CHƯƠNG III:

ĐỨC GIÊSU KITÔ

Thưa Hồng Y, có thể nói được rằng hình người trên khăn liệm ở Turin là  Đức Giê-su thật?

Khăn liệm Turin vẫn còn là một ẩn số, chưa có lời giải rõ ràng, dù có rất nhiều điểm cho thấy đó là tấm khăn thật. Dù sao, không ai trong chúng ta lại không cảm xúc trước sức hút đặc biệt của bóng người đó, trước các vết thương dễ sợ.

Và trước khuôn mặt đầy ấn tượng.

Cả cuộc khổ hình hiện lên một cách mãnh liệt trên khuôn mặt. Đồng thời ta cũng thấy một phẩm giá lớn lao trên đó. Khuôn mặt gợi lên nét yên tĩnh và thoải mái, bình an và thương xót. Như vậy, khăn có thể giúp ta mường tượng được Đức Ki-tô.

Một con người với nét tự tin lớn...

Nếu chỉ là một tự tin của con người, thì đó là một tình tự thái quá. Nhưng trên khuôn mặt đó có một cái gì khác và lớn hơn nhiều:  Đức Giê-su biết rằng Ngài hoàn toàn làm một với Cha Ngài, với Chúa. Sự hợp nhất này có tính chất gia đình, nó vượt lên trên tất cả mọi thứ hợp nhất thần bí mà chúng ta biết. Vì vậy  Đức Giê-su có lí do để dùng tên gọi Thiên Chúa cho mình – “Ta là điều đó”.

Đó cũng là một con người thỉnh thoảng tỏ ra thô lỗ và cáu kỉnh: „Này, thế hệ không tin và không thể dạy bảo được kia!“ Ngài thất vọng kêu lên: „Tôi phải ở bên các ngươi bao lâu nữa? Tôi còn phải chịu đựng các ngươi bao lâu nữa?“

Chính tôi cũng luôn bị đánh động bởi sự nghiêm khắc và thiếu kiên nhẫn của Ngài đối với con người. Đây có thể là một bài học cho ta về tình yêu, tình yêu luôn đòi hỏi, chứ không đơn giản chỉ là mềm lòng hay chấp nhận thua thiệt mà thôi. Đức Giê-su nhìn con người với đôi mắt Thiên Chúa. Từ cái nhìn đó, ta có thể nhận ra nỗi thất vọng của Ngài đối với con người, và nhận ra cơn giận của Ngài trước cách con người đối xử với tạo vật của Ngài. Những câu trên cho thấy nỗi chán chường và vô tâm của con người đối với Thiên Chúa đã trầm trọng tới cỡ nào, cho thấy khả năng bịt tai và khép kín của con người đã thật sự trầm trọng ra sao trước mặt Chúa.

„Khóc lóc và nghiến răng“ là câu  Đức Giê-su thích nói nhất. Hễ khi nào muốn ám chỉ điều gì xấu, Ngài lại dùng câu đó.

Bảo đó là câu Ngài thích nói thì có lẽ không đúng. Đó là chữ Ngài dùng khi vấn đề trở nên nguy kịch. „Khóc lóc và nghiến răng“ ám chỉ cái đe doạ, cái nguy hiểm, tóm lại ám chỉ một con người đã hư mất. Nó nói lên hoàn cảnh thế giới, trong đó con người đang ngất ngư trong độc chất và truỵ lạc, rồi vừa khi thoát ra được bỗng nhận ra toàn bộ sự mâu thuẫn của cuộc sống mình.

Hoả ngục thường được diễn tả bằng lửa đốt. Còn nghiến răng chỉ xẩy ra khi bị rét lạnh. Khóc lóc nghiến răng là hình ảnh của một người bị bỏ rơi, bị đẩy ra ngoài trời lạnh, vì hắn không còn chấp nhận tình yêu. Người đó bị đẩy hoàn toàn ra khỏi thế giới của Chúa, cũng là thế giới của thương yêu – đến nỗi phải nghiến răng khóc lóc.

Thỉnh thoảng  Đức Giê-su làm trò ảo thuật. Khi môn đệ hết tiền trả thuế Đền thờ, Ngài nói với Phê-rô: „Chèo thuyền ra hồ thả câu; khi bắt được con cá đầu tiên, mở miệng nó ra, anh sẽ thấy một quan tiền trong đó. Dùng tiền đó mà trả thuế cho anh và cho Thầy“.

Không phải bạ đâu Ngài làm phép lạ ở đó. Ngài chỉ làm khi có liên hệ tới đức tin. Ngài nói rõ: Ta đến không phải để làm phép lạ, nhưng để loan truyền nước Thiên Chúa.

Câu chuyện anh kể trên có một ý nghĩa khác, sâu xa hơn. Thật ra Chúa không cần phải trả thuế, bởi vì đền thờ rốt cuộc là chính Ngài, nhưng Ngài đã trả vì vâng lời, và đã trả theo cách thật đặc biệt do Chúa ban. Tôi thấy Ngài mỉm cười khi làm chuyện đó.

GIÊSU - NHÂN VẬT GIẢ TƯỞNG?

Mối hoài nghi về nhân vật Giê-su lịch sử chẳng bao giờ dứt. Có người cho đó là một nhân vật giả tưởng. Có kẻ bảo đó là một thứ thủ lãnh của một giáo phái. Có kẻ lại bảo Ki-tô chỉ là một trong những sơ nguyên tượng được dùng để nói lên bi kịch của kiếp người: đau khổ, lo âu, tình yêu. Và có người còn nói: Vị sư phụ đó xem ra hay đấy, nhưng ông ta đâu có liên hệ gì tới tôi.

Dĩ nhiên, như ta vẫn thấy, người ta có thể hoài nghi mọi chuyện lịch sử. Chẳng hạn như có một vị trý thứcbảo không có Đại đế Karl*, nghĩa là ông chối bỏ cả một lịch sử hai trăm năm. May mà chúng ta không ăn theo trong vụ này. Tài liệu lịch sử cho ta biết về biến cố, nhưng chúng không giúp ta sờ được chính sự kiện.

Như vậy nghĩa là còn có chỗ cho những giả định, hồ nghi?

Không. Ngay cả khi ta chỉ dùng những tiêu chuẩn lịch sử đã được công nhận để xét, thì sự hiện hữu của  Đức Giê-su đã quá rõ và đầy đủ, đến nỗi ta không còn nghi ngờ gì nữa về nhân vật lịch sử này. Những gì được truyền tụng về Ngài khác hẳn với những gì có thể tạo ra hay tưởng tượng ra. Chúng bẻ gẫy mọi mô hình giả định.Và ở đây ta có thể nhận ra cả dấu vết của biến cố lẫn những gì sau đó đã hình thành nên từ biến cố đó. Cả hai không thể giải thích được bằng những phạm trù tư tưởng, mà chỉ bằng va chạm nền tảng với một sự kiện đã thực sự xẩy ra. Vì vậy, theo tôi, việc hoài nghi về sự hiện hữu của  Đức Giê-su là chuyện thiếu đứng đắn.

Nhưng đâu là nguồn sử liệu thật sự khả tín?

Anh cũng biết, càng ngày người ta càng đào sâu vào tài liệu và bới qua bới lại quanh chúng. Người ta muốn chẻ nhăm chúng ra để phân tích. Để cuối cùng chỉ còn lại một nhúm dữ kiện nghèo nàn và người ta bỗng tự hỏi, làm sao một khuôn mặt nghèo nàn như thế này mà lại cưu mang được những biến cố như thế kia.

Ta không được phép quên điều này: Bức thư thứ nhất gởi giáo đoàn Cô-rin-tô, lá thư làm chứng về việc sống lại của Chúa và về việc lập phép Thánh Thể, đã có bằng văn bản, trước khi Phao-lô khởi sự viết. Lá thư được viết vào thập niên 50 sau ngày chúa Ki-tô sinh. Và nội dung lá thư ghi lại những gì đã được truyền tụng trước đó ở Giê-ru-sa-lem. Như vậy có nghĩa là Phao-lô đã chép lại những gì đã được viết ra, như chính ngài đã nói. Cả văn phong của thư cũng cho thấy ta đang tiến sát thật gần chính ngay các sự kiện.Tôi phải thú thật, càng nghe về những nỗ lực nghiên cứu nguồn sử liệu, tôi càng bớt tin vào các giả thuyết đi quá đà của các chuyên gia. Và những giả thuyết đó cứ lặp đi lặp lại và không ngớt mâu thuẫn nhau. Ngay Albert Schweitzer* đã chỉ trích việc cố công nặn ra một Giê-su lịch sử để đối lại với Đức Ki-tô của niềm tin, việc làm đã được khởi sự từ khi mở đầu thời kì Ánh sáng. Schweitzer bảo, ta tưởng lúc này đây đã có được khuôn mặt thật của Ngài, nhưng thực ra Ngài đã vượt qua thời đại chúng ta rồi và đã trở về lại với chính Ngài rồi.

Tôi nghĩ, tất cả những nỗ lực kia chỉ là những tái cấu trúc, trong đó người ta luôn chỉ nhận ra khuôn mặt của nhà tái tạo mà thôi. Dù là Đức Ki-tô của Adolf Harnarck – phản chiếu típ người tự do của ông; hay là Đức Ki-tô phản chiếu loại triết lí hiện sinh của Bultmann*. Tất cả những cấu trúc đó đều được thực hiện với ý nghĩnền tảng này: Không thể có Chúa như là một con người được. Vì thế, họ không công nhận tính lịch sử của các biến cố làm tiền đề cho Ngài. Có nghĩa là ở đây người ta đã khởi sự làm việc với một điều kiện, là phải loại ra khỏi biến cố cái lực nội tại của nó – nhưng chính lực này mới là cái tạo cho biến cố sự lôi cuốn và đầy đủ ý nghĩa.

Vậy cách làm việc của ngài như thế nào?

Tôi nghĩ, đúng hơn ta nên đặt câu hỏi: „Khuôn mặt như trong Tân Ước mô tả có nói lên ý nghĩa gì không? Và câu trả lời của tôi có thể sẽ là: Chỉ có khuôn mặt như trong Tân Ước mới thật mang ý nghĩa. Chỉ như thế nó mới mang chiều kích cao cả và mới có thể tạo ra được những biến cố như kia. Vì thế, theo xác tín của tôi, ta có lí do để tin vào Tin Mừng, dù cho mọi phê bình nguồn sử liệu, mà mình cũng có thể học được trong đó nhiều chuyện. Có thể có những tiểu tiết lưu truyền đã bị người đời sau làm biến thể, nhưng tựu trung các chứng từ Tin Mừng đều đáng cậy, và ta có thể gặp được khuôn mặt thật của Đức Ki-tô trong đó. Tin Mừng đáng cậy hơn nhiều so với những tái cấu trúc lịch sử xem ra vững chắc.

