục quản xứ trong một thành phố lớn ở Đức mới đây kể cho tôi hay, nhờ một linh mục chẳng có tài năng bề ngoài nào cả mà ông đã quyết định làm linh mục. Linh mục kia giảng dở, hát dở v.v.. vậy mà giáo xứ của ông không hiểu sao vẫn tràn sức sống. Giáo xứ đó đã đánh thức được bốn hay năm ơn gọi linh mục. Các vị quản xứ trước và sau linh mục kia mọi mặt giỏi hơn nhiều, nhưng đã không đánh thức được ơn gọi nào. Ta thấy đó, gương khiêm tốn của một linh mục không có tài giảng có thể chính là một bài giảng và mình nên cám ơn Chúa về những tài năng đa biệt đó. CHẾT Khi kết thúc cuộc đời, mẹ Giáo Hội lo cho có một cuộc ra đi khỏi thế gian tốt đẹp. Bà ban cho con cái bí tích kẻ liệt. Trước đây người ta gọi đó là phép “ xức dầu lần cuối “. … và khi ai được hỏi có muốn lãnh không thì người đó chối đay đảy, vì sợ rằng như vậy là tên mình đã nằm trong danh sách người chết. Chữ “ xức dầu lần cuối “ đã thành như một từ ngữ gây kinh hãi nơi người bệnh, và từ lâu đã được Giáo Hội cố tình thay thế bằng chữ “ xức dầu bệnh nhân “. Từ này đúng hơn và nó không còn gây ấn tượng sắp chết nơi người bệnh, khi thấy linh mục đến. Thật ra, phép xức dầu bệnh nhân nâng đỡ tinh thần người bệnh, và tiến trình nâng đỡ này đôi khi cũng có thể đưa người đó tới lành bệnh. Đây là sự nâng đỡ bằng bí tích của Giáo Hội trong hoàn cảnh đau bệnh, hơn là một bí tích cho người sắp lìa đời. Đây là của ăn Thánh thể đi đường thật sự. Qua lời nguyện kẻ liệt, qua phép lành kẻ liệt và một lần nữa với phép giải tội, Giáo Hội trao cho người bệnh những lời an ủi. Đó là những động viên trợ giúp vượt qua giai đoạn chuyển tiếp khó khăn, mà người bệnh nhiều lúc xem ra như đi vào một vùng tối, chẳng có chút ánh sáng nào. Phép xức dầu bệnh nhân đúng hơn là một nâng đỡ để người bệnh chấp nhận đau khổ. Nó giúp tôi bước vào cộng đoàn bí tích với Đức Ki-tô qua việc thăng hoa cơn đau và nỗi khổ của tôi. Đây không nhất thiết là sự khỏi bệnh thân xác. Bởi vì bệnh cũng có thể chữa lành tâm hồn tôi, nó có khi cần thiết cho tâm hồn tôi. Đức Ki-tô đã dạy cho tôi đau khổ và đã đau khổ với tôi, vì vậy Ngài có thể là vị bác sĩ thật sự cho chính tôi, giúp tôi thắng vượt được căn bệnh tâm hồn sâu xa hơn. Người ta nói, trong giờ lâm tử con người hay thay đổi cảm quan một cách cực đoan. Những tay vô thần sắt thép vào giây phút cuối bỗng mềm nhũn như con chi chi. Chuyên gia nghiên cứu sự chết, bà Elisabeth Kübler-Ross, qua những tìm hiểu về kinh nghiệm lâm tử, đã nhận ra : “ Hầu hết thay đổi một cách triệt để. Mọi giá trị đều đổi. Giá trị của họ không còn quá vật chất, quá gây gỗ nữa. Họ hướng về những giá trị thiêng liêng nhiều hơn “. Nghĩa là, khi một người gần “ cửa tử “, phải chăng người đó đột nhiên có thể nhận ra được rõ ràng đâu là cái thật sự đáng kể của cuộc đời ? Hẳn nhiên tình trạng tiếp biên đó có thể giúp người ta nhận ra rằng của cải chồng chất hay những huy chương, tưởng lục và ảnh hưởng của mình chẳng phải cái cuối cùng, cái đáng kể. Một cuộc xét lại giá trị có thể - nhưng không nhất thiết - sẽ diễn ra. Có những tâm hồn chai đá và cùn mòn đến nỗi không nhìn ra được gì nữa. Thật ra những hoàn cảnh tiếp biên đó chỉ có thể đẩy được ra ánh sáng những gì đang nằm kẹt một cách nào đó trong tâm mà thôi. Như vậy, đừng đợi cho đến giờ sau hết, cũng đừng để cho kho phúc đức cạn kiệt đi, kẻo khi chú rể xuất hiện – nói theo dụ ngôn của Chúa – thì dầu trong đèn đã cạn. Có một kinh nghiệm khôn ngoan của công giáo cổ xưa : Chủ nhật thế nào thì ngày chết cũng thế. Câu đó cũng ám chỉ sự chuẩn bị như trên. Nếu ngày chủ nhật vắng Chúa hoàn toàn, thì ta sẽ mất hết nhiên liệu dự trữ, không còn sức để tạo ra được cái chuyển mình sau hết. Và dù cho ân huệ Chúa vô tận đi nữa – thì cũng không nên tiêu pha hết phần dự trữ trong tâm, kẻo vào lúc cần tới, ta chẳng còn gì hết, đó là một cảnh cáo đối với ta. Giáo Hội dạy nên vui vẻ đón nhận cái chết : “Sống là chết, chết là sống “. Sau chết, cuộc sống đời đời đang chờ ta. Đúng. Nhưng bản tính con người không giống nhau. Khi An-tịnh nằm trên giường chết, tội lỗi lại hiện ra rõ nét trong tâm trý ngài. Vì vậy, An-tịnh cho treo lên tường các Thánh Vịnh sám hối, để mình có thể không ngừng đọc theo. Ngài còn từ chối rước Mình thánh trong một thời gian, để trầm mình vào ăn năn sám hối. Lúc đó ngài nghĩ tới người cha tinh thần của mình Ambrosius*, là người đã đón nhận cái chết một cách rất thanh thản, và đã nói : Ngài là con người vĩ đại, nên được tặng cái chết ; còn tôi là một người khác, nên không được tặng, tôi cần khiêm tốn sám hối, với hi vọng rồi Chúa sẽ đón nhận tôi. Song có lẽ cũng phải nói rằng, nhiệm vụ của giáo dục Ki-tô giáo và của các bài giảng là dạy cho tín hữu tin tưởng rằng, qua cái chết, ta đang bước vào sự sống đích thực. Đó cũng là một cách giúp người ta vượt qua sự sợ hãi trước nỗi bí ẩn, hay ít nhất vượt qua nỗi sợ thuần thể lí, để thanh thản đón cái chết như một món quà. Còn Hồng Y, ngài có sợ chết không ? Tôi vẫn biết mình thiếu sót nhiều thứ, nên vẫn luôn nghĩ đến toà phán xét. Nhưng dù vậy vẫn mang hi vọng, vì Chúa lớn mạnh hơn những yếu đuối của mình. Ngài có nghĩ nhiều tới cái chết ? Có, vì càng về già, người ta càng tới gần nó. Có được