File "ChuongIII-DucGiesuKito.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/THIENCHUA/ThienChuavaTranThe/ChuongIII-DucGiesuKito.htm
File size: 381.71 KiB (390871 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">
<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<LINK rel="stylesheet" href="../Suyniemmoingay/_common/colours.css" type="text/css">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<title>Thien Chua - Thiên Chúa và Trần Thế</title>
<style>
<!--
div.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-top:0cm;
margin-right:0cm;
margin-bottom:10.0pt;
margin-left:0cm;
line-height:115%;
font-size:12.0pt;
font-family:"Arial","sans-serif";
}
-->
</style>
<meta name="keywords" content="Năm Bánh - Hai Cá - Giêsu Kitô; tinmung.net; dongcong.net, suy niệm mỗi ngày">
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../_themes/network/netw1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="network 1011">
</head>
<body>
<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="10" bgcolor="#FFFFF2" cellpadding="10">
<tr>
<td style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 12pt; font-weight: bold; border-left-style:solid; border-left-width:1px; border-right-style:solid; border-right-width:1px; border-top-style:solid; border-top-width:1px">
<p align="center"><font color="#FF0000">CHƯƠNG III:</font></p>
<p align="center"><font color="#FF0000">ĐỨC GIÊSU KITÔ</font></td>
</tr>
<tr>
<td style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 12pt" align="justify">
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thưa Hồng
Y, có thể nói được rằng hình người trên khăn liệm ở Turin là
Đức Giê-su thật?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Khăn liệm Turin vẫn
còn là một ẩn số, chưa có lời giải rõ ràng, dù có rất nhiều điểm
cho thấy đó là tấm khăn thật. Dù sao, không ai trong chúng ta
lại không cảm xúc trước sức hút đặc biệt của bóng người đó,
trước các vết thương dễ sợ. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Và trước
khuôn mặt đầy ấn tượng.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cả cuộc khổ hình hiện
lên một cách mãnh liệt trên khuôn mặt. Đồng thời ta cũng thấy
một phẩm giá lớn lao trên đó. Khuôn mặt gợi lên nét yên tĩnh và
thoải mái, bình an và thương xót. Như vậy, khăn có thể giúp ta
mường tượng được Đức Ki-tô. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Một con
người với nét tự tin lớn...</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nếu chỉ là một tự tin
của con người, thì đó là một tình tự thái quá. Nhưng trên khuôn
mặt đó có một cái gì khác và lớn hơn nhiều: Đức Giê-su biết
rằng Ngài hoàn toàn làm một với Cha Ngài, với Chúa. Sự hợp nhất
này có tính chất gia đình, nó vượt lên trên tất cả mọi thứ hợp
nhất thần bí mà chúng ta biết. Vì vậy Đức Giê-su có lí do để
dùng tên gọi Thiên Chúa cho mình – “Ta là điều đó”. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Đó cũng
là một con người thỉnh thoảng tỏ ra thô lỗ và cáu kỉnh: „Này,
thế hệ không tin và không thể dạy bảo được kia!“ Ngài thất vọng
kêu lên: „Tôi phải ở bên các ngươi bao lâu nữa? Tôi còn phải
chịu đựng các ngươi bao lâu nữa?“</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chính tôi cũng luôn bị
đánh động bởi sự nghiêm khắc và thiếu kiên nhẫn của Ngài đối với
con người. Đây có thể là một bài học cho ta về tình yêu, tình
yêu luôn đòi hỏi, chứ không đơn giản chỉ là mềm lòng hay chấp
nhận thua thiệt mà thôi. Đức Giê-su nhìn con người với đôi mắt
Thiên Chúa. Từ cái nhìn đó, ta có thể nhận ra nỗi thất vọng của
Ngài đối với con người, và nhận ra cơn giận của Ngài trước cách
con người đối xử với tạo vật của Ngài. Những câu trên cho thấy
nỗi chán chường và vô tâm của con người đối với Thiên Chúa đã
trầm trọng tới cỡ nào, cho thấy khả năng bịt tai và khép kín của
con người đã thật sự trầm trọng ra sao trước mặt Chúa. </span>
</p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">„Khóc lóc
và nghiến răng“ là câu Đức Giê-su thích nói nhất. Hễ khi nào
muốn ám chỉ điều gì xấu, Ngài lại dùng câu đó.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Bảo đó là câu Ngài
thích nói thì có lẽ không đúng. Đó là chữ Ngài dùng khi vấn đề
trở nên nguy kịch. „Khóc lóc và nghiến răng“ ám chỉ cái đe doạ,
cái nguy hiểm, tóm lại ám chỉ một con người đã hư mất. Nó nói
lên hoàn cảnh thế giới, trong đó con người đang ngất ngư trong
độc chất và truỵ lạc, rồi vừa khi thoát ra được bỗng nhận ra
toàn bộ sự mâu thuẫn của cuộc sống mình. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hoả ngục thường được
diễn tả bằng lửa đốt. Còn nghiến răng chỉ xẩy ra khi bị rét
lạnh. Khóc lóc nghiến răng là hình ảnh của một người bị bỏ rơi,
bị đẩy ra ngoài trời lạnh, vì hắn không còn chấp nhận tình yêu.
Người đó bị đẩy hoàn toàn ra khỏi thế giới của Chúa, cũng là thế
giới của thương yêu – đến nỗi phải nghiến răng khóc lóc. </span>
</p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thỉnh
thoảng Đức Giê-su làm trò ảo thuật. Khi môn đệ hết tiền trả
thuế Đền thờ, Ngài nói với Phê-rô: „Chèo thuyền ra hồ thả câu;
khi bắt được con cá đầu tiên, mở miệng nó ra, anh sẽ thấy một
quan tiền trong đó. Dùng tiền đó mà trả thuế cho anh và cho
Thầy“.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không phải bạ đâu Ngài
làm phép lạ ở đó. Ngài chỉ làm khi có liên hệ tới đức tin. Ngài
nói rõ: Ta đến không phải để làm phép lạ, nhưng để loan truyền
nước Thiên Chúa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu chuyện anh kể trên
có một ý nghĩa khác, sâu xa hơn. Thật ra Chúa không cần phải trả
thuế, bởi vì đền thờ rốt cuộc là chính Ngài, nhưng Ngài đã trả
vì vâng lời, và đã trả theo cách thật đặc biệt do Chúa ban. Tôi
thấy Ngài mỉm cười khi làm chuyện đó. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">GIÊSU -
NHÂN VẬT GIẢ TƯỞNG? </span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Mối hoài
nghi về nhân vật Giê-su lịch sử chẳng bao giờ dứt. Có người cho
đó là một nhân vật giả tưởng. Có kẻ bảo đó là một thứ thủ lãnh
của một giáo phái. Có kẻ lại bảo Ki-tô chỉ là một trong những sơ
nguyên tượng được dùng để nói lên bi kịch của kiếp người: đau
khổ, lo âu, tình yêu. Và có người còn nói: Vị sư phụ đó xem ra
hay đấy, nhưng ông ta đâu có liên hệ gì tới tôi.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Dĩ nhiên, như ta vẫn
thấy, người ta có thể hoài nghi mọi chuyện lịch sử. Chẳng hạn
như có một vị trý thứcbảo không có Đại đế Karl*, nghĩa là ông
chối bỏ cả một lịch sử hai trăm năm. May mà chúng ta không ăn
theo trong vụ này. Tài liệu lịch sử cho ta biết về biến cố,
nhưng chúng không giúp ta sờ được chính sự kiện. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Như vậy
nghĩa là còn có chỗ cho những giả định, hồ nghi?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không. Ngay cả khi ta
chỉ dùng những tiêu chuẩn lịch sử đã được công nhận để xét, thì
sự hiện hữu của Đức Giê-su đã quá rõ và đầy đủ, đến nỗi ta
không còn nghi ngờ gì nữa về nhân vật lịch sử này. Những gì được
truyền tụng về Ngài khác hẳn với những gì có thể tạo ra hay
tưởng tượng ra. Chúng bẻ gẫy mọi mô hình giả định.Và ở đây ta có
thể nhận ra cả dấu vết của biến cố lẫn những gì sau đó đã hình
thành nên từ biến cố đó. Cả hai không thể giải thích được bằng
những phạm trù tư tưởng, mà chỉ bằng va chạm nền tảng với một sự
kiện đã thực sự xẩy ra. Vì vậy, theo tôi, việc hoài nghi về sự
hiện hữu của Đức Giê-su là chuyện thiếu đứng đắn. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhưng đâu
là nguồn sử liệu thật sự khả tín?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Anh cũng biết, càng
ngày người ta càng đào sâu vào tài liệu và bới qua bới lại quanh
chúng. Người ta muốn chẻ nhăm chúng ra để phân tích. Để cuối
cùng chỉ còn lại một nhúm dữ kiện nghèo nàn và người ta bỗng tự
hỏi, làm sao một khuôn mặt nghèo nàn như thế này mà lại cưu mang
được những biến cố như thế kia.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ta không được phép
quên điều này: Bức thư thứ nhất gởi giáo đoàn Cô-rin-tô, lá thư
làm chứng về việc sống lại của Chúa và về việc lập phép Thánh
Thể, đã có bằng văn bản, trước khi Phao-lô khởi sự viết. Lá thư
được viết vào thập niên 50 sau ngày chúa Ki-tô sinh. Và nội dung
lá thư ghi lại những gì đã được truyền tụng trước đó ở
Giê-ru-sa-lem. Như vậy có nghĩa là Phao-lô đã chép lại những gì
đã được viết ra, như chính ngài đã nói. Cả văn phong của thư
cũng cho thấy ta đang tiến sát thật gần chính ngay các sự
kiện.Tôi phải thú thật, càng nghe về những nỗ lực nghiên cứu
nguồn sử liệu, tôi càng bớt tin vào các giả thuyết đi quá đà của
các chuyên gia. Và những giả thuyết đó cứ lặp đi lặp lại và
không ngớt mâu thuẫn nhau. Ngay Albert Schweitzer* đã chỉ trích
việc cố công nặn ra một Giê-su lịch sử để đối lại với Đức Ki-tô
của niềm tin, việc làm đã được khởi sự từ khi mở đầu thời kì Ánh
sáng. Schweitzer bảo, ta tưởng lúc này đây đã có được khuôn mặt
thật của Ngài, nhưng thực ra Ngài đã vượt qua thời đại chúng ta
rồi và đã trở về lại với chính Ngài rồi.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi nghĩ, tất cả những
nỗ lực kia chỉ là những tái cấu trúc, trong đó người ta luôn chỉ
nhận ra khuôn mặt của nhà tái tạo mà thôi. Dù là Đức Ki-tô của
Adolf Harnarck – phản chiếu típ người tự do của ông; hay là Đức
Ki-tô phản chiếu loại triết lí hiện sinh của Bultmann*. Tất cả
những cấu trúc đó đều được thực hiện với ý nghĩnền tảng này:
Không thể có Chúa như là một con người được. Vì thế, họ không
công nhận tính lịch sử của các biến cố làm tiền đề cho Ngài. Có
nghĩa là ở đây người ta đã khởi sự làm việc với một điều kiện,
là phải loại ra khỏi biến cố cái lực nội tại của nó – nhưng
chính lực này mới là cái tạo cho biến cố sự lôi cuốn và đầy đủ ý
nghĩa. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Vậy cách
làm việc của ngài như thế nào?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi nghĩ, đúng hơn ta
nên đặt câu hỏi: „<b><span style="color:red">Khuôn mặt như trong
Tân Ước mô tả có nói lên ý nghĩa gì không?</span></b> Và câu trả
lời của tôi có thể sẽ là: Chỉ có khuôn mặt như trong Tân Ước mới
thật mang ý nghĩa. Chỉ như thế nó mới mang chiều kích cao cả và
mới có thể tạo ra được những biến cố như kia. Vì thế, theo xác
tín của tôi, ta có lí do để tin vào Tin Mừng, dù cho mọi phê
bình nguồn sử liệu, mà mình cũng có thể học được trong đó nhiều
chuyện. Có thể có những tiểu tiết lưu truyền đã bị người đời sau
làm biến thể, nhưng tựu trung các chứng từ Tin Mừng đều đáng
cậy, và ta có thể gặp được khuôn mặt thật của Đức Ki-tô trong
đó. Tin Mừng đáng cậy hơn nhiều so với những tái cấu trúc lịch
sử xem ra vững chắc.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi muốn thêm: Tin
Mừng Gio-an, mà một thời gian dài chỉ được xem như là một sáng
tác thuần tuý thần học (<i>Bultmann chẳng hạn đã cố minh chứng
đó là sản phẩm của các phong trào ngộ giáo</i>), ngày nay lạ
lùng thay đã được công nhận là một sử liệu. Tin Mừng này có
những chỉ dẫn địa lí đúng đắn nhất, và có một kiến thức đúng
nhất về lối nghĩ và cách sống của người Do-thái thời đó. Nhà chú
giải Klaus Berger ở Heidelberg vì vậy muốn coi nó là bản văn kì
cựu hơn các Tin Mừng khác. Điểm này có lẽ tôi không cùng quan
điểm. Tục truyền bản văn hình thành vào cuối thế kỷthứ nhất. Ta
cứ việc biết như thế. Tuy nhiên đó là một tài liệu với kiến thức
rất chính xác, và viễn kiến thần học của nó không tách khỏi nền
tảng lịch sử. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<a name="1._MẠC_KHẢI__"><span style="color: #FF0000"><b>1</b></span><span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI"><b>.
MẠC KHẢI </b></span></a></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có lần,
nhà thần học người Pháp Henri de Lubac* nói, chính cuộc đời Đức
Ki-tô là điểm mầu nhiệm được ưa thích nhất. Việc làm của Ngài,
một mặt, là hành vi của một con người thường, nhưng mặt khác
cũng là hành vi của một con người mang thiên tính. De Lubac
viết: „Tìm hiểu ý nghĩa cuộc đời Đức Ki-tô có nghĩa là thâm nhập
vào thực tại của Thiên Chúa“. Phải chăng có nghĩa là khi ta tập
tìm hiểu cuộc đời Đức Ki-tô, ta sẽ nhận ra và bắt gặp được Chúa
cũng như toàn bộ cuộc đời mình?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cuộc sống của ta chỉ
có chất liệu và nền tảng, khi ta càng thấm nhập vào và cùng sống
với cuộc sống của Đức Ki-tô. Nhờ nền tảng đó, ta mới có thể hiểu
được Thiên Chúa. Đó là điểm cơ bản. Lời Đức Ki-tô có tầm quan
trọng không có gì thay thế được, nhưng ta không được phép thu
gọn Ngài vào lời mà thôi. Thịt, như thánh Gio-an nói, cũng có
vai trò của nó, đó là lời được sống, và thịt cũng đã dẫn tới
thập giá. Chỉ khi ta ngắm nhìn cả con người toàn diện và sống
động của Đức Giê-su, lúc đó lời mới toát ra chiều kích cao cả
chứa đựng trong nó. Như thế, muốn hiểu được sứ điệp của Ngài,
nhất thiết phải ngắm nhìn cuộc sống và khổ nạn của Ngài. </span>
</p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">TIÊN TRI
VÀ SỨ GIẢ </span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Như vậy,
ta hãy tìm hiểu rõ hơn về hình dáng, cuộc sống và sứ điệp của
Đức Giê-su Ki-tô. Hãy bắt đầu với Gio-an: „Từ khởi thuỷ là Lời
/ và Lời đã trở thành thịt / và ở giữa chúng ta, / và chúng ta
đã thấy vinh quang của Lời, / vinh quang của Con một của Cha,
đầy ân phúc và chân lí“. Hẳn đây là đoạn mở đầu cao sang nhất
xưa nay chưa từng được viết ra trên thế giới.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Những lời đầu tiên của
Tin Mừng Gio-an là nhịp cầu nối liền lịch sử tạo dựng, nguồn cội
mọi loài, với biến cố đã xẩy ra ở Pa-les-tin . Chúng nói lên
điều này: Logos / Lời sáng tạo làm nên thế giới kia đã hiện thân
trong con người Giê-su. Nguồn lực sáng tạo thế giới, như vậy, đã
đi vào trần thế và nói chuyện với ta. Một mâu thuẫn lớn đã xẩy
ra: Thiên Chúa quá vĩ đại để có thể trở nên bé bỏng. Và bé bỏng
đến mức Ngài gặp gỡ ta qua thân xác một con người. Thiên Chúa
không đơn giản từ trời rơi xuống và trình diện trước mặt ta,
nhưng Ngài đã xuất hiện qua một biến cố lịch sử, biến cố đó là
một con đường dẫn tới Ngài. Trên con đường đó, có thể nói, người
ta đang chờ Ngài và sứ điệp của Ngài có thể được ta nghe biết.
</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Gio-an
tẩy giả là sứ giả trực tiếp của Đức Ki-tô. Tin Mừng viết: “Ông
tới như một người chứng, để làm chứng cho Ánh sáng, để mọi người
nhờ ông mà tin”. </span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong biến cố lịch sử
kia, xét về thời điểm lịch sử, đã có một tiên tri, một chứng
nhân cuối cùng, xuất hiện trước Đức Giê-su. Gio-an làm phép rửa
là đại diện của một thứ phong trào cảnh tỉnh. Is-ra-en sôi bỏng
lúc đó đang nóng lòng về một vị cứu tinh, một Messias. Dân tộc
này bị ngoại bang thống trị, vẫn luôn mang trong mình hi vọng
được giải phóng, và họ tin là chuyện đó sẽ trở thành hiện thực.
Mặt khác, đó là một thời không có tiên tri. Xem ra ánh sáng tiên
tri lúc đó đã tắt. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Gio-an
đến từ sa mạc, và ông giảng điều mới mẻ. </span>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="FR">Ông bảo,
ông là “tiếng kêu trong sa mạc”. Ông làm phép rửa liên tục “bên
kia bờ sông Gio-đan”, như sách chép. Và hôm đó, khi thấy Đức
Giê-su tới với mình, ông đã nói một câu đầy bí ẩn: “Hãy xem Con
Chiên Thiên Chúa, đấng xoá tội trần gian. Đây là người mà tôi đã
nói: Sau tôi sẽ tới một người, người đó vượt trước tôi, vì người
đó có trước tôi”. </span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Gio-an xuất hiện nơi
sa mạc như một người được Thiên Chúa thánh hiến. Thoạt tiên, ông
giảng về hối cải, thanh tẩy và tụ tập dân chuẩn bị cho Chúa đến.
Việc rao giảng đó, có thể nói, là tóm tắt toàn bộ lời tiên tri
dẫn vào đúng lúc lịch sử đang hối hả tiến tới mục tiêu của nó.
Sứ mạng của Gio-an là mở tung cánh cửa ra cho Chúa, để dân
Is-ra-en sẵn sàng đón nhận Ngài và chuẩn bị giờ lịch sử cho
Ngài. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có hai điều quan
trọng: thứ nhất, những bài giảng hối cải của ông chứa đựng toàn
bộ lời tiên tri; thứ hai, việc chứng tá của ông về Đức Ki-tô đã
cụ thể hoá các lời tiên tri đó, qua hình ảnh con chiên, nay là
Con Chiên Thiên Chúa. Ta hãy nhìn lại câu chuyện của Ab-ra-ham
và I-sa-ac, nhìn lại chuyện tế thú vật mà trong đó chiên giữ vai
trò quan trọng, đặc biệt phải có chiên làm của lễ trong dịp vượt
qua. Giờ đây đã hoàn tất mọi nỗ lực thay thế đó. Đối với chúng
ta, chiên vượt qua trên nguyên tắc là người. Giờ đây Chúa Ki-tô
là chiên vượt qua, như thế là Ngài chia sẻ thân phận của ta và
làm biến đổi thân phận đó. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu thứ hai là một
nhắc nhở nhẹ nhàng về thiên tính nơi Đức Giê-su Ki-tô, cho dù
điều này Gio-an đã chưa nghĩ tới hết và nói ra hết. Ông bảo, đây
không phải là một nhân vật lịch sử nào đó, nhưng là một kẻ vượt
lên trước tất cả chúng ta, kẻ đến từ muôn đời Thiên Chúa và là
vị thân tín của Ngài. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tổ phụ
Gia-cóp có lẽ đã diễn tả thời điểm vị Cứu tinh này xuất hiện
giống như vào lúc Đức Ki-tô giáng sinh. Đó là lúc nhiều người
mất đức tin, đám Pha-ri-sêu thì, như sách chép, sống trong kiêu
căng và lạnh lùng, những người khác cảm thấy mình như một đàn
thú không có người chăn. Ước mong về một vị Cứu tinh đã trở nên
nóng bỏng cả nơi dân Do-thái lẫn nơi lương dân. Tiên tri I-sai-a
than thở: “Xin trời hãy đổ người công chính xuống!”, “Mây hãy
mưa người công chính xuống!”. Nhưng phải chăng những lời báo
trước về Đức Ki-tô đó chỉ mới được bịa ra sau này?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phần đầu câu hỏi của
anh có lẽ liên quan tới cái gọi là lời chúc lành của Gia-cóp
(Kn, 49), lời đó gồm một số lời hứa đầy bí ẩn cho mười hai con
trai của Gia-cóp. Lời chúc cho Giu-đa như thế này: “Nước thống
trị sẽ không rời khỏi Giu-đa và gậy quyền hành không rời chân
nó, cho đến khi nào vị xứng đáng và được muôn dân tuân phục đến”
(49, 10). Lời này sau đó được coi là lời hứa cho vương quốc
Đa-vít (Đa-vít thuộc dòng dõi Giu-đa), và đến khi vương quốc này
bị xoá sổ - nghĩa là vào thời Đức Giê-su – nó được coi là lời
hứa cho một con trai Đa-vít mới, là đấng Messias, đấng mà cả các
dân tộc ngoài Do-thái đều vâng phục. Hẳn nhiên, ki-tô hữu coi
con trai Đa-vít mới đó là Đức Ki-tô. Nhưng thời điểm Đức Ki-tô
đã chưa được viết ra, những câu trên (mà các học giả vẫn chưa
thống nhất về thời gian xuất hiện) đề cập tới một điều đang tới
với đầy bí ẩn, và ngữ nghĩa của chúng chỉ được sáng tỏ dưới ánh
sáng của Đức Ki-tô.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Giờ hãy nói về tiên
tri I-sai-a. Thật ra I-sai-a đã nói: “Trời của các ngươi hãy đổ
sự công chính”. Nhưng sau khi sự công chính đó hiện thân qua một
người, ki-tô hữu mới đọc nó theo kiểu nhân cách hoá. Ta cũng có
thể đọc và hiểu tương quan thống nhất giữa Cựu và Tân Ước như
một lối mở đường như thế. Lời cựu ước hướng về Đức Ki-tô, lời đó
đồng thời kiếm tìm Ngài từ trong bóng tối. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Dĩ nhiên, người ta có
thể coi Cựu Ước không có liên hệ gì tới Đức Ki-tô. Nhưng như thế
thì lời sẽ khó hiểu, vì thật ra chúng hướng về Ngài. Và dù cho
người Do-thái không thể coi Đức Ki-tô là vị đã hoàn thành những
lời đó, thì đó chẳng phải là vì họ có ác í gì, song cũng là vì
sự khó hiểu của lời kinh, và vì tương quan căng thẳng giữa hình
dạng Đức Ki-tô với lời cựu ước. Với Đức Ki-tô, Cựu Ước mang một
nghĩa mới – và chỉ nhờ Ngài mà những lời cựu ước mới nhận ra
liên quan, hướng đi và ý nghĩa của chúng. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Như thế, có thể loại
trừ yếu tố Đức Ki-tô ra khỏi Cựu Ước. Mà cũng có thể làm ngược
lại. Cả hai lập luận đều có lí do chính đáng. Đó là cuộc tranh
luận hiện nay giữa người Do-thái và ki-tô hữu. Nhưng không chỉ
giữa hai tập thể đó mà thôi. Một số đông các nhà chú giải theo
khuynh hướng thuần phê bình lịch sử cũng không chấp nhận tính
cách con đường và dẫn đường của Cựu Ước, và họ xem lối diễn giải
của Ki-tô giáo là không hợp hay đi quá xa nguyên nghĩa lịch sử.
</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tóm lại: Cựu Ước không
phải là một thứ bói toán, mà là một con đường. Điểm này người ta
có quyền tự do chấp nhận hay không. Theo tôi, chính việc tồn tại
của Cựu Ước đã là một bảo chứng nói lên Cựu Ước tự nó có ý
nghĩa. Cựu Ước rõ ràng có trước Đức Ki-tô về mặt lịch sử, cũng
như đức tin của người Do-thái và kinh sách của họ có trước Ki-tô
giáo. Các giáo phụ thẳng thắn coi việc người Do-thái công nhận
Cựu Ước và phủ nhận Đức Ki-tô là sứ mạng lịch sử nhằm bảo đảm
cho tính xác thực và tuổi tác của các sách thánh của họ. Vì thế,
các ngài bảo, người Do-thái đã phải tiếp tục là Do-thái, chứ
không trở thành ki-tô hữu. Cựu Ước tự nó vẫn có nghĩa, nhưng nếu
ta đọc nó với Đức Ki-tô, thì nó mới toát ra ý nghĩa mới và mở ra
một cái nhìn toàn diện. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">THIÊN CHÚA
TỰ SỬA SAI ?</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Các lề
luật cũ, từ nghi thức tế lễ cho tới cả chuyện khốn nạn “Mắt đền
mắt, răng đền răng” cũng được bãi bỏ sau khi Đức Ki-tô xuất
hiện. Như vậy, có thể nói được rằng Thiên Chúa đã phải tự sửa
sai?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tôi muốn nói lại
chuyện lịch sử. “Mắt đền mắt, răng đền răng” nghe ra kinh khủng
thật, nhưng trước hết có thể nói đó là một nguyên tắc điều hoà
và hợp lí hoá việc trả thù, không để nó vượt ra khỏi khuôn khổ
của hành vi tương ứng. Xem thế thì đó là một tiến bộ rồi, so với
luật pháp đương thời. Ở đây phải nói thêm, nếu không có tình yêu
thì cái tiến bộ về ý thứcpháp luật đó cũng chẳng giải quyết được
gì, chỉ có tình yêu mới bẻ gãy vòng trả thù luẩn quẩn và mới tạo
ra được một thực tại mới.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Trong cuộc trao đổi
này chúng ta đã đề cập tới câu: “Ta đến không phải để xoá bỏ
luật, nhưng để kiện toàn nó”. Chúng ta đã bàn tới câu đó một
cách cụ thể trong câu chuyện về của lễ Đền thờ. Của lễ luôn chỉ
là một vật thay thế. Và giờ đây, khi nhân vật mang của lễ đích
thật xuất hiện, và qua đó giúp ta có thể hi sinh cho Chúa, thì
toàn bộ ý nghĩa về việc tế lễ kia đã hoàn tất trong Ngài. Và
chính Ngài là đền thờ sống động thay cho mọi thứ đền thờ. Như
vậy, Ngài đến không phải để xoá bỏ cái gì, nhưng là để đưa nó
đạt tới đích. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Trong ý nghĩa đó, của
lễ dâng cho Đền thờ đã được hiện tại hoá trong Mình Thánh, một
hình thái mà trước đó mới chỉ có được những hình ảnh xa gần mà
thôi. Như vậy, có thể nói, Thiên Chúa đã không tự sửa sai. Nhưng
trái lại, Ngài giúp ta thấy được động lực nội tại và hướng tới
của con đường mà Ngài thoạt tiên đã mở cho ta, nhưng ta chưa thể
đi tới nổi. Ý nghĩa thực sự của con đường đó giờ đây đã được
kiện toàn và có được đúng chỗ của nó. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Kinh
Thánh nói về một “Is-ra-en mới, một dân thiên chúa mà Ngươi đã
gọi”. Nghĩa là giờ đây, với sự xuất hiện của đấng Cứu tinh,
những người đi theo Ngài, các ki-tô hữu, trở thành dân mới, dân
được Thiên Chúa chọn riêng?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Vâng, có thể nói được
như thế. Có thể nói đó là Is-ra-en mở rộng. Thánh Phao-lô nói
rõ, con cái Ab-ra-ham không phải chỉ là những người máu mủ,
nhưng là tất cả những ai có chung đức tin với ông. Như vậy, vòng
máu mủ của Is-ra-en được nới rộng ra bởi cộng đoàn Đức Ki-tô.
Nhờ vào một quyết định nền tảng (nhất là vào một quà tặng) mà
cộng đoàn này đã trở thành một dân, khiến cho lời hứa giờ đây
trở thành phổ quát.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">Chữ được
chọn nghe không ổn lắm</span></b><span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">,
vì nó gợi lên sự hạn chế, cho rằng ta đây là kẻ tốt hơn. Theo
nghĩa ban đầu của Kinh Thánh, chữ này muốn nói tới việc Chúa
chọn một dân tộc, để giao cho họ một công tác, và để họ thông
báo tới những dân khác một điều gì. Như vậy, được chọn luôn có
nghĩa là <b><span style="color:red">chọn cho một việc gì đó</span></b>.
Về một khía cạnh nào đó, có thể nói, kẻ được chọn phải mang gánh
nặng, vì phải nhận trách nhiệm cho kẻ khác.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Trong ý nghĩa đó, ý
niệmđược chọn và ý niệmIs-ra-en bao gồm tất cả những ai nhờ qua
Đức Ki-tô trở thành con cháu của Ab-ra-ham, trở nên con cái của
Thiên Chúa hằng sống. Tuy nhiên, họ không phải được chọn để sống
cho người khác, hầu có được hộ chiếu đặc biệt bước qua cửa thiên
đàng, nhưng là <b><span style="color:red">để tham dự vào việc
phục vụ Đức Ki-tô</span></b>, vào công tác của Is-ra-en đối với
lịch sử. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<a name="2._ÁNH_SÁNG_"><span style="color: #FF0000" lang="it">
<b>2</b></span><span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT"><b>.
ÁNH SÁNG</b></span></a></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Quái lạ :
Thiên Chúa toàn năng vô cùng lại chọn một chốn hèn kém nhất ở
trần gian, một chuồng súc vật sơ sài ở Bê-lem, để sinh ra. Và
lập luận của Giáo Hội : Chỉ vì điều đó quá khó tin và quá mâu
thuẫn nên nó phải là chuyện có thật.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Lối lập luận đó không
đủ. Nhưng thật ra, việc chọn cái bé nhỏ là nét đặc thù trong
lịch sử Thiên Chúa với con người. Cái đặc thù đó ta thấy trước
hết qua việc Ngài <b><span style="color:red">chọn trái đất, một
hại bụi trong vũ trụ</span></b>, làm nơi hành động; trong đó dân
tộc yếu đuối như Is-ra-en lại được chọn để mang lấy lịch sử của
Ngài ; rồi Na-da-ret, một chốn hoàn toàn không ai biết đến, trở
thành quê hương Ngài ; và rồi cuối cùng Con Thiên Chúa lại sinh
ra ngoài làng Bê-lem, trong một chuồng súc vật. Tất cả như một
sợi chỉ đỏ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Chúa dùng <b>
<span style="color:red">đơn vị đong đo duy nhất của Ngài là tình
yêu</span></b> để đối lại thói kiêu căng của con người. Kiêu
căng chính là hạt nhân, là nội dung chính của mọi tội lỗi, nghĩa
là của cái tự-coi - mình- muốn- bằng- Thiên Chúa. Tình yêu, trái
lại không phải là tự cao, mà tự hạ. Tình yêu cho thấy chính lúc
hạ mình là lúc ta vươn lên. Chính khi ta hạ mình, khi ta trở nên
đơn giản, cúi xuống với kẻ đói rách, nghèo hèn, khi đó ta mới
thật lên cao. Chúa trở nên bé nhỏ, để đưa con người dương dương
tự đắc trở về lại đúng chỗ của nó. Xem thế thì <b>
<span style="color:red">quy luật của sự bé nhỏ</span></b> là
khuôn thước nền tảng của hành động Thiên Chúa. Quy luật đó giúp
ta nhận ra bản chất Thiên Chúa, và cả chính bản chất của ta. Như
vậy, lập luận trên tự nó đã chứa đựng một<b><span style="color:red">
luận lí cao</span></b> và trở thành chỉ<b><span style="color:red">
dấu cho sự thật</span></b>.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Cảnh
tượng giáng sinh đã trở thành nổi tiếng thế giới, và Friedrich
Händel</span></i></b><a href="http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=533&ict=7122#_ftn1"><b><i><span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">[1]</span></i></b></a><b><i><span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">
đã biến nó thành bất tử qua bản nhạc đại hợp xướng « Messias ».
Một thiên thần, bao bọc bởi hào quang thiên chúa, xuất hiện giữa
đêm đen báo tin cho những người canh giữ súc vật : « Các bạn
đừng sợ ! Tôi báo cho các bạn một tin vui lớn ». Và trong khi
thiên thần đang nói, từng đoàn thần linh thiên quốc quần tụ
quanh ngài đồng xướng lên lời ca vang vọng trần gian : «
Vinh-danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người lòng
ngay ».</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Đó quả là một trong
những cảnh đánh động con tim nhất của Kinh Thánh. Sự đánh động
đó đã có từ thời Giáo Hội sơ khai rồi, cứ nhìn vào nghệ thuật
thời đó ta có thể thấy điều này. Cảnh tượng đó đi vào lòng
người, nhưng sứ điệp của nó còn vươn xa hơn những gì thú vị và
đáng yêu.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Cũng lại những người
bình dân mộc mạc là những kẻ đầu tiên được gọi tới máng cỏ.
Hê-rô-đê không biết chuyện xẩy ra. Cả các nhà thông thái thoạt
tiên cũng không biết. Tin vui đã tới với những người chăn súc
vật, những người đang trông chờ ơn cứu độ của Thiên Chúa đến với
họ. Họ là những người sẵn sàng và biết mở lòng đón nhận. Những
người này, cùng với Maria và Giu-se, với Si-me-on và An-na, với
E-li-sa-bet và Za-ka-ria-a, là đại biểu của giới nghèo hèn trong
Is-ra-en – và như thế là toàn bộ Dân Thiên Chúa. Chúng ta đã
thấy trong Thánh Vịnh chữ kẻ nghèo và kẻ lòng nhân là từ chỉ bao
trùm thành phần tín hữu ở giữa trong dân Is-ra-en. Cũng như khi
Đức Ki-tô khen các trẻ nhỏ là Ngài khen những tâm hồn đơn sơ
biết nhìn và lắng nghe tin vui của thiên thần.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Nhóm người thứ hai tới
Bê-lem, như Tin Mừng Mat-thêu cho hay, là những nhà thông thái
từ phương đông. Rất có ý nghĩa. Kẻ đơn sơ đi trước, nhưng các
nhà trý thứccũng không bị loại ra ngoài. Nơi họ có một sự khôn
ngoan đích thực, khiến họ mở lòng mình ra cho Đức Ki-tô. Và còn
một điều quan trọng nữa. Những nhà thông thái tới máng cỏ là
người ngoại. Đây có thể nói là những hình ảnh nói lên chuyển
động của Giáo Hội, của người ngoại.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">THỜI ĐIỂM
QUAN TRỌNG NHẤT CỦA LỊCH SỬ</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Giám mục
người Đức Rudolf Graber cho rằng biến cố kia đã « vượt xa vô
cùng biến cố tạo dựng vũ trụ ». Chưa bao giờ có một biến cố lớn
như thế xẩy ra, và cũng không bao giờ sẽ xẩy ra một biến cố mang
tầm vóc như thế : « Bởi vì việc con một của Thiên Chúa, ngôi hai
Thiên Chúa, sẵn sàng làm người trong một địa cầu tí hon này là
chuyện vượt trên tất cả mọi cái có thể tưởng tượng »</span></i></b><span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Vâng, đó là một bài
học rất quan trọng, để ta hiểu được đúng ý niệmvề cái lớn và cái
bé. Nhìn trên khía cạnh vật chất, việc tạo dựng vũ trụ là một
biến cố lớn lao vô cùng. Bên cạnh đó, biến cố nhỏ nhoi xẩy ra ở
Bê-lem, mà các sử gia thoạt tiên đã bỏ quên, quả là chuyện không
đáng bàn tới.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Xét về lượng thì hai
biến cố trên khác xa nhau. Tuy nhiên, nếu ta thấy được chỉ một
trái tim người mà thôi cũng là một độ lớn mới trước toàn cảnh
của vũ trụ, như Pascal nói, thì lúc đó ta sẽ hiểu được việc
Thiên Chúa làm người, việc đấng Tạo dựng, Lời muôn đời
(Logos) chấp nhận bước vào thân phận làm người và tự buộc mình
vào thân phận đó, cũng là một độ lớn khác hẳn. Thiên Chúa xuống
trần và trở thành người. Đứng trước chiều kích này, cái độ lớn
xem ra vô cùng của thế giới vật chất cũng trở thành nhỏ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Biến cố
Đức Giê-su sinh ra đã trở thành huyền thoại lớn nhất cho mọi
thời từ hai ngàn năm nay. Ngày nay, không ai mà không biết đến
đêm đó. Không đâu trong Giáo Hội niềm tin thể hiện tràn bờ như
trong biến cố này. Giáng sinh có một lượng biểu tượng, giá trị,
đạo đức và u sầu, nghĩa là một lượng về thực thể con người,
không gì sánh nổi. Đôi lúc tôi nghĩ, chúng ta biết nhiều về
giáng sinh thật, nhưng hẳn giáng sinh biết chúng ta nhiều hơn
nhiều.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Có lẽ, một lần nữa, ta
phải thống nhất với nhau về nghĩa chữ « huyền thoại ». Ngày nay,
chữ này được hiểu theo nghĩa tích cực, nó nói lên một thứ viễn
kiến về những thực tại vượt khỏi giác quan con người, như vậy nó
chứa đựng một chân lí cao hơn cái thuần thực tại đang có. Nhưng,
cho dù mang nghĩa tích cực đó, « huyền thoại » chống lại lịch
sử. Nó là viễn kiến, chứ không phải sự kiện thực tế. Việc Đức
Ki-tô giáng trần, trái lại, là một biến cố lịch sử, một cái gì
đã diễn ra thật và đã trở thành biến cố lịch sử. Việc gắn liền
với lịch sử thật đó là một nét đặc thù của lịch sử Ki-tô giáo.