Tôi muốn thêm: Tin Mừng Gio-an, mà một thời gian dài chỉ được xem như là một sáng tác thuần tuý thần học (Bultmann chẳng hạn đã cố minh chứng đó là sản phẩm của các phong trào ngộ giáo), ngày nay lạ lùng thay đã được công nhận là một sử liệu. Tin Mừng này có những chỉ dẫn địa lí đúng đắn nhất, và có một kiến thức đúng nhất về lối nghĩ và cách sống của người Do-thái thời đó. Nhà chú giải Klaus Berger ở Heidelberg vì vậy muốn coi nó là bản văn kì cựu hơn các Tin Mừng khác. Điểm này có lẽ tôi không cùng quan điểm. Tục truyền bản văn hình thành vào cuối thế kỷthứ nhất. Ta cứ việc biết như thế. Tuy nhiên đó là một tài liệu với kiến thức rất chính xác, và viễn kiến thần học của nó không tách khỏi nền tảng lịch sử.

1. MẠC KHẢI

Có lần, nhà thần học người Pháp Henri de Lubac* nói, chính cuộc đời Đức Ki-tô là điểm mầu nhiệm được ưa thích nhất. Việc làm của Ngài, một mặt, là hành vi của một con người thường, nhưng mặt khác cũng là hành vi của một con người mang thiên tính. De Lubac viết: „Tìm hiểu ý nghĩa cuộc đời Đức Ki-tô có nghĩa là thâm nhập vào thực tại của Thiên Chúa“. Phải chăng có nghĩa là khi ta tập tìm hiểu cuộc đời Đức Ki-tô, ta sẽ nhận ra và bắt gặp được Chúa cũng như toàn bộ cuộc đời mình?

Cuộc sống của ta chỉ có chất liệu và nền tảng, khi ta càng thấm nhập vào và cùng sống với cuộc sống của Đức Ki-tô. Nhờ nền tảng đó, ta mới có thể hiểu được Thiên Chúa. Đó là điểm cơ bản. Lời Đức Ki-tô có tầm quan trọng không có gì thay thế được, nhưng ta không được phép thu gọn Ngài vào lời mà thôi. Thịt, như thánh Gio-an nói, cũng có vai trò của nó, đó là lời được sống, và thịt cũng đã dẫn tới thập giá. Chỉ khi ta ngắm nhìn cả con người toàn diện và sống động của  Đức Giê-su, lúc đó lời mới toát ra chiều kích cao cả chứa đựng trong nó. Như thế, muốn hiểu được sứ điệp của Ngài, nhất thiết phải ngắm nhìn cuộc sống và khổ nạn của Ngài.

TIÊN TRI VÀ SỨ GIẢ

Như vậy, ta hãy tìm hiểu rõ hơn về hình dáng, cuộc sống và sứ điệp của  Đức Giê-su Ki-tô. Hãy bắt đầu với Gio-an: „Từ khởi thuỷ là Lời / và Lời đã trở thành thịt / và ở giữa chúng ta, / và chúng ta đã thấy vinh quang của Lời, / vinh quang của Con một của Cha, đầy ân phúc và chân lí“. Hẳn đây là đoạn mở đầu cao sang nhất xưa nay chưa từng được viết ra trên thế giới.

Những lời đầu tiên của Tin Mừng Gio-an là nhịp cầu nối liền lịch sử tạo dựng, nguồn cội mọi loài, với biến cố đã xẩy ra ở Pa-les-tin . Chúng nói lên điều này: Logos / Lời sáng tạo làm nên thế giới kia đã hiện thân trong con người Giê-su. Nguồn lực sáng tạo thế giới, như vậy, đã đi vào trần thế và nói chuyện với ta. Một mâu thuẫn lớn đã xẩy ra: Thiên Chúa quá vĩ đại để có thể trở nên bé bỏng. Và bé bỏng đến mức Ngài gặp gỡ ta qua thân xác một con người. Thiên Chúa không đơn giản từ trời rơi xuống và trình diện trước mặt ta, nhưng Ngài đã xuất hiện qua một biến cố lịch sử, biến cố đó là một con đường dẫn tới Ngài. Trên con đường đó, có thể nói, người ta đang chờ Ngài và sứ điệp của Ngài có thể được ta nghe biết.

Gio-an tẩy giả là sứ giả trực tiếp của Đức Ki-tô. Tin Mừng viết: “Ông tới như một người chứng, để làm chứng cho Ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin”.

Trong biến cố lịch sử kia, xét về thời điểm lịch sử, đã có một tiên tri, một chứng nhân cuối cùng, xuất hiện trước  Đức Giê-su. Gio-an làm phép rửa là đại diện của một thứ phong trào cảnh tỉnh. Is-ra-en sôi bỏng lúc đó đang nóng lòng về một vị cứu tinh, một Messias. Dân tộc này bị ngoại bang thống trị, vẫn luôn mang trong mình hi vọng được giải phóng, và họ tin là chuyện đó sẽ trở thành hiện thực. Mặt khác, đó là một thời không có tiên tri. Xem ra ánh sáng tiên tri lúc đó đã tắt.

Gio-an đến từ sa mạc, và ông giảng điều mới mẻ. Ông bảo, ông là “tiếng kêu trong sa mạc”. Ông làm phép rửa liên tục “bên kia bờ sông Gio-đan”, như sách chép. Và hôm đó, khi thấy  Đức Giê-su tới với mình, ông đã nói một câu đầy bí ẩn: “Hãy xem Con Chiên Thiên Chúa, đấng xoá tội trần gian. Đây là người mà tôi đã nói: Sau tôi sẽ tới một người, người đó vượt trước tôi, vì người đó có trước tôi”.

Gio-an xuất hiện nơi sa mạc như một người được Thiên Chúa thánh hiến. Thoạt tiên, ông giảng về hối cải, thanh tẩy và tụ tập dân chuẩn bị cho Chúa đến. Việc rao giảng đó, có thể nói, là tóm tắt toàn bộ lời tiên tri dẫn vào đúng lúc lịch sử đang hối hả tiến tới mục tiêu của nó. Sứ mạng của Gio-an là mở tung cánh cửa ra cho Chúa, để dân Is-ra-en sẵn sàng đón nhận Ngài và chuẩn bị giờ lịch sử cho Ngài.

Có hai điều quan trọng: thứ nhất, những bài giảng hối cải của ông chứa đựng toàn bộ lời tiên tri; thứ hai, việc chứng tá của ông về Đức Ki-tô đã cụ thể hoá các lời tiên tri đó, qua hình ảnh con chiên, nay là Con Chiên Thiên Chúa. Ta hãy nhìn lại câu chuyện của Ab-ra-ham và I-sa-ac, nhìn lại chuyện tế thú vật mà trong đó chiên giữ vai trò quan trọng, đặc biệt phải có chiên làm của lễ trong dịp vượt qua. Giờ đây đã hoàn tất mọi nỗ lực thay thế đó. Đối với chúng ta, chiên vượt qua trên nguyên tắc là người. Giờ đây Chúa Ki-tô là chiên vượt qua, như thế là Ngài chia sẻ thân phận của ta và làm biến đổi thân phận đó.

Câu thứ hai là một nhắc nhở nhẹ nhàng về thiên tính nơi  Đức Giê-su Ki-tô, cho dù điều này Gio-an đã chưa nghĩ tới hết và nói ra hết. Ông bảo, đây không phải là một nhân vật lịch sử nào đó, nhưng là một kẻ vượt lên trước tất cả chúng ta, kẻ đến từ muôn đời Thiên Chúa và là vị thân tín của Ngài.

Tổ phụ Gia-cóp có lẽ đã diễn tả thời điểm vị Cứu tinh này xuất hiện giống như vào lúc Đức Ki-tô giáng sinh. Đó là lúc nhiều người mất đức tin, đám Pha-ri-sêu thì, như sách chép, sống trong kiêu căng và lạnh lùng, những người khác cảm thấy mình như một đàn thú không có người chăn. Ước mong về một vị Cứu tinh đã trở nên nóng bỏng cả nơi dân Do-thái lẫn nơi lương dân. Tiên tri I-sai-a than thở: “Xin trời hãy đổ người công chính xuống!”, “Mây hãy mưa người công chính xuống!”. Nhưng phải chăng những lời báo trước về Đức Ki-tô đó chỉ mới được bịa ra sau này?

Phần đầu câu hỏi của anh có lẽ liên quan tới cái gọi là lời chúc lành của Gia-cóp (Kn, 49), lời đó gồm một số lời hứa đầy bí ẩn cho mười hai con trai của Gia-cóp. Lời chúc cho Giu-đa như thế này: “Nước thống trị sẽ không rời khỏi Giu-đa và gậy quyền hành không rời chân nó, cho đến khi nào vị xứng đáng và được muôn dân tuân phục đến” (49, 10). Lời này sau đó được coi là lời hứa cho vương quốc Đa-vít (Đa-vít thuộc dòng dõi Giu-đa), và đến khi vương quốc này bị xoá sổ - nghĩa là vào thời  Đức Giê-su – nó được coi là lời hứa cho một con trai Đa-vít mới, là đấng Messias, đấng mà cả các dân tộc ngoài Do-thái đều vâng phục. Hẳn nhiên, ki-tô hữu coi con trai Đa-vít mới đó là Đức Ki-tô. Nhưng thời điểm Đức Ki-tô đã chưa được viết ra, những câu trên (mà các học giả vẫn chưa thống nhất về thời gian xuất hiện) đề cập tới một điều đang tới với đầy bí ẩn, và ngữ nghĩa của chúng chỉ được sáng tỏ dưới ánh sáng của Đức Ki-tô.

Giờ hãy nói về tiên tri I-sai-a. Thật ra I-sai-a đã nói: “Trời của các ngươi hãy đổ sự công chính”. Nhưng sau khi sự công chính đó hiện thân qua một người, ki-tô hữu mới đọc nó theo kiểu nhân cách hoá. Ta cũng có thể đọc và hiểu tương quan thống nhất giữa Cựu và Tân Ước như một lối mở đường như thế. Lời cựu ước hướng về Đức Ki-tô, lời đó đồng thời kiếm tìm Ngài từ trong bóng tối.

Dĩ nhiên, người ta có thể coi Cựu Ước không có liên hệ gì tới Đức Ki-tô. Nhưng như thế thì lời sẽ khó hiểu, vì thật ra chúng hướng về Ngài. Và dù cho người Do-thái không thể coi Đức Ki-tô là vị đã hoàn thành những lời đó, thì đó chẳng phải là vì họ có ác í gì, song cũng là vì sự khó hiểu của lời kinh, và vì tương quan căng thẳng giữa hình dạng Đức Ki-tô với lời cựu ước. Với Đức Ki-tô, Cựu Ước mang một nghĩa mới – và chỉ nhờ Ngài mà những lời cựu ước mới nhận ra liên quan, hướng đi và ý nghĩa của chúng.

Như thế, có thể loại trừ yếu tố Đức Ki-tô ra khỏi Cựu Ước. Mà cũng có thể làm ngược lại. Cả hai lập luận đều có lí do chính đáng. Đó là cuộc tranh luận hiện nay giữa người Do-thái và ki-tô hữu. Nhưng không chỉ giữa hai tập thể đó mà thôi. Một số đông các nhà chú giải theo khuynh hướng thuần phê bình lịch sử cũng không chấp nhận tính cách con đường và dẫn đường của Cựu Ước, và họ xem lối diễn giải của Ki-tô giáo là không hợp hay đi quá xa nguyên nghĩa lịch sử.

