File "ChuongIII-DucGiesuKito.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/THIENCHUA/ThienChuavaTranThe/ChuongIII-DucGiesuKito.htm
File size: 381.71 KiB (390871 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<LINK rel="stylesheet" href="../Suyniemmoingay/_common/colours.css" type="text/css">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">

<title>Thien Chua - Thiên Chúa và Trần Thế</title>
<style>
<!--
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Arial","sans-serif";
	}
-->
</style>
<meta name="keywords" content="Năm Bánh - Hai Cá - Giêsu Kitô; tinmung.net; dongcong.net, suy niệm mỗi ngày">
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../_themes/network/netw1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="network 1011">
</head>

<body>

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="10" bgcolor="#FFFFF2" cellpadding="10">
	<tr>
		<td style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 12pt; font-weight: bold; border-left-style:solid; border-left-width:1px; border-right-style:solid; border-right-width:1px; border-top-style:solid; border-top-width:1px">
		<p align="center"><font color="#FF0000">CHƯƠNG III:</font></p>
		<p align="center"><font color="#FF0000">ĐỨC GIÊSU KITÔ</font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 12pt" align="justify">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thưa Hồng 
				Y, có thể nói được rằng hình người trên khăn liệm ở Turin là 
				&nbsp;Đức Giê-su thật?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Khăn liệm Turin vẫn 
				còn là một ẩn số, chưa có lời giải rõ ràng, dù có rất nhiều điểm 
				cho thấy đó là tấm khăn thật. Dù sao, không ai trong chúng ta 
				lại không cảm xúc trước sức hút đặc biệt của bóng người đó, 
				trước các vết thương dễ sợ. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Và trước 
				khuôn mặt đầy ấn tượng.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cả cuộc khổ hình hiện 
				lên một cách mãnh liệt trên khuôn mặt. Đồng thời ta cũng thấy 
				một phẩm giá lớn lao trên đó. Khuôn mặt gợi lên nét yên tĩnh và 
				thoải mái, bình an và thương xót. Như vậy, khăn có thể giúp ta 
				mường tượng được Đức Ki-tô. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Một con 
				người với nét tự tin lớn...</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nếu chỉ là một tự tin 
				của con người, thì đó là một tình tự thái quá. Nhưng trên khuôn 
				mặt đó có một cái gì khác và lớn hơn nhiều: &nbsp;Đức Giê-su biết 
				rằng Ngài hoàn toàn làm một với Cha Ngài, với Chúa. Sự hợp nhất 
				này có tính chất gia đình, nó vượt lên trên tất cả mọi thứ hợp 
				nhất thần bí mà chúng ta biết. Vì vậy &nbsp;Đức Giê-su có lí do để 
				dùng tên gọi Thiên Chúa cho mình – “Ta là điều đó”. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Đó cũng 
				là một con người thỉnh thoảng tỏ ra thô lỗ và cáu kỉnh: „Này, 
				thế hệ không tin và không thể dạy bảo được kia!“ Ngài thất vọng 
				kêu lên: „Tôi phải ở bên các ngươi bao lâu nữa? Tôi còn phải 
				chịu đựng các ngươi bao lâu nữa?“</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chính tôi cũng luôn bị 
				đánh động bởi sự nghiêm khắc và thiếu kiên nhẫn của Ngài đối với 
				con người. Đây có thể là một bài học cho ta về tình yêu, tình 
				yêu luôn đòi hỏi, chứ không đơn giản chỉ là mềm lòng hay chấp 
				nhận thua thiệt mà thôi. Đức Giê-su nhìn con người với đôi mắt 
				Thiên Chúa. Từ cái nhìn đó, ta có thể nhận ra nỗi thất vọng của 
				Ngài đối với con người, và nhận ra cơn giận của Ngài trước cách 
				con người đối xử với tạo vật của Ngài. Những câu trên cho thấy 
				nỗi chán chường và vô tâm của con người đối với Thiên Chúa đã 
				trầm trọng tới cỡ nào, cho thấy khả năng bịt tai và khép kín của 
				con người đã thật sự trầm trọng ra sao trước mặt Chúa. </span>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">„Khóc lóc 
				và nghiến răng“ là câu &nbsp;Đức Giê-su thích nói nhất. Hễ khi nào 
				muốn ám chỉ điều gì xấu, Ngài lại dùng câu đó.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Bảo đó là câu Ngài 
				thích nói thì có lẽ không đúng. Đó là chữ Ngài dùng khi vấn đề 
				trở nên nguy kịch. „Khóc lóc và nghiến răng“ ám chỉ cái đe doạ, 
				cái nguy hiểm, tóm lại ám chỉ một con người đã hư mất. Nó nói 
				lên hoàn cảnh thế giới, trong đó con người đang ngất ngư trong 
				độc chất và truỵ lạc, rồi vừa khi thoát ra được bỗng nhận ra 
				toàn bộ sự mâu thuẫn của cuộc sống mình. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hoả ngục thường được 
				diễn tả bằng lửa đốt. Còn nghiến răng chỉ xẩy ra khi bị rét 
				lạnh. Khóc lóc nghiến răng là hình ảnh của một người bị bỏ rơi, 
				bị đẩy ra ngoài trời lạnh, vì hắn không còn chấp nhận tình yêu. 
				Người đó bị đẩy hoàn toàn ra khỏi thế giới của Chúa, cũng là thế 
				giới của thương yêu – đến nỗi phải nghiến răng khóc lóc. </span>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thỉnh 
				thoảng &nbsp;Đức Giê-su làm trò ảo thuật. Khi môn đệ hết tiền trả 
				thuế Đền thờ, Ngài nói với Phê-rô: „Chèo thuyền ra hồ thả câu; 
				khi bắt được con cá đầu tiên, mở miệng nó ra, anh sẽ thấy một 
				quan tiền trong đó. Dùng tiền đó mà trả thuế cho anh và cho 
				Thầy“.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không phải bạ đâu Ngài 
				làm phép lạ ở đó. Ngài chỉ làm khi có liên hệ tới đức tin. Ngài 
				nói rõ: Ta đến không phải để làm phép lạ, nhưng để loan truyền 
				nước Thiên Chúa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu chuyện anh kể trên 
				có một ý nghĩa khác, sâu xa hơn. Thật ra Chúa không cần phải trả 
				thuế, bởi vì đền thờ rốt cuộc là chính Ngài, nhưng Ngài đã trả 
				vì vâng lời, và đã trả theo cách thật đặc biệt do Chúa ban. Tôi 
				thấy Ngài mỉm cười khi làm chuyện đó. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">GIÊSU - 
				NHÂN VẬT GIẢ TƯỞNG? </span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Mối hoài 
				nghi về nhân vật Giê-su lịch sử chẳng bao giờ dứt. Có người cho 
				đó là một nhân vật giả tưởng. Có kẻ bảo đó là một thứ thủ lãnh 
				của một giáo phái. Có kẻ lại bảo Ki-tô chỉ là một trong những sơ 
				nguyên tượng được dùng để nói lên bi kịch của kiếp người: đau 
				khổ, lo âu, tình yêu. Và có người còn nói: Vị sư phụ đó xem ra 
				hay đấy, nhưng ông ta đâu có liên hệ gì tới tôi.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Dĩ nhiên, như ta vẫn 
				thấy, người ta có thể hoài nghi mọi chuyện lịch sử. Chẳng hạn 
				như có một vị trý thứcbảo không có Đại đế Karl*, nghĩa là ông 
				chối bỏ cả một lịch sử hai trăm năm. May mà chúng ta không ăn 
				theo trong vụ này. Tài liệu lịch sử cho ta biết về biến cố, 
				nhưng chúng không giúp ta sờ được chính sự kiện. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Như vậy 
				nghĩa là còn có chỗ cho những giả định, hồ nghi?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không. Ngay cả khi ta 
				chỉ dùng những tiêu chuẩn lịch sử đã được công nhận để xét, thì 
				sự hiện hữu của &nbsp;Đức Giê-su đã quá rõ và đầy đủ, đến nỗi ta 
				không còn nghi ngờ gì nữa về nhân vật lịch sử này. Những gì được 
				truyền tụng về Ngài khác hẳn với những gì có thể tạo ra hay 
				tưởng tượng ra. Chúng bẻ gẫy mọi mô hình giả định.Và ở đây ta có 
				thể nhận ra cả dấu vết của biến cố lẫn những gì sau đó đã hình 
				thành nên từ biến cố đó. Cả hai không thể giải thích được bằng 
				những phạm trù tư tưởng, mà chỉ bằng va chạm nền tảng với một sự 
				kiện đã thực sự xẩy ra. Vì vậy, theo tôi, việc hoài nghi về sự 
				hiện hữu của &nbsp;Đức Giê-su là chuyện thiếu đứng đắn. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhưng đâu 
				là nguồn sử liệu thật sự khả tín?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Anh cũng biết, càng 
				ngày người ta càng đào sâu vào tài liệu và bới qua bới lại quanh 
				chúng. Người ta muốn chẻ nhăm chúng ra để phân tích. Để cuối 
				cùng chỉ còn lại một nhúm dữ kiện nghèo nàn và người ta bỗng tự 
				hỏi, làm sao một khuôn mặt nghèo nàn như thế này mà lại cưu mang 
				được những biến cố như thế kia.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ta không được phép 
				quên điều này: Bức thư thứ nhất gởi giáo đoàn Cô-rin-tô, lá thư 
				làm chứng về việc sống lại của Chúa và về việc lập phép Thánh 
				Thể, đã có bằng văn bản, trước khi Phao-lô khởi sự viết. Lá thư 
				được viết vào thập niên 50 sau ngày chúa Ki-tô sinh. Và nội dung 
				lá thư ghi lại những gì đã được truyền tụng trước đó ở 
				Giê-ru-sa-lem. Như vậy có nghĩa là Phao-lô đã chép lại những gì 
				đã được viết ra, như chính ngài đã nói. Cả văn phong của thư 
				cũng cho thấy ta đang tiến sát thật gần chính ngay các sự 
				kiện.Tôi phải thú thật, càng nghe về những nỗ lực nghiên cứu 
				nguồn sử liệu, tôi càng bớt tin vào các giả thuyết đi quá đà của 
				các chuyên gia. Và những giả thuyết đó cứ lặp đi lặp lại và 
				không ngớt mâu thuẫn nhau. Ngay Albert Schweitzer* đã chỉ trích 
				việc cố công nặn ra một Giê-su lịch sử để đối lại với Đức Ki-tô 
				của niềm tin, việc làm đã được khởi sự từ khi mở đầu thời kì Ánh 
				sáng. Schweitzer bảo, ta tưởng lúc này đây đã có được khuôn mặt 
				thật của Ngài, nhưng thực ra Ngài đã vượt qua thời đại chúng ta 
				rồi và đã trở về lại với chính Ngài rồi.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi nghĩ, tất cả những 
				nỗ lực kia chỉ là những tái cấu trúc, trong đó người ta luôn chỉ 
				nhận ra khuôn mặt của nhà tái tạo mà thôi. Dù là Đức Ki-tô của 
				Adolf Harnarck – phản chiếu típ người tự do của ông; hay là Đức 
				Ki-tô phản chiếu loại triết lí hiện sinh của Bultmann*. Tất cả 
				những cấu trúc đó đều được thực hiện với ý nghĩnền tảng này: 
				Không thể có Chúa như là một con người được. Vì thế, họ không 
				công nhận tính lịch sử của các biến cố làm tiền đề cho Ngài. Có 
				nghĩa là ở đây người ta đã khởi sự làm việc với một điều kiện, 
				là phải loại ra khỏi biến cố cái lực nội tại của nó – nhưng 
				chính lực này mới là cái tạo cho biến cố sự lôi cuốn và đầy đủ ý 
				nghĩa. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Vậy cách 
				làm việc của ngài như thế nào?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi nghĩ, đúng hơn ta 
				nên đặt câu hỏi: „<b><span style="color:red">Khuôn mặt như trong 
				Tân Ước mô tả có nói lên ý nghĩa gì không?</span></b> Và câu trả 
				lời của tôi có thể sẽ là: Chỉ có khuôn mặt như trong Tân Ước mới 
				thật mang ý nghĩa. Chỉ như thế nó mới mang chiều kích cao cả và 
				mới có thể tạo ra được những biến cố như kia. Vì thế, theo xác 
				tín của tôi, ta có lí do để tin vào Tin Mừng, dù cho mọi phê 
				bình nguồn sử liệu, mà mình cũng có thể học được trong đó nhiều 
				chuyện. Có thể có những tiểu tiết lưu truyền đã bị người đời sau 
				làm biến thể, nhưng tựu trung các chứng từ Tin Mừng đều đáng 
				cậy, và ta có thể gặp được khuôn mặt thật của Đức Ki-tô trong 
				đó. Tin Mừng đáng cậy hơn nhiều so với những tái cấu trúc lịch 
				sử xem ra vững chắc.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi muốn thêm: Tin 
				Mừng Gio-an, mà một thời gian dài chỉ được xem như là một sáng 
				tác thuần tuý thần học (<i>Bultmann chẳng hạn đã cố minh chứng 
				đó là sản phẩm của các phong trào ngộ giáo</i>), ngày nay lạ 
				lùng thay đã được công nhận là một sử liệu. Tin Mừng này có 
				những chỉ dẫn địa lí đúng đắn nhất, và có một kiến thức đúng 
				nhất về lối nghĩ và cách sống của người Do-thái thời đó. Nhà chú 
				giải Klaus Berger ở Heidelberg vì vậy muốn coi nó là bản văn kì 
				cựu hơn các Tin Mừng khác. Điểm này có lẽ tôi không cùng quan 
				điểm. Tục truyền bản văn hình thành vào cuối thế kỷthứ nhất. Ta 
				cứ việc biết như thế. Tuy nhiên đó là một tài liệu với kiến thức 
				rất chính xác, và viễn kiến thần học của nó không tách khỏi nền 
				tảng lịch sử. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<a name="1._MẠC_KHẢI__"><span style="color: #FF0000"><b>1</b></span><span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI"><b>. 
				MẠC KHẢI </b></span></a></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có lần, 
				nhà thần học người Pháp Henri de Lubac* nói, chính cuộc đời Đức 
				Ki-tô là điểm mầu nhiệm được ưa thích nhất. Việc làm của Ngài, 
				một mặt, là hành vi của một con người thường, nhưng mặt khác 
				cũng là hành vi của một con người mang thiên tính. De Lubac 
				viết: „Tìm hiểu ý nghĩa cuộc đời Đức Ki-tô có nghĩa là thâm nhập 
				vào thực tại của Thiên Chúa“. Phải chăng có nghĩa là khi ta tập 
				tìm hiểu cuộc đời Đức Ki-tô, ta sẽ nhận ra và bắt gặp được Chúa 
				cũng như toàn bộ cuộc đời mình?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cuộc sống của ta chỉ 
				có chất liệu và nền tảng, khi ta càng thấm nhập vào và cùng sống 
				với cuộc sống của Đức Ki-tô. Nhờ nền tảng đó, ta mới có thể hiểu 
				được Thiên Chúa. Đó là điểm cơ bản. Lời Đức Ki-tô có tầm quan 
				trọng không có gì thay thế được, nhưng ta không được phép thu 
				gọn Ngài vào lời mà thôi. Thịt, như thánh Gio-an nói, cũng có 
				vai trò của nó, đó là lời được sống, và thịt cũng đã dẫn tới 
				thập giá. Chỉ khi ta ngắm nhìn cả con người toàn diện và sống 
				động của &nbsp;Đức Giê-su, lúc đó lời mới toát ra chiều kích cao cả 
				chứa đựng trong nó. Như thế, muốn hiểu được sứ điệp của Ngài, 
				nhất thiết phải ngắm nhìn cuộc sống và khổ nạn của Ngài. </span>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">TIÊN TRI 
				VÀ SỨ GIẢ </span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Như vậy, 
				ta hãy tìm hiểu rõ hơn về hình dáng, cuộc sống và sứ điệp của 
				&nbsp;Đức Giê-su Ki-tô. Hãy bắt đầu với Gio-an: „Từ khởi thuỷ là Lời 
				/ và Lời đã trở thành thịt / và ở giữa chúng ta, / và chúng ta 
				đã thấy vinh quang của Lời, / vinh quang của Con một của Cha, 
				đầy ân phúc và chân lí“. Hẳn đây là đoạn mở đầu cao sang nhất 
				xưa nay chưa từng được viết ra trên thế giới.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Những lời đầu tiên của 
				Tin Mừng Gio-an là nhịp cầu nối liền lịch sử tạo dựng, nguồn cội 
				mọi loài, với biến cố đã xẩy ra ở Pa-les-tin . Chúng nói lên 
				điều này: Logos / Lời sáng tạo làm nên thế giới kia đã hiện thân 
				trong con người Giê-su. Nguồn lực sáng tạo thế giới, như vậy, đã 
				đi vào trần thế và nói chuyện với ta. Một mâu thuẫn lớn đã xẩy 
				ra: Thiên Chúa quá vĩ đại để có thể trở nên bé bỏng. Và bé bỏng 
				đến mức Ngài gặp gỡ ta qua thân xác một con người. Thiên Chúa 
				không đơn giản từ trời rơi xuống và trình diện trước mặt ta, 
				nhưng Ngài đã xuất hiện qua một biến cố lịch sử, biến cố đó là 
				một con đường dẫn tới Ngài. Trên con đường đó, có thể nói, người 
				ta đang chờ Ngài và sứ điệp của Ngài có thể được ta nghe biết.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Gio-an 
				tẩy giả là sứ giả trực tiếp của Đức Ki-tô. Tin Mừng viết: “Ông 
				tới như một người chứng, để làm chứng cho Ánh sáng, để mọi người 
				nhờ ông mà tin”. </span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong biến cố lịch sử 
				kia, xét về thời điểm lịch sử, đã có một tiên tri, một chứng 
				nhân cuối cùng, xuất hiện trước &nbsp;Đức Giê-su. Gio-an làm phép rửa 
				là đại diện của một thứ phong trào cảnh tỉnh. Is-ra-en sôi bỏng 
				lúc đó đang nóng lòng về một vị cứu tinh, một Messias. Dân tộc 
				này bị ngoại bang thống trị, vẫn luôn mang trong mình hi vọng 
				được giải phóng, và họ tin là chuyện đó sẽ trở thành hiện thực. 
				Mặt khác, đó là một thời không có tiên tri. Xem ra ánh sáng tiên 
				tri lúc đó đã tắt. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Gio-an 
				đến từ sa mạc, và ông giảng điều mới mẻ. </span>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="FR">Ông bảo, 
				ông là “tiếng kêu trong sa mạc”. Ông làm phép rửa liên tục “bên 
				kia bờ sông Gio-đan”, như sách chép. Và hôm đó, khi thấy &nbsp;Đức 
				Giê-su tới với mình, ông đã nói một câu đầy bí ẩn: “Hãy xem Con 
				Chiên Thiên Chúa, đấng xoá tội trần gian. Đây là người mà tôi đã 
				nói: Sau tôi sẽ tới một người, người đó vượt trước tôi, vì người 
				đó có trước tôi”. </span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Gio-an xuất hiện nơi 
				sa mạc như một người được Thiên Chúa thánh hiến. Thoạt tiên, ông 
				giảng về hối cải, thanh tẩy và tụ tập dân chuẩn bị cho Chúa đến. 
				Việc rao giảng đó, có thể nói, là tóm tắt toàn bộ lời tiên tri 
				dẫn vào đúng lúc lịch sử đang hối hả tiến tới mục tiêu của nó. 
				Sứ mạng của Gio-an là mở tung cánh cửa ra cho Chúa, để dân 
				Is-ra-en sẵn sàng đón nhận Ngài và chuẩn bị giờ lịch sử cho 
				Ngài. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có hai điều quan 
				trọng: thứ nhất, những bài giảng hối cải của ông chứa đựng toàn 
				bộ lời tiên tri; thứ hai, việc chứng tá của ông về Đức Ki-tô đã 
				cụ thể hoá các lời tiên tri đó, qua hình ảnh con chiên, nay là 
				Con Chiên Thiên Chúa. Ta hãy nhìn lại câu chuyện của Ab-ra-ham 
				và I-sa-ac, nhìn lại chuyện tế thú vật mà trong đó chiên giữ vai 
				trò quan trọng, đặc biệt phải có chiên làm của lễ trong dịp vượt 
				qua. Giờ đây đã hoàn tất mọi nỗ lực thay thế đó. Đối với chúng 
				ta, chiên vượt qua trên nguyên tắc là người. Giờ đây Chúa Ki-tô 
				là chiên vượt qua, như thế là Ngài chia sẻ thân phận của ta và 
				làm biến đổi thân phận đó. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu thứ hai là một 
				nhắc nhở nhẹ nhàng về thiên tính nơi &nbsp;Đức Giê-su Ki-tô, cho dù 
				điều này Gio-an đã chưa nghĩ tới hết và nói ra hết. Ông bảo, đây 
				không phải là một nhân vật lịch sử nào đó, nhưng là một kẻ vượt 
				lên trước tất cả chúng ta, kẻ đến từ muôn đời Thiên Chúa và là 
				vị thân tín của Ngài. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tổ phụ 
				Gia-cóp có lẽ đã diễn tả thời điểm vị Cứu tinh này xuất hiện 
				giống như vào lúc Đức Ki-tô giáng sinh. Đó là lúc nhiều người 
				mất đức tin, đám Pha-ri-sêu thì, như sách chép, sống trong kiêu 
				căng và lạnh lùng, những người khác cảm thấy mình như một đàn 
				thú không có người chăn. Ước mong về một vị Cứu tinh đã trở nên 
				nóng bỏng cả nơi dân Do-thái lẫn nơi lương dân. Tiên tri I-sai-a 
				than thở: “Xin trời hãy đổ người công chính xuống!”, “Mây hãy 
				mưa người công chính xuống!”. Nhưng phải chăng những lời báo 
				trước về Đức Ki-tô đó chỉ mới được bịa ra sau này?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phần đầu câu hỏi của 
				anh có lẽ liên quan tới cái gọi là lời chúc lành của Gia-cóp 
				(Kn, 49), lời đó gồm một số lời hứa đầy bí ẩn cho mười hai con 
				trai của Gia-cóp. Lời chúc cho Giu-đa như thế này: “Nước thống 
				trị sẽ không rời khỏi Giu-đa và gậy quyền hành không rời chân 
				nó, cho đến khi nào vị xứng đáng và được muôn dân tuân phục đến” 
				(49, 10). Lời này sau đó được coi là lời hứa cho vương quốc 
				Đa-vít (Đa-vít thuộc dòng dõi Giu-đa), và đến khi vương quốc này 
				bị xoá sổ - nghĩa là vào thời &nbsp;Đức Giê-su – nó được coi là lời 
				hứa cho một con trai Đa-vít mới, là đấng Messias, đấng mà cả các 
				dân tộc ngoài Do-thái đều vâng phục. Hẳn nhiên, ki-tô hữu coi 
				con trai Đa-vít mới đó là Đức Ki-tô. Nhưng thời điểm Đức Ki-tô 
				đã chưa được viết ra, những câu trên (mà các học giả vẫn chưa 
				thống nhất về thời gian xuất hiện) đề cập tới một điều đang tới 
				với đầy bí ẩn, và ngữ nghĩa của chúng chỉ được sáng tỏ dưới ánh 
				sáng của Đức Ki-tô.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Giờ hãy nói về tiên 
				tri I-sai-a. Thật ra I-sai-a đã nói: “Trời của các ngươi hãy đổ 
				sự công chính”. Nhưng sau khi sự công chính đó hiện thân qua một 
				người, ki-tô hữu mới đọc nó theo kiểu nhân cách hoá. Ta cũng có 
				thể đọc và hiểu tương quan thống nhất giữa Cựu và Tân Ước như 
				một lối mở đường như thế. Lời cựu ước hướng về Đức Ki-tô, lời đó 
				đồng thời kiếm tìm Ngài từ trong bóng tối. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Dĩ nhiên, người ta có 
				thể coi Cựu Ước không có liên hệ gì tới Đức Ki-tô. Nhưng như thế 
				thì lời sẽ khó hiểu, vì thật ra chúng hướng về Ngài. Và dù cho 
				người Do-thái không thể coi Đức Ki-tô là vị đã hoàn thành những 
				lời đó, thì đó chẳng phải là vì họ có ác í gì, song cũng là vì 
				sự khó hiểu của lời kinh, và vì tương quan căng thẳng giữa hình 
				dạng Đức Ki-tô với lời cựu ước. Với Đức Ki-tô, Cựu Ước mang một 
				nghĩa mới – và chỉ nhờ Ngài mà những lời cựu ước mới nhận ra 
				liên quan, hướng đi và ý nghĩa của chúng. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Như thế, có thể loại 
				trừ yếu tố Đức Ki-tô ra khỏi Cựu Ước. Mà cũng có thể làm ngược 
				lại. Cả hai lập luận đều có lí do chính đáng. Đó là cuộc tranh 
				luận hiện nay giữa người Do-thái và ki-tô hữu. Nhưng không chỉ 
				giữa hai tập thể đó mà thôi. Một số đông các nhà chú giải theo 
				khuynh hướng thuần phê bình lịch sử cũng không chấp nhận tính 
				cách con đường và dẫn đường của Cựu Ước, và họ xem lối diễn giải 
				của Ki-tô giáo là không hợp hay đi quá xa nguyên nghĩa lịch sử.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tóm lại: Cựu Ước không 
				phải là một thứ bói toán, mà là một con đường. Điểm này người ta 
				có quyền tự do chấp nhận hay không. Theo tôi, chính việc tồn tại 
				của Cựu Ước đã là một bảo chứng nói lên Cựu Ước tự nó có ý 
				nghĩa. Cựu Ước rõ ràng có trước Đức Ki-tô về mặt lịch sử, cũng 
				như đức tin của người Do-thái và kinh sách của họ có trước Ki-tô 
				giáo. Các giáo phụ thẳng thắn coi việc người Do-thái công nhận 
				Cựu Ước và phủ nhận Đức Ki-tô là sứ mạng lịch sử nhằm bảo đảm 
				cho tính xác thực và tuổi tác của các sách thánh của họ. Vì thế, 
				các ngài bảo, người Do-thái đã phải tiếp tục là Do-thái, chứ 
				không trở thành ki-tô hữu. Cựu Ước tự nó vẫn có nghĩa, nhưng nếu 
				ta đọc nó với Đức Ki-tô, thì nó mới toát ra ý nghĩa mới và mở ra 
				một cái nhìn toàn diện. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">THIÊN CHÚA 
				TỰ SỬA SAI ?</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Các lề 
				luật cũ, từ nghi thức tế lễ cho tới cả chuyện khốn nạn “Mắt đền 
				mắt, răng đền răng” cũng được bãi bỏ sau khi Đức Ki-tô xuất 
				hiện. Như vậy, có thể nói được rằng Thiên Chúa đã phải tự sửa 
				sai?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tôi muốn nói lại 
				chuyện lịch sử. “Mắt đền mắt, răng đền răng” nghe ra kinh khủng 
				thật, nhưng trước hết có thể nói đó là một nguyên tắc điều hoà 
				và hợp lí hoá việc trả thù, không để nó vượt ra khỏi khuôn khổ 
				của hành vi tương ứng. Xem thế thì đó là một tiến bộ rồi, so với 
				luật pháp đương thời. Ở đây phải nói thêm, nếu không có tình yêu 
				thì cái tiến bộ về ý thứcpháp luật đó cũng chẳng giải quyết được 
				gì, chỉ có tình yêu mới bẻ gãy vòng trả thù luẩn quẩn và mới tạo 
				ra được một thực tại mới.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Trong cuộc trao đổi 
				này chúng ta đã đề cập tới câu: “Ta đến không phải để xoá bỏ 
				luật, nhưng để kiện toàn nó”. Chúng ta đã bàn tới câu đó một 
				cách cụ thể trong câu chuyện về của lễ Đền thờ. Của lễ luôn chỉ 
				là một vật thay thế. Và giờ đây, khi nhân vật mang của lễ đích 
				thật xuất hiện, và qua đó giúp ta có thể hi sinh cho Chúa, thì 
				toàn bộ ý nghĩa về việc tế lễ kia đã hoàn tất trong Ngài. Và 
				chính Ngài là đền thờ sống động thay cho mọi thứ đền thờ. Như 
				vậy, Ngài đến không phải để xoá bỏ cái gì, nhưng là để đưa nó 
				đạt tới đích. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Trong ý nghĩa đó, của 
				lễ dâng cho Đền thờ đã được hiện tại hoá trong Mình Thánh, một 
				hình thái mà trước đó mới chỉ có được những hình ảnh xa gần mà 
				thôi. Như vậy, có thể nói, Thiên Chúa đã không tự sửa sai. Nhưng 
				trái lại, Ngài giúp ta thấy được động lực nội tại và hướng tới 
				của con đường mà Ngài thoạt tiên đã mở cho ta, nhưng ta chưa thể 
				đi tới nổi. Ý nghĩa thực sự của con đường đó giờ đây đã được 
				kiện toàn và có được đúng chỗ của nó. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Kinh 
				Thánh nói về một “Is-ra-en mới, một dân thiên chúa mà Ngươi đã 
				gọi”. Nghĩa là giờ đây, với sự xuất hiện của đấng Cứu tinh, 
				những người đi theo Ngài, các ki-tô hữu, trở thành dân mới, dân 
				được Thiên Chúa chọn riêng?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Vâng, có thể nói được 
				như thế. Có thể nói đó là Is-ra-en mở rộng. Thánh Phao-lô nói 
				rõ, con cái Ab-ra-ham không phải chỉ là những người máu mủ, 
				nhưng là tất cả những ai có chung đức tin với ông. Như vậy, vòng 
				máu mủ của Is-ra-en được nới rộng ra bởi cộng đoàn Đức Ki-tô. 
				Nhờ vào một quyết định nền tảng (nhất là vào một quà tặng) mà 
				cộng đoàn này đã trở thành một dân, khiến cho lời hứa giờ đây 
				trở thành phổ quát.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">Chữ được 
				chọn nghe không ổn lắm</span></b><span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">, 
				vì nó gợi lên sự hạn chế, cho rằng ta đây là kẻ tốt hơn. Theo 
				nghĩa ban đầu của Kinh Thánh, chữ này muốn nói tới việc Chúa 
				chọn một dân tộc, để giao cho họ một công tác, và để họ thông 
				báo tới những dân khác một điều gì. Như vậy, được chọn luôn có 
				nghĩa là <b><span style="color:red">chọn cho một việc gì đó</span></b>. 
				Về một khía cạnh nào đó, có thể nói, kẻ được chọn phải mang gánh 
				nặng, vì phải nhận trách nhiệm cho kẻ khác.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Trong ý nghĩa đó, ý 
				niệmđược chọn và ý niệmIs-ra-en bao gồm tất cả những ai nhờ qua 
				Đức Ki-tô trở thành con cháu của Ab-ra-ham, trở nên con cái của 
				Thiên Chúa hằng sống. Tuy nhiên, họ không phải được chọn để sống 
				cho người khác, hầu có được hộ chiếu đặc biệt bước qua cửa thiên 
				đàng, nhưng là <b><span style="color:red">để tham dự vào việc 
				phục vụ Đức Ki-tô</span></b>, vào công tác của Is-ra-en đối với 
				lịch sử. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<a name="2._ÁNH_SÁNG_"><span style="color: #FF0000" lang="it">
				<b>2</b></span><span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT"><b>. 
				ÁNH SÁNG</b></span></a></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Quái lạ : 
				Thiên Chúa toàn năng vô cùng lại chọn một chốn hèn kém nhất ở 
				trần gian, một chuồng súc vật sơ sài ở Bê-lem, để sinh ra. Và 
				lập luận của Giáo Hội : Chỉ vì điều đó quá khó tin và quá mâu 
				thuẫn nên nó phải là chuyện có thật.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Lối lập luận đó không 
				đủ. Nhưng thật ra, việc chọn cái bé nhỏ là nét đặc thù trong 
				lịch sử Thiên Chúa với con người. Cái đặc thù đó ta thấy trước 
				hết qua việc Ngài <b><span style="color:red">chọn trái đất, một 
				hại bụi trong vũ trụ</span></b>, làm nơi hành động; trong đó dân 
				tộc yếu đuối như Is-ra-en lại được chọn để mang lấy lịch sử của 
				Ngài ; rồi Na-da-ret, một chốn hoàn toàn không ai biết đến, trở 
				thành quê hương Ngài ; và rồi cuối cùng Con Thiên Chúa lại sinh 
				ra ngoài làng Bê-lem, trong một chuồng súc vật. Tất cả như một 
				sợi chỉ đỏ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Chúa dùng <b>
				<span style="color:red">đơn vị đong đo duy nhất của Ngài là tình 
				yêu</span></b> để đối lại thói kiêu căng của con người. Kiêu 
				căng chính là hạt nhân, là nội dung chính của mọi tội lỗi, nghĩa 
				là của cái tự-coi - mình- muốn- bằng- Thiên Chúa. Tình yêu, trái 
				lại không phải là tự cao, mà tự hạ. Tình yêu cho thấy chính lúc 
				hạ mình là lúc ta vươn lên. Chính khi ta hạ mình, khi ta trở nên 
				đơn giản, cúi xuống với kẻ đói rách, nghèo hèn, khi đó ta mới 
				thật lên cao. Chúa trở nên bé nhỏ, để đưa con người dương dương 
				tự đắc trở về lại đúng chỗ của nó. Xem thế thì <b>
				<span style="color:red">quy luật của sự bé nhỏ</span></b> là 
				khuôn thước nền tảng của hành động Thiên Chúa. Quy luật đó giúp 
				ta nhận ra bản chất Thiên Chúa,&nbsp;và cả chính bản chất của ta. Như 
				vậy, lập luận trên tự nó đã chứa đựng một<b><span style="color:red"> 
				luận lí cao</span></b> và trở thành chỉ<b><span style="color:red"> 
				dấu cho sự thật</span></b>.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Cảnh 
				tượng giáng sinh đã trở thành nổi tiếng thế giới, và Friedrich 
				Händel</span></i></b><a href="http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=533&ict=7122#_ftn1"><b><i><span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">[1]</span></i></b></a><b><i><span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT"> 
				đã biến nó thành bất tử qua bản nhạc đại hợp xướng « Messias ». 
				Một thiên thần, bao bọc bởi hào quang thiên chúa,&nbsp;xuất hiện giữa 
				đêm đen báo tin cho những người canh giữ súc vật : « Các bạn 
				đừng sợ ! Tôi báo cho các bạn một tin vui lớn ». Và trong khi 
				thiên thần đang nói, từng đoàn thần linh thiên quốc quần tụ 
				quanh ngài đồng xướng lên lời ca vang vọng trần gian : « 
				Vinh-danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người lòng 
				ngay ».</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Đó quả là một trong 
				những cảnh đánh động con tim nhất của Kinh Thánh. Sự đánh động 
				đó đã có từ thời Giáo Hội sơ khai rồi, cứ nhìn vào nghệ thuật 
				thời đó ta có thể thấy điều này. Cảnh tượng đó đi vào lòng 
				người, nhưng sứ điệp của nó còn vươn xa hơn những gì thú vị và 
				đáng yêu.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Cũng lại những người 
				bình dân mộc mạc là những kẻ đầu tiên được gọi tới máng cỏ. 
				Hê-rô-đê không biết chuyện xẩy ra. Cả các nhà thông thái thoạt 
				tiên cũng không biết. Tin vui đã tới với những người chăn súc 
				vật, những người đang trông chờ ơn cứu độ của Thiên Chúa đến với 
				họ. Họ là những người sẵn sàng và biết mở lòng đón nhận. Những 
				người này, cùng với Maria và Giu-se, với Si-me-on và An-na, với 
				E-li-sa-bet và Za-ka-ria-a, là đại biểu của giới nghèo hèn trong 
				Is-ra-en – và như thế là toàn bộ Dân Thiên Chúa. Chúng ta đã 
				thấy trong Thánh Vịnh chữ kẻ nghèo và kẻ lòng nhân là từ chỉ bao 
				trùm thành phần tín hữu ở giữa trong dân Is-ra-en. Cũng như khi 
				Đức Ki-tô khen các trẻ nhỏ là Ngài khen những tâm hồn đơn sơ 
				biết nhìn và lắng nghe tin vui của thiên thần.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Nhóm người thứ hai tới 
				Bê-lem, như Tin Mừng Mat-thêu cho hay, là những nhà thông thái 
				từ phương đông. Rất có ý nghĩa. Kẻ đơn sơ đi trước, nhưng các 
				nhà trý thứccũng không bị loại ra ngoài. Nơi họ có một sự khôn 
				ngoan đích thực, khiến họ mở lòng mình ra cho Đức Ki-tô. Và còn 
				một điều quan trọng nữa. Những nhà thông thái tới máng cỏ là 
				người ngoại. Đây có thể nói là những hình ảnh nói lên chuyển 
				động của Giáo Hội, của người ngoại.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">THỜI ĐIỂM 
				QUAN TRỌNG NHẤT CỦA LỊCH SỬ</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Giám mục 
				người Đức Rudolf Graber cho rằng biến cố kia đã « vượt xa vô 
				cùng biến cố tạo dựng vũ trụ ». Chưa bao giờ có một biến cố lớn 
				như thế xẩy ra, và cũng không bao giờ sẽ xẩy ra một biến cố mang 
				tầm vóc như thế : « Bởi vì việc con một của Thiên Chúa, ngôi hai 
				Thiên Chúa, sẵn sàng làm người trong một địa cầu tí hon này là 
				chuyện vượt trên tất cả mọi cái có thể tưởng tượng »</span></i></b><span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Vâng, đó là một bài 
				học rất quan trọng, để ta hiểu được đúng ý niệmvề cái lớn và cái 
				bé. Nhìn trên khía cạnh vật chất, việc tạo dựng vũ trụ là một 
				biến cố lớn lao vô cùng. Bên cạnh đó, biến cố nhỏ nhoi xẩy ra ở 
				Bê-lem, mà các sử gia thoạt tiên đã bỏ quên, quả là chuyện không 
				đáng bàn tới.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Xét về lượng thì hai 
				biến cố trên khác xa nhau. Tuy nhiên, nếu ta thấy được chỉ một 
				trái tim người mà thôi cũng là một độ lớn mới trước toàn cảnh 
				của vũ trụ, như Pascal nói, thì lúc đó ta sẽ hiểu được việc 
				Thiên Chúa làm người, việc đấng Tạo dựng, Lời muôn đời 
				(Logos)&nbsp;chấp nhận bước vào thân phận làm người và tự buộc mình 
				vào thân phận đó, cũng là một độ lớn khác hẳn. Thiên Chúa xuống 
				trần và trở thành người. Đứng trước chiều kích này, cái độ lớn 
				xem ra vô cùng của thế giới vật chất cũng trở thành nhỏ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Biến cố 
				&nbsp;Đức Giê-su sinh ra đã trở thành huyền thoại lớn nhất cho mọi 
				thời từ hai ngàn năm nay. Ngày nay, không ai mà không biết đến 
				đêm đó. Không đâu trong Giáo Hội niềm tin thể hiện tràn bờ như 
				trong biến cố này. Giáng sinh có một lượng biểu tượng, giá trị, 
				đạo đức và u sầu, nghĩa là một lượng về thực thể con người, 
				không gì sánh nổi. Đôi lúc tôi nghĩ, chúng ta biết nhiều về 
				giáng sinh thật, nhưng hẳn giáng sinh biết chúng ta nhiều hơn 
				nhiều.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Có lẽ, một lần nữa, ta 
				phải thống nhất với nhau về nghĩa chữ « huyền thoại ». Ngày nay, 
				chữ này được hiểu theo nghĩa tích cực, nó nói lên một thứ viễn 
				kiến về những thực tại vượt khỏi giác quan con người, như vậy nó 
				chứa đựng một chân lí cao hơn cái thuần thực tại đang có. Nhưng, 
				cho dù mang nghĩa tích cực đó, « huyền thoại » chống lại lịch 
				sử. Nó là viễn kiến, chứ không phải sự kiện thực tế. Việc Đức 
				Ki-tô giáng trần, trái lại, là một biến cố lịch sử, một cái gì 
				đã diễn ra thật và đã trở thành biến cố lịch sử. Việc gắn liền 
				với lịch sử thật đó là một nét đặc thù của lịch sử Ki-tô giáo.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Quả thật lạ lùng, cái 
				đêm trong chuồng súc vật, trong hang đá đó, thoạt tiên được các 
				mục đồng &nbsp;để ý đến khi nghe thiên thần loan tin, giờ đây đã trở 
				thành một dấu chỉ vượt ra ngoài thế giới Ki-tô giáo, hầu như 
				chẳng còn ai mà không biết đến. Nhưng ta cũng phải nói thêm, 
				song song với việc phổ quát hoá đó cũng có một tiến trình tầm 
				thường hoá ghê sợ xẩy ra. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ngày nay, khuynh hướng 
				muốn đẩy Ki-tô giáo ra khỏi lễ giáng sinh ngày càng mạnh, nó 
				giống như một hoả tiễn, sau khi lên được độ cao nhất định, liền 
				tách khỏi phần dưới của nó. Ở Mĩ châu, với đà thương mại hoá và 
				tình cảm hoá, lễ giáng sinh trở thành nơi trưng bày cho các cơ 
				sở thương mại lớn. Trước đây, họ trang hoàng giáng sinh với hang 
				đá, nay với những cảnh huyền thoại, nào là với nai, hươu và các 
				ông già Nô-en, từ đó biến cái Ki-tô giáo ra thành cái huyền 
				thoại thật. Dĩ nhiên, vẫn còn cái dư âm chói sáng đánh động con 
				người, khi họ nhận biết Thiên Chúa đã trở thành người. Nhưng đó 
				chỉ là nỗ lực tìm cách giữ lại vẻ đẹp và cái rung động, còn cái 
				ý nghĩa cao sâu hơn nằm trong đó thì người ta lại bỏ đi.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Giáng 
				sinh cho ta thấy, bên cạnh tất cả những suy tưởng và tình cảm 
				lớn, cả những điều hoàn toàn mâu thuẫn, những điều dối trá trong 
				thế giới – và cả những hoài nghi lẫn không tin của ta.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Người ta đã đem quá 
				nhiều tiếng nói của con tim, quá nhiều yếu tố giá trị lớn và 
				quan trọng vào trong biến cố giáng sinh, khiến thoạt nhìn vào, 
				ta có thể thành tâm nói được, là nếu lột hết những thứ đó đi, 
				thì biến cố đích thực kia chẳng còn lại gì (làm vậy là cướp đi 
				nội dung cao cả của giáng sinh, biến nó một cách nào đó trở 
				thành trống rỗng). Nhưng cũng chẳng sao, biết đâu những điều 
				thêm thắt quan trọng và dễ hiểu kia, dù chúng vượt ra khỏi vòng 
				Ki-tô giáo, có thể đưa người ta tìm lại được đức tin. Bí ẩn của 
				đứa trẻ, của sự giản dị, của lòng khiêm nhu – đó là tất cả những 
				gì toát ra từ biến cố giáng sinh. Và ta cũng rất cần đưa vào 
				những bài học mang tính con người đó, để qua đó thấy được khía 
				cạnh nhân tính của Thiên Chúa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Phong tục tặng quà 
				thật ra bắt nguồn từ một suy nghĩ lớn. Đứa trẻ là quà tặng của 
				Thiên Chúa cho con người, vì vậy giáng sinh có thể là ngày để 
				người ta trao quà cho nhau. Nhưng nếu việc tặng quà trở thành 
				những chiến dịch thương mại bó buộc, thì việc trao tặng mất ý 
				nghĩa. Và rồi, đúng như câu của Đức Ki-tô nói với các môn đệ : 
				Đừng làm như người ngoại đạo, họ mời người khác, vì họ cũng muốn 
				được mời lại. Nếu chỉ còn là một cuộc trao đổi hàng hoá thuần 
				tuý, thì giáng sinh đã bị khống chế bởi tư dục, nó trở thành một 
				phương tiện cho tính ích kỉ vô đáy và cho lòng hám của lẫn hám 
				quyền – mà thật ra sứ điệp giáng sinh hoàn toàn trái ngược lại. 