</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Quả thật lạ lùng, cái
đêm trong chuồng súc vật, trong hang đá đó, thoạt tiên được các
mục đồng để ý đến khi nghe thiên thần loan tin, giờ đây đã trở
thành một dấu chỉ vượt ra ngoài thế giới Ki-tô giáo, hầu như
chẳng còn ai mà không biết đến. Nhưng ta cũng phải nói thêm,
song song với việc phổ quát hoá đó cũng có một tiến trình tầm
thường hoá ghê sợ xẩy ra. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ngày nay, khuynh hướng
muốn đẩy Ki-tô giáo ra khỏi lễ giáng sinh ngày càng mạnh, nó
giống như một hoả tiễn, sau khi lên được độ cao nhất định, liền
tách khỏi phần dưới của nó. Ở Mĩ châu, với đà thương mại hoá và
tình cảm hoá, lễ giáng sinh trở thành nơi trưng bày cho các cơ
sở thương mại lớn. Trước đây, họ trang hoàng giáng sinh với hang
đá, nay với những cảnh huyền thoại, nào là với nai, hươu và các
ông già Nô-en, từ đó biến cái Ki-tô giáo ra thành cái huyền
thoại thật. Dĩ nhiên, vẫn còn cái dư âm chói sáng đánh động con
người, khi họ nhận biết Thiên Chúa đã trở thành người. Nhưng đó
chỉ là nỗ lực tìm cách giữ lại vẻ đẹp và cái rung động, còn cái
ý nghĩa cao sâu hơn nằm trong đó thì người ta lại bỏ đi.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Giáng
sinh cho ta thấy, bên cạnh tất cả những suy tưởng và tình cảm
lớn, cả những điều hoàn toàn mâu thuẫn, những điều dối trá trong
thế giới – và cả những hoài nghi lẫn không tin của ta.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Người ta đã đem quá
nhiều tiếng nói của con tim, quá nhiều yếu tố giá trị lớn và
quan trọng vào trong biến cố giáng sinh, khiến thoạt nhìn vào,
ta có thể thành tâm nói được, là nếu lột hết những thứ đó đi,
thì biến cố đích thực kia chẳng còn lại gì (làm vậy là cướp đi
nội dung cao cả của giáng sinh, biến nó một cách nào đó trở
thành trống rỗng). Nhưng cũng chẳng sao, biết đâu những điều
thêm thắt quan trọng và dễ hiểu kia, dù chúng vượt ra khỏi vòng
Ki-tô giáo, có thể đưa người ta tìm lại được đức tin. Bí ẩn của
đứa trẻ, của sự giản dị, của lòng khiêm nhu – đó là tất cả những
gì toát ra từ biến cố giáng sinh. Và ta cũng rất cần đưa vào
những bài học mang tính con người đó, để qua đó thấy được khía
cạnh nhân tính của Thiên Chúa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Phong tục tặng quà
thật ra bắt nguồn từ một suy nghĩ lớn. Đứa trẻ là quà tặng của
Thiên Chúa cho con người, vì vậy giáng sinh có thể là ngày để
người ta trao quà cho nhau. Nhưng nếu việc tặng quà trở thành
những chiến dịch thương mại bó buộc, thì việc trao tặng mất ý
nghĩa. Và rồi, đúng như câu của Đức Ki-tô nói với các môn đệ :
Đừng làm như người ngoại đạo, họ mời người khác, vì họ cũng muốn
được mời lại. Nếu chỉ còn là một cuộc trao đổi hàng hoá thuần
tuý, thì giáng sinh đã bị khống chế bởi tư dục, nó trở thành một
phương tiện cho tính ích kỉ vô đáy và cho lòng hám của lẫn hám
quyền – mà thật ra sứ điệp giáng sinh hoàn toàn trái ngược lại.
Đem giáng sinh trở về lại nội dung đơn giản của nó, đó có lẽ là
một nhiệm vụ lớn của chúng ta.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">ÁNH SÁNG
TRẦN GIAN</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Đức Ki-tô
không phải là người được soi sáng, nhưng chính Ngài là ánh sáng.
Ngài không chỉ là đường, mà còn muốn mình là đích tới nữa. Hồng
Y có lần bảo, biến cố ở Bê-lem «là bước đột phá quyết định của
lịch sử thế giới đưa tới việc kết hợp con người với Thiên Chúa
».</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Thiên Chúa đã thật sự
làm người, đó là một biến cố vĩ đại. Ngài không phải chỉ mượn
thân xác con người để hoàn thành một nhiệm vụ nào đó trong một
thời điểm của lịch sử - nhưng đã là người sống trong lịch sử, và
cuối cùng đã giang hai tay trên thập giá, để mở ra không gian
cho chúng ta có thể bước vào.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Nếu giờ đây Con Người
- Thiên Chúa này, như Kinh Thánh nói, muốn đưa tất cả chúng ta
vào trong Ngài, muốn kéo chúng ta vào làm một thân xác duy nhất
sống động, như hai người nam và nữ trở thành một xương thịt như
ta đọc thấy trong Kinh Thánh, thì ta sẽ thấy đây không phải là
một biến cố đơn lẻ, nó rồi sẽ biến đi như nó đã xuất hiện.
Không, đây là một đột phá, một khởi đầu, mà Đức Ki-tô qua Thánh
Thể, qua các bí tích và phép rửa muốn kéo ta vào trong đó. Trong
ý nghĩa đó, ở đây thật sự đã có một hoà tan giữa Thiên Chúa và
con người, giữa Tạo hoá với tạo vật, đó là một cái gì vượt trên
mọi quy luật tiến hoá. Đây không còn là một bước tiến của tiến
hoá, phát sinh từ lực thiên nhiên, nhưng là một đột phá tung
cửa, là hành động yêu thương của một con người, mở ra từ giây
phút đó một không gian mới và một khả thể mới cho nhân quần.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Ngài có
lần nói, Đức Giê-su là « con người kiểu mẫu, con người của
tương lai, qua Ngài ta thấy được khả năng hoàn thiện bản thân ta
trong tương lai ». Phải chăng điều này có nghĩa là về lâu về dài
chúng ta sẽ trở nên toàn hảo được giống như Đức Giê-su Ki-tô ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Trên thực tế, nhờ Đức
Giê-su Ki-tô, ta đang vươn tới <b><span style="color:red">con
người mới</span></b>. Ngài là mẫu gương cho bản thân ta nhắm
tới. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tôi không muốn nói
rằng, con người sẽ chỉ tiến lên <b><span style="color:red">giống
Ngài</span></b> về các khả năng bên ngoài mà thôi. Nhưng khung
hình nội tâm của Ngài, và cuối cùng là sự hi sinh tự hiến trên
thập giá của Ngài, mới là khuôn thước kiểu mẫu cho nhân loại
tương lai. Không chỉ có việc đi theo Ngài hay bước vào con đường
của Ngài. Mà tâm ta còn phải tự đồng hoá với Ngài, như Ngài đã
tự đồng hoá với ta. Tôi nghĩ, đó mới thật là đích điểm đi tới
của con người.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Nhìn vào những tấm
gương lớn theo Ngài trải dài trong nhiều thế kỉ, ta mới nhận ra
được những gì ẩn chứa trong con người Đức Giê-su Ki-tô. Đây
không phải là ta thổi phồng lên một khuôn mẫu lý tưởng, nhưng
qua họ ta thấy được tất cả những khả thể làm người. Một Thérèse
ở Lisieux, một thánh Don Bosco, một Edith Stein</span><a href="http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=533&ict=7122#_ftn2"><span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">[2]</span></a><span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">,
một tông đồ Phao-lô hay một Tô-ma ở Aquino, các ngài đã học Đức
Ki-tô để trở thành người. Tất cả các ngài đã trở nên thật <b>
<span style="color:red">giống Đức Ki-tô</span></b>, nhưng mỗi
người trong họ vẫn có <b><span style="color:red">một mẫu sống
riêng</span></b>.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Trong một
bài giảng, có lần ngài giải thích, các ngọn nến mùa vọng nhắc
nhở các em về những ngàn năm của lịch sử nhân loại trước Đức
Ki-tô, những ngàn năm của tăm tối và chưa được cứu rỗi. Và ki-tô
hữu đã đặt cho thời gian sau khi Chúa sinh ra một cái tên thật
đẹp : « anni salutis reparatae », những năm của ơn cứu độ được
tái lập.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Nếu ta quan niệm thời
gian cứu độ một cách máy móc, xem đó như là một cái gì đã được
thiết lập chắc chắn, cứ việc vào đó nhặt ơn cứu độ mà xài, thì
điều đó chắc chắn không đúng. Ta vẫn thấy thực tế luôn phản lại
quan niệm trên. Chẳng hạn, chưa bao giờ có những cuộc chiến man
rợ và sắt máu như trong thế kỷta đang sống. Nó xấu xa hơn mọi
thời gian trước đó, vì ta không có được những phương cách để
kiểm soát sự dữ một cách tinh vi, hữu hiệu và hợp lí. </span>
</p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ơn cứu độ đã được trao
tặng cho ta không phải là một cái gì máy móc và bên ngoài. Nó
được tín thác vào tự do, và như thế cũng được đặt vào sự mỏng
dòn của tự do và vào bản chất dễ sa ngã của con người. Ơn cứu độ
luôn khởi sự một cách mới mẻ nơi mỗi người, chứ nó không đơn
giản đã có sẵn đó. Nó không do từ bên ngoài hay do quyền lực mà
có, nhưng chỉ bước vào khi tự do của ta mở cửa. Nhưng trên hết
và trong mọi chuyện vẫn là Chúa, <b><span style="color:red">Ngài
đi tới với ta và cho ta hi vọng</span></b>, hi vọng này mạnh hơn
mọi phá hoại và nó giúp con người trở nên hoàn thiện.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">ĐIỀU GÌ
THEO CHÂN ĐỨC KITÔ XUỐNG TRẦN? </span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT"> Đức
Giê-su cũng được nói đến như một « Adam mới ». Ngài là đấng
trung gian và hoàn thành mọi mạc khải. Có thể tóm kết trong một
vài câu ngắn về những gì mới mẻ đã theo chân Ngài xuống trần
gian ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Hãy nói về hình ảnh «
Adam mới ». Adam trước hết ám chỉ sự khởi đầu của thực tại con
người, là thuỷ tổ nhân loại. Nếu giờ đây Đức Ki-tô được gọi là «
Adam mới », thì điều đó có nghĩa là một khởi đầu đích thực đã
tới. Như vậy, cuộc khởi đầu trước đây phải hiểu là một mô hình
khởi thảo về Đức Ki-tô, và chỉ sau khi có Ngài thì khởi thảo kia
mới được rõ nghĩa. Vì vậy, ta có thể yên chí nói rằng, khuôn mẫu
con người đã được cắt đo theo thân hình Đức Giê-su, và con
người được kêu gọi bước vào hợp nhất với Thiên Chúa – vì chính
Đức Giê-su chẳng phải chỉ là người, mà là Con Người Thiên Chúa.
</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ta không nên hạn chế
cái đặc thù của Đức Giê-su vào trong từng lời nói hay từng việc
làm của Ngài. Thập giá, với lối đón nhận và chịu đau đớn của
Ngài, là một cái gì mới. Phục sinh là điều mới. Ngay việc sinh
ra từ một trinh nữ cũng mới (cho dù có nhiều huyền thoại về
chuyện đó). Sứ điệp yêu Chúa và yêu người như là toàn bộ giới
răn, hay là Thánh Thể, qua đó Ngài cho biết việc sống lại của
Ngài, đó là những cái mới lớn mà Ngài đã mang xuống trần. Tất cả
đều phản chiếu cái mới lạ thường này: Thiên Chúa không ở đâu xa
cả, Ngài không phải là một đấng nào đó không thể mường tượng
được, nhưng Ngài ở bên ta, Ngài đã trở nên làm một với ta, đụng
vào ta, đón nhận ta, cũng như ta đụng chạm được Ngài và có thể
đón nhận Ngài.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Như thế, cái đặc thù
đích thực của Đức Giê-su chính là con người Ngài – đấng vừa là
Chúa vừa là người. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Con người
Thiên Chúa đó cũng đã nói : « Tôi đến để vứt lửa xuống trần
gian. Tôi mừng nếu lửa đó bốc cháy ! » Và Ngài tiếp : “Anh chị
em nghĩ là tôi đến để đem bình an ư ? Không, tôi không đem bình
an, mà là chia rẽ ».</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Đó là câu nói mạnh ghê
gớm. Ngài dùng hình ảnh lửa, trước hết, để nói về cuộc khổ nạn
của mình, cuộc khổ nạn vì lửa tình yêu ; đó là bụi gai mới, bốc
cháy mà không rụi đi ; một thứ lửa có thể cho đi tiếp.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT"> Đức Giê-su không tới
để giúp ta thoải mái, nhưng Ngài vứt lửa tình yêu bốc cháy của
Thiên Chúa, của Thánh Thần xuống. Origenes đã ghi lại một câu
không chính thức của Đức Giê-su : « Ai tới gần tôi, là tới gần
lửa ». Nghĩa là ai tới gần Ngài, phải sẵn sàng để cho mình bốc
cháy. Ta nên đem những câu đó đặt ra cho Ki-tô giáo ngày nay,
một Ki-tô giáo đã trở nên tầm thường, chẳng còn gì nói nữa, muốn
tìm mọi cách để được an phận mà thôi. Ki-tô giáo là đạo lớn, bởi
vì lửa của nó lớn. Nó đốt cháy, không phải để thiêu rụi, nhưng
để làm cho mọi thứ trở nên sáng láng, tinh tuyền, giải thoát và
lớn lao. Làm ki-tô hữu, do vậy, tức là dám tín thác vào lửa đó.
</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Cũng có
một lời khác của Đức Giê-su : « Tôi trao cho anh chị em bình
an, tôi trao bình an của tôi cho anh chị em, tôi trao cho anh
chị em không như thế gian trao ».</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Hai câu trên phải đi
đôi với nhau, mới có thể hiểu được ý nghĩa lời của Chúa. Đức
Ki-tô là sứ giả của hoà bình. Tôi cho rằng câu này quan trọng
hơn. Nhưng ta chỉ hiểu đúng hoà bình của Ngài mang đến, khi ta
không coi nó tầm thường như việc bôi dầu cù là vào chỗ đau hay
xí xoá cho qua chuyện trong những cuộc tranh cãi về chân lí.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Khi một chính quyền
tìm cách tránh mọi xung đột và coi xung đột nào cũng có lí, hay
khi mỗi cá nhân tìm cách tránh đụng chạm, thì mọi chuyện sẽ bế
tắc. Nơi Giáo Hội cũng thế. Nếu nó chỉ tìm cách tránh xung đột,
để đừng gây bất an ở đâu cả, thì sứ điệp phúc âm sẽ không thể
nào đạt tới đích. Bởi vì sự có mặt của sứ điệp này cũng là để
gây mâu thuẫn nơi ta, để lôi con người ra khỏi những dối trá và
để tạo sáng tỏ, để tìm ra chân lí. Chân lí phải trả giá mắc. Nó
đưa ra đòi hỏi, và cũng đốt cháy. Trong sứ điệp của Đức Giê-su
Ki-tô cũng gồm cả thách đố trong những tranh luận giữa ta với
người chung quanh. Không phải chỉ việc dễ dãi quét lên một lớp
sơn cho đức tin xơ cứng và tự cao của ta là được, nhưng phải có
tranh luận mới có thể phá vỡ vỏ xơ cứng và đưa sự thật tới đích.
</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Như vậy
hoà bình của Đức Giê-su Ki-tô trước hết mang tính cách gây gỗ ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Nó bắt ta đối diện với
những dối trá của mình. Nó lôi ta ra khỏi sự thoải mái và đẩy ta
vào cuộc chiến đấu, vào nỗi đau của chân lí. Chỉ như thế hoà
bình giả, với bao nhiêu giả hình và mâu thuẫn hàm chứa trong nó,
mới có thể thay thế được bằng hoà bình đích thực.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Câu nói về lửa đi liền
với câu nói quan trọng hơn về hoà bình trên kia. Nhưng câu này
đồng thời cho thấy hoà bình chân chính không phải tự nhiên mà
có, rằng chân lí đi liền với đau khổ và tranh đấu, rằng tôi
không được phép chấp nhận dối trá để được yên mình. Được yên ổn
không phải nhiệm vụ đầu tiên của người công dân và của ki-tô
hữu, nhưng là bảo vệ và tranh đấu cho cái lớn lao mà Đức Ki-tô
đã ban tặng cho ta, với giá đau khổ và có thể đi đến chết vì đạo
– và chính vì vậy nó mới tạo ra hoà bình. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">TIN MỪNG
</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT"> Đức
Giê-su nói về lửa và gươm giáo, nhưng Ngài cũng nói : « Hãy học
với tôi ! » Vì nhờ đó « anh chị em mới gặp được yên ổn tinh thần
». Ngài nhân từ trong sự thật và khiêm tốn trong tâm hồn. Và nữa
: « Ách của tôi không nặng, gánh của tôi nhẹ nhàng ». Phải chăng
đó là tin mừng của Ngài ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Vâng, nhưng ta biết
những câu an ủi đó của Ngài cũng mang đòi hỏi lớn. Tuy nhiên,
trước sự đau khổ của chân lí và lửa đốt của Đức Ki-tô mà ta vừa
bàn trên, những câu này cho ta thấy mọi chuyệt rốt cuộc rồi sẽ
đi về đâu.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Đức Ki-tô là hiện thân
cho lòng nhân từ to lớn và tinh tuyền của Thiên Chúa. Ngài đến
không phải để làm gánh nặng thêm, nhưng là để cùng ta gánh vác.
Ngài không cất gánh nặng làm người – gánh khá nặng – nơi ta,
nhưng ta không còn phải gánh nó trong đơn độc, mà có Ngài chung
vai. Trong Đức Ki-tô không có sự thoải mái, tầm thường, nhưng ta
gặp được trong Ngài sự yên ổn tâm hồn, vì biết rằng ta được Ngài
chở che và yêu thương đến cùng.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ta thấy toàn bộ sứ
điệp của Đức Ki-tô không dễ dàng, nó chứa đựng đòi hỏi lớn. Sứ
điệp đó luôn đi liền với thập giá. Ai không muốn bị thiêu đốt,
hay ít nhất không muốn sẵn sàng chấp nhận nó, người đó không thể
tới được gần Ngài. Nhưng ta cũng hiểu rằng trong sứ điệp đó chứa
đựng lòng từ ái đích thực, một lòng từ ái hay cứu giúp và chấp
nhận ta – và nó không những đưa tới cho ta điều tốt, mà còn giúp
ta được thoải mái. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">ĐƯỜNG
</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT"> </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Cuộc đời
Đức Giê-su để lại trần gian rất ít dấu vết hiện vật. Ngài không
xây đền thờ, không chiếm cứ thành nào và cũng không in tiền.
Cũng không có văn bản của một tác giả cổ điển nào đề cập xa gần
tới Ngài, nhiều như trong các tài liệu Tin Mừng Tân Ước. Các tài
liệu này lên tới hàng ngàn văn bản, và văn bản xưa nhất chỉ được
viết sau thời Ngài vài ba chục năm.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Chúng ta
đã nói chuyện về khoa phê bình lịch sử, khoa này tỏ ra hoài nghi
về cuộc đời và sứ điệp của Đức Ki-tô. Họ bảo rằng, không rõ Ngài
sinh ra ở đâu vào thời điểm nào, không hiểu bài giảng trên núi
thật có cấu trúc và nội dung như hiện nay không. Những nhà
nghiên cứu mới đây còn cho rằng, có lẽ Ngài đã không tự xưng
mình là Messias. Họ bảo, lúc đó là cao điểm của những trông chờ
tận thế, nên nhiều điều liên quan tới Ngài có thể giải thích
được theo hướng đó. Tôi muốn đào sâu điểm này: Khoa nghiên cứu
phê bình như vậy là sai với lịch sử, và đặc biệt có hại cho đức
tin?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Khoa phê bình lịch sử
quả đã có những thành tựu lớn. Nó giúp ta hiểu nhiều chuyện
chính xác hơn. Nhưng nó cũng có những giới hạn, nhất là khi nó
nghiên cứu loại tài liệu như của Kinh Thánh. Lối nghiên cứu đó
nhằm khai quật quá khứ qua các bản văn nói chung và trong điều
kiện những quy luật chung về lịch sử. Nhưng những biến cố trình
thuật trong các Tin Mừng không nằm trong những quy luật chung
đó, và như vậy chúng chống lại việc tổng quát hoá thiếu sót của
phương pháp nghiên cứu này.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Với thời gian, người
ta đã cố gắng đào bới lên và phân biệt những nguồn gốc khác nhau
trong các bản văn; đây cũng là điểm quan trọng. Nhưng tổng quát
mà nói, đó cũng chỉ là những lối thử luôn thay đổi, và giá trị
nội dung xác xuất của chúng bị giới hạn. Nhất là, với câu hỏi ai
là người làm ra Tin Mừng, thì trả lời của họ lại tạo ra những
nghi vấn lớn hơn là nếu như ta, một cách chung, chấp nhận các
bản văn đó trong toàn bộ của chúng là đáng tin và có tính lịch
sử. Bởi vì nếu không như thế, thì ta phải chấp nhận rằng, chỉ
trong một khoảng thời gian rất ngắn của thời đại đó đã xẩy ra
một kho khám phá kinh khủng về những chuyện thần kì. Làm sao bản
văn Tin Mừng có thể được chấp nhận nhanh như thế? Ai là những
tác giả đã có thể phổ biến bản văn đó ra thế giới? Tại sao các
bản văn đó lại có một hình dung nhất thống về Giáo Hội - tất cả
những điều đó đã không có trả lời. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Thế thì
câu trả lời ở đâu?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Bản văn Tin Mừng có
đặc điểm riêng của nó, điểm này cần phải coi trọng. Toàn bộ các
bản văn phản chiếu một thực tại hoàn toàn đi ra ngoài khung lịch
sử bình thường. Thực tại đó phù hợp với chính nó, và vì thế
trước sau nó đáng cho ta tin tưởng vào tổng thể của nó. </span>
</p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ta phải nói thêm,
chẳng có một phương pháp phê bình lịch sử, mà cũng chẳng có
những kết quả cụ thể. Có những nhà khoa học trước sau vẫn rất
tin vào bản văn và cũng đưa ra những lí chứng khách quan về mặt
phương pháp. Và cũng có những người vứt bỏ tất cả - nhưng họ lại
phải nghĩ ra những lí do để giải thích tại sao toàn bộ câu
chuyện đã xẩy ra như thế. Họ hoàn toàn lần mò trong bóng tối, và
vì không tìm ra nguồn nào cả, nên nỗ lực của họ lại thành ra
tưởng tượng. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Ta hãy
nhìn kĩ hơn chút nữa các tác giả Tin Mừng. Trước hết là
Mát-thêu. Ngài mang một tên kép, chuyện hơi lạ vào thời đó:
Matthaj-Levi, người thu thuế hay để tiền thuế rơi vào túi riêng
mình và là người cộng tác với chính quyền Rô-ma. Tin Mừng viết
về ngài: „Và khi Đức Giê-su đang ăn tại nhà ông, có nhiều người
thu thuế và người tội lỗi tới với Ngài và với các môn đệ Ngài“.
Mat-thêu như vậy chẳng phải là người thật thà và đáng cậy.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Có lẽ ta phải đi sâu
vào nguồn tài liệu. Trước đây, Tin Mừng Mat-thêu được coi là bản
Tin Mừng cổ nhất. Một nhà văn vào thế kỷthứ hai sau công nguyên,
Papias, ghi chú rằng, Mat-thêu viết nó bằng tiếng Do-thái
(Hebräisch), sau đó bản văn được dịch ra tiếng Hi-lạp. Nhờ thông
tin phong phú, kết cấu nội dung và tính cách dễ đọc của nó, bản
văn đã trở thành Sách Tin Mừng của Giáo Hội, được mọi người
trích dẫn. Sau đó thêm vào Lu-ca và Mac-cô, nhưng Mat-thêu vẫn
là bản xưa nhất, có giá trị nhất, được Giáo Hội dùng nhiều nhất
trong phụng vụ và đức tin.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Theo các kết quả
nghiên cứu, nội dung văn bản của ba vị Mat-thêu, Lu-ca, Mac-cô
quyện lẫn và lệ thuộc vào nhau. Tại sao có chuyện này, câu hỏi
chỉ được đặt ra mới đây. Ngày nay, một phần lớn các nhà phê bình
cho rằng, không thể quy cho tông đồ Mat-thêu viết bản đó được,
bởi vì bản văn có niên đại trễ hơn, nó được viết vào khoảng cuối
thế kỷthứ nhất trong một công đồng do-thái ở Siri.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Nói chung, việc hình
thành các bản văn Tin Mừng diễn ra trong một quá trình phức tạp.
Trước hết, người ta thu thập các lời truyền miệng của Đức
Giê-su rồi sau đó chép ra. Nhà chú giải vừa mới mất ở Erfurt,
giáo sư Heinz Schürmann, lập luận rằng, việc ghi nhớ bằng miệng
những lời của Đức Giê-su đã được các tông đồ thực hiện từ lúc
Ngài còn sống. Nghĩa là, khởi đầu chỉ có những lời truyền miệng.
Bên cạnh những lời đó, còn có những lời truyền về các biến cố,
về truyền thống địa phương và những thứ khác. Chủ thể của việc
lưu truyền không phải là những cá nhân, mà là các cộng đoàn tín
hữu, và qua họ là cả Giáo Hội. Rồi đến việc ghi chép ra. Lúc đó,
các nhà viết Tin Mừng đã có sẵn một kho lưu truyền phong phú, họ
dựa chủ yếu trên đó mà chép, ngoài ra mỗi người còn thêm vào
những viễn kiến thần học riêng của mình. Ngày nay, người ta cho
rằng bản Tin Mừng Mac-cô là bản cổ nhất, chứ không phải là bản
Mat-thêu. Mat-thêu và Luca đã viết dựa chủ yếu trên nền của
Mac-cô và làm giàu thêm bởi những nguồn tài liệu sẵn có khác.
Tin Mừng Gio-an có một gốc và khuôn hình thành hoàn toàn riêng.
Không phải chỉ có một người viết ra ba bản Tin Mừng đầu tiên, đó
là điểm quan trọng. Và cũng quan trọng là toàn bộ quá trình lưu
truyền về đức tin của Giáo Hội, ngay từ đầu, đã được gói trọn
trong các Tin Mừng đó, và quá trình lưu truyền đó sau này rốt
cuộc đã được viết ra. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Vấn đề ai là người
viết, như thế, trên một bình diện nào đó, thuộc vào hàng thứ
yếu. Phong cách riêng của Lu-ca được nhận diện rất rõ, ngài là
tác giả của bản Tin Mừng thứ ba và của sách Công-vụ Tông-đồ,
điều này không ai chối cãi. Mac-cô, học-trò của Phê-rô, cũng cho
thấy rõ phong cách là người viết Tin Mừng của mình. Ngày nay chỉ
còn không rõ ai là tác giả của Tin Mừng Mat-thêu. Quan trọng là
ngay từ đầu chỉ có những truyền miệng, đó là thói quen rất
thường thấy ở phương đông. Điều này là một biểu chứng cho sự gần
gũi với nguồn gốc lịch sử. Nội dung Tin Mừng chép lại từ kho
truyền miệng đó đã kinh qua một quá trình kiểm tra của cộng đoàn
(có đôi chút thêm thắt sửa đổi tùy theo cộng đoàn nhận bản văn,
nhưng nội dung chính thì vẫn được giữ nguyên). </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Còn về con người
Matthaj-Levi, anh chỉ đề cập tới quá khứ của ngài mà thôi. Sau
cuộc gặp Đức Giê-su, Mat-thêu đã trở thành một con người khác.
Ngài đã bỏ đường cũ mà bước theo con đường Đức Giê-su. Qua cuộc
sống cộng đoàn với anh em tông đồ, với Đấng Phục Sinh, và qua
công tác truyền giáo, ngài đã tỏ ra là một con người thật sự
„đổi mới“, và như vậy là một người đáng tin, đáng cậy. </span>
</p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Tác giả
Tin Mừng Lu-ca là một thầy thuốc. Điều quan trọng nhất của ngài
là muốn cho người đọc nhận ra vai trò cứu thế, vai trò cứu độ
thân xác và tâm hồn của Đức Giê-su. Với ngài, Đức Giê-su là
người thâm cảm và có lòng thương đặc biệt đối với thành phần bên
rìa xã hội. </span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Nhưng ta
hãy nói về Tin Mừng Gio-an. Ngài bảo Tin Mừng này được đổ từ một
khuôn riêng. Dù sao, Tin Mừng này mang nét thâm trầm hoàn toàn
khác. Các Tin Mừng nhất lãm (Mat-thêu, Lu-ca, Mac-cô) cho thấy
nhiều về Con Người; còn Tin Mừng Gio-an tỏ ra như là một cuộc
đối đáp với các nhà thông thái – và nhất là nó cho thấy toàn bộ
vinh quang của Con Thiên Chúa. Tôi nghĩ đây là bản Tin Mừng mà
Hồng Y ưa nhất.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tôi rất thích bản đó,
nhưng phải nói ngay, tôi cũng rất ưa bản của Lu-ca. Trong đó ta
có được những dụ ngôn tuyệt vời về anh nhà nghèo La-da-rô, về
người Sa-ma-ri-ta, về đứa con đi hoang. Ngài là một nhà văn lớn,
trong sách ngài chứa những “hạt ngọc” đặc biệt. Cả câu chuyện về
cuộc đời niên thiếu của Đức Giê-su cũng tuyệt. Mỗi tác giả Tin
Mừng có một nét riêng. Phải nói, tôi đặc biệt yêu Lu-ca qua nét
nhân bản thâm sâu, đồng thời cũng là chân trời mở ra đời đời của
ngài. Với tôi, tập hợp các bản nhất lãm là một nét đẹp không thể
thay thế được, chính bởi vì chúng không mang nét riêng tư, nhưng
qua đó ta cảm được sự truyền thừa sống động trong Giáo Hội,
truyền thừa đó dần dần đã được đúc kết lại trong một bản văn
liên kết với nhau. Nhưng sách Gio-an quả có một chiều sâu vời
vợi, nó luôn làm cho tôi say mê. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Đôi khi
câu chuyện về Đức Giê-su mang nét hư cấu. Chẳng hạn, Ngài bám
chặt vào các bí số của Cựu Ước. Ngài ở trong sa mạc 40 ngày, làm
đúng 7 phép lạ, kể ra 12 dụ ngôn, đặt 12 tông đồ…</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tất cả các Tin Mừng
đều nói tới 12 tông đồ. Điều này chẳng có gì lạ. Nếu Đức Giê-su
quả thật muốn xây dựng một Is-ra-en mới, nếu Ngài coi mình là
người của Thiên Chúa phái đến để làm mới Is-ra-en và mang ánh
sáng cho mọi dân tộc, thì việc Ngài lấy lại biểu tượng 12 chi-họ
Is-ra-en thông qua việc đặt 12 ông tổ mới là chuyện thường tình,
làm như thế là Ngài muốn dùng một cử chỉ biểu trưng để diễn tả
bước đầu của một Is-ra-en mới.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">40 ngày hoang địa lập
lại hình ảnh 40 năm của dân Is-ra-en trong sa mạc. Còn con số về
dụ ngôn và phép lạ thì mỗi Tin Mừng mỗi khác. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Dù vậy,
Tin Mừng luôn mang tính giáo huấn. Có nhiều đoạn xem ra là những
hoạt cảnh thêm thắt, dùng để dấy động hoặc tuyên truyền.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Vâng, chúng là bài
giáo huấn, mà cũng là chứng từ. Chính Gio-an bảo, ngài viết ra
để làm chứng. Đó là nguyên tắc nền tảng khi ta đọc Tin Mừng. Tin
Mừng muốn diễn tả chính Đức Giê-su, qua lời Ngài nói, việc Ngài
làm, khổ đau Ngài chịu. Tin Mừng không chỉ muốn huấn giáo, mà
còn muốn tạo gặp gỡ với một biến cố, biến cố đó cũng mang nội
dung tinh thần và cung cấp kiến thức. Tin Mừng vừa nói với con
tim và trí óc. <br>
<br>
<b><span style="color:red">ĐƯỜNG – SỰ THẬT – SỰ SỐNG </span></b>
</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT"> Đức
Giê-su mang nhiều đồng nghĩa lạ lùng: Ngài là bánh hằng sống, là
muối cho đời, là ánh sáng thế gian. Ngài nói về mình: „Tôi là
đường, là sự thật và là sự sống. Ai tin tôi, sẽ không chết đời
đời“ . 2000 năm sau giáng sinh, ta có thể trả lời một cách minh
bạch câu hỏi Đức Giê-su là ai không?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Nếu giờ đây chỉ có
việc đào bới lịch sử 2000 năm lên để tìm câu trả lời, thì như ta
đã nói, phương pháp lịch sử đã gặp giới hạn của nó. Nhưng đây
không phải vậy.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ta thấy chủ thể sống
động, được hình thành lên từ việc rao truyền, là Giáo Hội vẫn
giữ nguyên bản sắc của nó, và bản sắc đó đã có ngay từ đầu. Giáo
Hội có thể nói hiện diện đồng thời với Đức Giê-su, và sự song
hành đó đã kinh qua mọi thời gian.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Như vậy, cuộc đào bới
phi thường 2000 năm cũng không tách ta ra khỏi Đức Giê-su. Cái
chủ thể làm chứng về Ngài một cách sống động (là Giáo Hội), và
có thể nói đã cùng với Ngài xưng „Tôi“ ngay từ đầu, vẫn hiện
diện không ngừng. Qua Giáo Hội ta thấy sự hiện diện sống động
của Ngài. Qua Giáo Hội, ta có thể nhận ra nguồn cội hình thành
của nó. Dĩ nhiên, trong đó cũng có đức tin, mà nếu không có một
hình thái cảm thông, không có đức tin, tôi không thể nhận ra
người khác. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Có lần
tôi thấy một bức ảnh trong nhà thờ ở Na-da-ret. Ảnh vẽ cậu
Giê-su đang vụng về trên chiếc bàn thợ mộc. Maria ngồi bên cạnh,
lo và sầu não. Và gương mặt ông thợ mộc Giu-se lộ vẻ ngài biết
trước con mình sẽ không nối được nghiệp cha. 12 tuổi, cậu Giê-su
muốn bỏ gia đình („con phải ở nhà Cha con“). Năm 30 tuổi dân
Na-da-ret muốn xô Ngài từ núi xuống.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Khởi đầu, Ki-tô giáo
không muốn lưu truyền công khai câu chuyện thời niên thiếu của
Đức Giê-su. Chỉ với Lu-ca và Mat-thêu, câu chuyện mới xuất hiện
theo cách kể khác nhau. Khác với công việc của một sử gia, Tin
Mừng không muốn đề cập tới bất cứ một tiểu sử nào của Ngài, mà
chỉ muốn làm chứng về điều mà ta cho là quan trọng. Và các thánh
sử không muốn kể lại thời ở ẩn, mà chỉ muốn nhắc đến gốc gác đặc
biệt của Ngài, gốc này được coi là ngôi sao ngay từ đầu xuyên
chiếu đời Ngài, và nói về sứ điệp của Ngài.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Hình ảnh thánh gia mà
anh thấy chỉ là do lòng đạo đức tưởng tượng vẽ ra, nhất là từ
thế kỷ19 người ta chú tâm tới đề tài Na-da-ret và đã vẽ theo cảm
quan riêng của mình. Với lại kiểu tiểu gia đình như thế ở
Pa-les-tin ngày xưa không có. Thời đó họ sống đại gia đình theo
lối chung cả bộ lạc, cũng vì thế mới có chuyện Kinh Thánh nói
tới những người anh em của Đức Giê-su.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Thế kỷ19 đã suy diễn
mọi chuyện theo một ánh sáng mới. Ta thấy cao điểm của nó nơi
Charles de Foucauld*, người đã tạo cho Na-da-ret một sứ điệp
thầm lặng, khiêm nhường và hối cải. Dĩ nhiên Foucauld đã khám
phá ra được những điểm quý giá. Nhưng những điểm đó không trực
tiếp nói lên tâm điểm của sứ điệp như đã được trình bày trong
Tin Mừng. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Tại sao
Đức Giê-su 30 tuổi mới ra công khai? Như vậy Ngài chỉ có 3 năm
để rao giảng.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Trong thế giới và hoàn
cảnh của Is-ra-en thời đó không phải một thanh niên nào cũng có
thể xuất hiện được. Ai muốn thi hành vai trò một Rabbi (giáo
trưởng), dù Đức Giê-su không phải là một Rabbi theo đúng nghĩa,
phải trải qua một thời gian ít nhất 30 tuổi. Vì vậy mới có
chuyện xuất hiện vào năm 30, chứ không sớm hơn. Sứ điệp Đức
Giê-su mang chiều sâu nội tâm, nên cần đủ thời gian suy tư.
</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Có lần
Ngài về thăm quê hương. Và đồng hương hiếu kì đã phải lắc đầu
thắc mắc: „Đó không phải là anh con ông thợ mộc sao? Do đâu mà
anh ấy bỗng nhiên có được nhiều khôn ngoan và sức mạnh đến thế?“
Và Kinh Thánh tiếp: „Có phải bà Maria là mẹ anh, và Gia-cô-bê,
Giu-se, Si-mon và Giu-đa là anh em của anh ta không? Có phải các
chị em của anh ta đang sống giữa chúng ta không?“</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Chỗ này
Kinh Thánh nhắc tới tên bốn người anh em và số chị em không được
xác định. Nếu tôi nhớ không lầm: Giáo Hội chưa bao giờ bảo
Giê-su là con một của trinh nữ Maria?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Trong một thôn nhỏ như
Na-da-ret hẳn ai cũng biết nhau. Vì thế, khi một người cùng sống
bình lặng trong họ bỗng nhiên có được một hiểu biết như thế, thì
mọi người thắc mắc là phải. Và càng gần người đó bao nhiêu,
người ta càng tỏ ra thắc mắc. Người ta không tin vào sự thay đổi
đó và muốn kéo Ngài về với thường tình. Vì thế mà Đức Giê-su đã
nói: „Không một tiên tri nào được tiếp đón nơi quê hương mình“.
Còn chuyện anh chị em của Ngài, Giáo Hội trước sau vẫn tin đức
trinh nữ Maria chỉ có Ngài là con một mà thôi. Qua Ngài, mẹ
Maria thuộc về Thiên Chúa, và vì thế có thể nói Mẹ không thể trở
về với một cuộc sống gia đình bình thường được. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Từ „anh chị em của
Giê-su“ được cắt nghĩa theo cấu trúc gia đình thời đó. Và cũng
có đủ bằng chứng để biết rằng những trẻ trên không phải là con
của Maria. Chẳng hạn như Tin Mừng ở đây cũng nói tới một bà
Maria khác, và những chuyện khác đại loại như thế. Tin Mừng chỉ
nói xa gần về những liên hệ gia đình cá biệt, và ở đây ta hiểu
là có nhiều gia đình liên hệ với nhau. Dưới chân thập giá, Đức
Giê-su trao Gio-an như là con cho Mẹ, điều đó cho thấy nét đặc
thù nơi Mẹ, và Mẹ là Mẹ của riêng Ngài một cách đặc biệt mà
thôi. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ta không thể giải toả
vấn nạn trên bằng thuần lịch sử. Không thể chứng minh mẹ Maria
chỉ có một con mà thôi. Trái lại, ta cũng không thể chứng minh
những người trên phải là anh chị em ruột của Đức Giê-su. Có
nhiều lí chứng – về điểm này Josef Blinzler có viết một cuốn
sách hay – cho thấy rằng những người trên là con của các gia
đình khác trong bộ tộc, và Kinh Thánh gọi chung họ là anh chị em
của Ngài. Ngoài ra, ý niệmanh chị em của Giê-su cũng là một ý
niệmđược đưa ra trong Giáo Hội sơ khai, nó nói lên những căng
thẳng giữa một bên là kiểu gia đình Đức Giê-su theo khuynh
hướng do-thái giáo khắt khe, với bên kia là những khuynh hướng
khác cùng có mặt trong buổi bình minh của Giáo Hội.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<a name="3._ĐƯỜNG_ĐI_"><span style="color: #FF0000" lang="it">
<b>3</b></span><span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT"><b>.