phép hoả táng không, hay đó chỉ là một phong tục ngoại giáo ? Ngay người Do-thái, khác với các dân tộc khác trong vùng biển Địa-trung, đã không biết đến hoả táng. Họ chôn xác, và coi đó là hạt mầm của sự sống lại. Người ki-tô sau đó đã lấy lại phong tục này. Trong mộ táng cũng đã và đang tiềm ẩn một niềm tin sống lại, một niềm hi vọng. Cho tới công đồng Vatican II ai hoả táng sẽ bị phạt. Do hoàn cảnh của thế giới tân thời, Giáo Hội đã bỏ việc cấm đoán đó. Niềm tin sống lại không nhất thiết phải diễn tả qua việc mộ táng, bởi vì Chúa hẳn sẽ phải cho ta thân xác mới sau khi chết, vì thế giờ đây được phép thiêu xác. Quan điểm của tôi còn khá cổ hũ, tôi cho rằng mộ táng luôn vẫn là hình thức đích thực, qua đó ki-tô hữu nói lên sự kính trọng đối với người chết, nhất là đối với thân xác, và nói lên hi vọng vào quà tặng tương lai. Ngài nói, Chúa sẽ cho ta trong đời sau một thân xác mới – điều này có nghĩa là con người đời sau sẽ không còn giống với con người đời nay ? Trên một bình diện nào đó, con người tái sinh trong ngày phán xét là một tạo vật mới, nhưng nó vẫn giữ nguyên bản sắc người cả hồn lẫn xác. Thánh Tô-ma nói, lúc đó hồn là lực hình thành của xác – hồn là xác, hồn tạo cho mình thân xác. Bản sắc như vậy có nghĩa là hồn – hồn này đã được tiếng gọi tái sinh trao cho một lực tác tạo mới - tự tạo nên một thân xác đồng dạng. Nhưng tôi nghĩ, thật vô ích, nếu ta cứ ngồi đây mà đoán chừng con người thân xác và con người vật chất đời sau sẽ ra như thế nào. Rất cụ thể : Anh tôi mất lúc 14 tuổi. Hiện giờ anh ở đâu ? Ở bên Chúa. Tôi nghĩ, ở đây, ta phải bỏ những phạm trù xác định vị trí thuần vật chất đi. Cũng như ta không thể xác định vị trí Chúa ở đâu, thì đối với người chết cũng vậy, họ đã bước vào một tương quan vật chất khác. Tương quan của Chúa đối với không gian vật chất là một tương quan ngự trị xuyên suốt. Ta đã nói về những cấp độ gần Chúa, chúng không bị giới hạn bởi những nơi chốn không gian, và ta cũng đã nói rằng linh hồn, nguyên lí tinh thần trong con người, cũng không phải là một cơ phận nào đó nằm ở đâu trong thân xác, nhưng lại là hình thái xác định cái toàn thể. Cũng thế, người chết tham dự vào một tương giao không gian khác của Chúa, tương giao đó tôi không thể xác định được bằng phạm trù địa lí. Một số người dám nói, người chết sống quanh quẩn bên mộ. Quan điểm đó làm tôi hơi kinh khiếp. Không, họ đã ra khỏi hình thái không gian vật chất này rồi, và đã bước vào một tương giao không gian khác, một không gian trỗi vượt của Chúa. Thỉnh thoảng có người, trong tâm tưởng, thấy mình vượt qua được tới bờ bên kia đại dương. Ta có thể coi đó là thứ không gian vượt trội, một cấp độ không gian khác, đó là sự gần gũi tinh thần. Dù sao, nên bỏ đi quan niệm người chết phải ở một địa điểm nhất định nào đó. Thay vào đó ta nên nói : Họ đang ở bên Chúa – như thế, họ đang hiện diện trong một thực tại vũ trụ mới và cũng rất gần bên tôi. Con người chúng ta thích tò mò, chúng ta muốn biết một chút về thiên đường. Nó ra sao, Kinh Thánh có nói cái gì đang đợi ta ở thiên đường không? Kinh Thánh cũng chỉ có thể đề cập bằng hình ảnh. Chẳng hạn như cảnh phụng vụ thiên quốc. Theo đó, thiên đường là cơn xuất thần của phụng vụ đích thực đó, và cả ca hát và bay lượn cũng bằng hình ảnh. Nhưng tất cả những cái đó có thể bị hiểu lầm. Ta biết ở Đức có câu chuyện về một anh người Bayern tới được thiên đàng, và rồi đêm ngày miệng cứ ca hoài bài Alleluia muôn thủa, không dứt được nữa. Đây là điểm tôi cho là quan trọng : không những hình thái không gian mà cả ý niệmthời gian cũng đổi khác trong tình trạng khác mới (thiên đàng) này. Nếu ta quan niệm thiên đàng là sự kéo dài vô tận của thời gian, thì tới một lúc nào đó, sợ ta sẽ nghĩ là quá lâu đi. Nhưng tình trạng được bứng ra khỏi diễn tiến thời gian ngày ngày giờ giờ dính liền với những vòng quay địa cầu quen thuộc của ta, để được đưa vào một thứ kết hợp mới giữa người với người bên nhau, cũng có nghĩa là cái nhịp thời gian vĩnh cửu tiếp nối nhau đó không còn nữa – mà chỉ còn lại một khoảnh khắc hiện tại độc nhất ngập niềm vui. Vì thế, ta nên hình dung vĩnh cửu như là khoảnh khắc ngập niềm vui đó, khoảnh khắc này nằm ngoài mọi thời gian. Hình như ngài sẵn sàng hiến tặng cơ phận sau khi chết ? Vâng, dù vẫn biết các cơ phận già nua của tôi có lẽ chẳng còn hữu dụng lắm. Một hình ảnh dễ sợ : Trái tim Hồng Y Ratzinger trong một bác người Phi châu theo đạo Islam tại Paris ? … có thể lắm chứ. Bà Elisabeth Kübler-Ross, chuyên nghiên cứu về sự chết, có ý kiến rất rõ về câu hỏi có nên kéo dài sự sống bằng phương pháp nhân tạo không. Bà nói : “ Một trăm phần trăm không. Không nên kéo dài mà cũng không nên rút ngắn. Mỗi người có một thời điểm đúng lúc để chết “. Người ta có thể nại lí do, vì còn nhiều việc dở dang chưa xong nên phải kéo dài thêm sự sống. Hơn nữa, đây là chuyện ít do bởi cá nhân quyết định, nhưng do “ một ông chủ lớn hơn, người đó có quyền”. Có nhiều cách hoặc nhiều lối kéo dài sự sống, mà tôi chống, vì cho đó là cách dùng bạo lực. Nhưng việc chữa trị, tự nó, cũng là những cách kéo dài sự sống. Ngày nay, người ta có thể chữa được nhiều căn bệnh trước đây phải bó tay. Tôi xem những lối