				Đem giáng sinh trở về lại nội dung đơn giản của nó, đó có lẽ là 
				một nhiệm vụ lớn của chúng ta.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">ÁNH SÁNG 
				TRẦN GIAN</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Đức Ki-tô 
				không phải là người được soi sáng, nhưng chính Ngài là ánh sáng. 
				Ngài không chỉ là đường, mà còn muốn mình là đích tới nữa. Hồng 
				Y có lần bảo, biến cố ở Bê-lem «là bước đột phá quyết định của 
				lịch sử thế giới đưa tới việc kết hợp con người với Thiên Chúa 
				».</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Thiên Chúa đã thật sự 
				làm người, đó là một biến cố vĩ đại. Ngài không phải chỉ mượn 
				thân xác con người để hoàn thành một nhiệm vụ nào đó trong một 
				thời điểm của lịch sử - nhưng đã là người sống trong lịch sử, và 
				cuối cùng đã giang hai tay trên thập giá, để mở ra không gian 
				cho chúng ta có thể bước vào.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Nếu giờ đây Con Người 
				- Thiên Chúa này, như Kinh Thánh nói, muốn đưa tất cả chúng ta 
				vào trong Ngài, muốn kéo chúng ta vào làm một thân xác duy nhất 
				sống động, như hai người nam và nữ trở thành một xương thịt như 
				ta đọc thấy trong Kinh Thánh, thì ta sẽ thấy đây không phải là 
				một biến cố đơn lẻ, nó rồi sẽ biến đi như nó đã xuất hiện. 
				Không, đây là một đột phá, một khởi đầu, mà Đức Ki-tô qua Thánh 
				Thể, qua các bí tích và phép rửa muốn kéo ta vào trong đó. Trong 
				ý nghĩa đó, ở đây thật sự đã có một hoà tan giữa Thiên Chúa và 
				con người, giữa Tạo hoá với tạo vật, đó là một cái gì vượt trên 
				mọi quy luật tiến hoá. Đây không còn là một bước tiến của tiến 
				hoá, phát sinh từ lực thiên nhiên, nhưng là một đột phá tung 
				cửa, là hành động yêu thương của một con người, mở ra từ giây 
				phút đó một không gian mới và một khả thể mới cho nhân quần.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Ngài có 
				lần nói, &nbsp;Đức Giê-su là « con người kiểu mẫu, con người của 
				tương lai, qua Ngài ta thấy được khả năng hoàn thiện bản thân ta 
				trong tương lai ». Phải chăng điều này có nghĩa là về lâu về dài 
				chúng ta sẽ trở nên toàn hảo được giống như &nbsp;Đức Giê-su Ki-tô ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Trên thực tế, nhờ &nbsp;Đức 
				Giê-su Ki-tô, ta đang vươn tới <b><span style="color:red">con 
				người mới</span></b>. Ngài là mẫu gương cho bản thân ta nhắm 
				tới. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tôi không muốn nói 
				rằng, con người sẽ chỉ tiến lên <b><span style="color:red">giống 
				Ngài</span></b> về các khả năng bên ngoài mà thôi. Nhưng khung 
				hình nội tâm của Ngài, và cuối cùng là sự hi sinh tự hiến trên 
				thập giá của Ngài, mới là khuôn thước kiểu mẫu cho nhân loại 
				tương lai. Không chỉ có việc đi theo Ngài hay bước vào con đường 
				của Ngài. Mà tâm ta còn phải tự đồng hoá với Ngài, như Ngài đã 
				tự đồng hoá với ta. Tôi nghĩ, đó mới thật là đích điểm đi tới 
				của con người.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Nhìn vào những tấm 
				gương lớn theo Ngài trải dài trong nhiều thế kỉ, ta mới nhận ra 
				được những gì ẩn chứa trong con người &nbsp;Đức Giê-su Ki-tô. Đây 
				không phải là ta thổi phồng lên một khuôn mẫu lý tưởng, nhưng 
				qua họ ta thấy được tất cả những khả thể làm người. Một Thérèse 
				ở Lisieux, một thánh Don Bosco, một Edith Stein</span><a href="http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=533&ict=7122#_ftn2"><span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">[2]</span></a><span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">, 
				một tông đồ Phao-lô hay một Tô-ma ở Aquino, các ngài đã học Đức 
				Ki-tô để trở thành người. Tất cả các ngài đã trở nên thật <b>
				<span style="color:red">giống Đức Ki-tô</span></b>, nhưng mỗi 
				người trong họ vẫn có <b><span style="color:red">một mẫu sống 
				riêng</span></b>.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Trong một 
				bài giảng, có lần ngài giải thích, các ngọn nến mùa vọng nhắc 
				nhở các em về những ngàn năm của lịch sử nhân loại trước Đức 
				Ki-tô, những ngàn năm của tăm tối và chưa được cứu rỗi. Và ki-tô 
				hữu đã đặt cho thời gian sau khi Chúa sinh ra một cái tên thật 
				đẹp : « anni salutis reparatae », những năm của ơn cứu độ được 
				tái lập.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Nếu ta quan niệm thời 
				gian cứu độ một cách máy móc, xem đó như là một cái gì đã được 
				thiết lập chắc chắn, cứ việc vào đó nhặt ơn cứu độ mà xài, thì 
				điều đó chắc chắn không đúng. Ta vẫn thấy thực tế luôn phản lại 
				quan niệm trên. Chẳng hạn, chưa bao giờ có những cuộc chiến man 
				rợ và sắt máu như trong thế kỷta đang sống. Nó xấu xa hơn mọi 
				thời gian trước đó, vì ta không có được những phương cách để 
				kiểm soát sự dữ một cách tinh vi, hữu hiệu và hợp lí. </span>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ơn cứu độ đã được trao 
				tặng cho ta không phải là một cái gì máy móc và bên ngoài. Nó 
				được tín thác vào tự do, và như thế cũng được đặt vào sự mỏng 
				dòn của tự do và vào bản chất dễ sa ngã của con người. Ơn cứu độ 
				luôn khởi sự một cách mới mẻ nơi mỗi người, chứ nó không đơn 
				giản đã có sẵn đó. Nó không do từ bên ngoài hay do quyền lực mà 
				có, nhưng chỉ bước vào khi tự do của ta mở cửa. Nhưng trên hết 
				và trong mọi chuyện vẫn là Chúa, <b><span style="color:red">Ngài 
				đi tới với ta và cho ta hi vọng</span></b>, hi vọng này mạnh hơn 
				mọi phá hoại và nó giúp con người trở nên hoàn thiện.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">ĐIỀU GÌ 
				THEO CHÂN ĐỨC KITÔ XUỐNG TRẦN? </span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">&nbsp;Đức 
				Giê-su cũng được nói đến như một « Adam mới ». Ngài là đấng 
				trung gian và hoàn thành mọi mạc khải. Có thể tóm kết trong một 
				vài câu ngắn về những gì mới mẻ đã theo chân Ngài xuống trần 
				gian ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Hãy nói về hình ảnh « 
				Adam mới ». Adam trước hết ám chỉ sự khởi đầu của thực tại con 
				người, là thuỷ tổ nhân loại. Nếu giờ đây Đức Ki-tô được gọi là « 
				Adam mới », thì điều đó có nghĩa là một khởi đầu đích thực đã 
				tới. Như vậy, cuộc khởi đầu trước đây phải hiểu là một mô hình 
				khởi thảo về Đức Ki-tô, và chỉ sau khi có Ngài thì khởi thảo kia 
				mới được rõ nghĩa. Vì vậy, ta có thể yên chí nói rằng, khuôn mẫu 
				con người đã được cắt đo theo thân hình &nbsp;Đức Giê-su, và con 
				người được kêu gọi bước vào hợp nhất với Thiên Chúa – vì chính 
				&nbsp;Đức Giê-su chẳng phải chỉ là người, mà là Con Người Thiên Chúa.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ta không nên hạn chế 
				cái đặc thù của &nbsp;Đức Giê-su vào trong từng lời nói hay từng việc 
				làm của Ngài. Thập giá, với lối đón nhận và chịu đau đớn của 
				Ngài, là một cái gì mới. Phục sinh là điều mới. Ngay việc sinh 
				ra từ một trinh nữ cũng mới (cho dù có nhiều huyền thoại về 
				chuyện đó). Sứ điệp yêu Chúa và yêu người như là toàn bộ giới 
				răn, hay là Thánh Thể, qua đó Ngài cho biết việc sống lại của 
				Ngài, đó là những cái mới lớn mà Ngài đã mang xuống trần. Tất cả 
				đều phản chiếu cái mới lạ thường này: Thiên Chúa không ở đâu xa 
				cả, Ngài không phải là một đấng nào đó không thể mường tượng 
				được, nhưng Ngài ở bên ta, Ngài đã trở nên làm một với ta, đụng 
				vào ta, đón nhận ta, cũng như ta đụng chạm được Ngài và có thể 
				đón nhận Ngài.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Như thế, cái đặc thù 
				đích thực của &nbsp;Đức Giê-su chính là con người Ngài – đấng vừa là 
				Chúa vừa là người. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Con người 
				Thiên Chúa đó cũng đã nói : « Tôi đến để vứt lửa xuống trần 
				gian. Tôi mừng nếu lửa đó bốc cháy ! » Và Ngài tiếp : “Anh chị 
				em nghĩ là tôi đến để đem bình an ư ? Không, tôi không đem bình 
				an, mà là chia rẽ ».</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Đó là câu nói mạnh ghê 
				gớm. Ngài dùng hình ảnh lửa, trước hết, để nói về cuộc khổ nạn 
				của mình, cuộc khổ nạn vì lửa tình yêu ; đó là bụi gai mới, bốc 
				cháy mà không rụi đi ; một thứ lửa có thể cho đi tiếp.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">&nbsp;Đức Giê-su không tới 
				để giúp ta thoải mái, nhưng Ngài vứt lửa tình yêu bốc cháy của 
				Thiên Chúa, của Thánh Thần xuống. Origenes đã ghi lại một câu 
				không chính thức của &nbsp;Đức Giê-su : « Ai tới gần tôi, là tới gần 
				lửa ». Nghĩa là ai tới gần Ngài, phải sẵn sàng để cho mình bốc 
				cháy. Ta nên đem những câu đó đặt ra cho Ki-tô giáo ngày nay, 
				một Ki-tô giáo đã trở nên tầm thường, chẳng còn gì nói nữa, muốn 
				tìm mọi cách để được an phận mà thôi. Ki-tô giáo là đạo lớn, bởi 
				vì lửa của nó lớn. Nó đốt cháy, không phải để thiêu rụi, nhưng 
				để làm cho mọi thứ trở nên sáng láng, tinh tuyền, giải thoát và 
				lớn lao. Làm ki-tô hữu, do vậy, tức là dám tín thác vào lửa đó.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Cũng có 
				một lời khác của &nbsp;Đức Giê-su : « Tôi trao cho anh chị em bình 
				an, tôi trao bình an của tôi cho anh chị em, tôi trao cho anh 
				chị em không như thế gian trao ».</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Hai câu trên phải đi 
				đôi với nhau, mới có thể hiểu được ý nghĩa lời của Chúa. Đức 
				Ki-tô là sứ giả của hoà bình. Tôi cho rằng câu này quan trọng 
				hơn. Nhưng ta chỉ hiểu đúng hoà bình của Ngài mang đến, khi ta 
				không coi nó tầm thường như việc bôi dầu cù là vào chỗ đau hay 
				xí xoá cho qua chuyện trong những cuộc tranh cãi về chân lí.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Khi một chính quyền 
				tìm cách tránh mọi xung đột và coi xung đột nào cũng có lí, hay 
				khi mỗi cá nhân tìm cách tránh đụng chạm, thì mọi chuyện sẽ bế 
				tắc. Nơi Giáo Hội cũng thế. Nếu nó chỉ tìm cách tránh xung đột, 
				để đừng gây bất an ở đâu cả, thì sứ điệp phúc âm sẽ không thể 
				nào đạt tới đích. Bởi vì sự có mặt của sứ điệp này cũng là để 
				gây mâu thuẫn nơi ta, để lôi con người ra khỏi những dối trá và 
				để tạo sáng tỏ, để tìm ra chân lí. Chân lí phải trả giá mắc. Nó 
				đưa ra đòi hỏi, và cũng đốt cháy. Trong sứ điệp của &nbsp;Đức Giê-su 
				Ki-tô cũng gồm cả thách đố trong những tranh luận giữa ta với 
				người chung quanh. Không phải chỉ việc dễ dãi quét lên một lớp 
				sơn cho đức tin xơ cứng và tự cao của ta là được, nhưng phải có 
				tranh luận mới có thể phá vỡ vỏ xơ cứng và đưa sự thật tới đích.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Như vậy 
				hoà bình của &nbsp;Đức Giê-su Ki-tô trước hết mang tính cách gây gỗ ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Nó bắt ta đối diện với 
				những dối trá của mình. Nó lôi ta ra khỏi sự thoải mái và đẩy ta 
				vào cuộc chiến đấu, vào nỗi đau của chân lí. Chỉ như thế hoà 
				bình giả, với bao nhiêu giả hình và mâu thuẫn hàm chứa trong nó, 
				mới có thể thay thế được bằng hoà bình đích thực.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Câu nói về lửa đi liền 
				với câu nói quan trọng hơn về hoà bình trên kia. Nhưng câu này 
				đồng thời cho thấy hoà bình chân chính không phải tự nhiên mà 
				có, rằng chân lí đi liền với đau khổ và tranh đấu, rằng tôi 
				không được phép chấp nhận dối trá để được yên mình. Được yên ổn 
				không phải nhiệm vụ đầu tiên của người công dân và của ki-tô 
				hữu, nhưng là bảo vệ và tranh đấu cho cái lớn lao mà Đức Ki-tô 
				đã ban tặng cho ta, với giá đau khổ và có thể đi đến chết vì đạo 
				– và chính vì vậy nó mới tạo ra hoà bình. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">TIN MỪNG
				</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">&nbsp;Đức 
				Giê-su nói về lửa và gươm giáo, nhưng Ngài cũng nói : « Hãy học 
				với tôi ! » Vì nhờ đó « anh chị em mới gặp được yên ổn tinh thần 
				». Ngài nhân từ trong sự thật và khiêm tốn trong tâm hồn. Và nữa 
				: « Ách của tôi không nặng, gánh của tôi nhẹ nhàng ». Phải chăng 
				đó là tin mừng của Ngài ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Vâng, nhưng ta biết 
				những câu an ủi đó của Ngài cũng mang đòi hỏi lớn. Tuy nhiên, 
				trước sự đau khổ của chân lí và lửa đốt của Đức Ki-tô mà ta vừa 
				bàn trên, những câu này cho ta thấy mọi chuyệt rốt cuộc rồi sẽ 
				đi về đâu.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Đức Ki-tô là hiện thân 
				cho lòng nhân từ to lớn và tinh tuyền của Thiên Chúa. Ngài đến 
				không phải để làm gánh nặng thêm, nhưng là để cùng ta gánh vác. 
				Ngài không cất gánh nặng làm người – gánh khá nặng – nơi ta, 
				nhưng ta không còn phải gánh nó trong đơn độc, mà có Ngài chung 
				vai. Trong Đức Ki-tô không có sự thoải mái, tầm thường, nhưng ta 
				gặp được trong Ngài sự yên ổn tâm hồn, vì biết rằng ta được Ngài 
				chở che và yêu thương đến cùng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ta thấy toàn bộ sứ 
				điệp của Đức Ki-tô không dễ dàng, nó chứa đựng đòi hỏi lớn. Sứ 
				điệp đó luôn đi liền với thập giá. Ai không muốn bị thiêu đốt, 
				hay ít nhất không muốn sẵn sàng chấp nhận nó, người đó không thể 
				tới được gần Ngài. Nhưng ta cũng hiểu rằng trong sứ điệp đó chứa 
				đựng lòng từ ái đích thực, một lòng từ ái hay cứu giúp và chấp 
				nhận ta – và nó không những đưa tới cho ta điều tốt, mà còn giúp 
				ta được thoải mái. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">ĐƯỜNG
				</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">&nbsp;</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Cuộc đời 
				&nbsp;Đức Giê-su để lại trần gian rất ít dấu vết hiện vật. Ngài không 
				xây đền thờ, không chiếm cứ thành nào và cũng không in tiền. 
				Cũng không có văn bản của một tác giả cổ điển nào đề cập xa gần 
				tới Ngài, nhiều như trong các tài liệu Tin Mừng Tân Ước. Các tài 
				liệu này lên tới hàng ngàn văn bản, và văn bản xưa nhất chỉ được 
				viết sau thời Ngài vài ba chục năm.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Chúng ta 
				đã nói chuyện về khoa phê bình lịch sử, khoa này tỏ ra hoài nghi 
				về cuộc đời và sứ điệp của Đức Ki-tô. Họ bảo rằng, không rõ Ngài 
				sinh ra ở đâu vào thời điểm nào, không hiểu bài giảng trên núi 
				thật có cấu trúc và nội dung như hiện nay không. Những nhà 
				nghiên cứu mới đây còn cho rằng, có lẽ Ngài đã không tự xưng 
				mình là Messias. Họ bảo, lúc đó là cao điểm của những trông chờ 
				tận thế, nên nhiều điều liên quan tới Ngài có thể giải thích 
				được theo hướng đó. Tôi muốn đào sâu điểm này: Khoa nghiên cứu 
				phê bình như vậy là sai với lịch sử, và đặc biệt có hại cho đức 
				tin?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Khoa phê bình lịch sử 
				quả đã có những thành tựu lớn. Nó giúp ta hiểu nhiều chuyện 
				chính xác hơn. Nhưng nó cũng có những giới hạn, nhất là khi nó 
				nghiên cứu loại tài liệu như của Kinh Thánh. Lối nghiên cứu đó 
				nhằm khai quật quá khứ qua các bản văn nói chung và trong điều 
				kiện những quy luật chung về lịch sử. Nhưng những biến cố trình 
				thuật trong các Tin Mừng không nằm trong những quy luật chung 
				đó, và như vậy chúng chống lại việc tổng quát hoá thiếu sót của 
				phương pháp nghiên cứu này.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Với thời gian, người 
				ta đã cố gắng đào bới lên và phân biệt những nguồn gốc khác nhau 
				trong các bản văn; đây cũng là điểm quan trọng. Nhưng tổng quát 
				mà nói, đó cũng chỉ là những lối thử luôn thay đổi, và giá trị 
				nội dung xác xuất của chúng bị giới hạn. Nhất là, với câu hỏi ai 
				là người làm ra Tin Mừng, thì trả lời của họ lại tạo ra những 
				nghi vấn lớn hơn là nếu như ta, một cách chung, chấp nhận các 
				bản văn đó trong toàn bộ của chúng là đáng tin và có tính lịch 
				sử. Bởi vì nếu không như thế, thì ta phải chấp nhận rằng, chỉ 
				trong một khoảng thời gian rất ngắn của thời đại đó đã xẩy ra 
				một kho khám phá kinh khủng về những chuyện thần kì. Làm sao bản 
				văn Tin Mừng có thể được chấp nhận nhanh như thế? Ai là những 
				tác giả đã có thể phổ biến bản văn đó ra thế giới? Tại sao các 
				bản văn đó lại có một hình dung nhất thống về Giáo Hội - tất cả 
				những điều đó đã không có trả lời. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Thế thì 
				câu trả lời ở đâu?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Bản văn Tin Mừng có 
				đặc điểm riêng của nó, điểm này cần phải coi trọng. Toàn bộ các 
				bản văn phản chiếu một thực tại hoàn toàn đi ra ngoài khung lịch 
				sử bình thường. Thực tại đó phù hợp với chính nó, và vì thế 
				trước sau nó đáng cho ta tin tưởng vào tổng thể của nó. </span>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ta phải nói thêm, 
				chẳng có một phương pháp phê bình lịch sử, mà cũng chẳng có 
				những kết quả cụ thể. Có những nhà khoa học trước sau vẫn rất 
				tin vào bản văn và cũng đưa ra những lí chứng khách quan về mặt 
				phương pháp. Và cũng có những người vứt bỏ tất cả - nhưng họ lại 
				phải nghĩ ra những lí do để giải thích tại sao toàn bộ câu 
				chuyện đã xẩy ra như thế. Họ hoàn toàn lần mò trong bóng tối, và 
				vì không tìm ra nguồn nào cả, nên nỗ lực của họ lại thành ra 
				tưởng tượng. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Ta hãy 
				nhìn kĩ hơn chút nữa các tác giả Tin Mừng. Trước hết là 
				Mát-thêu. Ngài mang một tên kép, chuyện hơi lạ vào thời đó: 
				Matthaj-Levi, người thu thuế hay để tiền thuế rơi vào túi riêng 
				mình và là người cộng tác với chính quyền Rô-ma. Tin Mừng viết 
				về ngài: „Và khi &nbsp;Đức Giê-su đang ăn tại nhà ông, có nhiều người 
				thu thuế và người tội lỗi tới với Ngài và với các môn đệ Ngài“. 
				Mat-thêu như vậy chẳng phải là người thật thà và đáng cậy.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Có lẽ ta phải đi sâu 
				vào nguồn tài liệu. Trước đây, Tin Mừng Mat-thêu được coi là bản 
				Tin Mừng cổ nhất. Một nhà văn vào thế kỷthứ hai sau công nguyên, 
				Papias, ghi chú rằng, Mat-thêu viết nó bằng tiếng Do-thái 
				(Hebräisch), sau đó bản văn được dịch ra tiếng Hi-lạp. Nhờ thông 
				tin phong phú, kết cấu nội dung và tính cách dễ đọc của nó, bản 
				văn đã trở thành Sách Tin Mừng của Giáo Hội, được mọi người 
				trích dẫn. Sau đó thêm vào Lu-ca và Mac-cô, nhưng Mat-thêu vẫn 
				là bản xưa nhất, có giá trị nhất, được Giáo Hội dùng nhiều nhất 
				trong phụng vụ và đức tin.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Theo các kết quả 
				nghiên cứu, nội dung văn bản của ba vị Mat-thêu, Lu-ca, Mac-cô 
				quyện lẫn và lệ thuộc vào nhau. Tại sao có chuyện này, câu hỏi 
				chỉ được đặt ra mới đây. Ngày nay, một phần lớn các nhà phê bình 
				cho rằng, không thể quy cho tông đồ Mat-thêu viết bản đó được, 
				bởi vì bản văn có niên đại trễ hơn, nó được viết vào khoảng cuối 
				thế kỷthứ nhất trong một công đồng do-thái ở Siri.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Nói chung, việc hình 
				thành các bản văn Tin Mừng diễn ra trong một quá trình phức tạp. 
				Trước hết, người ta thu thập các lời truyền miệng của &nbsp;Đức 
				Giê-su rồi sau đó chép ra. Nhà chú giải vừa mới mất ở Erfurt, 
				giáo sư Heinz Schürmann, lập luận rằng, việc ghi nhớ bằng miệng 
				những lời của &nbsp;Đức Giê-su đã được các tông đồ thực hiện từ lúc 
				Ngài còn sống. Nghĩa là, khởi đầu chỉ có những lời truyền miệng. 
				Bên cạnh những lời đó, còn có những lời truyền về các biến cố, 
				về truyền thống địa phương và những thứ khác. Chủ thể của việc 
				lưu truyền không phải là những cá nhân, mà là các cộng đoàn tín 
				hữu, và qua họ là cả Giáo Hội. Rồi đến việc ghi chép ra. Lúc đó, 
				các nhà viết Tin Mừng đã có sẵn một kho lưu truyền phong phú, họ 
				dựa chủ yếu trên đó mà chép, ngoài ra mỗi người còn thêm vào 
				những viễn kiến thần học riêng của mình. Ngày nay, người ta cho 
				rằng bản Tin Mừng Mac-cô là bản cổ nhất, chứ không phải là bản 
				Mat-thêu. Mat-thêu và Luca đã viết dựa chủ yếu trên nền của 
				Mac-cô và làm giàu thêm bởi những nguồn tài liệu sẵn có khác. 
				Tin Mừng Gio-an có một gốc và khuôn hình thành hoàn toàn riêng. 
				Không phải chỉ có một người viết ra ba bản Tin Mừng đầu tiên, đó 
				là điểm quan trọng. Và cũng quan trọng là toàn bộ quá trình lưu 
				truyền về đức tin của Giáo Hội, ngay từ đầu, đã được gói trọn 
				trong các Tin Mừng đó, và quá trình lưu truyền đó sau này rốt 
				cuộc đã được viết ra. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Vấn đề ai là người 
				viết, như thế, trên một bình diện nào đó, thuộc vào hàng thứ 
				yếu. Phong cách riêng của Lu-ca được nhận diện rất rõ, ngài là 
				tác giả của bản Tin Mừng thứ ba và của sách Công-vụ Tông-đồ, 
				điều này không ai chối cãi. Mac-cô, học-trò của Phê-rô, cũng cho 
				thấy rõ phong cách là người viết Tin Mừng của mình. Ngày nay chỉ 
				còn không rõ ai là tác giả của Tin Mừng Mat-thêu. Quan trọng là 
				ngay từ đầu chỉ có những truyền miệng, đó là thói quen rất 
				thường thấy ở phương đông. Điều này là một biểu chứng cho sự gần 
				gũi với nguồn gốc lịch sử. Nội dung Tin Mừng chép lại từ kho 
				truyền miệng đó đã kinh qua một quá trình kiểm tra của cộng đoàn 
				(có đôi chút thêm thắt sửa đổi tùy theo cộng đoàn nhận bản văn, 
				nhưng nội dung chính thì vẫn được giữ nguyên). </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Còn về con người 
				Matthaj-Levi, anh chỉ đề cập tới quá khứ của ngài mà thôi. Sau 
				cuộc gặp &nbsp;Đức Giê-su, Mat-thêu đã trở thành một con người khác. 
				Ngài đã bỏ đường cũ mà bước theo con đường &nbsp;Đức Giê-su. Qua cuộc 
				sống cộng đoàn với anh em tông đồ, với &nbsp;Đấng Phục Sinh, và qua 
				công tác truyền giáo, ngài đã tỏ ra là một con người thật sự 
				„đổi mới“, và như vậy là một người đáng tin, đáng cậy. </span>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Tác giả 
				Tin Mừng Lu-ca là một thầy thuốc. Điều quan trọng nhất của ngài 
				là muốn cho người đọc nhận ra vai trò cứu thế, vai trò cứu độ 
				thân xác và tâm hồn của &nbsp;Đức Giê-su. Với ngài, &nbsp;Đức Giê-su là 
				người thâm cảm và có lòng thương đặc biệt đối với thành phần bên 
				rìa xã hội. </span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Nhưng ta 
				hãy nói về Tin Mừng Gio-an. Ngài bảo Tin Mừng này được đổ từ một 
				khuôn riêng. Dù sao, Tin Mừng này mang nét thâm trầm hoàn toàn 
				khác. Các Tin Mừng nhất lãm (Mat-thêu, Lu-ca, Mac-cô) cho thấy 
				nhiều về Con Người; còn Tin Mừng Gio-an tỏ ra như là một cuộc 
				đối đáp với các nhà thông thái – và nhất là nó cho thấy toàn bộ 
				vinh quang của Con Thiên Chúa. Tôi nghĩ đây là bản Tin Mừng mà 
				Hồng Y ưa nhất.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tôi rất thích bản đó, 
				nhưng phải nói ngay, tôi cũng rất ưa bản của Lu-ca. Trong đó ta 
				có được những dụ ngôn tuyệt vời về anh nhà nghèo La-da-rô, về 
				người Sa-ma-ri-ta, về đứa con đi hoang. Ngài là một nhà văn lớn, 
				trong sách ngài chứa những “hạt ngọc” đặc biệt. Cả câu chuyện về 
				cuộc đời niên thiếu của &nbsp;Đức Giê-su cũng tuyệt. Mỗi tác giả Tin 
				Mừng có một nét riêng. Phải nói, tôi đặc biệt yêu Lu-ca qua nét 
				nhân bản thâm sâu, đồng thời cũng là chân trời mở ra đời đời của 
				ngài. Với tôi, tập hợp các bản nhất lãm là một nét đẹp không thể 
				thay thế được, chính bởi vì chúng không mang nét riêng tư, nhưng 
				qua đó ta cảm được sự truyền thừa sống động trong Giáo Hội, 
				truyền thừa đó dần dần đã được đúc kết lại trong một bản văn 
				liên kết với nhau. Nhưng sách Gio-an quả có một chiều sâu vời 
				vợi, nó luôn làm cho tôi say mê. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Đôi khi 
				câu chuyện về &nbsp;Đức Giê-su mang nét hư cấu. Chẳng hạn, Ngài bám 
				chặt vào các bí số của Cựu Ước. Ngài ở trong sa mạc 40 ngày, làm 
				đúng 7 phép lạ, kể ra 12 dụ ngôn, đặt 12 tông đồ…</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tất cả các Tin Mừng 
				đều nói tới 12 tông đồ. Điều này chẳng có gì lạ. Nếu &nbsp;Đức Giê-su 
				quả thật muốn xây dựng một Is-ra-en mới, nếu Ngài coi mình là 
				người của Thiên Chúa phái đến để làm mới Is-ra-en và mang ánh 
				sáng cho mọi dân tộc, thì việc Ngài lấy lại biểu tượng 12 chi-họ 
				Is-ra-en thông qua việc đặt 12 ông tổ mới là chuyện thường tình, 
				làm như thế là Ngài muốn dùng một cử chỉ biểu trưng để diễn tả 
				bước đầu của một Is-ra-en mới.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">40 ngày hoang địa lập 
				lại hình ảnh 40 năm của dân Is-ra-en trong sa mạc. Còn con số về 
				dụ ngôn và phép lạ thì mỗi Tin Mừng mỗi khác. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Dù vậy, 
				Tin Mừng luôn mang tính giáo huấn. Có nhiều đoạn xem ra là những 
				hoạt cảnh thêm thắt, dùng để dấy động hoặc tuyên truyền.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Vâng, chúng là bài 
				giáo huấn, mà cũng là chứng từ. Chính Gio-an bảo, ngài viết ra 
				để làm chứng. Đó là nguyên tắc nền tảng khi ta đọc Tin Mừng. Tin 
				Mừng muốn diễn tả chính &nbsp;Đức Giê-su, qua lời Ngài nói, việc Ngài 
				làm, khổ đau Ngài chịu. Tin Mừng không chỉ muốn huấn giáo, mà 
				còn muốn tạo gặp gỡ với một biến cố, biến cố đó cũng mang nội 
				dung tinh thần và cung cấp kiến thức. Tin Mừng vừa nói với con 
				tim và trí óc. <br>
				<br>
				<b><span style="color:red">ĐƯỜNG – SỰ THẬT – SỰ SỐNG </span></b>
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">&nbsp;Đức 
				Giê-su mang nhiều đồng nghĩa lạ lùng: Ngài là bánh hằng sống, là 
				muối cho đời, là ánh sáng thế gian. Ngài nói về mình: „Tôi là 
				đường, là sự thật và là sự sống. Ai tin tôi, sẽ không chết đời 
				đời“ . 2000 năm sau giáng sinh, ta có thể trả lời một cách minh 
				bạch câu hỏi &nbsp;Đức Giê-su là ai không?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Nếu giờ đây chỉ có 
				việc đào bới lịch sử 2000 năm lên để tìm câu trả lời, thì như ta 
				đã nói, phương pháp lịch sử đã gặp giới hạn của nó. Nhưng đây 
				không phải vậy.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ta thấy chủ thể sống 
				động, được hình thành lên từ việc rao truyền, là Giáo Hội vẫn 
				giữ nguyên bản sắc của nó, và bản sắc đó đã có ngay từ đầu. Giáo 
				Hội có thể nói hiện diện đồng thời với &nbsp;Đức Giê-su, và sự song 
				hành đó đã kinh qua mọi thời gian.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Như vậy, cuộc đào bới 
				phi thường 2000 năm cũng không tách ta ra khỏi &nbsp;Đức Giê-su. Cái 
				chủ thể làm chứng về Ngài một cách sống động (là Giáo Hội), và 
				có thể nói đã cùng với Ngài xưng „Tôi“ ngay từ đầu, vẫn hiện 
				diện không ngừng. Qua Giáo Hội ta thấy sự hiện diện sống động 
				của Ngài. Qua Giáo Hội, ta có thể nhận ra nguồn cội hình thành 
				của nó. Dĩ nhiên, trong đó cũng có đức tin, mà nếu không có một 
				hình thái cảm thông, không có đức tin, tôi không thể nhận ra 
				người khác. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Có lần 
				tôi thấy một bức ảnh trong nhà thờ ở Na-da-ret. Ảnh vẽ cậu 
				Giê-su đang vụng về trên chiếc bàn thợ mộc. Maria ngồi bên cạnh, 
				lo và sầu não. Và gương mặt ông thợ mộc Giu-se lộ vẻ ngài biết 
				trước con mình sẽ không nối được nghiệp cha. 12 tuổi, cậu Giê-su 
				muốn bỏ gia đình („con phải ở nhà Cha con“). Năm 30 tuổi dân 
				Na-da-ret muốn xô Ngài từ núi xuống.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Khởi đầu, Ki-tô giáo 
				không muốn lưu truyền công khai câu chuyện thời niên thiếu của 
				&nbsp;Đức Giê-su. Chỉ với Lu-ca và Mat-thêu, câu chuyện mới xuất hiện 
				theo cách kể khác nhau. Khác với công việc của một sử gia, Tin 
				Mừng không muốn đề cập tới bất cứ một tiểu sử nào của Ngài, mà 
				chỉ muốn làm chứng về điều mà ta cho là quan trọng. Và các thánh 
				sử không muốn kể lại thời ở ẩn, mà chỉ muốn nhắc đến gốc gác đặc 
				biệt của Ngài, gốc này được coi là ngôi sao ngay từ đầu xuyên 
				chiếu đời Ngài, và nói về sứ điệp của Ngài.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Hình ảnh thánh gia mà 
				anh thấy chỉ là do lòng đạo đức tưởng tượng vẽ ra, nhất là từ 
				thế kỷ19 người ta chú tâm tới đề tài Na-da-ret và đã vẽ theo cảm 
				quan riêng của mình. Với lại kiểu tiểu gia đình như thế ở 
				Pa-les-tin ngày xưa không có. Thời đó họ sống đại gia đình theo 
				lối chung cả bộ lạc, cũng vì thế mới có chuyện Kinh Thánh nói 
				tới những người anh em của &nbsp;Đức Giê-su.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Thế kỷ19 đã suy diễn 
				mọi chuyện theo một ánh sáng mới. Ta thấy cao điểm của nó nơi 
				Charles de Foucauld*, người đã tạo cho Na-da-ret một sứ điệp 
				thầm lặng, khiêm nhường và hối cải. Dĩ nhiên Foucauld đã khám 
				phá ra được những điểm quý giá. Nhưng những điểm đó không trực 
				tiếp nói lên tâm điểm của sứ điệp như đã được trình bày trong 
				Tin Mừng. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Tại sao 
				&nbsp;Đức Giê-su 30 tuổi mới ra công khai? Như vậy Ngài chỉ có 3 năm 
				để rao giảng.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Trong thế giới và hoàn 
				cảnh của Is-ra-en thời đó không phải một thanh niên nào cũng có 
				thể xuất hiện được. Ai muốn thi hành vai trò một Rabbi (giáo 
				trưởng), dù &nbsp;Đức Giê-su không phải là một Rabbi theo đúng nghĩa, 
				phải trải qua một thời gian ít nhất 30 tuổi. Vì vậy mới có 
				chuyện xuất hiện vào năm 30, chứ không sớm hơn. Sứ điệp &nbsp;Đức 
				Giê-su mang chiều sâu nội tâm, nên cần đủ thời gian suy tư.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Có lần 
				Ngài về thăm quê hương. Và đồng hương hiếu kì đã phải lắc đầu 
				thắc mắc: „Đó không phải là anh con ông thợ mộc sao? Do đâu mà 
				anh ấy bỗng nhiên có được nhiều khôn ngoan và sức mạnh đến thế?“ 
				Và Kinh Thánh tiếp: „Có phải bà Maria là mẹ anh, và Gia-cô-bê, 
				Giu-se, Si-mon và Giu-đa là anh em của anh ta không? Có phải các 
				chị em của anh ta đang sống giữa chúng ta không?“</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Chỗ này 
				Kinh Thánh nhắc tới tên bốn người anh em và số chị em không được 
				xác định. Nếu tôi nhớ không lầm: Giáo Hội chưa bao giờ bảo 
				Giê-su là con một của trinh nữ Maria?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Trong một thôn nhỏ như 
				Na-da-ret hẳn ai cũng biết nhau. Vì thế, khi một người cùng sống 
				bình lặng trong họ bỗng nhiên có được một hiểu biết như thế, thì 
				mọi người thắc mắc là phải. Và càng gần người đó bao nhiêu, 
				người ta càng tỏ ra thắc mắc. Người ta không tin vào sự thay đổi 
				đó và muốn kéo Ngài về với thường tình. Vì thế mà &nbsp;Đức Giê-su đã 
				nói: „Không một tiên tri nào được tiếp đón nơi quê hương mình“. 
				Còn chuyện anh chị em của Ngài, Giáo Hội trước sau vẫn tin đức 
				trinh nữ Maria chỉ có Ngài là con một mà thôi. Qua Ngài, mẹ 
				Maria thuộc về Thiên Chúa, và vì thế có thể nói Mẹ không thể trở 
				về với một cuộc sống gia đình bình thường được. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Từ „anh chị em của 
				Giê-su“ được cắt nghĩa theo cấu trúc gia đình thời đó. Và cũng 
				có đủ bằng chứng để biết rằng những trẻ trên không phải là con 
				của Maria. Chẳng hạn như Tin Mừng ở đây cũng nói tới một bà 
				Maria khác, và những chuyện khác đại loại như thế. Tin Mừng chỉ 
				nói xa gần về những liên hệ gia đình cá biệt, và ở đây ta hiểu 
				là có nhiều gia đình liên hệ với nhau. Dưới chân thập giá, &nbsp;Đức 
				Giê-su trao Gio-an như là con cho Mẹ, điều đó cho thấy nét đặc 
				thù nơi Mẹ, và Mẹ là Mẹ của riêng Ngài một cách đặc biệt mà 
				thôi. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ta không thể giải toả 
				vấn nạn trên bằng thuần lịch sử. Không thể chứng minh mẹ Maria 
				chỉ có một con mà thôi. Trái lại, ta cũng không thể chứng minh 
				những người trên phải là anh chị em ruột của &nbsp;Đức Giê-su. Có 
				nhiều lí chứng – về điểm này Josef Blinzler có viết một cuốn 
				sách hay – cho thấy rằng những người trên là con của các gia 
				đình khác trong bộ tộc, và Kinh Thánh gọi chung họ là anh chị em 
				của Ngài. Ngoài ra, ý niệmanh chị em của Giê-su cũng là một ý 
				niệmđược đưa ra trong Giáo Hội sơ khai, nó nói lên những căng 
				thẳng giữa một bên là kiểu gia đình &nbsp;Đức Giê-su theo khuynh 
				hướng do-thái giáo khắt khe, với bên kia là những khuynh hướng 
				khác cùng có mặt trong buổi bình minh của Giáo Hội.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<a name="3._ĐƯỜNG_ĐI_"><span style="color: #FF0000" lang="it">
				<b>3</b></span><span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT"><b>. 