ĐƯỜNG ĐI</b></span></a></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">ĐỨC GIÊSU
ĐÍCH THỰC LÀ AI?</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Đôi khi
Đức Giê-su tỏ ra như người thô bạo giận dữ. Buổi sáng nọ, Ngài
trở lại thành, đang cơn đói lại gặp ngay cây vải bên đường đầy
lá mà chẳng có lấy một quả nào. Ngài buông lời chúc dữ: „Suốt
đời mày sẽ chẳng có quả nào nữa“. Lập tức cây vả chết khô.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Chuyện cây vả mang
tính „điển hình“, có nghĩa là, đối với các tiên tri trong
Is-ra-en xưa, đó là một dấu chỉ tiêu biểu. Trong trường hợp
trên, cây vả biểu tượng cho dân Is-ra-en, và chính câu chuyện
này đi liền với cuộc khổ nạn, trong đó cuộc vật lộn để chiếm
lòng dân Is-ra-en đã đạt tới cao điểm của nó. Tuy nhiên cây vải
không mang trái đã vượt ra khỏi vòng biểu tượng và trở thành thí
dụ chung cho việc mang hoa kết trái.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Đấy không phải là một
cơn giận nhất thời, nhưng Đức Giê-su dùng cử chỉ biểu trưng đó
để nói lên rằng, dân tộc nào, cộng đoàn nào, nhóm nào mà chỉ có
sinh lá, chỉ nghĩ tới mình mà thôi, và chẳng tạo ra được gì để
phục vụ kẻ khác, thì sẽ héo khô và chết. Có một loại Ki-tô giáo
chỉ tạo ra lá và giấy má mà thôi, thứ đó cũng sẽ chết khô. Vì
thế ta phải nhìn câu chuyện trên từ góc độ của Con Thiên Chúa,
từ hàng ngàn năm trước Ngài đã cung cấp cho ta một viễn tượng
tiêu biểu qua hình ảnh trên.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Có lần
Ngài trách móc cả thành, vì dân thành không chịu hối cải, chẳng
hạn như: „Này ngươi, Ca-pha-na-um, ngươi bảo ngươi sẽ được cất
lên trời ư? Không, ngươi sẽ bị tống xuống hoả ngục“.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ở đây, Ngài đang nói
với một thành có cuộc sống quá vướng mắc, nơi mà theo Ngài lẽ ra
phải có một cuộc sống đức tin gương mẫu. Ngài chứng nghiệm nơi
đây tâm lí gần chùa gọi bụt bằng anh. Họ chẳng quan tâm thật sự
gì tới Ngài cả, đức tin do đó đã không lớn lên được. Vì thế,
cũng như các thành khác, thành này đã trở nên biểu tượng của toà
phán xét, của thất bại, của hư mất.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Rõ ràng ở đâu hay cộng
đoàn nào từ chối Chúa, ở đó thế nào rồi cũng sẽ rơi vào số phận
của Gô-mô-ra. Một xã hội trong đó con người xa rời Thiên Chúa
hằng sống, cộng đoàn đó tự chặt đứt rễ xã hội tính của mình.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Những số phần như thế
hiện nay cũng đang xẩy ra. Ta chỉ cần nghĩ tới những xã hội vô
thần, nghĩ tới những vấn nạn đang xẩy ra trong quá trình tan rã
sau 50 năm sống dưới chủ nghĩa cộng sản nơi các quốc gia tiếp
nối Liên-bang Sô-viết thì rõ. Các xã hội đánh mất Thiên Chúa đó
quả thật đã giật sập chính nền tảng sống của họ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Ngay cả
đối với Phê-rô, Đức Giê-su cũng tỏ ra vô cùng bực bội, nặng
lời: „Hãy cút đi khỏi mắt ta, Sa-tan, anh muốn đưa ta vào bẩy“.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Giê-su dành cho Phê-rô
một mối thân tình đặc biệt, vì thế những lời như trên không có
gì quá đáng. Nhìn qua phản ứng của Phê-rô ta cũng biết điều đó.
Ông biết, mình đã làm sai hoàn toàn. Ở đây, ông muốn cản lại con
đường thập giá của Thầy mình. Ông bảo với Thầy, thập giá không
hợp với sứ mạng của Thầy, đó không thể là đích điểm kết thúc của
Thầy, mà Thầy phải thành công cơ. Như thế, Phê-rô lặp lại chước
cám dỗ nơi hoang địa mà chúng ta đã nói, cám dỗ về một đấng
Messias được đưa lên lưng ngựa chính trị và phải thành công.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Đó là một cám dỗ luôn
xẩy ra trong muôn hình nhiều vẻ. Chẳng hạn như việc người ta
muốn lập nên một xã hội lý tưởng bằng một Ki-tô giáo mác-xít:
nhân loại sẽ được cứu độ, một khi họ có đủ tiền bạc và hàng hoá.
Chính đây là điểm mà Đức Giê-su chống. Khi đưa ra mô hình đó,
có thể nói Phê-rô đã khoác vào mình vai trò của Sa-tan trong
hoang địa. Phê-rô hiểu điều đó; và ông hiểu rằng, dù cho tới
cuối đời luôn phải vật lộn với bài toán thập giá khốn nạn và
phải chống lại giải pháp thành công rất người kia, ông cũng phải
học nét đặc biệt nơi Đức Giê-su.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT"> Đức
Giê-su có ác cảm thật sự đối với một số người. Ngài gọi họ là
„rắn độc“, là „lãnh tụ đui mù“. „Các ngươi sàng muỗi ra nhưng
lại nuốt cả lạc đà“. „Này, những nhà thông luật và Pha-ri-sêu
giả hình, hãy coi chừng. Các ngươi đóng bịt cửa không cho ai vào
thiên đàng“. Quả thực, Đức Giê-su là người đấu tranh cho sự
thật, cho sự nhất thống giữa nói và làm, giữa lời giảng và cuộc
sống. Ngài kinh tởm đám thông luật: „Chúng buộc những gánh nặng
và choàng lên cổ người khác, nhưng chính mình thì lại chẳng muốn
đụng một ngón tay vào gánh nặng ấy“.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tôi tin Chúa cũng sỉ
vả những người đạo đức giả với những lời đó. Nhìn từ góc độ
Thiên Chúa thì những người này chống lại Đức Giê-su. Ngài coi
những kẻ xem ra đạo đức và thông thái kia chỉ là những tay đóng
kịch. Và ở đây, Ngài cũng lại nói cho những thế hệ về sau nghe.
Ta biết, Luther đã dùng những lời trên để kết án chính hàng giáo
phẩm công giáo. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Dĩ nhiên, chúng ta
không thể kết án một cách dễ dãi được như thế. Nhưng trên thực
tế, tất cả những ai mang trách nhiệm rao giảng lời Chúa phải
thức tỉnh với những lời đó, và phải luôn tự hỏi, có phải mình
cũng thuộc vào những hạng trên không. Về chuyện này, có một tập
sách nhỏ của giáo phụ Maximus Confessor, trong đó vị tu sĩ có
một bài giảng thấm thía. Ngài bảo, những câu trên được nói cho
chúng ta nhiều hơn là cho những người Pha-ri-sêu trước đây. So
với họ, chúng ta còn tệ hơn, là vì ta nhận được ánh sáng nhiều
hơn, trong khi vẫn sống trong trái ngược, nhỏ nhặt, giả dối.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Còn những nhà thông
luật, có thể nói họ biết từng chữ trong kinh sách, họ là những
nhà chú giải, những chuyên viên Kinh Thánh, họ thuộc cả chỗ nào
tiên tri nào nói gì. Nhưng đó là cái biết không có sức sống. Họ
chỉ biết chẻ lời kinh sách ra thành những chi tiết và chẳng nhận
ra sức sống trong đó nữa. Đó cũng là lời cảnh cáo cho những nhà
chú giải chuyên môn. Dĩ nhiên họ biết mọi chuyện, nhưng Kinh
Thánh của họ chỉ còn là một bộ xương, một vật thí nghiệm để họ
có thể chiết phân. Với lối làm đó, họ đã đi ra quá xa sứ điệp
chứa đựng trong đó. Trái lại, những kẻ đơn sơ lại nghe hiểu sứ
điệp rõ hơn những đầu óc chất đầy kiến thức, nhưng lại mù và
điếc với nội dung đích thực của Tin Mừng.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Hẳn Đức
Giê-su cũng là một người thiếu kiên nhẫn. Có lần Ngài lệnh cho
trưởng tông đồ Phê-rô bước đi trên biển. Ngài gọi ông bước tới.
Và Phê-rô tới. Ông bước ra khỏi thuyền và quả thật đi được trên
mặt nước. Nhưng khi gió nổi lên mạnh, ông bắt đầu sợ và chìm.
Đức Giê-su lắc đầu: „Cái anh yếu tin, tại sao anh hoài nghi?“</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ngài nói ra điều
Phê-rô nghĩ trong đầu. Cũng giống như lần kia trời giông bão,
các môn đồ thất vọng, vì thấy Thầy mình chẳng tỏ ra âu lo gì,
ngay cả khi thuyền đã đầy nước. Và sau khi thức dậy cứu họ, Ngài
bảo „Các anh yếu tin quá“.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT"> Đức Giê-su muốn để
cho các môn đồ thật sự nhận ra mình, muốn để cho họ phải biết
rằng, Ngài sẽ không để cho họ bị chìm. Ngài muốn cho họ thấy
Ngài là ai, và cho thấy đức tin của họ vào Ngài còn quá yếu, đến
chỉ một ngọn gió nhẹ cũng đủ thổi bay.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Trong cảnh trên,
Phê-rô không nhìn vào Đức Giê-su nữa, nhưng đôi mắt ông chỉ
thấy những yếu tố trần thế. Dĩ nhiên, dựa theo tính toán xác
xuất thì Phê-rô có thể sẽ chìm ngay khi bước xuống mặt nước.
Nhưng ông đã liều mình, chỉ còn biết nghe theo tiếng gọi của
Thầy. Với Ngài, trong Ngài và với nghị lực của mình, có thể nói
Phê-rô cũng có thể bước qua được những yếu tố chết của trần thế.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Đây cũng lại là một dụ
ngôn có ý nghĩa thâm sâu. Nếu ta dựa vào yếu tố xác xuất của các
biến cố thiên nhiên, và nhìn vào tất cả những gì có thể hiểu
được, thì xem ra Ki-tô giáo quả vô cùng bấp bênh. Và nếu mắt ta
chỉ dõi theo những gì là mốt, tai ta chỉ còn nghe gió thời
thượng thổi, thì đức tin có thể sẽ chìm. Vì thế, có lẽ ta phải
nói theo Phê-rô: Không thể như thế được nữa! Nếu ta làm thế, ta
sẽ đánh mất neo cuộc sống, chiếc neo giúp ta chiến thắng trọng
lực của sự chết, trọng lực của lịch sử và những bất khả thể của
nó. Tin có nghĩa là chống lại lực hút kéo ta đi xuống. Tin có
nghĩa là gắn bó với đấng có lực hút đối nghịch, lực đó kéo ta đi
lên, giữ nâng ta, và dẫn ta vượt qua những yếu tố sự chết.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Có lần,
đang lúc rảo bước trong vùng dân ngoại, trong địa hạt hai thành
Tyrus và Sidon, Đức Giê-su muốn nghỉ ngơi, nghỉ giảng và hết
làm phép lạ. Cả khi một bà mẹ khẩn khoản nài van Ngài trừ thần
xấu đang vùi dập đứa con gái bà, Ngài cũng đã xua đuổi thẳng
thừng: „Tôi chỉ được sai tới giúp những con chiên lạc nhà
Is-ra-en mà thôi“. </span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Có một điều lạ trong
đời Đức Giê-su, là chính Ngài không rao giảng cho dân ngoại.
Chỉ sau khi sống lại, Ngài mới uỷ việc đó cho các môn đệ. Thoạt
tiên, có thể nói, Is-ra-en được ưu tiên. Đó là dân riêng Chúa
chọn, là điểm khởi đầu để Chúa hành động. Và Ngài đã đã giữ độc
quyền cứu độ đó cho Is-ra-en. Trong cuộc đời tại thế, Đức
Giê-su đã vật lộn với việc chiếm lòng dân này, Ngài chiến đấu để
làm sao cho dân này nhận ra Ngài là người họ trông chờ, làm sao
để họ kết hiệp với Ngài, để từ đó biến đổi thế giới.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Cả Phao-lô ban đầu
cũng giữ quy tắc đó. Bất cứ nơi đâu, ngài đều bắt đầu cuộc
truyền giáo từ trong đền thờ. Cả khi tới Rô-ma, ngài tập hợp
trước hết các người Do-thái. Chỉ khi thất bại trong việc nối kết
lịch sử đức tin của Is-ra-en với Đức Giê-su, ngài mới bước ra
với dân ngoại. Chính Phao-lô, người đã vượt qua nỗi sợ hãi khi
bước vào nơi lạ, đã nói, sứ điệp trước hết luôn dành cho người
Do-thái, sau đó mới đến dân ngoại. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Nghĩa là có một quy
luật về cứu độ. Thiên Chúa trung thành với luật đó, Đức Giê-su
cũng không đi ra ngoài luật đó. Ngay cả khi Ngài biến đổi và làm
mới luật lệ do-thái từ trong, Ngài cũng không đơn giản là một
tay chống đối tự tung tự tác, nhưng đã vì trung thành mà hành
động. Như vậy, sự trung thành của Thiên Chúa đã xoá đi cái ấn
tượng phản bội trong việc bắt buộc phải bước ra với dân ngoại –
và trái lại, cho thấy việc bước ra đó phù hợp với việc phục sinh
của Ngài, qua đó cái chết của hạt lúa miến cuối cùng đã trở nên
cái cao cả và mang ân lộc cho toàn thế giới.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT"> Đức
Giê-su rảo khắp nước. Ngài cảnh báo về sự khiêm tốn và hối cải,
dạy cầu nguyện, cảnh giác việc ham mê ăn uống và cứng lòng. Ngài
kể dụ ngôn anh nghèo La-da-rô được vào thiên đàng, trong lúc ông
nhà giàu trụy lạc phải xuống địa ngục – Ngài đúng là một nhà
giảng đạo lang thang.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Đúng Ngài là một nhà
giảng đạo nay đây mai đó. Trước hết, Ngài giảng ở Ga-li-lê-a và
cố gắng khuyến dụ dân ở đó. Rồi Ngài kéo dài địa điểm rao giảng
tới Giê-ru-sa-lem. Ngài biết mình được sai tới cho dân Is-ra-en
và muốn mang sứ điệp mới cho dân đó. Tâm điểm sứ điệp là Nước
Chúa, là sự đổi mới thế gian nhờ vào lượng từ bi của Thiên Chúa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Các yếu tố riêng lẻ,
mà anh nói tới, tất cả đều nằm trong viễn tượng lớn đó. Một mặt,
Đức Giê-su sống trung thành với lịch sử cứu độ của Thiên Chúa,
nhưng Ngài cũng tuân giữ cấu trúc chặt chẽ của Do-thái, cũng
hành hương, cũng mừng lễ vượt qua. Ngài sống như một người
Do-thái có niềm tin và sùng đạo. Và đồng thời cũng sống như một
người con của Mai-sen mới, nhưng vượt cao hơn Mai-sen. Ngài giờ
đây không cắt nghĩa luật như cách các thầy thông luật làm, nhưng
như một người Con, và người Con này cũng chính là kẻ tạo ra luật
và đã nâng mình lên một bậc mới cao hơn.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Ngài là
một kẻ phản kháng?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT"> Đức Giê-su chẳng chủ
trương phóng khoáng hay phản kháng, chẳng chống lại cái này hay
cái kia, chẳng tránh né mà cũng chẳng phải muốn từ chối, nhưng
đó viễn tượng của đấng ra luật, của chính đấng Tạo hoá. Ngài
muốn phá vỡ cái đang có để đưa vào cái chung cuộc, và chính
trong khi thực hiện điều đó, Ngài đã làm gương cho ta về sự
trung thành sâu xa. Tôi tin rằng, ta phải thấy sự hiện diện cùng
lúc của trung thành và cái xem ra phản kháng đó, nếu ta muốn
hiểu đúng con người Đức Giê-su. Ngài không bỏ đi cái đã qua –
như Ngài đã nói: „Không một dấu chấm, dấu phẩy nào biến mất“ -,
nhưng đã đưa mọi sự vào chiều sâu thẳm của chúng. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT"> Đức
Giê-su đặc biệt tỏ ra vui vẻ với trẻ con và với tín hữu bình
dân. Ngài đã hân hoan, một chuyện ít khi thấy: „Con ngợi khen
Cha là vua trời đất, vì Cha đã dấu không cho những người thông
thái biết những điều đó, nhưng đã mạc khải ra cho những kẻ bé
mọn“. </span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Vâng, đó là bí ẩn của
việc làm Thiên Chúa: Những người đơn sơ thấy điều cao cả dễ dàng
hơn những kẻ với đầu óc chất đầy kiến thức, chứa đầy khả năng
phân tích, có thể nắm bắt những cái chi li, nhưng cái lớn lao
thì chẳng còn khả năng nhận ra nữa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Đó không phải là việc
loại trừ người trý thứchay kẻ thông hiểu kinh sách, nhưng là lời
cảnh báo không nên đánh mất sự đơn sơ tâm hồn, mà hãy nhìn vào
cái tâm điểm nền tảng của tổng thể, hãy gồng mình chấp nhận cái
không thể chờ đợi.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Rõ ràng chước cám dỗ
trên thường thấy nơi người trí thức. Nếu nhìn lại lịch sử ý
thứchệ trong thế kỷvừa qua, ta sẽ thấy người bình dân thường đã
có những phán đoán đúng đắn hơn hạng trí thức. Hạng người sau cứ
phân tích mãi, nhẫn nha bới tìm cây này bụi nọ - nhưng rừng
trước mặt thì chẳng thấy. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT"> Đức
Giê-su nói với môn đệ: „Anh chị em đã được ban cho khả năng nhận
biết những bí ẩn của Nước Chúa. Những kẻ khác chỉ được nghe qua
dụ ngôn mà thôi; bởi vì họ nhìn mà chẳng thấy, nghe mà chẳng
hiểu. Đây là í nghiã của dụ ngôn: Lời Chúa là hạt giống“. Hẳn
ngôn ngữ của Tin Mừng có cái gì đặc biệt. Mọi người trên trái
đất, bất luận thuộc văn hoá hay thời đại nào, đều có thể hiểu
Tin Mừng.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Câu anh vừa nêu bắt
nguồn từ tiên tri I-sai-a. Đức Giê-su đưa ra lời đe doạ phán
xét đó trước cuộc sống bất kham của dân Is-ra-en. Với câu đó,
Ngài muốn nói rằng, tất cả các ngươi đều được nghe chân lí đấy,
nhưng rốt cuộc chân lí chỉ được Chúa mạc khải ra, để các ngươi
không hiểu được nó.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">MỘT CÂU
ĐẦY BÍ HIỂM ?</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT"> Đức
Giê-su nói, những gì đã được ban cho hiểu nơi các ngươi cuối
cùng đã trở thành chai cứng và không còn hiểu được. Các ngươi có
thể an thân ẩn nấp sau những hàng chữ bề mặt – và bám lại ở đó,
thành ra chẳng muốn hiểu gì nữa. Như thế, lời Chúa có thể nói
trở thành lời phán xét, vì người ta cứ bám vào vỏ chữ, chẳng còn
muốn hiểu vào chiều sâu của chúng.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Dụ ngôn có mục đích
đưa con người tới gần những cái không thể hiểu. Về mặt sư phạm,
dụ ngôn quả là một phương pháp tuyệt diệu. Những bí ẩn cao xa,
muôn đời được kể ra trong những câu chuyện thường nhật, nhờ đó
bí ẩn </span><span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">T</span><span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">hiên
</span><span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">C</span><span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">húa
bỗng sáng ra, dễ hiểu ra. Và qua những điều tầm thường, qua hạt
giống, mùa gặt, qua những câu chuyện như chuyện La-da-rô hay
người Sa-ma-ri-ta, cái cao cả lớn lao lại hiện ra.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Thiên Chúa đến với con
người qua Đức Ki-tô. Ngài dùng ngôn ngữ loài người để nói với
họ, trình bày ngôn ngữ đó bằng những kinh nghiệm, hiểu biết, cơ
cấu sinh hoạt hàng ngày của họ, để nhờ cái gần gũi và thường
nhật đó mở ra cho họ thấy được cái cơ bản. Trong ý nghĩa đó, lời
Chúa quả thật mang tính vượt thời gian và toả trùm mọi văn hoá,
vì nó nối liền với những sinh hoạt uyên nguyên của con người.
</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Nhưng rõ
ràng lời Chúa còn mang thêm một cấp độ, một mật mã khác. Ngài đã
có lần nói, muốn hiểu lời Chúa thì buộc „phải cùng sống với Đức
Ki-tô. Những ai chỉ muốn hiểu lời đó bằng trí óc, qua lịch sử
hay bằng phỏng đoán, thì không thể nào hiểu nổi“.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Nếu tôi đọc Kinh Thánh
một cách hời hợt và không quan tâm tới tính siêu việt của nó nằm
nơi những diễn biến đơn giản, thì tôi lạc đường, không đi vào
được nội dung của dụ ngôn.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Mỗi dụ ngôn dẫn tôi
bước vào một con đường. Thoạt tiên tôi thấy những gì ai cũng
thấy, những gì tôi đã biết. Và rồi tôi biết là không phải chỉ có
thế. Như vậy, tôi phải học nhìn vượt qua những cảm nhận thường
nhật. Nếu như tôi, trái lại, cứ bám vào bề mặt và không nhìn
xuyên qua được cái thường ngày, thì tôi sẽ chẳng nhìn ra được sự
thật nằm sâu trong câu chuyện, và nhất là dụ ngôn bao giờ cũng
gắn liền với chính cuộc sống của Đức Giê-su. Một số dụ ngôn trở
thành một thứ chìa khoá để hiểu tiểu sử tự thuật của Đức
Giê-su, và tiểu sử đó lại chỉ biểu hiện qua chính cuộc sống và
khổ nạn của Ngài. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">PHÉP LẠ
HOÁ BÁNH </span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Một câu
chuyện trong Tin Mừng thường hay được kể, chẳng có gì vòng vo mà
cũng chẳng có gì khó hiểu: Phép lạ hoá bánh.Chuyện xẩy ra một
nơi hẻo lánh nào đó ở Ga-li-lê-a. Nhiều người quây quần quanh
Đức Giê-su. Có lẽ họ say mê nghe Ngài giảng. Bỗng dưng trời đổ
chiều, mà chẳng ai để ý. Các môn đệ yêu cầu Ngài bảo dân ai nấy
trở về làng mình, bởi vì ở đây chẳng có của ăn cho họ và cũng
chẳng có chợ búa nào gần cả. Đức Giê-su điềm nhiên trả lời:
“Cho họ ăn”.Chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá, nghĩa là có sẵn
bảy đơn vị. Sách viết: “và Ngài cầm năm cái bánh và hai con cá,
ngước mắt lên trời, nói lời ngợi khen, rồi bẻ bánh trao cho các
môn đồ. Nhờ đó mọi người được no nê, năm ngàn người đàn ông và
một số đàn bà và con trẻ. Khi nhặt những mảnh bánh dư, người ta
còn chất đầy đúng 12 giỏ”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Câu chuyện có hai
chiều kích, vừa sự kiện vừa ý nghĩa biểu trưng. Người ta chờ đợi
thời của đấng Messias, chờ đợi phép lạ Manna tái xuất hiện.
Người ta tin rằng, đấng Cứu thế sẽ cho họ ăn, và bánh sẽ chính
từ trời rơi xuống.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT"> Đức Giê-su giờ đây có
í muốn chuyển phép lạ Manna lên một chiều kích khác. Đó là Thánh
Thể. Với bánh của chính thân xác Ngài, và <b>
<span style="color:red">bánh đó sẽ tiếp tục hoá ra thêm mãi suốt
dòng lịch sử cho tới ngày nay.</span></b> Bánh đó có thể được
phân chia mãi,<b><span style="color:
red"> không bao giờ hết.</span></b></span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Qua phép lạ Manna mới
đó, Đức Giê-su muốn diễn lại cảnh Manna cũ, đồng thời có í dẫn
tới một cái gì hoàn toàn khác, có thể nói khiêm tốn và đòi hỏi
hơn. Về chiều sâu, đây mới là phép lạ lớn hơn nhiều. Cái lớn đó
cũng nằm nơi việc không phải là bánh từ trời rơi xuống, nhưng là
việc con người cùng chia sẻ cho nhau.Phép lạ đó mở ra một viễn
tượng nhiều ý nghĩa cho cuộc sống con người và tương lai Giáo
Hội. Câu chuyện đó đồng thời cũng gây phân rẽ nơi con người. Một
số người coi Ngài đúng là vị Messias, muốn đẩy Ngài lên ngai vua
và ép Ngài vào con đường chính trị. Và vì Ngài từ chối làm
chuyện đó nên giờ đây lại có dư luận bảo Ngài chẳng phải là
Messias. Từ giây phút đó có sự phân rẽ đôi đường: kẻ thì chống,
người thì đi theo Ngài vào khổ nạn. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Câu
chuyện có thật hay chỉ là một biểu tượng?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ngày nay, nhiều nhà
chú giải tin vào định luật thiên nhiên, cho rằng chuyện đó không
thể xẩy ra, và bảo đó chỉ là biểu tượng. Thực tế thì câu chuyện
có một nội dung biểu trưng rất lớn. Nhưng chúng ta cũng đừng vội
hạn chế khả năng vô lường của Chúa. Trong Giáo Hội cũng đã có
những chuyện tương tự.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Vừa rồi tôi tới Turin,
và một linh mục dòng già kể cho tôi nghe về hai sự kiện lạ lùng
đã xẩy ra trong đời thánh Don Bosco. Một lần vì sơ suất người ta
đã không làm phép đủ bánh thánh. Khi cho rước lễ, chỉ còn cỡ
mười tới hai mươi bánh thánh cho một khối vô cùng đông người
trẻ. Don Bosco chẳng nao núng gì, ngài bảo “Cứ an tâm phân phát,
có đủ cho mọi người”. Và ai cũng nhận được Mình Thánh.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Lần khác, sau một ngày
làm việc mệt nhọc, ngài hứa cho đám trẻ con ăn hạt dẻ khô. Ngài
bảo mẹ chuẩn bị dẻ dùm. Nhưng bà mẹ hiểu sai, chỉ rang đủ dẻ cho
độ một chục đứa trẻ mà thôi. Khi nhận ra lầm lẫn của mỉnh, bà mẹ
hốt hoảng. Nhưng ngài bảo: “Mẹ đừng lo, cứ phân phát cho chúng,
không những đủ mà còn có dư để chúng mang về nữa”. Và quả thật
như vậy. Có rất nhiều người đã chứng kiến những chuyện đó.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Vì thế, ta không nên
cản ngăn Chúa làm những việc mà thường ra không thể xẩy ra nổi.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT"> </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">ĐỨC GIÊSU
và CÁC PHỤ NỮ </span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT"> Đức
Giê-su thường phá bỏ các rào cản quy ước. Ngài minh nhiên đi tới
với những người tội lỗi và người nghèo khó. Và Ngài có một liên
hệ đặc biệt với các phụ nữ. Chuyên viên Kinh Thánh người
Do-thái, ông Schalom Ben-Chorin, cho rằng Đức Giê-su „không
phải là người chay tịnh, nhưng Ngài là người ham vui sống“. Phụ
nữ luôn nhìn Ngài với một ánh mắt lạ lùng. Có thể nghĩ được rằng
Ngài cũng là một người có quan hệ tình dục với phụ nữ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Không có chuyện tình
dục trong quan hệ bạn bè của Ngài. Con người Đức Giê-su thuộc
vào một cấp độ khác. Nhưng, như chúng ta thấy qua các trình
thuật Tin Mừng về những liên hệ của Ngài, Ngài vẫn có khả năng
làm bạn và yêu thật sự. Đúng, chính các bà là những người bén
nhạy đã cảm ra được cái mới, cái khác, cái lớn lao, cái bí ẩn
trong con người Ngài, và Ngài đặc biệt đã kéo các bà vào trong
cộng đoàn của mình. Trái với thói quen đương thời nơi người
Do-thái, coi phụ nữ là hạng thấp kém, Đức Giê-su có thể nói đã
tạo nên một cái gì như là giải phóng phụ nữ. Do địa vị xã hội,
phụ nữ một cách nào đó thuộc vào loại những người bé nhỏ, mà
Chúa muốn hướng về họ và yêu thương họ một cách đặc biệt. Làm
như thế là Ngài cũng đã khơi dậy đoàn sủng của phụ nữ. Trong
quan hệ với Ngài, ta thấy đặc biệt có hai người ở Bê-ta-ni-a.
Hai khuôn mặt này cho ta thấy vai trò quan trọng và sống động
của nữ giới trong việc xây dựng Giáo Hội. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Đó là hai
chị đã trung thành theo Ngài mãi tới chân thập giá. Trong khi đó
thì các ông đã chạy hết. Đức Giê-su đã trừ bảy tà thần ra khỏi
Maria Ma-đa-lê-na. Không phải Phê-rô hay Gio-an, mà chính chị là
người đầu tiên được thông báo biến cố phục sinh của Ngài. Đây
quả là một chuyện lạ, nếu như người ta biết rằng các chứng cứ
của phụ nữ ở đông phương chẳng có giá trị gì. Vì thế, thánh
An-tịnh đã gọi Maria Ma-đa-lê-na là tông đồ của các tông đồ.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Và danh-hiệu đó, thật
vậy, vẫn giữ nguyên. Cho tới năm 1962 lời nguyện tông đồ vẫn
được đọc trong ngày lễ kính của ngài, vì ngài là một „nữ tông
đồ“. Việc Maria Ma-đa-lê-na là người đầu tiên mang tin vui phục
sinh cho các tông đồ, một lần nữa, nói lên thịnh tình và mối
liên hệ đặc biệt của Ngài đối với chị. Điều này ta cũng thấy
được qua lời đối thoại của Ngài với chị, trong đó Ngài gọi chị
là „Mariam“, chỉ vì chị đã không nhận ra Ngài. Lúc đó chị liền
nhận ra và lại phủ phục dưới chân Ngài: „Rabbuni, thưa Thầy“.
Trong lối xưng hô đó, ta thấy vừa có kính trọng, vừa giữ khoảng
cách trước vẻ lớn lao của Ngài, mà cũng vừa nói lên yêu thương
tha thiết đối với một người là Chúa và với một Chúa đã hoàn toàn
trở nên người. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Tôi sẽ
trở lại với địa vị phụ nữ trong Giáo Hội sau. Ở đây xin hỏi
nhanh một câu: Có chuyện kể nào về Đức Giê-su hay một câu
chuyện nào trong Kinh Thánh có thể trong tương lai sẽ phải bị
loại bỏ, vì những khám phá mới, chẳng hạn như trong các nghiên
cứu về nguồn tài liệu Qumran, cho thấy chúng hết đáng tin không?
</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tôi không thấy khám
phá nào cả. Có thể có những tiểu tiết làm mình phải hiểu kinh
sách khác đi đôi chút. Nhưng những điều ghi chép trong Tin Mừng
đều được viết ngay trong thời đó, nên không thể bị đảo lộn bởi
các khám phá mới ngày nay được. Lời chứng Tin Mừng về Đức
Giê-su sẽ không đổi và vẫn giữ nguyên giá trị của nó. </span>
</p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">GẶP GỠ
</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Thưa Hồng
Y, có lần ngài nói, tin vào Đức Giê-su Ki-tô cũng giúp con
người mở mắt ra với thế giới. Đức tin đó chỉ cho họ thấy mọi
chuyện được kiến tạo như thế nào, mọi sự liên quan với nhau ra
sao. Ta có thể nhờ đức tin đó để sống tốt đẹp hơn không?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Những
chặng đường sống quan trọng của ta hẳn không nằm trong tay ta.
Ta không xác định được việc sinh việc tử của mình. Nhưng trách
nhiệm của ta là phải tìm hiểu xem</span></i></b><i><span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">
<b>ta là ai</b></span></i><b><i><span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">,
đâu là ơn gọi của mình, </span>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">con đường
nào mình sẽ đi</span><span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">.
Đức tin Ki-tô giáo có thực sự giúp cá nhân có được những bước
vươn lên không?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Đức tin hẳn không thay
thế được nhận thức của mỗi người. Nó cũng không thay thế được
việc học hỏi với và qua người khác suốt dọc dài lịch sử. Chúa
không lấy đi nỗ lực của ta. Đức tin không phải là thứ thần dược
hoá phép. Nhưng nó cho ta chìa khoá để ta có thể tự học. Để ta
tự tìm hiểu mình và tự hỏi mình là ai.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Một cách tổng quát,
con người luôn chỉ nhận ra mình nhờ người khác và qua kẻ khác.
Chẳng ai nhìn ra mình, nếu họ chỉ trông vào mình, chỉ tự tìm
cách đào lỗ thoát cho mình, tự vẽ hoạ đồ cho mình. Con người
được sinh ra để thiết lập tương giao, để đi tới với người khác.
Qua gặp gỡ kẻ khác, họ tìm ra ý nghĩa và trách nhiệm cuộc sống,
thấy ra yêu sách và khả thể của cuộc sống.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Từ cấu trúc nền tảng
của cuộc sống đó, ta mới hiểu được <b><span style="color:red">
đức tin và cuộc gặp gỡ với Đức Giê-su</span></b>. Đức tin không
đơn giản là một hệ thống kiến thức và thông tin, nhưng<b><span style="color:red">
tâm điểm của nó trước hết là gặp Đức Ki-tô.</span></b> Có gặp
Ngài, mới hiểu được lời Ngài. Câu nói của tôi trên kia cũng chỉ
muốn nói lên rằng, trong muôn vàn cuộc gặp mà ta cần, cuộc gặp
Đức Ki-tô là đích thực và quyết định nhất. Mọi cuộc gặp gỡ khác
không nói cho ta hay ta từ đâu tới và sẽ đi về đâu. <b>
<span style="color:red">Gặp Ngài, ta gặp được ánh sáng để có thể
hiểu ra Thiên Chúa, con người, thế giới, sứ mạng và ý nghĩa cuộc
sống – và hiểu ra được dây mơ rễ má của mọi gặp gỡ khác</span></b>.
</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">HOANG ĐỊA
</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Lời dạy
của Đức Giê-su Ki-tô được các tông đồ gọi là “đường mới”. Con
đường mới này khởi đầu từ lúc Đức Giê-su nhận phép rửa nơi
hoang địa. Đó có thể nói là trạm cuối cùng trước khi Ngài bước
ra công khai để tiến về khổ nạn. 40 ngày trong hoang địa – đây
cũng lại là một biểu tượng?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Con số 40 thật ra là
một biểu tượng quan trọng. Cả tiên tri Ê-li-a, chẳng hạn, cũng
cần 40 ngày để tới núi thánh. Quãng thời gian đó luôn được dùng
để nói về thời gian học hỏi, chuẩn bị, trưởng thành. Thời gian
sa mạc là nguyên ảnh của Is-ra-en, qua đó dân này nhận ra được
luật lệ và í muốn của Thiên Chúa, để nhờ đó chuẩn bị trở thành
dân cưu mang những lời hứa của Ngài. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Với 40 ngày hoang địa,
Đức Giê-su một lần nữa nhắc lại 40 năm sa mạc của Is-ra-en. Có
thể nói một lần nữa Ngài đi qua toàn bộ con đường lịch sử, để
cũng nói cho ta hay, nếu ta không có thời gian để từ bỏ, để yên
lặng, để bước ra và để gom góp sứ mạng lớn, thì ta không thể
trưởng thành được. Ngài dùng nơi hoang địa thanh vắng để ăn chay
và cầu nguyện. Một mặt, hình ảnh biểu tượng đó nói lên cuộc gặp
gỡ với Thiên Chúa, mặt khác, nó cũng nói lên nỗi hiểm nguy của
trần thế. Đó là nơi không có sự sống, không có thức ăn, nơi cô
đơn. Như thế, Ngài cũng bước qua toàn bộ sa mạc của nguy nan,
của thất bại, của từ bỏ, sa mạc của đói khát. Ngài đồng thời mặc
lấy những cám dỗ của nhân loại, khổ đau với họ, để từ đó đưa ra
những lời, những sứ điệp cao cả. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Sau 40
ngày ăn chay Ngài bị quỷ cám dỗ. Thoạt tiên, Sa-tan muốn Ngài
biến đá thành bánh mì. Tay Sa-tan này quả ngớ ngẩn! </span></i>
</b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Câu chuyện này nói lên
những chương trình đối lập, những chước cám dỗ mà đấng cứu thế
Giê-su phải trải qua trong ba năm rao giảng, và những cám dỗ
liên tục trong lịch sử Giáo Hội. Một chỗ khác Đức Giê-su cũng
đã nói: “Anh em đã đứng vững với thầy trong các cám dỗ của
thầy”. Và Ngài nói với Phê-rô: “Này đây anh Sa-tan, hãy trao
những cám dỗ đó cho thầy”. Cả đám đông năm ngàn người no nê cũng
tạo cám dỗ cho Ngài, họ muốn tâng Ngài lên làm vua, nghĩa là làm
ông chủ cung cấp thức ăn của uống cho họ. Đó là những thứ mà
chúng ta sẽ luôn gặp dưới nhiều hình thức và luôn phải thắng
vượt trên con đường theo Chúa và cả trong Giáo Hội.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Ngài muốn
nói gì với điều đó?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tôi muốn nói, chẳng
hạn như nhu cầu phải cải tạo trật tự xã hội thế giới và tạo lập
một nhà nước lý tưởng. Giáo Hội rất cần phải chung tay vào việc
cải tạo xã hội, nhưng <b><span style="color:red">việc cứu độ con
người đích thật phải đến từ trong</span></b>, chứ không phải từ
cơ cấu bên ngoài. Và cho dù trong mọi thời Giáo Hội phải quan
tâm tới nỗi đói khát của con người, và phải tìm mọi cách để có
những bàn tay tăng gia của ăn cho họ, Giáo Hội vẫn luôn phải nhớ
rằng, mình không phải là một tổ chức xã hội, chỉ biết quan tâm
tới vật chất, coi đó là việc giải thoát con người đích thực.
Không. Giáo Hội không được quên rằng, con người không chỉ sống
bằng bánh, mà còn bằng lời Chúa nữa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Hai cám dỗ khác cũng
thế. Quỷ thách thức, bảo Đức Giê-su nhảy từ nóc đền thờ xuống,
để xem Ngài có phải là Chúa thật không. Và cuối cùng là chước <b>
<span style="color:red">cám dỗ ghê gớm về quyền lực,</span></b>
làm chủ cả thiên hạ: “Hãy cầu tôi, tôi sẽ cho làm chủ thế giới”.
Điều này muốn nói, việc cai trị thế giới qua quyền lực, <b>
<span style="color:red">dù là với mục đích thật lý tưởng, mà
không tìm Chúa, thì việc cai trị kia sẽ làm hư con người</span></b>.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Đã có nhiều cuộc thí
nghiệm trong lịch sử, trong đó con người chối từ Chúa, và tìm
cách tự mình và bằng qua những cơ cấu quyền lực tạo ra cho mình
những thứ họ cần. Tất cả những thí nghiệm đó đưa tới đâu, đã rõ.
Chúng luôn là tấm gương cho Giáo Hội và cho mỗi người: Ở đâu con
người chối Chúa, ở đâu ta muốn tự mình thiết lập thế giới mà
chẳng cần Chúa, ở đâu ta cho rằng thoả mãn nhu cầu vật chất mới
là lối giải quyết đích thực, ở đó ta chẳng giải quyết được gì
hết, mà trái lại ta phá hoại, ta thực hiện công trình của
Sa-tan. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Sau kinh
nghiệm ở hoang địa, các môn đệ đầu tiên tới với Đức Giê-su. Họ
hỏi Ngài: “Thưa Thầy, Thầy ở đâu?” Và Ngài trả lời thật ngắn
gọn: “Tới mà xem”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Vâng, cùng thử làm với
nhau là điều cần thiết. Đức Giê-su không ở một nơi cố định.
Ngài ở trên đường, ở trong những bước đi trước. Chỉ khi ta theo
Ngài, cùng Ngài lên đường, lúc đó ta mới học biết Ngài ở đâu. Và
rồi ta cũng sẽ thấy Ngài. Nếu chỉ muốn hiểu Ngài và lời Ngài qua
lí thuyết và suy luận, ta sẽ chẳng biết được Ngài. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Những môn
đồ đầu tiên, mà Đức Giê-su muốn biến họ thành “ngư phủ câu
người”, là An-rê và Gio-an, sau đó tới Phê-rô, em An-rê. Điều
lạ, quây quần quanh Ngài không phải những kẻ học thức, mà là
những người ngay thẳng, đơn sơ. Họ không phải là những người đặc
biệt khôn ngoan, không đặc biệt can đảm và tỉnh táo, và nếu
không có hỗ trợ của Thánh Thần họ cũng chẳng biết giảng ra sao.