Tóm lại: Cựu Ước không phải là một thứ bói toán, mà là một con đường. Điểm này người ta có quyền tự do chấp nhận hay không. Theo tôi, chính việc tồn tại của Cựu Ước đã là một bảo chứng nói lên Cựu Ước tự nó có ý nghĩa. Cựu Ước rõ ràng có trước Đức Ki-tô về mặt lịch sử, cũng như đức tin của người Do-thái và kinh sách của họ có trước Ki-tô giáo. Các giáo phụ thẳng thắn coi việc người Do-thái công nhận Cựu Ước và phủ nhận Đức Ki-tô là sứ mạng lịch sử nhằm bảo đảm cho tính xác thực và tuổi tác của các sách thánh của họ. Vì thế, các ngài bảo, người Do-thái đã phải tiếp tục là Do-thái, chứ không trở thành ki-tô hữu. Cựu Ước tự nó vẫn có nghĩa, nhưng nếu ta đọc nó với Đức Ki-tô, thì nó mới toát ra ý nghĩa mới và mở ra một cái nhìn toàn diện.

THIÊN CHÚA TỰ SỬA SAI ?

Các lề luật cũ, từ nghi thức tế lễ cho tới cả chuyện khốn nạn “Mắt đền mắt, răng đền răng” cũng được bãi bỏ sau khi Đức Ki-tô xuất hiện. Như vậy, có thể nói được rằng Thiên Chúa đã phải tự sửa sai?

Tôi muốn nói lại chuyện lịch sử. “Mắt đền mắt, răng đền răng” nghe ra kinh khủng thật, nhưng trước hết có thể nói đó là một nguyên tắc điều hoà và hợp lí hoá việc trả thù, không để nó vượt ra khỏi khuôn khổ của hành vi tương ứng. Xem thế thì đó là một tiến bộ rồi, so với luật pháp đương thời. Ở đây phải nói thêm, nếu không có tình yêu thì cái tiến bộ về ý thứcpháp luật đó cũng chẳng giải quyết được gì, chỉ có tình yêu mới bẻ gãy vòng trả thù luẩn quẩn và mới tạo ra được một thực tại mới.

Trong cuộc trao đổi này chúng ta đã đề cập tới câu: “Ta đến không phải để xoá bỏ luật, nhưng để kiện toàn nó”. Chúng ta đã bàn tới câu đó một cách cụ thể trong câu chuyện về của lễ Đền thờ. Của lễ luôn chỉ là một vật thay thế. Và giờ đây, khi nhân vật mang của lễ đích thật xuất hiện, và qua đó giúp ta có thể hi sinh cho Chúa, thì toàn bộ ý nghĩa về việc tế lễ kia đã hoàn tất trong Ngài. Và chính Ngài là đền thờ sống động thay cho mọi thứ đền thờ. Như vậy, Ngài đến không phải để xoá bỏ cái gì, nhưng là để đưa nó đạt tới đích.

Trong ý nghĩa đó, của lễ dâng cho Đền thờ đã được hiện tại hoá trong Mình Thánh, một hình thái mà trước đó mới chỉ có được những hình ảnh xa gần mà thôi. Như vậy, có thể nói, Thiên Chúa đã không tự sửa sai. Nhưng trái lại, Ngài giúp ta thấy được động lực nội tại và hướng tới của con đường mà Ngài thoạt tiên đã mở cho ta, nhưng ta chưa thể đi tới nổi. Ý nghĩa thực sự của con đường đó giờ đây đã được kiện toàn và có được đúng chỗ của nó.

Kinh Thánh nói về một “Is-ra-en mới, một dân thiên chúa mà Ngươi đã gọi”. Nghĩa là giờ đây, với sự xuất hiện của đấng Cứu tinh, những người đi theo Ngài, các ki-tô hữu, trở thành dân mới, dân được Thiên Chúa chọn riêng?

Vâng, có thể nói được như thế. Có thể nói đó là Is-ra-en mở rộng. Thánh Phao-lô nói rõ, con cái Ab-ra-ham không phải chỉ là những người máu mủ, nhưng là tất cả những ai có chung đức tin với ông. Như vậy, vòng máu mủ của Is-ra-en được nới rộng ra bởi cộng đoàn Đức Ki-tô. Nhờ vào một quyết định nền tảng (nhất là vào một quà tặng) mà cộng đoàn này đã trở thành một dân, khiến cho lời hứa giờ đây trở thành phổ quát.

Chữ được chọn nghe không ổn lắm, vì nó gợi lên sự hạn chế, cho rằng ta đây là kẻ tốt hơn. Theo nghĩa ban đầu của Kinh Thánh, chữ này muốn nói tới việc Chúa chọn một dân tộc, để giao cho họ một công tác, và để họ thông báo tới những dân khác một điều gì. Như vậy, được chọn luôn có nghĩa là chọn cho một việc gì đó. Về một khía cạnh nào đó, có thể nói, kẻ được chọn phải mang gánh nặng, vì phải nhận trách nhiệm cho kẻ khác.

Trong ý nghĩa đó, ý niệmđược chọn và ý niệmIs-ra-en bao gồm tất cả những ai nhờ qua Đức Ki-tô trở thành con cháu của Ab-ra-ham, trở nên con cái của Thiên Chúa hằng sống. Tuy nhiên, họ không phải được chọn để sống cho người khác, hầu có được hộ chiếu đặc biệt bước qua cửa thiên đàng, nhưng là để tham dự vào việc phục vụ Đức Ki-tô, vào công tác của Is-ra-en đối với lịch sử.

2. ÁNH SÁNG

Quái lạ : Thiên Chúa toàn năng vô cùng lại chọn một chốn hèn kém nhất ở trần gian, một chuồng súc vật sơ sài ở Bê-lem, để sinh ra. Và lập luận của Giáo Hội : Chỉ vì điều đó quá khó tin và quá mâu thuẫn nên nó phải là chuyện có thật.

Lối lập luận đó không đủ. Nhưng thật ra, việc chọn cái bé nhỏ là nét đặc thù trong lịch sử Thiên Chúa với con người. Cái đặc thù đó ta thấy trước hết qua việc Ngài chọn trái đất, một hại bụi trong vũ trụ, làm nơi hành động; trong đó dân tộc yếu đuối như Is-ra-en lại được chọn để mang lấy lịch sử của Ngài ; rồi Na-da-ret, một chốn hoàn toàn không ai biết đến, trở thành quê hương Ngài ; và rồi cuối cùng Con Thiên Chúa lại sinh ra ngoài làng Bê-lem, trong một chuồng súc vật. Tất cả như một sợi chỉ đỏ.

Chúa dùng đơn vị đong đo duy nhất của Ngài là tình yêu để đối lại thói kiêu căng của con người. Kiêu căng chính là hạt nhân, là nội dung chính của mọi tội lỗi, nghĩa là của cái tự-coi - mình- muốn- bằng- Thiên Chúa. Tình yêu, trái lại không phải là tự cao, mà tự hạ. Tình yêu cho thấy chính lúc hạ mình là lúc ta vươn lên. Chính khi ta hạ mình, khi ta trở nên đơn giản, cúi xuống với kẻ đói rách, nghèo hèn, khi đó ta mới thật lên cao. Chúa trở nên bé nhỏ, để đưa con người dương dương tự đắc trở về lại đúng chỗ của nó. Xem thế thì quy luật của sự bé nhỏ là khuôn thước nền tảng của hành động Thiên Chúa. Quy luật đó giúp ta nhận ra bản chất Thiên Chúa, và cả chính bản chất của ta. Như vậy, lập luận trên tự nó đã chứa đựng một luận lí cao và trở thành chỉ dấu cho sự thật.

Cảnh tượng giáng sinh đã trở thành nổi tiếng thế giới, và Friedrich Händel[1] đã biến nó thành bất tử qua bản nhạc đại hợp xướng « Messias ». Một thiên thần, bao bọc bởi hào quang thiên chúa, xuất hiện giữa đêm đen báo tin cho những người canh giữ súc vật : « Các bạn đừng sợ ! Tôi báo cho các bạn một tin vui lớn ». Và trong khi thiên thần đang nói, từng đoàn thần linh thiên quốc quần tụ quanh ngài đồng xướng lên lời ca vang vọng trần gian : « Vinh-danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người lòng ngay ».

Đó quả là một trong những cảnh đánh động con tim nhất của Kinh Thánh. Sự đánh động đó đã có từ thời Giáo Hội sơ khai rồi, cứ nhìn vào nghệ thuật thời đó ta có thể thấy điều này. Cảnh tượng đó đi vào lòng người, nhưng sứ điệp của nó còn vươn xa hơn những gì thú vị và đáng yêu.

Cũng lại những người bình dân mộc mạc là những kẻ đầu tiên được gọi tới máng cỏ. Hê-rô-đê không biết chuyện xẩy ra. Cả các nhà thông thái thoạt tiên cũng không biết. Tin vui đã tới với những người chăn súc vật, những người đang trông chờ ơn cứu độ của Thiên Chúa đến với họ. Họ là những người sẵn sàng và biết mở lòng đón nhận. Những người này, cùng với Maria và Giu-se, với Si-me-on và An-na, với E-li-sa-bet và Za-ka-ria-a, là đại biểu của giới nghèo hèn trong Is-ra-en – và như thế là toàn bộ Dân Thiên Chúa. Chúng ta đã thấy trong Thánh Vịnh chữ kẻ nghèo và kẻ lòng nhân là từ chỉ bao trùm thành phần tín hữu ở giữa trong dân Is-ra-en. Cũng như khi Đức Ki-tô khen các trẻ nhỏ là Ngài khen những tâm hồn đơn sơ biết nhìn và lắng nghe tin vui của thiên thần.

Nhóm người thứ hai tới Bê-lem, như Tin Mừng Mat-thêu cho hay, là những nhà thông thái từ phương đông. Rất có ý nghĩa. Kẻ đơn sơ đi trước, nhưng các nhà trý thứccũng không bị loại ra ngoài. Nơi họ có một sự khôn ngoan đích thực, khiến họ mở lòng mình ra cho Đức Ki-tô. Và còn một điều quan trọng nữa. Những nhà thông thái tới máng cỏ là người ngoại. Đây có thể nói là những hình ảnh nói lên chuyển động của Giáo Hội, của người ngoại.

THỜI ĐIỂM QUAN TRỌNG NHẤT CỦA LỊCH SỬ

Giám mục người Đức Rudolf Graber cho rằng biến cố kia đã « vượt xa vô cùng biến cố tạo dựng vũ trụ ». Chưa bao giờ có một biến cố lớn như thế xẩy ra, và cũng không bao giờ sẽ xẩy ra một biến cố mang tầm vóc như thế : « Bởi vì việc con một của Thiên Chúa, ngôi hai Thiên Chúa, sẵn sàng làm người trong một địa cầu tí hon này là chuyện vượt trên tất cả mọi cái có thể tưởng tượng ».