				ĐƯỜNG ĐI</b></span></a></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">ĐỨC GIÊSU 
				ĐÍCH THỰC LÀ AI?</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Đôi khi 
				&nbsp;Đức Giê-su tỏ ra như người thô bạo giận dữ.&nbsp;Buổi sáng nọ, Ngài 
				trở lại thành, đang cơn đói lại gặp ngay cây vải bên đường đầy 
				lá mà chẳng có lấy một quả nào. Ngài buông lời chúc dữ: „Suốt 
				đời mày sẽ chẳng có quả nào nữa“. Lập tức cây vả chết khô.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Chuyện cây vả mang 
				tính „điển hình“, có nghĩa là, đối với các tiên tri trong 
				Is-ra-en xưa, đó là một dấu chỉ tiêu biểu. Trong trường hợp 
				trên, cây vả biểu tượng cho dân Is-ra-en, và chính câu chuyện 
				này đi liền với cuộc khổ nạn, trong đó cuộc vật lộn để chiếm 
				lòng dân Is-ra-en đã đạt tới cao điểm của nó. Tuy nhiên cây vải 
				không mang trái đã vượt ra khỏi vòng biểu tượng và trở thành thí 
				dụ chung cho việc mang hoa kết trái.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Đấy không phải là một 
				cơn giận nhất thời, nhưng &nbsp;Đức Giê-su dùng cử chỉ biểu trưng đó 
				để nói lên rằng, dân tộc nào, cộng đoàn nào, nhóm nào mà chỉ có 
				sinh lá, chỉ nghĩ tới mình mà thôi, và chẳng tạo ra được gì để 
				phục vụ kẻ khác, thì sẽ héo khô và chết. Có một loại Ki-tô giáo 
				chỉ tạo ra lá và giấy má mà thôi, thứ đó cũng sẽ chết khô. Vì 
				thế ta phải nhìn câu chuyện trên từ góc độ của Con Thiên Chúa, 
				từ hàng ngàn năm trước Ngài đã cung cấp cho ta một viễn tượng 
				tiêu biểu qua hình ảnh trên.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Có lần 
				Ngài trách móc cả thành, vì dân thành không chịu hối cải, chẳng 
				hạn như: „Này ngươi, Ca-pha-na-um, ngươi bảo ngươi sẽ được cất 
				lên trời ư? Không, ngươi sẽ bị tống xuống hoả ngục“.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ở đây, Ngài đang nói 
				với một thành có cuộc sống quá vướng mắc, nơi mà theo Ngài lẽ ra 
				phải có một cuộc sống đức tin gương mẫu. Ngài chứng nghiệm nơi 
				đây tâm lí gần chùa gọi bụt bằng anh. Họ chẳng quan tâm thật sự 
				gì tới Ngài cả, đức tin do đó đã không lớn lên được. Vì thế, 
				cũng như các thành khác, thành này đã trở nên biểu tượng của toà 
				phán xét, của thất bại, của hư mất.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Rõ ràng ở đâu hay cộng 
				đoàn nào từ chối Chúa, ở đó thế nào rồi cũng sẽ rơi vào số phận 
				của Gô-mô-ra. Một xã hội trong đó con người xa rời Thiên Chúa 
				hằng sống, cộng đoàn đó tự chặt đứt rễ xã hội tính của mình.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Những số phần như thế 
				hiện nay cũng đang xẩy ra. Ta chỉ cần nghĩ tới những xã hội vô 
				thần, nghĩ tới những vấn nạn đang xẩy ra trong quá trình tan rã 
				sau 50 năm sống dưới chủ nghĩa cộng sản nơi các quốc gia tiếp 
				nối Liên-bang Sô-viết thì rõ. Các xã hội đánh mất Thiên Chúa đó 
				quả thật đã giật sập chính nền tảng sống của họ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Ngay cả 
				đối với Phê-rô, &nbsp;Đức Giê-su cũng tỏ ra vô cùng bực bội, nặng 
				lời: „Hãy cút đi khỏi mắt ta, Sa-tan, anh muốn đưa ta vào bẩy“.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Giê-su dành cho Phê-rô 
				một mối thân tình đặc biệt, vì thế những lời như trên không có 
				gì quá đáng. Nhìn qua phản ứng của Phê-rô ta cũng biết điều đó. 
				Ông biết, mình đã làm sai hoàn toàn. Ở đây, ông muốn cản lại con 
				đường thập giá của Thầy mình. Ông bảo với Thầy, thập giá&nbsp;không 
				hợp với sứ mạng của Thầy, đó không thể là đích điểm kết thúc của 
				Thầy, mà Thầy phải thành công cơ. Như thế, Phê-rô lặp lại chước 
				cám dỗ nơi hoang địa mà chúng ta đã nói, cám dỗ về một đấng 
				Messias được đưa lên lưng ngựa chính trị và phải thành công.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Đó là một cám dỗ luôn 
				xẩy ra trong muôn hình nhiều vẻ. Chẳng hạn như việc người ta 
				muốn lập nên một xã hội lý tưởng bằng một Ki-tô giáo mác-xít: 
				nhân loại sẽ được cứu độ, một khi họ có đủ tiền bạc và hàng hoá. 
				Chính đây là điểm mà &nbsp;Đức Giê-su chống. Khi đưa ra mô hình đó, 
				có thể nói Phê-rô đã khoác vào mình vai trò của Sa-tan trong 
				hoang địa. Phê-rô hiểu điều đó; và ông hiểu rằng, dù cho tới 
				cuối đời luôn phải vật lộn với bài toán thập giá khốn nạn và 
				phải chống lại giải pháp thành công rất người kia, ông cũng phải 
				học nét đặc biệt nơi &nbsp;Đức Giê-su.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">&nbsp;Đức 
				Giê-su có ác cảm thật sự đối với một số người. Ngài gọi họ là 
				„rắn độc“, là „lãnh tụ đui mù“. „Các ngươi sàng muỗi ra nhưng 
				lại nuốt cả lạc đà“. „Này, những nhà thông luật và Pha-ri-sêu 
				giả hình, hãy coi chừng. Các ngươi đóng bịt cửa không cho ai vào 
				thiên đàng“. Quả thực, &nbsp;Đức Giê-su là người đấu tranh cho sự 
				thật, cho sự nhất thống giữa nói và làm, giữa lời giảng và cuộc 
				sống. Ngài kinh tởm đám thông luật: „Chúng buộc những gánh nặng 
				và choàng lên cổ người khác, nhưng chính mình thì lại chẳng muốn 
				đụng một ngón tay vào gánh nặng ấy“.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tôi tin Chúa cũng sỉ 
				vả những người đạo đức giả với những lời đó. Nhìn từ góc độ 
				Thiên Chúa thì những người này chống lại &nbsp;Đức Giê-su. Ngài coi 
				những kẻ xem ra đạo đức và&nbsp;thông thái kia chỉ là những tay đóng 
				kịch. Và ở đây, Ngài cũng lại nói cho những thế hệ về sau nghe. 
				Ta biết, Luther đã dùng những lời trên để kết án chính hàng giáo 
				phẩm công giáo. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Dĩ nhiên, chúng ta 
				không thể kết án một cách dễ dãi được như thế. Nhưng trên thực 
				tế, tất cả những ai mang trách nhiệm rao giảng lời Chúa phải 
				thức tỉnh với những lời đó, và phải luôn tự hỏi, có phải mình 
				cũng thuộc vào những hạng trên không. Về chuyện này, có một tập 
				sách nhỏ của giáo phụ Maximus Confessor, trong đó vị tu sĩ có 
				một bài giảng thấm thía. Ngài bảo, những câu trên được nói cho 
				chúng ta nhiều hơn là cho những người Pha-ri-sêu trước đây. So 
				với họ, chúng ta còn tệ hơn, là vì ta nhận được ánh sáng nhiều 
				hơn, trong khi vẫn sống trong trái ngược, nhỏ nhặt, giả dối.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Còn những nhà thông 
				luật, có thể nói họ biết từng chữ trong kinh sách, họ là những 
				nhà chú giải, những chuyên viên Kinh Thánh, họ thuộc cả chỗ nào 
				tiên tri nào nói gì. Nhưng đó là cái biết không có sức sống. Họ 
				chỉ biết chẻ lời kinh sách ra thành những chi tiết và chẳng nhận 
				ra sức sống trong đó nữa. Đó cũng là lời cảnh cáo cho những nhà 
				chú giải chuyên môn. Dĩ nhiên họ biết mọi chuyện, nhưng Kinh 
				Thánh của họ chỉ còn là một bộ xương, một vật thí nghiệm để họ 
				có thể chiết phân. Với lối làm đó, họ đã đi ra quá xa sứ điệp 
				chứa đựng trong đó. Trái lại, những kẻ đơn sơ lại nghe hiểu sứ 
				điệp rõ hơn những đầu óc chất đầy kiến thức, nhưng lại mù và 
				điếc với nội dung đích thực của Tin Mừng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Hẳn &nbsp;Đức 
				Giê-su cũng là một người thiếu kiên nhẫn. Có lần Ngài lệnh cho 
				trưởng tông đồ Phê-rô bước đi trên biển. Ngài gọi ông bước tới. 
				Và Phê-rô tới. Ông bước ra khỏi thuyền và quả thật đi được trên 
				mặt nước. Nhưng khi gió nổi lên mạnh, ông bắt đầu sợ và chìm. 
				&nbsp;Đức Giê-su lắc đầu: „Cái anh yếu tin, tại sao anh hoài nghi?“</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ngài nói ra điều 
				Phê-rô nghĩ trong đầu. Cũng giống như lần kia trời giông bão, 
				các môn đồ thất vọng, vì thấy Thầy mình chẳng tỏ ra âu lo gì, 
				ngay cả khi thuyền đã đầy nước. Và sau khi thức dậy cứu họ, Ngài 
				bảo „Các anh yếu tin quá“.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">&nbsp;Đức Giê-su muốn để 
				cho các môn đồ thật sự nhận ra mình, muốn để cho họ phải biết 
				rằng, Ngài sẽ không để cho họ bị chìm. Ngài muốn cho họ thấy 
				Ngài là ai, và cho thấy đức tin của họ vào Ngài còn quá yếu, đến 
				chỉ một ngọn gió nhẹ cũng đủ thổi bay.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Trong cảnh trên, 
				Phê-rô không nhìn vào &nbsp;Đức Giê-su nữa, nhưng đôi mắt ông chỉ 
				thấy những yếu tố trần thế. Dĩ nhiên, dựa theo tính toán xác 
				xuất thì Phê-rô có thể sẽ chìm ngay khi bước xuống mặt nước. 
				Nhưng ông đã liều mình, chỉ còn biết nghe theo tiếng gọi của 
				Thầy. Với Ngài, trong Ngài và với nghị lực của mình, có thể nói 
				Phê-rô cũng có thể bước qua được những yếu tố chết của trần thế.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Đây cũng lại là một dụ 
				ngôn có ý nghĩa thâm sâu. Nếu ta dựa vào yếu tố xác xuất của các 
				biến cố thiên nhiên, và nhìn vào tất cả những gì có thể hiểu 
				được, thì xem ra Ki-tô giáo quả vô cùng bấp bênh. Và nếu mắt ta 
				chỉ dõi theo những gì là mốt, tai ta chỉ còn nghe gió thời 
				thượng thổi, thì đức tin có thể sẽ chìm. Vì thế, có lẽ ta phải 
				nói theo Phê-rô: Không thể như thế được nữa! Nếu ta làm thế, ta 
				sẽ đánh mất neo cuộc sống, chiếc neo giúp ta chiến thắng trọng 
				lực của sự chết, trọng lực của lịch sử và những bất khả thể của 
				nó. Tin có nghĩa là chống lại lực hút kéo ta đi xuống. Tin có 
				nghĩa là gắn bó với đấng có lực hút đối nghịch, lực đó kéo ta đi 
				lên, giữ nâng ta, và dẫn ta vượt qua những yếu tố sự chết.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Có lần, 
				đang lúc rảo bước trong vùng dân ngoại, trong địa hạt hai thành 
				Tyrus và Sidon, &nbsp;Đức Giê-su muốn nghỉ ngơi, nghỉ giảng và hết 
				làm phép lạ. Cả khi một bà mẹ khẩn khoản nài van Ngài trừ thần 
				xấu đang vùi dập đứa con gái bà, Ngài cũng đã xua đuổi thẳng 
				thừng: „Tôi chỉ được sai tới giúp những con chiên lạc nhà 
				Is-ra-en mà thôi“. </span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Có một điều lạ trong 
				đời &nbsp;Đức Giê-su, là chính Ngài không rao giảng cho dân ngoại. 
				Chỉ sau khi sống lại, Ngài mới uỷ việc đó cho các môn đệ. Thoạt 
				tiên, có thể nói, Is-ra-en được ưu tiên. Đó là dân riêng Chúa 
				chọn, là điểm khởi đầu để Chúa hành động. Và Ngài đã đã giữ độc 
				quyền cứu độ đó cho Is-ra-en. Trong cuộc đời tại thế, &nbsp;Đức 
				Giê-su đã vật lộn với việc chiếm lòng dân này, Ngài chiến đấu để 
				làm sao cho dân này nhận ra Ngài là người họ trông chờ, làm sao 
				để họ kết hiệp với Ngài, để từ đó biến đổi thế giới.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Cả Phao-lô ban đầu 
				cũng giữ quy tắc đó. Bất cứ nơi đâu, ngài đều bắt đầu cuộc 
				truyền giáo từ trong đền thờ. Cả khi tới Rô-ma, ngài tập hợp 
				trước hết các người Do-thái. Chỉ khi thất bại trong việc nối kết 
				lịch sử đức tin của Is-ra-en với &nbsp;Đức Giê-su, ngài mới bước ra 
				với dân ngoại. Chính Phao-lô, người đã vượt qua nỗi sợ hãi khi 
				bước vào nơi lạ, đã nói, sứ điệp trước hết luôn dành cho người 
				Do-thái, sau đó mới đến dân ngoại. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Nghĩa là có một quy 
				luật về cứu độ. Thiên Chúa trung thành với luật đó, &nbsp;Đức Giê-su 
				cũng không đi ra ngoài luật đó. Ngay cả khi Ngài biến đổi và làm 
				mới luật lệ do-thái từ trong, Ngài cũng không đơn giản là một 
				tay chống đối tự tung tự tác, nhưng đã vì trung thành mà hành 
				động. Như vậy, sự trung thành của Thiên Chúa đã xoá đi cái ấn 
				tượng phản bội trong việc bắt buộc phải bước ra với dân ngoại – 
				và trái lại, cho thấy việc bước ra đó phù hợp với việc phục sinh 
				của Ngài, qua đó cái chết của hạt lúa miến cuối cùng đã trở nên 
				cái cao cả và mang ân lộc cho toàn thế giới.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">&nbsp;Đức 
				Giê-su rảo khắp nước. Ngài cảnh báo về sự khiêm tốn và hối cải, 
				dạy cầu nguyện, cảnh giác việc ham mê ăn uống và cứng lòng. Ngài 
				kể dụ ngôn anh nghèo La-da-rô được vào thiên đàng, trong lúc ông 
				nhà giàu trụy lạc phải xuống địa ngục – Ngài đúng là một nhà 
				giảng đạo lang thang.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Đúng Ngài là một nhà 
				giảng đạo nay đây mai đó. Trước hết, Ngài giảng ở Ga-li-lê-a và 
				cố gắng khuyến dụ dân ở đó. Rồi Ngài kéo dài địa điểm rao giảng 
				tới Giê-ru-sa-lem. Ngài biết mình được sai tới cho dân Is-ra-en 
				và muốn mang sứ điệp mới cho dân đó. Tâm điểm sứ điệp là Nước 
				Chúa, là sự đổi mới thế gian nhờ vào lượng từ bi của Thiên Chúa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Các yếu tố riêng lẻ, 
				mà anh nói tới, tất cả đều nằm trong viễn tượng lớn đó. Một mặt, 
				&nbsp;Đức Giê-su sống trung thành với lịch sử cứu độ của Thiên Chúa, 
				nhưng Ngài cũng tuân giữ cấu trúc chặt chẽ của Do-thái, cũng 
				hành hương, cũng mừng lễ vượt qua. Ngài sống như một người 
				Do-thái có niềm tin và sùng đạo. Và đồng thời cũng sống như một 
				người con của Mai-sen mới, nhưng vượt cao hơn Mai-sen. Ngài giờ 
				đây không cắt nghĩa luật như cách các thầy thông luật làm, nhưng 
				như một người Con, và người Con này cũng chính là kẻ tạo ra luật 
				và đã nâng mình lên một bậc mới cao hơn.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Ngài là 
				một kẻ phản kháng?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">&nbsp;Đức Giê-su chẳng chủ 
				trương phóng khoáng hay phản kháng, chẳng chống lại cái này hay 
				cái kia, chẳng tránh né mà cũng chẳng phải muốn từ chối, nhưng 
				đó viễn tượng của đấng ra luật, của chính đấng Tạo hoá. Ngài 
				muốn phá vỡ cái đang có để đưa vào cái chung cuộc, và chính 
				trong khi thực hiện điều đó, Ngài đã làm gương cho ta về sự 
				trung thành sâu xa. Tôi tin rằng, ta phải thấy sự hiện diện cùng 
				lúc của trung thành và cái xem ra phản kháng đó, nếu ta muốn 
				hiểu đúng con người &nbsp;Đức Giê-su. Ngài không bỏ đi cái đã qua – 
				như Ngài đã nói: „Không một dấu chấm, dấu phẩy nào biến mất“ -, 
				nhưng đã đưa mọi sự vào chiều sâu thẳm của chúng. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">&nbsp;Đức 
				Giê-su đặc biệt tỏ ra vui vẻ với trẻ con và với tín hữu bình 
				dân. Ngài đã hân hoan, một chuyện ít khi thấy: „Con ngợi khen 
				Cha là vua trời đất, vì Cha đã dấu không cho những người thông 
				thái biết những điều đó, nhưng đã mạc khải ra cho những kẻ bé 
				mọn“. </span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Vâng, đó là bí ẩn của 
				việc làm Thiên Chúa: Những người đơn sơ thấy điều cao cả dễ dàng 
				hơn những kẻ với đầu óc chất đầy kiến thức, chứa đầy khả năng 
				phân tích, có thể nắm bắt những cái chi li, nhưng cái lớn lao 
				thì chẳng còn khả năng nhận ra nữa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Đó không phải là việc 
				loại trừ người trý thứchay kẻ thông hiểu kinh sách, nhưng là lời 
				cảnh báo không nên đánh mất sự đơn sơ tâm hồn, mà hãy nhìn vào 
				cái tâm điểm nền tảng của tổng thể, hãy gồng mình chấp nhận cái 
				không thể chờ đợi.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Rõ ràng chước cám dỗ 
				trên thường thấy nơi người trí thức. Nếu nhìn lại lịch sử ý 
				thứchệ trong thế kỷvừa qua, ta sẽ thấy người bình dân thường đã 
				có những phán đoán đúng đắn hơn hạng trí thức. Hạng người sau cứ 
				phân tích mãi, nhẫn nha bới tìm cây này bụi nọ -&nbsp;nhưng rừng 
				trước mặt thì chẳng thấy. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">&nbsp;Đức 
				Giê-su nói với môn đệ: „Anh chị em đã được ban cho khả năng nhận 
				biết những bí ẩn của Nước Chúa. Những kẻ khác chỉ được nghe qua 
				dụ ngôn mà thôi; bởi vì họ nhìn mà chẳng thấy, nghe mà chẳng 
				hiểu. Đây là í nghiã của dụ ngôn: Lời Chúa là hạt giống“. Hẳn 
				ngôn ngữ của Tin Mừng có cái gì đặc biệt. Mọi người trên trái 
				đất, bất luận thuộc văn hoá hay thời đại nào, đều có thể hiểu 
				Tin Mừng.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Câu anh vừa nêu bắt 
				nguồn từ tiên tri I-sai-a. &nbsp;Đức Giê-su đưa ra lời đe doạ phán 
				xét đó trước cuộc sống bất kham của dân Is-ra-en. Với câu đó, 
				Ngài muốn nói rằng, tất cả các ngươi đều được nghe chân lí đấy, 
				nhưng rốt cuộc chân lí chỉ được Chúa mạc khải ra, để các ngươi 
				không hiểu được nó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">MỘT CÂU 
				ĐẦY BÍ HIỂM ?</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">&nbsp;Đức 
				Giê-su nói, những gì đã được ban cho hiểu nơi các ngươi cuối 
				cùng đã trở thành chai cứng và không còn hiểu được. Các ngươi có 
				thể an thân ẩn nấp sau những hàng chữ bề mặt – và bám lại ở đó, 
				thành ra chẳng muốn hiểu gì nữa. Như thế, lời Chúa có thể nói 
				trở thành lời phán xét, vì người ta cứ bám vào vỏ chữ, chẳng còn 
				muốn hiểu vào chiều sâu của chúng.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Dụ ngôn có mục đích 
				đưa con người tới gần những cái không thể hiểu. Về mặt sư phạm, 
				dụ ngôn quả là một phương pháp tuyệt diệu. Những bí ẩn cao xa, 
				muôn đời được kể ra trong những câu chuyện thường nhật, nhờ đó 
				bí ẩn </span><span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">T</span><span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">hiên
				</span><span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">C</span><span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">húa 
				bỗng sáng ra, dễ hiểu ra. Và qua những điều tầm thường, qua hạt 
				giống, mùa gặt, qua những câu chuyện như chuyện La-da-rô hay 
				người Sa-ma-ri-ta, cái cao cả lớn lao lại hiện ra.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Thiên Chúa đến với con 
				người qua Đức Ki-tô. Ngài dùng ngôn ngữ loài người để nói với 
				họ, trình bày ngôn ngữ đó bằng những kinh nghiệm, hiểu biết, cơ 
				cấu sinh hoạt hàng ngày của họ, để nhờ cái gần gũi và thường 
				nhật đó mở ra cho họ thấy được cái cơ bản. Trong ý nghĩa đó, lời 
				Chúa quả thật mang tính vượt thời gian và toả trùm mọi văn hoá, 
				vì nó nối liền với những sinh hoạt uyên nguyên của con người.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Nhưng rõ 
				ràng lời Chúa còn mang thêm một cấp độ, một mật mã khác. Ngài đã 
				có lần nói, muốn hiểu lời Chúa thì buộc „phải cùng sống với Đức 
				Ki-tô. Những ai chỉ muốn hiểu lời đó bằng trí óc, qua lịch sử 
				hay bằng phỏng đoán, thì không thể nào hiểu nổi“.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Nếu tôi đọc Kinh Thánh 
				một cách hời hợt và không quan tâm tới tính siêu việt của nó nằm 
				nơi những diễn biến đơn giản, thì tôi lạc đường, không đi vào 
				được nội dung của dụ ngôn.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Mỗi dụ ngôn dẫn tôi 
				bước vào một con đường. Thoạt tiên tôi thấy những gì ai cũng 
				thấy, những gì tôi đã biết. Và rồi tôi biết là không phải chỉ có 
				thế. Như vậy, tôi phải học nhìn vượt qua những cảm nhận thường 
				nhật. Nếu như tôi, trái lại, cứ bám vào bề mặt và không nhìn 
				xuyên qua được cái thường ngày, thì tôi sẽ chẳng nhìn ra được sự 
				thật nằm sâu trong câu chuyện, và nhất là dụ ngôn bao giờ cũng 
				gắn liền với chính cuộc sống của &nbsp;Đức Giê-su. Một số dụ ngôn trở 
				thành một thứ chìa khoá để hiểu tiểu sử tự thuật của &nbsp;Đức 
				Giê-su, và tiểu sử đó lại chỉ biểu hiện qua chính cuộc sống và 
				khổ nạn của Ngài. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">PHÉP LẠ 
				HOÁ BÁNH </span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Một câu 
				chuyện trong Tin Mừng thường hay được kể, chẳng có gì vòng vo mà 
				cũng chẳng có gì khó hiểu: Phép lạ hoá bánh.Chuyện xẩy ra một 
				nơi hẻo lánh nào đó ở Ga-li-lê-a. Nhiều người quây quần quanh 
				&nbsp;Đức Giê-su. Có lẽ họ say mê nghe Ngài giảng. Bỗng dưng trời đổ 
				chiều, mà chẳng ai &nbsp;để ý. Các môn đệ yêu cầu Ngài bảo dân ai nấy 
				trở về làng mình, bởi vì ở đây chẳng có của ăn cho họ và cũng 
				chẳng có chợ búa nào gần cả. &nbsp;Đức Giê-su điềm nhiên trả lời: 
				“Cho họ ăn”.Chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá, nghĩa là có sẵn 
				bảy đơn vị. Sách viết: “và Ngài cầm năm cái bánh và hai con cá, 
				ngước mắt lên trời, nói lời ngợi khen, rồi bẻ bánh trao cho các 
				môn đồ. Nhờ đó mọi người được no nê, năm ngàn người đàn ông và 
				một số đàn bà và con trẻ. Khi nhặt những mảnh bánh dư, người ta 
				còn chất đầy đúng 12 giỏ”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Câu chuyện có hai 
				chiều kích, vừa sự kiện vừa ý nghĩa biểu trưng. Người ta chờ đợi 
				thời của đấng Messias, chờ đợi phép lạ Manna tái xuất hiện. 
				Người ta tin rằng, đấng Cứu thế sẽ cho họ ăn, và bánh sẽ chính 
				từ trời rơi xuống.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">&nbsp;Đức Giê-su giờ đây có 
				í muốn chuyển phép lạ Manna lên một chiều kích khác. Đó là Thánh 
				Thể. Với bánh của chính thân xác Ngài, và <b>
				<span style="color:red">bánh đó sẽ tiếp tục hoá ra thêm mãi suốt 
				dòng lịch sử cho tới ngày nay.</span></b> Bánh đó có thể được 
				phân chia mãi,<b><span style="color:
red"> không bao giờ hết.</span></b></span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Qua phép lạ Manna mới 
				đó, &nbsp;Đức Giê-su muốn diễn lại cảnh Manna cũ, đồng thời có í dẫn 
				tới một cái gì hoàn toàn khác, có thể nói khiêm tốn và đòi hỏi 
				hơn. Về chiều sâu, đây mới là phép lạ lớn hơn nhiều. Cái lớn đó 
				cũng nằm nơi việc không phải là bánh từ trời rơi xuống, nhưng là 
				việc con người cùng chia sẻ cho nhau.Phép lạ đó mở ra một viễn 
				tượng nhiều ý nghĩa cho cuộc sống con người và tương lai Giáo 
				Hội. Câu chuyện đó đồng thời cũng gây phân rẽ nơi con người. Một 
				số người coi Ngài đúng là vị Messias, muốn đẩy Ngài lên ngai vua 
				và ép Ngài vào con đường chính trị. Và vì Ngài từ chối làm 
				chuyện đó nên giờ đây lại có dư luận bảo Ngài chẳng phải là 
				Messias. Từ giây phút đó có sự phân rẽ đôi đường: kẻ thì chống, 
				người thì đi theo Ngài vào khổ nạn. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Câu 
				chuyện có thật hay chỉ là một biểu tượng?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ngày nay, nhiều nhà 
				chú giải tin vào định luật thiên nhiên, cho rằng chuyện đó không 
				thể xẩy ra, và bảo đó chỉ là biểu tượng. Thực tế thì câu chuyện 
				có một nội dung biểu trưng rất lớn. Nhưng chúng ta cũng đừng vội 
				hạn chế khả năng vô lường của Chúa. Trong Giáo Hội cũng đã có 
				những chuyện tương tự.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Vừa rồi tôi tới Turin, 
				và một linh mục dòng già kể cho tôi nghe về hai sự kiện lạ lùng 
				đã xẩy ra trong đời thánh Don Bosco. Một lần vì sơ suất người ta 
				đã không làm phép đủ bánh thánh. Khi cho rước lễ, chỉ còn cỡ 
				mười tới hai mươi bánh thánh cho một khối vô cùng đông người 
				trẻ. Don Bosco chẳng nao núng gì, ngài bảo “Cứ an tâm phân phát, 
				có đủ cho mọi người”. Và ai cũng nhận được Mình Thánh.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Lần khác, sau một ngày 
				làm việc mệt nhọc, ngài hứa cho đám trẻ con ăn hạt dẻ khô. Ngài 
				bảo mẹ chuẩn bị dẻ dùm. Nhưng bà mẹ hiểu sai, chỉ rang đủ dẻ cho 
				độ một chục đứa trẻ mà thôi. Khi nhận ra lầm lẫn của mỉnh, bà mẹ 
				hốt hoảng. Nhưng ngài bảo: “Mẹ đừng lo, cứ phân phát cho chúng, 
				không những đủ mà còn có dư để chúng mang về nữa”. Và quả thật 
				như vậy. Có rất nhiều người đã chứng kiến những chuyện đó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Vì thế, ta không nên 
				cản ngăn Chúa làm những việc mà thường ra không thể xẩy ra nổi.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">&nbsp;</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">ĐỨC GIÊSU 
				và CÁC PHỤ NỮ </span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">&nbsp;Đức 
				Giê-su thường phá bỏ các rào cản quy ước. Ngài minh nhiên đi tới 
				với những người tội lỗi và người nghèo khó. Và Ngài có một liên 
				hệ đặc biệt với các phụ nữ. Chuyên viên Kinh Thánh người 
				Do-thái, ông Schalom Ben-Chorin, cho rằng &nbsp;Đức Giê-su „không 
				phải là người chay tịnh, nhưng Ngài là người ham vui sống“. Phụ 
				nữ luôn nhìn Ngài với một ánh mắt lạ lùng. Có thể nghĩ được rằng 
				Ngài cũng là một người có quan hệ tình dục với phụ nữ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Không có chuyện tình 
				dục trong quan hệ bạn bè của Ngài. Con người &nbsp;Đức Giê-su thuộc 
				vào một cấp độ khác. Nhưng, như chúng ta thấy qua các trình 
				thuật Tin Mừng về những liên hệ của Ngài, Ngài vẫn có khả năng 
				làm bạn và yêu thật sự. Đúng, chính các bà là những người bén 
				nhạy đã cảm ra được cái mới, cái khác, cái lớn lao, cái bí ẩn 
				trong con người Ngài, và Ngài đặc biệt đã kéo các bà vào trong 
				cộng đoàn của mình. Trái với thói quen đương thời nơi người 
				Do-thái, coi phụ nữ là hạng thấp kém, &nbsp;Đức Giê-su có thể nói đã 
				tạo nên một cái gì như là giải phóng phụ nữ. Do địa vị xã hội, 
				phụ nữ một cách nào đó thuộc vào loại những người bé nhỏ, mà 
				Chúa muốn hướng về họ và yêu thương họ một cách đặc biệt. Làm 
				như thế là Ngài cũng đã khơi dậy đoàn sủng của phụ nữ. Trong 
				quan hệ với Ngài, ta thấy đặc biệt có hai người ở Bê-ta-ni-a. 
				Hai khuôn mặt này cho ta thấy vai trò quan trọng và sống động 
				của nữ giới trong việc xây dựng Giáo Hội. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Đó là hai 
				chị đã trung thành theo Ngài mãi tới chân thập giá. Trong khi đó 
				thì các ông đã chạy hết. &nbsp;Đức Giê-su đã trừ bảy tà thần ra khỏi 
				Maria Ma-đa-lê-na. Không phải Phê-rô hay Gio-an, mà chính chị là 
				người đầu tiên được thông báo biến cố phục sinh của Ngài. Đây 
				quả là một chuyện lạ, nếu như người ta biết rằng các chứng cứ 
				của phụ nữ ở đông phương chẳng có giá trị gì. Vì thế, thánh 
				An-tịnh đã gọi Maria Ma-đa-lê-na là tông đồ của các tông đồ.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Và danh-hiệu đó, thật 
				vậy, vẫn giữ nguyên. Cho tới năm 1962 lời nguyện tông đồ vẫn 
				được đọc trong ngày lễ kính của ngài, vì ngài là một „nữ tông 
				đồ“. Việc Maria Ma-đa-lê-na là người đầu tiên mang tin vui phục 
				sinh cho các tông đồ, một lần nữa, nói lên thịnh tình và mối 
				liên hệ đặc biệt của Ngài đối với chị. Điều này ta cũng thấy 
				được qua lời đối thoại của Ngài với chị, trong đó Ngài gọi chị 
				là „Mariam“, chỉ vì chị đã không nhận ra Ngài. Lúc đó chị liền 
				nhận ra và lại phủ phục dưới chân Ngài: „Rabbuni, thưa Thầy“. 
				Trong lối xưng hô đó, ta thấy vừa có kính trọng, vừa giữ khoảng 
				cách trước vẻ lớn lao của Ngài, mà cũng vừa nói lên yêu thương 
				tha thiết đối với một người là Chúa và với một Chúa đã hoàn toàn 
				trở nên người. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Tôi sẽ 
				trở lại với địa vị phụ nữ trong Giáo Hội sau. Ở đây xin hỏi 
				nhanh một câu: Có chuyện kể nào về &nbsp;Đức Giê-su hay một câu 
				chuyện nào trong Kinh Thánh có thể trong tương lai sẽ phải bị 
				loại bỏ, vì những khám phá mới, chẳng hạn như trong các nghiên 
				cứu về nguồn tài liệu Qumran, cho thấy chúng hết đáng tin không?
				</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tôi không thấy khám 
				phá nào cả. Có thể có những tiểu tiết làm mình phải hiểu kinh 
				sách khác đi đôi chút. Nhưng những điều ghi chép trong Tin Mừng 
				đều được viết ngay trong thời đó, nên không thể bị đảo lộn bởi 
				các khám phá mới ngày nay được. Lời chứng Tin Mừng về &nbsp;Đức 
				Giê-su sẽ không đổi và vẫn giữ nguyên giá trị của nó. </span>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">GẶP GỠ
				</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Thưa Hồng 
				Y, có lần ngài nói, tin vào &nbsp;Đức Giê-su Ki-tô cũng giúp con 
				người mở mắt ra với thế giới. Đức tin đó chỉ cho họ thấy mọi 
				chuyện được kiến tạo như thế nào, mọi sự liên quan với nhau ra 
				sao. Ta có thể nhờ đức tin đó để sống tốt đẹp hơn không?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Những 
				chặng đường sống quan trọng của ta hẳn không nằm trong tay ta. 
				Ta không xác định được việc sinh việc tử của mình. Nhưng trách 
				nhiệm của ta là phải tìm hiểu xem</span></i></b><i><span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">
				<b>ta là ai</b></span></i><b><i><span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">, 
				đâu là ơn gọi của mình, </span>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">con đường 
				nào mình sẽ đi</span><span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">. 
				Đức tin Ki-tô giáo có thực sự giúp cá nhân có được những bước 
				vươn lên không?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Đức tin hẳn không thay 
				thế được nhận thức của mỗi người. Nó cũng không thay thế được 
				việc học hỏi với và qua người khác suốt dọc dài lịch sử. Chúa 
				không lấy đi nỗ lực của ta. Đức tin không phải là thứ thần dược 
				hoá phép. Nhưng nó cho ta chìa khoá để ta có thể tự học. Để ta 
				tự tìm hiểu mình và tự hỏi mình là ai.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Một cách tổng quát, 
				con người luôn chỉ nhận ra mình nhờ người khác và qua kẻ khác. 
				Chẳng ai nhìn ra mình, nếu họ chỉ trông vào mình, chỉ tự tìm 
				cách đào lỗ thoát cho mình, tự vẽ hoạ đồ cho mình. Con người 
				được sinh ra để thiết lập tương giao, để đi tới với người khác. 
				Qua gặp gỡ kẻ khác, họ tìm ra ý nghĩa và trách nhiệm cuộc sống, 
				thấy ra yêu sách và khả thể của cuộc sống.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Từ cấu trúc nền tảng 
				của cuộc sống đó, ta mới hiểu được <b><span style="color:red">
				đức tin và cuộc gặp gỡ với &nbsp;Đức Giê-su</span></b>. Đức tin không 
				đơn giản là một hệ thống kiến thức và thông tin, nhưng<b><span style="color:red"> 
				tâm điểm của nó trước hết là gặp Đức Ki-tô.</span></b> Có gặp 
				Ngài, mới hiểu được lời Ngài. Câu nói của tôi trên kia cũng chỉ 
				muốn nói lên rằng, trong muôn vàn cuộc gặp mà ta cần, cuộc gặp 
				Đức Ki-tô là đích thực và quyết định nhất. Mọi cuộc gặp gỡ khác 
				không nói cho ta hay ta từ đâu tới và sẽ đi về đâu. <b>
				<span style="color:red">Gặp Ngài, ta gặp được ánh sáng để có thể 
				hiểu ra Thiên Chúa, con người, thế giới, sứ mạng và ý nghĩa cuộc 
				sống – và hiểu ra được dây mơ rễ má của mọi gặp gỡ khác</span></b>.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">HOANG ĐỊA
				</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Lời dạy 
				của &nbsp;Đức Giê-su Ki-tô được các tông đồ gọi là “đường mới”. Con 
				đường mới này khởi đầu từ lúc &nbsp;Đức Giê-su nhận phép rửa nơi 
				hoang địa. Đó có thể nói là trạm cuối cùng trước khi Ngài bước 
				ra công khai để tiến về khổ nạn. 40 ngày trong hoang địa – đây 
				cũng lại là một biểu tượng?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Con số 40 thật ra là 
				một biểu tượng quan trọng. Cả tiên tri Ê-li-a, chẳng hạn, cũng 
				cần 40 ngày để tới núi thánh. Quãng thời gian đó luôn được dùng 
				để nói về thời gian học hỏi, chuẩn bị, trưởng thành. Thời gian 
				sa mạc là nguyên ảnh của Is-ra-en, qua đó dân này nhận ra được 
				luật lệ và í muốn của Thiên Chúa, để nhờ đó chuẩn bị trở thành 
				dân cưu mang những lời hứa của Ngài. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Với 40 ngày hoang địa, 
				&nbsp;Đức Giê-su một lần nữa nhắc lại 40 năm sa mạc của Is-ra-en. Có 
				thể nói một lần nữa Ngài đi qua toàn bộ con đường lịch sử, để 
				cũng nói cho ta hay, nếu ta không có thời gian để từ bỏ, để yên 
				lặng, để bước ra và để gom góp sứ mạng lớn, thì ta không thể 
				trưởng thành được. Ngài dùng nơi hoang địa thanh vắng để ăn chay 
				và cầu nguyện. Một mặt, hình ảnh biểu tượng đó nói lên cuộc gặp 
				gỡ với Thiên Chúa, mặt khác, nó cũng nói lên nỗi hiểm nguy của 
				trần thế. Đó là nơi không có sự sống, không có thức ăn, nơi cô 
				đơn. Như thế, Ngài cũng bước qua toàn bộ sa mạc của nguy nan, 
				của thất bại, của từ bỏ, sa mạc của đói khát. Ngài đồng thời mặc 
				lấy những cám dỗ của nhân loại, khổ đau với họ, để từ đó đưa ra 
				những lời, những sứ điệp cao cả. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Sau 40 
				ngày ăn chay Ngài bị quỷ cám dỗ. Thoạt tiên, Sa-tan muốn Ngài 
				biến đá thành bánh mì. Tay Sa-tan này quả ngớ ngẩn! </span></i>
				</b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Câu chuyện này nói lên 
				những chương trình đối lập, những chước cám dỗ mà đấng cứu thế 
				Giê-su phải trải qua trong ba năm rao giảng, và những cám dỗ 
				liên tục trong lịch sử Giáo Hội. Một chỗ khác &nbsp;Đức Giê-su cũng 
				đã nói: “Anh em đã đứng vững với thầy trong các cám dỗ của 
				thầy”. Và Ngài nói với Phê-rô: “Này đây anh Sa-tan, hãy trao 
				những cám dỗ đó cho thầy”. Cả đám đông năm ngàn người no nê cũng 
				tạo cám dỗ cho Ngài, họ muốn tâng Ngài lên làm vua, nghĩa là làm 
				ông chủ cung cấp thức ăn của uống cho họ. Đó là những thứ mà 
				chúng ta sẽ luôn gặp dưới nhiều hình thức và luôn phải thắng 
				vượt trên con đường theo Chúa và cả trong Giáo Hội.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Ngài muốn 
				nói gì với điều đó?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tôi muốn nói, chẳng 
				hạn như nhu cầu phải cải tạo trật tự xã hội thế giới và tạo lập 
				một nhà nước lý tưởng. Giáo Hội rất cần phải chung tay vào việc 
				cải tạo xã hội, nhưng <b><span style="color:red">việc cứu độ con 
				người đích thật phải đến từ trong</span></b>, chứ không phải từ 
				cơ cấu bên ngoài. Và cho dù trong mọi thời Giáo Hội phải quan 
				tâm tới nỗi đói khát của con người, và phải tìm mọi cách để có 
				những bàn tay tăng gia của ăn cho họ, Giáo Hội vẫn luôn phải nhớ 
				rằng, mình không phải là một tổ chức xã hội, chỉ biết quan tâm 
				tới vật chất, coi đó là việc giải thoát con người đích thực. 
				Không. Giáo Hội không được quên rằng, con người không chỉ sống 
				bằng bánh, mà còn bằng lời Chúa nữa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Hai cám dỗ khác cũng 
				thế. Quỷ thách thức, bảo &nbsp;Đức Giê-su nhảy từ nóc đền thờ xuống, 
				để xem Ngài có phải là Chúa thật không. Và cuối cùng là chước <b>
				<span style="color:red">cám dỗ ghê gớm về quyền lực,</span></b> 
				làm chủ cả thiên hạ: “Hãy cầu tôi, tôi sẽ cho làm chủ thế giới”. 
				Điều này muốn nói, việc cai trị thế giới qua quyền lực, <b>
				<span style="color:red">dù là với mục đích thật lý tưởng, mà 
				không tìm Chúa, thì việc cai trị kia sẽ làm hư con người</span></b>.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Đã có nhiều cuộc thí 
				nghiệm trong lịch sử, trong đó con người chối từ Chúa, và tìm 
				cách tự mình và bằng qua những cơ cấu quyền lực tạo ra cho mình 
				những thứ họ cần. Tất cả những thí nghiệm đó đưa tới đâu, đã rõ. 
				Chúng luôn là tấm gương cho Giáo Hội và cho mỗi người: Ở đâu con 
				người chối Chúa, ở đâu ta muốn tự mình thiết lập thế giới mà 
				chẳng cần Chúa, ở đâu ta cho rằng thoả mãn nhu cầu vật chất mới 
				là lối giải quyết đích thực, ở đó ta chẳng giải quyết được gì 
				hết, mà trái lại ta phá hoại, ta thực hiện công trình của 
				Sa-tan. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Sau kinh 
				nghiệm ở hoang địa, các môn đệ đầu tiên tới với &nbsp;Đức Giê-su. Họ 
				hỏi Ngài: “Thưa Thầy, Thầy ở đâu?” Và Ngài trả lời thật ngắn 
				gọn: “Tới mà xem”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Vâng, cùng thử làm với 
				nhau là điều cần thiết. &nbsp;Đức Giê-su không ở một nơi cố định. 