Họ luôn vấp ngã bởi hồ nghi và không tin. Phải chăng Đức Giê-su
không biết chọn người?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tất nhiên, đó không
phải là những hạng người tự sức và trí mình mà đã có thể châm
ngòi được một cuộc truyền giáo thế giới như thế. Nếu họ, như
thánh Chrysostomos</span><span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">*</span><span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">
nói, đã “thẩy được hạt xúc xắc lớn xuống”, thì đó là nhờ một
nguồn lực nào khác. Vì thế, đối với tôi, xem ra việc chọn những
người tầm thường, không phải những nhà chính trị hay trí thức,
mang nhiều ý nghĩa. Rõ ràng, không phải tự sức họ. Họ được một
đấng lớn hơn chạm tới, nâng đi và vạch đường chỉ lối. </span>
</p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tuy nhiên, trong xã
hội nhiều giai tầng thời đó, ta cũng có thể có được một cách xếp
loại nào đó về các tông đồ. Một số trong họ là những tay chống
Rô-ma cực đoan, như Si-mon thuộc phái Ze-lot chẳng hạn. Zelot là
đảng muốn dùng bạo lực để giải phóng đất nước. Cả Giu-đa
Is-ka-ri-ot cũng thuộc vào một đảng cùng khuynh hướng, tên gọi
của ông nói lên điều đó. Đó là những người, nói theo ngôn ngữ
ngày nay, thuộc phía cực tả. Họ sẵn sàng võ trang đấu tranh và
họ cũng mong Đức Giê-su làm theo họ. Mặt khác, ta có Lê-vi, cán
bộ thâu thuế, dân nhà giàu, là kẻ đi với quyền lực, hợp tác với
thực dân.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Nghĩa là
có đồng cân lực lượng.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Có thể nói, khi triệu
tập vòng tông đồ, Đức Giê-su đã làm một cuộc hoà hợp. Mọi người
từ mọi phía, từ mọi quan điểm có thể tới với Ngài hoặc bỏ Ngài.
Như thế, trong nhóm môn đệ đó hẳn có thể có nhiều xung khắc.
</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Mặt khác, như anh nói,
các tông đồ là những người đứng tuổi. Phê-rô có một hợp tác xã
lưới cá, ông là một doanh nhân nhỏ. Đó là những người đứng trong
thực tế cuộc sống, họ có cảm quan về cái thực tại, nhưng không
ngụp lặn trong chủ nghĩa thực dụng. Họ có một ước vọng cao hơn.
Họ không rơi vào một thứ mê hoặc nào đó, nhưng đã hết sức phục
vụ ơn gọi của mình. Họ là tấm gương để ta hiểu rằng, Chúa dùng
người tầm thường để làm những việc mà chỉ có Ngài mới làm được
mà thôi, và cũng để ta hiểu rằng, có sự lớn lao trong những con
người tầm thường. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Khác hẳn
với các tông đồ theo Chúa xưa, con người ngày nay nghĩ rằng, họ
có thể hoàn toàn tự mình vạch ra lối đi, đường sống cho mình. Họ
cho rằng, chẳng có một bản sắc rõ rệt nào nữa cả. Cuộc sống là
một chuỗi đổi thay ảo tưởng liên tục, tuỳ vào công việc đang có,
tuỳ vào hoàn cảnh trước mắt - hoặc vào sở thích mỗi người. Họ
bảo, trong thế giới tân tiến ngày nay chẳng còn sự lựa chọn :
hoặc cái này hoặc cái kia, mà thay vào đó, ta có một khả năng
lựa chọn mới: chẳng cái này mà cũng chẳng cái kia.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ngày nay, uyển chuyển
đã trở thành một từ quan trọng nền tảng. Chúng ta muốn có thể
thích ứng được với các thách đố mới, và hi vọng nhờ việc thay
đổi nghề nghiệp liên tục cũng sẽ leo thang xã hội một cách thật
dễ, thật nhanh. Nhưng tôi nghĩ, trước sau vẫn có những nghề đòi
hỏi con người rất nhiều. Chẳng hạn nghề thầy thuốc hay nghề giáo
dục, đó không phải là những nghề giai đoạn, mà là ơn gọi, chúng
đòi hỏi suốt cả cuộc đời mình. Nghĩa là, ngày nay cũng có những
công việc không phải là việc làm phụ trội để kiếm thêm tiền
sống. Tiêu chuẩn quyết định trong các ơn gọi thật sự cũng không
phải là thu nhập, nhưng là thi hành một công tác phục vụ trong
nhân loại. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT"> Đức
Giê-su có thể sẽ nói thế nào về điểm này?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ngài sẽ chẳng cấm ai
muốn uyển chuyển thích ứng với các thách đố. Chính các tông đồ
của Ngài cũng đã phải uyển chuyển bước ra khỏi cuộc đời chài
lưới để cùng đi vào một con đường vô định và đầy bí ẩn – và cuối
cùng đã thoát ra khỏi đạo Do-thái mà mình đã trầm mình trong đó,
để dám bước ra rao truyền cho dân ngoại.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Đồng thời các ngài đã
phải bền đỗ và trung thành trong sự chọn lựa nền tảng của mình.
Vì vậy, ta không nên đặt uyển chuyển đối lập với trung thành.
Ngay trung thành cũng phải chứng tỏ được sự bền đỗ của nó trong
những hoàn cảnh đổi thay. Một người, sau năm mươi năm làm linh
mục hay sống cuộc đời hôn nhân, hẳn phải trải qua một cuộc đời
đầy biến đổi. <b><span style="color:red">Người đó phải trưởng
thành trong mọi biến đổi và đưa bản sắc mình tới hoàn thiện</span></b>.
</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tiếc thay, trong hoàn
cảnh tân tiến ngày nay, thường chỉ còn thay đổi vì thay đổi,
uyển chuyển vì uyển chuyển mà thôi. Tôi chống lại quan điểm này.
Chính hôm nay là lúc ta cần trung thành với một sứ mạng, với một
nghề; chính hôm nay là lúc ta cần những người quên mình hoàn
toàn. Ta hãy quay trở lại chuyện viện trợ phát triển. Cần có
những người sẵn sàng bỏ ra hai, ba năm đi giúp kẻ khác, nhưng ta
cũng cần có thật nhiều người biết quên mình. Có những ơn gọi đòi
hỏi toàn thân con người.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Những mẫu sống mà tôi
nói tới này không phải là chỉ dấu của sự thiếu sáng tạo hay đông
cứng. Chính sự bền vững đó làm cho tâm hồn con người lớn rộng ra
và trưởng thành lên, khiến cho đổi thay và liên tục tháp nhập
vào nhau. Cái lớn đích thực nằm trong sự hoà quyện với nhau đó.
</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Về những
mẫu sống ngài đã đề cập: Nhiều người nghĩ rằng đời họ như là một
cuốn phim, tự họ có thể cắt xén, đạo diễn từng cảnh, từng đoạn.
Thâm tâm họ tự bảo: Tại sao tôi lại phải đi vòng vòng, phải nỗ
lực trong cuộc sống, phải tìm kiếm, phải tự hạn chế hay phải
chịu đựng? Nghĩa là tại sao họ lại phải đi theo con đường khó
khăn của các tông đồ đã đi với Đức Giê-su xưa. Một cuộc sống
thật đơn giản dễ dãi có phải hơn không?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Chỉ có những ai lớn
lên trong bàn tiệc cuộc đời dư đầy mới có được một cuộc sống dễ
dãi như thế. Đó là một tưởng tượng của những kẻ có của, những kẻ
không hiểu rằng, đối với đa số con người, cuộc sống là cả một
nỗi thử thách cam go. Vì thế, tôi coi việc tự biên tự diễn trên
là ích kỉ và nó làm hao mòn đi các ơn gọi.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ai bảo rằng, mình đã
có đủ mọi thứ, vì vậy họ chỉ việc lấy những thứ đã có ra để tự
thiết kế cho đời mình, kẻ đó sẽ không cho được cái họ có thể
cho. Con người sinh ra, không chỉ để tự thiết kế nên mình, mà
còn phải chấp nhận thử thách trong cuộc sống. Chúng ta tất cả
nói chung cùng đứng trong một lịch sử và phải cần đến nhau. Vì
thế, con người không nên chỉ nghĩ mình muốn gì, nhưng nhất thiết
hơn, nên tự hỏi : <b><i><span style="color:red">mình tốt cho ai,
mình có thể giúp ích được gì</span></i></b>. Có như thế, họ mới
thấy dễ dãi, thoải mái và buông thả không phải là những phương
cách làm thoả mãn đời mình, nhưng sự thoả mãn nằm nơi việc sẵn
sàng chịu thử thách, nằm nơi con đường hẹp. Mọi thứ còn lại, một
cách nào đó, đều là buồn chán. Chỉ ai “bị trui trong lửa”, chỉ
ai nhận ra được tiếng gọi, ơn gọi, một lý tưởng cần đáp ứng nơi
mình, chỉ ai chấp nhận một sứ mạng cho toàn thể, kẻ đó mới có
cuộc sống tràn đầy. Như đã nói, chúng ta trở nên giàu có, khi
biết cho đi, chứ không phải khi nhận vào hoặc khi bước đi trên
con đường rộng.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">QUYỀN VÀ
CỦA</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT"> Đức
Giê-su có nói về “Cai trị và phục vụ”. Ngài nói: “Anh chị em
biết, nhà cai trị đàn áp dân mình và kẻ quyền lực lạm dụng quyền
mình đối với người khác. Anh chị em không nên làm như thế, nhưng
ai trong anh chị em muốn làm người lớn, thì hãy làm kẻ phục vụ,
và ai trong anh chị em muốn làm kẻ cao nhất, thì hãy trở nên nô
lệ cho anh chị em mình. Bởi vì Con Người cũng không đến để được
phục vụ, nhưng để phục vụ và để hiến đời mình làm giá chuộc cho
nhiều người”. Phục vụ và vâng lời là hai đặc điểm cơ bản trong
lời dạy của Đức Ki-tô và trong đời sống Giáo Hội. Các ý niệmđó
ngày nay chẳng còn phổ thông lắm. Có cái gì ẩn chứa đàng sau các
ý niệmđó không?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Quả thật Tin Mừng đưa
ra một chương trình đối lập với mốt sống tân tiến hiện tại. Nó
đề ra một thứ lạc hậu lành mạnh, nhằm kéo chúng ta ra khỏi
khuynh hướng cai trị và muốn chiếm đoạt. Và chính ai không thuộc
vào hàng ngũ những kẻ quyền lực, người đó là kẻ may mắn, khi
nhận ra được rằng, chính kẻ quyền lực sẽ không được phục vụ nơi
bàn tiệc cuộc đời. Họ là kẻ may mắn, khi nhận thức được rằng,
quyền và của mà mình nhận được là một sứ mạng, để qua đó mình
trở nên kẻ phục vụ. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tôi tin rằng, câu <b>
<span style="color:red">người cai trị nên trở thành kẻ phục vụ</span></b>,
và việc chính Đức Giê-su đã thực thi điều đó qua hành động của
Ngài, là một cuộc cách mạng đúng nghĩa có khả năng làm đổi thay
thế giới. <b><span style="color:blue">Bao lâu người ta coi quyền
và của tự chúng là cùng đích giá trị, thì quyền luôn cũng là
quyền chống lại người khác, và của luôn cũng là của chỉ riêng
mình.</span></b> </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Chính khi vị Vua vũ
trụ tới và làm công việc của kẻ nô lệ là rửa chân cho kẻ khác –
đây chỉ là một trong muôn vàn thí dụ của cả cuộc đời phục vụ của
Ngài – lúc đó chúng ta có một hình ảnh hoàn toàn khác. <b>
<span style="color:blue">Thiên Chúa đầy quyền lực đã không dẫm
đạp ta, mà trái lại cúi xuống để nâng ta lên ngang tầm với Ngài</span></b>.
Thiên Chúa có thể trở nên bé nhỏ, đó là tất cả bí ẩn trong cái
cao cả của Ngài. Ngài không bước xuống từ bệ cao, và cũng không
an ngự nơi tầng trên. Với cử chỉ hạ mình đó, Ngài muốn thay đổi
ý nghĩvề quyền lực và về cai trị nơi ta. Ngài chỉ ra, khi ta có
thể sai khiến đám đông và có được mọi thứ mình muốn, lúc đó ta
đang rơi vào nhỏ mọn – còn khi ta phục vụ kẻ khác, đó là lúc ta
trở nên cao cả. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Một khiêu
khích quái gỡ.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Chấp nhận điều đó là
cả một cuộc cách mạng. Cách mạng này chẳng bao giờ đơn giản chỉ
bằng hành động mà thôi, mà nó luôn đòi hỏi một cuộc trở về nội
tâm – nhưng đây là cuộc trở về lành mạnh và quan trọng nhất
trong mọi cuộc trở về. Chỉ khi nào quyền lực được thay đổi từ
trong, chỉ khi nào ta thay đổi từ trong thái độ của ta đối với
của cải, và khi ta chấp nhận lối sống suốt đời rửa chân của Đức
Giê-su, thì lúc đó thế giới mới trở nên lành mạnh, và con người
mới có thể sống hạnh phúc bên nhau. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Một tuyên
ngôn.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT"> Đức Giê-su là khuôn
hình mà con người cần đi theo, là đích điểm mà chúng ta phải đạt
tới. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">38 năm sau khi Goethe
mất, diễn ra một cuộc họp lớn giữa các cụ già trong lòng đại
thánh đường thánh Phê-rô ở Rô-ma, và họ đã đi tới một quyết định
– quyết định tán đồng với Mephisto [nhân vật trong ở FAUST của
Goethe]. Công đồng Vaticano I tuyên bố vào ngày 24.04. 1870: “Mẹ
Giáo Hội thánh này xác quyết và dạy rằng, Thiên Chúa, nguồn cội
và mục tiêu của mọi sự, có thể nhận biết được bằng ánh sáng tự
nhiên của lí trí được tạo thành của con người.”</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Một quyết định đầy bí
ẩn. Phải chăng Công đồng đã đề cao lí trí quá đáng? Phía Tin
lành phản đối ngay. Họ bảo, chỉ có mạc khải, lời Chúa, Kinh
Thánh và đức tin – chứ không phải chút ánh sáng leo lét của lí
trí con người – mới là đường dẫn tới Thiên Chúa. Karl Barth, có
lẽ là nhà thần học tin lành lớn nhất trong thế kỷ 20, về sau cho
hay, chỉ vì hậu quả của tuyên bố đó mà ông không thể nào trở
thành công giáo được. Nhưng Công đồng vẫn khẳng định: “Ai bảo
rằng, ánh sáng tự nhiên của lí trí được tạo dựng của con người
không thể nhận biết được Thiên Chúa độc nhất và chân thật, Người
là hoá công và Chúa của chúng ta, kẻ đó sẽ mang lấy vạ tuyệt
thông.”</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Trích từ: Thiên Chúa.
một chút lịch sử Đấng vĩ đại nhất (Câu trả lời Kitô giáo cho vô
thần). Tác giả : Manfred Lütz. Dịch giả: Phạm Hồng Lam</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI"> </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="color: #FF0000" lang="de"><b>4</b></span><b><span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="DE">.
SỰ THẬT</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="DE">Là trưởng
Bộ giáo lýđức tin, ngài là người cao nhất trong Giáo Hội có
nhiệm vụ bảo vệ chân lí đức tin. Người ta có luôn biết chắc được
cái này là chân lí hoặc cái kia là phản chân lí không ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="DE">Mỗi cá nhân luôn biết
mình có thể sai lầm. Nhưng không thể có cảnh ki-tô hữu có đức
tin lại phải lần mò trong bóng tối, chẳng biết mình thật sự tin
gì. Nếu thế, thì rồi dần dà sẽ chẳng còn ai biết mình tin gì
nữa, và mỗi người cứ tự do đi tìm cái mình muốn. Nếu ta chẳng
còn cái gì chung và chẳng còn một bản sắc khả giác nào nữa, nếu
đức tin mất hết sắc cạnh, thì Ki-tô giáo trên thực tế chẳng còn
gì nữa để mà biện minh. Và lúc đó mình phải chấp nhận sập tiệm,
và chẳng còn biết mình muốn gì nữa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="DE">Là người công giáo, ta
có thể nói rằng – những người khác cũng có thể nói theo cách của
họ - ngay từ đầu, các tông đồ đã truyền cho ta một bản sắc đức
tin, và nội dung đó đã được viết ra. Trong chương 6 thư gởi giáo
đoàn Rô-ma thánh Phao-lô đã nói : « Qua phép rửa, anh chị em đã
được đưa vào một loại giáo lý». Nói cách khác : Ngay thánh
Phao-lô đã nhìn ra [qua nghi thức phép rửa] nội dung bản sắc đức
tin Ki-tô giáo, trong đó tóm gọn những gì ta nhận được từ Đức
Ki-tô - và cả từ toàn bộ Kinh Thánh Cựu Ước. Những <i>công thức</i>
đức tin này, theo Phao-lô, làm nền và định nghĩa cho phép rửa;
từ những lời Kinh Thánh, chúng đã rất sớm biến thành chính lời
<i>tuyên xưng</i> đức tin, và sau đó trở thành <i>qui điều</i>
đức tin, những điểm này đều thực sự bắt nguồn từ các tông đồ<span style="color:blue">. </span></span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="FR">Đó là bản
sắc đức tin của ta ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đúng. Dĩ nhiên từ thế
kỷnày qua thế kỷkhác, đức tin đó đã dần được phát triển và làm
cho chính xác thêm, nhưng không phải vì vậy mà nó thành ra vô
định. Vì thế, phải chống lại các tư tưởng cào bằng, phải chống
lại các quan điểm cho rằng đức tin không cụ thể. Đức tin có nội
dung. Và vì nội dung này có thể diễn tả được, nên nó cũng có
những ranh giới. Ta có thể biết, bắt đầu từ lúc nào thì một
người nào đó rõ ràng hết còn là ki-tô hữu. Và khi một người
không còn và không thể là ki-tô hữu nữa, người đó nên có can đảm
tuyên bố : Tôi không thể sống với bản sắc đó nữa, không thể nhìn
nhận đó là chân lí nữa, và tôi xin thôi. Còn thứ sương mờ, trong
đó mọi thứ bị thoái hoá thành mớ thói quen nhập nhằng, thì chẳng
có lợi cho ai cả.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Phương
châm giám mục của ngài là « Thợ của chân lí ». Vì đâu ngài chọn
câu này ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi là một người mê
đọc Kinh Thánh, và không hiểu sao ngay từ đầu câu này trong lá
thư thứ ba của thánh Gio-an đã làm tôi mê say. Thoạt tiên, ý
nghĩa của nó khá hạn chế. Tôi hiểu thế này, ai đón nhận sứ giả
của Tin Mừng, kẻ đó trở thành người thợ của chân lí. Và khi đón
nhận sứ giả, chính người đó đã vào làm việc trong vườn này rồi.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phải nói, trong mấy
chục năm dạy học, khủng hoảng về yêu sách chân lí đã lay động
tôi rất mạnh. Tôi lo không biết phải hành xử thế nào với ý
niệmchân lí của Ki-tô giáo, một phần cũng vì ngại bị coi là
thiếu tôn trọng đối với các tôn giáo khác. Vấn đề là ta được
phép sử dụng ý niệmđó đến mức độ nào ?</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi đã ưu tư rất nhiều
về câu hỏi đó. Cuối cùng, tôi suy ra, là nếu mình không đề cập
tới vấn đề chân lí nữa, thì cũng có nghĩa là mình đi ra khỏi nền
tảng mọi vấn đề. Bởi vì Ki-tô giáo không giống như các tôn giáo
khác, đặc điểm đức tin của nó ngay từ đầu không ưu tiên dựa trên
các kĩ thuật luyện tập và quan sát như nơi nhiều tôn giáo khác,
các tôn giáo này chủ yếu dựa vào việc tuân giữ một số nghi thức
nào đó.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ki-tô giáo xuất hiện,
là để nói cho chúng ta hay điều gì đó về Thiên Chúa và trần
gian, và cả về chính chúng ta – nghĩa là về cái gì là thật và
cái gì trao ban cho ta sự sáng. Vì thế, tôi đi tới nhận thức là
trong thời đại khủng hoảng này, một thời đại đạt được nhiều chân
lí trong khoa học tự nhiên, nhưng đồng thời lại đẩy các vấn nạn
nhân sinh vào vòng chủ quan, chuyện đi tìm chân lí, và cả việc
can đảm tuyên xưng nó, lại càng trở nên khẩn thiết. Vì thế, câu
tôi chọn nói lên phần nào trách nhiệm của một linh mục và một
nhà thần học, họ cần cố gắng, trong khiêm tốn và trong nhận thức
về khả năng hữu hạn của mình, trở nên những người thợ của chân
lí.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">CON THIÊN
CHÚA</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Trên
đường rao giảng từ vùng này qua xóm khác, có lần Đức Giê-su
bỗng hỏi các môn đệ: „Người ta bảo Con Người là ai?“ Họ trả lời:
„Có người bảo Thầy là Gio-an tẩy giả, có người bảo là Ê-li-a,
Giê-rê-mi-a hay một tiên tri nào khác“. „Còn anh em bảo Thầy là
ai?“ Phê-rô trả lời: „Thầy là người được xức dầu, Con của Thiên
Chúa hằng sống“. Đức Giê-su khoan khoái bảo: „Phúc cho anh, này
Phê-rô con nhà Si-mon Ba-gio-na; vì không phải xác thịt hay máu
huyết, nhưng là Cha thầy trên trời đã tỏ cho anh biết điều đó“.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong câu chuyện này
có một điểm khác biệt rõ ràng và quan trọng: Thiên hạ bảo Ngài
là ai – và anh em bảo Thầy là ai? Đức Giê-su ám chỉ có hai cách
nhận ra Ngài. Những người có lẽ một lần nào đó đã thấy được phép
lạ hay đã nghe Ngài giảng, thường cho rằng Ngài là một vĩ nhân
trong lịch sử tôn giáo.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Điều này ngày nay vẫn
đúng. Người ta muốn xếp Ngài vào một loại nhân vật nổi tiếng nào
đó. Chẳng hạn triết gia Karl Jaspers</span><a href="http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=533&ict=7122#_ftn3"><span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">[3]</span></a><span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">
bảo Ngài là một trong những vị dẫn đường cho thiên hạ; kẻ khác
lại bảo Ngài là một trong những tiên tri lớn hay là một vị giáo
tổ. Đức Giê-su nói đó là nhận thức của những kẻ chỉ biết Ngài
qua trung gian người khác. Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai? Có
nghĩa là những kẻ biết Ngài từ trong tâm hồn bảo Ngài là ai?</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Theo Lu-ca, cảnh trên
có liên quan với chuyện cầu nguyện của Đức Giê-su. Qua đó,
Lu-ca cho thấy rõ : những ai biết nét đặc thù của Ngài, biết
Ngài từ đáy sâu tâm hồn, và biết Ngài qua trao đổi giữa Ngài với
Cha Ngài, những người đó mới thực sự biết Ngài. Có như thế, họ
mới bước được ra khỏi khuôn mẫu thường tình, và khám phá ra đặc
tính duy nhất và có một không hai của khuôn mặt kia: đó là đấng
được xức dầu của Chúa, là Con của Thiên Chúa hằng sống. Cảnh này
được ba thánh sử trình bày cách khác nhau, nhưng đó chính là mốc
khởi đầu của đức tin Ki-tô giáo. Có thể nói, Phê-rô là người
xướng đầu lời tuyên tín đó, và vì vậy ngài cũng được giao một
trọng trách đặc biệt.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Các bậc
thầy của Hội thánh nói về Đức Giê-su: „Thiên Chúa từ Thiên
Chúa, ánh sáng từ ánh sáng, Thiên Chúa thật từ Thiên Chúa thật,
đồng một bản thể với Cha“</span><span style="font-size: 12.0pt; color: navy" lang="VI">.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có so sánh ba Tin
Mừng, ta mới thấy được sự lớn lên từ từ của lời tuyên tín, và
thấy được việc nó cắm rễ theo tiến trình kinh nghiệm của các môn
đồ và của đức tin. Thoạt tiên, ta đọc được nơi Mác-cô: „Thầy là
người được xức dầu“; rồi ở Lu-ca: „người được xức dầu của Thiên
Chúa“; rồi tới Mát-thêu: „người được xức dầu, Con của Thiên Chúa
hằng sống“.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Điều đó muốn nói lên
gì? Nó từ từ cho thấy Đức Giê-su không chỉ là một người được
xức dầu, như vị mà dân Do-thái đang trông chờ, nhưng trong Ngài
hai điểm trông chờ đã qui vào làm một. Một đàng, người ta trông
chờ một Đa-vít mới hay một Mai-sen mới, là vị vua tối cao, vị ra
luật lớn, là bạn và là người môi giới của Chúa, như Đa-vít và
Mai-sen xưa đã làm. Đàng khác, người ta trông đợi chính Thiên
Chúa sẽ hành động và đưa tay ra nắm lấy vận mệnh của thế giới.
Hai nỗi chờ mong trên đã nhập vào nhau trong Đức Ki-tô. Ngài là
một con người, nhưng chính Chúa đã bước vào trong con người đó.
</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Mệnh đề „Con Thiên
Chúa, ánh sáng từ ánh sáng, Thiên Chúa thật từ Thiên Chúa thật,
được sinh ra mà không phải tạo thành“, là kết quả của tất cả
những gặp gỡ với Đức Giê-su, bắt đầu từ bài giảng ở Ga-li-lê,
qua sứ điệp của Ngài, qua phiên toà của người Do-thái, trong đó
Ngài trả lời câu hỏi có phải mình thật là Thiên Chúa không, qua
thập giá cho tới qua những cuộc gặp gỡ với Đấng Phục Sinh. Ngay
các vị đầu lãnh Do-thái cũng đã ngửi được việc Ngài tự xưng mình
là Chúa là một điều gì vượt quá con người, nên họ cho đó – có lẽ
họ phải cho đó - là phạm thượng. Và như vậy thì họ đã hiểu Ngài
đúng. Đức Giê-su cũng đã bảo là họ nói đúng. Ngài bảo, vâng,
tôi là kẻ đúng như các ông nói! </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">BA NGÔI</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nước
Ái-nhĩ-lan (Irland) dùng chiếc lá có ba khía làm biểu tượng cho
quốc gia, bởi vì ngày xưa thánh Patrick</span></i></b><a href="http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=533&ict=7122#_ftn4"><b><i><span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">[4]</span></i></b></a><b><i><span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="FR">
</span><span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">
dùng lá đó để cắt nghĩa về Chúa ba ngôi. Đối với một người
thường, hay ít nhất không phải là dân Ái-nhĩ-lan, thì điều này
quả khó hiểu: Cha, Con và rồi thêm một Thánh Thần nữa – ba vị,
nhưng lại vẫn là một bản thể. Và chuyện lại càng rắc rối hơn đối
với các thánh. Hoạ sĩ Pinturicchio có một bức hoạ, trên đó ông
vẽ một giám mục ngồi bên bờ biển, giơ hai tay lên trời như vẻ
thắc mắc, mắt như nhìn vào quãng không. Tên bức hình: „Thánh
An-tịnh ngồi bên bờ biển suy tư về mầu nhiệm ba ngôi“. Có phải
giáo lýba ngôi chỉ là kết quả của một phỏng đoán về Thiên Chúa?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi muốn dừng lại một
lát nơi thánh An-tịnh. Trên huy hiệu của tôi có in hình vỏ sò
nói lên câu chuyện bên bờ biển của ngài. Tôi làm thế, để nói lên
khuynh hướng muốn theo gương An-tịnh của tôi. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thánh An-tịnh đã viết
cuốn sách dày về ba ngôi, đó là cả một cuộc vật lộn tri thức,
nhưng cuối cùng chính ngài cũng phải nhận rằng mình thất bại. Từ
cuộc vật lộn đó, nẩy sinh truyền tụng về chuyện ngài gặp một chú
bé bên bờ biển đang lấy tay moi một cái lỗ trên cát, và cầm vỏ
sò múc nước biển đổ vào lỗ. Nhìn thấy cảnh đó, ngài chợt nghĩ:
Làm sao đổ hết nước biển vào lỗ đó được, làm sao trí tuệ hạn hữu
của mình lại có thể hiểu được hết bí mật của Thiên Chúa. Tôi tin
rằng câu chuyện trên là một diễn tả rất đúng về sự hữu hạn của
ta. Đại dương làm sao đổ vào được trí tuệ vỏ sò của ta, cho dù
trí tuệ đó được căng lớn ra. Ta không thể hiểu được tất cả những
gì khác của Thiên chúa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không phải chỉ người
thường, mà cả bậc thông minh xuất chúng, cũng không thể hiểu
được bí ẩn này: Thiên Chúa thật ra là một, nhưng Ngài lại ở
trong ba người, Ngài hiện hữu trong tương quan tình yêu tay ba
này, chuyện quả thật không thể giải nổi. Điểm quan trọng cần
nhớ, là Ki-tô giáo vững tin vào hai điều này: Thiên Chúa là đấng
duy nhất và là một hợp nhất tối cao. Nhưng rồi sự hợp nhất tối
cao này không còn là hợp nhất của những cái bất khả phân, nhưng
là sự hợp nhất được hình thành qua đối thoại tình yêu. Thiên
Chúa, đấng duy nhất, đồng thời cũng là một tương quan với chính
Ngài, và vì vậy Ngài cũng có thể tạo ra tương quan. Một cách nào
đó, chúng ta thấy đây là điểm hợp lí, mặc dầu ta không lí giải
được.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Như vậy
giáo lýba ngôi từ đâu mà có?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Qua sự tiếp cận với
Đức Ki-tô. Qua sự kiện Ngài gọi Thiên Chúa là <i>Cha</i> và tự
xưng mình là <i>Con</i> - Đức Ki-tô không tự xưng mình là „một
Con Thiên Chúa“ –, qua việc Ngài tỏ ra mình với Thiên Chúa là
một.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Từ hệ quả đó nẩy ra
nhiều câu hỏi: Như vậy nghĩa là thế nào? Phải chăng Đức Ki-tô là
<i>một </i>Thiên Chúa? Có hai Thiên Chúa? Đức Kitô là một ai
hoàn toàn khác? Phải chăng Ngài đã tự nâng mình cao quá lẽ?
Những điều Ngài nói có thật là chân lí không? Cứ như thế. Nhưng
có một điểm mốc giúp ta hiểu được điều trên là cuộc đối thoại
giữa Ngài với Cha Ngài, và từ cuộc đối thoại đó, có thêm yêu
sách của Ngài đối với người nghe. Nhờ đó, một đàng ta nhận ra sự
bình đẳng, tính hợp nhất và bản tính thiên chúa trong sự duy
nhất của Thiên Chúa, đàng khác ta cũng nhận ra được sự khác
biệt, sự phân biệt. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thêm nữa, chính Đức
Ki-tô còn nói đến tinh thần của Cha, mà đồng thời cũng là tinh
thần của Ngài. Đã có hai vị là Cha và Con rồi, giờ thêm một vị
nữa, Thánh Thần, quả lại càng thêm khó hiểu. Đức Ki-tô là một
nhân vật ta có thể khả giác được. Thánh Thần có thể nói hiện hữu
như là một tác động, chứ như là một người thì quả khó hiểu đối
với ta. Vì thế mà đã có những tranh luận dài dài về bản tính
người của Ngài. Nhưng nếu Đức Ki-tô nói về Tinh (Thánh) thần như
là một trạng sư, một vị an ủi (Parakleten) mà Ngài ban tặng cho
ta, thì như vậy rõ ràng Ngài và Tinh thần đó cùng thuộc vào một
cấp ngang nhau, và như vậy rõ ràng bản chất tương quan trong
Thiên Chúa này được thể hiện qua ba ngôi vị : Cha - Con - Thánh
Thần. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thần học đã luôn tìm
cách diễn tả một cách ấn tượng sự phù hợp nội tâm đó, với lí
luận rằng, chỉ có ba ngôi vị mới tạo ra được tương quan đầy đủ
nhất. Ở đây, các nhà thần học đã cho ta một phương tiện suy tư
nền tảng, để giúp trí óc ao tù của ta có thể mường tượng được
chút gì về đại dương bao la. Như vậy, điều quan trọng là giáo
lýba ngôi không phải do ai nghĩ ra, mà đó là kết quả của kinh
nghiệm. Nó hình thành từ việc gặp gỡ lời nói và việc làm của Đức
Ki-tô, và đã được diễn tả ra dần dần qua quá trình suy tư và
lòng tin vào những lời nói và việc làm đó. Ở đây, ta cũng nên
nhớ, là nghi thức rửa tội khởi đầu bằng câu: Tôi rửa … nhân danh
Cha, Con và Thánh Thần. Công thức này khởi đi từ sứ mạng của
chính Đấng Phục Sinh. Cho dù ta chưa nắm được chiều sâu của câu
này, nhưng nó ngay từ đầu đã ấn dấu lên cấu trúc của việc cầu
nguyện và của đức tin Ki-tô giáo.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tại sao Bạn không cướp
nhà băng, nếu Bạn biết chắc sẽ không bị bắt? Do đâu Bạn tin chắc
rằng, rồi đây trên giường bệnh Bạn sẽ không bị người ta chích
thuốc cho chết? Có thể trường hợp bệnh lí rắc rối của Bạn sẽ tạo
ra quá nhiều tốn kém và khó nhọc cho việc chữa trị và chăm sóc,
và vì thế xã hội sẽ không lo xuể. Tại sao người ta không vứt xác
chết vào bãi rác và dẹp nghĩa trang đi để xây nhà trẻ? Do đâu
Bạn biết chồng Bạn trung thành? Do đâu Bạn biết bào thai vợ đang
mang là con của Bạn? Và đây là câu hỏi nghiêm chỉnh: Cái gì minh
chứng cho sự hiện hữu hay không hiện hữu của Thiên Chúa? Là vì
“nếu không có Thiên Chúa, thì mọi chuyện đều được phép làm”
(Dostoiewski, Anh em nhà Karamazov). Hay không phải vậy?</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Một cuốn sách viết về
Thiên Chúa, muốn được con người thời nay nghiêm chỉnh đón nhận,
phải nêu bật lên được những câu hỏi từ cuộc sống cụ thể, những
câu hỏi mà bất cứ một anh, một chị, một em bé nào cũng phải đối
diện. Bởi vì rõ ràng: Ai thật sự tin Chúa, người đó sống khác
hơn kẻ không tin Chúa. Tuy vậy, con người vẫn chẳng bao giờ sống
và nghĩ cho đến nơi đến chốn. Những người vô thần nướng thời giờ
quý báu cho những suy tư vô lí, và họ sống đôi khi như là có
Thiên Chúa thật. Còn kẻ tin vào Thiên Chúa thì sống hoang phí đa
phần thời gian đời mình như là chẳng có Thiên Chúa. Nếu chúng ta
tin rằng, mỗi thời khắc cuộc sống qua đi sẽ không bao giờ trở
lại, thì cuộc sống của cả hai hạng trên quả là bất hạnh. Người
ta tiêu phí thời gian cuộc sống bất khả hồi cho một Thiên Chúa
không hề có; hay hoàn toàn ngược lại, người ta đã để mất cơ hội
sống mà lẽ ra phải dùng nó để chuẩn bị cho sự sống đời đời bên
Chúa. (THIÊN CHÚA, Manfred Lutz, Dẫn Nhập)</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">LẠY CHA
CHÚNG CON</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">« Kinh
Lạy Cha“ là lời cầu duy nhất Đức Ki-tô đã dạy cho môn đệ, và từ
2000 năm nay, kinh này là phần không thể thiếu trong thánh lễ.
Kinh này – cũng như kinh tin kính, như các bộ tộc Is-ra-en, như
số các tông đồ và số hình sao trên trời – có tất cả 12 câu. Và
12 câu này lại gồm đúng 7 lời cầu. Hẳn phải có một bí ẩn lớn
trong đó?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có phải gồm 12 câu hay
không, tôi không biết. Và trong bản bằng tiếng Hi-lạp cũng có số
câu như vậy hay không, lại là một chuyện khác nữa. Nếu quả như
vậy, thì đây là một cấu trúc khá đặc biệt. Ta có hai kinh Lạy
Cha, một theo Lu-ca và một theo Mát-thêu. Quả thật hay, khi toàn
bộ nội dung và thứ tự mong ước được gói trọn trong bảy lời cầu,
và mỗi chữ đều mang một ý nghĩa sâu xa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chỉ một từ <i>Cha</i>
mà thôi, nói lên tương quan cha – con giữa Chúa và ta, đã đầy ắp
ý nghĩa rồi. Từ <i>chúng con</i> cũng quan trọng không kém. Con
cái Chúa không phải là „con“ đơn lẻ, mà là „chúng con“. Như thế,
cấu trúc lời kinh đó chứa đựng một kho tàng, mà ý nghĩa chỉ được
khám phá dần dần qua bao nhiêu thế kỉ. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Kinh Lạy
Cha chẳng bao giờ trở nên cổ hủ…</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không biết có bao
nhiêu tác giả đã viết về kinh đó, vì mỗi người có một cảm nhận
riêng. Vì thế, cũng như lời Chúa và kinh Tin kính, kinh này một
mặt mang một hình thù bất biến, nhưng mặt khác nó luôn mới, vì
là nguồn cho những cảm nghiệm bất tận, nó luôn đẩy ta đi tới. Ta
không bị trói vào quá khứ cứng đơ, nhưng kinh Lạy Cha là một
vùng đất đầy khám phá, trong đó chính mỗi người cũng có thể tìm
ra cho mình những điều mới.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tại sao
Giáo Hội cầu kinh đó hàng ngày trong thánh lễ? Phải chăng vì đó
là lời kinh do Đức Ki-tô dạy?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có lẽ chỉ một lí do đó
thôi cũng đã đủ rồi. Đó là lời kinh nguồn cội, mà ta cùng Đức
Ki-tô cầu nguyện nhiều nhất và đúng đắn nhất. Đại giáo chủ
Grê-gô-ri-ô viết trong một lá thư, kinh Lạy Cha trong thánh lễ
mang tầm quan trọng nền tảng, vì rốt cuộc đó là kinh do chính
Đức Ki-tô dạy. Ngài nói thêm, kinh đó cao trọng hơn bất cứ một
kinh nào do con người lập, và cũng quan trọng hơn những lời kinh
phụng vụ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Một chỗ
trong kinh Lạy Cha: “và đừng dẫn chúng con vào chước cám dỗ”.