chữa trị bằng kĩ thuật phát triển của i khoa không phải là việc kéo dài sự sống bằng nhân tạo. Như vậy, vấn đề đặt ra là, đến mức độ nào thì việc hiến cơ phận cho nhu cầu chữa bệnh được coi là phương tiện bình thường và đáng làm trong mục đích nới rộng khả năng của bác sĩ. Tôi nghĩ, việc ghép các cơ phận đôi như mắt hay thận không có vấn đề lớn, cho dù ở đây đã có một hi sinh rất lớn cho một phía. Rắc rối là khi ghép những cơ phận như tim, mà người ta được phép lấy từ một nạn nhân đã chết về phương-diện i khoa, nhưng phải lấy thật sớm, để cơ phận đó còn “sống “. Bao giờ thì một người chết thật mà – mặt khác, chính cơ phận của người đó thì lại phải còn sống -, đó là một câu hỏi tiếp biên phải trả lời với ý thứctrách nhiệm lớn. Tiêu chuẩn `óc ngưng hoạt động` tuy đã được nghiệm xét kĩ, nhưng theo tôi, vấn đề này luôn phải được xét đi xét lại một cách chu đáo, vì người ta luôn bị cám dỗ muốn lấy cơ phận thật sớm. Vì thế, ghép tim trên thực tế là một việc chữa trị tiếp biên. Dù vậy, tôi không hoàn toàn phản đối lối chữa này. Tôi nghĩ, trong lãnh vực chữa trị đúng đắn cũng còn có những phương pháp chính đáng khác có thể đưa vào. GIÁO HỘI THIỂU SỐ HAY GIÁO HỘI ĐA SỐ ? Nhiều năm trước đây ngài đã nói điều rất tiên tri về Giáo Hội tương lai. Lúc đó ngài bảo : “ Giáo Hội sẽ nhỏ lại, nó sẽ phải bắt đầu lại từ đầu. Nhưng sau tiến trình thử thách, một sức mạnh sẽ toả tràn ra từ Giáo Hội gọn nhẹ và tâm linh đó. Bởi vì con người trong thế giới được hoạch định chu đáo hiện nay sẽ cảm thấy vô cùng cô đơn… Và rồi người ta sẽ nhìn ra một cái gì mới mẻ trong các nhóm nhỏ tín hữu sống đạo. Một hi họng mà họ vẫn trông mong, một giải đáp mà họ vẫn âm thầm tìm kiếm “. Xem ra ngài có lí. Nhưng Âu châu hiện sẽ đi về đâu ? Trước hết : Giáo Hội có nhỏ lại không ? Khi tôi nói điều đó, khắp nơi người ta tố cáo tôi là người bi quan. Và ngày nay xem ra chẳng có gì cấm kị hơn cái mà người ta gọi là bi quan – cái đó cũng thường chỉ có nghĩa là thực tế. Lúc này thì đa số đã chấp nhận là số tín hữu ki-tô hiện nay ở Âu châu đang giảm. Chẳng hạn, thành phố Magdeburg (Đức) chỉ còn 8% ki-tô hữu – nên nhớ : đủ mọi loại ki-tô hữu đấy nhé. Các thống kê đó là những thực tế mà ta không thể chối cãi. Với đà đó, Giáo Hội trên nhiều vùng văn hoá âu châu, chẳng hạn ở Đức, đã mất tính cách Giáo Hội quần chúng (nghĩa là của đa số) rồi. Ta phải quan tâm chuyện này. Nghĩa là sao ? Giáo Hội đa số có thể là cái gì đó rất đẹp, nhưng không hẳn cần thiết. Trong ba thế kỷđầu, Giáo Hội tuy nhỏ, nhưng không chia năm sẻ bảy. Trái lại, nó không co cụm lại, mà đứng ra lo cho người nghèo, người bệnh, cho tất cả mọi người. Trong Giáo Hội đó có chỗ cho tất cả những ai tin vào một Chúa, cho những ai đi tìm lời hứa. Thoạt tiên là những người kính sợ Thiên Chúa quây quần quanh các đền thờ do-thái trong khắp Đế-quốc Rô-ma, họ tới với đền thờ và tạo thành một vòng ngoài mở rộng. Việc dạy giáo lýnhập đạo trong Giáo Hội xưa cũng mở ra gần giống i như vậy. Vì họ cảm thấy không thể đồng hoá hoàn toàn được với Do-thái giáo, nên họ đã bám vào Giáo Hội để xem có nên bước vào trong đó không. Giáo Hội không phải là một câu lạc bộ khép kín, nhưng luôn mở ra cho mọi người, đó là một ý thứcdính liền với Giáo Hội ngay từ đầu. Và khi các cộng đoàn chúng ta trở nên nhỏ lại, như chiều hướng ta đang thấy, chúng ta sẽ phải tìm lại hình thái mở rộng cho vòng trong vòng ngoài như trước đây. Vì thế, tôi không chống lại những người mỗi năm chỉ đến nhà thờ một hai lần vào dịp giáng sinh, tết hay một dịp đặc biệt nào đó, vì điều này, một cách nào đó, cho thấy họ còn muốn bám víu vào ơn thánh, vào ánh sáng. Vì thế, Giáo Hội phải mở rộng cửa, phải có những cách thế cho các hình thức nương tựa hay tham dự khác nhau. Nhưng Giáo Hội đa số cũng là thành quả cao nhất của văn minh tôn giáo mà ! Giáo Hội thật sự là một tổ chức chung, có chỗ cho mọi người, nó là thân cây với nhiều cành lá rợp bóng cho hết mọi người mà ! Ta có thật được phép từ chối tính chất quần chúng, nghĩa là tổ chức của đa số, không ? Dù sao thì đây cũng là một thành quả đạt được với bao nhiêu cố gắng và hi sinh. Chúng ta phải chấp nhận mất mát, nhưng chúng ta sẽ luôn là một Giáo Hội mở. Giáo Hội không được đóng kín để thoả mãn cho riêng một nhóm nào. Nhất là ta phải mang tinh thần truyền giáo, bằng cách luôn nhắc nhở xã hội về những giá trị làm nên lương tri của nó, về những giá trị làm nên nền tảng hiện hữu của quốc gia, và ta luôn phải là một cộng đồng xã hội thật sự nhân bản. Trong ý nghĩa đó, cuộc tranh luận về tình trạng quá khứ của Giáo Hội quần chúng chắc chắn sẽ được tiếp tục – trong một số quốc gia Giáo Hội vẫn sẽ là tổ chức của đa số, nhưng ở một số khác, tình hình sẽ thay đổi. Giáo Hội sẽ tham gia vào tiến trình lập pháp và sẽ phải luôn quan tâm tới những hằng số nhân bản lớn của tiến trình kết tụ xã hội của con người. Vì chưng, nếu luật pháp mất nền tảng luân lí chung của nó, thì cả luật pháp cũng sụp đổ. Nhìn như thế, Giáo Hội phải có trách nhiệm cho cả toàn thể. Trách nhiệm truyền giáo có nghĩa là, như Giáo chủ đã nói, phải tìm cách nỗ lực tân phúc âm hoá. Ta không được an tâm ngồi nhìn mọi thứ bên ngoài mình rơi vào vòng ngoại