Vâng, đó là một bài học rất quan trọng, để ta hiểu được đúng ý niệmvề cái lớn và cái bé. Nhìn trên khía cạnh vật chất, việc tạo dựng vũ trụ là một biến cố lớn lao vô cùng. Bên cạnh đó, biến cố nhỏ nhoi xẩy ra ở Bê-lem, mà các sử gia thoạt tiên đã bỏ quên, quả là chuyện không đáng bàn tới.

Xét về lượng thì hai biến cố trên khác xa nhau. Tuy nhiên, nếu ta thấy được chỉ một trái tim người mà thôi cũng là một độ lớn mới trước toàn cảnh của vũ trụ, như Pascal nói, thì lúc đó ta sẽ hiểu được việc Thiên Chúa làm người, việc đấng Tạo dựng, Lời muôn đời (Logos) chấp nhận bước vào thân phận làm người và tự buộc mình vào thân phận đó, cũng là một độ lớn khác hẳn. Thiên Chúa xuống trần và trở thành người. Đứng trước chiều kích này, cái độ lớn xem ra vô cùng của thế giới vật chất cũng trở thành nhỏ.

Biến cố  Đức Giê-su sinh ra đã trở thành huyền thoại lớn nhất cho mọi thời từ hai ngàn năm nay. Ngày nay, không ai mà không biết đến đêm đó. Không đâu trong Giáo Hội niềm tin thể hiện tràn bờ như trong biến cố này. Giáng sinh có một lượng biểu tượng, giá trị, đạo đức và u sầu, nghĩa là một lượng về thực thể con người, không gì sánh nổi. Đôi lúc tôi nghĩ, chúng ta biết nhiều về giáng sinh thật, nhưng hẳn giáng sinh biết chúng ta nhiều hơn nhiều.

Có lẽ, một lần nữa, ta phải thống nhất với nhau về nghĩa chữ « huyền thoại ». Ngày nay, chữ này được hiểu theo nghĩa tích cực, nó nói lên một thứ viễn kiến về những thực tại vượt khỏi giác quan con người, như vậy nó chứa đựng một chân lí cao hơn cái thuần thực tại đang có. Nhưng, cho dù mang nghĩa tích cực đó, « huyền thoại » chống lại lịch sử. Nó là viễn kiến, chứ không phải sự kiện thực tế. Việc Đức Ki-tô giáng trần, trái lại, là một biến cố lịch sử, một cái gì đã diễn ra thật và đã trở thành biến cố lịch sử. Việc gắn liền với lịch sử thật đó là một nét đặc thù của lịch sử Ki-tô giáo.

Quả thật lạ lùng, cái đêm trong chuồng súc vật, trong hang đá đó, thoạt tiên được các mục đồng  để ý đến khi nghe thiên thần loan tin, giờ đây đã trở thành một dấu chỉ vượt ra ngoài thế giới Ki-tô giáo, hầu như chẳng còn ai mà không biết đến. Nhưng ta cũng phải nói thêm, song song với việc phổ quát hoá đó cũng có một tiến trình tầm thường hoá ghê sợ xẩy ra.

Ngày nay, khuynh hướng muốn đẩy Ki-tô giáo ra khỏi lễ giáng sinh ngày càng mạnh, nó giống như một hoả tiễn, sau khi lên được độ cao nhất định, liền tách khỏi phần dưới của nó. Ở Mĩ châu, với đà thương mại hoá và tình cảm hoá, lễ giáng sinh trở thành nơi trưng bày cho các cơ sở thương mại lớn. Trước đây, họ trang hoàng giáng sinh với hang đá, nay với những cảnh huyền thoại, nào là với nai, hươu và các ông già Nô-en, từ đó biến cái Ki-tô giáo ra thành cái huyền thoại thật. Dĩ nhiên, vẫn còn cái dư âm chói sáng đánh động con người, khi họ nhận biết Thiên Chúa đã trở thành người. Nhưng đó chỉ là nỗ lực tìm cách giữ lại vẻ đẹp và cái rung động, còn cái ý nghĩa cao sâu hơn nằm trong đó thì người ta lại bỏ đi.

Giáng sinh cho ta thấy, bên cạnh tất cả những suy tưởng và tình cảm lớn, cả những điều hoàn toàn mâu thuẫn, những điều dối trá trong thế giới – và cả những hoài nghi lẫn không tin của ta.

Người ta đã đem quá nhiều tiếng nói của con tim, quá nhiều yếu tố giá trị lớn và quan trọng vào trong biến cố giáng sinh, khiến thoạt nhìn vào, ta có thể thành tâm nói được, là nếu lột hết những thứ đó đi, thì biến cố đích thực kia chẳng còn lại gì (làm vậy là cướp đi nội dung cao cả của giáng sinh, biến nó một cách nào đó trở thành trống rỗng). Nhưng cũng chẳng sao, biết đâu những điều thêm thắt quan trọng và dễ hiểu kia, dù chúng vượt ra khỏi vòng Ki-tô giáo, có thể đưa người ta tìm lại được đức tin. Bí ẩn của đứa trẻ, của sự giản dị, của lòng khiêm nhu – đó là tất cả những gì toát ra từ biến cố giáng sinh. Và ta cũng rất cần đưa vào những bài học mang tính con người đó, để qua đó thấy được khía cạnh nhân tính của Thiên Chúa.

Phong tục tặng quà thật ra bắt nguồn từ một suy nghĩ lớn. Đứa trẻ là quà tặng của Thiên Chúa cho con người, vì vậy giáng sinh có thể là ngày để người ta trao quà cho nhau. Nhưng nếu việc tặng quà trở thành những chiến dịch thương mại bó buộc, thì việc trao tặng mất ý nghĩa. Và rồi, đúng như câu của Đức Ki-tô nói với các môn đệ : Đừng làm như người ngoại đạo, họ mời người khác, vì họ cũng muốn được mời lại. Nếu chỉ còn là một cuộc trao đổi hàng hoá thuần tuý, thì giáng sinh đã bị khống chế bởi tư dục, nó trở thành một phương tiện cho tính ích kỉ vô đáy và cho lòng hám của lẫn hám quyền – mà thật ra sứ điệp giáng sinh hoàn toàn trái ngược lại. Đem giáng sinh trở về lại nội dung đơn giản của nó, đó có lẽ là một nhiệm vụ lớn của chúng ta.

ÁNH SÁNG TRẦN GIAN

Đức Ki-tô không phải là người được soi sáng, nhưng chính Ngài là ánh sáng. Ngài không chỉ là đường, mà còn muốn mình là đích tới nữa. Hồng Y có lần bảo, biến cố ở Bê-lem «là bước đột phá quyết định của lịch sử thế giới đưa tới việc kết hợp con người với Thiên Chúa ».

Thiên Chúa đã thật sự làm người, đó là một biến cố vĩ đại. Ngài không phải chỉ mượn thân xác con người để hoàn thành một nhiệm vụ nào đó trong một thời điểm của lịch sử - nhưng đã là người sống trong lịch sử, và cuối cùng đã giang hai tay trên thập giá, để mở ra không gian cho chúng ta có thể bước vào.

Nếu giờ đây Con Người - Thiên Chúa này, như Kinh Thánh nói, muốn đưa tất cả chúng ta vào trong Ngài, muốn kéo chúng ta vào làm một thân xác duy nhất sống động, như hai người nam và nữ trở thành một xương thịt như ta đọc thấy trong Kinh Thánh, thì ta sẽ thấy đây không phải là một biến cố đơn lẻ, nó rồi sẽ biến đi như nó đã xuất hiện. Không, đây là một đột phá, một khởi đầu, mà Đức Ki-tô qua Thánh Thể, qua các bí tích và phép rửa muốn kéo ta vào trong đó. Trong ý nghĩa đó, ở đây thật sự đã có một hoà tan giữa Thiên Chúa và con người, giữa Tạo hoá với tạo vật, đó là một cái gì vượt trên mọi quy luật tiến hoá. Đây không còn là một bước tiến của tiến hoá, phát sinh từ lực thiên nhiên, nhưng là một đột phá tung cửa, là hành động yêu thương của một con người, mở ra từ giây phút đó một không gian mới và một khả thể mới cho nhân quần.

Ngài có lần nói,  Đức Giê-su là « con người kiểu mẫu, con người của tương lai, qua Ngài ta thấy được khả năng hoàn thiện bản thân ta trong tương lai ». Phải chăng điều này có nghĩa là về lâu về dài chúng ta sẽ trở nên toàn hảo được giống như  Đức Giê-su Ki-tô ?

Trên thực tế, nhờ  Đức Giê-su Ki-tô, ta đang vươn tới con người mới. Ngài là mẫu gương cho bản thân ta nhắm tới.

Tôi không muốn nói rằng, con người sẽ chỉ tiến lên giống Ngài về các khả năng bên ngoài mà thôi. Nhưng khung hình nội tâm của Ngài, và cuối cùng là sự hi sinh tự hiến trên thập giá của Ngài, mới là khuôn thước kiểu mẫu cho nhân loại tương lai. Không chỉ có việc đi theo Ngài hay bước vào con đường của Ngài. Mà tâm ta còn phải tự đồng hoá với Ngài, như Ngài đã tự đồng hoá với ta. Tôi nghĩ, đó mới thật là đích điểm đi tới của con người.

Nhìn vào những tấm gương lớn theo Ngài trải dài trong nhiều thế kỉ, ta mới nhận ra được những gì ẩn chứa trong con người  Đức Giê-su Ki-tô. Đây không phải là ta thổi phồng lên một khuôn mẫu lý tưởng, nhưng qua họ ta thấy được tất cả những khả thể làm người. Một Thérèse ở Lisieux, một thánh Don Bosco, một Edith Stein[2], một tông đồ Phao-lô hay một Tô-ma ở Aquino, các ngài đã học Đức Ki-tô để trở thành người. Tất cả các ngài đã trở nên thật giống Đức Ki-tô, nhưng mỗi người trong họ vẫn có một mẫu sống riêng.

Trong một bài giảng, có lần ngài giải thích, các ngọn nến mùa vọng nhắc nhở các em về những ngàn năm của lịch sử nhân loại trước Đức Ki-tô, những ngàn năm của tăm tối và chưa được cứu rỗi. Và ki-tô hữu đã đặt cho thời gian sau khi Chúa sinh ra một cái tên thật đẹp : « anni salutis reparatae », những năm của ơn cứu độ được tái lập.

Nếu ta quan niệm thời gian cứu độ một cách máy móc, xem đó như là một cái gì đã được thiết lập chắc chắn, cứ việc vào đó nhặt ơn cứu độ mà xài, thì điều đó chắc chắn không đúng. Ta vẫn thấy thực tế luôn phản lại quan niệm trên. Chẳng hạn, chưa bao giờ có những cuộc chiến man rợ và sắt máu như trong thế kỷta đang sống. Nó xấu xa hơn mọi thời gian trước đó, vì ta không có được những phương cách để kiểm soát sự dữ một cách tinh vi, hữu hiệu và hợp lí.