Tại sao một Thiên Chúa nhân từ lại muốn cho chúng ta sa chước
cám dỗ? Có phải đây là một lỗi dịch thuật? Sư huynh Roger, người
sáng lập phong trào Taizé, một cộng đoàn đại kết ở Pháp, đề nghị
nên cầu như vầy: “và đừng để chúng con sa chước cám dỗ”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Người ta đã thắc mắc
nhiều về chuyện trên. Tôi biết, thủ tướng Đức Adenauer đã ép
Hồng Y Frings phải xét lại câu đó. Chúng tôi vẫn luôn nhận được
thư đề nghị nên đổi theo hướng trên. Dịch đúng chữ phải là “đừng
dẫn chúng con vào chước cám dỗ”. Đâu là ý nghĩa của câu này?</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Những người cầu xin
biết rằng Chúa chẳng ép mình vào đường xấu. Ở đây, có thể nói họ
khẩn cầu Ngài đi với họ trong cơn cám dỗ. Thư thánh Gia-cô-bê
nói rõ, Thiên Chúa trắng ngần không một vết nhơ chẳng cám dỗ ai
cả. Nhưng Chúa có thể thử thách chúng ta – như trường hợp
Ab-ra-ham - để chúng ta trưởng thành hơn, để chúng ta đối diện
với hố thẳm của mình, và để rồi lại đưa ta về bên Ngài. Như vậy,
chữ “cám dỗ” cũng có nhiều tầng ý nghĩa. Rõ ràng Chúa chẳng bao
giờ dẫn ta vào đường xấu. Nhưng có thể Ngài không cất đi khỏi ta
những cám dỗ, Ngài muốn giúp và dẫn ta, như đã nói, qua thử
thách. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ta cầu Ngài đừng để ta
sa chước cám dỗ, đừng để ta đi vào đường xấu, đừng thử thách ta
quá sức; cầu Ngài ra tay giúp đỡ sự yếu hèn của ta, để ta khỏi
mất Ngài.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nghĩa là
vẫn để nguyên câu đó?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Theo tôi nên để
nguyên. Mà cũng không có việc nghiêm cấm chuyện dịch theo các
lời đề nghị như kiểu của sư huynh Roger Schütz. Tuy nhiên, theo
tôi, vì lòng khiêm tốn, cứ để nguyên như vậy và gắng đi vào
chiều sâu của lời kinh thì tốt hơn.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">NGUYÊN TẮC
CHA – CON</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI"> “Không
ai biết Con hơn Cha, và không ai biết Cha hơn Con”, thánh sử
Mat-thêu viết như thế. Rõ ràng tính cách Cha của Thiên Chúa cũng
giống như một thứ chìa khoá giúp ta hiểu về các thế hệ hoặc về
sự trở thành và sự qua đi. Các tông đồ bảo Chúa Cha là “nguồn và
cùng đích mọi sự”, chỉ có trong Ngài ta mới hiểu được chính
mình. Phải chăng quan hệ này, một cách nào đó, đã được khắc sâu
vào cuộc sống như một nguyên tắc? </span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước hết, điều có lẽ
quan trọng với tôi, là phải làm sao nêu bật lên nét đặc thù của
quan hệ Cha – Con thật đặc biệt này. Câu “không ai biết Cha
ngoài Con, không ai biết Con ngoài Cha” trước hết nói lên một
quy luật nhận thức tổng quát. Câu đó có í nói rằng chỉ có những
gì giống nhau mới nhận ra nhau. Không thể nhận ra Chúa, nếu
không có sự tương đồng nội tâm với Ngài. Thật ra, chỉ có Chúa
mới có thể nhận ra Ngài mà thôi. Con người được phép nhận ra
Chúa, chỉ khi họ được Chúa đưa vào một quan hệ thân thuộc với
Ngài, và khi nơi con người có được nhiều tương đồng với Ngài
giúp họ có thể nhận ra Ngài. Và Đức Giê-su nói tiếp: “Không ai
có thể nhận ra, ngoài kẻ mà Cha muốn mạc khải cho”. Nói cách
khác: Nhận thức chỉ xẩy ra khi cả hai đều muốn.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Phải
chăng quan hệ Cha – Con [của Chúa] cũng không phải là một mối
liên hệ tiêu biểu cho cuộc sống con người?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có thể nói được đó là
một quan hệ tiêu biểu. Trước hết, đó chỉ là một thứ khung ngôn
ngữ và suy tư, một chút hé mở từ xa nhằm giúp ta hiểu được một
chút về Thiên Chúa – mà vẫn luôn biết rằng, như công đồng
Laterano thứ 4 nói, giữa ta với Chúa cái khác nhiều hơn gấp bội
lần tất cả những cái giống. Nhưng mặt khác, có lẽ không thể dùng
quan hệ Cha – Con làm hình ảnh tương đồng giúp ta hiểu từ xa cái
bí ẩn bên trong của Chúa, nếu như trong quan hệ đó không ẩn chứa
một vết tích nào của Thiên Chúa. Quan hệ Cha – Con đặc biệt này
là một mối quan hệ uyên nguyên của con người. Đây là một quan hệ
cho đi, nhận vào và trao trả lại. Nếu ta bắt đầu từ đây cứ triết
lí tiếp, tất nhiên ta sẽ đề cập tới toàn bộ câu hỏi về gia đình
nhân loại, và như thế chắc chắn ta sẽ gặp phải giới hạn. Nhưng
đúng là ngón trỏ bàn tay ta có thể vươn lên trời được bao nhiêu,
thì quan hệ rất đặc biệt kia cũng vươn xa được tới đó.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thời đại
tân tiến ngày nay đang gặp khủng hoảng về vai trò làm cha. Một
khi vai trò làm cha mất, ý niệmquyền uy cũng đổ theo. Và xem ra
một số lớn kiến thức cũ cũng mất hoặc bị gạt bỏ đi một cách oan
uổng. Xem ra, một cách nào đó, người ta không còn dễ dàng tin
vào những gì lưu truyền. Làm như thế, nói một cách bóng bẩy, là
người ta hất luôn cả đứa con khi đổ chậu nước tắm.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Lời xưa
có viết, Thiên Chúa đã trao cho các bậc làm cha một sứ mạng. Và
quả thật, xưa nay việc chuyển tiếp gia sản đã diễn ra trong quan
hệ cha con; việc chuyển tiếp này hầu như luôn là một diễn tiến
căng thẳng, một cuộc chiến đấu, trong đó một phía phải được
thuần hoá và được lãnh đạo, trong đó cần có phản kháng để mới
lớn lên được.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhà tâm
lí Erich Fromm đã có lần phân biệt tình cha và tình mẹ như thế
này: Tình mẹ, theo ông, là đương nhiên. Tình đó được trao tặng
cho người khác. Nó gần như là một thứ tình đui mù. Và tình này
không đòi hỏi một bổn phận luân lí nào. Tình cha, trái lại, là
một tình yêu có điều kiện. Đó là một tình yêu người ta có thể
sinh lợi cho mình, nếu họ cố gắng sống theo quy luật.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đó là những vấn nạn
thâm sâu về mặt nhân chủng. Việc chuyển tiếp đời sống, khôn
ngoan và kinh nghiệm xẩy ra như thế nào? Những quan hệ nguồn cội
giữa cha mẹ và con cái, giữa cha với con trai, giữa mẹ với con
gái hệ tại ở đâu? Chúng nói cho ta biết cái gì về bí ẩn Thiên
Chúa, cái gì không? Trước hết, một lần nữa, tôi muốn nhấn mạnh
rằng, có một chuỗi bất tận cái không giống trong tương quan giữa
ta với Chúa, rằng có cái giống nhưng lại xuất hiện hoàn toàn
khác, và vì vậy ta phải vô cùng thận trọng trong việc dùng các
hình ảnh tương đồng và trong những ứng dụng. Càng hiểu về con
người, về quan hệ cha với con trai, về tương quan mẹ với con, ta
càng nhờ đó có thể hiểu thêm chút gì về Thiên Chúa. Chẳng hạn
như ta sẽ hiểu rằng Thiên Chúa cũng có một mối tình mẹ con với
ta, cho dù – như đã nói – ta không dùng chữ “mẹ” đối với Ngài
trong lời cầu kinh.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Về quan điểm của Erich
Fromm mà tôi quả không biết, tôi thấy rất hay và đáng suy gẫm.
Nhưng phải nói ngay, tôi không đồng í với tất cả những điều anh
nêu. Tôi nghĩ rằng tình mẹ trước hết là một mối tình tự nhiên -
là vì bà mang con trong lòng, đó là máu thịt của bà -, nhưng đó
không chỉ là sự thiết thân hay tình yêu do quy luật sinh lí mà
thôi. Bà còn có trách nhiệm cung cấp cho con mình cả thể lí lẫn
tình yêu để nó có thể thành người.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi tin rằng trong đó
đã có sẵn một yêu sách đạo đức rồi. Làm mẹ chẳng bao giờ chỉ là
một diễn tiến thuần sinh lí, nhưng đó cũng là một diễn tiến tinh
thần. Mẹ mang con trong lòng, sinh nó ra và phải trải qua một
quá trình cọ xát tinh thần với con. Đây là một quá trình có
sự tham gia toàn bộ con người của mẹ. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Quan hệ giữa cha và
con trai rõ ràng khác và rắc rối hơn. Một nhà thần học đã nói,
ngày nay ta phải thay chuyện người con đi hoang bằng chuyện các
người cha đi hoang. Cha thường bỏ hết thì giờ cho nghề nghiệp và
công việc, hơn là để ý tới con, thường nghĩ tới năng xuất nhiều
hơn là nghĩ tới tặng phẩm Trời cho và tới những bổn phận mình
phải có đối với tặng phẩm đó. Nhưng mất vai trò cha cũng có
nghĩa là con bị thiệt hại. Nhìn vào các thần thoại ngoại giáo,
chẳng hạn trong câu chuyện về thần Zeus, ta thấy quan hệ ở đây
được trình bày như là bất thường, bất nhất và độc đoán: Người
cha ở đây tuy có sức mạnh và uy quyền, nhưng thiếu trách nhiệm
cần thiết, ông dùng quyền nhiều hơn lí và tình. Còn người cha
trong Cựu Ước thì khác hẳn, nhất là người cha trong dụ ngôn của
Đức Giê-su lại càng khác: Ở đây có sự đồng cân giữa quyền và
trách nhiệm, vừa có lí có tình, quan hệ đặt trên niềm tin chứ
không trên sợ hãi. Thiên Chúa là cha có nghĩa là Ngài hướng đến
ta, đón nhận ta vào lòng Ngài, khiến ta có thể lấy tình yêu con
cái mà đối xử với Ngài. Thiên Chúa là cha có nghĩa là Ngài đề ra
khuôn thước và cũng sửa phạt ta một cách khắt khe, nhưng khắt
khe đó đồng nghĩa với yêu thương và luôn đặt nền trên tha thứ.
Câu chuyện người con đi hoang trong Tân Ước qua lời kể của Đức
Giê-su có lẽ cũng là một hình ảnh đánh động nhất về tư cách làm
cha của Thiên Chúa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu chuyện đó, như
vậy, trở thành khuôn thước cho vai trò làm cha của ta, để ta tu
chỉnh theo nó. Hình ảnh Thiên Chúa là Cha trong Kinh Thánh không
phải là để cho ta phóng chiếu nhìn lên, nhưng ngược lại: Từ trên
cao Ngài nói xuống cho ta biết vai trò làm cha thật sự ra sao,
và ta có thể và nên đóng vai trò đó như thế nào với nhau.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<a name="4._SỰ_SỐNG_">
<span style="font-size: 12.0pt; color: red">4</span><span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">.
SỰ SỐNG</span></a></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: navy" lang="VI">Tôi tin
ai cũng muốn biết cuộc sống rồi sẽ ra sao, nó diễn tiến như thế
nào, phải sống ra sao cho đúng, và làm sao để có được một cảm
giác thật tốt về nó. Cary Grant, một nghệ sĩ nổi tiếng, trước
khi chết đã để lại cho con gái Jennifer một lá thư tuyệt mạng
thật cảm động. Trong đó, ông còn muốn khuyên con gái một vài
điều về cuộc sống. Ông viết: „Jennifer rất yêu dấu của Ba, hãy
sống đầy đủ cuộc đời con, đừng vị kỉ. Hãy mực thước, kính trọng
nỗ lực của kẻ khác. Hãy cố gắng làm điều tốt nhất và có được tư
cách tốt. Hãy giữ cho đầu óc thanh khiết và có lối cư xử trong
sáng“. Ông tiếp: „Hãy cám ơn những khuôn mặt tốt con gặp và tình
yêu ngọt ngào đàng sau đôi mắt của họ… cám ơn những bông hoa đùa
vui trong gió … Chỉ một giấc ngủ ngắn thôi rồi Ba sẽ thức giấc
ngàn thu. Nếu Ba không thức dậy, thức dậy như ta vẫn hiểu, thì
Ba sẽ tiếp tục sống mãi trong con gái yêu dấu của Ba“. Nghe có
vẻ công giáo quá nhỉ.</span></i></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Một bức thư tuyệt đẹp.
Còn có công giáo hay không thì tôi không biết. Đó là lời nói của
một người đã trở nên chín chắn, và đã có được cảm quan về cái
thiện và cố gắng trao nó đi tiếp, và bằng một cung cách thân
thiện tuyệt vời.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">SỰ SỐNG
CON NGƯỜI</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nếu đứng
từ thật xa mà nhìn cuộc sống - thì nó trông ra sao? Phải chăng
đó là một cái gì hơn là một trò chơi bắt buộc? Một chiếc lông
đong đưa trong gió? Phải chăng cuộc sống lệ thuộc vào bản năng,
bạo lực, gốc gác của một con người, lệ thuộc vào nốt chích của
một chú muỗi sốt rét có thể đẩy nó ra khỏi quỹ đạo cuộc sống?
Hay lí lịch của tất cả chúng ta đều đã được xác định từ lâu? Đời
tôi là một thứ bản đồ dẫn đường mà Thiên Chúa vô lường từ lâu đã
viết vào trong cuốn Sách Đời bí mật của Ngài? Hoạ sĩ
Michelangelo nói như thế này: „Hình đã nằm sẵn từ lâu trong đá.
Tôi chỉ đẽo bớt đi những gì thừa thãi mà thôi“.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Anh đã gom vào câu hỏi
đó một chương trình phong phú. Tôi tin rằng, khi ta hỏi „Cuộc
sống là gì?“, thì điều quan trọng trước hết là mình phải nhìn ra
sự phức tạp của ý niệmđó. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước hết, cuộc sống
là một cái gì thuộc sinh học. Nó thoát thai từ vô cơ và rồi diễn
tả một cấp độ mới của thực tại. Một trong những dấu chỉ chính
nói lên sự có mặt của sự sống là khả năng tự sinh sản và tự điều
hành của một guồng máy, nhưng đây không hẳn là một cỗ máy, mà là
một cơ phận. Như vậy, ta có trước hết là lớp sinh vật, lớp này
khởi đi từ một đơn bào rồi càng ngày càng phát triển lên thành
những hình thái cao hơn, phức tạp hơn, để trở nên càng lúc càng
lạ lùng, nhiệm mầu và phong phú hơn. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nơi con người có thêm
một lớp mới khác. Đó là tinh thần, sống động và là sự sống. Tinh
thần tan hoà vào cơ thể sinh vật và qua đó trao cho đời sống một
chiều kích mới.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngoài ra, đức tin
Ki-tô giáo xác tín rằng chúng ta còn có thêm một lớp nữa, lớp
này hình thành qua sự gặp gỡ giữa ta với Đức Ki-tô. Ta có thể
thấy trước được lớp này qua tình yêu con người: Mỗi khi được
yêu, trước sự hiện diện của người yêu, ta thấy có thêm một chiều
kích mới đi vào động lực tinh thần ta. Điều như thế cũng xẩy ra,
khi tôi được chính Thiên Chúa qua Đức Ki-tô đoái nhìn, và qua đó
Ngài biến cuộc sống tôi trở thành song hành với chính cuộc sống
sáng tạo của Ngài.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Như vậy,
sự sống mang nhiều cấp. </span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Và cuộc sống vươn tới
cấp cao nhất, khi cùng sống với Chúa. Đây cũng chính là nơi tiềm
ẩn sự phiêu lưu liều lĩnh của con người. Con người có thể và nên
là sự tổng hợp của toàn thể toà nhà nhiều tầng đó. Nó có thể và
nên vươn tới Thiên Chúa hằng sống và trao lại cho Ngài những gì
đã nhận được từ Ngài, sau khi đã uốn nắn chúng theo cách thế của
ta. Nhưng, như chúng ta đã nói, yếu tố tự do đã đi vào động năng
cuộc sống mỗi người, và yếu tố này đối kháng lại toàn bộ sự tiền
định.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Theo hình ảnh Thiên
Chúa Ki-tô giáo, cuộc sống không có một quy định cứng nhắc. Bởi
vì Thiên Chúa quá vĩ đại và quá toàn năng trên tất cả, vì bản
chất của Ngài quá yêu tự do, nên Ngài không thể và không muốn
lèo lái cuộc sống con người một cách tuỳ thích. Mà dù cuộc sống
này vẫn luôn được Ngài bảo bọc và nâng niu trong hai bàn tay
Ngài, thì yếu tố tự do kia vẫn có chỗ đứng rõ ràng. Tự do này mở
rộng tới mức con người có thể phá đổ toàn bộ kế hoạch của Chúa.
Quan trọng là cuộc sống phải được diễn ra trong những lớp khác
nhau đó. Nhờ các lớp bên trên mà cuối cùng con người vượt qua
được sự chết để tiến vào vĩnh cửu. Lại nữa, trên thực tế, cái
chết là thân phận cần có của tất cả mọi sự sống thuần hữu cơ.
</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nếu tôi
có tự do thật, thì làm sao tôi có thể làm chủ được cuộc sống
mình, làm sao tôi có thể lái đời mình vượt qua được những bến
đỗ, những đoạn đường, những ngã rẽ quan trọng trong đời? Khi nào
được gọi là thành công trên đường đời? Giáo huấn Đức Ki-tô có
giúp tôi xác định được điều đó không? Cuộc đời tôi phải giống
như của mẹ Tê-rê-xa ở Calcutta?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Mẹ Tê-rê-xa chỉ là một
mẫu mực. Nhưng khi nhìn vào cuộc đời các thánh lớn, hay nhìn vào
các nhân vật có cuộc sống thành công, ta thấy ơn gọi rất khác
nhau. Không phải ai cũng phải là mẹ Tê-rê-xa. Một nhà khoa học
nổi danh, một học giả cao kiến, một nhạc sĩ, hay một người thợ
thủ công, hay người làm công bình thường cũng có thể có một cuộc
sống thành toại, họ sống đời mình một cách khiêm tốn, trung
thành và ngay thẳng…</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue">Nghe ra hơi lỗi
thời…</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có thể như vậy, nhưng
người ta tìm gặp trong đó một cuộc sống tràn đầy, dù là hôm qua,
hôm nay hay ngày mai. Mỗi cuộc sống có ơn gọi riêng. Nó có ẩn số
riêng và con đường riêng. Không cuộc đời nào là thuần bắt chước,
tung tăng bước ra từ một chuỗi giống nhau. Và mỗi người cũng cần
can đảm sống đời mình một cách sáng tạo mà chẳng cần bắt chước
ai. Nếu anh nhìn vào dụ ngôn anh lười, hắn ta chôn tài năng mình
để khỏi bị sứt mẻ, thì anh sẽ thấy điều tôi muốn nói trong đó.
Hắn ta là người không muốn liều lĩnh sống và làm triển nở cuộc
đời độc đáo riêng của mình; không muốn trực diện với những nguy
cơ cần có trong cuộc sống.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong ý nghĩa đó, có
nhiều loại ơn gọi. Tôi đã nói trong cuốn “Muối Cho Đời” của
chúng ta, là có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu con đường tới
Chúa. Ở đây phải thêm: Có bao nhiêu con người thì có bấy nhiêu
con đường để sống thành toại.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Như vậy,
có thể nói, con người là một lực sáng tạo trống rỗng?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không, tất cả điều đó
không có nghĩa là ta bị thẩy vào đại dương vô định mà chẳng hiểu
tại sao, như Sartre nói, chẳng hạn. Sartre cho rằng, tự do là
điều đáng nguyền rủa. Con bò không cần suy tư về số phận trâu bò
của mình, nhưng con người phải tìm cho chính mình lẽ sống. Dù
vậy, con người cũng không phải bị thẩy vào cuộc sống từ hư vô,
mà không mang một dự án nào trước. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có khuôn mẫu nền tảng.
Mỗi người cố gắng tìm ra cho mình nguồn thông tin để hỏi, <i>bạn</i>
đã làm như thế nào, <i>hắn</i> đã làm như thế nào, <i>tôi </i>có
thể làm như thế nào? Làm sao tôi có thể nhận ra chính mình và
những khả thể của mình? Chúng ta xác tín rằng Đức Ki-tô là nguồn
thông tin chính của ta. Một mặt, Ngài cung cấp cho ta những
đường nét chung và lớn. Mặt khác, Ngài đồng thời cũng đưa ta vào
một quan hệ thật riêng tư, để ta có thể cùng Ngài và cùng cộng
đoàn tín hữu nhận ra được cái độc đáo của riêng mình – và rồi
độc đáo sẽ hoà giải với cộng đoàn.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Trước
đây, người ta đơn giản chỉ mong sao được trở nên người ngay
thẳng và cuộc sống làm sao được tương đối bảo đảm. Thế là đủ. Có
một thời để dọn đất, một thời để gieo hạt và một thời để thu
hoạch. Còn chuyện phải sống ra sao, thì đã có Kinh Thánh hướng
dẫn. Ngày nay, mọi việc xem ra rắc rối hơn nhiều. Sợi chỉ đỏ của
một cuộc đời, cái hoạ đồ sống khả dĩ làm nên cái gọi là bản sắc
con người, càng ngày xem ra càng khó thấy, khó tạo.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phải công nhận cuộc
sống xã hội phức tạp ngày nay đã trở nên phức tạp hơn. Dù vậy,
ta không nên quá thiển cận để phủ nhận sự hiện hữu của những
hằng số. Chúng ta đã suy niệm về mười giới răn. Mỗi thế hệ và
mỗi cá nhân phải khai thác từ gia tài đó một cách mới mẻ cho
mình, nhưng dù vậy, chúng chứa đựng một thông điệp rõ ràng và
không thể lẫn lộn được.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có lẽ cần
nhắc lại, lúc này đây Ki-tô giáo không phải đang chìm vào một
thể vô hình và chẳng còn gì để nói nữa. Chính Ki-tô giáo có một
chu vi đủ lớn, để có đủ chỗ cho cái độc đáo phát triển – và đồng
thời nó cũng có thể đặt ra chuẩn mực cho cái độc đáo kia, nhờ đó
mà sự phát triển có thể diễn ra. Chính vì đang ở trong một thế
giới phức tạp và rắc rối mà ta càng nên và càng được phép dựa
vào những hằng số lớn của lời Chúa, để tiếp tục tìm ra sợi chỉ
đỏ. Bởi vì nếu ta không làm chuyện này, thì khả năng sáng tạo
của cá nhân, trên thực tế, sẽ chóng trở thành một bản sao chỉ
còn biết tuân phục những chuẩn mực chung, chỉ còn biết làm theo
những gì thời thượng và những gì nó có thể làm mà thôi. </span>
</i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nếu ta bỏ đi thông
điệp đặc biệt của đức tin, ta sẽ không trở nên độc đáo hơn, mà
trái lại, tùy theo mốt thời gian, ta chỉ càng ngày càng rơi vào
đồng phục. Chúng ta đã chứng kiến rất rõ tiến trình đồng phục
này trong cái đồng dạng của nếp sống tân tiến ngày nay. Vì thế,
tôi tin rằng, nay là lúc hơn bao giờ hết, ta cần phải coi các
hằng số của mạc khải và đức tin luôn vẫn là bảng chỉ đường, nó
giúp tôi những điểm mốc để đi lên, và tặng tôi ánh sáng để có
thể triển nở ơn gọi riêng của mình.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">NGUYÊN TĂC
CỦA ĐỨC GIÊ-SU</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI"> Đức
Giê-su luôn muốn chỉ cho con người đường ngay nẻo chính; Ngài
muốn chỉ ra những điểm mốc để họ theo đó mà thành người, như
Hồng Y nói. Một lần Ngài đi lên núi, và bài giảng trên núi đó
coi như đã mở ra một chương mới. Bài giảng hẳn đã có tác động
mạnh vào thời đó, vì Kinh Thánh chép rằng: “Khi Đức Giê-su
giảng xong, đám đông rất xúc động; bởi vì Ngài dạy họ như thể là
một người được Thiên Chúa uỷ quyền, chứ không phải như những
luật sĩ của họ”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngọn núi nơi Ngài
giảng chắc chắn có một ý nghĩa tượng trưng. Ở đây Đức Giê-su
hiện thân như một Mai-sen mới. Và thay vì núi Si-nai thì giờ đây
là ngọn núi chỉ đường mới, núi của các mối phúc. Thoạt tiên,
Ngài dựa vào cấu trúc một cuộc đối thoại, nhưng đồng thời đã đào
sâu, làm mới và đưa vào bài giảng một chiều rộng mới, một đòi
hỏi mới. Thêm nữa, Ngài còn mở ra một cấp độ nhân bản mới, qua
đó con người có thể nối kết được với Thiên Chúa. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI"> Đức
Giê-su tuyên bố công khai: “Những lời dạy không phải là của tôi,
nhưng của Đấng đã sai tôi. Ai thực hành ý Thiên Chúa, người đó
sẽ nhận ra được những lời đó là do tự tôi nói ra hay là lời dạy
của Thiên Chúa”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không những Ngài tự
coi ngang hàng với Mai-sen, hẳn điều này đã khiến người nghe
không dễ chấp nhận rồi, mà còn ngang hàng với kẻ ra luật, là
chính Thiên Chúa. Đức Giê-su giảng dạy qua sự uỷ nhiệm của
Thiên Chúa. Ngài nói: “Quý vị đã được nói cho hay” có nghĩa là
“Thiên Chúa đã nói cho quý vị hay”, rồi tiếp: “Còn tôi, tôi nói
cho quý vị hay”. Như vậy, nhìn từ nhiều mặt, bài giảng trên núi
nói lên cách mạnh mẽ nhất tư cách Thiên Chúa của Đức Ki-tô; Ngài
muốn cho thấy rằng, giờ đây không phải do trung gian con người
nữa, nhưng là do chính Thiên Chúa, mà lề luật cựu ước có được
những diễn giải sâu xa nhất và có được giá trị phổ quát.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Người nghe cảm được
điều đó. Và họ cũng cảm được rất mạnh cái gọi là ý nghĩa đôi của
bài giảng. Họ hiểu rằng, thông điệp đó một mặt chứa đựng một
tinh thần mới, một nét trưởng thành mới và sự nhân hậu, một giải
thoát mới đưa ta ra khỏi cái hời hợt và bề ngoài, nhưng mặt
khác, nó cũng là một đòi hỏi mới. Và đòi hỏi này quá lớn đến độ
có thể đè bẹp con người, nếu như họ bị bỏ mặc một mình.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nếu giờ đây thay vì
nói: ngươi không được xé bỏ hôn ước, mà lại nói, ngươi không
được nhìn đàn bà với lòng ham muốn. Thay vì: ngươi không được
giết người, mà lại nói, ngươi không được nổi giận về một người
nào; thay vì: mắt đền mắt, răng đền răng thì chưa đủ, mà trái
lại, ai vả má phải thì hãy đưa thêm má trái cho họ - thì lúc đó
ta sẽ đứng trước một đòi hỏi rất đặc biệt, đòi hỏi này có thể
tạo nên sự thán phục đấy, nhưng đồng thời nó lại xem ra quá sức
đối với con người. Ít nhất, nó sẽ quá sức đối với những ai đã
không bước đi cùng với Đức Giê-su Ki-tô và đã không đặt toàn bộ
đòi hỏi đó như là hệ quả của cuộc gặp gỡ giữa họ với Chúa. Quả
thật, chúng ta thấy sự uỷ quyền của Thiên Chúa trong đòi hỏi đó.
Đức Giê-su chẳng phải là một trong những sứ giả của Thiên Chúa.
Nhưng Ngài là đấng Tối hậu, và chính Thiên Chúa đã dùng miệng
Ngài để phát biểu. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đoạn Tin Mừng Gio-an
mà anh vừa đề cập một lần nữa đã tóm tắt toàn bộ những điều trên
đây vào một công thức. Công thức đó muốn nói với ta: Bạn phải
thử sống, và khi bạn sống lời tôi, bạn sẽ thấy là bạn đang bước
đi trên đường đúng.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Bài giảng
trên núi không nhất thiết phù hợp với những suy nghĩ thông
thường. Nó còn phản lại định nghĩa của ta về hạnh phúc, về giá
trị, về quyền lực, về thành công hoặc công lí. Rõ ràng Đức
Giê-su có những phạm trù khác. Vào cuối bài giảng Ngài còn tóm
tắt cho người nghe biết cái gì thật sự quan trọng, có thể nói
đây là một lề luật của các lề luật, đây là luật vàng của cuộc
sống: “Như vậy, tất cả những gì các ngươi mong kẻ khác làm cho
mình, thì cũng hãy làm cho họ! Lề luật và các tiên tri là đó”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Luật vàng đã có từ
trước thời Đức Ki-tô rồi, nhưng nó được diễn tả một cách phủ
định: “Cái gì ngươi không muốn người khác làm cho mình, thì cũng
đừng làm cho kẻ khác”. Đức Giê-su đã chuyển nó lên thành thể
xác định, thể này dĩ nhiên mang yêu sách cao hơn. Ngài nói,
những gì ngươi muốn người khác làm cho mình, thì cũng hãy làm
cho họ. Đó có thể nói là một thách đố cho trý tưởng tượng sáng
tạo của tình yêu. Như vậy, luật vàng trở thành Luật Tự do; thư
thánh Gia-cô-bê đã tóm tắt bài giảng trên núi, mà cũng là tóm
tắt toàn bộ thông điệp của Đức Giê-su, như thế. Sở dĩ gọi Luật
Tự do là vì thông điệp đó rốt cuộc đã mở ra một không gian lớn
vô tận, trong đó lực sáng tạo của sự thiện có thể triển nở.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi tin cái tuyệt vời
ở đây là người ta không còn phải hỏi: ai đã làm gì cho ai khi
nào ra sao, không còn phải bận rộn với những cái khác biệt. Mà
trái lại, người ta thấy được cái gì cơ bản đã được uỷ thác cho
mình, đó là: hãy mở mắt ra, mở lòng ra và tìm ra những phương
cách thực thi cái thiện. Không còn chuyện hỏi mình mong gì, mà
vấn đề là làm cho người khác những gì mình mong. Và cái cho-
mình- đi thật sự đó với tất cả trý tưởng tượng sáng tạo của nó,
với tất cả những khả thể mà cá nhân có thể có, đã được tóm lại
trong một quy luật hoàn toàn thực tế, chứ không còn chỉ là một
giấc mơ lý tưởng nào nữa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Bài giảng
khởi đầu với những lời chúc phúc. Lạ thật, có chín lời chúc tất
cả. Số chín cũng là con số các thiên thần, bởi vì thế giới của
thiên thần được chia ra chín tầng. Số đó cũng là biểu tượng của
sự hoàn thiện.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Những câu chúc phúc
quả đặc biệt, vì chúng vượt ra ngoài rất xa chuẩn mực của ta.
Không phải những kẻ giàu, mà là kẻ nghèo, được chúc phúc – có sự
khác biệt giữa phúc và hạnh phúc; và không phải những ai không
đau khổ mới được phúc, nhưng là những kẻ khổ đau. Bản văn cũng
đề cập tới nỗi khao khát công chính, tới việc cần có quả tim
tinh tuyền, và nhiều điều khác nữa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong một thông điệp,
giáo chủ Gio-an Phao-lô II nói rằng, bản chúc phúc thật ra là
bản tự thuật tiểu sử kín đáo của Đức Giê-su. Chúng ta nhận ra
từng lời chúc thể hiện thực sự trong con người Ngài. Ngài là kẻ
nghèo trong Thánh Thần. Là người xuất thân từ hạng nghèo hèn. Là
kẻ nỗ lực tìm công lí cho người khác. Là kẻ tạo hoà bình. Là
người chịu đau khổ vì sự thật. Tôi tin rằng, ta chỉ hiểu đúng
các lời chúc, một khi ta hiểu chúng từ con người Đức Ki-tô. Ngài
đã sống những lời chúc đó, và qua Ngài mà chúng cũng đã trở
thành những bảng dẫn đường cho ta. Dĩ nhiên, trên con đường Ngài
chỉ, mỗi người đi theo một ơn gọi khác nhau, mỗi người có một
thứ tự ưu tiên khác nhau. Quan trọng là ta đọc những ơn gọi đó
qua hình tượng Đức Ki-tô, và rồi cũng theo Ngài sống ơn gọi đó.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có thể
nói được rằng mỗi lời chúc là chìa khoá đi vào một bí mật đặc
biệt?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vâng, có điều là ta
không nên hiểu nó theo nghĩa huyền bí. Đó là chìa khoá đi vào
cuộc sống, và rồi những cánh cửa bí mật sẽ đương nhiên mở ra,
những bí mật mà trước đó ta không rõ. Đây không hẳn là một sự
khai sáng dưới dạng huyền bí hay một giải toả bí mật. Nhưng đúng
hơn, đó là một cái nhìn vào cuộc đời, và mỗi một bước song hành
đi vào cuộc đời đó cũng sẽ mở ra cánh cửa hiểu và biết.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">NHỮNG LO
LẮNG ĐÚNG CHỖ VÀ KHÔNG ĐÚNG CHỖ</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ta hãy đi
vào một vài “quy chế thực hành” của bài giảng. Trong đó có nói
tới những âu lo đúng chỗ và những âu lo không đúng chỗ. Đức
Giê-su nói, ta không nên lo cơm ăn áo mặc, bởi chưng cuộc sống
quan trọng hơn cơm áo. Chỉ những dân ngoại mới lo các thứ đó.
Cha trên trời đã biết con mình cần những thứ gì rồi. Ngài
khuyên: ” Hãy xem chim trời, chúng không gieo gặt và lượm lặt
của ăn vào kho lẫm; Cha trên trời nuôi chúng. Anh chị em không
giá trị nhiều hơn chúng sao?”</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nghe hay
thật, nhưng cứ theo lời đó, rồi thì chỉ biết gặm cỏ thay cơm.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong một thế giới
được xây dựng hướng về tương lai và luôn phải lo làm sao cho
mình mỗi ngày được tốt đẹp hơn, thì hiển nhiên chẳng ai hiểu
được ý nghĩa của câu trên. Tôi nghĩ, ta phải đọc thật kĩ bản
văn. Rồi sẽ tìm thấy chìa khoá trong đó. Đức Giê-su cũng từng
nói: Trước hết hãy tìm nước Thiên Chúa, rồi anh chị em sẽ nhận
được thêm điều khác. Điều đó có nghĩa là có một thứ tự ưu tiên.
Nếu ta bỏ ra ngoài ưu tiên về sự hiện hữu của Chúa trong thế
giới, thì nhiều chuyện ta làm, dù hữu ích, có thể một cách nào
đó rồi cũng sẽ đổ vỡ trong tầm tay. Và ta cũng sẽ nhận ra còn
thiếu một cái gì đó. Các nỗ lực cải tiến kĩ thuật của thế giới
có làm giảm đi nhiều gánh nặng đấy, nhưng trên một số phương
diện chúng đồng thời làm cho cuộc sống nặng nề và đen tối hơn.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi tin rằng phải đặt
việc tìm nước Thiên Chúa lên hàng ưu tiên. Đó phải là âu lo nền
tảng. Và rồi từ trong nước Chúa, âu lo này sẽ cấu trúc các âu lo
khác. Hiển nhiên điều này không dễ đối với ta. Ta còn phải lo
cho ngày mai, phải lo làm sao thế giới tiếp tục đi đúng hướng.
Tuy nhiên, những âu lo đó sẽ giảm bớt và nhẹ gánh, nếu chúng ta
gắn chúng vào cái ưu tiên kia. Và ngược lại, nếu con người hoàn
toàn không còn thấy gì trong ưu tiên kia nữa, thì các âu lo sẽ
làm họ hao mòn và rồi nuốt trửng họ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">XÉT ĐOÁN</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Một lần,
từ trên núi, Đức Ki-tô nói: “Đừng xét đoán, kẻo bị xét đoán! Bởi
anh chị em xét đoán thế nào, thì cũng bị xét đoán như vậy, và sẽ
bị xét xử theo tiêu chuẩn mà anh chị em đã dùng để xét xử kẻ
khác”. Nghe thì dễ thật. Nhưng cả xét đoán nữa mình cũng không
buộc phải làm?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đúng vậy. Theo
Mát-thêu câu 18, chính Đức Giê-su đã đưa ra một quy chế cộng
đoàn, khi Ngài bảo rằng, trước hết, ta nên cảnh cáo nhau giữa
hai người mặt đối mặt, sau đó mới đưa ra tập thể lớn hơn, và cứ
thế đi lên. Trật tự và luật pháp cần cho con người. Nhưng ở đây,
vấn đề nằm trên một bình diện khác, đó là ta không làm như kiểu
toà án thế gian, nghĩa là ta phải giữ bí mật của người khác
trong khi kết án họ. Cả khi vì kỉ luật mà toà phải kết án – dĩ
nhiên chẳng bao giờ kết án một con người, nhưng là kết án một
hành động nào đó, và án này là câu trả lời cho hành động đó -,
thì ta cũng phải giữ bí mật, vì đó là cái gì riêng tư, chỉ có
Chúa mới có quyền phán xét nó mà thôi.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đoạn thứ hai câu trên
nhắc ta phải coi chừng, vì ta cũng sẽ bị xét xử theo tiêu chuẩn
mình đã áp dụng cho người khác. Như vậy, nó cảnh cáo ta phải có
tiêu chuẩn đúng, giới hạn đúng và phải có lòng kính trọng đúng
đắn đối với người khác. Như thế, Đức Giê-su đã ra cho ta một
tiêu chuẩn nội tại áp dụng cho tình thế buộc phải xét xử. Tiêu
chuẩn đó là việc công nhận quyền quyết định tối hậu của Chúa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">HAI CON
ĐƯỜNG</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI"> Đức
Giê-su nói: “Hãy đi qua cửa hẹp! Vì cửa rộng đưa tới hư hỏng, và
vì cửa đó rộng nên nhiều người bước vào. Song cửa dẫn vào sự
sống thì hẹp, và vì cửa đó hẹp nên ít người tìm ra nó”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có lẽ vì vậy mà người
ta cho rằng hoả ngục đầy người, trong khi thiên đàng vắng tanh.
Hẳn nhiên, đây không có nghĩa như thế. Nhưng chỗ khác Chúa cũng
nói – một lần nữa nên nhớ luôn cần phải đọc lời Chúa trong toàn
văn –, là nhiều người từ đông sang tây sẽ đến, và họ sẽ ngồi vào
bàn chung với Ab-ra-ham, I-sa-ac, Gia-cóp. Sách Khải-huyền vẽ
cho ta thấy trước cảnh đoàn lũ người quây quần bên ngai con
chiên. Đây quả là một lời cảnh cáo thực tiễn: Nếu ta làm theo
những gì người khác và thiên hạ làm, nếu ta chọn con đường rộng,
nghĩa là con đường dễ dãi, lúc này đây xem ra quả dễ chịu hơn,
thì như vậy là ta đang xa rời con đường thật. Câu trên muốn nói
rằng, con đường hẹp và khó khăn cũng như cánh cửa hẹp mà ta cố
ép mình bước qua chính là quyết định đúng.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ở đây, ta có một hình
ảnh đượm màu quyết liệt đông phương, nói lên nguyên tắc nền tảng
cho việc xử trí hàng ngày. Nếu cứ để thả mặc, cứ buông trôi theo
giòng rồi chìm đi trong đám đông, thì rốt cuộc mình sẽ luôn lặn
ngụp trong đám đông đó, và kết cuộc sẽ kết thúc trong trống
rỗng. Chính sự can đảm đi lên, can đảm chấp nhận khó nhọc sẽ đưa
ta vào con đường đúng.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">CÁC TIÊN
TRI GIẢ </span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Đức Ki-tô
nói: “Hãy coi chừng các tiên tri giả; họ tới với anh chị em như
những con cừu (ngoan), nhưng thật ra là những chú sói dữ. Cứ
nhìn vào kết quả tất sẽ nhận ra được họ. Có thế nào thu hoạch
được nho từ bụi gai hay được vả từ cỏ gai? Cây tốt sinh trái
tốt, cây xấu sinh trái xấu”. Nghe như một mệnh lệnh chống lại
các giáo phái hoặc bè rối.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cũng có thể như vậy.