				Ngài ở trên đường, ở trong những bước đi trước. Chỉ khi ta theo 
				Ngài, cùng Ngài lên đường, lúc đó ta mới học biết Ngài ở đâu. Và 
				rồi ta cũng sẽ thấy Ngài. Nếu chỉ muốn hiểu Ngài và lời Ngài qua 
				lí thuyết và suy luận, ta sẽ chẳng biết được Ngài. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Những môn 
				đồ đầu tiên, mà &nbsp;Đức Giê-su muốn biến họ thành “ngư phủ câu 
				người”, là An-rê và Gio-an, sau đó tới Phê-rô, em An-rê. Điều 
				lạ, quây quần quanh Ngài không phải những kẻ học thức, mà là 
				những người ngay thẳng, đơn sơ. Họ không phải là những người đặc 
				biệt khôn ngoan, không đặc biệt can đảm và tỉnh táo, và nếu 
				không có hỗ trợ của Thánh Thần họ cũng chẳng biết giảng ra sao. 
				Họ luôn vấp ngã bởi hồ nghi và không tin. Phải chăng &nbsp;Đức Giê-su 
				không biết chọn người?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tất nhiên, đó không 
				phải là những hạng người tự sức và trí mình mà đã có thể châm 
				ngòi được một cuộc truyền giáo thế giới như thế. Nếu họ, như 
				thánh Chrysostomos</span><span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">*</span><span style="font-size: 12.0pt" lang="IT"> 
				nói, đã “thẩy được hạt xúc xắc lớn xuống”, thì đó là nhờ một 
				nguồn lực nào khác. Vì thế, đối với tôi, xem ra việc chọn những 
				người tầm thường, không phải những nhà chính trị hay trí thức, 
				mang nhiều ý nghĩa. Rõ ràng, không phải tự sức họ. Họ được một 
				đấng lớn hơn chạm tới, nâng đi và vạch đường chỉ lối. </span>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tuy nhiên, trong xã 
				hội nhiều giai tầng thời đó, ta cũng có thể có được một cách xếp 
				loại nào đó về các tông đồ. Một số trong họ là những tay chống 
				Rô-ma cực đoan, như Si-mon thuộc phái Ze-lot chẳng hạn. Zelot là 
				đảng muốn dùng bạo lực để giải phóng đất nước. Cả Giu-đa 
				Is-ka-ri-ot cũng thuộc vào một đảng cùng khuynh hướng, tên gọi 
				của ông nói lên điều đó. Đó là những người, nói theo ngôn ngữ 
				ngày nay, thuộc phía cực tả. Họ sẵn sàng võ trang đấu tranh và 
				họ cũng mong &nbsp;Đức Giê-su làm theo họ. Mặt khác, ta có Lê-vi, cán 
				bộ thâu thuế, dân nhà giàu, là kẻ đi với quyền lực, hợp tác với 
				thực dân.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Nghĩa là 
				có đồng cân lực lượng.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Có thể nói, khi triệu 
				tập vòng tông đồ, &nbsp;Đức Giê-su đã làm một cuộc hoà hợp. Mọi người 
				từ mọi phía, từ mọi quan điểm có thể tới với Ngài hoặc bỏ Ngài. 
				Như thế, trong nhóm môn đệ đó hẳn có thể có nhiều xung khắc.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Mặt khác, như anh nói, 
				các tông đồ là những người đứng tuổi. Phê-rô có một hợp tác xã 
				lưới cá, ông là một doanh nhân nhỏ. Đó là những người đứng trong 
				thực tế cuộc sống, họ có cảm quan về cái thực tại, nhưng không 
				ngụp lặn trong chủ nghĩa thực dụng. Họ có một ước vọng cao hơn. 
				Họ không rơi vào một thứ mê hoặc nào đó, nhưng đã hết sức phục 
				vụ ơn gọi của mình. Họ là tấm gương để ta hiểu rằng, Chúa dùng 
				người tầm thường để làm những việc mà chỉ có Ngài mới làm được 
				mà thôi, và cũng để ta hiểu rằng, có sự lớn lao trong những con 
				người tầm thường. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Khác hẳn 
				với các tông đồ theo Chúa xưa, con người ngày nay nghĩ rằng, họ 
				có thể hoàn toàn tự mình vạch ra lối đi, đường sống cho mình. Họ 
				cho rằng, chẳng có một bản sắc rõ rệt nào nữa cả. Cuộc sống là 
				một chuỗi đổi thay ảo tưởng liên tục, tuỳ vào công việc đang có, 
				tuỳ vào hoàn cảnh trước mắt - hoặc vào sở thích mỗi người. Họ 
				bảo, trong thế giới tân tiến ngày nay chẳng còn sự lựa chọn : 
				hoặc cái này hoặc cái kia, mà thay vào đó, ta có một khả năng 
				lựa chọn mới: chẳng cái này mà cũng chẳng cái kia.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ngày nay, uyển chuyển 
				đã trở thành một từ quan trọng nền tảng. Chúng ta muốn có thể 
				thích ứng được với các thách đố mới, và hi vọng nhờ việc thay 
				đổi nghề nghiệp liên tục cũng sẽ leo thang xã hội một cách thật 
				dễ, thật nhanh. Nhưng tôi nghĩ, trước sau vẫn có những nghề đòi 
				hỏi con người rất nhiều. Chẳng hạn nghề thầy thuốc hay nghề giáo 
				dục, đó không phải là những nghề giai đoạn, mà là ơn gọi, chúng 
				đòi hỏi suốt cả cuộc đời mình. Nghĩa là, ngày nay cũng có những 
				công việc không phải là việc làm phụ trội để kiếm thêm tiền 
				sống. Tiêu chuẩn quyết định trong các ơn gọi thật sự cũng không 
				phải là thu nhập, nhưng là thi hành một công tác phục vụ trong 
				nhân loại. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">&nbsp;Đức 
				Giê-su có thể sẽ nói thế nào về điểm này?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ngài sẽ chẳng cấm ai 
				muốn uyển chuyển thích ứng với các thách đố. Chính các tông đồ 
				của Ngài cũng đã phải uyển chuyển bước ra khỏi cuộc đời chài 
				lưới để cùng đi vào một con đường vô định và đầy bí ẩn – và cuối 
				cùng đã thoát ra khỏi đạo Do-thái mà mình đã trầm mình trong đó, 
				để dám bước ra rao truyền cho dân ngoại.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Đồng thời các ngài đã 
				phải bền đỗ và trung thành trong sự chọn lựa nền tảng của mình. 
				Vì vậy, ta không nên đặt uyển chuyển đối lập với trung thành. 
				Ngay trung thành cũng phải chứng tỏ được sự bền đỗ của nó trong 
				những hoàn cảnh đổi thay. Một người, sau năm mươi năm làm linh 
				mục hay sống cuộc đời hôn nhân, hẳn phải trải qua một cuộc đời 
				đầy biến đổi. <b><span style="color:red">Người đó phải trưởng 
				thành trong mọi biến đổi và đưa bản sắc mình tới hoàn thiện</span></b>.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tiếc thay, trong hoàn 
				cảnh tân tiến ngày nay, thường chỉ còn thay đổi vì thay đổi, 
				uyển chuyển vì uyển chuyển mà thôi. Tôi chống lại quan điểm này. 
				Chính hôm nay là lúc ta cần trung thành với một sứ mạng, với một 
				nghề; chính hôm nay là lúc ta cần những người quên mình hoàn 
				toàn. Ta hãy quay trở lại chuyện viện trợ phát triển. Cần có 
				những người sẵn sàng bỏ ra hai, ba năm đi giúp kẻ khác, nhưng ta 
				cũng cần có thật nhiều người biết quên mình. Có những ơn gọi đòi 
				hỏi toàn thân con người.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Những mẫu sống mà tôi 
				nói tới này không phải là chỉ dấu của sự thiếu sáng tạo hay đông 
				cứng. Chính sự bền vững đó làm cho tâm hồn con người lớn rộng ra 
				và trưởng thành lên, khiến cho đổi thay và liên tục tháp nhập 
				vào nhau. Cái lớn đích thực nằm trong sự hoà quyện với nhau đó.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Về những 
				mẫu sống ngài đã đề cập: Nhiều người nghĩ rằng đời họ như là một 
				cuốn phim, tự họ có thể cắt xén, đạo diễn từng cảnh, từng đoạn. 
				Thâm tâm họ tự bảo: Tại sao tôi lại phải đi vòng vòng, phải nỗ 
				lực trong cuộc sống, phải tìm kiếm, phải tự hạn chế hay phải 
				chịu đựng? Nghĩa là tại sao họ lại phải đi theo con đường khó 
				khăn của các tông đồ đã đi với &nbsp;Đức Giê-su xưa. Một cuộc sống 
				thật đơn giản dễ dãi có phải hơn không?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Chỉ có những ai lớn 
				lên trong bàn tiệc cuộc đời dư đầy mới có được một cuộc sống dễ 
				dãi như thế. Đó là một tưởng tượng của những kẻ có của, những kẻ 
				không hiểu rằng, đối với đa số con người, cuộc sống là cả một 
				nỗi thử thách cam go. Vì thế, tôi coi việc tự biên tự diễn trên 
				là ích kỉ và nó làm hao mòn đi các ơn gọi.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Ai bảo rằng, mình đã 
				có đủ mọi thứ, vì vậy họ chỉ việc lấy những thứ đã có ra để tự 
				thiết kế cho đời mình, kẻ đó sẽ không cho được cái họ có thể 
				cho. Con người sinh ra, không chỉ để tự thiết kế nên mình, mà 
				còn phải chấp nhận thử thách trong cuộc sống. Chúng ta tất cả 
				nói chung cùng đứng trong một lịch sử và phải cần đến nhau. Vì 
				thế, con người không nên chỉ nghĩ mình muốn gì, nhưng nhất thiết 
				hơn, nên tự hỏi : <b><i><span style="color:red">mình tốt cho ai, 
				mình có thể giúp ích được gì</span></i></b>. Có như thế, họ mới 
				thấy dễ dãi, thoải mái và buông thả không phải là những phương 
				cách làm thoả mãn đời mình, nhưng sự thoả mãn nằm nơi việc sẵn 
				sàng chịu thử thách, nằm nơi con đường hẹp. Mọi thứ còn lại, một 
				cách nào đó, đều là buồn chán. Chỉ ai “bị trui trong lửa”, chỉ 
				ai nhận ra được tiếng gọi, ơn gọi, một lý tưởng cần đáp ứng nơi 
				mình, chỉ ai chấp nhận một sứ mạng cho toàn thể, kẻ đó mới có 
				cuộc sống tràn đầy. Như đã nói, chúng ta trở nên giàu có, khi 
				biết cho đi, chứ không phải khi nhận vào hoặc khi bước đi trên 
				con đường rộng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="IT">QUYỀN VÀ 
				CỦA</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">&nbsp;Đức 
				Giê-su có nói về “Cai trị và phục vụ”. Ngài nói: “Anh chị em 
				biết, nhà cai trị đàn áp dân mình và kẻ quyền lực lạm dụng quyền 
				mình đối với người khác. Anh chị em không nên làm như thế, nhưng 
				ai trong anh chị em muốn làm người lớn, thì hãy làm kẻ phục vụ, 
				và ai trong anh chị em muốn làm kẻ cao nhất, thì hãy trở nên nô 
				lệ cho anh chị em mình. Bởi vì Con Người cũng không đến để được 
				phục vụ, nhưng để phục vụ và để hiến đời mình làm giá chuộc cho 
				nhiều người”. Phục vụ và vâng lời là hai đặc điểm cơ bản trong 
				lời dạy của Đức Ki-tô và trong đời sống Giáo Hội. Các ý niệmđó 
				ngày nay chẳng còn phổ thông lắm. Có cái gì ẩn chứa đàng sau các 
				ý niệmđó không?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Quả thật Tin Mừng đưa 
				ra một chương trình đối lập với mốt sống tân tiến hiện tại. Nó 
				đề ra một thứ lạc hậu lành mạnh, nhằm kéo chúng ta ra khỏi 
				khuynh hướng cai trị và muốn chiếm đoạt. Và chính ai không thuộc 
				vào hàng ngũ những kẻ quyền lực, người đó là kẻ may mắn, khi 
				nhận ra được rằng, chính kẻ quyền lực sẽ không được phục vụ nơi 
				bàn tiệc cuộc đời. Họ là kẻ may mắn, khi nhận thức được rằng, 
				quyền và của mà mình nhận được là một sứ mạng, để qua đó mình 
				trở nên kẻ phục vụ. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Tôi tin rằng, câu <b>
				<span style="color:red">người cai trị nên trở thành kẻ phục vụ</span></b>, 
				và việc chính &nbsp;Đức Giê-su đã thực thi điều đó qua hành động của 
				Ngài, là một cuộc cách mạng đúng nghĩa có khả năng làm đổi thay 
				thế giới. <b><span style="color:blue">Bao lâu người ta coi quyền 
				và của tự chúng là cùng đích giá trị, thì quyền luôn cũng là 
				quyền chống lại người khác, và của luôn cũng là của chỉ riêng 
				mình.</span></b> </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Chính khi vị Vua vũ 
				trụ tới và làm công việc của kẻ nô lệ là rửa chân cho kẻ khác – 
				đây chỉ là một trong muôn vàn thí dụ của cả cuộc đời phục vụ của 
				Ngài – lúc đó chúng ta có một hình ảnh hoàn toàn khác. <b>
				<span style="color:blue">Thiên Chúa đầy quyền lực đã không dẫm 
				đạp ta, mà trái lại cúi xuống để nâng ta lên ngang tầm với Ngài</span></b>. 
				Thiên Chúa có thể trở nên bé nhỏ, đó là tất cả bí ẩn trong cái 
				cao cả của Ngài. Ngài không bước xuống từ bệ cao, và cũng không 
				an ngự nơi tầng trên. Với cử chỉ hạ mình đó, Ngài muốn thay đổi 
				ý nghĩvề quyền lực và về cai trị nơi ta. Ngài chỉ ra, khi ta có 
				thể sai khiến đám đông và có được mọi thứ mình muốn, lúc đó ta 
				đang rơi vào nhỏ mọn – còn khi ta phục vụ kẻ khác, đó là lúc ta 
				trở nên cao cả. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Một khiêu 
				khích quái gỡ.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Chấp nhận điều đó là 
				cả một cuộc cách mạng. Cách mạng này chẳng bao giờ đơn giản chỉ 
				bằng hành động mà thôi, mà nó luôn đòi hỏi một cuộc trở về nội 
				tâm – nhưng đây là cuộc trở về lành mạnh và quan trọng nhất 
				trong mọi cuộc trở về. Chỉ khi nào quyền lực được thay đổi từ 
				trong, chỉ khi nào ta thay đổi từ trong thái độ của ta đối với 
				của cải, và khi ta chấp nhận lối sống suốt đời rửa chân của &nbsp;Đức 
				Giê-su, thì lúc đó thế giới mới trở nên lành mạnh, và con người 
				mới có thể sống hạnh phúc bên nhau. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="IT">Một tuyên 
				ngôn.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">&nbsp;Đức Giê-su là khuôn 
				hình mà con người cần đi theo, là đích điểm mà chúng ta phải đạt 
				tới. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">38 năm sau khi Goethe 
				mất, diễn ra một cuộc họp lớn giữa các cụ già trong lòng đại 
				thánh đường thánh Phê-rô ở Rô-ma, và họ đã đi tới một quyết định 
				– quyết định tán đồng với Mephisto [nhân vật trong ở FAUST của 
				Goethe]. Công đồng Vaticano I tuyên bố vào ngày 24.04. 1870: “Mẹ 
				Giáo Hội thánh này xác quyết và dạy rằng, Thiên Chúa, nguồn cội 
				và mục tiêu của mọi sự, có thể nhận biết được bằng ánh sáng tự 
				nhiên của lí trí được tạo thành của con người.”</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Một quyết định đầy bí 
				ẩn. Phải chăng Công đồng đã đề cao lí trí quá đáng? Phía Tin 
				lành phản đối ngay. Họ bảo, chỉ có mạc khải, lời Chúa, Kinh 
				Thánh và đức tin – chứ không phải chút ánh sáng leo lét của lí 
				trí con người – mới là đường dẫn tới Thiên Chúa. Karl Barth, có 
				lẽ là nhà thần học tin lành lớn nhất trong thế kỷ 20, về sau cho 
				hay, chỉ vì hậu quả của tuyên bố đó mà ông không thể nào trở 
				thành công giáo được. Nhưng Công đồng vẫn khẳng định: “Ai bảo 
				rằng, ánh sáng tự nhiên của lí trí được tạo dựng của con người 
				không thể nhận biết được Thiên Chúa độc nhất và chân thật, Người 
				là hoá công và Chúa của chúng ta, kẻ đó sẽ mang lấy vạ tuyệt 
				thông.”</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="IT">Trích từ: Thiên Chúa. 
				một chút lịch sử Đấng vĩ đại nhất (Câu trả lời Kitô giáo cho vô 
				thần). Tác giả : Manfred Lütz. Dịch giả: Phạm Hồng Lam</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">&nbsp;</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="color: #FF0000" lang="de"><b>4</b></span><b><span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="DE">. 
				SỰ&nbsp;THẬT</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="DE">Là trưởng 
				Bộ giáo lýđức tin, ngài là người cao nhất trong Giáo Hội có 
				nhiệm vụ bảo vệ chân lí đức tin. Người ta có luôn biết chắc được 
				cái này là chân lí hoặc cái kia là phản chân lí không ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="DE">Mỗi cá nhân luôn biết 
				mình có thể sai lầm. Nhưng không thể có cảnh ki-tô hữu có đức 
				tin lại phải lần mò trong bóng tối, chẳng biết mình thật sự tin 
				gì. Nếu thế, thì rồi dần dà sẽ chẳng còn ai biết mình tin gì 
				nữa, và mỗi người cứ tự do đi tìm cái mình muốn. Nếu ta chẳng 
				còn cái gì chung và chẳng còn một bản sắc khả giác nào nữa, nếu 
				đức tin mất hết sắc cạnh, thì Ki-tô giáo trên thực tế chẳng còn 
				gì nữa để mà biện minh. Và lúc đó mình phải chấp nhận sập tiệm, 
				và chẳng còn biết mình muốn gì nữa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="DE">Là người công giáo, ta 
				có thể nói rằng – những người khác cũng có thể nói theo cách của 
				họ - ngay từ đầu, các tông đồ đã truyền cho ta một bản sắc đức 
				tin, và nội dung đó đã được viết ra. Trong chương 6 thư gởi giáo 
				đoàn Rô-ma thánh Phao-lô đã nói : « Qua phép rửa, anh chị em đã 
				được đưa vào một loại giáo lý». Nói cách khác : Ngay thánh 
				Phao-lô đã nhìn ra [qua nghi thức phép rửa] nội dung bản sắc đức 
				tin Ki-tô giáo, trong đó tóm gọn những gì ta nhận được từ Đức 
				Ki-tô - và cả từ toàn bộ Kinh Thánh Cựu Ước. Những <i>công thức</i> 
				đức tin này, theo Phao-lô, làm nền và định nghĩa cho phép rửa; 
				từ những lời Kinh Thánh, chúng đã rất sớm biến thành chính lời
				<i>tuyên xưng</i> đức tin, và sau đó trở thành <i>qui điều</i> 
				đức tin, những điểm này đều thực sự bắt nguồn từ các tông đồ<span style="color:blue">.&nbsp;</span></span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="FR">Đó là bản 
				sắc đức tin của ta ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đúng. Dĩ nhiên từ thế 
				kỷnày qua thế kỷkhác, đức tin đó đã dần được phát triển và làm 
				cho chính xác thêm, nhưng không phải vì vậy mà nó thành ra vô 
				định. Vì thế, phải chống lại các tư tưởng cào bằng, phải chống 
				lại các quan điểm cho rằng đức tin không cụ thể. Đức tin có nội 
				dung. Và vì nội dung này có thể diễn tả được, nên nó cũng có 
				những ranh giới. Ta có thể biết, bắt đầu từ lúc nào thì một 
				người nào đó rõ ràng hết còn là ki-tô hữu. Và khi một người 
				không còn và không thể là ki-tô hữu nữa, người đó nên có can đảm 
				tuyên bố : Tôi không thể sống với bản sắc đó nữa, không thể nhìn 
				nhận đó là chân lí nữa, và tôi xin thôi. Còn thứ sương mờ, trong 
				đó mọi thứ bị thoái hoá thành mớ thói quen nhập nhằng, thì chẳng 
				có lợi cho ai cả.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Phương 
				châm giám mục của ngài là « Thợ của chân lí ». Vì đâu ngài chọn 
				câu này ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi là một người mê 
				đọc Kinh Thánh, và không hiểu sao ngay từ đầu câu này trong lá 
				thư thứ ba của thánh Gio-an đã làm tôi mê say. Thoạt tiên, ý 
				nghĩa của nó khá hạn chế.&nbsp;Tôi hiểu thế này, ai đón nhận sứ giả 
				của Tin Mừng, kẻ đó trở thành người thợ của chân lí. Và khi đón 
				nhận sứ giả, chính người đó đã vào làm việc trong vườn này rồi.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phải nói, trong mấy 
				chục năm dạy học, khủng hoảng về yêu sách chân lí đã lay động 
				tôi rất mạnh. Tôi lo không biết phải hành xử thế nào với ý 
				niệmchân lí của Ki-tô giáo, một phần cũng vì ngại bị coi là 
				thiếu tôn trọng đối với các tôn giáo khác. Vấn đề là ta được 
				phép sử dụng ý niệmđó đến mức độ nào ?</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi đã ưu tư rất nhiều 
				về câu hỏi đó. Cuối cùng, tôi suy ra, là nếu mình không đề cập 
				tới vấn đề chân lí nữa, thì cũng có nghĩa là mình đi ra khỏi nền 
				tảng mọi vấn đề. Bởi vì Ki-tô giáo không giống như các tôn giáo 
				khác, đặc điểm đức tin của nó ngay từ đầu không ưu tiên dựa trên 
				các kĩ thuật luyện tập và quan sát như nơi nhiều tôn giáo khác, 
				các tôn giáo này chủ yếu dựa vào việc tuân giữ một số nghi thức 
				nào đó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ki-tô giáo xuất hiện, 
				là để nói cho chúng ta hay điều gì đó về Thiên Chúa và trần 
				gian, và cả về chính chúng ta – nghĩa là về cái gì là thật và 
				cái gì trao ban cho ta sự sáng. Vì thế, tôi đi tới nhận thức là 
				trong thời đại khủng hoảng này, một thời đại đạt được nhiều chân 
				lí trong khoa học tự nhiên, nhưng đồng thời lại đẩy các vấn nạn 
				nhân sinh vào vòng chủ quan, chuyện đi tìm chân lí, và cả việc 
				can đảm tuyên xưng nó, lại càng trở nên khẩn thiết. Vì thế, câu 
				tôi chọn nói lên phần nào trách nhiệm của một linh mục và một 
				nhà thần học, họ cần cố gắng, trong khiêm tốn và trong nhận thức 
				về khả năng hữu hạn của mình, trở nên những người thợ của chân 
				lí.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">CON THIÊN 
				CHÚA</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Trên 
				đường rao giảng từ vùng này qua xóm khác, có lần &nbsp;Đức Giê-su 
				bỗng hỏi các môn đệ: „Người ta bảo Con Người là ai?“ Họ trả lời: 
				„Có người bảo Thầy là Gio-an tẩy giả, có người bảo là Ê-li-a, 
				Giê-rê-mi-a hay một tiên tri nào khác“. „Còn anh em bảo Thầy là 
				ai?“ Phê-rô trả lời: „Thầy là người được xức dầu, Con của Thiên 
				Chúa hằng sống“.&nbsp; Đức Giê-su khoan khoái bảo: „Phúc cho anh, này 
				Phê-rô con nhà Si-mon Ba-gio-na; vì không phải xác thịt hay máu 
				huyết, nhưng là Cha thầy trên trời đã tỏ cho anh biết điều đó“.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong câu chuyện này 
				có một điểm khác biệt rõ ràng và quan trọng: Thiên hạ bảo Ngài 
				là ai – và anh em bảo Thầy là ai? &nbsp;Đức Giê-su ám chỉ có hai cách 
				nhận ra Ngài. Những người có lẽ một lần nào đó đã thấy được phép 
				lạ hay đã nghe Ngài giảng, thường cho rằng Ngài là một vĩ nhân 
				trong lịch sử tôn giáo.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Điều này ngày nay vẫn 
				đúng. Người ta muốn xếp Ngài vào một loại nhân vật nổi tiếng nào 
				đó. Chẳng hạn triết gia Karl Jaspers</span><a href="http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=533&ict=7122#_ftn3"><span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">[3]</span></a><span style="font-size: 12.0pt" lang="VI"> 
				bảo Ngài là một trong những vị dẫn đường cho thiên hạ; kẻ khác 
				lại bảo Ngài là một trong những tiên tri lớn hay là một vị giáo 
				tổ. &nbsp;Đức Giê-su nói đó là nhận thức của những kẻ chỉ biết Ngài 
				qua trung gian người khác. Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai? Có 
				nghĩa là những kẻ biết Ngài từ trong tâm hồn bảo Ngài là ai?</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Theo Lu-ca, cảnh trên 
				có liên quan với chuyện cầu nguyện của &nbsp;Đức Giê-su. Qua đó, 
				Lu-ca cho thấy rõ : những ai biết nét đặc thù của Ngài, biết 
				Ngài từ đáy sâu tâm hồn, và biết Ngài qua trao đổi giữa Ngài với 
				Cha Ngài, những người đó mới thực sự biết Ngài. Có như thế, họ 
				mới bước được ra khỏi khuôn mẫu thường tình, và khám phá ra đặc 
				tính duy nhất và có một không hai của khuôn mặt kia: đó là đấng 
				được xức dầu của Chúa, là Con của Thiên Chúa hằng sống. Cảnh này 
				được ba thánh sử trình bày cách khác nhau, nhưng đó chính là mốc 
				khởi đầu của đức tin Ki-tô giáo. Có thể nói, Phê-rô là người 
				xướng đầu lời tuyên tín đó, và vì vậy ngài cũng được giao một 
				trọng trách đặc biệt.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Các bậc 
				thầy của Hội thánh nói về &nbsp;Đức Giê-su: „Thiên Chúa từ Thiên 
				Chúa, ánh sáng từ ánh sáng, Thiên Chúa thật từ Thiên Chúa thật, 
				đồng một bản thể với Cha“</span><span style="font-size: 12.0pt; color: navy" lang="VI">.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có so sánh ba Tin 
				Mừng, ta mới thấy được sự lớn lên từ từ của lời tuyên tín, và 
				thấy được việc nó cắm rễ theo tiến trình kinh nghiệm của các môn 
				đồ và của đức tin. Thoạt tiên, ta đọc được nơi Mác-cô: „Thầy là 
				người được xức dầu“; rồi ở Lu-ca: „người được xức dầu của Thiên 
				Chúa“; rồi tới Mát-thêu: „người được xức dầu, Con của Thiên Chúa 
				hằng sống“.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Điều đó muốn nói lên 
				gì? Nó từ từ cho thấy &nbsp;Đức Giê-su không chỉ là một người được 
				xức dầu, như vị mà dân Do-thái đang trông chờ, nhưng trong Ngài 
				hai điểm trông chờ đã qui vào làm một. Một đàng, người ta trông 
				chờ một Đa-vít mới hay một Mai-sen mới, là vị vua tối cao, vị ra 
				luật lớn, là bạn và là người môi giới của Chúa, như Đa-vít và 
				Mai-sen xưa đã làm. Đàng khác, người ta trông đợi chính Thiên 
				Chúa sẽ hành động và đưa tay ra nắm lấy vận mệnh của thế giới. 
				Hai nỗi chờ mong trên đã nhập vào nhau trong Đức Ki-tô. Ngài là 
				một con người, nhưng chính Chúa đã bước vào trong con người đó.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Mệnh đề „Con Thiên 
				Chúa, ánh sáng từ ánh sáng, Thiên Chúa thật từ Thiên Chúa thật, 
				được sinh ra mà không phải tạo thành“, là kết quả của tất cả 
				những gặp gỡ với &nbsp;Đức Giê-su, bắt đầu từ bài giảng ở Ga-li-lê, 
				qua sứ điệp của Ngài, qua phiên toà của người Do-thái, trong đó 
				Ngài trả lời câu hỏi có phải mình thật là Thiên Chúa không, qua 
				thập giá cho tới qua những cuộc gặp gỡ với &nbsp;Đấng Phục Sinh. Ngay 
				các vị đầu lãnh Do-thái cũng đã ngửi được việc Ngài tự xưng mình 
				là Chúa là một điều gì vượt quá con người, nên họ cho đó – có lẽ 
				họ phải cho đó - là phạm thượng. Và như vậy thì họ đã hiểu Ngài 
				đúng. &nbsp;Đức Giê-su cũng đã bảo là họ nói đúng. Ngài bảo, vâng, 
				tôi là kẻ đúng như các ông nói! </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">BA NGÔI</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nước 
				Ái-nhĩ-lan (Irland) dùng chiếc lá có ba khía làm biểu tượng cho 
				quốc gia, bởi vì ngày xưa thánh Patrick</span></i></b><a href="http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=533&ict=7122#_ftn4"><b><i><span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">[4]</span></i></b></a><b><i><span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="FR">
				</span><span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">
				dùng lá đó để cắt nghĩa về Chúa ba ngôi. Đối với một người 
				thường, hay ít nhất không phải là dân Ái-nhĩ-lan, thì điều này 
				quả khó hiểu: Cha, Con và rồi thêm một Thánh Thần nữa – ba vị, 
				nhưng lại vẫn là một bản thể. Và chuyện lại càng rắc rối hơn đối 
				với các thánh. Hoạ sĩ Pinturicchio có một bức hoạ, trên đó ông 
				vẽ một giám mục ngồi bên bờ biển, giơ hai tay lên trời như vẻ 
				thắc mắc, mắt như nhìn vào quãng không. Tên bức hình: „Thánh 
				An-tịnh ngồi bên bờ biển suy tư về mầu nhiệm ba ngôi“. Có phải 
				giáo lýba ngôi chỉ là kết quả của một phỏng đoán về Thiên Chúa?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi muốn dừng lại một 
				lát nơi thánh An-tịnh. Trên huy hiệu của tôi có in hình vỏ sò 
				nói lên câu chuyện bên bờ biển của ngài. Tôi làm thế, để nói lên 
				khuynh hướng muốn theo gương An-tịnh của tôi.&nbsp;</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thánh An-tịnh đã viết 
				cuốn sách dày về ba ngôi, đó là cả một cuộc vật lộn tri thức, 
				nhưng cuối cùng chính ngài cũng phải nhận rằng mình thất bại. Từ 
				cuộc vật lộn đó, nẩy sinh truyền tụng về chuyện ngài gặp một chú 
				bé bên bờ biển đang lấy tay moi một cái lỗ trên cát, và cầm vỏ 
				sò múc nước biển đổ vào lỗ.&nbsp;Nhìn thấy cảnh đó, ngài chợt nghĩ: 
				Làm sao đổ hết nước biển vào lỗ đó được, làm sao trí tuệ hạn hữu 
				của mình lại có thể hiểu được hết bí mật của Thiên Chúa. Tôi tin 
				rằng câu chuyện trên là một diễn tả rất đúng về sự hữu hạn của 
				ta. Đại dương làm sao đổ vào được trí tuệ vỏ sò của ta, cho dù 
				trí tuệ đó được căng lớn ra. Ta không thể hiểu được tất cả những 
				gì khác của Thiên chúa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không phải chỉ người 
				thường, mà cả bậc thông minh xuất chúng, cũng không thể hiểu 
				được bí ẩn này: Thiên Chúa thật ra là một, nhưng Ngài lại ở 
				trong ba người, Ngài hiện hữu trong tương quan tình yêu tay ba 
				này, chuyện quả thật không thể giải nổi. Điểm quan trọng cần 
				nhớ, là Ki-tô giáo vững tin vào hai điều này: Thiên Chúa là đấng 
				duy nhất và là một hợp nhất tối cao. Nhưng rồi sự hợp nhất tối 
				cao này không còn là hợp nhất của những cái bất khả phân, nhưng 
				là sự hợp nhất được hình thành qua đối thoại tình yêu. Thiên 
				Chúa, đấng duy nhất, đồng thời cũng là một tương quan với chính 
				Ngài, và vì vậy Ngài cũng có thể tạo ra tương quan. Một cách nào 
				đó, chúng ta thấy đây là điểm hợp lí, mặc dầu ta không lí giải 
				được.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Như vậy 
				giáo lýba ngôi từ đâu mà có?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Qua sự tiếp cận với 
				Đức Ki-tô. Qua sự kiện Ngài gọi Thiên Chúa là <i>Cha</i> và tự 
				xưng mình là <i>Con</i> - Đức Ki-tô không tự xưng mình là „một 
				Con Thiên Chúa“ –, qua việc Ngài tỏ ra mình với Thiên Chúa là 
				một.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Từ hệ quả đó nẩy ra 
				nhiều câu hỏi: Như vậy nghĩa là thế nào? Phải chăng Đức Ki-tô là
				<i>một </i>Thiên Chúa? Có hai Thiên Chúa? Đức Kitô là một ai 
				hoàn toàn khác? Phải chăng Ngài đã tự nâng mình cao quá lẽ? 
				Những điều Ngài nói có thật là chân lí không? Cứ như thế. Nhưng 
				có một điểm mốc giúp ta hiểu được điều trên là cuộc đối thoại 
				giữa Ngài với Cha Ngài, và từ cuộc đối thoại đó, có thêm yêu 
				sách của Ngài đối với người nghe. Nhờ đó, một đàng ta nhận ra sự 
				bình đẳng, tính hợp nhất và bản tính thiên chúa trong sự duy 
				nhất của Thiên Chúa, đàng khác ta cũng nhận ra được sự khác 
				biệt, sự phân biệt. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thêm nữa, chính Đức 
				Ki-tô còn nói đến tinh thần của Cha, mà đồng thời cũng là tinh 
				thần của Ngài. Đã có hai vị là Cha và Con rồi, giờ thêm một vị 
				nữa, Thánh Thần, quả lại càng thêm khó hiểu. Đức Ki-tô là một 
				nhân vật ta có thể khả giác được. Thánh Thần có thể nói hiện hữu 
				như là một tác động, chứ như là một người thì quả khó hiểu đối 
				với ta. Vì thế mà đã có những tranh luận dài dài về bản tính 
				người của Ngài. Nhưng nếu Đức Ki-tô nói về Tinh (Thánh) thần như 
				là một trạng sư, một vị an ủi (Parakleten) mà Ngài ban tặng cho 
				ta, thì như vậy rõ ràng Ngài và Tinh thần đó cùng thuộc vào một 
				cấp ngang nhau, và như vậy rõ ràng bản chất tương quan trong 
				Thiên Chúa này được thể hiện qua ba ngôi vị : Cha - Con - Thánh 
				Thần. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thần học đã luôn tìm 
				cách diễn tả một cách ấn tượng sự phù hợp nội tâm đó, với lí 
				luận rằng, chỉ có ba ngôi vị mới tạo ra được tương quan đầy đủ 
				nhất. Ở đây, các nhà thần học đã cho ta một phương tiện suy tư 
				nền tảng, để giúp trí óc ao tù của ta có thể mường tượng được 
				chút gì về đại dương bao la. Như vậy, điều quan trọng là giáo 
				lýba ngôi không phải do ai nghĩ ra, mà đó là kết quả của kinh 
				nghiệm. Nó hình thành từ việc gặp gỡ lời nói và việc làm của Đức 
				Ki-tô, và đã được diễn tả ra dần dần qua quá trình suy tư và 
				lòng tin vào những lời nói và việc làm đó. Ở đây, ta cũng nên 
				nhớ, là nghi thức rửa tội khởi đầu bằng câu: Tôi rửa … nhân danh 
				Cha, Con và Thánh Thần. Công thức này khởi đi từ sứ mạng của 
				chính &nbsp;Đấng Phục Sinh. Cho dù ta chưa nắm được chiều sâu của câu 
				này, nhưng nó ngay từ đầu đã ấn dấu lên cấu trúc của việc cầu 
				nguyện và của đức tin Ki-tô giáo.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tại sao Bạn không cướp 
				nhà băng, nếu Bạn biết chắc sẽ không bị bắt? Do đâu Bạn tin chắc 
				rằng, rồi đây trên giường bệnh Bạn sẽ không bị người ta chích 
				thuốc cho chết? Có thể trường hợp bệnh lí rắc rối của Bạn sẽ tạo 
				ra quá nhiều tốn kém và khó nhọc cho việc chữa trị và chăm sóc, 
				và vì thế xã hội sẽ không lo xuể. Tại sao người ta không vứt xác 
				chết vào bãi rác và dẹp nghĩa trang đi để xây nhà trẻ? Do đâu 
				Bạn biết chồng Bạn trung thành? Do đâu Bạn biết bào thai vợ đang 
				mang là con của Bạn? Và đây là câu hỏi nghiêm chỉnh: Cái gì minh 
				chứng cho sự hiện hữu hay không hiện hữu của Thiên Chúa? Là vì 
				“nếu không có Thiên Chúa, thì mọi chuyện đều được phép làm” 
				(Dostoiewski, Anh em nhà Karamazov). Hay không phải vậy?</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Một cuốn sách viết về 
				Thiên Chúa, muốn được con người thời nay nghiêm chỉnh đón nhận, 
				phải nêu bật lên được những câu hỏi từ cuộc sống cụ thể, những 
				câu hỏi mà bất cứ một anh, một chị, một em bé nào cũng phải đối 
				diện. Bởi vì rõ ràng: Ai thật sự tin Chúa, người đó sống khác 
				hơn kẻ không tin Chúa. Tuy vậy, con người vẫn chẳng bao giờ sống 
				và nghĩ cho đến nơi đến chốn. Những người vô thần nướng thời giờ 
				quý báu cho những suy tư vô lí, và họ sống đôi khi như là có 
				Thiên Chúa thật. Còn kẻ tin vào Thiên Chúa thì sống hoang phí đa 
				phần thời gian đời mình như là chẳng có Thiên Chúa. Nếu chúng ta 
				tin rằng, mỗi thời khắc cuộc sống qua đi sẽ không bao giờ trở 
				lại, thì cuộc sống của cả hai hạng trên quả là bất hạnh. Người 
				ta tiêu phí thời gian cuộc sống bất khả hồi cho một Thiên Chúa 
				không hề có; hay hoàn toàn ngược lại, người ta đã để mất cơ hội 
				sống mà lẽ ra phải dùng nó để chuẩn bị cho sự sống đời đời bên 
				Chúa. (THIÊN CHÚA, Manfred Lutz, Dẫn Nhập)</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">LẠY CHA 
				CHÚNG CON</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">« Kinh 
				Lạy Cha“ là lời cầu duy nhất Đức Ki-tô đã dạy cho môn đệ, và từ 
				2000 năm nay, kinh này là phần không thể thiếu trong thánh lễ. 
				Kinh này – cũng như kinh tin kính, như các bộ tộc Is-ra-en, như 
				số các tông đồ và số hình sao trên trời – có tất cả 12 câu. Và 
				12 câu này lại gồm đúng 7 lời cầu. Hẳn phải có một bí ẩn lớn 
				trong đó?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có phải gồm 12 câu hay 
				không, tôi không biết. Và trong bản bằng tiếng Hi-lạp cũng có số 
				câu như vậy hay không, lại là một chuyện khác nữa. Nếu quả như 
				vậy, thì đây là một cấu trúc khá đặc biệt. Ta có hai kinh Lạy 
				Cha, một theo Lu-ca và một theo Mát-thêu. Quả thật hay, khi toàn 
				bộ nội dung và thứ tự mong ước được gói trọn trong bảy lời cầu, 
				và mỗi chữ đều mang một ý nghĩa sâu xa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chỉ một từ <i>Cha</i> 
				mà thôi, nói lên tương quan cha – con giữa Chúa và ta, đã đầy ắp 
				ý nghĩa rồi. Từ <i>chúng con</i> cũng quan trọng không kém. Con 
				cái Chúa không phải là „con“ đơn lẻ, mà là „chúng con“. Như thế, 
				cấu trúc lời kinh đó chứa đựng một kho tàng, mà ý nghĩa chỉ được 
				khám phá dần dần qua bao nhiêu thế kỉ. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Kinh Lạy 
				Cha chẳng bao giờ trở nên cổ hủ…</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không biết có bao 
				nhiêu tác giả đã viết về kinh đó, vì mỗi người có một cảm nhận 
				riêng. Vì thế, cũng như lời Chúa và kinh Tin kính, kinh này một 
				mặt mang một hình thù bất biến, nhưng mặt khác nó luôn mới, vì 
				là nguồn cho những cảm nghiệm bất tận, nó luôn đẩy ta đi tới. Ta 
				không bị trói vào quá khứ cứng đơ, nhưng kinh Lạy Cha là một 
				vùng đất đầy khám phá, trong đó chính mỗi người cũng có thể tìm 
				ra cho mình những điều mới.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tại sao 
				Giáo Hội cầu kinh đó hàng ngày trong thánh lễ? Phải chăng vì đó 
				là lời kinh do Đức Ki-tô dạy?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có lẽ chỉ một lí do đó 
				thôi cũng đã đủ rồi. Đó là lời kinh nguồn cội, mà ta cùng Đức 
				Ki-tô cầu nguyện nhiều nhất và đúng đắn nhất. Đại giáo chủ 
				Grê-gô-ri-ô viết trong một lá thư, kinh Lạy Cha trong thánh lễ 
				mang tầm quan trọng nền tảng, vì rốt cuộc đó là kinh do chính 
				Đức Ki-tô dạy. Ngài nói thêm, kinh đó cao trọng hơn bất cứ một 
				kinh nào do con người lập, và cũng quan trọng hơn những lời kinh 
				phụng vụ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Một chỗ 
				trong kinh Lạy Cha: “và đừng dẫn chúng con vào chước cám dỗ”. 