Ơn cứu độ đã được trao tặng cho ta không phải là một cái gì máy móc và bên ngoài. Nó được tín thác vào tự do, và như thế cũng được đặt vào sự mỏng dòn của tự do và vào bản chất dễ sa ngã của con người. Ơn cứu độ luôn khởi sự một cách mới mẻ nơi mỗi người, chứ nó không đơn giản đã có sẵn đó. Nó không do từ bên ngoài hay do quyền lực mà có, nhưng chỉ bước vào khi tự do của ta mở cửa. Nhưng trên hết và trong mọi chuyện vẫn là Chúa, Ngài đi tới với ta và cho ta hi vọng, hi vọng này mạnh hơn mọi phá hoại và nó giúp con người trở nên hoàn thiện.

ĐIỀU GÌ THEO CHÂN ĐỨC KITÔ XUỐNG TRẦN?

 Đức Giê-su cũng được nói đến như một « Adam mới ». Ngài là đấng trung gian và hoàn thành mọi mạc khải. Có thể tóm kết trong một vài câu ngắn về những gì mới mẻ đã theo chân Ngài xuống trần gian ?

Hãy nói về hình ảnh « Adam mới ». Adam trước hết ám chỉ sự khởi đầu của thực tại con người, là thuỷ tổ nhân loại. Nếu giờ đây Đức Ki-tô được gọi là « Adam mới », thì điều đó có nghĩa là một khởi đầu đích thực đã tới. Như vậy, cuộc khởi đầu trước đây phải hiểu là một mô hình khởi thảo về Đức Ki-tô, và chỉ sau khi có Ngài thì khởi thảo kia mới được rõ nghĩa. Vì vậy, ta có thể yên chí nói rằng, khuôn mẫu con người đã được cắt đo theo thân hình  Đức Giê-su, và con người được kêu gọi bước vào hợp nhất với Thiên Chúa – vì chính  Đức Giê-su chẳng phải chỉ là người, mà là Con Người Thiên Chúa.

Ta không nên hạn chế cái đặc thù của  Đức Giê-su vào trong từng lời nói hay từng việc làm của Ngài. Thập giá, với lối đón nhận và chịu đau đớn của Ngài, là một cái gì mới. Phục sinh là điều mới. Ngay việc sinh ra từ một trinh nữ cũng mới (cho dù có nhiều huyền thoại về chuyện đó). Sứ điệp yêu Chúa và yêu người như là toàn bộ giới răn, hay là Thánh Thể, qua đó Ngài cho biết việc sống lại của Ngài, đó là những cái mới lớn mà Ngài đã mang xuống trần. Tất cả đều phản chiếu cái mới lạ thường này: Thiên Chúa không ở đâu xa cả, Ngài không phải là một đấng nào đó không thể mường tượng được, nhưng Ngài ở bên ta, Ngài đã trở nên làm một với ta, đụng vào ta, đón nhận ta, cũng như ta đụng chạm được Ngài và có thể đón nhận Ngài.

Như thế, cái đặc thù đích thực của  Đức Giê-su chính là con người Ngài – đấng vừa là Chúa vừa là người.

Con người Thiên Chúa đó cũng đã nói : « Tôi đến để vứt lửa xuống trần gian. Tôi mừng nếu lửa đó bốc cháy ! » Và Ngài tiếp : “Anh chị em nghĩ là tôi đến để đem bình an ư ? Không, tôi không đem bình an, mà là chia rẽ ».

Đó là câu nói mạnh ghê gớm. Ngài dùng hình ảnh lửa, trước hết, để nói về cuộc khổ nạn của mình, cuộc khổ nạn vì lửa tình yêu ; đó là bụi gai mới, bốc cháy mà không rụi đi ; một thứ lửa có thể cho đi tiếp.

 Đức Giê-su không tới để giúp ta thoải mái, nhưng Ngài vứt lửa tình yêu bốc cháy của Thiên Chúa, của Thánh Thần xuống. Origenes đã ghi lại một câu không chính thức của  Đức Giê-su : « Ai tới gần tôi, là tới gần lửa ». Nghĩa là ai tới gần Ngài, phải sẵn sàng để cho mình bốc cháy. Ta nên đem những câu đó đặt ra cho Ki-tô giáo ngày nay, một Ki-tô giáo đã trở nên tầm thường, chẳng còn gì nói nữa, muốn tìm mọi cách để được an phận mà thôi. Ki-tô giáo là đạo lớn, bởi vì lửa của nó lớn. Nó đốt cháy, không phải để thiêu rụi, nhưng để làm cho mọi thứ trở nên sáng láng, tinh tuyền, giải thoát và lớn lao. Làm ki-tô hữu, do vậy, tức là dám tín thác vào lửa đó.

Cũng có một lời khác của  Đức Giê-su : « Tôi trao cho anh chị em bình an, tôi trao bình an của tôi cho anh chị em, tôi trao cho anh chị em không như thế gian trao ».

Hai câu trên phải đi đôi với nhau, mới có thể hiểu được ý nghĩa lời của Chúa. Đức Ki-tô là sứ giả của hoà bình. Tôi cho rằng câu này quan trọng hơn. Nhưng ta chỉ hiểu đúng hoà bình của Ngài mang đến, khi ta không coi nó tầm thường như việc bôi dầu cù là vào chỗ đau hay xí xoá cho qua chuyện trong những cuộc tranh cãi về chân lí.

Khi một chính quyền tìm cách tránh mọi xung đột và coi xung đột nào cũng có lí, hay khi mỗi cá nhân tìm cách tránh đụng chạm, thì mọi chuyện sẽ bế tắc. Nơi Giáo Hội cũng thế. Nếu nó chỉ tìm cách tránh xung đột, để đừng gây bất an ở đâu cả, thì sứ điệp phúc âm sẽ không thể nào đạt tới đích. Bởi vì sự có mặt của sứ điệp này cũng là để gây mâu thuẫn nơi ta, để lôi con người ra khỏi những dối trá và để tạo sáng tỏ, để tìm ra chân lí. Chân lí phải trả giá mắc. Nó đưa ra đòi hỏi, và cũng đốt cháy. Trong sứ điệp của  Đức Giê-su Ki-tô cũng gồm cả thách đố trong những tranh luận giữa ta với người chung quanh. Không phải chỉ việc dễ dãi quét lên một lớp sơn cho đức tin xơ cứng và tự cao của ta là được, nhưng phải có tranh luận mới có thể phá vỡ vỏ xơ cứng và đưa sự thật tới đích.

Như vậy hoà bình của  Đức Giê-su Ki-tô trước hết mang tính cách gây gỗ ?

Nó bắt ta đối diện với những dối trá của mình. Nó lôi ta ra khỏi sự thoải mái và đẩy ta vào cuộc chiến đấu, vào nỗi đau của chân lí. Chỉ như thế hoà bình giả, với bao nhiêu giả hình và mâu thuẫn hàm chứa trong nó, mới có thể thay thế được bằng hoà bình đích thực.

Câu nói về lửa đi liền với câu nói quan trọng hơn về hoà bình trên kia. Nhưng câu này đồng thời cho thấy hoà bình chân chính không phải tự nhiên mà có, rằng chân lí đi liền với đau khổ và tranh đấu, rằng tôi không được phép chấp nhận dối trá để được yên mình. Được yên ổn không phải nhiệm vụ đầu tiên của người công dân và của ki-tô hữu, nhưng là bảo vệ và tranh đấu cho cái lớn lao mà Đức Ki-tô đã ban tặng cho ta, với giá đau khổ và có thể đi đến chết vì đạo – và chính vì vậy nó mới tạo ra hoà bình.

TIN MỪNG

 Đức Giê-su nói về lửa và gươm giáo, nhưng Ngài cũng nói : « Hãy học với tôi ! » Vì nhờ đó « anh chị em mới gặp được yên ổn tinh thần ». Ngài nhân từ trong sự thật và khiêm tốn trong tâm hồn. Và nữa : « Ách của tôi không nặng, gánh của tôi nhẹ nhàng ». Phải chăng đó là tin mừng của Ngài ?

Vâng, nhưng ta biết những câu an ủi đó của Ngài cũng mang đòi hỏi lớn. Tuy nhiên, trước sự đau khổ của chân lí và lửa đốt của Đức Ki-tô mà ta vừa bàn trên, những câu này cho ta thấy mọi chuyệt rốt cuộc rồi sẽ đi về đâu.

Đức Ki-tô là hiện thân cho lòng nhân từ to lớn và tinh tuyền của Thiên Chúa. Ngài đến không phải để làm gánh nặng thêm, nhưng là để cùng ta gánh vác. Ngài không cất gánh nặng làm người – gánh khá nặng – nơi ta, nhưng ta không còn phải gánh nó trong đơn độc, mà có Ngài chung vai. Trong Đức Ki-tô không có sự thoải mái, tầm thường, nhưng ta gặp được trong Ngài sự yên ổn tâm hồn, vì biết rằng ta được Ngài chở che và yêu thương đến cùng.

Ta thấy toàn bộ sứ điệp của Đức Ki-tô không dễ dàng, nó chứa đựng đòi hỏi lớn. Sứ điệp đó luôn đi liền với thập giá. Ai không muốn bị thiêu đốt, hay ít nhất không muốn sẵn sàng chấp nhận nó, người đó không thể tới được gần Ngài. Nhưng ta cũng hiểu rằng trong sứ điệp đó chứa đựng lòng từ ái đích thực, một lòng từ ái hay cứu giúp và chấp nhận ta – và nó không những đưa tới cho ta điều tốt, mà còn giúp ta được thoải mái.

ĐƯỜNG

 

Cuộc đời  Đức Giê-su để lại trần gian rất ít dấu vết hiện vật. Ngài không xây đền thờ, không chiếm cứ thành nào và cũng không in tiền. Cũng không có văn bản của một tác giả cổ điển nào đề cập xa gần tới Ngài, nhiều như trong các tài liệu Tin Mừng Tân Ước. Các tài liệu này lên tới hàng ngàn văn bản, và văn bản xưa nhất chỉ được viết sau thời Ngài vài ba chục năm.

Chúng ta đã nói chuyện về khoa phê bình lịch sử, khoa này tỏ ra hoài nghi về cuộc đời và sứ điệp của Đức Ki-tô. Họ bảo rằng, không rõ Ngài sinh ra ở đâu vào thời điểm nào, không hiểu bài giảng trên núi thật có cấu trúc và nội dung như hiện nay không. Những nhà nghiên cứu mới đây còn cho rằng, có lẽ Ngài đã không tự xưng mình là Messias. Họ bảo, lúc đó là cao điểm của những trông chờ tận thế, nên nhiều điều liên quan tới Ngài có thể giải thích được theo hướng đó. Tôi muốn đào sâu điểm này: Khoa nghiên cứu phê bình như vậy là sai với lịch sử, và đặc biệt có hại cho đức tin?

Khoa phê bình lịch sử quả đã có những thành tựu lớn. Nó giúp ta hiểu nhiều chuyện chính xác hơn. Nhưng nó cũng có những giới hạn, nhất là khi nó nghiên cứu loại tài liệu như của Kinh Thánh. Lối nghiên cứu đó nhằm khai quật quá khứ qua các bản văn nói chung và trong điều kiện những quy luật chung về lịch sử. Nhưng những biến cố trình thuật trong các Tin Mừng không nằm trong những quy luật chung đó, và như vậy chúng chống lại việc tổng quát hoá thiếu sót của phương pháp nghiên cứu này.