Trước hết, đó cũng là một quy luật đơn giản. Đó chính là thời
của những triết gia lang thang, những lang băm, những nhà cứu
tinh. Họ ai nấy đều hứa hẹn cứu khổ và vẽ ra con đường đúng, họ
muốn làm đẹp con người, và xem ra muốn mang lại điều tốt cũng
như điều đúng đắn, nhưng thật ra thường chỉ vì tư lợi. Họ là sói
dữ, phá hoại.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI"> Đức Giê-su cảnh cáo
ta trước những “lang băm cứu độ” đó. Ngài chỉ ra tiêu chuẩn để
nhận định: Hãy xem chính các lang băm đó sống như thế nào? Họ
thật sự là ai? Đâu là hoa trái họ tạo ra nơi họ và chung quanh
họ? Cứ nhìn vào họ tất sẽ biết sự thật ra sao. Tiêu chuẩn thực
dụng thời đó cũng đúng cho lịch sử ngày nay. Hãy nghĩ tới các
nhà thuyết giảng cứu độ trong thế kỷvừa qua, từ Hitler cho tới
các tay tổ cộng sản, họ xuất hiện và nói, đây là lúc chúng tôi
mang tới cho các bạn điều thật sự đúng. Trong một cái nhìn nào
đó, họ xuất hiện như những chú cừu ngoan, nhưng rốt cuộc là
những tay phá hoại có tầm cỡ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng không chỉ những
tay tổ đó, mà cả những nhà thuyết giảng nhỏ, những tiên tri giả
nữa. Họ mách với người ta là họ nắm chìa khoá trong tay, cứ việc
làm theo, thì rồi bạn sẽ thành đạt nhanh, giàu nhanh, sẽ có ngay
hạnh phúc. Đức Giê-su yêu cầu ta phải biết phân biệt, phải coi
chừng những lời hứa hẹn đó. Đừng để bị rơi vào tròng, nhưng hãy
giữ đầu óc tỉnh táo, sáng suốt, đừng để rơi vào những phong trào
xem ra tốt đẹp, nhưng rốt cuộc chỉ là trống rỗng hoặc phá hoại.
Nhất là Ngài muốn chúng ta luôn phải tự hỏi, đâu là hằng số của
lời Chúa, đâu là hoa trái thật.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Lời
khuyên kia cũng đúng cho các phong trào trong Giáo Hội?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hoa trái luôn là tiêu
chuẩn để nhận định. Trong Giáo Hội, ta phải để ý xem có phải
người đó chỉ muốn rao giảng về họ, chỉ muốn ép ta theo quan điểm
của họ mà thôi hay không. Hay họ là người khiêm nhu, muốn phục
vụ đức tin của Giáo Hội, muốn trở thành kẻ phục vụ lợi ích
chung, phục vụ lời Chúa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Bài giảng
trên núi còn có nhiều lời khuyên thiết thực khác. Tôi muốn nêu
lên đây câu cuối cùng của bài giảng. Đức Giê-su nói điều sau
đây thật khó hiểu và lại càng khó theo: “Hãy yêu kẻ thù và cầu
nguyện cho những ai bách hại mình”. Và thêm, Thiên Chúa để cho
“mặt trời chiếu sáng trên kẻ xấu và người lành, và Ngài để mưa
xuống trên người công chính cũng như trên kẻ bất lương”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Yêu kẻ thù quả thật là
một bước mới và lớn. Ở đây, chẳng còn chuyện trả thù nữa. Ta cần
nhìn ra khía cạnh người nơi kẻ thù, nhìn ra nơi họ khía cạnh thụ
tạo của Chúa. Điều này không có nghĩa là khoanh tay mặc cho sự
dữ tới với mình. Nhưng ta phải biết kính trọng con người trong
chính hành động của mình. Nghĩa là cố gắng làm điều tốt cho cả
kẻ thù, cố gắng đưa họ về đàng lành, rốt cuộc đưa họ hướng về
Đức Ki-tô. Trong ý nghĩa đó, cầu nguyện cho họ vốn là một việc
làm nền tảng, đó là một cách làm tốt cho họ. Khi ta muốn điều
tích cực cho kẻ thù trước mặt Chúa, khi ta cố gắng cầu cho họ
không còn là kẻ thù nữa, nhưng cho họ được thoát ra khỏi tư thế
thù địch, thì lúc đó ta đã thay đổi từ thâm tâm cái nhìn về họ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong thời cổ, người
ta đã nói đến một Thiên Chúa độ lượng, Ngài muốn phân phát cho
ngay cả kẻ xấu những món quà của tạo dựng. Nhưng thời đó người
ta dùng hình ảnh này để nói lên phần nào sự dửng dưng của Thiên
Chúa trước chuyện thiện ác. Và Đức Giê-su đã nâng nó lên một
bình diện khác, khi Ngài qua đó chỉ ra lòng tốt hải hà của Thiên
Chúa là đấng muốn đưa mọi người vào đường thiện, muốn trao cho
họ những cơ hội, muốn chăm sóc họ bằng điều tốt lành. Và cả khi
Thiên Chúa có thể nói là trừng phạt ta đi nữa, thì Ngài cũng chỉ
muốn cho ta trở nên quan tâm lắng nghe. Là Tạo hoá, Ngài không
thể làm gì khác hơn là yêu thương những tạo vật của Ngài, và
muốn cho chúng tìm ra con đường ngay lành. Mọi loại trả thù đều
hoàn toàn xa lạ với suy nghĩ của Thiên Chúa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Sau khi
giảng dạy và khuyên răn, và người nghe dù đôi chút thấm mệt
nhưng cũng cảm thấy hạnh phúc, vì hiểu rằng nguồn gốc và cùng
đích cuộc đời mình không phải là thế gian này và cũng không dừng
lại ở đây, Đức Giê-su còn đưa ra bảo đảm cho những điều Ngài
nói: “Ai nghe lời tôi dạy và làm theo, kẻ đó là người khôn, biết
xây nhà trên đá”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Còn những người khác
xây nhà trên cát, và khi lũ lụt tới, chúng sẽ cuốn trôi tất cả.
Nhà xây trên nền đá mới chắc chắn. Chỗ này cũng giống như đoạn
phúc âm Gio-an mà ta đã nghe: Ai sống theo Tin Mừng, ai dám thử
nghiệm theo nó, ai thật sự xây nhà trên lời Chúa, kẻ đó biết
rằng mình đã chọn được một nền chắc chắn.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tuy nhiên, ở đây còn
có thêm một liên tưởng khác. Hình ảnh xây nhà trên đá làm ta nhớ
đến lời Đức Ki-tô nói với Phê-rô, là Ngài sẽ xây nhà – Giáo Hội
của Ngài – trên đá. Như thế, lời đó có thể đưa ta tới ý nghĩrằng
ta không nên xây một mình. Ai chỉ muốn xây cuộc đời mình như là
một chỗ trú ẩn riêng, thì người đó đã xa lìa nền đá. Xây dựng
cuộc đời luôn có nghĩa là cùng xây. Cùng xây chung một căn nhà
Chúa, dựa trên nền lời Ngài, và như vậy căn nhà sẽ chắc chắn tồn
tại.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có thể
nói không cùng về cuộc đời, về chuyện nên nhìn đời ra sao, làm
sao cho cuộc sống đơm hoa, được sống tự do, thoải mái và hứng
thú. Nhà soạn kịch người Anh William Shakespeare, một tín đồ
công giáo, đã sống cuộc đời ông hết mình. Tên các vở kịch của
ông nghe ra như một bản lí lịch đầy biểu tượng, nào là “Ồn ào vô
ích”, nào là “Chừng mực” cho tới “Kết cuộc tốt là mọi chuyện
tốt”. Là nhà giáo dục giỏi, ông cuối cùng đã đưa ra một lời
khuyên, xem ra như đây là kết tinh mọi nhận thức trần thế của
ông: “Buy terms divine in selling hours of dross”, “Hãy mua lấy
thời giờ của Chúa bằng cách bán đi những giờ u tối trần gian”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đó là một lời khôn
ngoan mà người ta có thể chờ đợi nơi một nhân vật lớn. Thời giờ
đã được sử dụng một cách tốt nhất là thời giờ đã biến thành cái
tồn tại; là thời giờ ta nhận được từ Chúa và trả lại cho Ngài.
Còn thời giờ không dính dáng gì tới Chúa chỉ là thứ thời gian vô
bổ và chóng qua.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">VÔ THẦN LÀ
GÌ ?</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không nhận diện thật
chính xác, thì không thể chống lại vô thần đang đầy dẫy ở mọi
lãnh vực, phạm trù từ tinh thần đến vật chất, để bảo vệ chính
bản thân, chứ đừng mong hướng dẫn, bảo vệ những người mình có
trách nhiệm. Cuốn THIÊN CHÚA của tác giả Manfred Lutz, do Phạm
Hồng Lam dịch, giúp chúng ta trả lời khá sâu sắc các vấn đề liên
quan đến vô thần.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vô thần, theo nghĩa
chung chung ngày nay, là phủ nhận có sự hiện hữu của một Đấng
tạo dựng trời đất toàn năng, vị này tiếp tục giữ gìn tạo vật
trong tay, và đến “ngày sau cùng” sẽ phán xét con người, tách
biệt người lành kẻ dữ, người lành sẽ được thưởng phúc thiên
đàng, kẻ dữ bị luận phạt hoả ngục. Đi ngược trở lại lịch sử của
ý niệmnày, ta thấy lắm hiện tượng khá rối trí. Vì không chịu thờ
thần linh nhà nước và thờ hoàng đế thiên tử, các ki-tô hữu xưa
bị coi là vô thần. Cả Sokrates cũng phải chết vì tội vô thần, vì
ông dám coi đám thần linh lúc nhúc trong bầu trời Hi-lạp chẳng
ra gì, và, với suy nghĩ của một triết gia, ông đã lên đường tìm
về một Thiên Chúa duy nhất.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nếu lấy ý niệmThiên
Chúa theo lối hiểu Ki-tô giáo ngày nay để thăm dò cổ thời nhân
loại, ta sẽ thấy đầy dẫy “Vô thần”. Bởi vì làm sao người thời đó
hiểu được Thiên Chúa như ta hiểu ngày nay? Mặt khác, toàn bộ
lịch sử nhân loại lại đầy dẫy những niềm tin muôn màu vào thần
linh và vào Thiên Chúa. Vì vậy, phải cẩn thận, đừng để rơi vào
chủ nghĩa đế quốc tinh thần do những mánh khoé lạm dụng ý
niệmtạo ra, và qua đó kéo dãn vương quốc vô thần hay vương quốc
niềm tin Thiên Chúa ra quá rộng một cách không thích đáng. Dù
sao, ý niệmVô thần khá mơ hồ, và có lẽ nó càng rõ nghĩa hơn, khi
ta càng tiến gần vào thời Hiện đại.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng thời nay cũng
không dễ có được những đối lập đơn giản. Nhà thần học Karl
Rahner gọi thái độ của những người tự coi là vô thần, nhưng sống
một cuộc sống như có Thiên Chúa, là “vô thần vì kính trọng Thiên
Chúa”. Họ chấp nhận thà là “vô thần”, còn hơn phải sống với một
thứ Thiên Chúa bề ngoài của mấy ông bà “đạo đức” môi miệng.
Thiên Chúa này không hợp với kinh nghiệm tôn giáo bề sâu của họ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vì thế, ta vẫn phải
chấp nhận phần nào tính mơ hồ của ý niệmVô thần, nhất là để khỏi
phải loại trừ ra bất cứ hiện tượng quan trọng nào. Sử gia người
Pháp Georges Minois cũng công nhận như thế. Năm 2000 Georges
Minois cho phát hành cuốn sách nổi tiếng của ông, ấn bản tiếng
Đức 700 trang Lịch Sử Vô Thần Từ Khởi Thuỷ Tới Hiện Nay, cuốn
sách thật đầy đủ và hấp dẫn, đúng là chỉ có sử gia Pháp mới viết
được những cuốn như thế. Sách ông đã giúp tôi viết chương này.
Minois có cảm tình với quan điểm vô thần, dù vậy, ông đã không
đứng về một phía nào khi viết, và sách ông nói chung đã thành
công nhờ thái độ khách quan đó. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ông phân biệt ra Vô
thần thực hành và Vô thần lí thuyết. Người vô thần thực hành
sống như không có Thiên Chúa, dù họ có bảo mình tin gì đi nữa.
Ngay chính trong những thời hoàng kim của Ki-tô giáo, thái độ
sống này cũng rất phổ biến nơi các tầng lớp dân chúng. Người vô
thần lí thuyết tuyên xưng rõ ràng sự Vô thần của mình và thường
đưa ra những biện minh cho quan điểm mình.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Minois nói nhiều tới
loại Vô thần phản kháng, nghĩa là loại người chống lại quan điểm
đức tin nhiều ít cứng nhắc trong những giai đoạn nào đó. Thái độ
này được coi là ngang ngạnh, can đảm hay cũng chỉ là một thứ
tình cảm quá độ. Và như thế, tùy theo mỗi giai đoạn, Vô thần
mang những nét hoàn toàn khác nhau.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<a name="5._MẸ_THIÊN_CHÚA_"><span style="color: #FF0000"><b>5</b></span><span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI"><b>.
MẸ THIÊN CHÚA</b></span></a></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Lịch sử
công nguyên khởi đầu với một phụ nữ. Tin Mừng kể “Và thiên thần
Chúa đã mang tới cho Maria một sứ điệp”. Đó là một cô gái từ
chốn hẻo lánh không ai biết tới Na-da-ret, và cô chẳng hiểu
chuyện gì sẽ xẩy đến cho mình.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Người ta chỉ nhận ra
được tầm vóc lớn lao của biến cố đó qua dòng thời gian. Trước
hết là sự xuất hiện của thiên sứ, vị này đột ngột trao cho Maria
một sứ điệp bất thường: Cô đầy ơn phúc, cô đã được chọn để làm
mẹ Thiên Chúa. Hẳn lúc đó Maria hốt hoảng.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Một con
người làm mẹ Thiên Chúa!</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Quả là một mâu thuẫn
lớn. Thiên Chúa trở nên bé nhỏ. Ngài trở thành người, như vậy
cũng mặc lấy điều kiện đầu thai và sinh ra của con người. Ngài
có một người mẹ, và bằng cách đó, Ngài đã thật sự được dệt vào
tấm thảm của lịch sử loài người, đến nỗi một phụ nữ đã có thể
thật sự nói được với đứa con mình sinh ra: Chúa tể trần gian ở
trong con.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Người ta đã tranh cãi
nhau rất lâu về chữ Mẹ Thiên Chúa. Nhóm Nestorius* bảo Mẹ không
sinh ra Thiên Chúa, mà chỉ sinh ra một con người Giê-su mà thôi.
Như vậy, ngài là mẹ của Đức Ki-tô, nhưng không thể gọi là mẹ
Thiên Chúa được. Câu hỏi căn bản là sự hoà quyện hai bản tính
thiên chúa và con người trong Đức Giê-su Ki-tô sâu xa tới đâu,
tới độ nào để có thể nói được đứa trẻ sinh ra đó là Chúa, và như
vậy Maria là mẹ Thiên Chúa. Mẹ Thiên Chúa không phải trong ý
nghĩa Mẹ là người sinh ra Thiên Chúa. Nhưng trong nghĩa Mẹ đã
sinh ra một con người, và con người đó hoàn toàn kết hiệp làm
một với Thiên Chúa. Với cách đó, mẹ Maria đã hoàn toàn kết hiệp
một cách lạ lùng với Thiên Chúa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Maria
được kính thờ như Nữ vương thiên đình, như Nguyên ảnh của Giáo
Hội, hay cũng như Mẹ của lòng nhân ái. Lực toả sáng của người nữ
đó, đấng vẫn luôn dấy động tâm can hàng triệu con người, không
thể nào đong đo bằng tiêu chuẩn thường tình được.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong lịch sử, biến cố
mẹ Maria càng ngày cũng được hiểu như là nét vẻ vang của phụ nữ.
Bản chất nguyên thuỷ của phụ nữ được biểu hiện nơi Maria, ngài
là hiện thân sự tinh tuyền của nhân loại và Giáo Hội. Và trong
khi Eva - người phụ nữ đầu tiên và là “nguyên mẫu”, như người ta
vẫn nói, và là người mẹ của mọi loài sống động - được sinh ra
trên căn bản để chết, thì Maria – nhờ sinh ra đấng cứu thế, đấng
đã phục sinh và mang lại sự sống – thật sự được coi như là sự
thể hiện tinh tuyền hai yếu tố hàm chứa trong chữ Eva, đó là
niềm hứa hẹn và khả năng sinh sản của người nữ. Maria trở thành
mẹ của sự sống, của những gì trao ban sự sống và của mọi loài
sống động.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">KÍNH CHÀO
ĐỨC MARIA</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Lời chào
của thiên sứ đã trở thành một lời kinh nền tảng của Giáo Hội
công giáo. Một vài thiên tài lớn nhất của nhân loại như Mozart*,
Rossini* và những người khác, đã dệt Ave Maria thành nhạc: “Kính
chào Maria, đầy ơn phúc! Thiên Chúa ở cùng cô. Cô là người trong
những người nữ được chúc phúc. Và Giê-su, con trong lòng cô cũng
được chúc phúc”. Và thiên sứ còn nói: “Cô đừng sợ”. Và Maria đã
trả lời thế nào?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">“Này tôi là tôi tớ của
Thiên Chúa”. Vâng, ngài đã học được cách chẳng sợ. Bởi vì như ta
thấy trong dọc dài Kinh Thánh, bất luận nơi mục đồng hay nơi các
tông đồ: Mỗi khi con người khám phá ra mình ở gần Thiên Chúa là
họ cảm thấy sợ hãi. Họ nhận ra sự bé bỏng của mình và giật mình
trước vinh quang và thánh thiêng kì vĩ của Thiên Chúa, bởi họ
thấy mình không thể nào sánh nổi. Đây là một trong những chỗ đầu
tiên trong Tân Ước xuất hiện chữ “Đừng sợ”. Thiên Chúa không đến
để gây sợ hãi nơi ta, nhưng Ngài trở nên bé nhỏ trong sự lớn lao
của mình, Ngài cởi bỏ đi nét gây sợ, bởi Ngài tới để đem ơn cứu
độ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Giáo chủ Gio-an
Phao-lô II đã nhắc lại câu “Đừng sợ, anh chị em đừng sợ Chúa
Ki-tô” trong bài diễn văn đầu tiên ngày nhận chức. Tôi muốn nói
rằng, giờ đây cả hoàn vũ Ki-tô giáo nên để cho lời đó luôn thấm
nhập mình. Chúng ta không cần phải sợ Chúa, không sợ Ngài sẽ lấy
mất gì của mình hay đe doạ mình, nhưng Ngài đến để đem chở che,
giúp ta thắng vượt cả sự chết.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Kinh Kính mừng của
Giáo Hội gồm hai phần. Phần đầu là lời chào của thiên thần, phần
sau là lời Ê-li-sa-bét thốt lên khi Maria tới thăm mình: “Con
trong lòng em cũng được chúc phúc”. Và Ê-li-sa-bét tiếp: “Em là
người có phúc hơn mọi người nữ”. Với câu này, Ê-li-sa-bét cũng
đã tiên đoán về sự tôn kính Maria. Thánh Thần đã giúp bà tiên
tri nói lên điều đó. Nói cách khác: Ki-tô hữu cũng sẽ ca ngợi
Thiên Chúa, bằng cách họ vui mừng chào đón những con người, mà
qua đó Chúa tỏ cho thấy sự lớn lao và lòng tốt của Ngài.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Mẹ Maria
có ý nghĩa nào đối với cá nhân ngài?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngài tượng trưng cho
sự gần gũi với Thiên Chúa. Nhờ ngài, ta mới hiểu ra việc nhập
thể. Tôi rất cảm động việc Con Thiên Chúa có một người mẹ, và
người mẹ đó được tất cả chúng ta tín thác. Lời đấng bị đóng đinh
trao mẹ mình lại cho Gio-an đã từ giây phút đó đi vào suốt chiều
dài lịch sử. Nhờ lời trối trăn đó mà khi cầu nguyện cùng Mẹ, ta
có được niềm tin tưởng đặc biệt, cảm thấy được gần gũi và nhất
là có được quan hệ với Chúa. Cá nhân tôi trước đây bám chặt vào
phong trào phụng vụ duy ki-tô, quan điểm đó càng được đẩy mạnh
qua việc đối thoại với các bạn tin lành. Nhưng càng ngày, qua
việc sùng kính Maria với các ngày lễ của Mẹ, các buổi chầu tháng
năm, các chuỗi mân côi tháng mười, Mẹ càng có ý nghĩa đối với
tôi. Và càng về già, tôi càng cảm thấy gần Mẹ Thiên Chúa hơn.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Các Tin
Mừng ít đề cập tới Maria. Ngài hoàn toàn vắng mặt trong những
giai đoạn cuộc đời quan trọng của Đức Giê-su, hoặc nếu có, thì
cũng xuất hiện dưới dáng tiêu cực hoặc chẳng phải là một người
mẹ đáng yêu.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đúng là truyền thống
tin mừng không quan tâm gì tới Maria. Mẹ hầu như chẳng có vai
trò gì trong Mát-thêu. Trong Mát-thêu, thời niên thiếu của Đức
Giê-su gắn liền với cha Giu-se. Lúc này đây tôi có thể nói, rõ
ràng người ta đã muốn tránh nói tới Mẹ, bao lâu Mẹ còn sống. Và
cả chính Mẹ cũng muốn giữ kín đáo.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI"> Đức Giê-su kiến tạo
một gia đình mới, và ở đâu người ta ca tụng bà mẹ nào đã cưu
mang Ngài và vú nào đã cho Ngài bú, thì Ngài liền sửa ngay cái
hình ảnh lúc đó về quan hệ gia đình. Đối với Ngài, quan trọng
là: “Phúc thay những ai nghe và tuân giữ lời Chúa”. Đó là tính
chất mới về gia đình và về người mẹ. Ngài diễn tả như vầy: Ai
làm theo í của tôi, là anh em, mẹ, chị em tôi. Như vậy, Ngài
nâng khái niệm gia đình mà con người vẫn hiểu lên thành một loại
gia đình lớn mới, gia đình cộng đoàn trong í muốn Thiên Chúa, và
đó là điểm quan trọng. Lu-ca cho ta hay về chuyện cải chính
trên, nhưng ngài đã nối sự việc đó một cách văn hoa với cuộc đời
niên thiếu của Đức Giê-su và với câu chuyện gặp gỡ bà
Ê-li-sa-bet. Trong Lu-ca, Maria xuất hiện không những như một
người mẹ xác phàm, mà cả như một người lắng nghe, một kẻ tin,
một kẻ đứng trong cộng đoàn của Chúa. Theo Lu-ca, Mẹ là điển
hình của những ai lắng nghe và tuân giữ lời Chúa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI"> Đức
Giê-su có nhiều tình cảm và gần gũi hơn với những phụ nữ khác.
Còn đối với mẹ mình thì Ngài nhiều khi tỏ ra cộc cằn. Chẳng hạn
trong tiệc cưới Ca-na, khi mẹ yêu cầu phải làm gì để giúp người
ta có đủ rượu cho khách, Ngài đã thô lỗ: “Này bà, có chi liên
quan tới tôi và bà đâu!” Có thật Ngài đã xử tệ với mẹ như thế
không? Có lẽ đôi lúc Ngài đã cắt đứt liên hệ với mẹ mình?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Anh đang đề cập tới
một đoạn trong Tin Mừng Gio-an. Thánh Gio-an đưa ra một môn
Maria học hoàn toàn đặc biệt. Trong bản Tin Mừng xuất hiện tương
đối trễ này vai trò của Mẹ đã được diễn đạt rõ hơn, không như
trong Mat-thêu. Chẳng hạn, bất cứ chỗ nào Đức Giê-su nói với
Mẹ, Gio-an đều dùng từ “Bà”. Ta có thể nhìn ra ý nghĩa thần học
trong từ xưng hô đó. Bởi vì, nếu giờ đây Maria đơn thuần được
gọi là “bà” (gynae), nếu từ tiệc cưới Ca-na cho tới núi Sọ Maria
cũng bước vào một vai trò vượt lên trên vai trò cá nhân, thì
hình ảnh của Eva mới đã sáng tỏ. Ta phải đọc các màn / cảnh
trong mối liên hệ chung của chúng, trong trường hợp này là cảnh
thánh giá núi Sọ với cảnh tiệc cưới Ca-na, để thấy rằng, thoạt
tiên Đức Giê-su bước ra khỏi gia đình Ngài, cho tới khi một gia
đình mới xuất hiện trong giờ của Ngài – trên thánh giá -, và
trong gia đình mới này Maria có một vị trí mới quan trọng.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng cả trong Ca-na,
câu nói xem ra thô lỗ và mang vẻ từ chối kia cũng rất nhiều
nghĩa. Với lời đó, Đức Giê-su muốn nói là Ngài bị trói buộc bởi
giờ của Ngài. Có thể nói, Ngài không thể ưu tiên thoả mãn những
nhu cầu gia đình được. Nhưng dù vậy, Ngài đã làm phép lạ và có
thể nói đã hé lộ ra trước giờ của Ngài vì lời yêu cầu của Mẹ.
Thoạt tiên bị từ chối, có nghĩa là Maria chỉ được trả lại chỗ cũ
của mình – và rồi lúc này đây, Mẹ đồng thời lại xuất hiện như
một phụ nữ đơn thuần, như là nguyên ảnh của Giáo Hội khẩn cầu,
và rồi Giáo Hội, cũng như chính Maria, có thể xin tham dự trước
giờ của Đức Ki-tô. Như vậy, đây là một bản văn rất sâu xa, người
ta có thể còn suy nghĩ và nói nhiều về nó.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Hãy tạm
rời tầng thần học cao sâu trở về với thực tại, tôi muốn nhắc lại
một kinh nghiệm gặp được qua hình ảnh Maria. Có lần tôi tới thăm
điểm hành hương Altötting ở Bayern. Trời lạnh, rảo qua công
trường rộng, tôi bước vào căn Nhà Nguyện Ơn Lành nổi tiếng. Căn
phòng chật cứng. Tứ phía đều có nến cháy, khung cảnh hơi âm u.
Trong nhà nguyện toàn chỉ các bà. Họ cầu chung với nhau, và dĩ
nhiên hát với nhau những bài ngọt ngào về đức Mẹ, như Ave Maria,
Mater misericordiae, Ôi nữ vương thiên đàng, Mẹ nhân ái.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thoạt
tiên tôi cảm thấy hơi xa lạ và giữ khoảng cách, nhưng những bài
hát dễ thương quá: “Chúng con khóc lóc kêu cầu danh Mẹ từ thung
lũng nước mắt”. Và lạ lùng thay, bổng nhiên tôi cảm thông được
với các bà. Có một cái gì rất thật, rất đẹp, tôi như bắt gặp
được một chìa khoá mở tung tim mình ra để cảm giác hạnh phúc
tràn vào. Có một cái gì như sức mạnh cứu độ toát ra từ những lời
kinh cầu cổ xưa. Những cảm giác đẹp đó nói cho tôi hay là tôi
không cô đơn, có ai đó đang ở bên tôi, người đó biết tôi, người
đó mến tôi, người đó hiểu tôi. Và trong mọi tình huống khó khăn,
người đó luôn ở bên tôi.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tóm lại,
tôi có cảm giác đó là một thứ ngôn ngữ không những trực tiếp
đánh đúng vào chỗ yếu của mình, mà đồng thời, như người ta nói,
có sức cứu độ. Và có lẽ việc tôn kính Maria cũng là một phản ứng
chống lại cái tiến trình tục hoá trong Giáo Hội, với khuynh
hướng muốn vứt hay đã vứt đi rồi một phần lớn khía cạnh linh
thánh và thần bí của đức tin. Phải chăng đây là thái độ và hành
động của những con người đơn sơ chống lại thứ tôn giáo của các
vị giáo sư?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi tin mình có thể
nói được như thế. Hình ảnh Maria đã làm trái tim con người xúc
động một cách đặc biệt. Không những đánh động trái tim phụ nữ,
là những người hiểu và gần gũi Mẹ hơn, mà còn cả trái tim của
những ông còn giữ cho mình hình ảnh về Mẹ và đức Trinh nữ. Môn
thánh mẫu học đã tạo nên tiếng nói con tim của thế giới Ki-tô
giáo. Ở đây, con người có thể cảm nghiệm một cách trực tiếp
Ki-tô giáo như là một tôn giáo của lòng tin, lòng cậy. Và những
lời kinh cổ, đơn giản kia, những lời lớn lên từ lòng sùng kính
dân gian và không bao giờ mất tính chất tươi mát và lỗi thời, đã
giữ con người ở lại trong niềm tin của họ, bởi vì nhờ những lời
kinh gắn bó với đức Mẹ mà họ cảm thấy gần gũi với Chúa, họ cảm
thấy đạo không phải là một gánh nặng, nhưng đạo là tin cậy và đỡ
nâng giúp họ vượt qua mọi chông gai cuộc sống. Và ta cũng hãy
nghĩ tới những lời kinh khác, chẳng hạn “Mẹ rất nhân ái, hãy
nâng đỡ con”, nó gợi lên bao nhiêu là tín thác.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thật ra, mặt khác,
cũng có một thứ chủ nghĩa tinh lọc Ki-tô giáo, một thứ hữu lí
hoá đã làm cho đạo bị đôi chút đông lạnh. Dĩ nhiên tình cảm luôn
cần phải được kiểm soát và thanh lọc - ở đây ta cần phải công
nhận vai trò của các giáo sư. Không được để cho mọi chuyện biến
thành chỉ còn là tình cảm sướt mướt, khiến ta mất nền thực tế,
làm cho ta không còn nhận ra được cái cao cả của Chúa nữa. Nhưng
từ thời Ánh sáng trở đi – ngày nay ta cũng lại đang ở trong một
thời Ánh sáng mới - ta chứng kiến một tiến trình hữu lí hoá và
tinh lọc rất mạnh, khiến cho tâm con người phải chống lại nó và
bám chặt vào thánh mẫu học.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Vị Hồng Y
vĩ đại người Anh John Henry Newman* viết: “Người không công giáo
có thói quen coi việc tôn kính Maria có hại cho Đức Giê-su”. Và
ngày nay những người hoài nghi cũng xem việc tôn sùng Maria một
cách quá đà khiến cho tâm điểm nền tảng của đạo, nghĩa là chính
sứ điệp của Đức Ki-tô, bị lu mờ.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ta không được phép
quên điều này: Trong quá trình truyền giáo, Mẹ là khuôn mặt đánh
động con người nhất và giúp họ hiểu được Chúa Ki-tô. Điều này
đặc biệt đúng cho Nam Mĩ. Nơi đây Ki-tô giáo đã tới bằng gươm
giáo của người Tây-ban-nha và có lúc vô cùng nghiệt ngã. Ở
Mễ-tây-cơ, thoạt tiên Ki-tô giáo đã chẳng làm được gì – cho tới
khi xẩy ra biến cố Guadeloupe, và qua Mẹ mà bỗng chốc người ta
tới gần được với Chúa Con.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Biến cố
đó là việc gặp được tượng đức Mẹ một cách lạ lùng. Người ta có
thể nói, biến cố đó đã tạo nên một trang sử tuyệt đối mới, nếu
không có nó thì việc truyền bá Ki-tô giáo trên lục địa này đã
không thể xẩy ra.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đúng, và bỗng chốc đạo
Chúa không còn mang khuôn mặt hung ác của những tay thực dân
nữa, mà là khuôn mặt dịu dàng của Mẹ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cho tới ngày hôm nay,
ở Nam Mĩ có hai điểm sùng mộ: Yêu đức Mẹ và việc đồng hoá với
Chúa Ki-tô chịu đau khổ. Đức tin của họ biểu tỏ qua hai khuôn
dạng đó, và nhờ đó họ không còn xem Thiên Chúa là Chúa của những
kẻ xâm lăng, nhưng là Thiên Chúa thật và cũng là đấng cứu độ. Vì
thế đặc biệt dân công giáo ở châu Mĩ la-tinh rất trân quý đức
Mẹ. Và ta không nên đứng từ quan điểm thuần lí của ta mà chê bai
họ đã làm sai lệch Ki-tô giáo. Chính chỗ này họ đã nhận ra đúng
đắn: Thiên Chúa là đấng muốn cứu độ ta, chứ không phải là Chúa
của những người chiếm đóng. Nhờ vậy, họ đã có thể trở thành
ki-tô hữu qua quá trình thấy và hiểu của chính họ, chứ không
phải là phải chấp nhận chịu đựng đạo của kẻ xâm lăng.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Người tin
lành xem ra từ lâu đã đẩy được đức Mẹ ra khỏi niềm tin của họ.
Mẹ không còn quê hương nơi họ nữa, cho dù chính Luther trước đây
chưa bao giò bỏ lòng tôn sùng đức Mẹ của ông. Đối với Giáo Hội
công giáo, huyền thoại Maria chẳng phải là trò ảo thuật mà cũng
chẳng phải là chuyện bên lề. Chính ngài đã thuộc vào cốt lõi của
đức tin. Các bí mật của ngài còn được đóng ấn tín điều như là
những sự thật không hề sai.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phải nói thêm về chữ
huyền thoại. Nếu nó muốn ám chỉ một chuyện vượt trên sự kiện
thực tế, thì ta có thể dùng từ đó. Vấn đề quan trọng ở đây là ta
đang có một câu chuyện thật, chứ chẳng phải là chuyện bịa đặt
nào cả.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Một ghi chú về người
tin lành: Đúng là đã có một khuynh hướng tinh lọc nơi họ. Ban
đầu, người ta sợ rằng đức Mẹ có thể lấy mất đi một chút gì đó
nơi Đức Giê-su. Và trong quá trình thanh lọc đó quan điểm “duy
Ki-tô” đã dần trở nên quá khích đến nỗi người ta tin là có một
tương quan cạnh tranh giữa hai vị, thay vì nhận ra rằng, qua
khuôn mặt Mẹ, chính khuôn mặt của Đức Ki-tô hiện ra và lời đích
thực của Ngài được sáng tỏ, như ta đã thấy qua thí dụ ở Nam Mĩ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngày nay, có những nỗ
lực dè dặt tìm về lại với mẹ Maria nơi người tin lành. Họ nhận
ra việc xoá yếu tố nữ ra khỏi sứ điệp ki-tô cũng là một thiếu
sót về mặt nhân chủng. Một người nữ hiện diện nơi tâm điểm Ki-tô
giáo, xét về mặt thần học và nhân chủng học, là điều quan trọng.
Qua Maria và các thánh nữ khác, yếu tố nữ đã đi vào tâm của đạo
Ki-tô. Chẳng có chuyện cạnh tranh giữa hai khuôn mặt mẹ con, vì
hai vị khác nhau trên nền tàng. Đức Giê-su đã trao Mẹ cho tất
cả chúng ta qua Gio-an. Không phải cạnh tranh, nhưng là một thứ
gần gũi sâu xa hơn. Đức Mẹ và đức Trinh nữ có chỗ đứng quan
trọng trong nhân sinh quan Ki-tô giáo.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">TÍN ĐIỀU</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Liên quan
tới Maria, nhiều người tỏ ra chống đối và sợ hãi, cái sợ hãi
nhiều khi khoác áo diễu cợt. Hãy nhìn lại vài tín điều để hiểu
thêm Maria. Ta bắt đầu với tín điều khó hiểu, khiêu khích nhất,
đó là tín điều đồng trinh, hình thành năm 553. Đó là một câu
chuyện sinh học? Hay phải hiểu nó như thế nào?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Về chuyện anh chị em
của Đức Giê-su, Tin Mừng cho biết Đức Ki-tô không có anh chị em
ruột nào cả, và mẹ Maria cũng chẳng sinh ai thêm. Trái lại, Ngài
có một tương quan đặc thù và duy nhất với mẹ Maria quá rõ, đến
nỗi người ta chỉ có thể hiểu là anh chị em họ mà thôi, chứ không
phải anh chị em ruột. Maria là của Giê-su mà thôi chứ không là
của ai khác nữa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tại sao
không?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Là bởi việc sinh ra
này không do liên hệ với một người đàn ông, mà do chính sự can
thiệp của Chúa. Ngày nay có người bảo: không, việc Chúa sinh ra
không thể dính dáng tới sinh học được, vì đó là chuyện bất xứng
đối với Thiên Chúa, và rồi gạt nó qua một bên. Quan niệm như thế
là họ đang ngã theo thuyết Ma-ni-kê, chối bỏ nhân tính của Đức
Ki-tô.Con người cũng là sinh học. Và khi ta không nhìn nhận mặt
thân xác, mặt sinh học nơi con người, thì một cách nào đó, vật
chất sẽ bị khinh miệt và bị đẩy ra ngoài, và rồi như thế rốt
cuộc ta cũng sẽ coi việc nhập thể là chuyện giả tạo. Vì vậy tôi
chống lại lối lập luận trên. Đây là một con người thật, toàn
diện - Câu trả lời cho vấn nạn trên là đó. Thiên Chúa cũng đã
nắm lấy sự sống – cả sự sống thể lí, sinh lí lẫn vật chất – và
đặt để vào đó một dấu chỉ.Về sự kiện này, tôi cho rằng các giáo
phụ đã tìm ra được một hình ảnh đẹp. Tiên tri Ê-sê-ki-en, chương
40, viễn kiến về một đền thờ mới, trong đó có một “cánh cửa phía
đông” chỉ dành cho nhà vua bước vào mà thôi. Các giáo phụ coi đó
là một biểu tượng. Trước hết các ngài xem đó là một đền thờ sống
động: Giáo Hội sống động. Cánh cửa, qua đó không ai ngoài Đức
Giê-su đi vào, nếu không phải là mẹ Maria thì còn ai hay cái gì
vào đó? Vì thế, không thể kéo Mẹ, người sinh ra Thiên Chúa,
xuống hạng tầm thường được. Ngài là cánh cửa dành riêng cho nhà
vua. Và như vậy chính ngài trở thành cánh cửa thật của lịch sử,
qua đó vị mà cả nhân loại trông đợi bước vào.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nghĩa là
trước sau vẫn là: Sinh con mà vẫn đồng trinh?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vâng.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tín điều
vô nhiễm nguyên tội năm 1854 muốn nói lên điều gì ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hậu cảnh của tín điều
đó là giáo huấn về tội tổ tông. Giáo huấn này dạy rằng, mỗi
chúng ta thoạt tiên sinh ra từ một liên hệ tội lỗi – chúng ta
gọi đó là “rối loạn tương quan” -, và do rối loạn này mà ngay từ
đầu tương quan giữa ta với Chúa đã bị sứt mẻ. Trong quá trình
phát triển giáo huấn đó dần dần đã nẩy ra một suy nghĩ trong thế
giới Ki-tô giáo, là Maria không thể rơi vào tương quan sứt mẻ đó
được, vì ngay từ đầu ngài là cánh cửa của Thiên Chúa, cánh cửa
đã được đặc biệt tạo ra để Chúa bước vào.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Về điểm này, đã có một
cuộc tranh cãi lớn trong thời trung cổ. </span>
<span style="font-size: 12.0pt" lang="FR-CA">Một bên là các tu
sĩ đa-minh. Họ bảo rằng Maria là một con người bình thường như
những người khác, nghĩa là ngài cũng mắc tội tổ tông. Phía bên
kia là các tu sĩ phan-sinh, lí luận ngược lại. Tóm lại, qua cuộc
tranh cãi dai dẳng đó, lần hồi một quan điểm đã kết tinh, bảo
rằng sự lệ thuộc của Maria vào Đức Ki-tô mạnh hơn sự lệ thuộc
của ngài vào Adam. Và quan điểm đó cũng bảo rằng Maria đã được
Thiên Chúa chuẩn bị cho Đức Ki-tô từ trước rồi, và chính đó là
đặc điểm của đời ngài. Vì Maria là nguồn của một khởi đầu mới,
nên ngài không thể thuộc vào tương quan tội lỗi kia được: Tương
quan giữa ngài và Chúa không bị sứt mẻ, ngay từ đầu ngài đã được
Chúa bảo bọc một cách đặc biệt, Chúa đã “đoái xem” ngài
(Magnificat) và đã để ngài hướng lên với Chúa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hơn nữa, vì Maria
thuộc về Đức Ki-tô một cách đặc biệt, nên tương quan này đã đặt
ngài hoàn toàn trong tình trạng đầy ơn phúc Thiên Chúa. Lời chào
thoạt tiên xem ra đơn giản của thiên thần “Cô đầy ơn phước” như
vậy có thể hiểu là ơn phước đó bao trùm cả cuộc đời của Maria.