				Tại sao một Thiên Chúa nhân từ lại muốn cho chúng ta sa chước 
				cám dỗ? Có phải đây là một lỗi dịch thuật? Sư huynh Roger, người 
				sáng lập phong trào Taizé, một cộng đoàn đại kết ở Pháp, đề nghị 
				nên cầu như vầy: “và đừng để chúng con sa chước cám dỗ”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Người ta đã thắc mắc 
				nhiều về chuyện trên. Tôi biết, thủ tướng Đức Adenauer đã ép 
				Hồng Y Frings phải xét lại câu đó. Chúng tôi vẫn luôn nhận được 
				thư đề nghị nên đổi theo hướng trên. Dịch đúng chữ phải là “đừng 
				dẫn chúng con vào chước cám dỗ”. Đâu là ý nghĩa của câu này?</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Những người cầu xin 
				biết rằng Chúa chẳng ép mình vào đường xấu. Ở đây, có thể nói họ 
				khẩn cầu Ngài đi với họ trong cơn cám dỗ. Thư thánh Gia-cô-bê 
				nói rõ, Thiên Chúa trắng ngần không một vết nhơ chẳng cám dỗ ai 
				cả. Nhưng Chúa có thể thử thách chúng ta – như trường hợp 
				Ab-ra-ham - để chúng ta trưởng thành hơn, để chúng ta đối diện 
				với hố thẳm của mình, và để rồi lại đưa ta về bên Ngài. Như vậy, 
				chữ “cám dỗ” cũng có nhiều tầng ý nghĩa. Rõ ràng Chúa chẳng bao 
				giờ dẫn ta vào đường xấu. Nhưng có thể Ngài không cất đi khỏi ta 
				những cám dỗ, Ngài muốn giúp và dẫn ta, như đã nói, qua thử 
				thách. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ta cầu Ngài đừng để ta 
				sa chước cám dỗ, đừng để ta đi vào đường xấu, đừng thử thách ta 
				quá sức; cầu Ngài ra tay giúp đỡ sự yếu hèn của ta, để ta khỏi 
				mất Ngài.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nghĩa là 
				vẫn để nguyên câu đó?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Theo tôi nên để 
				nguyên. Mà cũng không có việc nghiêm cấm chuyện dịch theo các 
				lời đề nghị như kiểu của sư huynh Roger Schütz. Tuy nhiên, theo 
				tôi, vì lòng khiêm tốn, cứ để nguyên như vậy và gắng đi vào 
				chiều sâu của lời kinh thì tốt hơn.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">NGUYÊN TẮC 
				CHA – CON</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">&nbsp;“Không 
				ai biết Con hơn Cha, và không ai biết Cha hơn Con”, thánh sử 
				Mat-thêu viết như thế. Rõ ràng tính cách Cha của Thiên Chúa cũng 
				giống như một thứ chìa khoá giúp ta hiểu về các thế hệ hoặc về 
				sự trở thành và sự qua đi. Các tông đồ bảo Chúa Cha là “nguồn và 
				cùng đích mọi sự”, chỉ có trong Ngài ta mới hiểu được chính 
				mình. Phải chăng quan hệ này, một cách nào đó, đã được khắc sâu 
				vào cuộc sống như một nguyên tắc?&nbsp;</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước hết, điều có lẽ 
				quan trọng với tôi, là phải làm sao nêu bật lên nét đặc thù của 
				quan hệ Cha – Con thật đặc biệt này. Câu “không ai biết Cha 
				ngoài Con, không ai biết Con ngoài Cha” trước hết nói lên một 
				quy luật nhận thức tổng quát. Câu đó có í nói rằng chỉ có những 
				gì giống nhau mới nhận ra nhau. Không thể nhận ra Chúa, nếu 
				không có sự tương đồng nội tâm với Ngài. Thật ra, chỉ có Chúa 
				mới có thể nhận ra Ngài mà thôi. Con người được phép nhận ra 
				Chúa, chỉ khi họ được Chúa đưa vào một quan hệ thân thuộc với 
				Ngài, và khi nơi con người có được nhiều tương đồng với Ngài 
				giúp họ có thể nhận ra Ngài. Và &nbsp;Đức Giê-su nói tiếp: “Không ai 
				có thể nhận ra, ngoài kẻ mà Cha muốn mạc khải cho”. Nói cách 
				khác: Nhận thức chỉ xẩy ra khi cả hai đều muốn.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Phải 
				chăng quan hệ Cha – Con [của Chúa] cũng không phải là một mối 
				liên hệ tiêu biểu cho cuộc sống con người?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có thể nói được đó là 
				một quan hệ tiêu biểu. Trước hết, đó chỉ là một thứ khung ngôn 
				ngữ và suy tư, một chút hé mở từ xa nhằm giúp ta hiểu được một 
				chút về Thiên Chúa – mà vẫn luôn biết rằng, như công đồng 
				Laterano thứ 4 nói, giữa ta với Chúa cái khác nhiều hơn gấp bội 
				lần tất cả những cái giống. Nhưng mặt khác, có lẽ không thể dùng 
				quan hệ Cha – Con làm hình ảnh tương đồng giúp ta hiểu từ xa cái 
				bí ẩn bên trong của Chúa, nếu như trong quan hệ đó không ẩn chứa 
				một vết tích nào của Thiên Chúa. Quan hệ Cha – Con đặc biệt này 
				là một mối quan hệ uyên nguyên của con người. Đây là một quan hệ 
				cho đi, nhận vào và trao trả lại. Nếu ta bắt đầu từ đây cứ triết 
				lí tiếp, tất nhiên ta sẽ đề cập tới toàn bộ câu hỏi về gia đình 
				nhân loại, và như thế chắc chắn ta sẽ gặp phải giới hạn. Nhưng 
				đúng là ngón trỏ bàn tay ta có thể vươn lên trời được bao nhiêu, 
				thì quan hệ rất đặc biệt kia cũng vươn xa được tới đó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thời đại 
				tân tiến ngày nay đang gặp khủng hoảng về vai trò làm cha. Một 
				khi vai trò làm cha mất, ý niệmquyền uy cũng đổ theo. Và xem ra 
				một số lớn kiến thức cũ cũng mất hoặc bị gạt bỏ đi một cách oan 
				uổng. Xem ra, một cách nào đó, người ta không còn dễ dàng tin 
				vào những gì lưu truyền. Làm như thế, nói một cách bóng bẩy, là 
				người ta hất luôn cả đứa con khi đổ chậu nước tắm.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Lời xưa 
				có viết, Thiên Chúa đã trao cho các bậc làm cha một sứ mạng. Và 
				quả thật, xưa nay việc chuyển tiếp gia sản đã diễn ra trong quan 
				hệ cha con; việc chuyển tiếp này hầu như luôn là một diễn tiến 
				căng thẳng, một cuộc chiến đấu, trong đó một phía phải được 
				thuần hoá và được lãnh đạo, trong đó cần có phản kháng để mới 
				lớn lên được.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhà tâm 
				lí Erich Fromm đã có lần phân biệt tình cha và tình mẹ như thế 
				này: Tình mẹ, theo ông, là đương nhiên. Tình đó được trao tặng 
				cho người khác. Nó gần như là một thứ tình đui mù. Và tình này 
				không đòi hỏi một bổn phận luân lí nào. Tình cha, trái lại, là 
				một tình yêu có điều kiện. Đó là một tình yêu người ta có thể 
				sinh lợi cho mình, nếu họ cố gắng sống theo quy luật.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đó là những vấn nạn 
				thâm sâu về mặt nhân chủng. Việc chuyển tiếp đời sống, khôn 
				ngoan và kinh nghiệm xẩy ra như thế nào? Những quan hệ nguồn cội 
				giữa cha mẹ và con cái, giữa cha với con trai, giữa mẹ với con 
				gái hệ tại ở đâu? Chúng nói cho ta biết cái gì về bí ẩn Thiên 
				Chúa, cái gì không? Trước hết, một lần nữa, tôi muốn nhấn mạnh 
				rằng, có một chuỗi bất tận cái không giống trong tương quan giữa 
				ta với Chúa, rằng có cái giống nhưng lại xuất hiện hoàn toàn 
				khác, và vì vậy ta phải vô cùng thận trọng trong việc dùng các 
				hình ảnh tương đồng và trong những ứng dụng. Càng hiểu về con 
				người, về quan hệ cha với con trai, về tương quan mẹ với con, ta 
				càng nhờ đó có thể hiểu thêm chút gì về Thiên Chúa. Chẳng hạn 
				như ta sẽ hiểu rằng Thiên Chúa cũng có một mối tình mẹ con với 
				ta, cho dù – như đã nói – ta không dùng chữ “mẹ” đối với Ngài 
				trong lời cầu kinh.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Về quan điểm của Erich 
				Fromm mà tôi quả không biết, tôi thấy rất hay và đáng suy gẫm. 
				Nhưng phải nói ngay, tôi không đồng í với tất cả những điều anh 
				nêu. Tôi nghĩ rằng tình mẹ trước hết là một mối tình tự nhiên - 
				là vì bà mang con trong lòng, đó là máu thịt của bà -, nhưng đó 
				không chỉ là sự thiết thân hay tình yêu do quy luật sinh lí mà 
				thôi. Bà còn có trách nhiệm cung cấp cho con mình cả thể lí lẫn 
				tình yêu để nó có thể thành người.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi tin rằng trong đó 
				đã có sẵn một yêu sách đạo đức rồi. Làm mẹ chẳng bao giờ chỉ là 
				một diễn tiến thuần sinh lí, nhưng đó cũng là một diễn tiến tinh 
				thần.&nbsp;Mẹ mang con trong lòng, sinh nó ra và phải trải qua một 
				quá trình cọ xát tinh thần với con. Đây là một quá trình có 
				sự&nbsp;tham gia toàn bộ con người của mẹ. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Quan hệ giữa cha và 
				con trai rõ ràng khác và rắc rối hơn. Một nhà thần học đã nói, 
				ngày nay ta phải thay chuyện người con đi hoang bằng chuyện các 
				người cha đi hoang. Cha thường bỏ hết thì giờ cho nghề nghiệp và 
				công việc, hơn là &nbsp;để ý tới con, thường nghĩ tới năng xuất nhiều 
				hơn là nghĩ tới tặng phẩm Trời cho và tới những bổn phận mình 
				phải có đối với tặng phẩm đó. Nhưng mất vai trò cha cũng có 
				nghĩa là con bị thiệt hại. Nhìn vào các thần thoại ngoại giáo, 
				chẳng hạn trong câu chuyện về thần Zeus, ta thấy quan hệ ở đây 
				được trình bày như là bất thường, bất nhất và độc đoán: Người 
				cha ở đây tuy có sức mạnh và uy quyền, nhưng thiếu trách nhiệm 
				cần thiết, ông dùng quyền nhiều hơn lí và tình. Còn người cha 
				trong Cựu Ước thì khác hẳn, nhất là người cha trong dụ ngôn của 
				&nbsp;Đức Giê-su lại càng khác: Ở đây có sự đồng cân giữa quyền và 
				trách nhiệm, vừa có lí có tình, quan hệ đặt trên niềm tin chứ 
				không trên sợ hãi. Thiên Chúa là cha có nghĩa là Ngài hướng đến 
				ta, đón nhận ta vào lòng Ngài, khiến ta có thể lấy tình yêu con 
				cái mà đối xử với Ngài. Thiên Chúa là cha có nghĩa là Ngài đề ra 
				khuôn thước và cũng sửa phạt ta một cách khắt khe, nhưng khắt 
				khe đó đồng nghĩa với yêu thương và luôn đặt nền trên tha thứ. 
				Câu chuyện người con đi hoang trong Tân Ước qua lời kể của &nbsp;Đức 
				Giê-su có lẽ cũng là một hình ảnh đánh động nhất về tư cách làm 
				cha của Thiên Chúa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu chuyện đó, như 
				vậy, trở thành khuôn thước cho vai trò làm cha của ta, để ta tu 
				chỉnh theo nó. Hình ảnh Thiên Chúa là Cha trong Kinh Thánh không 
				phải là để cho ta phóng chiếu nhìn lên, nhưng ngược lại: Từ trên 
				cao Ngài nói xuống cho ta biết vai trò làm cha thật sự ra sao, 
				và ta có thể và nên đóng vai trò đó như thế nào với nhau.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<a name="4._SỰ_SỐNG_">
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red">4</span><span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">. 
				SỰ SỐNG</span></a></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: navy" lang="VI">Tôi tin 
				ai cũng muốn biết cuộc sống rồi sẽ ra sao, nó diễn tiến như thế 
				nào, phải sống ra sao cho đúng, và làm sao để có được một cảm 
				giác thật tốt về nó. Cary Grant, một nghệ sĩ nổi tiếng, trước 
				khi chết đã để lại cho con gái Jennifer một lá thư tuyệt mạng 
				thật cảm động. Trong đó, ông còn muốn khuyên con gái một vài 
				điều về cuộc sống. Ông viết: „Jennifer rất yêu dấu của Ba, hãy 
				sống đầy đủ cuộc đời con, đừng vị kỉ. Hãy mực thước, kính trọng 
				nỗ lực của kẻ khác. Hãy cố gắng làm điều tốt nhất và có được tư 
				cách tốt. Hãy giữ cho đầu óc thanh khiết và có lối cư xử trong 
				sáng“. Ông tiếp: „Hãy cám ơn những khuôn mặt tốt con gặp và tình 
				yêu ngọt ngào đàng sau đôi mắt của họ… cám ơn những bông hoa đùa 
				vui trong gió … Chỉ một giấc ngủ ngắn thôi rồi Ba sẽ thức giấc 
				ngàn thu. Nếu Ba không thức dậy, thức dậy như ta vẫn hiểu, thì 
				Ba sẽ tiếp tục sống mãi trong con gái yêu dấu của Ba“. Nghe có 
				vẻ công giáo quá nhỉ.</span></i></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Một bức thư tuyệt đẹp. 
				Còn có công giáo hay không thì tôi không biết. Đó là lời nói của 
				một người đã trở nên chín chắn, và đã có được cảm quan về cái 
				thiện và cố gắng trao nó đi tiếp, và bằng một cung cách thân 
				thiện tuyệt vời.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">SỰ SỐNG 
				CON NGƯỜI</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nếu đứng 
				từ thật xa mà nhìn cuộc sống -&nbsp;thì nó trông ra sao? Phải chăng 
				đó là một cái gì hơn là một trò chơi bắt buộc? Một chiếc lông 
				đong đưa trong gió? Phải chăng cuộc sống lệ thuộc vào bản năng, 
				bạo lực, gốc gác của một con người, lệ thuộc vào nốt chích của 
				một chú muỗi sốt rét có thể đẩy nó ra khỏi quỹ đạo cuộc sống? 
				Hay lí lịch của tất cả chúng ta đều đã được xác định từ lâu? Đời 
				tôi là một thứ bản đồ dẫn đường mà Thiên Chúa vô lường từ lâu đã 
				viết vào trong cuốn Sách Đời bí mật của Ngài? Hoạ sĩ 
				Michelangelo nói như thế này: „Hình đã nằm sẵn từ lâu trong đá. 
				Tôi chỉ đẽo bớt đi những gì thừa thãi mà thôi“.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Anh đã gom vào câu hỏi 
				đó một chương trình phong phú. Tôi tin rằng, khi ta hỏi „Cuộc 
				sống là gì?“, thì điều quan trọng trước hết là mình phải nhìn ra 
				sự phức tạp của ý niệmđó.&nbsp;</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước hết, cuộc sống 
				là một cái gì thuộc sinh học. Nó thoát thai từ vô cơ và rồi diễn 
				tả một cấp độ mới của thực tại. Một trong những dấu chỉ chính 
				nói lên sự có mặt của sự sống là khả năng tự sinh sản và tự điều 
				hành của một guồng máy, nhưng đây không hẳn là một cỗ máy, mà là 
				một cơ phận. Như vậy, ta có trước hết là lớp sinh vật, lớp này 
				khởi đi từ một đơn bào rồi càng ngày càng phát triển lên thành 
				những hình thái cao hơn, phức tạp hơn, để trở nên càng lúc càng 
				lạ lùng, nhiệm mầu và phong phú hơn. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nơi con người có thêm 
				một lớp mới khác. Đó là tinh thần, sống động và là sự sống. Tinh 
				thần tan hoà vào cơ thể sinh vật và qua đó trao cho đời sống một 
				chiều kích mới.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngoài ra, đức tin 
				Ki-tô giáo xác tín rằng chúng ta còn có thêm một lớp nữa, lớp 
				này hình thành qua sự gặp gỡ giữa ta với Đức Ki-tô. Ta có thể 
				thấy trước được lớp này qua tình yêu con người: Mỗi khi được 
				yêu, trước sự hiện diện của người yêu, ta thấy có thêm một chiều 
				kích mới đi vào động lực tinh thần ta. Điều như thế cũng xẩy ra, 
				khi tôi được chính Thiên Chúa qua Đức Ki-tô đoái nhìn, và qua đó 
				Ngài biến cuộc sống tôi trở thành song hành với chính cuộc sống 
				sáng tạo của Ngài.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Như vậy, 
				sự sống mang nhiều cấp. </span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Và cuộc sống vươn tới 
				cấp cao nhất, khi cùng sống với Chúa. Đây cũng chính là nơi tiềm 
				ẩn sự phiêu lưu liều lĩnh của con người. Con người có thể và nên 
				là sự tổng hợp của toàn thể toà nhà nhiều tầng đó. Nó có thể và 
				nên vươn tới Thiên Chúa hằng sống và trao lại cho Ngài những gì 
				đã nhận được từ Ngài, sau khi đã uốn nắn chúng theo cách thế của 
				ta. Nhưng, như chúng ta đã nói, yếu tố tự do đã đi vào động năng 
				cuộc sống mỗi người, và yếu tố này đối kháng lại toàn bộ sự tiền 
				định.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Theo hình ảnh Thiên 
				Chúa Ki-tô giáo, cuộc sống không có một quy định cứng nhắc. Bởi 
				vì Thiên Chúa quá vĩ đại và quá toàn năng trên tất cả, vì bản 
				chất của Ngài quá yêu tự do, nên Ngài không thể và không muốn 
				lèo lái cuộc sống con người một cách tuỳ thích. Mà dù cuộc sống 
				này vẫn luôn được Ngài bảo bọc và nâng niu trong hai bàn tay 
				Ngài, thì yếu tố tự do kia vẫn có chỗ đứng rõ ràng. Tự do này mở 
				rộng tới mức con người có thể phá đổ toàn bộ kế hoạch của Chúa. 
				Quan trọng là cuộc sống phải được diễn ra trong những lớp khác 
				nhau đó. Nhờ các lớp bên trên mà cuối cùng con người vượt qua 
				được sự chết để tiến vào vĩnh cửu. Lại nữa, trên thực tế, cái 
				chết là thân phận cần có của tất cả mọi sự sống thuần hữu cơ.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nếu tôi 
				có tự do thật, thì làm sao tôi có thể làm chủ được cuộc sống 
				mình, làm sao tôi có thể lái đời mình vượt qua được những bến 
				đỗ, những đoạn đường, những ngã rẽ quan trọng trong đời? Khi nào 
				được gọi là thành công trên đường đời? Giáo huấn Đức Ki-tô có 
				giúp tôi xác định được điều đó không? Cuộc đời tôi phải giống 
				như của mẹ Tê-rê-xa ở Calcutta?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Mẹ Tê-rê-xa chỉ là một 
				mẫu mực. Nhưng khi nhìn vào cuộc đời các thánh lớn, hay nhìn vào 
				các nhân vật có cuộc sống thành công, ta thấy ơn gọi rất khác 
				nhau. Không phải ai cũng phải là mẹ Tê-rê-xa. Một nhà khoa học 
				nổi danh, một học giả cao kiến, một nhạc sĩ, hay một người thợ 
				thủ công, hay người làm công bình thường cũng có thể có một cuộc 
				sống thành toại, họ sống đời mình một cách khiêm tốn, trung 
				thành và ngay thẳng…</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue">Nghe ra hơi lỗi 
				thời…</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có thể như vậy, nhưng 
				người ta tìm gặp trong đó một cuộc sống tràn đầy, dù là hôm qua, 
				hôm nay hay ngày mai. Mỗi cuộc sống có ơn gọi riêng. Nó có ẩn số 
				riêng và con đường riêng. Không cuộc đời nào là thuần bắt chước, 
				tung tăng bước ra từ một chuỗi giống nhau. Và mỗi người cũng cần 
				can đảm sống đời mình một cách sáng tạo mà chẳng cần bắt chước 
				ai. Nếu anh nhìn vào dụ ngôn anh lười, hắn ta chôn tài năng mình 
				để khỏi bị sứt mẻ, thì anh sẽ thấy điều tôi muốn nói trong đó. 
				Hắn ta là người không muốn liều lĩnh sống và làm triển nở cuộc 
				đời độc đáo riêng của mình; không muốn trực diện với những nguy 
				cơ cần có trong cuộc sống.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong ý nghĩa đó, có 
				nhiều loại ơn gọi. Tôi đã nói trong cuốn “Muối Cho Đời” của 
				chúng ta, là có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu con đường tới 
				Chúa. Ở đây phải thêm: Có bao nhiêu con người thì có bấy nhiêu 
				con đường để sống thành toại.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Như vậy, 
				có thể nói, con người là một lực sáng tạo trống rỗng?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không, tất cả điều đó 
				không có nghĩa là ta bị thẩy vào đại dương vô định mà chẳng hiểu 
				tại sao, như Sartre nói, chẳng hạn. Sartre cho rằng, tự do là 
				điều đáng nguyền rủa. Con bò không cần suy tư về số phận trâu bò 
				của mình, nhưng con người phải tìm cho chính mình lẽ sống. Dù 
				vậy, con người cũng không phải bị thẩy vào cuộc sống từ hư vô, 
				mà không mang một dự án nào trước. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có khuôn mẫu nền tảng. 
				Mỗi người cố gắng tìm ra cho mình nguồn thông tin để hỏi, <i>bạn</i> 
				đã làm như thế nào, <i>hắn</i> đã làm như thế nào, <i>tôi </i>có 
				thể làm như thế nào? Làm sao tôi có thể nhận ra chính mình và 
				những khả thể của mình? Chúng ta xác tín rằng Đức Ki-tô là nguồn 
				thông tin chính của ta. Một mặt, Ngài cung cấp cho ta những 
				đường nét chung và lớn. Mặt khác, Ngài đồng thời cũng đưa ta vào 
				một quan hệ thật riêng tư, để ta có thể cùng Ngài và cùng cộng 
				đoàn tín hữu nhận ra được cái độc đáo của riêng mình – và rồi 
				độc đáo sẽ hoà giải với cộng đoàn.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Trước 
				đây, người ta đơn giản chỉ mong sao được trở nên người ngay 
				thẳng và cuộc sống làm sao được tương đối bảo đảm. Thế là đủ. Có 
				một thời để dọn đất, một thời để gieo hạt và một thời để thu 
				hoạch. Còn chuyện phải sống ra sao, thì đã có Kinh Thánh hướng 
				dẫn. Ngày nay, mọi việc xem ra rắc rối hơn nhiều. Sợi chỉ đỏ của 
				một cuộc đời, cái hoạ đồ sống khả dĩ làm nên cái gọi là bản sắc 
				con người, càng ngày xem ra càng khó thấy, khó tạo.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phải công nhận cuộc 
				sống xã hội phức tạp ngày nay đã trở nên phức tạp hơn. Dù vậy, 
				ta không nên quá thiển cận để phủ nhận sự hiện hữu của những 
				hằng số. Chúng ta đã suy niệm về mười giới răn. Mỗi thế hệ và 
				mỗi cá nhân phải khai thác từ gia tài đó một cách mới mẻ cho 
				mình, nhưng dù vậy, chúng chứa đựng một thông điệp rõ ràng và 
				không thể lẫn lộn được.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có lẽ cần 
				nhắc lại, lúc này đây Ki-tô giáo không phải đang chìm vào một 
				thể vô hình và chẳng còn gì để nói nữa. Chính Ki-tô giáo có một 
				chu vi đủ lớn, để có đủ chỗ cho cái độc đáo phát triển – và đồng 
				thời nó cũng có thể đặt ra chuẩn mực cho cái độc đáo kia, nhờ đó 
				mà sự phát triển có thể diễn ra. Chính vì đang ở trong một thế 
				giới phức tạp và rắc rối mà ta càng nên và càng được phép dựa 
				vào những hằng số lớn của lời Chúa, để tiếp tục tìm ra sợi chỉ 
				đỏ. Bởi vì nếu ta không làm chuyện này, thì khả năng sáng tạo 
				của cá nhân, trên thực tế, sẽ chóng trở thành một bản sao chỉ 
				còn biết tuân phục những chuẩn mực chung, chỉ còn biết làm theo 
				những gì thời thượng và những gì nó có thể làm mà thôi. </span>
				</i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nếu ta bỏ đi thông 
				điệp đặc biệt của đức tin, ta sẽ không trở nên độc đáo hơn, mà 
				trái lại, tùy theo mốt thời gian, ta chỉ càng ngày càng rơi vào 
				đồng phục. Chúng ta đã chứng kiến rất rõ tiến trình đồng phục 
				này trong cái đồng dạng của nếp sống tân tiến ngày nay. Vì thế, 
				tôi tin rằng, nay là lúc hơn bao giờ hết, ta cần phải coi các 
				hằng số của mạc khải và đức tin luôn vẫn là bảng chỉ đường, nó 
				giúp tôi những điểm mốc để đi lên, và tặng tôi ánh sáng để có 
				thể triển nở ơn gọi riêng của mình.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">NGUYÊN TĂC 
				CỦA ĐỨC GIÊ-SU</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">&nbsp;Đức 
				Giê-su luôn muốn chỉ cho con người đường ngay nẻo chính; Ngài 
				muốn chỉ ra những điểm mốc để họ theo đó mà thành người, như 
				Hồng Y nói. Một lần Ngài đi lên núi, và bài giảng trên núi đó 
				coi như đã mở ra một chương mới. Bài giảng hẳn đã có tác động 
				mạnh vào thời đó, vì Kinh Thánh chép rằng: “Khi &nbsp;Đức Giê-su 
				giảng xong, đám đông rất xúc động; bởi vì Ngài dạy họ như thể là 
				một người được Thiên Chúa uỷ quyền, chứ không phải như những 
				luật sĩ của họ”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngọn núi nơi Ngài 
				giảng chắc chắn có một ý nghĩa tượng trưng. Ở đây &nbsp;Đức Giê-su 
				hiện thân như một Mai-sen mới. Và thay vì núi Si-nai thì giờ đây 
				là ngọn núi chỉ đường mới, núi của các mối phúc. Thoạt tiên, 
				Ngài dựa vào cấu trúc một cuộc đối thoại, nhưng đồng thời đã đào 
				sâu, làm mới và đưa vào bài giảng một chiều rộng mới, một đòi 
				hỏi mới. Thêm nữa, Ngài còn mở ra một cấp độ nhân bản mới, qua 
				đó con người có thể nối kết được với Thiên Chúa. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">&nbsp;Đức 
				Giê-su tuyên bố công khai: “Những lời dạy không phải là của tôi, 
				nhưng của Đấng đã sai tôi. Ai thực hành ý Thiên Chúa, người đó 
				sẽ nhận ra được những lời đó là do tự tôi nói ra hay là lời dạy 
				của Thiên Chúa”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không những Ngài tự 
				coi ngang hàng với Mai-sen, hẳn điều này đã khiến người nghe 
				không dễ chấp nhận rồi, mà còn ngang hàng với kẻ ra luật, là 
				chính Thiên Chúa. &nbsp;Đức Giê-su giảng dạy qua sự uỷ nhiệm của 
				Thiên Chúa. Ngài nói: “Quý vị đã được nói cho hay” có nghĩa là 
				“Thiên Chúa đã nói cho quý vị hay”, rồi tiếp: “Còn tôi, tôi nói 
				cho quý vị hay”. Như vậy, nhìn từ nhiều mặt, bài giảng trên núi 
				nói lên cách mạnh mẽ nhất tư cách Thiên Chúa của Đức Ki-tô; Ngài 
				muốn cho thấy rằng, giờ đây không phải do trung gian con người 
				nữa, nhưng là do chính Thiên Chúa, mà lề luật cựu ước có được 
				những diễn giải sâu xa nhất và có được giá trị phổ quát.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Người nghe cảm được 
				điều đó. Và họ cũng cảm được rất mạnh cái gọi là ý nghĩa đôi của 
				bài giảng. Họ hiểu rằng, thông điệp đó một mặt chứa đựng một 
				tinh thần mới, một nét trưởng thành mới và sự nhân hậu, một giải 
				thoát mới đưa ta ra khỏi cái hời hợt và bề ngoài, nhưng mặt 
				khác, nó cũng là một đòi hỏi mới. Và đòi hỏi này quá lớn đến độ 
				có thể đè bẹp con người, nếu như họ bị bỏ mặc một mình.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nếu giờ đây thay vì 
				nói: ngươi không được xé bỏ hôn ước, mà lại nói, ngươi không 
				được nhìn đàn bà với lòng ham muốn. Thay vì: ngươi không được 
				giết người, mà lại nói, ngươi không được nổi giận về một người 
				nào; thay vì: mắt đền mắt, răng đền răng thì chưa đủ, mà trái 
				lại, ai vả má phải thì hãy đưa thêm má trái cho họ - thì lúc đó 
				ta sẽ đứng trước một đòi hỏi rất đặc biệt, đòi hỏi này có thể 
				tạo nên sự thán phục đấy, nhưng đồng thời nó lại xem ra quá sức 
				đối với con người. Ít nhất, nó sẽ quá sức đối với những ai đã 
				không bước đi cùng với &nbsp;Đức Giê-su Ki-tô và đã không đặt toàn bộ 
				đòi hỏi đó như là hệ quả của cuộc gặp gỡ giữa họ với Chúa. Quả 
				thật, chúng ta thấy sự uỷ quyền của Thiên Chúa trong đòi hỏi đó. 
				&nbsp;Đức Giê-su chẳng phải là một trong những sứ giả của Thiên Chúa. 
				Nhưng Ngài là đấng Tối hậu, và chính Thiên Chúa đã dùng miệng 
				Ngài để phát biểu. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đoạn Tin Mừng Gio-an 
				mà anh vừa đề cập một lần nữa đã tóm tắt toàn bộ những điều trên 
				đây vào một công thức. Công thức đó muốn nói với ta: Bạn phải 
				thử sống, và khi bạn sống lời tôi, bạn sẽ thấy là bạn đang bước 
				đi trên đường đúng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Bài giảng 
				trên núi không nhất thiết phù hợp với những suy nghĩ thông 
				thường. Nó còn phản lại định nghĩa của ta về hạnh phúc, về giá 
				trị, về quyền lực, về thành công hoặc công lí. Rõ ràng &nbsp;Đức 
				Giê-su có những phạm trù khác. Vào cuối bài giảng Ngài còn tóm 
				tắt cho người nghe biết cái gì thật sự quan trọng, có thể nói 
				đây là một lề luật của các lề luật, đây là luật vàng của cuộc 
				sống: “Như vậy, tất cả những gì các ngươi mong kẻ khác làm cho 
				mình, thì cũng hãy làm cho họ! Lề luật và các tiên tri là đó”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Luật vàng đã có từ 
				trước thời Đức Ki-tô rồi, nhưng nó được diễn tả một cách phủ 
				định: “Cái gì ngươi không muốn người khác làm cho mình, thì cũng 
				đừng làm cho kẻ khác”. &nbsp;Đức Giê-su đã chuyển nó lên thành thể 
				xác định, thể này dĩ nhiên mang yêu sách cao hơn. Ngài nói, 
				những gì ngươi muốn người khác làm cho mình, thì cũng hãy làm 
				cho họ. Đó có thể nói là một thách đố cho trý tưởng tượng sáng 
				tạo của tình yêu. Như vậy, luật vàng trở thành Luật Tự do; thư 
				thánh Gia-cô-bê đã tóm tắt bài giảng trên núi, mà cũng là tóm 
				tắt toàn bộ thông điệp của &nbsp;Đức Giê-su, như thế. Sở dĩ gọi Luật 
				Tự do là vì thông điệp đó rốt cuộc đã mở ra một không gian lớn 
				vô tận, trong đó lực sáng tạo của sự thiện có thể triển nở.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi tin cái tuyệt vời 
				ở đây là người ta không còn phải hỏi: ai đã làm gì cho ai khi 
				nào ra sao, không còn phải bận rộn với những cái khác biệt. Mà 
				trái lại, người ta thấy được cái gì cơ bản đã được uỷ thác cho 
				mình, đó là: hãy mở mắt ra, mở lòng ra và tìm ra những phương 
				cách thực thi cái thiện. Không còn chuyện hỏi mình mong gì, mà 
				vấn đề là làm cho người khác những gì mình mong. Và cái cho- 
				mình- đi thật sự đó với tất cả trý tưởng tượng sáng tạo của nó, 
				với tất cả những khả thể mà cá nhân có thể có, đã được tóm lại 
				trong một quy luật hoàn toàn thực tế, chứ không còn chỉ là một 
				giấc mơ lý tưởng nào nữa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Bài giảng 
				khởi đầu với những lời chúc phúc. Lạ thật, có chín lời chúc tất 
				cả. Số chín cũng là con số các thiên thần, bởi vì thế giới của 
				thiên thần được chia ra chín tầng. Số đó cũng là biểu tượng của 
				sự hoàn thiện.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Những câu chúc phúc 
				quả đặc biệt, vì chúng vượt ra ngoài rất xa chuẩn mực của ta. 
				Không phải những kẻ giàu, mà là kẻ nghèo, được chúc phúc – có sự 
				khác biệt giữa phúc và hạnh phúc; và không phải những ai không 
				đau khổ mới được phúc, nhưng là những kẻ khổ đau. Bản văn cũng 
				đề cập tới nỗi khao khát công chính, tới việc cần có quả tim 
				tinh tuyền, và nhiều điều khác nữa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong một thông điệp, 
				giáo chủ Gio-an Phao-lô II nói rằng, bản chúc phúc thật ra là 
				bản tự thuật tiểu sử kín đáo của &nbsp;Đức Giê-su. Chúng ta nhận ra 
				từng lời chúc thể hiện thực sự trong con người Ngài. Ngài là kẻ 
				nghèo trong Thánh Thần. Là người xuất thân từ hạng nghèo hèn. Là 
				kẻ nỗ lực tìm công lí cho người khác. Là kẻ tạo hoà bình. Là 
				người chịu đau khổ vì sự thật. Tôi tin rằng, ta chỉ hiểu đúng 
				các lời chúc, một khi ta hiểu chúng từ con người Đức Ki-tô. Ngài 
				đã sống những lời chúc đó, và qua Ngài mà chúng cũng đã trở 
				thành những bảng dẫn đường cho ta. Dĩ nhiên, trên con đường Ngài 
				chỉ, mỗi người đi theo một ơn gọi khác nhau, mỗi người có một 
				thứ tự ưu tiên khác nhau. Quan trọng là ta đọc những ơn gọi đó 
				qua hình tượng Đức Ki-tô, và rồi cũng theo Ngài sống ơn gọi đó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có thể 
				nói được rằng mỗi lời chúc là chìa khoá đi vào một bí mật đặc 
				biệt?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vâng, có điều là ta 
				không nên hiểu nó theo nghĩa huyền bí. Đó là chìa khoá đi vào 
				cuộc sống, và rồi những cánh cửa bí mật sẽ đương nhiên mở ra, 
				những bí mật mà trước đó ta không rõ. Đây không hẳn là một sự 
				khai sáng dưới dạng huyền bí hay một giải toả bí mật. Nhưng đúng 
				hơn, đó là một cái nhìn vào cuộc đời, và mỗi một bước song hành 
				đi vào cuộc đời đó cũng sẽ mở ra cánh cửa hiểu và biết.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">NHỮNG LO 
				LẮNG ĐÚNG CHỖ VÀ KHÔNG ĐÚNG CHỖ</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ta hãy đi 
				vào một vài “quy chế thực hành” của bài giảng. Trong đó có nói 
				tới những âu lo đúng chỗ và những âu lo không đúng chỗ. &nbsp;Đức 
				Giê-su nói, ta không nên lo cơm ăn áo mặc, bởi chưng cuộc sống 
				quan trọng hơn cơm áo. Chỉ những dân ngoại mới lo các thứ đó. 
				Cha trên trời đã biết con mình cần những thứ gì rồi. Ngài 
				khuyên: ” Hãy xem chim trời, chúng không gieo gặt và lượm lặt 
				của ăn vào kho lẫm; Cha trên trời nuôi chúng. Anh chị em không 
				giá trị nhiều hơn chúng sao?”</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nghe hay 
				thật, nhưng cứ theo lời đó, rồi thì chỉ biết gặm cỏ thay cơm.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong một thế giới 
				được xây dựng hướng về tương lai và luôn phải lo làm sao cho 
				mình mỗi ngày được tốt đẹp hơn, thì hiển nhiên chẳng ai hiểu 
				được ý nghĩa của câu trên. Tôi nghĩ, ta phải đọc thật kĩ bản 
				văn. Rồi sẽ tìm thấy chìa khoá trong đó. &nbsp;Đức Giê-su cũng từng 
				nói: Trước hết hãy tìm nước Thiên Chúa, rồi anh chị em sẽ nhận 
				được thêm điều khác. Điều đó có nghĩa là có một thứ tự ưu tiên. 
				Nếu ta bỏ ra ngoài ưu tiên về sự hiện hữu của Chúa trong thế 
				giới, thì nhiều chuyện ta làm, dù hữu ích, có thể một cách nào 
				đó rồi cũng sẽ đổ vỡ trong tầm tay. Và ta cũng sẽ nhận ra còn 
				thiếu một cái gì đó. Các nỗ lực cải tiến kĩ thuật của thế giới 
				có làm giảm đi nhiều gánh nặng đấy, nhưng trên một số phương 
				diện chúng đồng thời làm cho cuộc sống nặng nề và đen tối hơn.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi tin rằng phải đặt 
				việc tìm nước Thiên Chúa lên hàng ưu tiên. Đó phải là âu lo nền 
				tảng. Và rồi từ trong nước Chúa, âu lo này sẽ cấu trúc các âu lo 
				khác. Hiển nhiên điều này không dễ đối với ta. Ta còn phải lo 
				cho ngày mai, phải lo làm sao thế giới tiếp tục đi đúng hướng. 
				Tuy nhiên, những âu lo đó sẽ giảm bớt và nhẹ gánh, nếu chúng ta 
				gắn chúng vào cái ưu tiên kia. Và ngược lại, nếu con người hoàn 
				toàn không còn thấy gì trong ưu tiên kia nữa, thì các âu lo sẽ 
				làm họ hao mòn và rồi nuốt trửng họ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">XÉT ĐOÁN</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Một lần, 
				từ trên núi, Đức Ki-tô nói: “Đừng xét đoán, kẻo bị xét đoán! Bởi 
				anh chị em xét đoán thế nào, thì cũng bị xét đoán như vậy, và sẽ 
				bị xét xử theo tiêu chuẩn mà anh chị em đã dùng để xét xử kẻ 
				khác”. Nghe thì dễ thật. Nhưng cả xét đoán nữa mình cũng không 
				buộc phải làm?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đúng vậy. Theo 
				Mát-thêu câu 18, chính &nbsp;Đức Giê-su đã đưa ra một quy chế cộng 
				đoàn, khi Ngài bảo rằng, trước hết, ta nên cảnh cáo nhau giữa 
				hai người mặt đối mặt, sau đó mới đưa ra tập thể lớn hơn, và cứ 
				thế đi lên. Trật tự và luật pháp cần cho con người. Nhưng ở đây, 
				vấn đề nằm trên một bình diện khác, đó là ta không làm như kiểu 
				toà án thế gian, nghĩa là ta phải giữ bí mật của người khác 
				trong khi kết án họ. Cả khi vì kỉ luật mà toà phải kết án – dĩ 
				nhiên chẳng bao giờ kết án một con người, nhưng là kết án một 
				hành động nào đó, và án này là câu trả lời cho hành động đó -, 
				thì ta cũng phải giữ bí mật, vì đó là cái gì riêng tư, chỉ có 
				Chúa mới có quyền phán xét nó mà thôi.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đoạn thứ hai câu trên 
				nhắc ta phải coi chừng, vì ta cũng sẽ bị xét xử theo tiêu chuẩn 
				mình đã áp dụng cho người khác. Như vậy, nó cảnh cáo ta phải có 
				tiêu chuẩn đúng, giới hạn đúng và phải có lòng kính trọng đúng 
				đắn đối với người khác. Như thế, &nbsp;Đức Giê-su đã ra cho ta một 
				tiêu chuẩn nội tại áp dụng cho tình thế buộc phải xét xử. Tiêu 
				chuẩn đó là việc công nhận quyền quyết định tối hậu của Chúa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">HAI CON 
				ĐƯỜNG</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">&nbsp;Đức 
				Giê-su nói: “Hãy đi qua cửa hẹp! Vì cửa rộng đưa tới hư hỏng, và 
				vì cửa đó rộng nên nhiều người bước vào. Song cửa dẫn vào sự 
				sống thì hẹp, và vì cửa đó hẹp nên ít người tìm ra nó”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có lẽ vì vậy mà người 
				ta cho rằng hoả ngục đầy người, trong khi thiên đàng vắng tanh. 
				Hẳn nhiên, đây không có nghĩa như thế. Nhưng chỗ khác Chúa cũng 
				nói – một lần nữa nên nhớ luôn cần phải đọc lời Chúa trong toàn 
				văn –, là nhiều người từ đông sang tây sẽ đến, và họ sẽ ngồi vào 
				bàn chung với Ab-ra-ham, I-sa-ac, Gia-cóp. Sách Khải-huyền vẽ 
				cho ta thấy trước cảnh đoàn lũ người quây quần bên ngai con 
				chiên. Đây quả là một lời cảnh cáo thực tiễn: Nếu ta làm theo 
				những gì người khác và thiên hạ làm, nếu ta chọn con đường rộng, 
				nghĩa là con đường dễ dãi, lúc này đây xem ra quả dễ chịu hơn, 
				thì như vậy là ta đang xa rời con đường thật. Câu trên muốn nói 
				rằng, con đường hẹp và khó khăn cũng như cánh cửa hẹp mà ta cố 
				ép mình bước qua chính là quyết định đúng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ở đây, ta có một hình 
				ảnh đượm màu quyết liệt đông phương, nói lên nguyên tắc nền tảng 
				cho việc xử trí hàng ngày. Nếu cứ để thả mặc, cứ buông trôi theo 
				giòng rồi chìm đi trong đám đông, thì rốt cuộc mình sẽ luôn lặn 
				ngụp trong đám đông đó, và kết cuộc sẽ kết thúc trong trống 
				rỗng. Chính sự can đảm đi lên, can đảm chấp nhận khó nhọc sẽ đưa 
				ta vào con đường đúng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">CÁC TIÊN 
				TRI GIẢ </span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Đức Ki-tô 
				nói: “Hãy coi chừng các tiên tri giả; họ tới với anh chị em như 
				những con cừu (ngoan), nhưng thật ra là những chú sói dữ. Cứ 
				nhìn vào kết quả tất sẽ nhận ra được họ. Có thế nào thu hoạch 
				được nho từ bụi gai hay được vả từ cỏ gai? Cây tốt sinh trái 
				tốt, cây xấu sinh trái xấu”. Nghe như một mệnh lệnh chống lại 
				các giáo phái hoặc bè rối.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cũng có thể như vậy. 