Với thời gian, người ta đã cố gắng đào bới lên và phân biệt những nguồn gốc khác nhau trong các bản văn; đây cũng là điểm quan trọng. Nhưng tổng quát mà nói, đó cũng chỉ là những lối thử luôn thay đổi, và giá trị nội dung xác xuất của chúng bị giới hạn. Nhất là, với câu hỏi ai là người làm ra Tin Mừng, thì trả lời của họ lại tạo ra những nghi vấn lớn hơn là nếu như ta, một cách chung, chấp nhận các bản văn đó trong toàn bộ của chúng là đáng tin và có tính lịch sử. Bởi vì nếu không như thế, thì ta phải chấp nhận rằng, chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn của thời đại đó đã xẩy ra một kho khám phá kinh khủng về những chuyện thần kì. Làm sao bản văn Tin Mừng có thể được chấp nhận nhanh như thế? Ai là những tác giả đã có thể phổ biến bản văn đó ra thế giới? Tại sao các bản văn đó lại có một hình dung nhất thống về Giáo Hội - tất cả những điều đó đã không có trả lời.

Thế thì câu trả lời ở đâu?

Bản văn Tin Mừng có đặc điểm riêng của nó, điểm này cần phải coi trọng. Toàn bộ các bản văn phản chiếu một thực tại hoàn toàn đi ra ngoài khung lịch sử bình thường. Thực tại đó phù hợp với chính nó, và vì thế trước sau nó đáng cho ta tin tưởng vào tổng thể của nó.

Ta phải nói thêm, chẳng có một phương pháp phê bình lịch sử, mà cũng chẳng có những kết quả cụ thể. Có những nhà khoa học trước sau vẫn rất tin vào bản văn và cũng đưa ra những lí chứng khách quan về mặt phương pháp. Và cũng có những người vứt bỏ tất cả - nhưng họ lại phải nghĩ ra những lí do để giải thích tại sao toàn bộ câu chuyện đã xẩy ra như thế. Họ hoàn toàn lần mò trong bóng tối, và vì không tìm ra nguồn nào cả, nên nỗ lực của họ lại thành ra tưởng tượng.

Ta hãy nhìn kĩ hơn chút nữa các tác giả Tin Mừng. Trước hết là Mát-thêu. Ngài mang một tên kép, chuyện hơi lạ vào thời đó: Matthaj-Levi, người thu thuế hay để tiền thuế rơi vào túi riêng mình và là người cộng tác với chính quyền Rô-ma. Tin Mừng viết về ngài: „Và khi  Đức Giê-su đang ăn tại nhà ông, có nhiều người thu thuế và người tội lỗi tới với Ngài và với các môn đệ Ngài“. Mat-thêu như vậy chẳng phải là người thật thà và đáng cậy.

Có lẽ ta phải đi sâu vào nguồn tài liệu. Trước đây, Tin Mừng Mat-thêu được coi là bản Tin Mừng cổ nhất. Một nhà văn vào thế kỷthứ hai sau công nguyên, Papias, ghi chú rằng, Mat-thêu viết nó bằng tiếng Do-thái (Hebräisch), sau đó bản văn được dịch ra tiếng Hi-lạp. Nhờ thông tin phong phú, kết cấu nội dung và tính cách dễ đọc của nó, bản văn đã trở thành Sách Tin Mừng của Giáo Hội, được mọi người trích dẫn. Sau đó thêm vào Lu-ca và Mac-cô, nhưng Mat-thêu vẫn là bản xưa nhất, có giá trị nhất, được Giáo Hội dùng nhiều nhất trong phụng vụ và đức tin.

Theo các kết quả nghiên cứu, nội dung văn bản của ba vị Mat-thêu, Lu-ca, Mac-cô quyện lẫn và lệ thuộc vào nhau. Tại sao có chuyện này, câu hỏi chỉ được đặt ra mới đây. Ngày nay, một phần lớn các nhà phê bình cho rằng, không thể quy cho tông đồ Mat-thêu viết bản đó được, bởi vì bản văn có niên đại trễ hơn, nó được viết vào khoảng cuối thế kỷthứ nhất trong một công đồng do-thái ở Siri.

Nói chung, việc hình thành các bản văn Tin Mừng diễn ra trong một quá trình phức tạp. Trước hết, người ta thu thập các lời truyền miệng của  Đức Giê-su rồi sau đó chép ra. Nhà chú giải vừa mới mất ở Erfurt, giáo sư Heinz Schürmann, lập luận rằng, việc ghi nhớ bằng miệng những lời của  Đức Giê-su đã được các tông đồ thực hiện từ lúc Ngài còn sống. Nghĩa là, khởi đầu chỉ có những lời truyền miệng. Bên cạnh những lời đó, còn có những lời truyền về các biến cố, về truyền thống địa phương và những thứ khác. Chủ thể của việc lưu truyền không phải là những cá nhân, mà là các cộng đoàn tín hữu, và qua họ là cả Giáo Hội. Rồi đến việc ghi chép ra. Lúc đó, các nhà viết Tin Mừng đã có sẵn một kho lưu truyền phong phú, họ dựa chủ yếu trên đó mà chép, ngoài ra mỗi người còn thêm vào những viễn kiến thần học riêng của mình. Ngày nay, người ta cho rằng bản Tin Mừng Mac-cô là bản cổ nhất, chứ không phải là bản Mat-thêu. Mat-thêu và Luca đã viết dựa chủ yếu trên nền của Mac-cô và làm giàu thêm bởi những nguồn tài liệu sẵn có khác. Tin Mừng Gio-an có một gốc và khuôn hình thành hoàn toàn riêng. Không phải chỉ có một người viết ra ba bản Tin Mừng đầu tiên, đó là điểm quan trọng. Và cũng quan trọng là toàn bộ quá trình lưu truyền về đức tin của Giáo Hội, ngay từ đầu, đã được gói trọn trong các Tin Mừng đó, và quá trình lưu truyền đó sau này rốt cuộc đã được viết ra.

Vấn đề ai là người viết, như thế, trên một bình diện nào đó, thuộc vào hàng thứ yếu. Phong cách riêng của Lu-ca được nhận diện rất rõ, ngài là tác giả của bản Tin Mừng thứ ba và của sách Công-vụ Tông-đồ, điều này không ai chối cãi. Mac-cô, học-trò của Phê-rô, cũng cho thấy rõ phong cách là người viết Tin Mừng của mình. Ngày nay chỉ còn không rõ ai là tác giả của Tin Mừng Mat-thêu. Quan trọng là ngay từ đầu chỉ có những truyền miệng, đó là thói quen rất thường thấy ở phương đông. Điều này là một biểu chứng cho sự gần gũi với nguồn gốc lịch sử. Nội dung Tin Mừng chép lại từ kho truyền miệng đó đã kinh qua một quá trình kiểm tra của cộng đoàn (có đôi chút thêm thắt sửa đổi tùy theo cộng đoàn nhận bản văn, nhưng nội dung chính thì vẫn được giữ nguyên).

Còn về con người Matthaj-Levi, anh chỉ đề cập tới quá khứ của ngài mà thôi. Sau cuộc gặp  Đức Giê-su, Mat-thêu đã trở thành một con người khác. Ngài đã bỏ đường cũ mà bước theo con đường  Đức Giê-su. Qua cuộc sống cộng đoàn với anh em tông đồ, với  Đấng Phục Sinh, và qua công tác truyền giáo, ngài đã tỏ ra là một con người thật sự „đổi mới“, và như vậy là một người đáng tin, đáng cậy.

Tác giả Tin Mừng Lu-ca là một thầy thuốc. Điều quan trọng nhất của ngài là muốn cho người đọc nhận ra vai trò cứu thế, vai trò cứu độ thân xác và tâm hồn của  Đức Giê-su. Với ngài,  Đức Giê-su là người thâm cảm và có lòng thương đặc biệt đối với thành phần bên rìa xã hội.

Nhưng ta hãy nói về Tin Mừng Gio-an. Ngài bảo Tin Mừng này được đổ từ một khuôn riêng. Dù sao, Tin Mừng này mang nét thâm trầm hoàn toàn khác. Các Tin Mừng nhất lãm (Mat-thêu, Lu-ca, Mac-cô) cho thấy nhiều về Con Người; còn Tin Mừng Gio-an tỏ ra như là một cuộc đối đáp với các nhà thông thái – và nhất là nó cho thấy toàn bộ vinh quang của Con Thiên Chúa. Tôi nghĩ đây là bản Tin Mừng mà Hồng Y ưa nhất.

Tôi rất thích bản đó, nhưng phải nói ngay, tôi cũng rất ưa bản của Lu-ca. Trong đó ta có được những dụ ngôn tuyệt vời về anh nhà nghèo La-da-rô, về người Sa-ma-ri-ta, về đứa con đi hoang. Ngài là một nhà văn lớn, trong sách ngài chứa những “hạt ngọc” đặc biệt. Cả câu chuyện về cuộc đời niên thiếu của  Đức Giê-su cũng tuyệt. Mỗi tác giả Tin Mừng có một nét riêng. Phải nói, tôi đặc biệt yêu Lu-ca qua nét nhân bản thâm sâu, đồng thời cũng là chân trời mở ra đời đời của ngài. Với tôi, tập hợp các bản nhất lãm là một nét đẹp không thể thay thế được, chính bởi vì chúng không mang nét riêng tư, nhưng qua đó ta cảm được sự truyền thừa sống động trong Giáo Hội, truyền thừa đó dần dần đã được đúc kết lại trong một bản văn liên kết với nhau. Nhưng sách Gio-an quả có một chiều sâu vời vợi, nó luôn làm cho tôi say mê.

Đôi khi câu chuyện về  Đức Giê-su mang nét hư cấu. Chẳng hạn, Ngài bám chặt vào các bí số của Cựu Ước. Ngài ở trong sa mạc 40 ngày, làm đúng 7 phép lạ, kể ra 12 dụ ngôn, đặt 12 tông đồ…

Tất cả các Tin Mừng đều nói tới 12 tông đồ. Điều này chẳng có gì lạ. Nếu  Đức Giê-su quả thật muốn xây dựng một Is-ra-en mới, nếu Ngài coi mình là người của Thiên Chúa phái đến để làm mới Is-ra-en và mang ánh sáng cho mọi dân tộc, thì việc Ngài lấy lại biểu tượng 12 chi-họ Is-ra-en thông qua việc đặt 12 ông tổ mới là chuyện thường tình, làm như thế là Ngài muốn dùng một cử chỉ biểu trưng để diễn tả bước đầu của một Is-ra-en mới.

40 ngày hoang địa lập lại hình ảnh 40 năm của dân Is-ra-en trong sa mạc. Còn con số về dụ ngôn và phép lạ thì mỗi Tin Mừng mỗi khác.

Dù vậy, Tin Mừng luôn mang tính giáo huấn. Có nhiều đoạn xem ra là những hoạt cảnh thêm thắt, dùng để dấy động hoặc tuyên truyền.