Đây rốt cuộc không hẳn đơn giản chỉ là một đặc ân của Maria, mà
còn là một hi vọng cho tất cả chúng ta.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vấn đề càng khiêu
khích hơn: Mẹ hồn xác lên trời. Tín điều này muốn nói gì? Nó
được hình thành khá trễ, vào năm 1950. Chuyện quái lạ, là ngay
từ đầu, chúng ta chẳng thấy một vết tích gì về Maria được để
lại, chẳng có mồ mà cũng chẳng còn hạnh tích nào.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hẳn nhiên tìn điều này
thật khó hiểu đối với tất cả chúng ta, bởi vì ta không mường
tượng được trời là gì. Lại càng khó hiểu khi mường tượng cả một
thân xác được đưa lên. Xem thế, tín điều này đặt ra cho trí óc
ta một bài toán lớn, đó là phải hiểu trời và xác như thế nào,
phải hiểu về chính con người và tương lai của nó ra sao…</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Và cá
nhân ngài đã giải bài toán đó như thế nào?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi đã nhờ thần học về
phép rửa của thánh Phao-lô để hiểu, khi thánh nhân nói: “Thiên
Chúa đã cho ta sống lại với Đức Giê-su và cho ta cùng ngồi trên
nước trời trong Đức Ki-tô Giê-su” (Ê-phê-sô 2,6). Có nghĩa là,
khi lãnh phép rửa, tương lai của chúng ta đã được báo trước rồi.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Như vậy, tín điều chỉ
nói lên điều này, là hệ quả của phép rửa : - được ở (“ngồi”) bên
Chúa (Chúa là nước trời!)- đã ứng nghiệm đầy đủ nơi Maria. Phép
rửa (cùng ngồi với Đức Ki-tô) đã đạt được đầy đủ hiệu năng cuả
nó. Nơi chúng ta, việc cùng ngồi với Đức Ki-tô, việc được sống
lại với Ngài còn bất cập, còn rất mong manh. Nhưng nơi Maria thì
khác. Ngài không thiếu gì nữa. Ngài đã bước vào cộng đoàn toàn
đầy với Đức Ki-tô. Và một khi ở trong cộng đoàn này thì ngài
cũng có một cuộc sống thân xác mới, mà chúng ta không thể mường
tượng được nó như thế nào.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tóm lại, căn bản của
tín điều là Maria đã hoàn toàn ở bên Chúa, hoàn toàn bên Đức
Ki-tô, hoàn toàn là một “tín hữu ki-tô”.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Hơn một
triệu tín hữu đòi Giáo Hội công giáo nâng Maria lên thành “đấng
cùng cứu độ”. Yêu cầu đó sẽ được thoả mãn – hay đó là một lạc
tín?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không phải một, mà
hiện có nhiều triệu người yêu cầu điều đó. Nhưng tôi tin đòi hỏi
này sẽ không được đáp ứng trong tương lai gần. Câu trả lời của
Bộ giáo lýđức tin: vai trò cùng cứu độ đó đã thể hiện khá rõ
ràng trong các tước hiệu khác của mẹ Maria rồi, còn danh hiệu
“đấng cùng cứu độ” đi quá xa Kinh Thánh và các giáo phụ, nên sẽ
gây ra hiểu lầm.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="FR-CA">Đâu là cái đúng
trong đó? Đúng, là Đức Ki-tô không đứng ngoài hay bên cạnh chúng
ta, mà Ngài cùng với chúng ta xây dựng một cộng đoàn mới và
thiết thân. Những gì của Ngài là của ta và những gì của ta Ngài
đều nhận vào mình, để trở thành của Ngài: Sự trao đổi lớn lao đó
là nội dung của cứu độ, là sự mở toang cái tôi và bước vào cộng
đoàn với Chúa. Vì Maria đã thể hiện Giáo Hội đích thực nơi mình,
có thể nói ngài là Giáo Hội bằng xương thịt, nên sự “đồng cứu
độ” đó đã được thể hiện một cách mẫu mực. Nhưng trên cái “đồng”
đó ta không được quên cái “trước tiên” của Đức Ki-tô: Mọi sự đều
đến từ Ngài, như đã được đề cập một cách đặc biệt trong thư gởi
giáo đoàn Ê-phê-sô và Kô-lô-xê; và tất cả những gì nơi Maria đều
cũng đến từ Đức Ki-tô.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chữ “đấng cùng cứu độ”
có thể sẽ làm lu mờ cái nguồn cội đó. Một ý hướng đúng được
diễn tả bằng một từ ngữ sai. Chính trong vấn đề đức tin ta không
được đứt đoạn với ngôn ngữ Kinh Thánh và của các giáo phụ; không
được chế biến ngôn ngữ đó một cách tuỳ hứng.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">CÁC PHÉP
LẠ</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Không ai
trong Giáo Hội được tôn kính như Mẹ Thiên Chúa, với vô số nhà
thờ, bàn thánh, với bao nhiêu bài hát, kinh cầu, lễ kính và cuộc
hành hương. Hàng ngàn địa điểm hành hương đức Mẹ trở thành như
một mạng lưới tế bào thần kinh toả khắp thế giới.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Và xem ra
không ai làm nhiều phép lạ như Mẹ. Những nơi hiện ra treo đầy
chứng tích và tài liệu về những biến cố không giải thích được.
Bernard ở Clairveaux*, chẳng hạn, gán cho đức Mẹ một năng lực
khó tin: “Cứ cầu Mẹ, và anh / chị chẳng bao giờ mất hi vọng”.
Thưa Hồng Y, tất cả đều là phép lạ thật?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không thể kiểm chứng
được hết mọi biến cố. Thường đó là những chuyện xẩy ra lạ lùng,
nhưng có lẽ không nên coi tất cả là phép lạ theo nghĩa hẹp. Tuy
nhiên, tất cả những cái đó nói lên lòng tín thác đặc biệt của
con người nơi Maria. Qua Mẹ, họ nhìn ra khuôn mặt của Chúa và
Đức Ki-tô, và nhờ đó mà họ có thể hiểu được Thiên Chúa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Những dữ kiện mà anh
vừa kể, một lần nữa cho thấy là qua Mẹ, con người hiểu được một
cách đặc biệt những bí ẩn của Con Chúa và của Thiên Chúa. Đó là
lí do nói lên lòng tin sâu xa của con người đối với Mẹ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Maria là cánh cửa mở
đưa tới Thiên Chúa. Người ta có thể nói với Mẹ một cách thoải
mái, có thể cầu khẩn ngài với ngôn ngữ và lòng tin con trẻ,
những chuyện mà ta thường ngại làm trước mặt Đức Ki-tô. Đó là
ngôn ngữ của trái tim. Ngôn ngữ đó, hiện diện ở khắp các địa
điểm hành hương, càng cho thấy việc Mẹ đã đánh động sâu xa trái
tim con người như thế nào. Đó là thứ đức tin mà Đức Ki-tô bảo là
có thể dời non chuyển núi.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phải chăng các phép lạ
thật đã xẩy ra? đó lại là một chuyện khác. Quan trọng là người
ta có lòng tín thác sâu xa, và lòng tín thác đó cũng đã được đáp
trả. Qua sự tín thác đó đức tin trở nên thật sống động, đến nỗi
nó có thể thấm vào được trong cái vật lí, vào được trong cái
hàng ngày, và qua đó ta nhận ra được bàn tay nhân lành của Chúa
qua sức mạnh từ ái của Mẹ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Lấy thí dụ Fatima:
Ngày 13.05.2000 giáo chủ Gio-an Phao-lô II phong ba trẻ đã nhìn
thấy Mẹ lên hàng chân phước. Chính ngài bảo, ngài thoát chết
trong cuộc ám sát ngày 13.05.1981 là do ơn lạ của Mẹ. Và ngài
còn nói, biến cố phép lạ đó đã ấn dấu sâu đậm lên toàn bộ nhiệm
kì giáo chủ của ngài.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Việc gì
đã xẩy ra? Gần giữa trưa ngày 13.05.1917 ba em chăn thú tại một
miền quê hẻo lánh Bồ-đào-nha là Lucia (10) cùng hai anh em
Jacinta (7) và Francisco (9) đã có một thị kiến lạ lùng. Các em
kể, một lằn sáng chói chang xuất hiện trên gốc sồi đá chiếu toả
vào “một bà tuyệt đẹp”. Bà ấy bảo “Các con đừng sợ”, và bà nói
rằng, bà mang đến một sứ điệp hoà bình cho con người. Thoạt tiên
câu chuyện đã là trò cười và diễu cợt cho mọi người. Nhưng vào
ngày 13.10 năm đó có khoảng 70 ngàn người đã tuôn về để được
chứng kiến tận mắt cảnh tượng.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Người ta
kể, sự lạ xuất hiện vào khoảng giữa trưa. Trời bỗng dưng ngừng
hẳn mưa. Màn mây xé ra và mặt trời bắt đầu xoay tít quanh nó như
một bánh xe quay. Cây cối và con người bổng như chìm vào trong
ánh sáng huyền diệu đó. Đám đông la thét, vì tưởng như sắp bị
mặt trời sa xuống đè bẹp.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chuyện gì thuần khoa
học tự nhiên đã xẩy ra hoặc không xẩy ra ngày 13 tháng 10, ta
không thể kiểm chứng. Quan trọng là con người đã bị đánh động
bởi biến cố có một không hai lúc đó. Họ đã có thể cảm nhận có
một chuyện gì xẩy ra. Và một cách nào đó, mặt trời đối với họ đã
trở thành dấu chỉ ẩn chứa một bí mật nào đó.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Sách Khải-huyền nói về
một bà bận áo mặt trời chân đạp mặt trăng. Thoạt tiên, điều đó
muốn ám chỉ dân Thiên Chúa trong toàn bộ giao ước cũ và mới,
nhưng nó cũng ám chỉ đặc biệt Maria. Áo mặt trời của bà ám chỉ
Đức Ki-tô là ánh sáng thật cho thế gian. Hình ảnh đó như vậy nói
lên sự gắn bó cội rễ với Đức Ki-tô. Mặt trăng – hình ảnh của sự
chóng qua – bị bà dẫm dưới chân. Hình ảnh dẫm đạp đó một mặt nói
lên chiều kích lớn lao có thể làm ta khiếp sợ, nhưng mặt khác
cũng cho thấy đó là một sức mạnh ủi an. Và những ai tới Fatima,
Lộ-đức hay Guadeloupe đều cảm thấy cái lớn lao cũng như lực ủi
an và cứu độ đó.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nói tới Fatima tất
phải nói tới những “bí mật Fatima”. Đó là những sứ điệp mà ba em
đã nhận được vào năm 1917. “Bí mật” thứ nhất cho thấy hoả ngục
(Các con đã thấy hoả ngục, nơi những người tội lỗi đáng thương
đang sa chân vào). Bí mật thứ hai tiên báo việc chấm dứt thế
chiến thứ nhất, nhưng (“Nếu người ta cứ tiếp tục thoá mạ Thiên
Chúa”) một cuộc chiến “khốc liệt hơn nữa” sẽ xẩy ra. Bí mật đó
cũng báo trước về cuộc trở lại của Nga-sô. Nhưng chuyện này chỉ
xẩy ra sau khi Gio-an Phao-lô II dâng nước Nga cho đức Mẹ; và
một năm sau ngày dâng đó, Gorbachow đã mở ra chương trình tái tổ
chức và bức màn sắt đã sập đổ sau đó mười năm.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Về bí mật
thứ ba, đã có nhiều phỏng đoán từ nhiều chục năm nay, đặc biệt
phỏng đoán về cuộc tận thế hay ít ra là một cuộc sụp đổ của Giáo
Hội. Người ta bảo, bí mật này chỉ liên quan tới cá nhân giáo chủ
Rô-ma mà thôi, nên không được công bố. Trong kì viếng Fatima lần
thứ ba, chính Giáo chủ đã hé lộ cho thiên hạ biết về bí mật đó.
Hồng Y Sodano đã được uỷ thác thông báo tóm tắt nội dung sứ
điệp, ngài cho hay ba trẻ đã có thị kiến về “một giám mục mặc áo
trắng” đã bị trúng đạn và ngã chết dưới đất”, và theo Hồng Y, sứ
điệp này là một tiên đoán về vụ mưu sát giáo chủ Gio-an Phao-lô
II.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Về cơ
bản, sứ điệp Fatima không phức tạp lắm, mà trái lại. Ba trẻ đã
diễn tả sứ điệp đó như vầy: “Ta là bà dịu hiền của chuỗi mân
côi. Ta đến để con người được tốt hơn. Con người hãy chấm dứt
việc thoá mạ Thiên Chúa”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trên thực tế, sứ điệp
rất đơn giản. Và chị Lucia, người duy nhất còn sống (năm 2000),
vẫn luôn coi trọng sự giản đơn đó, và chị nói, đừng để ý đến
những chuyện gì khác mà người ta đã tường thuật, tất cả chung
quy lại chỉ là đức tin, hi vọng và tình yêu. Tôi cũng đã được
nói chuyện vắn tắt với chị. Chị nhấn mạnh với tôi là hãy kể tiếp
chuyện này cho mọi người nghe.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chị nói : Thoạt tiên
thiên thần hiện ra với chúng con, các ngài dạy cho chúng con
tin, cậy, mến; và nội dung của toàn bộ sứ điệp kia là chúng ta
hãy học lấy những nhân đức đó. Đó là những gì Mẹ Thiên Chúa tập
cho ta, và nhờ đó giúp ta tinh luyện và trở về với Chúa. Sám hối
chính là sự thay đổi cuộc sống, là việc bước ra khỏi khuynh
hướng thời thượng, một khuynh hướng đẩy ta rời xa Thiên Chúa và
chỉ biết nghĩ tới mình mà thôi. Sám hối là quay về, là đi ra
khỏi mình, là cho mình đi; cho mình đi tức là tình yêu, và rồi
tình yêu đòi buộc phải có đức tin như là điều kiện, và tình yêu
làm nẩy mầm hi vọng.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi tin rằng, tất cả
những cuộc hiện ra đó, nếu quả có thật, không phải là một cái gì
bên lề Tin Mừng. Đó không phải là những thoả mãn cho tính hiếu
kì và thích chuyện giật gân của ta, nhưng chúng đưa ta trở về
với cái giản đơn và cơ bản, mà ta thường rất ít để ý đến. Chính
ngày hôm nay, với bao phức tạp của cuộc sống, đạo của chúng ta
lại thường trở nên quá rắc rối, khiến ta nhiều khi chỉ thấy cây
mà chẳng còn nhận ra rừng. Vấn đề lúc này là quay trở về cái tâm
điểm đơn giản, chẳng phải đi đâu khác, mà là trở về với tin, cậy
và mến.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Bộ giáo lýđức tin đã
tổ chức một cuộc họp báo ngày 26.06.2000 để trình bày với báo
giới toàn bộ bản văn liên quan tới cái gọi là bí mật thứ ba của
Fatima. Song song Bộ cũng ra một tài liệu bằng nhiều thứ tiếng,
trong đó có chụp lại bản văn viết tay của chị Lucia về bí mật
trên, để người ta hết phải bàn tán về sự trung thực và đầy đủ
của bản văn. Tài liệu trình bày cẩn thận diễn tiến các thị kiến,
các trình thuật bằng văn bản của chị Lucia cũng như biên bản về
bí mật thứ ba. Cả cái thông báo của Hồng Y Sodano cũng được in
lại trong đó; chính tôi trong đó cũng có viết một bài thử phân
tích các bản văn. Vì cuốn sách được phổ biến rộng rãi, nên tôi
xin được tóm tắt đôi dòng về nội dung.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thị kiến cho thấy con
đường gian nan của một giám mục bận áo trắng (mà chính ba trẻ
nhận ra là giáo chủ Rô-ma) đang khó nhọc leo lên một ngọn núi có
dựng một cây thánh giá; con đường dẫn xuyên qua một thành phố
nửa đổ nát. Các giám mục, linh mục, giáo dân và cuối cùng cả
giáo chủ cũng bị giết. Nhưng máu của những nạn nhân đã được
thiên thần hứng lấy, và máu đó đã làm cho thế giới sinh hoa kết
quả. Ta có thể xem đó là hình ảnh biểu trưng cho Giáo Hội tử đạo
trong thế kỷ20; giáo sư Riccardo (chủ tịch cộng đoàn Thánh
Egidio) mới đây vừa cho ra một cuốn sách về các vị tử đạo dưới
các chế độ độc tài trong thế kỷchúng ta, cuốn sách đã cụ thể hoá
một cách hùng hồn những hình ảnh thị kiến. Đọc qua ba phần của
bí mật, ta thấy rõ tâm điểm của sứ điệp là lời kêu gọi sám hối,
đồng thời sứ điệp còn nói lên tính tự do của lịch sử, nghĩa là
lịch sử không hoàn toàn bất biến theo tiền định, mà có thể thay
đổi đường đi nhờ vào việc sám hối.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Toàn bộ bí mật là lời
thảm thiết kêu gọi tự do con người hãy sửa mình, và nhờ đó sửa
lại vận hội thế giới; nội dung bản văn cũng giống như sách
Khải-huyền. Sự kiện Giáo chủ thoát chết có thể được hiểu như là
một dấu chỉ cho thấy lịch sử có thể diễn tiến khác đi nhờ lời
cầu nguyện.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Giờ hãy
ghé viếng Lộ-đức. Điểm hành hương lớn nhất thế giới, còn lớn hơn
cả Mec-ca nữa, nằm ẩn khuất trong dãy Pyrenée nước Pháp. Người
ta bảo nơi đây từ tháng hai tới tháng bảy năm 1858 Mẹ đã hiện ra
tất cả 18 lần với Bernadette, và càng ngày càng có đông người
hơn được cùng cô gái xay bột chiêm ngưỡng sự biến hình của Mẹ.
Bernadette thuật lại: “Bà bận áo trắng, đội khăn trắng, thắt
giải khăn xanh và dưới chân có một bông hồng vàng”. Và theo lệnh
Bà, Bernadette đã lấy tay moi đất và một mạch nước thiêng từ đó
phun lên, hiện nay mỗi ngày phun tới 122 ngàn lít nước.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhà văn Do-thái Franz
Werfel, khi còn nằm trong tù Quốc-xã, đã hứa nếu sống sót, sẽ
viết về Bernadette, và ông đã thực hiện điều đó. Lúc này đây
người ta chẳng còn nhắc gì tới Bernadette nữa. Trước khi mất,
chị nói: “Hẳn quý vị cũng thấy là lịch sử của tôi rất đơn giản.
Đức trinh nữ đã dùng đời tôi cho ngài. Xong việc thì người ta
đẩy tôi vào một góc. Đó là chỗ của tôi, nơi tôi trú ngụ đầy hạnh
phúc”.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu chuyện Lộ-đức, đối
với cá nhân tôi, quả thật cảm động. Và cũng như nhiều người
khác, nhờ cuốn sách của Werfel mà tôi hiểu được thêm sự kiện.
Qua cuốn sách, tôi thấy tâm ông Werfel rất gần gũi với
Bernadette. Vì muốn liên đới với dân tộc do-thái, ông đã không
vào công giáo, nhưng dù vậy tâm ông đã cùng với Bernadette nhìn
thấy đức Mẹ thật, đã tin và đã tín thác vào ngài.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có lẽ ta chẳng phải
dài dòng luận bàn về câu chuyện. Cô gái đơn sơ kia, chẳng có gì
ngoài một tâm hồn tinh khiết lớn lao, đã có thể mang bộ mặt Mẹ
Chúa Trời – cho dù ngay bước đầu đã gặp phải sự ngờ vực hữu lí
của giáo quyền - vào một thế giới lạnh lùng và có xu hướng đông
lạnh tinh thần trong thế kỷcủa chủ nghĩa duy lí này, một thứ duy
lí thô lỗ và cả nhuốm màu chống giáo sĩ. Và với mạch nước ban sự
sống và cứu độ ở Lộ-đức, Bernadette đồng thời đã minh chứng nơi
Mẹ có lực cứu độ của tạo dựng, tạo dựng được Mẹ cho sống lại một
cách mới.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Quả là một dấu chỉ đầy
ý nghĩa, khi chính trong khung cảnh duy lí này mà một tâm hồn
đơn sơ –đơn sơ nên mới có thể nhìn thấy - đã giúp con người tái
nhận ra được Ki-tô giáo là một tôn giáo của tâm hồn và là một
thực tại có lực cứu rỗi. Và vì vậy ở Lộ-đức con người thường dễ
dàng nhìn ra được nét bí ẩn nơi Đức Ki-tô. Và đấy là một điểm
khá tích cực. Mạch nước cứu độ ở Lộ-đức nhắc nhở con người về
nước rửa tội, đây mới thật là nguồn nước mới Đức Ki-tô đã ban
tặng cho ta.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">LÒNG NHÂN
ÁI</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tin Mừng
viết: “Này anh chị em, có ích gì chăng, khi một người bảo, tôi
có đức tin, nhưng lại không làm gì cả. Đức tin như thế có cứu
người đó được không?” Mat-thêu ghi: vì công lí nước trời, Con
Người sẽ mở một trương mục và có ngày cũng sẽ kết toán sổ sách.
Vì “Cái gì ngươi đã làm cho người anh em bé mọn nhất, thì chính
là ngươi đã làm cho ta”. Vì đức tin không có việc làm là đức tin
chết, nên Giáo Hội đã đưa ra bảy mối thương người, gồm:<br>
Cho kẻ đói ăn<br>
Cho kẻ khát uống<br>
Cho kẻ trần truồng áo mặc<br>
Cho khách đỗ nhà<br>
Chuộc người tù<br>
Thăm người bệnh<br>
Chôn kẻ chết</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu đầu trích từ thư
thánh Gia-cô-bê, thư mang nặng truyền thống ki-tô gốc Do-thái.
Thánh Gia-cô-bê là giám mục thành Giê-ru-sa-lem. Trong lịch sử
Giáo Hội, ngài là người đại biểu cho loại Ki-tô giáo chủ trương
đức tin phải nhập thể vào đời sống, đức tin phải tạo nên hoa
trái, phải thể hiện ra hành động.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu thứ hai là của
chính Tin Mừng. Câu này mô tả dụ ngôn cuộc phán xét, trong đó
Chúa tự đồng hoá với người thiếu thốn và nói: “Các ngươi gặp
người thiếu thốn là gặp chính tôi”. Đây là một tư tưởng luôn đốt
lên những ngọn lửa mới trong lịch sử Giáo Hội. Nhận ra Đức Ki-tô
trong con người, nhất là khi ta đứng trước những người bị khinh
bỉ, những người đau khổ, những kẻ nghèo. Trong dụ ngôn, chính
Chúa rốt cuộc nói tới nhiều hình thức thương người: “Tôi trần
truồng, ông đã cho tôi mặc; tôi đau, bà đã giúp đỡ; tôi bị tù,
chị đã tới thăm…” Như thế Ngài đã vẽ ra những loại người thiếu
thốn, họ đại biểu cho Chúa trong thế giới.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ta hãy
nhìn kĩ hơn vào một trong những mối kia: “Cho kẻ trần truồng áo
mặc”. Với câu này, hẳn Chúa không ám chỉ việc quyên góp quần áo
cũ?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu đó hẳn nhiên mang
nghĩa bao quát hơn. Việc quyên góp đồ cũ, nếu làm với thiện tâm,
cũng mang ít nhiều giá trị; cũng không nên khinh thường những
việc nhỏ nhặt. Nhưng ở đây không chỉ có thế. Một mặt, nó đề cập
tới điều thực tế. Là người, ta không chỉ yêu trên nguyên tắc và
thỉnh thoảng gởi cho tí tiền, nhưng phải mở mắt ra để thấy chỗ
nào người khác cần đến mình trong cuộc sống. Và ta sẽ thấy là
điều này thường không dễ, chẳng thoải mái. Hãy nhớ lại câu
chuyện ông linh mục và các thầy tư tế gặp người bị trấn lột trên
đường. Họ đã không dừng lại, có lẽ vì sợ bị lỡ cái hẹn quan
trọng, hay sợ bị nguy hiểm vì đoạn đường đó heo hút. Lí do thì
lúc nào cũng có.Trái lại, dụ ngôn toà án của Đức Giê-su, cũng
như các mối thương người, nói lên điều rất cụ thể: Không những
ta phải thương người một cách chung chung, mà còn phải giúp đỡ
cụ thể những kẻ thiếu thốn mình gặp, cả lúc không thuận tiện,
không có giờ hay không sẵn phương tiện. Ta phải nghĩ đến từng
trường hợp riêng lẻ, chứ không phải chỉ có những chiến dịch lớn
mà thôi.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đòi hỏi tình yêu nơi
Ki-tô giáo và nơi cộng sản cũng khác nhau. Tình yêu cộng sản chỉ
nhắm tới kế hoạch lớn, tới việc cải tổ cơ cấu và bỏ qua trường
hợp cá thể. Dĩ nhiên cũng cần những kế hoạch lớn, nhưng không
được bỏ qua việc bác ái cá nhân, là công tác rất quan trọng, và
nhất là làm sao giúp cho những người đó có được những khả thể
tốt hơn. Vì vậy trong Giáo Hội đã có những bệnh viện, những
trường học cho người nghèo, và nhiều thứ khác nữa. Tắt lại, phải
quan tâm tới cả hai: không bỏ sót người bên cạnh ta trong những
chương trình lớn, cũng như phải làm sao thay đổi cơ cấu bất công
và trợ giúp cụ thể cho những ai gọi là trần truồng cần áo mặc.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Bên cạnh
bảy mối thương thân xác còn có bảy mối thương linh hồn:<br>
Lấy lời lẽ mà khuyên kẻ hoài nghi<br>
Mở dạy kẻ mê muội<br>
Răn bảo kẻ có tội <br>
Yên ủi kẻ âu lo<br>
Tha thứ kẻ tạo bất công cho mình<br>
Nhịn kẻ mất lòng ta<br>
Cầu nguyện cho kẻ sống lẫn người đã qua đời.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Việc nhân ái không
được đóng khung trong khía cạnh vật chất mà thôi, đó là điểm
quan trọng. Nếu chỉ lo chuyện vật chất mà thôi thì thật quá ít.
Vì vậy, trong viện trợ phát triển, càng ngày ta càng thấy rõ tầm
quan trọng của việc giúp con người có được kiến thức và học vấn,
để họ đủ khả năng tự giải quyết lấy chuyện của mình. Chỉ khi ta
giúp cho trí tuệ, giúp cho con người toàn diện, lúc đó ta mới
thực sự giúp. Vì thế, đưa Chúa đến cho con người lại càng là
chuyện quan trọng. Giúp tạo nên những tiêu chuẩn luân lí quả là
công tác nhân ái hàng đầu.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thử lấy
ra một mối: “Mở dạy kẻ mê muội”. Tôi nghĩ, ít khi người được dạy
bảo coi đó là hành vi nhân ái.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hãy nhìn vào thí dụ
viện trợ phát triển ở châu Mĩ la-tinh. Ở đây, Giáo Hội cũng như
các nhóm tả đều coi công tác chống mù chữ là yếu tố chính trong
hoạt động của mình. Tại sao? Là vì bao lâu con người còn u minh,
bấy lâu họ còn tiếp tục bị lệ thuộc. Họ không thể tự thân thoát
ra được tình trạng có thể nói là nô lệ đó. Chỉ khi họ tiếp cận
được với sản phẩm giáo dục, lúc đó họ mới có thể trở nên ngang
hang, và lúc đó xã hội, đất nước họ mới thật sự phát triển. Và
như vậy, việc dạy bảo kẻ u minh ở đây được người ta hiểu là
phương cách giúp họ đi vào được thế giới trí tuệ, giúp họ có
được chìa khoá để hiểu những gì đang chuyển động thế giới ngày
nay.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cũng vậy, nếu ta nhìn
lại các phong trào trước đây ở Âu châu, như việc mở trường dạy
học cho kẻ nghèo ở Pháp của Jean la Salle*, ta thấy người nghèo,
mà bao nhiêu thế hệ đã bị kìm giữ trong lệ thuộc, đã có được vận
hội học hành thật lớn. Học là chìa khoá nền tảng mở tung các
cánh cửa trí tuệ, là công tác sơ đẳng của nhân ái tinh thần. Dĩ
nhiên với điều kiện không chỉ dạy cho người ta biết đọc mà thôi,
mà việc đọc này cũng đưa họ vào một liên hệ tinh thần có ý
nghĩa, có nghĩa là không phải dạy cho họ một ý thứchệ, nhưng
cũng là mở ra cho họ con đường dẫn tới đức tin.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="FR-CA">CHUỖI
MÂN CÔI (MAI KHÔI)</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Giáo Hội
đã đặt ra một lời kinh đặc biệt có liên quan trực tiếp với bí ẩn
của đức Maria, đó là chuỗi mân côi. Đó là một thứ kinh cầu đọc
theo chuỗi từng hạt một: bắt đầu với dấu thánh giá (giáo huấn
đức tin); tiếp theo là kinh Kính mừng nói lên ba đức hạnh thiên
chúa: tin, cậy, mến (giáo huấn sống); bộ chuỗi gồm ba sự vui,
thương, mừng; mỗi sự suy gẫm về năm “bí mật” của đức Mẹ với Đức
Giê-su, đây là những công thức tóm gọn toàn bộ nội dung Tân Ước.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Những nhà tư tưởng và
thần bí lớn mọi thời đều trân trọng bộ chuỗi, coi đó là nguồn
sức mạnh tinh thần và là cánh cửa mở ra bao nhiêu khả thể khác.
Ngày nay, một đàng chuỗi được xem là một thứ gì lỗi thời khó
chịu, đàng khác, nó được coi là một hứa hẹn thiêng liêng có thể
nâng đỡ người ta trong cuộc sống thường nhật và giúp họ có được
ý thứcsống tốt hơn. Tôi chưa có kinh nghiệm, nhưng có lẽ mình
phải bỏ nhiều thì giờ tập làm quen, rồi mới dần nhận ra được khả
năng suy niệm với nó, như các nhà sư Tây-tạng vẫn làm. Có lẽ
phải lần hàng trăm, hàng trăm và hàng trăm chuỗi rồi mình mới
ngộ ra được; và ngược lại, mình cũng bắt đầu phải tập hiểu mình
hơn và nhận ra đâu là tâm điểm của con người mình. Theo Hồng Y,
đâu là cái bí ẩn của bộ chuỗi?</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nguồn gốc
lịch sử bộ chuỗi có từ thời trung cổ. Thời đó, kinh cầu hàng
ngày là các Thánh Vịnh. Nhưng hầu hết dân thời đó mù chữ nên
không thể đọc được Thánh Vịnh của Kinh Thánh. Vì vậy phải có một
Thánh Vịnh thích hợp cho họ, và người ta đã gặp được kinh Kính
mừng, trong đó chứa đựng những bí ẩn về cuộc đời Đức Giê-su
Ki-tô, và người ta đã xếp lời kinh đó tiếp nhau như xâu chuỗi.
Những lời kinh này, khi đọc đi lặp lại trong tinh thần suy niệm,
có tác dụng làm con người an tâm, và càng bám vào lời kinh khi
đọc, nhất là bám vào hình ảnh Mẹ và hình ảnh Đức Ki-tô trong đó,
tâm hồn con người tìm được nỗi yên tĩnh và giải thoát và hướng
được lòng lên cùng Chúa.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trên thực tế, chuỗi
mân côi nối ta vào cái hiểu biết và kinh nghiệm cội nguồn, đó là
sự lặp đi lặp lại. Lặp đi lặp lại là một phần của cầu nguyện và
suy niệm, và nó cũng là một thứ nhịp điệu đưa ta vào yên tĩnh,
nghỉ ngơi. Không nhất thiết phải suy nghĩ từng chữ khi đọc,
nhưng trái lại cứ thả hồn đi vào nhịp đều đều, đọc qua đối lại
của lời kinh. Lại nữa, lời kinh cũng đâu phải là không có nghĩa.
Nó làm hiện ra trước mắt và tâm ta những hình ảnh và viễn kiến
lớn, nhất là hình ảnh của Maria, và qua Mẹ, là hình ảnh của Chúa
Con.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Người dân thời đó phải
làm lụng nặng nhọc, họ không thể vận dụng trí tuệ nhiều khi cầu
nguyện. Trái lại, họ cần một lối cầu kinh giúp họ an tâm, và
cũng giúp họ quên đi những âu lo, và mang lại an ủi và ơn lành
cho họ. Tôi nghĩ, cái kinh nghiệm cội nguồn của lịch sử tôn giáo
đó: kinh nghiệm về sự lặp đi lặp lại, về nhịp điệu và về lời
kinh tiếng hát đọc chung này có tác dụng ủi an và giải thoát.
Lời kinh đọc chung lan toả đầy không gian, nâng tôi lên, nó
không làm cho tôi khó chịu, nhưng đưa tôi vào lắng đọng tâm hồn.
Kinh nghiệm cội nguồn đó đã trở nên một thứ gì hoàn toàn Ki-tô
giáo, khi, trong khung cảnh mẹ Maria và với hình ảnh Đức Ki-tô
này, nó giúp con người cầu nguyện một cách thật đơn giản, nhưng
dù vậy, lời kinh vẫn thấm được vào hồn – nó vượt lên trên vòng
trí thức, vọng vào hồn và toát ra bằng lời.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ngài có
lối lần chuỗi nào khác lạ không?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi lần cách rất đơn
giản, giống i như cha mẹ tôi đã làm. Cha mẹ tôi rất thích lần
chuỗi. Về già, ông bà lại càng thích lần hạt. Càng về già, người
ta càng ít khả năng làm những chuyện trí óc lớn, càng cần một
nơi trú ẩn tâm hồn, và nhất là càng muốn được hoà chung vào lời
cầu của Giáo Hội. Và tôi đã cầu nguyện giống i như ông bà đã
làm.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhưng cầu
thế nào? Ngài đọc một hay cả ba chuỗi?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không, ba chuỗi thì
nhiều quá, tôi là người vọng động, nên dễ bị chia trí. Tôi chỉ
đọc một, hoặc thường là hai hay ba chục thôi, vì rồi có thể lại
làm một cái gì khác để khỏi chia trí, để được yên tĩnh, lấy lại
tỉnh táo đầu óc. Vì thế, cả chuỗi thì nhiều quá.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Câu hỏi
cuối của phần này: Phải cần bao nhiêu thời gian người ta mới có
thể hiểu được đôi chút về những bí ẩn của đức tin, và cả về nghệ
thuật tin?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Mỗi người mỗi khác. Có
những người rất dễ lắng đọng tâm hồn. Có những kẻ khác khó hơn.
Nhưng quan trọng là không được bỏ cuộc, phải kiên trì. Và rồi
người ta từ từ sẽ thấy mình lớn lên trong đó.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Dĩ nhiên có những thời
điểm thuận lợi, mà cũng có những lúc khô khan. Có những lúc mình
thật dễ bị đánh động và bắt đầu thấy được đôi chút – nhưng rồi
lại có những lúc rất khó khăn.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Điều quan trọng trong
tiến trình lớn lên của tinh thần này, là không phải chỉ biết cầu
nguyện và để tâm vào đức tin những khi mình muốn và cảm thấy
thuận lợi mà thôi, nhưng phải giữ kỉ luật. Guardini đã luôn nhấn
mạnh điểm này. Nếu chỉ biết cầu nguyện theo hứng thôi, thì đức
tin có thể mất. Đức tin cũng cần kỉ luật trong thời hạn hán, có
như thế nó mới âm thầm đâm rễ. Cũng giống như cây cỏ vẫn âm thầm
tăng trưởng trong cánh đồng mùa đông. “Bánh mì mọc giữa mùa
đông”, nhà văn nữ Ida Friedericke Görres đã nói như thế.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Và người
ta nên bắt đầu cầu nguyện bằng gì? Bằng các câu hỏi?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chẳng bao giờ nên chỉ
bằng suy tư mà thôi. Bởi vì nếu ta nhìn Chúa qua ống nghiệm suy
nghĩ và muốn hiểu Ngài bằng thuần lí thuyết, thì ta sẽ thất bại.
Phải luôn liên kết câu hỏi với hành động. Pascal có lần nói với
một người bạn không tin: Trước hết, hãy làm theo những gì người
có đức tin làm, cho dù những cái đó xem ra vô lí đối với bạn.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi nghĩ, ở điểm này
mỗi người có cách riêng của mình. Lịch sử cho thấy, có nhiều
người nhìn ra cánh cửa đức tin từ nơi Maria. Nhiều người khác đã
thấy được điểm khởi đầu nơi Đức Ki-tô, qua việc đọc Tin Mừng.
Tôi cho rằng, đọc Tin Mừng luôn luôn là một cách để bước vào
niềm tin. Nhưng không phải đọc như kiểu mấy nhà sử đọc, họ chẻ
bản văn ra để tìm xem câu này bắt nguồn từ đâu, í kia từ đâu,
nhưng đọc trong tinh thần hướng về Đức Ki-tô, bằng cách luôn
biết chuyển vào cầu nguyện khi đọc.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi cho rằng có một
tương quan qua lại trong các nhịp bước – đôi khi cũng là bước
vấp ngã – giữa sống đạo thực hành và việc tìm kiếm trong suy tư.
Đức tin không bao giờ đứng trơ trọi một mình, nhưng luôn đi tới
với những người tin; những người này hiểu tôi, có thể họ cùng ở
trong một hoàn cảnh với tôi, và nhờ thế một càch nào đó có thể
giúp đỡ, dẫn dắt tôi. Đức tin luôn lớn lên trong cái chúng-ta.
Ai chỉ muốn tin một mình, thì người đó đã bước sai ngay từ đầu.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<a name="6_THÁNH_GIÁ_"><span style="color: #FF0000"><b>6</b></span><span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI"><b>
THÁNH GIÁ</b></span></a></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thường
người ta có thói quen trốn chạy đau khổ bằng mọi cách. Và không
có gì gây bực tức cho xã hội mạnh hơn, là quan điểm Ki-tô giáo
cho rằng phải chấp nhận, chịu đựng và ngay cả sẵn sàng đón nhận
đau khổ, để nhờ đó thắng vượt nó. Giáo chủ Gio-an Phao-lô II tin
rằng “đau khổ là một ẩn số của con người”. Tại sao?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhân loại ngày nay
đang tìm cách đẩy đau khổ ra khỏi thế gian. Đối với từng cá
nhân, điều đó có nghĩa là phải làm sao tránh bị đau khổ. Nhưng
người ta cũng phải thấy rằng, như vậy thì thế giới sẽ hoá ra rất
lạnh lẽo, rất khó sống. Đau khổ là một thành tố của kiếp người.