giáo, nhưng phải tìm cho ra con đường mới đem Tin Mừng tới cho cả những vùng chưa tin. Đã có những mô mẫu cho lãnh vực này rồi. Nhóm tân giáo lýhọc đạo (Neukatechumenat) đã có mô mẫu riêng, các tổ chức khác đang đi tìm con đường phù hợp cho họ. Giáo Hội phải có thật nhiều sáng tạo, để cho Tin Mừng luôn giữ được sức mạnh công chúng. Để Tin Mừng thấm nhập, cải hoá dân chúng và dậy men trong họ. Trước đây chỉ là một cộng đoàn nhỏ bé giữa các tông đồ, nhưng như Chúa nói, họ đã là men và muối đất. Mọi chuyện đều khởi đầu từ nhỏ. Nhưng cũng phải khởi đầu với trách nhiệm cho cả toàn thể. GIOAN - PHAOLÔ II Gio-an Phao-lô II là tảng đá của thế kỷ20. Giáo chủ từ Ba-lan là người ảnh hưởng trên Giáo Hội mạnh hơn nhiều vị tiền nhiệm khác. Ngay trong thông điệp đầu tiên Redemptor hominis (Đấng cứu chuộc nhân loại) ngài đã xác định chương trình làm việc: Theo ngài, con người, thế giới, các hệ thống chính trị đã xa lìa “những đòi hỏi của luân lí và công chính”. Giờ đây Giáo Hội phải có một giáo huấn rõ ràng để đối lại. Quan điểm này được nói đi nói lại trong tất cả các thông điệp của ngài. Ngài bảo, ta phải xướng lên “văn hoá sự sống” để chống lại “văn hoá sự chết”. Cái nền tảng Gio-an Phao-lô II để lại đó có thể là bàn đạp tốt để tiến vào thế kỷ21 không? Nền tảng đích thực dĩ nhiên là Đức Ki-tô, nhưng Giáo Hội luôn cần những lực đẩy mới, luôn cần được tiếp tục xây dựng. Có thể nói rằng, nhiệm kì giáo chủ của Gio-an Phao-lô II có một sức mạnh ngoại lệ. Đó là một cuộc vật lộn chống lại tất cả những vấn nạn nền tảng của thời đại chúng ta – và ngoài ra ngài còn tặng cho chúng ta nguồn vốn tích cực để đi tới. Các thông điệp lớn của Giáo chủ, mở đầu với “Đấng cứu chuộc nhân loại”, rồi tới bộ ba thông điệp trình bày khuôn mặt của Thiên Chúa, thông điệp quan trọng về luân lí, thông điệp về sự sống, thông điệp về đức tin và lí trí cắm lên những trụ cọc, như anh nói, làm nền cho ta có thể xây tiếp lên đó. Sở dĩ nói xây tiếp, là vì Ki-tô giáo, trong một thế giới biến chuyển quá nhanh như hiện nay, luôn phải phát biểu một cách mới mẻ. Trước đây, khi đối diện với Do-thái giáo, Hồi giáo và văn hoá la-hi, Tô-ma ở Aquino đã phải đưa Ki-tô giáo vào một lối nghĩ mới, để tạo cho nó một hình thù kéo dài mãi cho tới Thời mới. Hình thù này sau đó đã được thay đổi khi nhân loại bước vào Thời mới, qua các quyết định nền tảng của công đồng Trento do hậu quả của Cải cách. Mô hình Giáo Hội này đã kéo dài 500 năm. Ngày nay, trước cuộc biến chuyển quan trọng của thời đại, chúng ta phải làm sao một mặt vẫn duy trì được cái bản sắc của toàn thể, mặt khác tìm ra được cái khả năng sống động, làm sao phát biểu chúng một cách mới mẻ và hiện tại hoá chúng. Trên lãnh vực này, giáo chủ Gio-an Phao-lô II đã có một đóng góp lớn. GIÁO HỘI HOÀN VŨ TRONG TƯƠNG LAI Trước đây 50 năm, các nước kĩ nghệ còn chiếm một phần ba nhân loại. Chỉ cần hai thế hệ nữa thì 90 phần trăm dân số thế giới thuộc về các nước đang phát triển. Tới giữa thế kỷ21, riêng Trung-quốc hay Ấn-độ mỗi nước cũng sẽ có số dân nhiều hơn cả thế giới phương tây gộp lại. Và Giáo Hội hoàn vũ trong tương lai cũng sẽ có những biến chuyển dân số lớn. Hiện nay, các cộng đoàn Giáo Hội trong thế giới thứ ba trước đây, không chỉ xét riêng về số lượng, đã vượt số giáo xứ của các nước trung Âu. Phi châu, chẳng hạn, đầu thế kỷ20 mới có 1,7 triệu tín hữu công giáo, nay bước vào thế kỷ21 đã lên tới 110 triệu. Lúc này đã có thể mường tượng được hình thái Giáo Hội, cả phụng vụ và mục vụ, sẽ thay đổi ra sao chưa? Tôi nghĩ lúc này mình không nên tính toán ngoại suy, bởi vì lịch sử luôn có quá nhiều biến chuyển bất ngờ. Mọi chẩn đoán tương lai sẽ bị yếu tố bất ngờ lật nhào. Chẳng hạn, đã chẳng ai dám tiên đoán sự sụp đổ của các chế độ cộng sản, biến cố này đã tạo nên một tình trạng lịch sử hoàn toàn mới. Đúng, hình ảnh xã hội thế giới sẽ thay đổi rất lớn. Thế giới phương tây, nơi lượng người đang giảm và hiện đang là vùng có sức mạnh trấn át, rồi ra sẽ ra như thế nào? Việc di dân – dĩ nhiên hết người thì phải đưa thêm vào chứ - sẽ biến bộ mặt Âu châu ra sao? Lực ảnh hưởng sẽ nghiêng về đâu, nền văn minh nào, hình thái xã hội nào sẽ thắng thế ? Tất cả những cái đó lúc này chưa thể đoán được. Vì thế, phải vô cùng thận trọng với những phát biểu về tương lai. Tuy nhiên, chắc chắn là tiềm năng tín hữu sẽ khác đi. Con người phương tây với thái độ hiện thời của họ về thế giới sẽ không thể tiếp tục giữ được sức mạnh trấn át như đã có. Những tâm tính mới, những đặc sủng mới sẽ phải xuất hiện và ấn dấu lên bộ mặt Giáo Hội. Do đó, theo tôi, quan trọng nhất là ta phải cơ bản hoá/ nền tảng hoá (Verwesentlichung), chữ Guardini dùng. Đây không hẳn là việc tưởng tượng tiền chế ra một cái gì đó, mà rồi trong thực tế lại xẩy ra khác, và cái đó ta không thể biến chế được trong ống nghiệm. Nhưng đúng hơn, là tìm ra cái nền tảng và sống với nó, để rồi nó có thể sẽ hoá thân ra trong cái mới và được trình bày một cách mới mẻ. Trong ý nghĩa đó, đơn giản hoá cũng là một công tác quan trọng, nghĩa là mình phải tìm ra cái gì thực sự còn lại và cơ bản toả ra từ giáo huấn, từ đức tin của ta. Phải mang ra ánh sáng những hằng số nền tảng lớn, như vấn đề về