Vâng, chúng là bài giáo huấn, mà cũng là chứng từ. Chính Gio-an bảo, ngài viết ra để làm chứng. Đó là nguyên tắc nền tảng khi ta đọc Tin Mừng. Tin Mừng muốn diễn tả chính  Đức Giê-su, qua lời Ngài nói, việc Ngài làm, khổ đau Ngài chịu. Tin Mừng không chỉ muốn huấn giáo, mà còn muốn tạo gặp gỡ với một biến cố, biến cố đó cũng mang nội dung tinh thần và cung cấp kiến thức. Tin Mừng vừa nói với con tim và trí óc.

ĐƯỜNG – SỰ THẬT – SỰ SỐNG

 Đức Giê-su mang nhiều đồng nghĩa lạ lùng: Ngài là bánh hằng sống, là muối cho đời, là ánh sáng thế gian. Ngài nói về mình: „Tôi là đường, là sự thật và là sự sống. Ai tin tôi, sẽ không chết đời đời“ . 2000 năm sau giáng sinh, ta có thể trả lời một cách minh bạch câu hỏi  Đức Giê-su là ai không?

Nếu giờ đây chỉ có việc đào bới lịch sử 2000 năm lên để tìm câu trả lời, thì như ta đã nói, phương pháp lịch sử đã gặp giới hạn của nó. Nhưng đây không phải vậy.

Ta thấy chủ thể sống động, được hình thành lên từ việc rao truyền, là Giáo Hội vẫn giữ nguyên bản sắc của nó, và bản sắc đó đã có ngay từ đầu. Giáo Hội có thể nói hiện diện đồng thời với  Đức Giê-su, và sự song hành đó đã kinh qua mọi thời gian.

Như vậy, cuộc đào bới phi thường 2000 năm cũng không tách ta ra khỏi  Đức Giê-su. Cái chủ thể làm chứng về Ngài một cách sống động (là Giáo Hội), và có thể nói đã cùng với Ngài xưng „Tôi“ ngay từ đầu, vẫn hiện diện không ngừng. Qua Giáo Hội ta thấy sự hiện diện sống động của Ngài. Qua Giáo Hội, ta có thể nhận ra nguồn cội hình thành của nó. Dĩ nhiên, trong đó cũng có đức tin, mà nếu không có một hình thái cảm thông, không có đức tin, tôi không thể nhận ra người khác.

Có lần tôi thấy một bức ảnh trong nhà thờ ở Na-da-ret. Ảnh vẽ cậu Giê-su đang vụng về trên chiếc bàn thợ mộc. Maria ngồi bên cạnh, lo và sầu não. Và gương mặt ông thợ mộc Giu-se lộ vẻ ngài biết trước con mình sẽ không nối được nghiệp cha. 12 tuổi, cậu Giê-su muốn bỏ gia đình („con phải ở nhà Cha con“). Năm 30 tuổi dân Na-da-ret muốn xô Ngài từ núi xuống.

Khởi đầu, Ki-tô giáo không muốn lưu truyền công khai câu chuyện thời niên thiếu của  Đức Giê-su. Chỉ với Lu-ca và Mat-thêu, câu chuyện mới xuất hiện theo cách kể khác nhau. Khác với công việc của một sử gia, Tin Mừng không muốn đề cập tới bất cứ một tiểu sử nào của Ngài, mà chỉ muốn làm chứng về điều mà ta cho là quan trọng. Và các thánh sử không muốn kể lại thời ở ẩn, mà chỉ muốn nhắc đến gốc gác đặc biệt của Ngài, gốc này được coi là ngôi sao ngay từ đầu xuyên chiếu đời Ngài, và nói về sứ điệp của Ngài.

Hình ảnh thánh gia mà anh thấy chỉ là do lòng đạo đức tưởng tượng vẽ ra, nhất là từ thế kỷ19 người ta chú tâm tới đề tài Na-da-ret và đã vẽ theo cảm quan riêng của mình. Với lại kiểu tiểu gia đình như thế ở Pa-les-tin ngày xưa không có. Thời đó họ sống đại gia đình theo lối chung cả bộ lạc, cũng vì thế mới có chuyện Kinh Thánh nói tới những người anh em của  Đức Giê-su.

Thế kỷ19 đã suy diễn mọi chuyện theo một ánh sáng mới. Ta thấy cao điểm của nó nơi Charles de Foucauld*, người đã tạo cho Na-da-ret một sứ điệp thầm lặng, khiêm nhường và hối cải. Dĩ nhiên Foucauld đã khám phá ra được những điểm quý giá. Nhưng những điểm đó không trực tiếp nói lên tâm điểm của sứ điệp như đã được trình bày trong Tin Mừng.

Tại sao  Đức Giê-su 30 tuổi mới ra công khai? Như vậy Ngài chỉ có 3 năm để rao giảng.

Trong thế giới và hoàn cảnh của Is-ra-en thời đó không phải một thanh niên nào cũng có thể xuất hiện được. Ai muốn thi hành vai trò một Rabbi (giáo trưởng), dù  Đức Giê-su không phải là một Rabbi theo đúng nghĩa, phải trải qua một thời gian ít nhất 30 tuổi. Vì vậy mới có chuyện xuất hiện vào năm 30, chứ không sớm hơn. Sứ điệp  Đức Giê-su mang chiều sâu nội tâm, nên cần đủ thời gian suy tư.

Có lần Ngài về thăm quê hương. Và đồng hương hiếu kì đã phải lắc đầu thắc mắc: „Đó không phải là anh con ông thợ mộc sao? Do đâu mà anh ấy bỗng nhiên có được nhiều khôn ngoan và sức mạnh đến thế?“ Và Kinh Thánh tiếp: „Có phải bà Maria là mẹ anh, và Gia-cô-bê, Giu-se, Si-mon và Giu-đa là anh em của anh ta không? Có phải các chị em của anh ta đang sống giữa chúng ta không?“

Chỗ này Kinh Thánh nhắc tới tên bốn người anh em và số chị em không được xác định. Nếu tôi nhớ không lầm: Giáo Hội chưa bao giờ bảo Giê-su là con một của trinh nữ Maria?

Trong một thôn nhỏ như Na-da-ret hẳn ai cũng biết nhau. Vì thế, khi một người cùng sống bình lặng trong họ bỗng nhiên có được một hiểu biết như thế, thì mọi người thắc mắc là phải. Và càng gần người đó bao nhiêu, người ta càng tỏ ra thắc mắc. Người ta không tin vào sự thay đổi đó và muốn kéo Ngài về với thường tình. Vì thế mà  Đức Giê-su đã nói: „Không một tiên tri nào được tiếp đón nơi quê hương mình“. Còn chuyện anh chị em của Ngài, Giáo Hội trước sau vẫn tin đức trinh nữ Maria chỉ có Ngài là con một mà thôi. Qua Ngài, mẹ Maria thuộc về Thiên Chúa, và vì thế có thể nói Mẹ không thể trở về với một cuộc sống gia đình bình thường được.

Từ „anh chị em của Giê-su“ được cắt nghĩa theo cấu trúc gia đình thời đó. Và cũng có đủ bằng chứng để biết rằng những trẻ trên không phải là con của Maria. Chẳng hạn như Tin Mừng ở đây cũng nói tới một bà Maria khác, và những chuyện khác đại loại như thế. Tin Mừng chỉ nói xa gần về những liên hệ gia đình cá biệt, và ở đây ta hiểu là có nhiều gia đình liên hệ với nhau. Dưới chân thập giá,  Đức Giê-su trao Gio-an như là con cho Mẹ, điều đó cho thấy nét đặc thù nơi Mẹ, và Mẹ là Mẹ của riêng Ngài một cách đặc biệt mà thôi.

Ta không thể giải toả vấn nạn trên bằng thuần lịch sử. Không thể chứng minh mẹ Maria chỉ có một con mà thôi. Trái lại, ta cũng không thể chứng minh những người trên phải là anh chị em ruột của  Đức Giê-su. Có nhiều lí chứng – về điểm này Josef Blinzler có viết một cuốn sách hay – cho thấy rằng những người trên là con của các gia đình khác trong bộ tộc, và Kinh Thánh gọi chung họ là anh chị em của Ngài. Ngoài ra, ý niệmanh chị em của Giê-su cũng là một ý niệmđược đưa ra trong Giáo Hội sơ khai, nó nói lên những căng thẳng giữa một bên là kiểu gia đình  Đức Giê-su theo khuynh hướng do-thái giáo khắt khe, với bên kia là những khuynh hướng khác cùng có mặt trong buổi bình minh của Giáo Hội.

3. ĐƯỜNG ĐI

ĐỨC GIÊSU ĐÍCH THỰC LÀ AI?

Đôi khi  Đức Giê-su tỏ ra như người thô bạo giận dữ. Buổi sáng nọ, Ngài trở lại thành, đang cơn đói lại gặp ngay cây vải bên đường đầy lá mà chẳng có lấy một quả nào. Ngài buông lời chúc dữ: „Suốt đời mày sẽ chẳng có quả nào nữa“. Lập tức cây vả chết khô.

Chuyện cây vả mang tính „điển hình“, có nghĩa là, đối với các tiên tri trong Is-ra-en xưa, đó là một dấu chỉ tiêu biểu. Trong trường hợp trên, cây vả biểu tượng cho dân Is-ra-en, và chính câu chuyện này đi liền với cuộc khổ nạn, trong đó cuộc vật lộn để chiếm lòng dân Is-ra-en đã đạt tới cao điểm của nó. Tuy nhiên cây vải không mang trái đã vượt ra khỏi vòng biểu tượng và trở thành thí dụ chung cho việc mang hoa kết trái.

Đấy không phải là một cơn giận nhất thời, nhưng  Đức Giê-su dùng cử chỉ biểu trưng đó để nói lên rằng, dân tộc nào, cộng đoàn nào, nhóm nào mà chỉ có sinh lá, chỉ nghĩ tới mình mà thôi, và chẳng tạo ra được gì để phục vụ kẻ khác, thì sẽ héo khô và chết. Có một loại Ki-tô giáo chỉ tạo ra lá và giấy má mà thôi, thứ đó cũng sẽ chết khô. Vì thế ta phải nhìn câu chuyện trên từ góc độ của Con Thiên Chúa, từ hàng ngàn năm trước Ngài đã cung cấp cho ta một viễn tượng tiêu biểu qua hình ảnh trên.

Có lần Ngài trách móc cả thành, vì dân thành không chịu hối cải, chẳng hạn như: „Này ngươi, Ca-pha-na-um, ngươi bảo ngươi sẽ được cất lên trời ư? Không, ngươi sẽ bị tống xuống hoả ngục“.

Ở đây, Ngài đang nói với một thành có cuộc sống quá vướng mắc, nơi mà theo Ngài lẽ ra phải có một cuộc sống đức tin gương mẫu. Ngài chứng nghiệm nơi đây tâm lí gần chùa gọi bụt bằng anh. Họ chẳng quan tâm thật sự gì tới Ngài cả, đức tin do đó đã không lớn lên được. Vì thế, cũng như các thành khác, thành này đã trở nên biểu tượng của toà phán xét, của thất bại, của hư mất.

Rõ ràng ở đâu hay cộng đoàn nào từ chối Chúa, ở đó thế nào rồi cũng sẽ rơi vào số phận của Gô-mô-ra. Một xã hội trong đó con người xa rời Thiên Chúa hằng sống, cộng đoàn đó tự chặt đứt rễ xã hội tính của mình.