				Trước hết, đó cũng là một quy luật đơn giản. Đó chính là thời 
				của những triết gia lang thang, những lang băm, những nhà cứu 
				tinh. Họ ai nấy đều hứa hẹn cứu khổ và vẽ ra con đường đúng, họ 
				muốn làm đẹp con người, và xem ra muốn mang lại điều tốt cũng 
				như điều đúng đắn, nhưng thật ra thường chỉ vì tư lợi. Họ là sói 
				dữ, phá hoại.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">&nbsp;Đức Giê-su cảnh cáo 
				ta trước những “lang băm cứu độ” đó. Ngài chỉ ra tiêu chuẩn để 
				nhận định: Hãy xem chính các lang băm đó sống như thế nào? Họ 
				thật sự là ai? Đâu là hoa trái họ tạo ra nơi họ và chung quanh 
				họ? Cứ nhìn vào họ tất sẽ biết sự thật ra sao. Tiêu chuẩn thực 
				dụng thời đó cũng đúng cho lịch sử ngày nay. Hãy nghĩ tới các 
				nhà thuyết giảng cứu độ trong thế kỷvừa qua, từ Hitler cho tới 
				các tay tổ cộng sản, họ xuất hiện và nói, đây là lúc chúng tôi 
				mang tới cho các bạn điều thật sự đúng. Trong một cái nhìn nào 
				đó, họ xuất hiện như những chú cừu ngoan, nhưng rốt cuộc là 
				những tay phá hoại có tầm cỡ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng không chỉ những 
				tay tổ đó, mà cả những nhà thuyết giảng nhỏ, những tiên tri giả 
				nữa. Họ mách với người ta là họ nắm chìa khoá trong tay, cứ việc 
				làm theo, thì rồi bạn sẽ thành đạt nhanh, giàu nhanh, sẽ có ngay 
				hạnh phúc. &nbsp;Đức Giê-su yêu cầu ta phải biết phân biệt, phải coi 
				chừng những lời hứa hẹn đó. Đừng để bị rơi vào tròng, nhưng hãy 
				giữ đầu óc tỉnh táo, sáng suốt, đừng để rơi vào những phong trào 
				xem ra tốt đẹp, nhưng rốt cuộc chỉ là trống rỗng hoặc phá hoại. 
				Nhất là Ngài muốn chúng ta luôn phải tự hỏi, đâu là hằng số của 
				lời Chúa, đâu là hoa trái thật.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Lời 
				khuyên kia cũng đúng cho các phong trào trong Giáo Hội?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hoa trái luôn là tiêu 
				chuẩn để nhận định. Trong Giáo Hội, ta phải &nbsp;để ý xem có phải 
				người đó chỉ muốn rao giảng về họ, chỉ muốn ép ta theo quan điểm 
				của họ mà thôi hay không. Hay họ là người khiêm nhu, muốn phục 
				vụ đức tin của Giáo Hội, muốn trở thành kẻ phục vụ lợi ích 
				chung, phục vụ lời Chúa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Bài giảng 
				trên núi còn có nhiều lời khuyên thiết thực khác. Tôi muốn nêu 
				lên đây câu cuối cùng của bài giảng. &nbsp;Đức Giê-su nói điều sau 
				đây thật khó hiểu và lại càng khó theo: “Hãy yêu kẻ thù và cầu 
				nguyện cho những ai bách hại mình”. Và thêm, Thiên Chúa để cho 
				“mặt trời chiếu sáng trên kẻ xấu và người lành, và Ngài để mưa 
				xuống trên người công chính cũng như trên kẻ bất lương”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Yêu kẻ thù quả thật là 
				một bước mới và lớn. Ở đây, chẳng còn chuyện trả thù nữa. Ta cần 
				nhìn ra khía cạnh người nơi kẻ thù, nhìn ra nơi họ khía cạnh thụ 
				tạo của Chúa. Điều này không có nghĩa là khoanh tay mặc cho sự 
				dữ tới với mình. Nhưng ta phải biết kính trọng con người trong 
				chính hành động của mình. Nghĩa là cố gắng làm điều tốt cho cả 
				kẻ thù, cố gắng đưa họ về đàng lành, rốt cuộc đưa họ hướng về 
				Đức Ki-tô. Trong ý nghĩa đó, cầu nguyện cho họ vốn là một việc 
				làm nền tảng, đó là một cách làm tốt cho họ. Khi ta muốn điều 
				tích cực cho kẻ thù trước mặt Chúa, khi ta cố gắng cầu cho họ 
				không còn là kẻ thù nữa, nhưng cho họ được thoát ra khỏi tư thế 
				thù địch, thì lúc đó ta đã thay đổi từ thâm tâm cái nhìn về họ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong thời cổ, người 
				ta đã nói đến một Thiên Chúa độ lượng, Ngài muốn phân phát cho 
				ngay cả kẻ xấu những món quà của tạo dựng. Nhưng thời đó người 
				ta dùng hình ảnh này để nói lên phần nào sự dửng dưng của Thiên 
				Chúa trước chuyện thiện ác. Và &nbsp;Đức Giê-su đã nâng nó lên một 
				bình diện khác, khi Ngài qua đó chỉ ra lòng tốt hải hà của Thiên 
				Chúa là đấng muốn đưa mọi người vào đường thiện, muốn trao cho 
				họ những cơ hội, muốn chăm sóc họ bằng điều tốt lành. Và cả khi 
				Thiên Chúa có thể nói là trừng phạt ta đi nữa, thì Ngài cũng chỉ 
				muốn cho ta trở nên quan tâm lắng nghe. Là Tạo hoá, Ngài không 
				thể làm gì khác hơn là yêu thương những tạo vật của Ngài, và 
				muốn cho chúng tìm ra con đường ngay lành. Mọi loại trả thù đều 
				hoàn toàn xa lạ với suy nghĩ của Thiên Chúa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Sau khi 
				giảng dạy và khuyên răn, và người nghe dù đôi chút thấm mệt 
				nhưng cũng cảm thấy hạnh phúc, vì hiểu rằng nguồn gốc và cùng 
				đích cuộc đời mình không phải là thế gian này và cũng không dừng 
				lại ở đây, &nbsp;Đức Giê-su còn đưa ra bảo đảm cho những điều Ngài 
				nói: “Ai nghe lời tôi dạy và làm theo, kẻ đó là người khôn, biết 
				xây nhà trên đá”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Còn những người khác 
				xây nhà trên cát, và khi lũ lụt tới, chúng sẽ cuốn trôi tất cả. 
				Nhà xây trên nền đá mới chắc chắn. Chỗ này cũng giống như đoạn 
				phúc âm Gio-an mà ta đã nghe: Ai sống theo Tin Mừng, ai dám thử 
				nghiệm theo nó, ai thật sự xây nhà trên lời Chúa, kẻ đó biết 
				rằng mình đã chọn được một nền chắc chắn.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tuy nhiên, ở đây còn 
				có thêm một liên tưởng khác. Hình ảnh xây nhà trên đá làm ta nhớ 
				đến lời Đức Ki-tô nói với Phê-rô, là Ngài sẽ xây nhà – Giáo Hội 
				của Ngài – trên đá. Như thế, lời đó có thể đưa ta tới ý nghĩrằng 
				ta không nên xây một mình. Ai chỉ muốn xây cuộc đời mình như là 
				một chỗ trú ẩn riêng, thì người đó đã xa lìa nền đá. Xây dựng 
				cuộc đời luôn có nghĩa là cùng xây. Cùng xây chung một căn nhà 
				Chúa, dựa trên nền lời Ngài, và như vậy căn nhà sẽ chắc chắn tồn 
				tại.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có thể 
				nói không cùng về cuộc đời, về chuyện nên nhìn đời ra sao, làm 
				sao cho cuộc sống đơm hoa, được sống tự do, thoải mái và hứng 
				thú. Nhà soạn kịch người Anh William Shakespeare, một tín đồ 
				công giáo, đã sống cuộc đời ông hết mình. Tên các vở kịch của 
				ông nghe ra như một bản lí lịch đầy biểu tượng, nào là “Ồn ào vô 
				ích”, nào là “Chừng mực” cho tới “Kết cuộc tốt là mọi chuyện 
				tốt”. Là nhà giáo dục giỏi, ông cuối cùng đã đưa ra một lời 
				khuyên, xem ra như đây là kết tinh mọi nhận thức trần thế của 
				ông: “Buy terms divine in selling hours of dross”, “Hãy mua lấy 
				thời giờ của Chúa bằng cách bán đi những giờ u tối trần gian”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đó là một lời khôn 
				ngoan mà người ta có thể chờ đợi nơi một nhân vật lớn. Thời giờ 
				đã được sử dụng một cách tốt nhất là thời giờ đã biến thành cái 
				tồn tại; là thời giờ ta nhận được từ Chúa và trả lại cho Ngài. 
				Còn thời giờ không dính dáng gì tới Chúa chỉ là thứ thời gian vô 
				bổ và chóng qua.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">VÔ THẦN LÀ 
				GÌ ?</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không nhận diện thật 
				chính xác, thì không thể chống lại vô thần đang đầy dẫy ở mọi 
				lãnh vực, phạm trù từ tinh thần đến vật chất, để bảo vệ chính 
				bản thân, chứ đừng mong hướng dẫn, bảo vệ những người mình có 
				trách nhiệm. Cuốn THIÊN CHÚA của tác giả Manfred Lutz, do Phạm 
				Hồng Lam dịch, giúp chúng ta trả lời khá sâu sắc các vấn đề liên 
				quan đến vô thần.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vô thần, theo nghĩa 
				chung chung ngày nay, là phủ nhận có sự hiện hữu của một Đấng 
				tạo dựng trời đất toàn năng, vị này tiếp tục giữ gìn tạo vật 
				trong tay, và đến “ngày sau cùng” sẽ phán xét con người, tách 
				biệt người lành kẻ dữ, người lành sẽ được thưởng phúc thiên 
				đàng, kẻ dữ bị luận phạt hoả ngục. Đi ngược trở lại lịch sử của 
				ý niệmnày, ta thấy lắm hiện tượng khá rối trí. Vì không chịu thờ 
				thần linh nhà nước và thờ hoàng đế thiên tử, các ki-tô hữu xưa 
				bị coi là vô thần. Cả Sokrates cũng phải chết vì tội vô thần, vì 
				ông dám coi đám thần linh lúc nhúc trong bầu trời Hi-lạp chẳng 
				ra gì, và, với suy nghĩ của một triết gia, ông đã lên đường tìm 
				về một Thiên Chúa duy nhất.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nếu lấy ý niệmThiên 
				Chúa theo lối hiểu Ki-tô giáo ngày nay để thăm dò cổ thời nhân 
				loại, ta sẽ thấy đầy dẫy “Vô thần”. Bởi vì làm sao người thời đó 
				hiểu được Thiên Chúa như ta hiểu ngày nay? Mặt khác, toàn bộ 
				lịch sử nhân loại lại đầy dẫy những niềm tin muôn màu vào thần 
				linh và vào Thiên Chúa. Vì vậy, phải cẩn thận, đừng để rơi vào 
				chủ nghĩa đế quốc tinh thần do những mánh khoé lạm dụng ý 
				niệmtạo ra, và qua đó kéo dãn vương quốc vô thần hay vương quốc 
				niềm tin Thiên Chúa ra quá rộng một cách không thích đáng. Dù 
				sao, ý niệmVô thần khá mơ hồ, và có lẽ nó càng rõ nghĩa hơn, khi 
				ta càng tiến gần vào thời Hiện đại.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng thời nay cũng 
				không dễ có được những đối lập đơn giản. Nhà thần học Karl 
				Rahner gọi thái độ của những người tự coi là vô thần, nhưng sống 
				một cuộc sống như có Thiên Chúa, là “vô thần vì kính trọng Thiên 
				Chúa”. Họ chấp nhận thà là “vô thần”, còn hơn phải sống với một 
				thứ Thiên Chúa bề ngoài của mấy ông bà “đạo đức” môi miệng. 
				Thiên Chúa này không hợp với kinh nghiệm tôn giáo bề sâu của họ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vì thế, ta vẫn phải 
				chấp nhận phần nào tính mơ hồ của ý niệmVô thần, nhất là để khỏi 
				phải loại trừ ra bất cứ hiện tượng quan trọng nào. Sử gia người 
				Pháp Georges Minois cũng công nhận như thế. Năm 2000 Georges 
				Minois cho phát hành cuốn sách nổi tiếng của ông, ấn bản tiếng 
				Đức 700 trang Lịch Sử Vô Thần Từ Khởi Thuỷ Tới Hiện Nay, cuốn 
				sách thật đầy đủ và hấp dẫn, đúng là chỉ có sử gia Pháp mới viết 
				được những cuốn như thế. Sách ông đã giúp tôi viết chương này. 
				Minois có cảm tình với quan điểm vô thần, dù vậy, ông đã không 
				đứng về một phía nào khi viết, và sách ông nói chung đã thành 
				công nhờ thái độ khách quan đó. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ông phân biệt ra Vô 
				thần thực hành và Vô thần lí thuyết. Người vô thần thực hành 
				sống như không có Thiên Chúa, dù họ có bảo mình tin gì đi nữa. 
				Ngay chính trong những thời hoàng kim của Ki-tô giáo, thái độ 
				sống này cũng rất phổ biến nơi các tầng lớp dân chúng. Người vô 
				thần lí thuyết tuyên xưng rõ ràng sự Vô thần của mình và thường 
				đưa ra những biện minh cho quan điểm mình.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Minois nói nhiều tới 
				loại Vô thần phản kháng, nghĩa là loại người chống lại quan điểm 
				đức tin nhiều ít cứng nhắc trong những giai đoạn nào đó. Thái độ 
				này được coi là ngang ngạnh, can đảm hay cũng chỉ là một thứ 
				tình cảm quá độ. Và như thế, tùy theo mỗi giai đoạn, Vô thần 
				mang những nét hoàn toàn khác nhau.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<a name="5._MẸ_THIÊN_CHÚA_"><span style="color: #FF0000"><b>5</b></span><span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI"><b>. 
				MẸ THIÊN CHÚA</b></span></a></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Lịch sử 
				công nguyên khởi đầu với một phụ nữ. Tin Mừng kể “Và thiên thần 
				Chúa đã mang tới cho Maria một sứ điệp”. Đó là một cô gái từ 
				chốn hẻo lánh không ai biết tới Na-da-ret, và cô chẳng hiểu 
				chuyện gì sẽ xẩy đến cho mình.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Người ta chỉ nhận ra 
				được tầm vóc lớn lao của biến cố đó qua dòng thời gian. Trước 
				hết là sự xuất hiện của thiên sứ, vị này đột ngột trao cho Maria 
				một sứ điệp bất thường: Cô đầy ơn phúc, cô đã được chọn để làm 
				mẹ Thiên Chúa. Hẳn lúc đó Maria hốt hoảng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Một con 
				người làm mẹ Thiên Chúa!</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Quả là một mâu thuẫn 
				lớn. Thiên Chúa trở nên bé nhỏ. Ngài trở thành người, như vậy 
				cũng mặc lấy điều kiện đầu thai và sinh ra của con người. Ngài 
				có một người mẹ, và bằng cách đó, Ngài đã thật sự được dệt vào 
				tấm thảm của lịch sử loài người, đến nỗi một phụ nữ đã có thể 
				thật sự nói được với đứa con mình sinh ra: Chúa tể trần gian ở 
				trong con.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Người ta đã tranh cãi 
				nhau rất lâu về chữ Mẹ Thiên Chúa. Nhóm Nestorius* bảo Mẹ không 
				sinh ra Thiên Chúa, mà chỉ sinh ra một con người Giê-su mà thôi. 
				Như vậy, ngài là mẹ của Đức Ki-tô, nhưng không thể gọi là mẹ 
				Thiên Chúa được. Câu hỏi căn bản là sự hoà quyện hai bản tính 
				thiên chúa và con người trong &nbsp;Đức Giê-su Ki-tô sâu xa tới đâu, 
				tới độ nào để có thể nói được đứa trẻ sinh ra đó là Chúa, và như 
				vậy Maria là mẹ Thiên Chúa. Mẹ Thiên Chúa không phải trong ý 
				nghĩa Mẹ là người sinh ra Thiên Chúa. Nhưng trong nghĩa Mẹ đã 
				sinh ra một con người, và con người đó hoàn toàn kết hiệp làm 
				một với Thiên Chúa. Với cách đó, mẹ Maria đã hoàn toàn kết hiệp 
				một cách lạ lùng với Thiên Chúa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Maria 
				được kính thờ như Nữ vương thiên đình, như Nguyên ảnh của Giáo 
				Hội, hay cũng như Mẹ của lòng nhân ái. Lực toả sáng của người nữ 
				đó, đấng vẫn luôn dấy động tâm can hàng triệu con người, không 
				thể nào đong đo bằng tiêu chuẩn thường tình được.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong lịch sử, biến cố 
				mẹ Maria càng ngày cũng được hiểu như là nét vẻ vang của phụ nữ. 
				Bản chất nguyên thuỷ của phụ nữ được biểu hiện nơi Maria, ngài 
				là hiện thân sự tinh tuyền của nhân loại và Giáo Hội. Và trong 
				khi Eva - người phụ nữ đầu tiên và là “nguyên mẫu”, như người ta 
				vẫn nói, và là người mẹ của mọi loài sống động - được sinh ra 
				trên căn bản để chết, thì Maria – nhờ sinh ra đấng cứu thế, đấng 
				đã phục sinh và mang lại sự sống – thật sự được coi như là sự 
				thể hiện tinh tuyền hai yếu tố hàm chứa trong chữ Eva, đó là 
				niềm hứa hẹn và khả năng sinh sản của người nữ. Maria trở thành 
				mẹ của sự sống, của những gì trao ban sự sống và của mọi loài 
				sống động.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">KÍNH CHÀO 
				ĐỨC MARIA</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Lời chào 
				của thiên sứ đã trở thành một lời kinh nền tảng của Giáo Hội 
				công giáo. Một vài thiên tài lớn nhất của nhân loại như Mozart*, 
				Rossini* và những người khác, đã dệt Ave Maria thành nhạc: “Kính 
				chào Maria, đầy ơn phúc! Thiên Chúa ở cùng cô. Cô là người trong 
				những người nữ được chúc phúc. Và Giê-su, con trong lòng cô cũng 
				được chúc phúc”. Và thiên sứ còn nói: “Cô đừng sợ”. Và Maria đã 
				trả lời thế nào?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">“Này tôi là tôi tớ của 
				Thiên Chúa”. Vâng, ngài đã học được cách chẳng sợ. Bởi vì như ta 
				thấy trong dọc dài Kinh Thánh, bất luận nơi mục đồng hay nơi các 
				tông đồ: Mỗi khi con người khám phá ra mình ở gần Thiên Chúa là 
				họ cảm thấy sợ hãi. Họ nhận ra sự bé bỏng của mình và giật mình 
				trước vinh quang và thánh thiêng kì vĩ của Thiên Chúa, bởi họ 
				thấy mình không thể nào sánh nổi. Đây là một trong những chỗ đầu 
				tiên trong Tân Ước xuất hiện chữ “Đừng sợ”. Thiên Chúa không đến 
				để gây sợ hãi nơi ta, nhưng Ngài trở nên bé nhỏ trong sự lớn lao 
				của mình, Ngài cởi bỏ đi nét gây sợ, bởi Ngài tới để đem ơn cứu 
				độ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Giáo chủ Gio-an 
				Phao-lô II đã nhắc lại câu “Đừng sợ, anh chị em đừng sợ Chúa 
				Ki-tô” trong bài diễn văn đầu tiên ngày nhận chức. Tôi muốn nói 
				rằng, giờ đây cả hoàn vũ Ki-tô giáo nên để cho lời đó luôn thấm 
				nhập mình. Chúng ta không cần phải sợ Chúa, không sợ Ngài sẽ lấy 
				mất gì của mình hay đe doạ mình, nhưng Ngài đến để đem chở che, 
				giúp ta thắng vượt cả sự chết.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Kinh Kính mừng của 
				Giáo Hội gồm hai phần. Phần đầu là lời chào của thiên thần, phần 
				sau là lời Ê-li-sa-bét thốt lên khi Maria tới thăm mình: “Con 
				trong lòng em cũng được chúc phúc”. Và Ê-li-sa-bét tiếp: “Em là 
				người có phúc hơn mọi người nữ”. Với câu này, Ê-li-sa-bét cũng 
				đã tiên đoán về sự tôn kính Maria. Thánh Thần đã giúp bà tiên 
				tri nói lên điều đó. Nói cách khác: Ki-tô hữu cũng sẽ ca ngợi 
				Thiên Chúa, bằng cách họ vui mừng chào đón những con người, mà 
				qua đó Chúa tỏ cho thấy sự lớn lao và lòng tốt của Ngài.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Mẹ Maria 
				có ý nghĩa nào đối với cá nhân ngài?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngài tượng trưng cho 
				sự gần gũi với Thiên Chúa. Nhờ ngài, ta mới hiểu ra việc nhập 
				thể. Tôi rất cảm động việc Con Thiên Chúa có một người mẹ, và 
				người mẹ đó được tất cả chúng ta tín thác. Lời đấng bị đóng đinh 
				trao mẹ mình lại cho Gio-an đã từ giây phút đó đi vào suốt chiều 
				dài lịch sử. Nhờ lời trối trăn đó mà khi cầu nguyện cùng Mẹ, ta 
				có được niềm tin tưởng đặc biệt, cảm thấy được gần gũi và nhất 
				là có được quan hệ với Chúa. Cá nhân tôi trước đây bám chặt vào 
				phong trào phụng vụ duy ki-tô, quan điểm đó càng được đẩy mạnh 
				qua việc đối thoại với các bạn tin lành. Nhưng càng ngày, qua 
				việc sùng kính Maria với các ngày lễ của Mẹ, các buổi chầu tháng 
				năm, các chuỗi mân côi tháng mười, Mẹ càng có ý nghĩa đối với 
				tôi. Và càng về già, tôi càng cảm thấy gần Mẹ Thiên Chúa hơn.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Các Tin 
				Mừng ít đề cập tới Maria. Ngài hoàn toàn vắng mặt trong những 
				giai đoạn cuộc đời quan trọng của &nbsp;Đức Giê-su, hoặc nếu có, thì 
				cũng xuất hiện dưới dáng tiêu cực hoặc chẳng phải là một người 
				mẹ đáng yêu.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đúng là truyền thống 
				tin mừng không quan tâm gì tới Maria. Mẹ hầu như chẳng có vai 
				trò gì trong Mát-thêu. Trong Mát-thêu, thời niên thiếu của &nbsp;Đức 
				Giê-su gắn liền với cha Giu-se. Lúc này đây tôi có thể nói, rõ 
				ràng người ta đã muốn tránh nói tới Mẹ, bao lâu Mẹ còn sống. Và 
				cả chính Mẹ cũng muốn giữ kín đáo.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">&nbsp;Đức Giê-su kiến tạo 
				một gia đình mới, và ở đâu người ta ca tụng bà mẹ nào đã cưu 
				mang Ngài và vú nào đã cho Ngài bú, thì Ngài liền sửa ngay cái 
				hình ảnh lúc đó về quan hệ gia đình. Đối với Ngài, quan trọng 
				là: “Phúc thay những ai nghe và tuân giữ lời Chúa”. Đó là tính 
				chất mới về gia đình và về người mẹ. Ngài diễn tả như vầy: Ai 
				làm theo í của tôi, là anh em, mẹ, chị em tôi. Như vậy, Ngài 
				nâng khái niệm gia đình mà con người vẫn hiểu lên thành một loại 
				gia đình lớn mới, gia đình cộng đoàn trong í muốn Thiên Chúa, và 
				đó là điểm quan trọng. Lu-ca cho ta hay về chuyện cải chính 
				trên, nhưng ngài đã nối sự việc đó một cách văn hoa với cuộc đời 
				niên thiếu của &nbsp;Đức Giê-su và với câu chuyện gặp gỡ bà 
				Ê-li-sa-bet. Trong Lu-ca, Maria xuất hiện không những như một 
				người mẹ xác phàm, mà cả như một người lắng nghe, một kẻ tin, 
				một kẻ đứng trong cộng đoàn của Chúa. Theo Lu-ca, Mẹ là điển 
				hình của những ai lắng nghe và tuân giữ lời Chúa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">&nbsp;Đức 
				Giê-su có nhiều tình cảm và gần gũi hơn với những phụ nữ khác. 
				Còn đối với mẹ mình thì Ngài nhiều khi tỏ ra cộc cằn. Chẳng hạn 
				trong tiệc cưới Ca-na, khi mẹ yêu cầu phải làm gì để giúp người 
				ta có đủ rượu cho khách, Ngài đã thô lỗ: “Này bà, có chi liên 
				quan tới tôi và bà đâu!” Có thật Ngài đã xử tệ với mẹ như thế 
				không? Có lẽ đôi lúc Ngài đã cắt đứt liên hệ với mẹ mình?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Anh đang đề cập tới 
				một đoạn trong Tin Mừng Gio-an. Thánh Gio-an đưa ra một môn 
				Maria học hoàn toàn đặc biệt. Trong bản Tin Mừng xuất hiện tương 
				đối trễ này vai trò của Mẹ đã được diễn đạt rõ hơn, không như 
				trong Mat-thêu. Chẳng hạn, bất cứ chỗ nào &nbsp;Đức Giê-su nói với 
				Mẹ, Gio-an đều dùng từ “Bà”. Ta có thể nhìn ra ý nghĩa thần học 
				trong từ xưng hô đó. Bởi vì, nếu giờ đây Maria đơn thuần được 
				gọi là “bà” (gynae), nếu từ tiệc cưới Ca-na cho tới núi Sọ Maria 
				cũng bước vào một vai trò vượt lên trên vai trò cá nhân, thì 
				hình ảnh của Eva mới đã sáng tỏ. Ta phải đọc các màn / cảnh 
				trong mối liên hệ chung của chúng, trong trường hợp này là cảnh 
				thánh giá núi Sọ với cảnh tiệc cưới Ca-na, để thấy rằng, thoạt 
				tiên &nbsp;Đức Giê-su bước ra khỏi gia đình Ngài, cho tới khi một gia 
				đình mới xuất hiện trong giờ của Ngài – trên thánh giá -, và 
				trong gia đình mới này Maria có một vị trí mới quan trọng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng cả trong Ca-na, 
				câu nói xem ra thô lỗ và mang vẻ từ chối kia cũng rất nhiều 
				nghĩa. Với lời đó, &nbsp;Đức Giê-su muốn nói là Ngài bị trói buộc bởi 
				giờ của Ngài. Có thể nói, Ngài không thể ưu tiên thoả mãn những 
				nhu cầu gia đình được. Nhưng dù vậy, Ngài đã làm phép lạ và có 
				thể nói đã hé lộ ra trước giờ của Ngài vì lời yêu cầu của Mẹ. 
				Thoạt tiên bị từ chối, có nghĩa là Maria chỉ được trả lại chỗ cũ 
				của mình – và rồi lúc này đây, Mẹ đồng thời lại xuất hiện như 
				một phụ nữ đơn thuần, như là nguyên ảnh của Giáo Hội khẩn cầu, 
				và rồi Giáo Hội, cũng như chính Maria, có thể xin tham dự trước 
				giờ của Đức Ki-tô. Như vậy, đây là một bản văn rất sâu xa, người 
				ta có thể còn suy nghĩ và nói nhiều về nó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Hãy tạm 
				rời tầng thần học cao sâu trở về với thực tại, tôi muốn nhắc lại 
				một kinh nghiệm gặp được qua hình ảnh Maria. Có lần tôi tới thăm 
				điểm hành hương Altötting ở Bayern. Trời lạnh, rảo qua công 
				trường rộng, tôi bước vào căn Nhà Nguyện Ơn Lành nổi tiếng. Căn 
				phòng chật cứng. Tứ phía đều có nến cháy, khung cảnh hơi âm u. 
				Trong nhà nguyện toàn chỉ các bà. Họ cầu chung với nhau, và dĩ 
				nhiên hát với nhau những bài ngọt ngào về đức Mẹ, như Ave Maria, 
				Mater misericordiae, Ôi nữ vương thiên đàng, Mẹ nhân ái.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thoạt 
				tiên tôi cảm thấy hơi xa lạ và giữ khoảng cách, nhưng những bài 
				hát dễ thương quá: “Chúng con khóc lóc kêu cầu danh Mẹ từ thung 
				lũng nước mắt”. Và lạ lùng thay, bổng nhiên tôi cảm thông được 
				với các bà. Có một cái gì rất thật, rất đẹp, tôi như bắt gặp 
				được một chìa khoá mở tung tim mình ra để cảm giác hạnh phúc 
				tràn vào. Có một cái gì như sức mạnh cứu độ toát ra từ những lời 
				kinh cầu cổ xưa. Những cảm giác đẹp đó nói cho tôi hay là tôi 
				không cô đơn, có ai đó đang ở bên tôi, người đó biết tôi, người 
				đó mến tôi, người đó hiểu tôi. Và trong mọi tình huống khó khăn, 
				người đó luôn ở bên tôi.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tóm lại, 
				tôi có cảm giác đó là một thứ ngôn ngữ không những trực tiếp 
				đánh đúng vào chỗ yếu của mình, mà đồng thời, như người ta nói, 
				có sức cứu độ. Và có lẽ việc tôn kính Maria cũng là một phản ứng 
				chống lại cái tiến trình tục hoá trong Giáo Hội, với khuynh 
				hướng muốn vứt hay đã vứt đi rồi một phần lớn khía cạnh linh 
				thánh và thần bí của đức tin. Phải chăng đây là thái độ và hành 
				động của những con người đơn sơ chống lại thứ tôn giáo của các 
				vị giáo sư?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi tin mình có thể 
				nói được như thế. Hình ảnh Maria đã làm trái tim con người xúc 
				động một cách đặc biệt. Không những đánh động trái tim phụ nữ, 
				là những người hiểu và gần gũi Mẹ hơn, mà còn cả trái tim của 
				những ông còn giữ cho mình hình ảnh về Mẹ và đức Trinh nữ. Môn 
				thánh mẫu học đã tạo nên tiếng nói con tim của thế giới Ki-tô 
				giáo. Ở đây, con người có thể cảm nghiệm một cách trực tiếp 
				Ki-tô giáo như là một tôn giáo của lòng tin, lòng cậy. Và những 
				lời kinh cổ, đơn giản kia, những lời lớn lên từ lòng sùng kính 
				dân gian và không bao giờ mất tính chất tươi mát và lỗi thời, đã 
				giữ con người ở lại trong niềm tin của họ, bởi vì nhờ những lời 
				kinh gắn bó với đức Mẹ mà họ cảm thấy gần gũi với Chúa, họ cảm 
				thấy đạo không phải là một gánh nặng, nhưng đạo là tin cậy và đỡ 
				nâng giúp họ vượt qua mọi chông gai cuộc sống. Và ta cũng hãy 
				nghĩ tới những lời kinh khác, chẳng hạn “Mẹ rất nhân ái, hãy 
				nâng đỡ con”, nó gợi lên bao nhiêu là tín thác.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thật ra, mặt khác, 
				cũng có một thứ chủ nghĩa tinh lọc Ki-tô giáo, một thứ hữu lí 
				hoá đã làm cho đạo bị đôi chút đông lạnh. Dĩ nhiên tình cảm luôn 
				cần phải được kiểm soát và thanh lọc - ở đây ta cần phải công 
				nhận vai trò của các giáo sư. Không được để cho mọi chuyện biến 
				thành chỉ còn là tình cảm sướt mướt, khiến ta mất nền thực tế, 
				làm cho ta không còn nhận ra được cái cao cả của Chúa nữa. Nhưng 
				từ thời Ánh sáng trở đi – ngày nay ta cũng lại đang ở trong một 
				thời Ánh sáng mới - ta chứng kiến một tiến trình hữu lí hoá và 
				tinh lọc rất mạnh, khiến cho tâm con người phải chống lại nó và 
				bám chặt vào thánh mẫu học.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Vị Hồng Y 
				vĩ đại người Anh John Henry Newman* viết: “Người không công giáo 
				có thói quen coi việc tôn kính Maria có hại cho &nbsp;Đức Giê-su”. Và 
				ngày nay những người hoài nghi cũng xem việc tôn sùng Maria một 
				cách quá đà khiến cho tâm điểm nền tảng của đạo, nghĩa là chính 
				sứ điệp của Đức Ki-tô, bị lu mờ.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ta không được phép 
				quên điều này: Trong quá trình truyền giáo, Mẹ là khuôn mặt đánh 
				động con người nhất và giúp họ hiểu được Chúa Ki-tô. Điều này 
				đặc biệt đúng cho Nam Mĩ. Nơi đây Ki-tô giáo đã tới bằng gươm 
				giáo của người Tây-ban-nha và có lúc vô cùng nghiệt ngã. Ở 
				Mễ-tây-cơ, thoạt tiên Ki-tô giáo đã chẳng làm được gì – cho tới 
				khi xẩy ra biến cố Guadeloupe, và qua Mẹ mà bỗng chốc người ta 
				tới gần được với Chúa Con.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Biến cố 
				đó là việc gặp được tượng đức Mẹ một cách lạ lùng. Người ta có 
				thể nói, biến cố đó đã tạo nên một trang sử tuyệt đối mới, nếu 
				không có nó thì việc truyền bá Ki-tô giáo trên lục địa này đã 
				không thể xẩy ra.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đúng, và bỗng chốc đạo 
				Chúa không còn mang khuôn mặt hung ác của những tay thực dân 
				nữa, mà là khuôn mặt dịu dàng của Mẹ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cho tới ngày hôm nay, 
				ở Nam Mĩ có hai điểm sùng mộ: Yêu đức Mẹ và việc đồng hoá với 
				Chúa Ki-tô chịu đau khổ. Đức tin của họ biểu tỏ qua hai khuôn 
				dạng đó, và nhờ đó họ không còn xem Thiên Chúa là Chúa của những 
				kẻ xâm lăng, nhưng là Thiên Chúa thật và cũng là đấng cứu độ. Vì 
				thế đặc biệt dân công giáo ở châu Mĩ la-tinh rất trân quý đức 
				Mẹ. Và ta không nên đứng từ quan điểm thuần lí của ta mà chê bai 
				họ đã làm sai lệch Ki-tô giáo. Chính chỗ này họ đã nhận ra đúng 
				đắn: Thiên Chúa là đấng muốn cứu độ ta, chứ không phải là Chúa 
				của những người chiếm đóng. Nhờ vậy, họ đã có thể trở thành 
				ki-tô hữu qua quá trình thấy và hiểu của chính họ, chứ không 
				phải là phải chấp nhận chịu đựng đạo của kẻ xâm lăng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Người tin 
				lành xem ra từ lâu đã đẩy được đức Mẹ ra khỏi niềm tin của họ. 
				Mẹ không còn quê hương nơi họ nữa, cho dù chính Luther trước đây 
				chưa bao giò bỏ lòng tôn sùng đức Mẹ của ông. Đối với Giáo Hội 
				công giáo, huyền thoại Maria chẳng phải là trò ảo thuật mà cũng 
				chẳng phải là chuyện bên lề. Chính ngài đã thuộc vào cốt lõi của 
				đức tin. Các bí mật của ngài còn được đóng ấn tín điều như là 
				những sự thật không hề sai.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phải nói thêm về chữ 
				huyền thoại. Nếu nó muốn ám chỉ một chuyện vượt trên sự kiện 
				thực tế, thì ta có thể dùng từ đó. Vấn đề quan trọng ở đây là ta 
				đang có một câu chuyện thật, chứ chẳng phải là chuyện bịa đặt 
				nào cả.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Một ghi chú về người 
				tin lành: Đúng là đã có một khuynh hướng tinh lọc nơi họ. Ban 
				đầu, người ta sợ rằng đức Mẹ có thể lấy mất đi một chút gì đó 
				nơi &nbsp;Đức Giê-su. Và trong quá trình thanh lọc đó quan điểm “duy 
				Ki-tô” đã dần trở nên quá khích đến nỗi người ta tin là có một 
				tương quan cạnh tranh giữa hai vị, thay vì nhận ra rằng, qua 
				khuôn mặt Mẹ, chính khuôn mặt của Đức Ki-tô hiện ra và lời đích 
				thực của Ngài được sáng tỏ, như ta đã thấy qua thí dụ ở Nam Mĩ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngày nay, có những nỗ 
				lực dè dặt tìm về lại với mẹ Maria nơi người tin lành. Họ nhận 
				ra việc xoá yếu tố nữ ra khỏi sứ điệp ki-tô cũng là một thiếu 
				sót về mặt nhân chủng. Một người nữ hiện diện nơi tâm điểm Ki-tô 
				giáo, xét về mặt thần học và nhân chủng học, là điều quan trọng. 
				Qua Maria và các thánh nữ khác, yếu tố nữ đã đi vào tâm của đạo 
				Ki-tô. Chẳng có chuyện cạnh tranh giữa hai khuôn mặt mẹ con, vì 
				hai vị khác nhau trên nền tàng. &nbsp;Đức Giê-su đã trao Mẹ cho tất 
				cả chúng ta qua Gio-an. Không phải cạnh tranh, nhưng là một thứ 
				gần gũi sâu xa hơn. Đức Mẹ và đức Trinh nữ có chỗ đứng quan 
				trọng trong nhân sinh quan Ki-tô giáo.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">TÍN ĐIỀU</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Liên quan 
				tới Maria, nhiều người tỏ ra chống đối và sợ hãi, cái sợ hãi 
				nhiều khi khoác áo diễu cợt. Hãy nhìn lại vài tín điều để hiểu 
				thêm Maria. Ta bắt đầu với tín điều khó hiểu, khiêu khích nhất, 
				đó là tín điều đồng trinh, hình thành năm 553. Đó là một câu 
				chuyện sinh học? Hay phải hiểu nó như thế nào?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Về chuyện anh chị em 
				của &nbsp;Đức Giê-su, Tin Mừng cho biết Đức Ki-tô không có anh chị em 
				ruột nào cả, và mẹ Maria cũng chẳng sinh ai thêm. Trái lại, Ngài 
				có một tương quan đặc thù và duy nhất với mẹ Maria quá rõ, đến 
				nỗi người ta chỉ có thể hiểu là anh chị em họ mà thôi, chứ không 
				phải anh chị em ruột. Maria là của Giê-su mà thôi chứ không là 
				của ai khác nữa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tại sao 
				không?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Là bởi việc sinh ra 
				này không do liên hệ với một người đàn ông, mà do chính sự can 
				thiệp của Chúa. Ngày nay có người bảo: không, việc Chúa sinh ra 
				không thể dính dáng tới sinh học được, vì đó là chuyện bất xứng 
				đối với Thiên Chúa, và rồi gạt nó qua một bên. Quan niệm như thế 
				là họ đang ngã theo thuyết Ma-ni-kê, chối bỏ nhân tính của Đức 
				Ki-tô.Con người cũng là sinh học. Và khi ta không nhìn nhận mặt 
				thân xác, mặt sinh học nơi con người, thì một cách nào đó, vật 
				chất sẽ bị khinh miệt và bị đẩy ra ngoài, và rồi như thế rốt 
				cuộc ta cũng sẽ coi việc nhập thể là chuyện giả tạo. Vì vậy tôi 
				chống lại lối lập luận trên. Đây là một con người thật, toàn 
				diện - Câu trả lời cho vấn nạn trên là đó. Thiên Chúa cũng đã 
				nắm lấy sự sống – cả sự sống thể lí, sinh lí lẫn vật chất – và 
				đặt để vào đó một dấu chỉ.Về sự kiện này, tôi cho rằng các giáo 
				phụ đã tìm ra được một hình ảnh đẹp. Tiên tri Ê-sê-ki-en, chương 
				40, viễn kiến về một đền thờ mới, trong đó có một “cánh cửa phía 
				đông” chỉ dành cho nhà vua bước vào mà thôi. Các giáo phụ coi đó 
				là một biểu tượng. Trước hết các ngài xem đó là một đền thờ sống 
				động: Giáo Hội sống động. Cánh cửa, qua đó không ai ngoài &nbsp;Đức 
				Giê-su đi vào, nếu không phải là mẹ Maria thì còn ai hay cái gì 
				vào đó? Vì thế, không thể kéo Mẹ, người sinh ra Thiên Chúa, 
				xuống hạng tầm thường được. Ngài là cánh cửa dành riêng cho nhà 
				vua. Và như vậy chính ngài trở thành cánh cửa thật của lịch sử, 
				qua đó vị mà cả nhân loại trông đợi bước vào.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nghĩa là 
				trước sau vẫn là: Sinh con mà vẫn đồng trinh?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vâng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tín điều 
				vô nhiễm nguyên tội năm 1854 muốn nói lên điều gì ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hậu cảnh của tín điều 
				đó là giáo huấn về tội tổ tông. Giáo huấn này dạy rằng, mỗi 
				chúng ta thoạt tiên sinh ra từ một liên hệ tội lỗi – chúng ta 
				gọi đó là “rối loạn tương quan” -, và do rối loạn này mà ngay từ 
				đầu tương quan giữa ta với Chúa đã bị sứt mẻ. Trong quá trình 
				phát triển giáo huấn đó dần dần đã nẩy ra một suy nghĩ trong thế 
				giới Ki-tô giáo, là Maria không thể rơi vào tương quan sứt mẻ đó 
				được, vì ngay từ đầu ngài là cánh cửa của Thiên Chúa, cánh cửa 
				đã được đặc biệt tạo ra để Chúa bước vào.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Về điểm này, đã có một 
				cuộc tranh cãi lớn trong thời trung cổ. </span>
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="FR-CA">Một bên là các tu 
				sĩ đa-minh. Họ bảo rằng Maria là một con người bình thường như 
				những người khác, nghĩa là ngài cũng mắc tội tổ tông. Phía bên 
				kia là các tu sĩ phan-sinh, lí luận ngược lại. Tóm lại, qua cuộc 
				tranh cãi dai dẳng đó, lần hồi một quan điểm đã kết tinh, bảo 
				rằng sự lệ thuộc của Maria vào Đức Ki-tô mạnh hơn sự lệ thuộc 
				của ngài vào Adam. Và quan điểm đó cũng bảo rằng Maria đã được 
				Thiên Chúa chuẩn bị cho Đức Ki-tô từ trước rồi, và chính đó là 
				đặc điểm của đời ngài. Vì Maria là nguồn của một khởi đầu mới, 
				nên ngài không thể thuộc vào tương quan tội lỗi kia được: Tương 
				quan giữa ngài và Chúa không bị sứt mẻ, ngay từ đầu ngài đã được 
				Chúa bảo bọc một cách đặc biệt, Chúa đã “đoái xem” ngài 
				(Magnificat) và đã để ngài hướng lên với Chúa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hơn nữa, vì Maria 
				thuộc về Đức Ki-tô một cách đặc biệt, nên tương quan này đã đặt 
				ngài hoàn toàn trong tình trạng đầy ơn phúc Thiên Chúa. Lời chào 
				thoạt tiên xem ra đơn giản của thiên thần “Cô đầy ơn phước” như 
				vậy có thể hiểu là ơn phước đó bao trùm cả cuộc đời của Maria. 