Chúa, về sự cứu độ, về hi vọng, về sự sống, về cái gì là nền tảng trong luân lí, rồi hệ thống hoá chúng lại một cách mới. Phải sửa đổi lại phụng vụ cho hợp với thế giới kĩ thuật và với những nền văn minh nào đó ư? Tôi không tin câu hỏi này cần thiết. Tất cả những thứ đó là sản phẩm tự chế của con người. Phụng vụ có được cái cao cả, là vì nó bắt nguồn từ khởi nguyên và lớn lên trong sống động. Nó phải được chúng ta bao bọc và gìn giữ một cách kính cẩn. Có như thế nó mới cao cả và mới nói được cho con người thuộc mọi nền văn minh khác nhau. Lại nữa, kho tàng nghi lễ đa dạng của phụng vụ đã có từ lâu. Nó sẽ cho ta biết dạng nào sẽ mang sức sống mạnh nhất trong các nền văn minh khác nhau. Hãy để mắt quan sát nước Hoa-kì. Rõ ràng đó là quốc gia dẫn đầu thế giới. Chính trị, khoa học, kinh tế và nhất là lối sống của chúng ta ngày nay tất thảy đều bị ảnh hưởng mạnh do Hoa-kì. Công giáo Mĩ đã và đang có những đóng góp nào cho công giáo thế giới? Ngày nay, công giáo hoa-kì đã trở thành một trong những lực quyết định của công giáo hoàn vũ. Giáo Hội ở Mĩ rất năng động. Dĩ nhiên nó cũng có những căng thẳng. Một mặt, có những nhóm nặng phê bình chỉ trích, họ muốn có một Ki-tô giáo duy lí và dân chủ hơn. Nhưng đồng thời cũng có những tâm điểm tôn giáo mới đang trỗi dậy, những cộng đoàn dòng tu mới hình thành và đòi phải có một nếp sống tu trì triệt để. Họ sống cuộc sống đó trong niềm tin vui, họ muốn đọc lại các giáo phụ và thánh Tô-ma ở Aquino, và muốn được huấn luyện theo tinh thần của các ngài. Đó là một Giáo Hội đang sống lại cái căn bản tôn giáo rất mạnh: dám hi sinh đời sống vì và cho đức tin, can đảm phục vụ vì đức tin. Đó là một Giáo Hội cũng mang trách nhiệm lớn đối với xã hội qua hệ thống giáo dục và nhà thương trải rộng của mình. Trong Bộ chúng tôi, chẳng hạn, không phải chính chúng tôi quyết định về những vấn nạn liên quan tới luân lí i học, mà mỗi ngày do tiến bộ của i khoa càng tạo ra nhiều thêm. Người Mĩ có một mạng lưới bệnh viện công giáo rất rộng. Nhờ thế ngày nay họ có một đội ngũ chuyên viên có hiểu biết sâu và kinh nghiệm sinh động trong lãnh vực i khoa tân tiến. Chúng tôi trao những câu hỏi đó cho họ thảo luận, phác hoạ nên những đường hướng chỉ dẫn (Guidelines) và trao đổi với họ về những phác hoạ đó. Những giải đáp thoạt tiên mang tính địa phương, nghĩa là cho Hoa-kì mà thôi, nhưng vẫn để ngỏ để tiếp tục bổ túc kinh nghiệm các nơi khác. Nhưng dù vậy, các giải đáp trên cũng được kể như là những lời giải mẫu về mặt luân lí i học có thể áp dụng hay làm chuẩn cho các nơi khác. Vì thế tôi tin rằng, với vốn kinh nghiệm to lớn về mặt đời cũng như kinh nghiệm đức tin mà họ đã trải qua, Giáo Hội hoa-kì sẽ ảnh hưởng quan trọng lên thế giới ki-tô hữu ở Âu, Phi và Á châu. Trước đây người ta nói, cái gì xuất hiện ở Pháp, thì sẽ xuất hiện trên toàn thế giới. Nhưng nay thì khác. Hoa-kì, về mặt đời, cung cấp cho thế giới thời trang và khẩu hiệu. Còn về mặt đạo, Giáo Hội của họ tạo ra những mô hình kiểu mẫu. Lạ lùng là các mô mẫu đó đã đẩy lui đi cái Ki-tô giáo xem ra tân tiến và đồng thời quá lí trí và quá ít thấm nhuần đức tin, để đưa vào đó những xung lực đức tin thật sự và cả những hình thái sống đức tin điển hình. Nghĩa là cũng có cả “sống lối Mĩ” (american way of life) cho đời sống Ki-tô giáo, công giáo? Lối sống đó thật sự thấm nhuần chất công giáo, chứ không chỉ chất “mĩ” mà thôi. Tôi tin rằng người dân trên nước Mĩ nhận vào mình toàn thể cái công giáo tính và muốn làm mới thế giới tân tiến. Nước nào hiện nay có nền thần học được coi là hướng đạo hay có Giáo Hội mẫu mực? Con ngựa kéo đầu đàn nằm ở đâu? Chẳng có chú ngựa cổ điển nào cả. Đúng hơn có một thuyết đa tâm. Trước hết, châu Mĩ la-tinh đã thách đố hoàn vũ Ki-tô giáo với thần học giải phóng. Nhưng nay nó đang đi dần vào quá khứ. Chỉ còn lại lời kêu gọi trách nhiệm đức tin về mặt chính trị và xã hội. Lúc này, châu Mĩ la-tinh đang đam mê vấn đề hội nhập với những nền văn hoá thổ dân. Hoa-kì đang ở tuyến đầu trong việc vật lộn với những thách đố của thời đại mới. Cả trong khoa diễn giải, họ cũng đã có những thành tựu mới, lí luận một chiều của phương pháp phê bình lịch sử đã được họ thay thế bằng cái gọi là phương pháp diễn giải quy điển, nghĩa là bằng lối đọc hiểu Tin Mừng trong toàn thể của nó. Như vậy, nền thần học hoa-kì đã có một đóng góp quan trọng. Nhưng Âu châu, cả Đức, luôn vẫn là nơi có tiềm năng lớn về thần học. Nhờ hệ thống phân khoa thần học trong các đại học của chúng ta, nhờ tiền của và phương tiện ta sẵn có, việc nghiên cứu vẫn đang rất mạnh và sinh hoa kết quả. Dĩ nhiên có một thứ chủ nghĩa duy lí mới, mà người ta coi như là yếu tố hàn lâm bắt buộc, hiện đang là nguy cơ cho công tác thần học. Cái lối thần học duy lí này sẽ không tiến xa được, vì nó chối từ ngay những nền tảng của nó. Tôi tin thế hệ thần học mới sẽ lại nhìn ra được rõ hơn về nguồn cội của thần học, nó chủ yếu phải bắt nguồn từ đức tin, chứ không thể là nơi tính cách hàn lâm thuần tuý. Dù sao, Âu châu vẫn đang là điểm nóng của thần học. Á châu có Ấn-độ, là nơi đang vật lộn với thế giới các tôn giáo và đang nỗ lực xác định chỗ đứng của đức tin trong thế giới ngày nay một cách điển