Và ai thực sự muốn diệt đau khổ, người đó tất cũng phải huỷ tình
yêu; không có đau khổ thì chẳng có tình yêu, bởi vì tình yêu
luôn đòi hỏi từ bỏ một phần chính mình, bởi vì tình yêu, tuỳ
theo tâm tính mỗi người và mức độ tình huống, cũng luôn kéo theo
với nó sự từ bỏ và đau khổ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nếu ta biết con đường
tình yêu – cuộc xuất hành, ra đi khỏi mình – là con đường thật
để thành người, thì ta cũng hiểu rằng đau khổ là tiến trình
trưởng thành. Ai sẵn sàng chấp nhận đau khổ, người đó trưởng
thành hơn, hiểu người khác hơn, là người hơn. Ai trốn tránh đau
khổ, kẻ đó không hiểu tha nhân, sẽ trở nên vị kỉ, tàn bạo.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chính tình yêu là một
cực hình, một chịu đựng. Thoạt tiên tôi cảm nghiệm được trong nó
nỗi sung sướng, tôi kinh nghiệm được hạnh phúc thật. Mặt khác,
đối lại, tôi cũng phải bước ra khỏi sự yên lành thoải mái của
tôi, và phải chấp nhận mình thay hình đổi dạng. Nếu ta bảo, đau
khổ là mặt trái của tình yêu, thì ta cũng hiểu được việc học đau
khổ quan trọng là dường nào – và ngược lại, cũng hiểu được tại
sao việc tránh đau khổ làm cho con người mất khả năng sống.
Trường hợp này, đời ta chỉ còn là trống rỗng, rồi có thể chỉ còn
lại bực tức, khước từ, hết còn trưởng thành, hết còn biết sẵn
sàng chấp nhận.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Việc gì
sẽ xẩy ra, nếu Đức Ki-tô không xuất hiện và không chết trên
thánh giá? Không có Ngài thì thế gian đã ra tiêu tan từ lâu rồi
phải không?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Điều đó không thể nói
được. Nhưng ta có thể nói được, là nếu không có Ngài, con người
không thể đến được với Thiên Chúa. Con người lúc đó chỉ còn biết
tìm Ngài trong lần mò đứt đoạn. Và rốt cuộc họ chẳng còn biết
Thiên Chúa là ai hay là gì nữa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Dĩ nhiên, cũng có đôi
chút ánh sáng thiên chúa loé lên trong các tôn giáo lớn, song
đấy cũng chỉ là những đốm sáng rời rạc hay cũng chỉ là những câu
hỏi. Vả, nếu như câu hỏi về Thiên Chúa không có câu trả lời, nếu
con đường dẫn tới Ngài bị tắc nghẽn, nếu không có sự thứ tha –
sự thứ tha do chính Thiên chúa uỷ quyền -, thì cuộc sống con
người trở thành một cuộc thí nghiệm vô nghĩa. Như vậy là chính
Chúa đã kéo mây đen ra khỏi một khoảnh bầu trời, Ngài thắp lên
ánh sáng, rọi chiếu mở ra cho ta một con đường, con đường chân
lí, con đường giúp ta sống, và đường đó chính là sự sống.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">INRI –
CUỘC KHỔ NẠN CỦA CHÚA KI-TÔ</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Một người
như Đức Giê-su hẳn đã khiến cho dư luận lưu tâm ghê gớm và đã
khiêu khích mọi tập thể. Vị tiên tri ở Na-da-ret đó không chỉ
được người đương thời hoan hô, mà còn bị nhạo báng và truy nã.
Giới cầm quyền coi Ngài và giáo huấn của Ngài là mối nguy cho
quyền lực họ, phía Pha-ri-sêu và và các thượng tế bắt đầu tìm
cách giết Ngài. Rõ ràng cuộc khổ nạn đã là một phần của sứ điệp
Ngài, bởi vì chính Đức Ki-tô đã cho các môn đồ biết trước về khổ
nạn và cái chết đó. Ngài nói thế này vào ngày lễ vượt qua, trong
hai ngày nữa “Con Người sẽ bị nộp và bị treo trên thánh giá”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI"> Đức Giê-su đã chuẩn
bị tinh thần cho các môn đệ, để họ hiểu rằng, đấng Thiên Sai sẽ
không xuất hiện như một kẻ giải phóng, hay như một kẻ uy quyền
vinh quang sẽ đưa Is-ra-el trở lại với quyền lực huy hoàng của
thời xưa cũ. Ngài đã không tự gọi mình là Thiên Sai, nhưng là
Con Người. Con đường của Ngài, trái lại, chỉ là con đường vô
quyền và chấp nhận cái chết, bị nộp cho người ngoài đạo, như
Ngài đã nói, và bị họ treo lên thánh giá. Ngài muốn các môn đệ
phải hiểu Nước Chúa sẽ đi vào trần gian bằng con đường đó, chứ
không bằng con đường nào khác.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Bức họa
nổi tiếng của Leonardo da Vinci*, Bữa Tiệc Li, vẽ lại cảnh bữa
ăn chia tay giữa Đức Giê-su và các tông đồ. Trong chiều tối hôm
đó, Ngài đã làm cho các tông đồ ngỡ ngàng thất vọng, khi Ngài
cho hay sẽ có sự phản trắc. Sau đó Ngài lập ra phép Thánh thể,
phép mà từ đó tới nay đã gần hai ngàn năm vẫn được ki-tô hữu cử
hành mỗi ngày.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tin Mừng
viết, “Trong bữa ăn, Đức Giê-su cầm lấy bánh và đọc lời chúc
tụng; rồi Ngài bẻ bánh, đưa cho các tông đồ và nói: Hãy cầm lấy
mà ăn; đây là mình thầy. Rồi Ngài cầm chén rượu, dâng lời ca
tụng, đưa cho các tông đồ và nói: “Hãy cầm lấy mà uống, đây là
máu thày, máu của giao ước mới, sẽ đổ ra để anh em và nhiều
người được tha tội. Hãy làm việc này để nhớ đến thày”. Có lẽ đây
là những câu cho tới ngày nay được lặp đi lặp lại nhiều nhất
trong lịch sử. Chúng xem ra như một công thức thánh.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chúng là một công thức
thánh. Nghĩa là những câu nói vượt ra hẳn ngoài mọi sự thường
tình, mọi chờ đợi, mọi suy tính. Đó là những câu chứa đựng kho
tàng vô giá và ý nghĩa thâm sâu. Muốn biết Đức Ki-tô, tốt nhất
nên suy niệm những câu đó và cùng cử hành sự hiện diện của
chúng, những lời đã trở thành bí tích. Phép Thánh thể là một
tổng kết về Đức Ki-tô.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ở đây, Đức Ki-tô lấy
lại những sợi chỉ nền tảng của Cựu Ước. Một mặt, Ngài dựa vào
việc lập Giao ước cũ ở núi Si-nai, và cho thấy rõ rằng, sự việc
khởi đầu ở Si-nai giờ đây lại xẩy ra một cách mới: Giao ước mà
Thiên Chúa đã lập với con người, giờ đây đã thật sự hoàn thành.
Bữa tiệc li là biến cố thành lập Giao ước mới. Khi Ngài giao
mình cho con người, lúc đó một cộng đoàn máu mủ giữa Thiên Chúa
và con người thành hình.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Mặt khác, ở đây lời
của tiên tri Jê-rê-mi-a tiên báo về việc lập Giao ước mới cũng
được nhắc tới. Cả hai vòng cựu ước (lề luật và tiên tri) tan
biến vào trong sự thống nhất này và đồng thời hình thành nên một
hành vi bí tích. Trong đó thập giá đã được hé mở cho thấy trước.
Bởi vì nếu như Đức Ki-tô cho đi thịt máu Ngài, cho đi chính
Ngài, thì điều kiện đặt ra là Ngài phải cho thực sự. Như vậy thì
những lời trên cũng là hành động nội tại của thập giá, hành động
đó nói lên rằng, Chúa đã biến bạo lực bên ngoài đối với Ngài
thành ra một hành động tự tặng mình cho nhân loại.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Và ở đây, có một điểm
nữa cũng đã được nói ra trước, đó là phục sinh. Không thể cho
người ta ăn thịt chết, thân xác chết. Chỉ vì Ngài sẽ phục sinh,
nên thịt và máu của Ngài trở nên mới. Và không phải ăn uống kiểu
con người, nhưng là sự kết hợp với Đấng Phục Sinh hằng sống.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Xem thế, chỉ trong mấy
lời trên, ta thấy chứa đựng cả một tổng hợp lịch sử tôn giáo,
một tổng hợp lịch sử đức tin của Is-ra-en cũng như chính cuộc
sống và công trình của Đức Giê-su, và cuộc sống và công trình
của Ngài này cuối cùng đã trở thành bí tích và hiện diện luôn
mãi.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Các môn
đệ cùng Ngài lên núi Cây dầu. Tại đây, Phê-rô khẳng định sẽ
chẳng bao giờ phản bội thầy mình. Đức Giê-su muốn vào vườn
Giệt-sê-ma-ni để cầu nguyện. Ngài bị cảm kích mạnh và bị cám dỗ
tấn công. Buồn và sợ xâm chiếm Ngài. “Tâm hồn thầy lo buồn đến
chết”, Ngài nói với hai môn đệ, “hãy ở lại và thức với thầy”.
Hai môn đệ vừa bước khỏi mấy bước thì Ngài sấp mình xuống đất.
Ngài cầu nguyện và có lẽ cũng khóc thầm. Hai môn đệ nghe tiếng
Ngài “Cha ơi, nếu được thì xin cất chén này khỏi con. Nhưng
không theo í con, mà tuỳ í Cha muốn”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đây là một trong những
đoạn cảm động và gây xúc động nhất của Tân Ước. Bí ẩn về cơn lo
sợ của Chúa Ki-tô luôn là nội dung mới mẻ để ta suy gẫm, cũng
như các bậc thánh lớn đã hằng suy gẫm.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ở đây, tôi thấy như có
một cuộc vật lộn giữa tâm hồn con người và tâm hồn thiên chúa
trong Đức Giê-su Ki-tô. Ngài thấy toàn bộ vực thẳm xấu xa và
kinh hãi của kiếp người, mà Ngài phải mang trên mình và phải
trải qua. Ngài thấy nỗi kinh hoàng của gánh nặng đang tới với
Ngài. Không chỉ cái sợ của giờ phút bị hành hình mà thôi, mà đó
là cuộc đối diện với toàn bộ kinh hoàng và vực thẳm của vận mạng
con người mà Ngài gánh trên mình. Cảm nhận đó của Ngài vượt xa
những gì ta có thể cảm nhận. Cả ta nữa cũng có thể khiếp hãi,
lúc đứng trước nỗi kinh hoàng của lịch sử con người, lúc nhìn
vào vực thẳm huỷ diệt con người khi họ chối từ Thiên Chúa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhà thần học người
Hi-lạp Maximus Confessor đã có một lối diễn tả biến cố cầu
nguyện trên núi cây dầu thật đặc biệt. Ông bảo, đã có một “phản
ứng hoá học về hiện hữu”. Nghĩa là, lúc đó í muốn của Đức
Giê-su đã trở thành một với í muốn của Chúa Con, và như vậy làm
một với í muốn của Chúa Cha. Toàn bộ sự đối kháng của bản tính
con người chống lại sự chết và những gì khiếp hãi, đã toát lên
trong lời cầu nguyện. Đức Giê-su phải thắng vượt bản tính đối
kháng của con người chống lại Thiên Chúa. Ngài phải thắng vượt
cơn cám dỗ làm trái ý Thiên Chúa. Ở đây, cơn cám dỗ đã đạt tới
cao điểm, và rồi nó sẽ bị bẻ gẫy để đưa tới tiếng xin vâng. Cuối
cùng, í Chúa và í người hoà tan vào nhau làm bật lên lời xin:
“Nhưng đừng theo í con, mà theo í Cha”.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Các môn
đệ xem ra mệt mỏi. Khi thầy trở lại, thì các ông đã ngủ. Đức
Giê-su thất vọng: “Các anh không thể thức với thầy được một giờ
sao”?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vâng, Ngài thất vọng.
Và ki-tô hữu mọi thời đều thấy câu nói của Đức Giê-su trong
giây phút đó đã vang vọng vào dọc dài lịch sử Giáo Hội. Các môn
đệ của Ngài luôn ngủ. Luôn luôn xẩy ra chuyện con cái Ngài ngủ,
khi việc nhà Chúa đang ở trong tình thế nguy kịch. Ngài đưa họ
tới gần Ngài, để họ chia sẻ bớt gánh nặng cô đơn của Ngài, nhưng
rõ ràng đã chẳng ai cảm được nỗi kinh hoàng của giây phút đó.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Và Đức
Ki-tô còn nói: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện, để đừng bị sa chước
cám dỗ. Tâm trí thì sẵn sàng, nhưng xác thịt thì yếu đuối”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu đó làm ta liên
tưởng tới lời Chúa nói sau cơn hồng thuỷ: “Ta thấy chúng chỉ là
xác thịt, yếu đuối, cần được tha thứ và thương xót”. Như vậy,
cuối cùng, nỗi thất vọng của Ngài đã tan biến vào lòng thương
xót.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Giu-đa
dẫn theo một đám đông lính võ trang. Ông bước tới Đức Giê-su và
hôn Ngài. Đó là mật hiệu. Quân lính vừa xấn tới Đức Giê-su thì
Phê-rô bước ra, rút gươm và chém đứt tai một anh tay sai của
thượng tế. Đức Giê-su chỉ Phê-rô nói: “Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì
ai dùng gươm thì sẽ chết vì gươm”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phê-rô muốn minh chứng
điều mình đã hứa là thật, ông sẵn sàng chết với Thầy. Dĩ nhiên
Phê-rô rồi cũng phải hiểu ra rằng kiểu can đảm kia chẳng đi tới
đâu cả, vì nó chẳng giải quyết được gì.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng đây là điều Đức
Giê-su cũng muốn nói cho toàn bộ lịch sử. Ngài cảnh cáo: Việc
nhà Chúa không thể bảo vệ được bằng gươm giáo, như người ta,
tiếc thay, vẫn luôn cố làm. Ai muốn dùng bạo lực để bảo vệ Chúa,
người đó chống lại Ngài.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Sau khi
Thầy bị bắt, các môn đệ bỏ chạy hết, không sót một ai. Người ta
dẫn Ngài tới thượng tế Cai-pha để tra khảo. Nhưng bản luận tội
của Cai-pha thiếu thuyết phục, các lời chứng đều là chuyện bịa
đặt. Cuối cùng họ đã tìm ra được một tội: Nhạo báng Thiên Chúa.
Thượng tế ép Ngài: “Ngươi hãy thề trước Thiên Chúa hằng sống, có
phải ngươi là Thiên Sai, là Con Thiên Chúa không”? Và Đức
Giê-su đã thẳng thắn trả lời: “Đúng như điều ông nói”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Là thầy cả thượng tế,
Cai-pha có trách nhiệm về mặt đức tin cho cả Is-ra-en. Hẳn nhiên
Cai-pha thật sự không muốn ra án tử cho Con Thiên Chúa. Ông biết
Giê-su là người tin vào một Thiên Chúa duy nhất, đây là tâm điểm
đức tin của giáo lýdo-thái giáo; cái tội của Giê-su, theo ông,
là đã dám xưng mình là Con Thiên Chúa. Dĩ nhiên ông đã không
nhìn ra được gì khác, vì đức tin nơi ông đã bị bó rọ trong công
thức. Song ta cũng không nên phán xét ông một cách hời hợt, vì
dù sao thì ông cũng phải hành động theo trách nhiệm tôn giáo của
mình.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Cuộc khổ
nạn bắt đầu. Các thầy luật và trưởng lão là những người đầu tiên
nhổ vào mặt Đức Giê-su. Họ lấy khăn chụp vào đầu Ngài và vả
Ngài: “Mày là Thiên Sai, là tiên tri, hãy nói cho chúng tao biết
ai đánh mày?” Phê-rô lúc đó đang luẩn quẩn trong sân, ông bị
nhận diện và đã chối Thầy. Nhưng khi ông nhận ra hành động mình,
ông bỏ ra ngoài, bật khóc cay đắng. Cả Giu-đa cũng chẳng sung
sướng gì về việc làm của mình, ông rất hối hận. Ông vứt tiền vào
Đền thờ và tự tử.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ở đây,ta thấy con
người yếu đuối một cách thảm hại:Thoạt tiên Phê-rô chạy trốn,
nhưng rồi quay lại để xem chuyện gì xẩy ra.Theo cái nhìn của
ông, việc chối Thầy chỉ là một lời nói dối nhỏ nhặt, chẳng qua
để khỏi bị nhận diện để được gần Thầy mà thôi.Nhưng dưới cái
nhìn của Đức Giê-su, đó là một hành vi hèn nhát bỏ cuộc.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cái thích thú đối với
tôi là phản ứng khác nhau của hai kẻ có tội. Một người nhận ra
con đường ăn năn và nhờ đó được đón nhận lại. Người đó sẵn sàng
nhận thứ tha, không thất vọng, i đau khổ, quay ra ăn năn và trở
về. Người kia quá hoảng hốt về việc phản bội của mình và chẳng
còn tin vào sự tha thứ nữa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Khác biệt là đó. Hai
loại ăn năn, tự lên án mình. Người này không rơi vào hư vô,
nhưng để mình được đón nhận trở lại. Người kia chẳng còn tin vào
sự tha thứ, để mình tự hủy diệt và vì thế không còn chấp nhận
con đường đổi mới đang mở ra.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi tin đây là một bài
học đầy ý nghĩa cho những ai bị vấp ngã, cho mọi thứ ý thứctội
lỗi và mọi cách vượt thắng tội lỗi. Sự tự lên án quá đà và sai
lầm, để cuối cùng dẫn đến việc chối bỏ mình hoàn toàn, không
phải là phương cách đúng đắn để giải quyết tội lỗi mình.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI"> Đức
Giê-su bị lôi tới tổng trấn người Rô-ma tên là Pontius Pilatus.
Pilatus nhạo Ngài: “Ông là vua dân Do-thái? Đức Giê-su trả lời:
“Vâng, tôi là vua, nhưng vương quốc của tôi không ở trong thế
giới này. Tôi được sinh ra để làm vua và có mặt trong thế gian
này để làm chứng cho sự thật. Ai ở trong sự thật, kẻ đó nghe
tiếng tôi”. Pilatus không thể hiểu được câu trả lời, nhưng hỏi
lại Đức Giê-su một cách nghi hoặc: “Sự thật là gì”?</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thoạt tiên Đức Giê-su
bị xét xử và kết án trước toà án do-thái. Nhưng không hiểu tại
sao các thế lực do thái lại không thi hành bản án, mà lại chuyển
sang toà án của chính quyền Rô-ma. Tại đây, người ta chẳng còn
tố Ngài bổ báng Thiên Chúa nữa, mà kết tội Ngài là một tay chính
trị muốn lật đổ nền cai trị của Rô-ma, nghĩa là từ án tôn giáo
biến thành án chính trị. Pilatus có lẽ chẳng thích thú gì về
việc luận tội này.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Bản án không vững, và
ông quan toà Rô-ma này là một người vô liêm sĩ, lúc đầu ông
chẳng thú vị gì làm anh đao phủ cho người Do-thái. Hình ảnh
Pilatus này xem ra thật tân thời. Khi Đức Giê-su nói về chân
lí, câu trả lời của ông đúng là của một kẻ hoài nghi chính hiệu:
Như thế là sự thật ư? Vậy thì tay này quả đúng là người gàn, hắn
ta quả quyết mình là chứng nhân cho sự thật và sẵn sàng chết cho
sự thật đó.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ông toàn
quyền Rô-ma tuyên bố với đám đông, ông thấy Giê-su không có tội
gì. Nhưng theo thói quen tha tội nhân vào những dịp lễ lớn, ông
để cho họ chọn giữa Giê-su và tay bạo hành Barabas. Đám đông
nhao lên: “Tha Barabas!” “Còn Giê-su?” “Đóng đinh vào thập giá”!
Pilatus trao vật tế cho đám đông, nhưng rửa tay trước mặt họ để
nói lên sự vô tội của mình.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đoạn này cũng cho ta
một bài học về đám đông. Trong đám đông có lẽ cũng có những
người trước đó vô hại, những người đã mến và hoan hô Giê-su. Ta
thấy đám đông có thể huỷ hoại lương tâm đến thế nào. Nó có thể
làm cho chính con người trở nên vong thân và biến họ thành dụng
cụ của sự dữ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Như trước
đó các thầy cả đã làm, giờ đây các tay lính cũng bỡn cợt với tù
nhân. Họ lột áo, khoác lên mình Ngài một tấm vải đỏ và đội lên
đầu Ngài một mũ gai. Đưa cho Ngài một cây gậy thay vương trượng,
và rồi cả đám quỳ xuống mà rằng: “Này vua Do-thái, hãy tự cứu
mày đi”. Rồi họ nhổ vào mặt Ngài, giật gậy và đánh vào đầu Ngài.
Cũng lại là Pilatus, trước cảnh tượng đó, ông đã kêu gọi lòng
thương hại: “Ecce homo – hãy xem, một người như thế”.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tất cả những đoạn đó
rất thâm sâu. Chúng dẫn ta bằng nhiều lối tới cả một chuỗi sự
kiện, từ nỗi tầm thường của sự dữ cho tới nét khiêm tốn của
quyền lực và của tình yêu thiên chúa. Trước hết, ta thấy sự vô
tri của đám đao phủ, đối với họ độc ác đã trở thành chuyện
thường tình. Nhưng có lẽ còn có cái gì thẳm sâu hơn nữa đàng sau
những diễu cợt kia. Bởi vì chính kẻ đội vương miện bị nhạo báng
đó là vua thật của thế giới. Kẻ đội vương miện bằng gai kia,
nghĩa là đội lấy nỗi đau đớn của thế giới, là vua thật. Câu nói
của Pilatus vô tình chứa đựng một nội dung vượt lên trên nghĩa
chữ. Một cách nào đó ông đã nói: “Vâng, cái đó là người”, một
con bọ thảm thương. Đồng thời ông chỉ vào con người thật, con
người mang hình ảnh Chúa trong đau khổ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Đám lính
dẫn kẻ nhục hình với mũ gai trên đầu về Gôn-gô-ta, đến “núi sọ”.
Đức Giê-su vác thập giá nặng, Ngài đổ mồ hôi máu. Ba lần Ngài
gục ngã vì gánh nặng. Chị Vê-rô-ni-ca trao cho Ngài tấm khăn để
lau mặt tạm, những phụ nữ khác khóc, nhưng tuyệt đối không có ai
đứng hai bên đường sẵn sàng vác đỡ cho Ngài. Có lẽ vì sợ Ngài
chết dọc đường không đến được nơi hành hình, đám lính đã bắt một
người tên là Si-mê-on ở Xi-rê-nê vác đỡ cho Ngài một đoạn.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Lòng sùng mộ Ki-tô
giáo đã lấy con đường thánh giá, con đường ngày nay ta có thể đi
lại ở Giê-ru-sa-lem, làm nguyên biểu tượng cho bước đường đau
khổ của con người. Một số biến cố trong đó đã trở thành nội dung
suy gẫm, chẳng hạn như ba lần Chúa ngã hay hình tượng
Vê-rô-ni-ca. Đó là những cảm nhận của con tim khi bước theo con
đường đó. Đường thánh giá và chuỗi mân côi là kinh cầu quan
trọng được hình thành do lòng sùng mộ của tín hữu phương tây
trong thời trung cổ. Đó không những là chứng liệu quan trọng về
sự trưởng thành tâm hồn và về lòng đạo đức, nhưng thực tế là một
trường học của nội tâm và của những an ủi. Đó cũng là trường học
dạy ta xét mình, giúp ta trở về, giúp tâm hồn biến đổi và dạy ta
cách cùng đau khổ với tha nhân – không phải chỉ cảm nhận cái đau
khổ của người mà thôi, mà đó còn là một cái gì thôi thúc ta phải
nhận chân con người mình và sửa mình nên tốt hơn.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hình ảnh Xi-mê-on dĩ
nhiên cũng quan trọng không kém. Thế giới ki-tô hữu nhìn thấy
trong đó một nhiệm vụ không bao giờ dứt. Có thể nói Đức Ki-tô
vác thập giá đi suốt toàn bộ lịch sử. Ngài mong chờ những bàn
tay của Vê-rô-ni-ca hay của Xi-mê-on sẵn sàng chia sẻ gánh nặng
thánh giá.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Không thể
tưởng tượng được việc đám lính hành hạ Đức Giê-su. Tất cả những
thù hận, những gì muông thú, xấu xa nhất mà con người có thể gây
cho nhau, đều được chúng đổ lên đầu Ngài.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI"> Đức Giê-su là một nạn
nhân điển hình của bạo lực. Chúng ta vừa chứng kiến con người
trong thế kỷ20 đã có thể man rợ tới chừng nào; họ đã tự sỉ nhục
và phá huỷ chính khuôn mặt mình, qua việc phá huỷ bộ mặt tha
nhân. Trước sự kiện con “Chiên Thiên Chúa” đã phải gánh thay vào
mình tất cả những nhục nhã đó, chúng ta một mặt phải rúng động
về sự dã man của con người, phải đặt lại vấn đề với chính mình
về việc đã tỏ ra hèn nhát hay câm lặng đứng nhìn, cũng như chính
mình đã đồng loã với tội ác. Mặt khác chúng ta phải sửa đổi mình
để Chúa được vui. Chúa đã đứng về phía những người vô tội và
những người đau khổ, và Ngài cũng muốn thấy ta cùng đứng ở phía
đó.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Trên thập
giá Đức Giê-su còn bị chế nhạo. Lính đưa cho Ngài rượu có trộn
mật đắng. Họ còn treo trên thập giá tấm bảng viết: Giê-su
Na-da-ret, vua Do-thái (INRI). Các thượng tế và thầy luật la
lên: “Mày muốn phá Đền thờ rồi xây lại trong ba ngày ư? Nếu là
con Thiên Chúa thì hãy cứu mình và xuống khỏi thập giá đi.”
Nhưng Đức Giê-su đã không rời thập giá. Ngài chẳng nói gì.
Chẳng nói gì cả. Từ giờ thứ sáu tới giờ thứ chín trời đất bỗng
tối sầm. Vào khoảng giờ thứ chín Ngài kêu lên: “Eli, Eli, lema
sabachtani”. Một câu thật lạ, vì nó mang nghĩa: “Chúa ơi, Chúa
ơi, sao Ngài bỏ con?”</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Về việc trao thức
uống, Tin Mừng kể lại hai cách. Mat-thêu nói đó là rượu trộn mật
đắng, và người ta trao cho Ngài lúc bắt đầu đóng đinh, có lẽ đó
là một thứ thuốc tê. Nhưng Ngài đã từ chối, vì Ngài muốn chịu
đựng nỗi đau với tất cả cảm giác. Mac-cô, Lu-ca và rõ hơn Gio-an
bảo đó là giấm, và người ta đã trao cho Ngài khi sắp tắt thở. Rõ
ràng các thánh sử muốn liên tưởng tới câu Thánh Vịnh: “Thay vì
của ăn chúng đưa cho tôi thuốc độc và giấm” (Tv 69,22). Một vài
chỗ trong sách tiên tri cũng viết: Ta đã trồng một vườn nho và
nó đã đưa cho ta giấm – một lời than trách vẫn luôn đúng cho
hoàn vũ Ki-tô giáo.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Rồi ta nghe những nhạo
báng đổ lên Đức Giê-su. Sách Khôn ngoan trong Cựu Ước có viết:
“Những kẻ bất lương nhạo báng người công chính”. Chúng đưa Ngài
tới chỗ chết và nói: Này là lúc hãy tỏ cho chúng tao thấy mày có
phải Thiên Chúa hay không. Đó là lối thử nghiệm của họ. Đó là
giây phút chiến thắng, mà những người pha-ri-sêu, có thể một số
trong họ trước đó đã bị cắn rứt lương tâm, giờ đây thấy mình có
lí và quay ra nhạo báng Ngài. Như vậy là họ thông đồng với nỗi
tầm thường của sự dữ, như nó đã được thể hiện nơi đám binh lính.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tin Mừng cho hay Đức
Giê-su trên thập giá đã thốt ra bảy lời tất cả. Lời nhắc đến
trên kia có tầm quan trọng bản lề. Đó và câu đầu của Thánh Vịnh
21, bài bi ca lớn của dân Is-ra-en, cho thấy trong lịch sử, cứ
mỗi lần dân này bị áp bức và bị dồn vào đường cùng, đều kêu lên:
“Chúa ơi, Chúa ơi, sao Ngài bỏ rơi tôi?”. Dùng Thánh Vịnh 21 để
cầu nguyện, là Đức Giê-su muốn đồng hoá mình với dân tộc đau
khổ Is-ra-en, và muốn nhận vào Ngài số phận của dân này.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng ta không được
quên, đó cũng là một lời cầu nguyện. Trong tiếng la nguy kịch đó
Ngài đã hướng về Thiên Chúa. Đức Giê-su chết như một người cầu
nguyện, như một người làm theo lời dạy của điều răn thứ nhất, là
luôn cầu nguyện với Thiên Chúa. Thánh Vịnh đưa ta vào một nỗi
tín thác lớn, nó tiên tri về phép Mình Thánh và chấm dứt với
câu: “Người nghèo được ăn uống no nê”. Từ thập giá tuôn ra Manna
mới làm cho kẻ nghèo được no nê.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Khi Ngài
tắt thở, khăn Đền thờ bị xé đôi. Động đất, đá tảng vỡ ra, ta còn
đọc thấy là mồ mả mở tung. Bao nhiêu thế kỉ, các nghệ sĩ cố gắng
bằng mọi cách diễn tả cảnh tượng đó. Tôi nhớ đặc biệt tới một
tấm hình: Kẻ bị đóng đinh gục đầu hơi nghiêng về một bên vai,
mắt nhìn thẳng vào người xem. Mũ gai ấn mạnh vào sọ. Máu tuôn
đầy người. Nước mắt Ngài chảy ra. Nhưng dù bị khổ nạn, ánh mắt
hé mở và không bị hây hấn gì của Ngài vẫn toát ra nét bình an.
Dù có đủ lí do để than thở, nhưng kẻ bị nạn vẫn mỉm cười với
người xem. Chẳng có một nét gì gọi là trách cứ trên khuôn mặt
đó, Đức Giê-su trông như đã được giải thoát và hoàn toàn thanh
thoải. Càng nhìn Ngài lâu, quái lạ ta càng nhận ra rõ nét an ủi
bên cạnh nét u sầu.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chỉ trong suy niệm,
chỉ khi hồn ta qua cầu nguyện đồng hoá làm một với Đức Ki-tô
chịu đóng đinh, khi đó ta mới có được những hình ảnh chịu nạn
đích thực, lớn và thuần khiết. Chúng vừa nói lên nỗi khát khao,
cơn túng quẫn, nỗi đau đớn và sự tra tấn man rợ nhất, nhưng đồng
thời cũng cho thấy sự bình an trong câu nói cuối cùng: “Con phó
linh hồn trong tay Cha. Sự việc đã hoàn tất”.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI"> Đức Giê-su gục đầu và
tắt thở. Ngài trút tinh thần và trao nó lại cho Cha Ngài, và sự
bình an đã chói rạng lên từ câu nói cuối cùng của Ngài. Hình
chịu nạn không bao giờ được phép chỉ nói lên khía cạnh man rợ mà
thôi, vì như thế chúng không diễn tả hết được cái bí ẩn của Đức
Ki-tô. Nếu chúng chỉ muốn nhắm tới việc thoá mạ con người không
thôi, thì chính chúng lại trở nên đích cho người ta diễu cợt.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">PHỤC SINH</span></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Trong
vòng 24 tiếng đồng hồ, khắp Giê-ru-sa-lem nhận ra sự kiện phục
sinh. Người trong thành sáng hôm đó ai nấy đều sửng sốt. Lại có
động đất, cuộc động đất hai ngày trước đó đã làm rung chuyển Đền
thờ, rồi suốt trong ba giờ liền bão cát nổi lên, tiếp đó lại
động đất. Khi các bà là những người đầu tiên tri hô lên không
còn thấy xác, người nghe coi đó là chuyện nhảm. Nhưng đến chiều
tối thì chẳng còn ai ngờ gì nữa, nhất là trong đám môn đệ. Đức
Giê-su đã hiện ra với hai trong số các môn đệ trên đường đi
Ê-mau và đã tỏ mình cho họ biết. Lịch sử đạo Ki-tô như là lịch
sử của một niềm tin khởi đầu từ giây phút này.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Giê-ru-sa-lem đã biết
đến sự kiện sớm hay muộn, ta không rõ. Ta chỉ biết qua kết luận
của Mat-thêu rằng, cả sau cuộc hiện ra cuối cùng của Chúa trên
núi Si-nai – Đấng bị đóng đinh đã sống lại và nói: “Mọi quyền
năng đã được trao cho Ta” – thì vẫn còn có những kẻ không tin.
Sứ điệp phục sinh luôn gặp phải ngờ vực và chối bỏ, cho dù nó là
một sứ điệp chiến thắng, sứ điệp vượt thắng hoài nghi.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đức Ki-tô đã ra khỏi
thế gian và ra khỏi cuộc sống thế gian để mặc lấy một thân xác
mới. Thân xác này không còn bị lệ thuộc bởi các quy luật vật lí;
nó thuộc về thế giới thiên chúa, từ thế giới đó Ngài tỏ mình ra
cho con người và mở lòng họ, để họ nhận ra và đụng chạm được
Ngài. Chúng ta luôn được mời gọi, cùng với “tông đồ không tin”
Tô-ma, sờ vào Ngài và nhận ra cái hiện tại sống động mà Ngài
luôn tỏ mình ra một cách mới trong lịch sử.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Biến cố phục sinh là
một cái gì mới đi vào trần thế, và từ đó Giáo Hội đã có thể hình
thành. Và trong thực tế, phục sinh là cộng đoàn của những người
tin vào Đức Ki-tô, cộng đoàn của Dân thiên chúa mới.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thập giá,
biểu tượng linh thiêng nhất của vũ trụ, như Guardini đã nói, đã
trở thành dấu chỉ của ki-tô hữu. Thập giá với một người bị đóng
đinh – là một biểu tượng gây khó chịu, tạo chống đối. Ngay
Phao-lô đã phải cảnh giác: Đừng làm cho thập giá trở nên vô
nghĩa, đừng đặt ngang hay dựng đứng nó, đừng biến cái hơn của
Chúa ra cái kém của thế giới.</span></i></b></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thật ra đó là một câu
chuyện có một không hai. Thập giá không những là nơi kết thúc sứ
điệp và chính thân xác thịt máu của Đức Giê-su. Chính nó đã trở
thành biểu tượng cứu độ, biểu tượng không phải của sự chết, mà
là sự sống. “Gỗ của sự sống thật” thánh An-rê ở Giê-ru-sa-lem đã
hát lên như thế. Điều trớ trêu: Qua thập giá tới cứu độ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Những bức ảnh chịu nạn
xưa mô tả người bị đóng đinh đồng thời cũng là kẻ sống lại, là
vua. Hình người trên đó mở mắt, để cho thấy bản chất không chết
của Thiên Chúa, nhưng Ngài sống mãi và trao tiếp sự sống. Như
vậy, từ một công cụ hành hình xấu xa của người Rô-ma, thập giá
đã trở nên dấu chỉ chiến thắng của Con Người. Dấu chỉ đó sẽ
không chỉ đến với ta trong ngày sau hết, nhưng nó đã tới, qua
việc Ngài đến với ta như một kẻ chiến thắng và mang ta đi. Cùng
với Ngài ta lên đường tiến về Thiên Chúa hằng sống; qua nỗi đau
khổ của Ngài ta thấy niềm an ủi của tình yêu thiên chúa, tình
yêu này mạnh hơn đau khổ.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Như vậy, thập giá thật
sự đã trở thành một dấu chỉ cứu độ, dấu chỉ vắn gọn của Đức
Giê-su Ki-tô, qua đó chúng ta nối kết với Ngài.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Các môn đệ ở
Giê-ru-sa-lem quả đã bị một cú xốc lớn: Đấng Thiên Sai, Đấng đã
có thể chữa lành người mù và khiến kẻ chết sống lại, bỗng dưng
hiện thân như một kẻ bị sỉ nhục, bị dày đạp và bị đám tay sai
quyền lực treo lên thập giá. Điều tuyệt đối không thể giải thích
được: Tại sao Thiên Chúa lại phải đau đớn và chết, mới cứu được
tạo vật của Ngài?</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đó là bí ẩn của Thiên
Chúa: Ngài không đi vào trần thế để cải tạo công bằng xã hội
bằng quyền lực. Ngài đã vì ta hạ mình và để cùng đau khổ với ta.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ta sẽ không bao giờ
hiểu hết được bí ẩn đó. Và dù vậy, cái tích cực nhất mà ta biết
được về Chúa, là Ngài không đơn giản cai trị bằng quyền lực.
Thiên Chúa có lối sử dụng quyền lực riêng, không như lối của con
người. Quyền lực của Ngài là sức mạnh cùng yêu và cùng khổ, và
khuôn mặt thật của Ngài tỏ lộ ra chính trong đau khổ. Thiên Chúa
mang nỗi bất công của thế giới trong đau khổ, nhờ đó chính trong
những giờ phút đen tối ta có thể chạy tới cùng Ngài là kẻ gần
với ta nhất.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thiên Chúa trở nên bé
nhỏ, để ta có thể nắm bắt được Ngài. Để cho con người học được
nguyên tắc sống chống lại thói kiêu căng và muốn làm trời của
họ. Ngài tới như một người sờ đúng trái tim ta.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI"><br clear="all">
</span></p>
<div class="MsoNormal" style="text-align:left" align="left">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">
<hr align="left" size="1" width="33%"></span></div>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<a href="http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=533&ict=7122#_ftnref1">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="DE">[1]</span></a><span style="font-size: 12.0pt" lang="DE">
Händel (1685 – 1759): nhạc sĩ sáng tác người Đức, đặc biệt nổi
tiếng với nhiều vở nhạc kịnh, trong đó có vở „Messias“.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<a href="http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=533&ict=7122#_ftnref2">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="DE">[2]</span></a><span style="font-size: 12.0pt" lang="DE">
Edith Stein (1891 – 1942): người Đức gốc Do thái, triết gia, môn
sinh của nhà hiện tượng học Edmund Husserl. Vào đạo công giáo,
sau khi đọc cuốn sách tự thuật của thánh Teresa ờ Avila, và trở
thành nữ tu dòng. Chết trong lò thiêu của Quốc-xã Đức. Năm 1998
được giáo chủ Gio-an Phao-lô II nâng lên bàn thánh. </span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<a href="http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=533&ict=7122#_ftnref3">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="DE">[3]</span></a><span style="font-size: 12.0pt" lang="DE">
Karl Jaspers (1883 – 1969): Triết gia và nhà phân tâm người Đức.
Vì vợ là người Do-thái, nên bị Quốc-xã cấm dạy học, và đã di cư
sang Thụy-sĩ sống, dạy học.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<a href="http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=533&ict=7122#_ftnref4">
<span style="font-size: 12.0pt" lang="DE">[4]</span></a><span style="font-size: 12.0pt" lang="DE">
Patrick (khoảng 385 – 461): Thánh bổn mạng của Ái-nhĩ-lan. Dân
Ái-nhĩ-lan tôn ngài là „tông đồ“, vì ngài đã đưa đạo tới cho họ.</span></td>
</tr>
<tr>
<td style="border-left-style: solid; border-left-width: 1px; border-right-style: solid; border-right-width: 1px; border-bottom-style: solid; border-bottom-width: 1px">
<p align="center">
<img border="0" src="../Suyniemmoingay/Nam2011/thanggieng/02.gif" align="right" width="200" height="200"></p>
<p align="center">
</p>
<p align="center">
<br>
</p> </td>
</tr>
</table>
</body>
</html>