				Đây rốt cuộc không hẳn đơn giản chỉ là một đặc ân của Maria, mà 
				còn là một hi vọng cho tất cả chúng ta.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vấn đề càng khiêu 
				khích hơn: Mẹ hồn xác lên trời. Tín điều này muốn nói gì? Nó 
				được hình thành khá trễ, vào năm 1950. Chuyện quái lạ, là ngay 
				từ đầu, chúng ta chẳng thấy một vết tích gì về Maria được để 
				lại, chẳng có mồ mà cũng chẳng còn hạnh tích nào.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hẳn nhiên tìn điều này 
				thật khó hiểu đối với tất cả chúng ta, bởi vì ta không mường 
				tượng được trời là gì. Lại càng khó hiểu khi mường tượng cả một 
				thân xác được đưa lên. Xem thế, tín điều này đặt ra cho trí óc 
				ta một bài toán lớn, đó là phải hiểu trời và xác như thế nào, 
				phải hiểu về chính con người và tương lai của nó ra sao…</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Và cá 
				nhân ngài đã giải bài toán đó như thế nào?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi đã nhờ thần học về 
				phép rửa của thánh Phao-lô để hiểu, khi thánh nhân nói: “Thiên 
				Chúa đã cho ta sống lại với &nbsp;Đức Giê-su và cho ta cùng ngồi trên 
				nước trời trong Đức Ki-tô Giê-su” (Ê-phê-sô 2,6). Có nghĩa là, 
				khi lãnh phép rửa, tương lai của chúng ta đã được báo trước rồi.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Như vậy, tín điều chỉ 
				nói lên điều này, là hệ quả của phép rửa : - được ở (“ngồi”) bên 
				Chúa (Chúa là nước trời!)- đã ứng nghiệm đầy đủ nơi Maria. Phép 
				rửa (cùng ngồi với Đức Ki-tô) đã đạt được đầy đủ hiệu năng cuả 
				nó. Nơi chúng ta, việc cùng ngồi với Đức Ki-tô, việc được sống 
				lại với Ngài còn bất cập, còn rất mong manh. Nhưng nơi Maria thì 
				khác. Ngài không thiếu gì nữa. Ngài đã bước vào cộng đoàn toàn 
				đầy với Đức Ki-tô. Và một khi ở trong cộng đoàn này thì ngài 
				cũng có một cuộc sống thân xác mới, mà chúng ta không thể mường 
				tượng được nó như thế nào.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tóm lại, căn bản của 
				tín điều là Maria đã hoàn toàn ở bên Chúa, hoàn toàn bên Đức 
				Ki-tô, hoàn toàn là một “tín hữu ki-tô”.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Hơn một 
				triệu tín hữu đòi Giáo Hội công giáo nâng Maria lên thành “đấng 
				cùng cứu độ”. Yêu cầu đó sẽ được thoả mãn – hay đó là một lạc 
				tín?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không phải một, mà 
				hiện có nhiều triệu người yêu cầu điều đó. Nhưng tôi tin đòi hỏi 
				này sẽ không được đáp ứng trong tương lai gần. Câu trả lời của 
				Bộ giáo lýđức tin: vai trò cùng cứu độ đó đã thể hiện khá rõ 
				ràng trong các tước hiệu khác của mẹ Maria rồi, còn danh hiệu 
				“đấng cùng cứu độ” đi quá xa Kinh Thánh và các giáo phụ, nên sẽ 
				gây ra hiểu lầm.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="FR-CA">Đâu là cái đúng 
				trong đó? Đúng, là Đức Ki-tô không đứng ngoài hay bên cạnh chúng 
				ta, mà Ngài cùng với chúng ta xây dựng một cộng đoàn mới và 
				thiết thân. Những gì của Ngài là của ta và những gì của ta Ngài 
				đều nhận vào mình, để trở thành của Ngài: Sự trao đổi lớn lao đó 
				là nội dung của cứu độ, là sự mở toang cái tôi và bước vào cộng 
				đoàn với Chúa. Vì Maria đã thể hiện Giáo Hội đích thực nơi mình, 
				có thể nói ngài là Giáo Hội bằng xương thịt, nên sự “đồng cứu 
				độ” đó đã được thể hiện một cách mẫu mực. Nhưng trên cái “đồng” 
				đó ta không được quên cái “trước tiên” của Đức Ki-tô: Mọi sự đều 
				đến từ Ngài, như đã được đề cập một cách đặc biệt trong thư gởi 
				giáo đoàn Ê-phê-sô và Kô-lô-xê; và tất cả những gì nơi Maria đều 
				cũng đến từ Đức Ki-tô.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chữ “đấng cùng cứu độ” 
				có thể sẽ làm lu mờ cái nguồn cội đó. Một &nbsp;ý hướng đúng được 
				diễn tả bằng một từ ngữ sai. Chính trong vấn đề đức tin ta không 
				được đứt đoạn với ngôn ngữ Kinh Thánh và của các giáo phụ; không 
				được chế biến ngôn ngữ đó một cách tuỳ hứng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">CÁC PHÉP 
				LẠ</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Không ai 
				trong Giáo Hội được tôn kính như Mẹ Thiên Chúa, với vô số nhà 
				thờ, bàn thánh, với bao nhiêu bài hát, kinh cầu, lễ kính và cuộc 
				hành hương. Hàng ngàn địa điểm hành hương đức Mẹ trở thành như 
				một mạng lưới tế bào thần kinh toả khắp thế giới.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Và xem ra 
				không ai làm nhiều phép lạ như Mẹ. Những nơi hiện ra treo đầy 
				chứng tích và tài liệu về những biến cố không giải thích được. 
				Bernard ở Clairveaux*, chẳng hạn, gán cho đức Mẹ một năng lực 
				khó tin: “Cứ cầu Mẹ, và anh / chị chẳng bao giờ mất hi vọng”. 
				Thưa Hồng Y, tất cả đều là phép lạ thật?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không thể kiểm chứng 
				được hết mọi biến cố. Thường đó là những chuyện xẩy ra lạ lùng, 
				nhưng có lẽ không nên coi tất cả là phép lạ theo nghĩa hẹp. Tuy 
				nhiên, tất cả những cái đó nói lên lòng tín thác đặc biệt của 
				con người nơi Maria. Qua Mẹ, họ nhìn ra khuôn mặt của Chúa và 
				Đức Ki-tô, và nhờ đó mà họ có thể hiểu được Thiên Chúa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Những dữ kiện mà anh 
				vừa kể, một lần nữa cho thấy là qua Mẹ, con người hiểu được một 
				cách đặc biệt những bí ẩn của Con Chúa và của Thiên Chúa. Đó là 
				lí do nói lên lòng tin sâu xa của con người đối với Mẹ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Maria là cánh cửa mở 
				đưa tới Thiên Chúa. Người ta có thể nói với Mẹ một cách thoải 
				mái, có thể cầu khẩn ngài với ngôn ngữ và lòng tin con trẻ, 
				những chuyện mà ta thường ngại làm trước mặt Đức Ki-tô. Đó là 
				ngôn ngữ của trái tim. Ngôn ngữ đó, hiện diện ở khắp các địa 
				điểm hành hương, càng cho thấy việc Mẹ đã đánh động sâu xa trái 
				tim con người như thế nào. Đó là thứ đức tin mà Đức Ki-tô bảo là 
				có thể dời non chuyển núi.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phải chăng các phép lạ 
				thật đã xẩy ra? đó lại là một chuyện khác. Quan trọng là người 
				ta có lòng tín thác sâu xa, và lòng tín thác đó cũng đã được đáp 
				trả. Qua sự tín thác đó đức tin trở nên thật sống động, đến nỗi 
				nó có thể thấm vào được trong cái vật lí, vào được trong cái 
				hàng ngày, và qua đó ta nhận ra được bàn tay nhân lành của Chúa 
				qua sức mạnh từ ái của Mẹ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Lấy thí dụ Fatima: 
				Ngày 13.05.2000 giáo chủ Gio-an Phao-lô II phong ba trẻ đã nhìn 
				thấy Mẹ lên hàng chân phước. Chính ngài bảo, ngài thoát chết 
				trong cuộc ám sát ngày 13.05.1981 là do ơn lạ của Mẹ. Và ngài 
				còn nói, biến cố phép lạ đó đã ấn dấu sâu đậm lên toàn bộ nhiệm 
				kì giáo chủ của ngài.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Việc gì 
				đã xẩy ra? Gần giữa trưa ngày 13.05.1917 ba em chăn thú tại một 
				miền quê hẻo lánh Bồ-đào-nha là Lucia (10) cùng hai anh em 
				Jacinta (7) và Francisco (9) đã có một thị kiến lạ lùng. Các em 
				kể, một lằn sáng chói chang xuất hiện trên gốc sồi đá chiếu toả 
				vào “một bà tuyệt đẹp”. Bà ấy bảo “Các con đừng sợ”, và bà nói 
				rằng, bà mang đến một sứ điệp hoà bình cho con người. Thoạt tiên 
				câu chuyện đã là trò cười và diễu cợt cho mọi người. Nhưng vào 
				ngày 13.10 năm đó có khoảng 70 ngàn người đã tuôn về để được 
				chứng kiến tận mắt cảnh tượng.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Người ta 
				kể, sự lạ xuất hiện vào khoảng giữa trưa. Trời bỗng dưng ngừng 
				hẳn mưa. Màn mây xé ra và mặt trời bắt đầu xoay tít quanh nó như 
				một bánh xe quay. Cây cối và con người bổng như chìm vào trong 
				ánh sáng huyền diệu đó. Đám đông la thét, vì tưởng như sắp bị 
				mặt trời sa xuống đè bẹp.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chuyện gì thuần khoa 
				học tự nhiên đã xẩy ra hoặc không xẩy ra ngày 13 tháng 10, ta 
				không thể kiểm chứng. Quan trọng là con người đã bị đánh động 
				bởi biến cố có một không hai lúc đó. Họ đã có thể cảm nhận có 
				một chuyện gì xẩy ra. Và một cách nào đó, mặt trời đối với họ đã 
				trở thành dấu chỉ ẩn chứa một bí mật nào đó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Sách Khải-huyền nói về 
				một bà bận áo mặt trời chân đạp mặt trăng. Thoạt tiên, điều đó 
				muốn ám chỉ dân Thiên Chúa trong toàn bộ giao ước cũ và mới, 
				nhưng nó cũng ám chỉ đặc biệt Maria. Áo mặt trời của bà ám chỉ 
				Đức Ki-tô là ánh sáng thật cho thế gian. Hình ảnh đó như vậy nói 
				lên sự gắn bó cội rễ với Đức Ki-tô. Mặt trăng – hình ảnh của sự 
				chóng qua – bị bà dẫm dưới chân. Hình ảnh dẫm đạp đó một mặt nói 
				lên chiều kích lớn lao có thể làm ta khiếp sợ, nhưng mặt khác 
				cũng cho thấy đó là một sức mạnh ủi an. Và những ai tới Fatima, 
				Lộ-đức hay Guadeloupe đều cảm thấy cái lớn lao cũng như lực ủi 
				an và cứu độ đó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nói tới Fatima tất 
				phải nói tới những “bí mật Fatima”. Đó là những sứ điệp mà ba em 
				đã nhận được vào năm 1917. “Bí mật” thứ nhất cho thấy hoả ngục 
				(Các con đã thấy hoả ngục, nơi những người tội lỗi đáng thương 
				đang sa chân vào). Bí mật thứ hai tiên báo việc chấm dứt thế 
				chiến thứ nhất, nhưng (“Nếu người ta cứ tiếp tục thoá mạ Thiên 
				Chúa”) một cuộc chiến “khốc liệt hơn nữa” sẽ xẩy ra. Bí mật đó 
				cũng báo trước về cuộc trở lại của Nga-sô. Nhưng chuyện này chỉ 
				xẩy ra sau khi Gio-an Phao-lô II dâng nước Nga cho đức Mẹ; và 
				một năm sau ngày dâng đó, Gorbachow đã mở ra chương trình tái tổ 
				chức và bức màn sắt đã sập đổ sau đó mười năm.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Về bí mật 
				thứ ba, đã có nhiều phỏng đoán từ nhiều chục năm nay, đặc biệt 
				phỏng đoán về cuộc tận thế hay ít ra là một cuộc sụp đổ của Giáo 
				Hội. Người ta bảo, bí mật này chỉ liên quan tới cá nhân giáo chủ 
				Rô-ma mà thôi, nên không được công bố. Trong kì viếng Fatima lần 
				thứ ba, chính Giáo chủ đã hé lộ cho thiên hạ biết về bí mật đó. 
				Hồng Y Sodano đã được uỷ thác thông báo tóm tắt nội dung sứ 
				điệp, ngài cho hay ba trẻ đã có thị kiến về “một giám mục mặc áo 
				trắng” đã bị trúng đạn và ngã chết dưới đất”, và theo Hồng Y, sứ 
				điệp này là một tiên đoán về vụ mưu sát giáo chủ Gio-an Phao-lô 
				II.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Về cơ 
				bản, sứ điệp Fatima không phức tạp lắm, mà trái lại. Ba trẻ đã 
				diễn tả sứ điệp đó như vầy: “Ta là bà dịu hiền của chuỗi mân 
				côi. Ta đến để con người được tốt hơn. Con người hãy chấm dứt 
				việc thoá mạ Thiên Chúa”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trên thực tế, sứ điệp 
				rất đơn giản. Và chị Lucia, người duy nhất còn sống (năm 2000), 
				vẫn luôn coi trọng sự giản đơn đó, và chị nói, đừng &nbsp;để ý đến 
				những chuyện gì khác mà người ta đã tường thuật, tất cả chung 
				quy lại chỉ là đức tin, hi vọng và tình yêu. Tôi cũng đã được 
				nói chuyện vắn tắt với chị. Chị nhấn mạnh với tôi là hãy kể tiếp 
				chuyện này cho mọi người nghe.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chị nói : Thoạt tiên 
				thiên thần hiện ra với chúng con, các ngài dạy cho chúng con 
				tin, cậy, mến; và nội dung của toàn bộ sứ điệp kia là chúng ta 
				hãy học lấy những nhân đức đó. Đó là những gì Mẹ Thiên Chúa tập 
				cho ta, và nhờ đó giúp ta tinh luyện và trở về với Chúa. Sám hối 
				chính là sự thay đổi cuộc sống, là việc bước ra khỏi khuynh 
				hướng thời thượng, một khuynh hướng đẩy ta rời xa Thiên Chúa và 
				chỉ biết nghĩ tới mình mà thôi. Sám hối là quay về, là đi ra 
				khỏi mình, là cho mình đi; cho mình đi tức là tình yêu, và rồi 
				tình yêu đòi buộc phải có đức tin như là điều kiện, và tình yêu 
				làm nẩy mầm hi vọng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi tin rằng, tất cả 
				những cuộc hiện ra đó, nếu quả có thật, không phải là một cái gì 
				bên lề Tin Mừng. Đó không phải là những thoả mãn cho tính hiếu 
				kì và thích chuyện giật gân của ta, nhưng chúng đưa ta trở về 
				với cái giản đơn và cơ bản, mà ta thường rất ít &nbsp;để ý đến. Chính 
				ngày hôm nay, với bao phức tạp của cuộc sống, đạo của chúng ta 
				lại thường trở nên quá rắc rối, khiến ta nhiều khi chỉ thấy cây 
				mà chẳng còn nhận ra rừng. Vấn đề lúc này là quay trở về cái tâm 
				điểm đơn giản, chẳng phải đi đâu khác, mà là trở về với tin, cậy 
				và mến.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Bộ giáo lýđức tin đã 
				tổ chức một cuộc họp báo ngày 26.06.2000 để trình bày với báo 
				giới toàn bộ bản văn liên quan tới cái gọi là bí mật thứ ba của 
				Fatima. Song song Bộ cũng ra một tài liệu bằng nhiều thứ tiếng, 
				trong đó có chụp lại bản văn viết tay của chị Lucia về bí mật 
				trên, để người ta hết phải bàn tán về sự trung thực và đầy đủ 
				của bản văn. Tài liệu trình bày cẩn thận diễn tiến các thị kiến, 
				các trình thuật bằng văn bản của chị Lucia cũng như biên bản về 
				bí mật thứ ba. Cả cái thông báo của Hồng Y Sodano cũng được in 
				lại trong đó; chính tôi trong đó cũng có viết một bài thử phân 
				tích các bản văn. Vì cuốn sách được phổ biến rộng rãi, nên tôi 
				xin được tóm tắt đôi dòng về nội dung.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thị kiến cho thấy con 
				đường gian nan của một giám mục bận áo trắng (mà chính ba trẻ 
				nhận ra là giáo chủ Rô-ma) đang khó nhọc leo lên một ngọn núi có 
				dựng một cây thánh giá; con đường dẫn xuyên qua một thành phố 
				nửa đổ nát. Các giám mục, linh mục, giáo dân và cuối cùng cả 
				giáo chủ cũng bị giết. Nhưng máu của những nạn nhân đã được 
				thiên thần hứng lấy, và máu đó đã làm cho thế giới sinh hoa kết 
				quả. Ta có thể xem đó là hình ảnh biểu trưng cho Giáo Hội tử đạo 
				trong thế kỷ20; giáo sư Riccardo (chủ tịch cộng đoàn Thánh 
				Egidio) mới đây vừa cho ra một cuốn sách về các vị tử đạo dưới 
				các chế độ độc tài trong thế kỷchúng ta, cuốn sách đã cụ thể hoá 
				một cách hùng hồn những hình ảnh thị kiến. Đọc qua ba phần của 
				bí mật, ta thấy rõ tâm điểm của sứ điệp là lời kêu gọi sám hối, 
				đồng thời sứ điệp còn nói lên tính tự do của lịch sử, nghĩa là 
				lịch sử không hoàn toàn bất biến theo tiền định, mà có thể thay 
				đổi đường đi nhờ vào việc sám hối.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Toàn bộ bí mật là lời 
				thảm thiết kêu gọi tự do con người hãy sửa mình, và nhờ đó sửa 
				lại vận hội thế giới; nội dung bản văn cũng giống như sách 
				Khải-huyền. Sự kiện Giáo chủ thoát chết có thể được hiểu như là 
				một dấu chỉ cho thấy lịch sử có thể diễn tiến khác đi nhờ lời 
				cầu nguyện.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Giờ hãy 
				ghé viếng Lộ-đức. Điểm hành hương lớn nhất thế giới, còn lớn hơn 
				cả Mec-ca nữa, nằm ẩn khuất trong dãy Pyrenée nước Pháp. Người 
				ta bảo nơi đây từ tháng hai tới tháng bảy năm 1858 Mẹ đã hiện ra 
				tất cả 18 lần với Bernadette, và càng ngày càng có đông người 
				hơn được cùng cô gái xay bột chiêm ngưỡng sự biến hình của Mẹ. 
				Bernadette thuật lại: “Bà bận áo trắng, đội khăn trắng, thắt 
				giải khăn xanh và dưới chân có một bông hồng vàng”. Và theo lệnh 
				Bà, Bernadette đã lấy tay moi đất và một mạch nước thiêng từ đó 
				phun lên, hiện nay mỗi ngày phun tới 122 ngàn lít nước.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhà văn Do-thái Franz 
				Werfel, khi còn nằm trong tù Quốc-xã, đã hứa nếu sống sót, sẽ 
				viết về Bernadette, và ông đã thực hiện điều đó. Lúc này đây 
				người ta chẳng còn nhắc gì tới Bernadette nữa. Trước khi mất, 
				chị nói: “Hẳn quý vị cũng thấy là lịch sử của tôi rất đơn giản. 
				Đức trinh nữ đã dùng đời tôi cho ngài. Xong việc thì người ta 
				đẩy tôi vào một góc. Đó là chỗ của tôi, nơi tôi trú ngụ đầy hạnh 
				phúc”.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu chuyện Lộ-đức, đối 
				với cá nhân tôi, quả thật cảm động. Và cũng như nhiều người 
				khác, nhờ cuốn sách của Werfel mà tôi hiểu được thêm sự kiện. 
				Qua cuốn sách, tôi thấy tâm ông Werfel rất gần gũi với 
				Bernadette. Vì muốn liên đới với dân tộc do-thái, ông đã không 
				vào công giáo, nhưng dù vậy tâm ông đã cùng với Bernadette nhìn 
				thấy đức Mẹ thật, đã tin và đã tín thác vào ngài.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có lẽ ta chẳng phải 
				dài dòng luận bàn về câu chuyện. Cô gái đơn sơ kia, chẳng có gì 
				ngoài một tâm hồn tinh khiết lớn lao, đã có thể mang bộ mặt Mẹ 
				Chúa Trời – cho dù ngay bước đầu đã gặp phải sự ngờ vực hữu lí 
				của giáo quyền - vào một thế giới lạnh lùng và có xu hướng đông 
				lạnh tinh thần trong thế kỷcủa chủ nghĩa duy lí này, một thứ duy 
				lí thô lỗ và cả nhuốm màu chống giáo sĩ. Và với mạch nước ban sự 
				sống và cứu độ ở Lộ-đức, Bernadette đồng thời đã minh chứng nơi 
				Mẹ có lực cứu độ của tạo dựng, tạo dựng được Mẹ cho sống lại một 
				cách mới.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Quả là một dấu chỉ đầy 
				ý nghĩa, khi chính trong khung cảnh duy lí này mà một tâm hồn 
				đơn sơ –đơn sơ nên mới có thể nhìn thấy - đã giúp con người tái 
				nhận ra được Ki-tô giáo là một tôn giáo của tâm hồn và là một 
				thực tại có lực cứu rỗi. Và vì vậy ở Lộ-đức con người thường dễ 
				dàng nhìn ra được nét bí ẩn nơi Đức Ki-tô. Và đấy là một điểm 
				khá tích cực. Mạch nước cứu độ ở Lộ-đức nhắc nhở con người về 
				nước rửa tội, đây mới thật là nguồn nước mới Đức Ki-tô đã ban 
				tặng cho ta.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">LÒNG NHÂN 
				ÁI</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tin Mừng 
				viết: “Này anh chị em, có ích gì chăng, khi một người bảo, tôi 
				có đức tin, nhưng lại không làm gì cả. Đức tin như thế có cứu 
				người đó được không?” Mat-thêu ghi: vì công lí nước trời, Con 
				Người sẽ mở một trương mục và có ngày cũng sẽ kết toán sổ sách. 
				Vì “Cái gì ngươi đã làm cho người anh em bé mọn nhất, thì chính 
				là ngươi đã làm cho ta”. Vì đức tin không có việc làm là đức tin 
				chết, nên Giáo Hội đã đưa ra bảy mối thương người, gồm:<br>
				Cho kẻ đói ăn<br>
				Cho kẻ khát uống<br>
				Cho kẻ trần truồng áo mặc<br>
				Cho khách đỗ nhà<br>
				Chuộc người tù<br>
				Thăm người bệnh<br>
				Chôn kẻ chết</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu đầu trích từ thư 
				thánh Gia-cô-bê, thư mang nặng truyền thống ki-tô gốc Do-thái. 
				Thánh Gia-cô-bê là giám mục thành Giê-ru-sa-lem. Trong lịch sử 
				Giáo Hội, ngài là người đại biểu cho loại Ki-tô giáo chủ trương 
				đức tin phải nhập thể vào đời sống, đức tin phải tạo nên hoa 
				trái, phải thể hiện ra hành động.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu thứ hai là của 
				chính Tin Mừng. Câu này mô tả dụ ngôn cuộc phán xét, trong đó 
				Chúa tự đồng hoá với người thiếu thốn và nói: “Các ngươi gặp 
				người thiếu thốn là gặp chính tôi”. Đây là một tư tưởng luôn đốt 
				lên những ngọn lửa mới trong lịch sử Giáo Hội. Nhận ra Đức Ki-tô 
				trong con người, nhất là khi ta đứng trước những người bị khinh 
				bỉ, những người đau khổ, những kẻ nghèo. Trong dụ ngôn, chính 
				Chúa rốt cuộc nói tới nhiều hình thức thương người: “Tôi trần 
				truồng, ông đã cho tôi mặc; tôi đau, bà đã giúp đỡ; tôi bị tù, 
				chị đã tới thăm…” Như thế Ngài đã vẽ ra những loại người thiếu 
				thốn, họ đại biểu cho Chúa trong thế giới.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ta hãy 
				nhìn kĩ hơn vào một trong những mối kia: “Cho kẻ trần truồng áo 
				mặc”. Với câu này, hẳn Chúa không ám chỉ việc quyên góp quần áo 
				cũ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu đó hẳn nhiên mang 
				nghĩa bao quát hơn. Việc quyên góp đồ cũ, nếu làm với thiện tâm, 
				cũng mang ít nhiều giá trị; cũng không nên khinh thường những 
				việc nhỏ nhặt. Nhưng ở đây không chỉ có thế. Một mặt, nó đề cập 
				tới điều thực tế. Là người, ta không chỉ yêu trên nguyên tắc và 
				thỉnh thoảng gởi cho tí tiền, nhưng phải mở mắt ra để thấy chỗ 
				nào người khác cần đến mình trong cuộc sống. Và ta sẽ thấy là 
				điều này thường không dễ, chẳng thoải mái. Hãy nhớ lại câu 
				chuyện ông linh mục và các thầy tư tế gặp người bị trấn lột trên 
				đường. Họ đã không dừng lại, có lẽ vì sợ bị lỡ cái hẹn quan 
				trọng, hay sợ bị nguy hiểm vì đoạn đường đó heo hút. Lí do thì 
				lúc nào cũng có.Trái lại, dụ ngôn toà án của &nbsp;Đức Giê-su, cũng 
				như các mối thương người, nói lên điều rất cụ thể: Không những 
				ta phải thương người một cách chung chung, mà còn phải giúp đỡ 
				cụ thể những kẻ thiếu thốn mình gặp, cả lúc không thuận tiện, 
				không có giờ hay không sẵn phương tiện. Ta phải nghĩ đến từng 
				trường hợp riêng lẻ, chứ không phải chỉ có những chiến dịch lớn 
				mà thôi.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đòi hỏi tình yêu nơi 
				Ki-tô giáo và nơi cộng sản cũng khác nhau. Tình yêu cộng sản chỉ 
				nhắm tới kế hoạch lớn, tới việc cải tổ cơ cấu và bỏ qua trường 
				hợp cá thể. Dĩ nhiên cũng cần những kế hoạch lớn, nhưng không 
				được bỏ qua việc bác ái cá nhân, là công tác rất quan trọng, và 
				nhất là làm sao giúp cho những người đó có được những khả thể 
				tốt hơn. Vì vậy trong Giáo Hội đã có những bệnh viện, những 
				trường học cho người nghèo, và nhiều thứ khác nữa. Tắt lại, phải 
				quan tâm tới cả hai: không bỏ sót người bên cạnh ta trong những 
				chương trình lớn, cũng như phải làm sao thay đổi cơ cấu bất công 
				và trợ giúp cụ thể cho những ai gọi là trần truồng cần áo mặc.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Bên cạnh 
				bảy mối thương thân xác còn có bảy mối thương linh hồn:<br>
				Lấy lời lẽ mà khuyên kẻ hoài nghi<br>
				Mở dạy kẻ mê muội<br>
				Răn bảo kẻ có tội <br>
				Yên ủi kẻ âu lo<br>
				Tha thứ kẻ tạo bất công cho mình<br>
				Nhịn kẻ mất lòng ta<br>
				Cầu nguyện cho kẻ sống lẫn người đã qua đời.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Việc nhân ái không 
				được đóng khung trong khía cạnh vật chất mà thôi, đó là điểm 
				quan trọng. Nếu chỉ lo chuyện vật chất mà thôi thì thật quá ít. 
				Vì vậy, trong viện trợ phát triển, càng ngày ta càng thấy rõ tầm 
				quan trọng của việc giúp con người có được kiến thức và học vấn, 
				để họ đủ khả năng tự giải quyết lấy chuyện của mình. Chỉ khi ta 
				giúp cho trí tuệ, giúp cho con người toàn diện, lúc đó ta mới 
				thực sự giúp. Vì thế, đưa Chúa đến cho con người lại càng là 
				chuyện quan trọng. Giúp tạo nên những tiêu chuẩn luân lí quả là 
				công tác nhân ái hàng đầu.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thử lấy 
				ra một mối: “Mở dạy kẻ mê muội”. Tôi nghĩ, ít khi người được dạy 
				bảo coi đó là hành vi nhân ái.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hãy nhìn vào thí dụ 
				viện trợ phát triển ở châu Mĩ la-tinh. Ở đây, Giáo Hội cũng như 
				các nhóm tả đều coi công tác chống mù chữ là yếu tố chính trong 
				hoạt động của mình. Tại sao? Là vì bao lâu con người còn u minh, 
				bấy lâu họ còn tiếp tục bị lệ thuộc. Họ không thể tự thân thoát 
				ra được tình trạng có thể nói là nô lệ đó. Chỉ khi họ tiếp cận 
				được với sản phẩm giáo dục, lúc đó họ mới có thể trở nên ngang 
				hang, và lúc đó xã hội, đất nước họ mới thật sự phát triển. Và 
				như vậy, việc dạy bảo kẻ u minh ở đây được người ta hiểu là 
				phương cách giúp họ đi vào được thế giới trí tuệ, giúp họ có 
				được chìa khoá để hiểu những gì đang chuyển động thế giới ngày 
				nay.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cũng vậy, nếu ta nhìn 
				lại các phong trào trước đây ở Âu châu, như việc mở trường dạy 
				học cho kẻ nghèo ở Pháp của Jean la Salle*, ta thấy người nghèo, 
				mà bao nhiêu thế hệ đã bị kìm giữ trong lệ thuộc, đã có được vận 
				hội học hành thật lớn. Học là chìa khoá nền tảng mở tung các 
				cánh cửa trí tuệ, là công tác sơ đẳng của nhân ái tinh thần. Dĩ 
				nhiên với điều kiện không chỉ dạy cho người ta biết đọc mà thôi, 
				mà việc đọc này cũng đưa họ vào một liên hệ tinh thần có ý 
				nghĩa, có nghĩa là không phải dạy cho họ một ý thứchệ, nhưng 
				cũng là mở ra cho họ con đường dẫn tới đức tin.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="FR-CA">CHUỖI 
				MÂN CÔI (MAI KHÔI)</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Giáo Hội 
				đã đặt ra một lời kinh đặc biệt có liên quan trực tiếp với bí ẩn 
				của đức Maria, đó là chuỗi mân côi. Đó là một thứ kinh cầu đọc 
				theo chuỗi từng hạt một: bắt đầu với dấu thánh giá (giáo huấn 
				đức tin); tiếp theo là kinh Kính mừng nói lên ba đức hạnh thiên 
				chúa: tin, cậy, mến (giáo huấn sống); bộ chuỗi gồm ba sự vui, 
				thương, mừng; mỗi sự suy gẫm về năm “bí mật” của đức Mẹ với &nbsp;Đức 
				Giê-su, đây là những công thức tóm gọn toàn bộ nội dung Tân Ước.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Những nhà tư tưởng và 
				thần bí lớn mọi thời đều trân trọng bộ chuỗi, coi đó là nguồn 
				sức mạnh tinh thần và là cánh cửa mở ra bao nhiêu khả thể khác. 
				Ngày nay, một đàng chuỗi được xem là một thứ gì lỗi thời khó 
				chịu, đàng khác, nó được coi là một hứa hẹn thiêng liêng có thể 
				nâng đỡ người ta trong cuộc sống thường nhật và giúp họ có được 
				ý thứcsống tốt hơn. Tôi chưa có kinh nghiệm, nhưng có lẽ mình 
				phải bỏ nhiều thì giờ tập làm quen, rồi mới dần nhận ra được khả 
				năng suy niệm với nó, như các nhà sư Tây-tạng vẫn làm. Có lẽ 
				phải lần hàng trăm, hàng trăm và hàng trăm chuỗi rồi mình mới 
				ngộ ra được; và ngược lại, mình cũng bắt đầu phải tập hiểu mình 
				hơn và nhận ra đâu là tâm điểm của con người mình. Theo Hồng Y, 
				đâu là cái bí ẩn của bộ chuỗi?</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nguồn gốc 
				lịch sử bộ chuỗi có từ thời trung cổ. Thời đó, kinh cầu hàng 
				ngày là các Thánh Vịnh. Nhưng hầu hết dân thời đó mù chữ nên 
				không thể đọc được Thánh Vịnh của Kinh Thánh. Vì vậy phải có một 
				Thánh Vịnh thích hợp cho họ, và người ta đã gặp được kinh Kính 
				mừng, trong đó chứa đựng những bí ẩn về cuộc đời &nbsp;Đức Giê-su 
				Ki-tô, và người ta đã xếp lời kinh đó tiếp nhau như xâu chuỗi. 
				Những lời kinh này, khi đọc đi lặp lại trong tinh thần suy niệm, 
				có tác dụng làm con người an tâm, và càng bám vào lời kinh khi 
				đọc, nhất là bám vào hình ảnh Mẹ và hình ảnh Đức Ki-tô trong đó, 
				tâm hồn con người tìm được nỗi yên tĩnh và giải thoát và hướng 
				được lòng lên cùng Chúa.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trên thực tế, chuỗi 
				mân côi nối ta vào cái hiểu biết và kinh nghiệm cội nguồn, đó là 
				sự lặp đi lặp lại. Lặp đi lặp lại là một phần của cầu nguyện và 
				suy niệm, và nó cũng là một thứ nhịp điệu đưa ta vào yên tĩnh, 
				nghỉ ngơi. Không nhất thiết phải suy nghĩ từng chữ khi đọc, 
				nhưng trái lại cứ thả hồn đi vào nhịp đều đều, đọc qua đối lại 
				của lời kinh. Lại nữa, lời kinh cũng đâu phải là không có nghĩa. 
				Nó làm hiện ra trước mắt và tâm ta những hình ảnh và viễn kiến 
				lớn, nhất là hình ảnh của Maria, và qua Mẹ, là hình ảnh của Chúa 
				Con.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Người dân thời đó phải 
				làm lụng nặng nhọc, họ không thể vận dụng trí tuệ nhiều khi cầu 
				nguyện. Trái lại, họ cần một lối cầu kinh giúp họ an tâm, và 
				cũng giúp họ quên đi những âu lo, và mang lại an ủi và ơn lành 
				cho họ. Tôi nghĩ, cái kinh nghiệm cội nguồn của lịch sử tôn giáo 
				đó: kinh nghiệm về sự lặp đi lặp lại, về nhịp điệu và về lời 
				kinh tiếng hát đọc chung này có tác dụng ủi an và giải thoát. 
				Lời kinh đọc chung lan toả đầy không gian, nâng tôi lên, nó 
				không làm cho tôi khó chịu, nhưng đưa tôi vào lắng đọng tâm hồn. 
				Kinh nghiệm cội nguồn đó đã trở nên một thứ gì hoàn toàn Ki-tô 
				giáo, khi, trong khung cảnh mẹ Maria và với hình ảnh Đức Ki-tô 
				này, nó giúp con người cầu nguyện một cách thật đơn giản, nhưng 
				dù vậy, lời kinh vẫn thấm được vào hồn – nó vượt lên trên vòng 
				trí thức, vọng vào hồn và toát ra bằng lời.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ngài có 
				lối lần chuỗi nào khác lạ không?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi lần cách rất đơn 
				giản, giống i như cha mẹ tôi đã làm. Cha mẹ tôi rất thích lần 
				chuỗi. Về già, ông bà lại càng thích lần hạt. Càng về già, người 
				ta càng ít khả năng làm những chuyện trí óc lớn, càng cần một 
				nơi trú ẩn tâm hồn, và nhất là càng muốn được hoà chung vào lời 
				cầu của Giáo Hội. Và tôi đã cầu nguyện giống i như ông bà đã 
				làm.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhưng cầu 
				thế nào? Ngài đọc một hay cả ba chuỗi?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không, ba chuỗi thì 
				nhiều quá, tôi là người vọng động, nên dễ bị chia trí. Tôi chỉ 
				đọc một, hoặc thường là hai hay ba chục thôi, vì rồi có thể lại 
				làm một cái gì khác để khỏi chia trí, để được yên tĩnh, lấy lại 
				tỉnh táo đầu óc. Vì thế, cả chuỗi thì nhiều quá.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Câu hỏi 
				cuối của phần này: Phải cần bao nhiêu thời gian người ta mới có 
				thể hiểu được đôi chút về những bí ẩn của đức tin, và cả về nghệ 
				thuật tin?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Mỗi người mỗi khác. Có 
				những người rất dễ lắng đọng tâm hồn. Có những kẻ khác khó hơn. 
				Nhưng quan trọng là không được bỏ cuộc, phải kiên trì. Và rồi 
				người ta từ từ sẽ thấy mình lớn lên trong đó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Dĩ nhiên có những thời 
				điểm thuận lợi, mà cũng có những lúc khô khan. Có những lúc mình 
				thật dễ bị đánh động và bắt đầu thấy được đôi chút – nhưng rồi 
				lại có những lúc rất khó khăn.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Điều quan trọng trong 
				tiến trình lớn lên của tinh thần này, là không phải chỉ biết cầu 
				nguyện và để tâm vào đức tin những khi mình muốn và cảm thấy 
				thuận lợi mà thôi, nhưng phải giữ kỉ luật. Guardini đã luôn nhấn 
				mạnh điểm này. Nếu chỉ biết cầu nguyện theo hứng thôi, thì đức 
				tin có thể mất. Đức tin cũng cần kỉ luật trong thời hạn hán, có 
				như thế nó mới âm thầm đâm rễ. Cũng giống như cây cỏ vẫn âm thầm 
				tăng trưởng trong cánh đồng mùa đông. “Bánh mì mọc giữa mùa 
				đông”, nhà văn nữ Ida Friedericke Görres đã nói như thế.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Và người 
				ta nên bắt đầu cầu nguyện bằng gì? Bằng các câu hỏi?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chẳng bao giờ nên chỉ 
				bằng suy tư mà thôi. Bởi vì nếu ta nhìn Chúa qua ống nghiệm suy 
				nghĩ và muốn hiểu Ngài bằng thuần lí thuyết, thì ta sẽ thất bại. 
				Phải luôn liên kết câu hỏi với hành động. Pascal có lần nói với 
				một người bạn không tin: Trước hết, hãy làm theo những gì người 
				có đức tin làm, cho dù những cái đó xem ra vô lí đối với bạn.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi nghĩ, ở điểm này 
				mỗi người có cách riêng của mình. Lịch sử cho thấy, có nhiều 
				người nhìn ra cánh cửa đức tin từ nơi Maria. Nhiều người khác đã 
				thấy được điểm khởi đầu nơi Đức Ki-tô, qua việc đọc Tin Mừng. 
				Tôi cho rằng, đọc Tin Mừng luôn luôn là một cách để bước vào 
				niềm tin. Nhưng không phải đọc như kiểu mấy nhà sử đọc, họ chẻ 
				bản văn ra để tìm xem câu này bắt nguồn từ đâu, í kia từ đâu, 
				nhưng đọc trong tinh thần hướng về Đức Ki-tô, bằng cách luôn 
				biết chuyển vào cầu nguyện khi đọc.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi cho rằng có một 
				tương quan qua lại trong các nhịp bước – đôi khi cũng là bước 
				vấp ngã – giữa sống đạo thực hành và việc tìm kiếm trong suy tư. 
				Đức tin không bao giờ đứng trơ trọi một mình, nhưng luôn đi tới 
				với những người tin; những người này hiểu tôi, có thể họ cùng ở 
				trong một hoàn cảnh với tôi, và nhờ thế một càch nào đó có thể 
				giúp đỡ, dẫn dắt tôi. Đức tin luôn lớn lên trong cái chúng-ta. 
				Ai chỉ muốn tin một mình, thì người đó đã bước sai ngay từ đầu.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<a name="6_THÁNH_GIÁ_"><span style="color: #FF0000"><b>6</b></span><span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI"><b> 
				THÁNH GIÁ</b></span></a></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thường 
				người ta có thói quen trốn chạy đau khổ bằng mọi cách. Và không 
				có gì gây bực tức cho xã hội mạnh hơn, là quan điểm Ki-tô giáo 
				cho rằng phải chấp nhận, chịu đựng và ngay cả sẵn sàng đón nhận 
				đau khổ, để nhờ đó thắng vượt nó. Giáo chủ Gio-an Phao-lô II tin 
				rằng “đau khổ là một ẩn số của con người”. Tại sao?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhân loại ngày nay 
				đang tìm cách đẩy đau khổ ra khỏi thế gian. Đối với từng cá 
				nhân, điều đó có nghĩa là phải làm sao tránh bị đau khổ. Nhưng 
				người ta cũng phải thấy rằng, như vậy thì thế giới sẽ hoá ra rất 
				lạnh lẽo, rất khó sống. Đau khổ là một thành tố của kiếp người. 