hình. Phi châu ngày nay đang trở về với các giá trị truyền thống. Ta hãy nghĩ tới trọng lượng của Phi châu đã đạt được trong Hội đồng tôn giáo thế giới. Nơi đây, trong khi Tin lành phương tây đang phải lặn ngụp trong các vấn đề sắc tộc, thì thế giới Ki-tô giáo châu Phi ung dung đặt nổi lên lại cảm thức uyên nguyên về những giá trị truyền thống của họ. Dĩ nhiên họ cũng đề cập rất cụ thể tới những câu hỏi liên quan tới việc xây dựng xã hội – như làm sao Ki-tô giáo có thể trở thành một sức mạnh kiến tạo hoà bình, một sức mạnh thúc đẩy hoà giải – có lẽ họ ít lí thuyết hơn, nhưng với những đau khổ và những kinh nghiệm đau thương đã trải qua, Giáo Hội trên lục địa này hẳn có gì để nói cho con người. HỢP NHẤT KITÔ HỮU Vào cuối thế kỷvừa qua, các nhà thần học của hai Giáo Hội tin lành và công giáo đã kí với nhau một “Tuyên ngôn chung về công chính hoá”. Theo đó, ơn công chính không chủ yếu do những việc làm của con người, nhưng trên hết chỉ là do ân huệ của Chúa, dù con người đã có một cuộc sống tốt hay xấu. Đó có phải là một bước tiến thực sự đi tới đại kết hay không? Bên cạnh những điểm giống nhau, ta có phải bằng mọi cách giữ lại những điểm cá biệt về đức tin, để không rơi vào nguy cơ mất bản sắc? Tiếc rằng ta đã không truyền thông cho mọi người hiểu được đúng nội dung của tuyên ngôn, đơn giản là vì ngày nay chẳng ai còn hiểu “giáo huấn về công chính hoá” nghĩa là gì nữa cả. Thời Luther, đó là một đề tài lớn, làm nôn lòng mọi người, và dĩ nhiên việc bành trướng của Tin lành không chỉ do điểm này mà ra, nhưng còn do chuyện các ông hoàng đã lợi dụng nó để trục lợi cho mình. Ngày nay, câu hỏi trên chẳng còn là đề tài thực tiễn gì nữa trong thế giới tin lành. Vì vậy, công luận chỉ còn hiểu một cách đơn giản là chỉ có ân huệ Chúa mới đáng kể, còn việc lành (cuộc sống) chẳng quan trọng gì cả. Phát biểu như vậy là không những giản tiện hoá quan điểm của Luther, mà còn là không hiểu gì về những vấn nạn con người thật sự đặt ra cho Ki-tô giáo ngày hôm nay. Hơn nữa, 500 năm qua, kể từ Cải cách, cả thế giới Ki-tô giáo đã có được những kinh nghiệm mới và đã trải qua một cuộc đổi thay thời đại. Ở đây tôi không thể trình bày hết mọi chuyện được. Chỉ cần điều này: Trước hết, bản tuyên ngôn chung xác nhận: khởi đầu của một cuộc sống với Chúa quả là do chính Chúa định đặt. Chúng ta không thể tự mình vươn tới Chúa được, nhưng chỉ có Ngài mới có thể đưa ta tới Ngài mà thôi. Đức tin là bước khởi đầu đưa con người tới đường công chính. Và đức tin lại là dấu chỉ của sáng kiến của Chúa, sáng kiến này ta không tự mình tạo nên và ta không xứng đáng để hưởng nó. Trong quá trình hình thành tuyên ngôn, Giáo Hội công giáo coi trọng điểm này: một mặt hoàn toàn công nhận sáng kiến khởi đầu đó của Chúa, song mặt khác cũng công nhận là Ngài đã thực hiện một cái gì đó trong tôi. Ngài nhận tôi vào, giao cho tôi trách nhiệm, để tôi cùng cộng tác và tạo nên hoa trái – và bản án cuối cùng sẽ được căn cứ trên nỗ lực đồng trách nhiệm của tôi. Tiếc thay cột trụ thứ hai này đã không được công luận chú í đến. Nói cách khác: Chúa không cần có những kẻ nô lệ, để Ngài cầm tay lôi vào đường công chính và chính Ngài cũng chẳng quan tâm gì tới họ. Nhưng Ngài muốn làm cho con người trở thành đích thực là những bạn đồng hành, những chủ thể thật sự, những người tự có khả năng dùng quà tặng khởi đầu của Ngài để cùng tác động và cùng mang trách nhiệm về tác động đó. Tôi muốn nói đó là hai cột trụ chứa đựng trong tuyên ngôn. Trong đó, kinh nghiệm của Luther rất phù hợp với Tin Mừng đã được đưa vào. Nhưng đồng thời cũng có cả điều mà Giáo Hội công giáo xưa nay vẫn luôn rao giảng. Cả hai tạo nên sự cân đối. Giáo Hội cầu nguyện cho hiệp nhất ki-tô hữu. Nhưng ai hiệp nhất với ai? Công thức mà các nhà đại kết lớn đã tìm ra, là chúng ta cứ đi tới. Chúng ta không nhất thiết muốn có những nối kết cụ thể, nhưng hi vọng ở đâu được Chúa đánh thức đức tin, ở đó Ngài sẽ đưa về một mối và ở đó có một Giáo Hội duy nhất. Là người công giáo, chúng ta xác tín rằng Giáo Hội duy nhất đó có khuôn hình nền tảng nơi Giáo Hội công giáo, nhưng cả Giáo Hội này vẫn bước tới tương lai và vẫn để cho Chúa giáo dục và chăn dắt. Như vậy, chúng ta không đề ra một kiểu mẫu nối kết nào cả, mà đơn giản cứ tiếp tục bước đi trong niềm tin dưới sự hướng dẫn của Chúa – là đấng biết con đường sẽ đưa tới đâu. Và chúng ta tin tưởng vào Ngài. Đã có những suy nghĩ mạnh bạo về mặt đại kết? Không, vì chuyện kết hợp không thể là một màn diễn chính trị, hay do thanh gươm dí vào cổ mà thành được. Cũng không do giáo chủ công giáo hay Hội đồng tôn giáo thế giới muốn là được. Mà đó là những diễn tiến sống động. Đức tin là một cái gì sống động và cắm rễ sâu trong mỗi người và nó mang trách nhiệm trước mặt Chúa. Giáo chủ không phải là ông vua độc tài hay chuyên chế muốn làm gì thì làm, nhưng nhiệm vụ của ngài là phục vụ sự vâng lời đức tin. Trong đức tin, người ta không thể ra lệnh cho ai phải soạn ra những dự án đại kết như thế nào, hoặc bảo rằng, thôi bây giờ Giáo Hội anh bỏ bớt đi một chút, phía tôi thêm vô một chút, không thể có chuyện như vậy được. Hoặc là ta tin vào Chúa – như vậy thì không thể nói được ngày mai ta sẽ làm khác đi. Hoặc là ta coi mình có quyền quyết định – như thế thì mọi chuyện sẽ vô giá trị. Không, đức tin là cái gì sống, trong đức tin chúng ta tín thác vào Chúa, và Ngài sẽ không vì mưu đồ chính trị mà phải đi tới một công thức thoả hiệp. Chúng ta chỉ có thể khiêm tốn nỗ lực cơ bản hoá đức tin, nghĩa là nhận ra cái gì là nền tảng nơi nó - cái đó không do ta làm ra nhưng ta đã nhận được từ Chúa-, và từ tâm điểm cái nền tảng đức tin đó ta mở ra và để Chúa, chỉ một mình Chúa mà thôi, dẫn đi tiếp. NHỮNG NGUY CƠ MỚI CHO ĐỨC TIN Liên quan tới việc Ki-tô giáo mất ảnh hưởng trong thế giới tục hoá, ngài đã nói tới một nguy cơ đe doạ đức tin rất tinh tế mà tới nay chẳng được mấy ai quan tâm, đó là nền độc tài dư luận. Nền độc tài này chỉ chấp nhận một Ki-tô giáo dễ bảo, chịu thích nghi, không góc cạnh, trong lúc những người sống đức tin thực sự thì bị nó đóng ấn là “bảo căn”, “cứng đầu”. Tôi tin đó là một mối nguy thực sự. Người ta không truy nã đàn áp ki-tô hữu một cách công khai, làm như vậy thì cổ hũ và quá lỗi thời. Không, người ta tỏ ra rất khoan dung, hoàn toàn cởi mở. Nhưng nơi nào có đức tin hiện diện đích thực, nơi đó họ lại loại trừ và kết án là bảo căn. Tôi nghĩ có thể xẩy ra trường hợp buộc mình phải chống lại một nền độc tài xem ra khoan dung, nhưng nó lại đồng thời triệt tiêu đức tin bằng cách kết án đức tin thiếu khoan dung. Nghĩa là có một bất khoan dung của những “người khoan dung”. Đức tin không đi tìm mâu thuẫn, nó tìm không gian tự do và nơi chịu đựng nhau. Nhưng nó không thể để cho những công thức tiêu chuẩn của tân tiến sai khiến. Đức tin có một nhiệm vụ cao hơn là trung thành với Chúa và phải sẵn sàng chấp nhận thứ mâu thuẫn mới này. PHỤC HƯNG TÂM LINH Ki-tô hữu trẻ đi tìm một tôn giáo đậm cảm giác. Họ muốn quay trở lại thủa ban đầu của Giáo Hội, trở lại cội nguồn của mầu nhiệm, và đòi hỏi phải có một cuộc đổi mới tâm linh, hầu làm sống lại một cách mới mẻ cả những mặt lưu truyền đã bị bỏ quên của Ki-tô giáo. Giáo Hội có cần một cú xốc để tạo lại tiếng nói cho các biểu tượng câm lặng của mình không? Hẳn nhiên Giáo Hội cần những cuộc lên đường tâm linh sống động. Trong mọi thời, Giáo Hội trân quý tất cả những hình thức làm dấy lên đam mê mới cho đức tin; những phương thức đó không do chính trị khởi xướng, nhưng phải xuất phát từ lòng Giáo Hội. Như ta đã thấy, cuộc đổi mới trong thế kỷ16 không đến từ các định chế, nhưng đã do những con người được cảm hoá và họ đã tạo nên những phong trào mới. Ngày nay, ta cũng nhận ra cuộc đổi mới đó trong nhiều hình thái đa dạng – mà phong trào đặc sủng là một trong những thí dụ. Đây có thể nói là một an ủi mà Chúa đã tặng cho ta; qua các phong trào đó, Chúa chứng tỏ cho ta thấy Thánh Linh vẫn hiện diện và có sức mạnh. Trên thực tế, Công giáo không bao giờ chỉ được hoạch định và quản trị bằng định chế hay bằng đầu óc hàn lâm. Mà nó luôn hiện diện như là một món quà, như một sinh lực tâm linh. Và món quà đó rất đa dạng. Không có Công giáo đồng phục. Trong Công giáo có đủ kiểu: Focolare, Schönstatt, Cursillo, Thánh linh. v.v. cũng như bên cạnh Phan-sinh còn có Biển-đức, Đa-minh… Trong một chung cư mỗi gia đình sống đạo mỗi khác. Và cái kho tàng trăm hoa năng động đó ta nên duy trì. Ngày nay, có một chiều hướng đòi đồng phục nơi các đại biểu tân tiến nhất của Công giáo. Họ ngờ vực và đóng ấn phản động lên những gì sinh động và mới, những gì không tuân theo khuôn mẫu hàn lâm hoặc không theo quyết định của các uỷ ban hay của các kì họp hội đồng. Dĩ nhiên luôn có những nguy cơ, những sai lầm, những bất cập v.v. Ông làm vườn Giáo Hội phải luôn cảnh tỉnh sửa sai, nhưng đồng thời cũng phải chấp nhận cái mới sống động đó như là một quà tặng. Tôi nghĩ, cần có một khoan dung lớn trong nội tình Giáo Hội, để chấp nhận, coi lối sống đa dạng đó như là một cái gì thuộc độ lớn công giáo – để rồi không đơn giản loại bỏ nó, cho dù nó không hợp với khẩu vị mình. Chẳng hạn ở Đức, khi nghe nói đến tu hội “Opus Dei”, hội “Hướng đạo âu châu” hay một cái gì khác, người ta phải tỏ ra bực bội, là vì nếu không thì mình chẳng còn được xem là một tín hữu công giáo tốt nữa! Có những cái không hợp với khẩu vị “bình thường”, hay nói khác đi, không hợp với khẩu vị người “Đức”. Ở đây, mình cần phải bao dung để chấp nhận cái độ lớn công giáo kia. Hẳn nhiên, những người khác cũng phải sẵn sàng bỏ đi những cá biệt hoặc nguy cơ đóng kín của mình để phục vụ cho toàn thể. Sự hiện diện của ghế giáo chủ hay giám mục cũng là để duy trì cái độ lớn kia, đồng thời để ngăn chặn những đóng kín đưa tới kết bè lập phái và đưa chúng trở về hoà nhập với toàn thể. ĐIỀU CÓ THẬT. Thánh An-tịnh chăm lo cho gia sản quý nhất của Giáo Hội, đó là những kẻ nghèo, người goá bụa, trẻ mồ côi. Cuộc sống thay đổi của ngài sau khi vào Ki-tô giáo đã khiến cho những lời ngài nói trở nên khả tín, xác thực và nẩy lửa. Phải chăng gương sống thật của ki-tô hữu có nhiều giá trị trên xã hội hơn là những bài giảng xoa dầu cù là hay những cuộc nghị luận hàn lâm? Dĩ nhiên đúng là như thế, và đội ơn Chúa, cũng đã có những tấm gương đó. Ở đây tôi nghĩ tới, chẳng hạn, Hồng Y O´Connor ở Nữu-ước đã lập một hội dòng mới để lo cho những người bệnh