				Và ai thực sự muốn diệt đau khổ, người đó tất cũng phải huỷ tình 
				yêu; không có đau khổ thì chẳng có tình yêu, bởi vì tình yêu 
				luôn đòi hỏi từ bỏ một phần chính mình, bởi vì tình yêu, tuỳ 
				theo tâm tính mỗi người và mức độ tình huống, cũng luôn kéo theo 
				với nó sự từ bỏ và đau khổ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nếu ta biết con đường 
				tình yêu – cuộc xuất hành, ra đi khỏi mình – là con đường thật 
				để thành người, thì ta cũng hiểu rằng đau khổ là tiến trình 
				trưởng thành. Ai sẵn sàng chấp nhận đau khổ, người đó trưởng 
				thành hơn, hiểu người khác hơn, là người hơn. Ai trốn tránh đau 
				khổ, kẻ đó không hiểu tha nhân, sẽ trở nên vị kỉ, tàn bạo.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chính tình yêu là một 
				cực hình, một chịu đựng. Thoạt tiên tôi cảm nghiệm được trong nó 
				nỗi sung sướng, tôi kinh nghiệm được hạnh phúc thật. Mặt khác, 
				đối lại, tôi cũng phải bước ra khỏi sự yên lành thoải mái của 
				tôi, và phải chấp nhận mình thay hình đổi dạng. Nếu ta bảo, đau 
				khổ là mặt trái của tình yêu, thì ta cũng hiểu được việc học đau 
				khổ quan trọng là dường nào – và ngược lại, cũng hiểu được tại 
				sao việc tránh đau khổ làm cho con người mất khả năng sống. 
				Trường hợp này, đời ta chỉ còn là trống rỗng, rồi có thể chỉ còn 
				lại bực tức, khước từ, hết còn trưởng thành, hết còn biết sẵn 
				sàng chấp nhận.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Việc gì 
				sẽ xẩy ra, nếu Đức Ki-tô không xuất hiện và không chết trên 
				thánh giá? Không có Ngài thì thế gian đã ra tiêu tan từ lâu rồi 
				phải không?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Điều đó không thể nói 
				được. Nhưng ta có thể nói được, là nếu không có Ngài, con người 
				không thể đến được với Thiên Chúa. Con người lúc đó chỉ còn biết 
				tìm Ngài trong lần mò đứt đoạn. Và rốt cuộc họ chẳng còn biết 
				Thiên Chúa là ai hay là gì nữa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Dĩ nhiên, cũng có đôi 
				chút ánh sáng thiên chúa loé lên trong các tôn giáo lớn, song 
				đấy cũng chỉ là những đốm sáng rời rạc hay cũng chỉ là những câu 
				hỏi. Vả, nếu như câu hỏi về Thiên Chúa không có câu trả lời, nếu 
				con đường dẫn tới Ngài bị tắc nghẽn, nếu không có sự thứ tha – 
				sự thứ tha do chính Thiên chúa uỷ quyền -, thì cuộc sống con 
				người trở thành một cuộc thí nghiệm vô nghĩa. Như vậy là chính 
				Chúa đã kéo mây đen ra khỏi một khoảnh bầu trời, Ngài thắp lên 
				ánh sáng, rọi chiếu mở ra cho ta một con đường, con đường chân 
				lí, con đường giúp ta sống, và đường đó chính là sự sống.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">INRI – 
				CUỘC KHỔ NẠN CỦA CHÚA KI-TÔ</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Một người 
				như &nbsp;Đức Giê-su hẳn đã khiến cho dư luận lưu tâm ghê gớm và đã 
				khiêu khích mọi tập thể. Vị tiên tri ở Na-da-ret đó không chỉ 
				được người đương thời hoan hô, mà còn bị nhạo báng và truy nã. 
				Giới cầm quyền coi Ngài và giáo huấn của Ngài là mối nguy cho 
				quyền lực họ, phía Pha-ri-sêu và và các thượng tế bắt đầu tìm 
				cách giết Ngài. Rõ ràng cuộc khổ nạn đã là một phần của sứ điệp 
				Ngài, bởi vì chính Đức Ki-tô đã cho các môn đồ biết trước về khổ 
				nạn và cái chết đó. Ngài nói thế này vào ngày lễ vượt qua, trong 
				hai ngày nữa “Con Người sẽ bị nộp và bị treo trên thánh giá”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">&nbsp;Đức Giê-su đã chuẩn 
				bị tinh thần cho các môn đệ, để họ hiểu rằng, đấng Thiên Sai sẽ 
				không xuất hiện như một kẻ giải phóng, hay như một kẻ uy quyền 
				vinh quang sẽ đưa Is-ra-el trở lại với quyền lực huy hoàng của 
				thời xưa cũ. Ngài đã không tự gọi mình là Thiên Sai, nhưng là 
				Con Người. Con đường của Ngài, trái lại, chỉ là con đường vô 
				quyền và chấp nhận cái chết, bị nộp cho người ngoài đạo, như 
				Ngài đã nói, và bị họ treo lên thánh giá. Ngài muốn các môn đệ 
				phải hiểu Nước Chúa sẽ đi vào trần gian bằng con đường đó, chứ 
				không bằng con đường nào khác.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Bức họa 
				nổi tiếng của Leonardo da Vinci*, Bữa Tiệc Li, vẽ lại cảnh bữa 
				ăn chia tay giữa &nbsp;Đức Giê-su và các tông đồ. Trong chiều tối hôm 
				đó, Ngài đã làm cho các tông đồ ngỡ ngàng thất vọng, khi Ngài 
				cho hay sẽ có sự phản trắc. Sau đó Ngài lập ra phép Thánh thể, 
				phép mà từ đó tới nay đã gần hai ngàn năm vẫn được ki-tô hữu cử 
				hành mỗi ngày.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tin Mừng 
				viết, “Trong bữa ăn, &nbsp;Đức Giê-su cầm lấy bánh và đọc lời chúc 
				tụng; rồi Ngài bẻ bánh, đưa cho các tông đồ và nói: Hãy cầm lấy 
				mà ăn; đây là mình thầy. Rồi Ngài cầm chén rượu, dâng lời ca 
				tụng, đưa cho các tông đồ và nói: “Hãy cầm lấy mà uống, đây là 
				máu thày, máu của giao ước mới, sẽ đổ ra để anh em và nhiều 
				người được tha tội. Hãy làm việc này để nhớ đến thày”. Có lẽ đây 
				là những câu cho tới ngày nay được lặp đi lặp lại nhiều nhất 
				trong lịch sử. Chúng xem ra như một công thức thánh.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chúng là một công thức 
				thánh. Nghĩa là những câu nói vượt ra hẳn ngoài mọi sự thường 
				tình, mọi chờ đợi, mọi suy tính. Đó là những câu chứa đựng kho 
				tàng vô giá và ý nghĩa thâm sâu. Muốn biết Đức Ki-tô, tốt nhất 
				nên suy niệm những câu đó và cùng cử hành sự hiện diện của 
				chúng, những lời đã trở thành bí tích. Phép Thánh thể là một 
				tổng kết về Đức Ki-tô.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ở đây, Đức Ki-tô lấy 
				lại những sợi chỉ nền tảng của Cựu Ước. Một mặt, Ngài dựa vào 
				việc lập Giao ước cũ ở núi Si-nai, và cho thấy rõ rằng, sự việc 
				khởi đầu ở Si-nai giờ đây lại xẩy ra một cách mới: Giao ước mà 
				Thiên Chúa đã lập với con người, giờ đây đã thật sự hoàn thành. 
				Bữa tiệc li là biến cố thành lập Giao ước mới. Khi Ngài giao 
				mình cho con người, lúc đó một cộng đoàn máu mủ giữa Thiên Chúa 
				và con người thành hình.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Mặt khác, ở đây lời 
				của tiên tri Jê-rê-mi-a tiên báo về việc lập Giao ước mới cũng 
				được nhắc tới. Cả hai vòng cựu ước (lề luật và tiên tri) tan 
				biến vào trong sự thống nhất này và đồng thời hình thành nên một 
				hành vi bí tích. Trong đó thập giá đã được hé mở cho thấy trước. 
				Bởi vì nếu như Đức Ki-tô cho đi thịt máu Ngài, cho đi chính 
				Ngài, thì điều kiện đặt ra là Ngài phải cho thực sự. Như vậy thì 
				những lời trên cũng là hành động nội tại của thập giá, hành động 
				đó nói lên rằng, Chúa đã biến bạo lực bên ngoài đối với Ngài 
				thành ra một hành động tự tặng mình cho nhân loại.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Và ở đây, có một điểm 
				nữa cũng đã được nói ra trước, đó là phục sinh. Không thể cho 
				người ta ăn thịt chết, thân xác chết. Chỉ vì Ngài sẽ phục sinh, 
				nên thịt và máu của Ngài trở nên mới. Và không phải ăn uống kiểu 
				con người, nhưng là sự kết hợp với &nbsp;Đấng Phục Sinh hằng sống.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Xem thế, chỉ trong mấy 
				lời trên, ta thấy chứa đựng cả một tổng hợp lịch sử tôn giáo, 
				một tổng hợp lịch sử đức tin của Is-ra-en cũng như chính cuộc 
				sống và công trình của &nbsp;Đức Giê-su, và cuộc sống và công trình 
				của Ngài này cuối cùng đã trở thành bí tích và hiện diện luôn 
				mãi.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Các môn 
				đệ cùng Ngài lên núi Cây dầu. Tại đây, Phê-rô khẳng định sẽ 
				chẳng bao giờ phản bội thầy mình. &nbsp;Đức Giê-su muốn vào vườn 
				Giệt-sê-ma-ni để cầu nguyện. Ngài bị cảm kích mạnh và bị cám dỗ 
				tấn công. Buồn và sợ xâm chiếm Ngài. “Tâm hồn thầy lo buồn đến 
				chết”, Ngài nói với hai môn đệ, “hãy ở lại và thức với thầy”. 
				Hai môn đệ vừa bước khỏi mấy bước thì Ngài sấp mình xuống đất. 
				Ngài cầu nguyện và có lẽ cũng khóc thầm. Hai môn đệ nghe tiếng 
				Ngài “Cha ơi, nếu được thì xin cất chén này khỏi con. Nhưng 
				không theo í con, mà tuỳ í Cha muốn”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đây là một trong những 
				đoạn cảm động và gây xúc động nhất của Tân Ước. Bí ẩn về cơn lo 
				sợ của Chúa Ki-tô luôn là nội dung mới mẻ để ta suy gẫm, cũng 
				như các bậc thánh lớn đã hằng suy gẫm.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ở đây, tôi thấy như có 
				một cuộc vật lộn giữa tâm hồn con người và tâm hồn thiên chúa 
				trong &nbsp;Đức Giê-su Ki-tô. Ngài thấy toàn bộ vực thẳm xấu xa và 
				kinh hãi của kiếp người, mà Ngài phải mang trên mình và phải 
				trải qua. Ngài thấy nỗi kinh hoàng của gánh nặng đang tới với 
				Ngài. Không chỉ cái sợ của giờ phút bị hành hình mà thôi, mà đó 
				là cuộc đối diện với toàn bộ kinh hoàng và vực thẳm của vận mạng 
				con người mà Ngài gánh trên mình. Cảm nhận đó của Ngài vượt xa 
				những gì ta có thể cảm nhận. Cả ta nữa cũng có thể khiếp hãi, 
				lúc đứng trước nỗi kinh hoàng của lịch sử con người, lúc nhìn 
				vào vực thẳm huỷ diệt con người khi họ chối từ Thiên Chúa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhà thần học người 
				Hi-lạp Maximus Confessor đã có một lối diễn tả biến cố cầu 
				nguyện trên núi cây dầu thật đặc biệt. Ông bảo, đã có một “phản 
				ứng hoá học về hiện hữu”. Nghĩa là, lúc đó í muốn của &nbsp;Đức 
				Giê-su đã trở thành một với í muốn của Chúa Con, và như vậy làm 
				một với í muốn của Chúa Cha. Toàn bộ sự đối kháng của bản tính 
				con người chống lại sự chết và những gì khiếp hãi, đã toát lên 
				trong lời cầu nguyện. &nbsp;Đức Giê-su phải thắng vượt bản tính đối 
				kháng của con người chống lại Thiên Chúa. Ngài phải thắng vượt 
				cơn cám dỗ làm trái ý Thiên Chúa. Ở đây, cơn cám dỗ đã đạt tới 
				cao điểm, và rồi nó sẽ bị bẻ gẫy để đưa tới tiếng xin vâng. Cuối 
				cùng, í Chúa và í người hoà tan vào nhau làm bật lên lời xin: 
				“Nhưng đừng theo í con, mà theo í Cha”.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Các môn 
				đệ xem ra mệt mỏi. Khi thầy trở lại, thì các ông đã ngủ. &nbsp;Đức 
				Giê-su thất vọng: “Các anh không thể thức với thầy được một giờ 
				sao”?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vâng, Ngài thất vọng. 
				Và ki-tô hữu mọi thời đều thấy câu nói của &nbsp;Đức Giê-su trong 
				giây phút đó đã vang vọng vào dọc dài lịch sử Giáo Hội. Các môn 
				đệ của Ngài luôn ngủ. Luôn luôn xẩy ra chuyện con cái Ngài ngủ, 
				khi việc nhà Chúa đang ở trong tình thế nguy kịch. Ngài đưa họ 
				tới gần Ngài, để họ chia sẻ bớt gánh nặng cô đơn của Ngài, nhưng 
				rõ ràng đã chẳng ai cảm được nỗi kinh hoàng của giây phút đó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Và Đức 
				Ki-tô còn nói: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện, để đừng bị sa chước 
				cám dỗ. Tâm trí thì sẵn sàng, nhưng xác thịt thì yếu đuối”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu đó làm ta liên 
				tưởng tới lời Chúa nói sau cơn hồng thuỷ: “Ta thấy chúng chỉ là 
				xác thịt, yếu đuối, cần được tha thứ và thương xót”. Như vậy, 
				cuối cùng, nỗi thất vọng của Ngài đã tan biến vào lòng thương 
				xót.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Giu-đa 
				dẫn theo một đám đông lính võ trang. Ông bước tới &nbsp;Đức Giê-su và 
				hôn Ngài. Đó là mật hiệu. Quân lính vừa xấn tới &nbsp;Đức Giê-su thì 
				Phê-rô bước ra, rút gươm và chém đứt tai một anh tay sai của 
				thượng tế. &nbsp;Đức Giê-su chỉ Phê-rô nói: “Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì 
				ai dùng gươm thì sẽ chết vì gươm”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phê-rô muốn minh chứng 
				điều mình đã hứa là thật, ông sẵn sàng chết với Thầy. Dĩ nhiên 
				Phê-rô rồi cũng phải hiểu ra rằng kiểu can đảm kia chẳng đi tới 
				đâu cả, vì nó chẳng giải quyết được gì.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng đây là điều &nbsp;Đức 
				Giê-su cũng muốn nói cho toàn bộ lịch sử. Ngài cảnh cáo: Việc 
				nhà Chúa không thể bảo vệ được bằng gươm giáo, như người ta, 
				tiếc thay, vẫn luôn cố làm. Ai muốn dùng bạo lực để bảo vệ Chúa, 
				người đó chống lại Ngài.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Sau khi 
				Thầy bị bắt, các môn đệ bỏ chạy hết, không sót một ai. Người ta 
				dẫn Ngài tới thượng tế Cai-pha để tra khảo. Nhưng bản luận tội 
				của Cai-pha thiếu thuyết phục, các lời chứng đều là chuyện bịa 
				đặt. Cuối cùng họ đã tìm ra được một tội: Nhạo báng Thiên Chúa. 
				Thượng tế ép Ngài: “Ngươi hãy thề trước Thiên Chúa hằng sống, có 
				phải ngươi là Thiên Sai, là Con Thiên Chúa không”? Và &nbsp;Đức 
				Giê-su đã thẳng thắn trả lời: “Đúng như điều ông nói”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Là thầy cả thượng tế, 
				Cai-pha có trách nhiệm về mặt đức tin cho cả Is-ra-en. Hẳn nhiên 
				Cai-pha thật sự không muốn ra án tử cho Con Thiên Chúa. Ông biết 
				Giê-su là người tin vào một Thiên Chúa duy nhất, đây là tâm điểm 
				đức tin của giáo lýdo-thái giáo; cái tội của Giê-su, theo ông, 
				là đã dám xưng mình là Con Thiên Chúa. Dĩ nhiên ông đã không 
				nhìn ra được gì khác, vì đức tin nơi ông đã bị bó rọ trong công 
				thức. Song ta cũng không nên phán xét ông một cách hời hợt, vì 
				dù sao thì ông cũng phải hành động theo trách nhiệm tôn giáo của 
				mình.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Cuộc khổ 
				nạn bắt đầu. Các thầy luật và trưởng lão là những người đầu tiên 
				nhổ vào mặt &nbsp;Đức Giê-su. Họ lấy khăn chụp vào đầu Ngài và vả 
				Ngài: “Mày là Thiên Sai, là tiên tri, hãy nói cho chúng tao biết 
				ai đánh mày?” Phê-rô lúc đó đang luẩn quẩn trong sân, ông bị 
				nhận diện và đã chối Thầy. Nhưng khi ông nhận ra hành động mình, 
				ông bỏ ra ngoài, bật khóc cay đắng. Cả Giu-đa cũng chẳng sung 
				sướng gì về việc làm của mình, ông rất hối hận. Ông vứt tiền vào 
				Đền thờ và tự tử.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ở đây,ta thấy con 
				người yếu đuối một cách thảm hại:Thoạt tiên Phê-rô chạy trốn, 
				nhưng rồi quay lại để xem chuyện gì xẩy ra.Theo cái nhìn của 
				ông, việc chối Thầy chỉ là một lời nói dối nhỏ nhặt, chẳng qua 
				để khỏi bị nhận diện để được gần Thầy mà thôi.Nhưng dưới cái 
				nhìn của &nbsp;Đức Giê-su, đó là một hành vi hèn nhát bỏ cuộc.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cái thích thú đối với 
				tôi là phản ứng khác nhau của hai kẻ có tội. Một người nhận ra 
				con đường ăn năn và nhờ đó được đón nhận lại. Người đó sẵn sàng 
				nhận thứ tha, không thất vọng, i đau khổ, quay ra ăn năn và trở 
				về. Người kia quá hoảng hốt về việc phản bội của mình và chẳng 
				còn tin vào sự tha thứ nữa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Khác biệt là đó. Hai 
				loại ăn năn, tự lên án mình. Người này không rơi vào hư vô, 
				nhưng để mình được đón nhận trở lại. Người kia chẳng còn tin vào 
				sự tha thứ, để mình tự hủy diệt và vì thế không còn chấp nhận 
				con đường đổi mới đang mở ra.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi tin đây là một bài 
				học đầy ý nghĩa cho những ai bị vấp ngã, cho mọi thứ ý thứctội 
				lỗi và mọi cách vượt thắng tội lỗi. Sự tự lên án quá đà và sai 
				lầm, để cuối cùng dẫn đến việc chối bỏ mình hoàn toàn, không 
				phải là phương cách đúng đắn để giải quyết tội lỗi mình.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">&nbsp;Đức 
				Giê-su bị lôi tới tổng trấn người Rô-ma tên là Pontius Pilatus. 
				Pilatus nhạo Ngài: “Ông là vua dân Do-thái? &nbsp;Đức Giê-su trả lời: 
				“Vâng, tôi là vua, nhưng vương quốc của tôi không ở trong thế 
				giới này. Tôi được sinh ra để làm vua và có mặt trong thế gian 
				này để làm chứng cho sự thật. Ai ở trong sự thật, kẻ đó nghe 
				tiếng tôi”. Pilatus không thể hiểu được câu trả lời, nhưng hỏi 
				lại &nbsp;Đức Giê-su một cách nghi hoặc: “Sự thật là gì”?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thoạt tiên &nbsp;Đức Giê-su 
				bị xét xử và kết án trước toà án do-thái. Nhưng không hiểu tại 
				sao các thế lực do thái lại không thi hành bản án, mà lại chuyển 
				sang toà án của chính quyền Rô-ma. Tại đây, người ta chẳng còn 
				tố Ngài bổ báng Thiên Chúa nữa, mà kết tội Ngài là một tay chính 
				trị muốn lật đổ nền cai trị của Rô-ma, nghĩa là từ án tôn giáo 
				biến thành án chính trị. Pilatus có lẽ chẳng thích thú gì về 
				việc luận tội này.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Bản án không vững, và 
				ông quan toà Rô-ma này là một người vô liêm sĩ, lúc đầu ông 
				chẳng thú vị gì làm anh đao phủ cho người Do-thái. Hình ảnh 
				Pilatus này xem ra thật tân thời. Khi &nbsp;Đức Giê-su nói về chân 
				lí, câu trả lời của ông đúng là của một kẻ hoài nghi chính hiệu: 
				Như thế là sự thật ư? Vậy thì tay này quả đúng là người gàn, hắn 
				ta quả quyết mình là chứng nhân cho sự thật và sẵn sàng chết cho 
				sự thật đó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ông toàn 
				quyền Rô-ma tuyên bố với đám đông, ông thấy Giê-su không có tội 
				gì. Nhưng theo thói quen tha tội nhân vào những dịp lễ lớn, ông 
				để cho họ chọn giữa Giê-su và tay bạo hành Barabas. Đám đông 
				nhao lên: “Tha Barabas!” “Còn Giê-su?” “Đóng đinh vào thập giá”! 
				Pilatus trao vật tế cho đám đông, nhưng rửa tay trước mặt họ để 
				nói lên sự vô tội của mình.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đoạn này cũng cho ta 
				một bài học về đám đông. Trong đám đông có lẽ cũng có những 
				người trước đó vô hại, những người đã mến và hoan hô Giê-su. Ta 
				thấy đám đông có thể huỷ hoại lương tâm đến thế nào. Nó có thể 
				làm cho chính con người trở nên vong thân và biến họ thành dụng 
				cụ của sự dữ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Như trước 
				đó các thầy cả đã làm, giờ đây các tay lính cũng bỡn cợt với tù 
				nhân. Họ lột áo, khoác lên mình Ngài một tấm vải đỏ và đội lên 
				đầu Ngài một mũ gai. Đưa cho Ngài một cây gậy thay vương trượng, 
				và rồi cả đám quỳ xuống mà rằng: “Này vua Do-thái, hãy tự cứu 
				mày đi”. Rồi họ nhổ vào mặt Ngài, giật gậy và đánh vào đầu Ngài. 
				Cũng lại là Pilatus, trước cảnh tượng đó, ông đã kêu gọi lòng 
				thương hại: “Ecce homo – hãy xem, một người như thế”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tất cả những đoạn đó 
				rất thâm sâu. Chúng dẫn ta bằng nhiều lối tới cả một chuỗi sự 
				kiện, từ nỗi tầm thường của sự dữ cho tới nét khiêm tốn của 
				quyền lực và của tình yêu thiên chúa. Trước hết, ta thấy sự vô 
				tri của đám đao phủ, đối với họ độc ác đã trở thành chuyện 
				thường tình. Nhưng có lẽ còn có cái gì thẳm sâu hơn nữa đàng sau 
				những diễu cợt kia. Bởi vì chính kẻ đội vương miện bị nhạo báng 
				đó là vua thật của thế giới. Kẻ đội vương miện bằng gai kia, 
				nghĩa là đội lấy nỗi đau đớn của thế giới, là vua thật. Câu nói 
				của Pilatus vô tình chứa đựng một nội dung vượt lên trên nghĩa 
				chữ. Một cách nào đó ông đã nói: “Vâng, cái đó là người”, một 
				con bọ thảm thương. Đồng thời ông chỉ vào con người thật, con 
				người mang hình ảnh Chúa trong đau khổ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Đám lính 
				dẫn kẻ nhục hình với mũ gai trên đầu về Gôn-gô-ta, đến “núi sọ”. 
				&nbsp;Đức Giê-su vác thập giá nặng, Ngài đổ mồ hôi máu. Ba lần Ngài 
				gục ngã vì gánh nặng. Chị Vê-rô-ni-ca trao cho Ngài tấm khăn để 
				lau mặt tạm, những phụ nữ khác khóc, nhưng tuyệt đối không có ai 
				đứng hai bên đường sẵn sàng vác đỡ cho Ngài. Có lẽ vì sợ Ngài 
				chết dọc đường không đến được nơi hành hình, đám lính đã bắt một 
				người tên là Si-mê-on ở Xi-rê-nê vác đỡ cho Ngài một đoạn.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Lòng sùng mộ Ki-tô 
				giáo đã lấy con đường thánh giá, con đường ngày nay ta có thể đi 
				lại ở Giê-ru-sa-lem, làm nguyên biểu tượng cho bước đường đau 
				khổ của con người. Một số biến cố trong đó đã trở thành nội dung 
				suy gẫm, chẳng hạn như ba lần Chúa ngã hay hình tượng 
				Vê-rô-ni-ca. Đó là những cảm nhận của con tim khi bước theo con 
				đường đó. Đường thánh giá và chuỗi mân côi là kinh cầu quan 
				trọng được hình thành do lòng sùng mộ của tín hữu phương tây 
				trong thời trung cổ. Đó không những là chứng liệu quan trọng về 
				sự trưởng thành tâm hồn và về lòng đạo đức, nhưng thực tế là một 
				trường học của nội tâm và của những an ủi. Đó cũng là trường học 
				dạy ta xét mình, giúp ta trở về, giúp tâm hồn biến đổi và dạy ta 
				cách cùng đau khổ với tha nhân – không phải chỉ cảm nhận cái đau 
				khổ của người mà thôi, mà đó còn là một cái gì thôi thúc ta phải 
				nhận chân con người mình và sửa mình nên tốt hơn.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hình ảnh Xi-mê-on dĩ 
				nhiên cũng quan trọng không kém. Thế giới ki-tô hữu nhìn thấy 
				trong đó một nhiệm vụ không bao giờ dứt. Có thể nói Đức Ki-tô 
				vác thập giá đi suốt toàn bộ lịch sử. Ngài mong chờ những bàn 
				tay của Vê-rô-ni-ca hay của Xi-mê-on sẵn sàng chia sẻ gánh nặng 
				thánh giá.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Không thể 
				tưởng tượng được việc đám lính hành hạ &nbsp;Đức Giê-su. Tất cả những 
				thù hận, những gì muông thú, xấu xa nhất mà con người có thể gây 
				cho nhau, đều được chúng đổ lên đầu Ngài.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">&nbsp;Đức Giê-su là một nạn 
				nhân điển hình của bạo lực. Chúng ta vừa chứng kiến con người 
				trong thế kỷ20 đã có thể man rợ tới chừng nào; họ đã tự sỉ nhục 
				và phá huỷ chính khuôn mặt mình, qua việc phá huỷ bộ mặt tha 
				nhân. Trước sự kiện con “Chiên Thiên Chúa” đã phải gánh thay vào 
				mình tất cả những nhục nhã đó, chúng ta một mặt phải rúng động 
				về sự dã man của con người, phải đặt lại vấn đề với chính mình 
				về việc đã tỏ ra hèn nhát hay câm lặng đứng nhìn, cũng như chính 
				mình đã đồng loã với tội ác. Mặt khác chúng ta phải sửa đổi mình 
				để Chúa được vui. Chúa đã đứng về phía những người vô tội và 
				những người đau khổ, và Ngài cũng muốn thấy ta cùng đứng ở phía 
				đó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Trên thập 
				giá &nbsp;Đức Giê-su còn bị chế nhạo. Lính đưa cho Ngài rượu có trộn 
				mật đắng. Họ còn treo trên thập giá tấm bảng viết: Giê-su 
				Na-da-ret, vua Do-thái (INRI). Các thượng tế và thầy luật la 
				lên: “Mày muốn phá Đền thờ rồi xây lại trong ba ngày ư? Nếu là 
				con Thiên Chúa thì hãy cứu mình và xuống khỏi thập giá đi.” 
				Nhưng &nbsp;Đức Giê-su đã không rời thập giá. Ngài chẳng nói gì. 
				Chẳng nói gì cả. Từ giờ thứ sáu tới giờ thứ chín trời đất bỗng 
				tối sầm. Vào khoảng giờ thứ chín Ngài kêu lên: “Eli, Eli, lema 
				sabachtani”. Một câu thật lạ, vì nó mang nghĩa: “Chúa ơi, Chúa 
				ơi, sao Ngài bỏ con?”</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Về việc trao thức 
				uống, Tin Mừng kể lại hai cách. Mat-thêu nói đó là rượu trộn mật 
				đắng, và người ta trao cho Ngài lúc bắt đầu đóng đinh, có lẽ đó 
				là một thứ thuốc tê. Nhưng Ngài đã từ chối, vì Ngài muốn chịu 
				đựng nỗi đau với tất cả cảm giác. Mac-cô, Lu-ca và rõ hơn Gio-an 
				bảo đó là giấm, và người ta đã trao cho Ngài khi sắp tắt thở. Rõ 
				ràng các thánh sử muốn liên tưởng tới câu Thánh Vịnh: “Thay vì 
				của ăn chúng đưa cho tôi thuốc độc và giấm” (Tv 69,22). Một vài 
				chỗ trong sách tiên tri cũng viết: Ta đã trồng một vườn nho và 
				nó đã đưa cho ta giấm – một lời than trách vẫn luôn đúng cho 
				hoàn vũ Ki-tô giáo.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Rồi ta nghe những nhạo 
				báng đổ lên &nbsp;Đức Giê-su. Sách Khôn ngoan trong Cựu Ước có viết: 
				“Những kẻ bất lương nhạo báng người công chính”. Chúng đưa Ngài 
				tới chỗ chết và nói: Này là lúc hãy tỏ cho chúng tao thấy mày có 
				phải Thiên Chúa hay không. Đó là lối thử nghiệm của họ. Đó là 
				giây phút chiến thắng, mà những người pha-ri-sêu, có thể một số 
				trong họ trước đó đã bị cắn rứt lương tâm, giờ đây thấy mình có 
				lí và quay ra nhạo báng Ngài. Như vậy là họ thông đồng với nỗi 
				tầm thường của sự dữ, như nó đã được thể hiện nơi đám binh lính.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tin Mừng cho hay &nbsp;Đức 
				Giê-su trên thập giá đã thốt ra bảy lời tất cả. Lời nhắc đến 
				trên kia có tầm quan trọng bản lề. Đó và câu đầu của Thánh Vịnh 
				21, bài bi ca lớn của dân Is-ra-en, cho thấy trong lịch sử, cứ 
				mỗi lần dân này bị áp bức và bị dồn vào đường cùng, đều kêu lên: 
				“Chúa ơi, Chúa ơi, sao Ngài bỏ rơi tôi?”. Dùng Thánh Vịnh 21 để 
				cầu nguyện, là &nbsp;Đức Giê-su muốn đồng hoá mình với dân tộc đau 
				khổ Is-ra-en, và muốn nhận vào Ngài số phận của dân này.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng ta không được 
				quên, đó cũng là một lời cầu nguyện. Trong tiếng la nguy kịch đó 
				Ngài đã hướng về Thiên Chúa. &nbsp;Đức Giê-su chết như một người cầu 
				nguyện, như một người làm theo lời dạy của điều răn thứ nhất, là 
				luôn cầu nguyện với Thiên Chúa. Thánh Vịnh đưa ta vào một nỗi 
				tín thác lớn, nó tiên tri về phép Mình Thánh và chấm dứt với 
				câu: “Người nghèo được ăn uống no nê”. Từ thập giá tuôn ra Manna 
				mới làm cho kẻ nghèo được no nê.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Khi Ngài 
				tắt thở, khăn Đền thờ bị xé đôi. Động đất, đá tảng vỡ ra, ta còn 
				đọc thấy là mồ mả mở tung. Bao nhiêu thế kỉ, các nghệ sĩ cố gắng 
				bằng mọi cách diễn tả cảnh tượng đó. Tôi nhớ đặc biệt tới một 
				tấm hình: Kẻ bị đóng đinh gục đầu hơi nghiêng về một bên vai, 
				mắt nhìn thẳng vào người xem. Mũ gai ấn mạnh vào sọ. Máu tuôn 
				đầy người. Nước mắt Ngài chảy ra. Nhưng dù bị khổ nạn, ánh mắt 
				hé mở và không bị hây hấn gì của Ngài vẫn toát ra nét bình an. 
				Dù có đủ lí do để than thở, nhưng kẻ bị nạn vẫn mỉm cười với 
				người xem. Chẳng có một nét gì gọi là trách cứ trên khuôn mặt 
				đó, &nbsp;Đức Giê-su trông như đã được giải thoát và hoàn toàn thanh 
				thoải. Càng nhìn Ngài lâu, quái lạ ta càng nhận ra rõ nét an ủi 
				bên cạnh nét u sầu.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chỉ trong suy niệm, 
				chỉ khi hồn ta qua cầu nguyện đồng hoá làm một với Đức Ki-tô 
				chịu đóng đinh, khi đó ta mới có được những hình ảnh chịu nạn 
				đích thực, lớn và thuần khiết. Chúng vừa nói lên nỗi khát khao, 
				cơn túng quẫn, nỗi đau đớn và sự tra tấn man rợ nhất, nhưng đồng 
				thời cũng cho thấy sự bình an trong câu nói cuối cùng: “Con phó 
				linh hồn trong tay Cha. Sự việc đã hoàn tất”.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">&nbsp;Đức Giê-su gục đầu và 
				tắt thở. Ngài trút tinh thần và trao nó lại cho Cha Ngài, và sự 
				bình an đã chói rạng lên từ câu nói cuối cùng của Ngài. Hình 
				chịu nạn không bao giờ được phép chỉ nói lên khía cạnh man rợ mà 
				thôi, vì như thế chúng không diễn tả hết được cái bí ẩn của Đức 
				Ki-tô. Nếu chúng chỉ muốn nhắm tới việc thoá mạ con người không 
				thôi, thì chính chúng lại trở nên đích cho người ta diễu cợt.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">PHỤC SINH</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Trong 
				vòng 24 tiếng đồng hồ, khắp Giê-ru-sa-lem nhận ra sự kiện phục 
				sinh. Người trong thành sáng hôm đó ai nấy đều sửng sốt. Lại có 
				động đất, cuộc động đất hai ngày trước đó đã làm rung chuyển Đền 
				thờ, rồi suốt trong ba giờ liền bão cát nổi lên, tiếp đó lại 
				động đất. Khi các bà là những người đầu tiên tri hô lên không 
				còn thấy xác, người nghe coi đó là chuyện nhảm. Nhưng đến chiều 
				tối thì chẳng còn ai ngờ gì nữa, nhất là trong đám môn đệ. &nbsp;Đức 
				Giê-su đã hiện ra với hai trong số các môn đệ trên đường đi 
				Ê-mau và đã tỏ mình cho họ biết. Lịch sử đạo Ki-tô như là lịch 
				sử của một niềm tin khởi đầu từ giây phút này.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Giê-ru-sa-lem đã biết 
				đến sự kiện sớm hay muộn, ta không rõ. Ta chỉ biết qua kết luận 
				của Mat-thêu rằng, cả sau cuộc hiện ra cuối cùng của Chúa trên 
				núi Si-nai – Đấng bị đóng đinh đã sống lại và nói: “Mọi quyền 
				năng đã được trao cho Ta” – thì vẫn còn có những kẻ không tin. 
				Sứ điệp phục sinh luôn gặp phải ngờ vực và chối bỏ, cho dù nó là 
				một sứ điệp chiến thắng, sứ điệp vượt thắng hoài nghi.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đức Ki-tô đã ra khỏi 
				thế gian và ra khỏi cuộc sống thế gian để mặc lấy một thân xác 
				mới. Thân xác này không còn bị lệ thuộc bởi các quy luật vật lí; 
				nó thuộc về thế giới thiên chúa, từ thế giới đó Ngài tỏ mình ra 
				cho con người và mở lòng họ, để họ nhận ra và đụng chạm được 
				Ngài. Chúng ta luôn được mời gọi, cùng với “tông đồ không tin” 
				Tô-ma, sờ vào Ngài và nhận ra cái hiện tại sống động mà Ngài 
				luôn tỏ mình ra một cách mới trong lịch sử.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Biến cố phục sinh là 
				một cái gì mới đi vào trần thế, và từ đó Giáo Hội đã có thể hình 
				thành. Và trong thực tế, phục sinh là cộng đoàn của những người 
				tin vào Đức Ki-tô, cộng đoàn của Dân thiên chúa mới.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thập giá, 
				biểu tượng linh thiêng nhất của vũ trụ, như Guardini đã nói, đã 
				trở thành dấu chỉ của ki-tô hữu. Thập giá với một người bị đóng 
				đinh – là một biểu tượng gây khó chịu, tạo chống đối. Ngay 
				Phao-lô đã phải cảnh giác: Đừng làm cho thập giá trở nên vô 
				nghĩa, đừng đặt ngang hay dựng đứng nó, đừng biến cái hơn của 
				Chúa ra cái kém của thế giới.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thật ra đó là một câu 
				chuyện có một không hai. Thập giá không những là nơi kết thúc sứ 
				điệp và chính thân xác thịt máu của &nbsp;Đức Giê-su. Chính nó đã trở 
				thành biểu tượng cứu độ, biểu tượng không phải của sự chết, mà 
				là sự sống. “Gỗ của sự sống thật” thánh An-rê ở Giê-ru-sa-lem đã 
				hát lên như thế. Điều trớ trêu: Qua thập giá tới cứu độ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Những bức ảnh chịu nạn 
				xưa mô tả người bị đóng đinh đồng thời cũng là kẻ sống lại, là 
				vua. Hình người trên đó mở mắt, để cho thấy bản chất không chết 
				của Thiên Chúa, nhưng Ngài sống mãi và trao tiếp sự sống. Như 
				vậy, từ một công cụ hành hình xấu xa của người Rô-ma, thập giá 
				đã trở nên dấu chỉ chiến thắng của Con Người. Dấu chỉ đó sẽ 
				không chỉ đến với ta trong ngày sau hết, nhưng nó đã tới, qua 
				việc Ngài đến với ta như một kẻ chiến thắng và mang ta đi. Cùng 
				với Ngài ta lên đường tiến về Thiên Chúa hằng sống; qua nỗi đau 
				khổ của Ngài ta thấy niềm an ủi của tình yêu thiên chúa, tình 
				yêu này mạnh hơn đau khổ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Như vậy, thập giá thật 
				sự đã trở thành một dấu chỉ cứu độ, dấu chỉ vắn gọn của &nbsp;Đức 
				Giê-su Ki-tô, qua đó chúng ta nối kết với Ngài.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Các môn đệ ở 
				Giê-ru-sa-lem quả đã bị một cú xốc lớn: Đấng Thiên Sai, Đấng đã 
				có thể chữa lành người mù và khiến kẻ chết sống lại, bỗng dưng 
				hiện thân như một kẻ bị sỉ nhục, bị dày đạp và bị đám tay sai 
				quyền lực treo lên thập giá. Điều tuyệt đối không thể giải thích 
				được: Tại sao Thiên Chúa lại phải đau đớn và chết, mới cứu được 
				tạo vật của Ngài?</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đó là bí ẩn của Thiên 
				Chúa: Ngài không đi vào trần thế để cải tạo công bằng xã hội 
				bằng quyền lực. Ngài đã vì ta hạ mình và để cùng đau khổ với ta.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ta sẽ không bao giờ 
				hiểu hết được bí ẩn đó. Và dù vậy, cái tích cực nhất mà ta biết 
				được về Chúa, là Ngài không đơn giản cai trị bằng quyền lực. 
				Thiên Chúa có lối sử dụng quyền lực riêng, không như lối của con 
				người. Quyền lực của Ngài là sức mạnh cùng yêu và cùng khổ, và 
				khuôn mặt thật của Ngài tỏ lộ ra chính trong đau khổ. Thiên Chúa 
				mang nỗi bất công của thế giới trong đau khổ, nhờ đó chính trong 
				những giờ phút đen tối ta có thể chạy tới cùng Ngài là kẻ gần 
				với ta nhất.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thiên Chúa trở nên bé 
				nhỏ, để ta có thể nắm bắt được Ngài. Để cho con người học được 
				nguyên tắc sống chống lại thói kiêu căng và muốn làm trời của 
				họ. Ngài tới như một người sờ đúng trái tim ta.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI"><br clear="all">
&nbsp;</span></p>
				<div class="MsoNormal" style="text-align:left" align="left">
					<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">
					<hr align="left" size="1" width="33%"></span></div>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<a href="http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=533&ict=7122#_ftnref1">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="DE">[1]</span></a><span style="font-size: 12.0pt" lang="DE"> 
				Händel (1685 – 1759): nhạc sĩ sáng tác người Đức, đặc biệt nổi 
				tiếng với nhiều vở nhạc kịnh, trong đó có vở „Messias“.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<a href="http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=533&ict=7122#_ftnref2">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="DE">[2]</span></a><span style="font-size: 12.0pt" lang="DE"> 
				Edith Stein (1891 – 1942): người Đức gốc Do thái, triết gia, môn 
				sinh của nhà hiện tượng học Edmund Husserl. Vào đạo công giáo, 
				sau khi đọc cuốn sách tự thuật của thánh Teresa ờ Avila, và trở 
				thành nữ tu dòng. Chết trong lò thiêu của Quốc-xã Đức. Năm 1998 
				được giáo chủ Gio-an Phao-lô II nâng lên bàn thánh. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<a href="http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=533&ict=7122#_ftnref3">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="DE">[3]</span></a><span style="font-size: 12.0pt" lang="DE"> 
				Karl Jaspers (1883 – 1969): Triết gia và nhà phân tâm người Đức. 
				Vì vợ là người Do-thái, nên bị Quốc-xã cấm dạy học, và đã di cư 
				sang Thụy-sĩ sống, dạy học.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<a href="http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=533&ict=7122#_ftnref4">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="DE">[4]</span></a><span style="font-size: 12.0pt" lang="DE"> 
				Patrick (khoảng 385 – 461): Thánh bổn mạng của Ái-nhĩ-lan. Dân 
				Ái-nhĩ-lan tôn ngài là „tông đồ“, vì ngài đã đưa đạo tới cho họ.</span></td>
	</tr>
	<tr>
		<td style="border-left-style: solid; border-left-width: 1px; border-right-style: solid; border-right-width: 1px; border-bottom-style: solid; border-bottom-width: 1px">
		<p align="center">
		<img border="0" src="../Suyniemmoingay/Nam2011/thanggieng/02.gif" align="right" width="200" height="200"></p>
		<p align="center">
		&nbsp;</p>
		<p align="center">
		<br>
		&nbsp;</p>&nbsp;</td>
	</tr>
</table>

</body>

</html>

PHP File Manager