liệt kháng và chính ngài cũng bỏ ra mỗi tuần một ngày cho công tác này. Tôi cũng nghĩ tới “các chị nhân ái” (Sister of Mercy), một dòng tu mới tại Hoa-kì, chuyên lo việc giáo dục và nhiều công tác phục vụ chữa bệnh khác. Hoặc mẹ Tê-rê-xa ở Calcutta với tu hội của mẹ. Đội ơn Chúa đã có biết bao tấm gương sống niềm tin một cách âm thầm triệt để chứng minh cho cái có thật đó, và những chứng tá cũng đã mang hiệu quả. Nhà văn người Pháp Georges Bernanos có lần viết: “Thánh là một cuộc phiêu lưu, ngay cả là cuộc phiêu lưu duy nhất có thể có. Có hiểu được điều đó, thì mới đi vào được trái tim đức tin công giáo”. Trong đức tin, chúng ta nhìn nhận chính Giáo Hội là “thánh”. Điều này không có nghĩa tất cả mọi người trong Giáo Hội đều là thánh. Cũng không phải trong Giáo Hội cái gì cũng tốt cả, nhưng có nghĩa là Giáo Hội đã được Chúa chạm tới và trong đó luôn có thánh xuất hiện. Điều quan trọng ở đây là ta nên quan niệm thánh một cách rộng rãi, bởi vì thánh có muôn hình vạn trạng. Cứ xem những vị đã xuất hiện trước mắt ta, thì sẽ thấy có bao nhiêu là cách thức và loại hình nên thánh. Từ một bác sĩ xả thân phục vụ cho tới những học giả, những người bình thường, những nữ tu và giáo dân, tất cả họ đều sống trong thế giới này. Cũng có những vị thánh âm thầm, điều này luôn quan trọng đối với tôi, họ là những người bình thường mà tôi đã làm quen lúc còn nhỏ, những cụ già nông dân hiền từ và những bà mẹ hiền lành quên mình cho con cái, cho gia đình, cho Giáo Hội, và cũng luôn hi sinh cho những người khác trong thôn xóm. Không nhất thiết phải là một cái gì anh hùng, nhưng cũng có thể ngay cả cái thật tầm thường, cái khiêm tốn. Và dĩ nhiên cũng luôn có những khuôn mặt gây rúng động. Ở ý này có linh mục Pi-ô nổi tiếng kinh khủng, nghe nói ngài đồng thời cũng là một linh mục giải tội rất nóng tính. Xưng tội với ngài chẳng thoải mái lắm, nhưng qua khuôn dáng và cung cách ngài, con người cảm thấy như chính Chúa đang nói với họ thật, và nếu cần, thì Chúa cũng cho họ ít roi. Roi vọt nhiều khi không phải là vô bổ. Trong Tin Mừng, ta thấy Đức Giê-su tỏ ra vừa cứng rắn, vừa rất hiền từ và hay giúp đỡ. Hình ảnh đó, trong thế kỷnày, lại hiện thân qua linh mục Pi-ô. Như vậy, qua những gì hiện ra trước mắt ta, ta biết rằng thánh là có thật và nó giúp ta những lực sống mới. Có những vị thánh khiêm nhường, đơn sơ, không ai viết ra, nhưng quả thật vô cùng quan trọng cho đời sống Giáo Hội. Luôn có những chuyện không thể lường trước được, bất ngờ xẩy đến làm xoay chuyển cuộc sống. Đặc biệt dễ thấy là sự phục hưng phong trào sùng kính mẹ Maria trên khắp thế giới hiện nay. Ngài có nghĩ rằng mẹ Maria sẽ là cửa ngõ cho hàng triệu người tìm đến Giáo Hội không? Ta chẳng bao giờ tiên đoán được tình hình sẽ diễn biến như thế nào. Ai chỉ biết ngồi đó dùng thống kê về tình trạng hiện tại ở Âu châu mà hàn lâm ngoại suy về sự sụp đổ của Giáo Hội, người đó chẳng hiểu gì về sự bất lường của lịch sử con người, nói chung – và về lực khởi xướng của Chúa có thể tới bất cứ lúc nào, nói riêng. Rõ ràng có những đợt sóng mới ít ai ngờ về việc sùng kính đức Mẹ trên thế giới. Nhưng trong đó cũng có một số hình thức hiện ra và sứ điệp giả. Phải rất thận trọng, đừng quá dễ dãi tin ngay đó là những phép lạ. Nhưng trái lại, cũng đừng quá cứng lòng khiến thực tế có thật không thấm nhập được vào mình. Hãy nghĩ về biến cố ở Lộ-đức, lúc đầu người ta cứ bảo là cô bé kia bày chuyện. Nhưng rồi chính mẹ Maria đã thực sự có ở đó. Chắc chắn chẳng phải vô tình mà ngày nay rất đông người quay trở về với Mẹ, qua đó Ki-tô giáo lại trở nên thân thương và gần gũi với ta, đồng thời nhờ Mẹ mà ta tìm ra được lối vào. Ta đã nói chuyện về Nam Mĩ, nhờ Guadeloupe mà thổ dân ở đó đã có thể thấy được đạo không phải là của thực dân, song là của Mẹ nhân từ và của Thiên Chúa đã khổ đau vì chúng ta – và Mẹ thật đã trở thành cửa ngõ dẫn tới Đức Ki-tô -, cho tới nay người ta vẫn tin như thế. Cả ngày nay, không riêng gì Nam Mĩ, nhờ qua Mẹ mà một nhân loại kiệt sức vì thế giới kĩ thuật lạnh lẽo và một Ki-tô giáo duy lí và mỏi mệt có thể tìm gặp lại được chính Đức Ki-tô một cách sống động. Ta có quyền mạnh dạn bước vào tương lai với niềm vững tin đó. Giáo chủ Gio-an XXIII đã có thể nói: “Tôi thuộc về một Giáo Hội sống động và trẻ trung, Giáo Hội đó đang tiếp tục dẫn công trình của mình đi vào tương lai không chút âu lo”. Hồng Y Joseph Ratzinger cũng có thể nói được câu đó? Có! Tôi có thể vui vẻ nói lên điều đó. Tôi thấy có nhiều cành cây Giáo Hội già cội và đang chết dần, chúng chậm rãi lìa thân, lúc lặng lẽ, lúc ồn ào. Nhưng trên hết tôi thấy sự trẻ trung của Giáo Hội. Tôi đã được gặp bao nhiêu người trẻ, từ khắp mọi miền thế giới, tôi đã được gặp bao nhiêu phong trào mới, thấy được đức tin hân hoan bừng lên trong đó. Và tất cả những kẻ phê bình chỉ trích Giáo Hội – họ luôn có lí của họ - đã chẳng đánh đổ được nỗi hân hoan đó, vì niềm vui nơi Chúa Ki-tô lớn hơn mọi phê bình chỉ trích. Vì vậy, tôi có được một nơi chốn, ở đó tuy có nhiều nỗ lực khó khăn, nhưng lại có nhiều gặp gỡ cho thấy sự trẻ trung của Giáo Hội hơn. Và chúng ta được phép yên tâm tiến vào tương lai, vì Chúa hẳn sẽ không bỏ rơi tương lai. |
|
|