Những số phần như thế hiện nay cũng đang xẩy ra. Ta chỉ cần nghĩ tới những xã hội vô thần, nghĩ tới những vấn nạn đang xẩy ra trong quá trình tan rã sau 50 năm sống dưới chủ nghĩa cộng sản nơi các quốc gia tiếp nối Liên-bang Sô-viết thì rõ. Các xã hội đánh mất Thiên Chúa đó quả thật đã giật sập chính nền tảng sống của họ.

Ngay cả đối với Phê-rô,  Đức Giê-su cũng tỏ ra vô cùng bực bội, nặng lời: „Hãy cút đi khỏi mắt ta, Sa-tan, anh muốn đưa ta vào bẩy“.

Giê-su dành cho Phê-rô một mối thân tình đặc biệt, vì thế những lời như trên không có gì quá đáng. Nhìn qua phản ứng của Phê-rô ta cũng biết điều đó. Ông biết, mình đã làm sai hoàn toàn. Ở đây, ông muốn cản lại con đường thập giá của Thầy mình. Ông bảo với Thầy, thập giá không hợp với sứ mạng của Thầy, đó không thể là đích điểm kết thúc của Thầy, mà Thầy phải thành công cơ. Như thế, Phê-rô lặp lại chước cám dỗ nơi hoang địa mà chúng ta đã nói, cám dỗ về một đấng Messias được đưa lên lưng ngựa chính trị và phải thành công.

Đó là một cám dỗ luôn xẩy ra trong muôn hình nhiều vẻ. Chẳng hạn như việc người ta muốn lập nên một xã hội lý tưởng bằng một Ki-tô giáo mác-xít: nhân loại sẽ được cứu độ, một khi họ có đủ tiền bạc và hàng hoá. Chính đây là điểm mà  Đức Giê-su chống. Khi đưa ra mô hình đó, có thể nói Phê-rô đã khoác vào mình vai trò của Sa-tan trong hoang địa. Phê-rô hiểu điều đó; và ông hiểu rằng, dù cho tới cuối đời luôn phải vật lộn với bài toán thập giá khốn nạn và phải chống lại giải pháp thành công rất người kia, ông cũng phải học nét đặc biệt nơi  Đức Giê-su.

 Đức Giê-su có ác cảm thật sự đối với một số người. Ngài gọi họ là „rắn độc“, là „lãnh tụ đui mù“. „Các ngươi sàng muỗi ra nhưng lại nuốt cả lạc đà“. „Này, những nhà thông luật và Pha-ri-sêu giả hình, hãy coi chừng. Các ngươi đóng bịt cửa không cho ai vào thiên đàng“. Quả thực,  Đức Giê-su là người đấu tranh cho sự thật, cho sự nhất thống giữa nói và làm, giữa lời giảng và cuộc sống. Ngài kinh tởm đám thông luật: „Chúng buộc những gánh nặng và choàng lên cổ người khác, nhưng chính mình thì lại chẳng muốn đụng một ngón tay vào gánh nặng ấy“.

Tôi tin Chúa cũng sỉ vả những người đạo đức giả với những lời đó. Nhìn từ góc độ Thiên Chúa thì những người này chống lại  Đức Giê-su. Ngài coi những kẻ xem ra đạo đức và thông thái kia chỉ là những tay đóng kịch. Và ở đây, Ngài cũng lại nói cho những thế hệ về sau nghe. Ta biết, Luther đã dùng những lời trên để kết án chính hàng giáo phẩm công giáo.

Dĩ nhiên, chúng ta không thể kết án một cách dễ dãi được như thế. Nhưng trên thực tế, tất cả những ai mang trách nhiệm rao giảng lời Chúa phải thức tỉnh với những lời đó, và phải luôn tự hỏi, có phải mình cũng thuộc vào những hạng trên không. Về chuyện này, có một tập sách nhỏ của giáo phụ Maximus Confessor, trong đó vị tu sĩ có một bài giảng thấm thía. Ngài bảo, những câu trên được nói cho chúng ta nhiều hơn là cho những người Pha-ri-sêu trước đây. So với họ, chúng ta còn tệ hơn, là vì ta nhận được ánh sáng nhiều hơn, trong khi vẫn sống trong trái ngược, nhỏ nhặt, giả dối.

Còn những nhà thông luật, có thể nói họ biết từng chữ trong kinh sách, họ là những nhà chú giải, những chuyên viên Kinh Thánh, họ thuộc cả chỗ nào tiên tri nào nói gì. Nhưng đó là cái biết không có sức sống. Họ chỉ biết chẻ lời kinh sách ra thành những chi tiết và chẳng nhận ra sức sống trong đó nữa. Đó cũng là lời cảnh cáo cho những nhà chú giải chuyên môn. Dĩ nhiên họ biết mọi chuyện, nhưng Kinh Thánh của họ chỉ còn là một bộ xương, một vật thí nghiệm để họ có thể chiết phân. Với lối làm đó, họ đã đi ra quá xa sứ điệp chứa đựng trong đó. Trái lại, những kẻ đơn sơ lại nghe hiểu sứ điệp rõ hơn những đầu óc chất đầy kiến thức, nhưng lại mù và điếc với nội dung đích thực của Tin Mừng.

Hẳn  Đức Giê-su cũng là một người thiếu kiên nhẫn. Có lần Ngài lệnh cho trưởng tông đồ Phê-rô bước đi trên biển. Ngài gọi ông bước tới. Và Phê-rô tới. Ông bước ra khỏi thuyền và quả thật đi được trên mặt nước. Nhưng khi gió nổi lên mạnh, ông bắt đầu sợ và chìm.  Đức Giê-su lắc đầu: „Cái anh yếu tin, tại sao anh hoài nghi?“

Ngài nói ra điều Phê-rô nghĩ trong đầu. Cũng giống như lần kia trời giông bão, các môn đồ thất vọng, vì thấy Thầy mình chẳng tỏ ra âu lo gì, ngay cả khi thuyền đã đầy nước. Và sau khi thức dậy cứu họ, Ngài bảo „Các anh yếu tin quá“.

 Đức Giê-su muốn để cho các môn đồ thật sự nhận ra mình, muốn để cho họ phải biết rằng, Ngài sẽ không để cho họ bị chìm. Ngài muốn cho họ thấy Ngài là ai, và cho thấy đức tin của họ vào Ngài còn quá yếu, đến chỉ một ngọn gió nhẹ cũng đủ thổi bay.

Trong cảnh trên, Phê-rô không nhìn vào  Đức Giê-su nữa, nhưng đôi mắt ông chỉ thấy những yếu tố trần thế. Dĩ nhiên, dựa theo tính toán xác xuất thì Phê-rô có thể sẽ chìm ngay khi bước xuống mặt nước. Nhưng ông đã liều mình, chỉ còn biết nghe theo tiếng gọi của Thầy. Với Ngài, trong Ngài và với nghị lực của mình, có thể nói Phê-rô cũng có thể bước qua được những yếu tố chết của trần thế.

Đây cũng lại là một dụ ngôn có ý nghĩa thâm sâu. Nếu ta dựa vào yếu tố xác xuất của các biến cố thiên nhiên, và nhìn vào tất cả những gì có thể hiểu được, thì xem ra Ki-tô giáo quả vô cùng bấp bênh. Và nếu mắt ta chỉ dõi theo những gì là mốt, tai ta chỉ còn nghe gió thời thượng thổi, thì đức tin có thể sẽ chìm. Vì thế, có lẽ ta phải nói theo Phê-rô: Không thể như thế được nữa! Nếu ta làm thế, ta sẽ đánh mất neo cuộc sống, chiếc neo giúp ta chiến thắng trọng lực của sự chết, trọng lực của lịch sử và những bất khả thể của nó. Tin có nghĩa là chống lại lực hút kéo ta đi xuống. Tin có nghĩa là gắn bó với đấng có lực hút đối nghịch, lực đó kéo ta đi lên, giữ nâng ta, và dẫn ta vượt qua những yếu tố sự chết.

Có lần, đang lúc rảo bước trong vùng dân ngoại, trong địa hạt hai thành Tyrus và Sidon,  Đức Giê-su muốn nghỉ ngơi, nghỉ giảng và hết làm phép lạ. Cả khi một bà mẹ khẩn khoản nài van Ngài trừ thần xấu đang vùi dập đứa con gái bà, Ngài cũng đã xua đuổi thẳng thừng: „Tôi chỉ được sai tới giúp những con chiên lạc nhà Is-ra-en mà thôi“.

Có một điều lạ trong đời  Đức Giê-su, là chính Ngài không rao giảng cho dân ngoại. Chỉ sau khi sống lại, Ngài mới uỷ việc đó cho các môn đệ. Thoạt tiên, có thể nói, Is-ra-en được ưu tiên. Đó là dân riêng Chúa chọn, là điểm khởi đầu để Chúa hành động. Và Ngài đã đã giữ độc quyền cứu độ đó cho Is-ra-en. Trong cuộc đời tại thế,  Đức Giê-su đã vật lộn với việc chiếm lòng dân này, Ngài chiến đấu để làm sao cho dân này nhận ra Ngài là người họ trông chờ, làm sao để họ kết hiệp với Ngài, để từ đó biến đổi thế giới.

Cả Phao-lô ban đầu cũng giữ quy tắc đó. Bất cứ nơi đâu, ngài đều bắt đầu cuộc truyền giáo từ trong đền thờ. Cả khi tới Rô-ma, ngài tập hợp trước hết các người Do-thái. Chỉ khi thất bại trong việc nối kết lịch sử đức tin của Is-ra-en với  Đức Giê-su, ngài mới bước ra với dân ngoại. Chính Phao-lô, người đã vượt qua nỗi sợ hãi khi bước vào nơi lạ, đã nói, sứ điệp trước hết luôn dành cho người Do-thái, sau đó mới đến dân ngoại.

Nghĩa là có một quy luật về cứu độ. Thiên Chúa trung thành với luật đó,  Đức Giê-su cũng không đi ra ngoài luật đó. Ngay cả khi Ngài biến đổi và làm mới luật lệ do-thái từ trong, Ngài cũng không đơn giản là một tay chống đối tự tung tự tác, nhưng đã vì trung thành mà hành động. Như vậy, sự trung thành của Thiên Chúa đã xoá đi cái ấn tượng phản bội trong việc bắt buộc phải bước ra với dân ngoại – và trái lại, cho thấy việc bước ra đó phù hợp với việc phục sinh của Ngài, qua đó cái chết của hạt lúa miến cuối cùng đã trở nên cái cao cả và mang ân lộc cho toàn thế giới.

 Đức Giê-su rảo khắp nước. Ngài cảnh báo về sự khiêm tốn và hối cải, dạy cầu nguyện, cảnh giác việc ham mê ăn uống và cứng lòng. Ngài kể dụ ngôn anh nghèo La-da-rô được vào thiên đàng, trong lúc ông nhà giàu trụy lạc phải xuống địa ngục – Ngài đúng là một nhà giảng đạo lang thang.

Đúng Ngài là một nhà giảng đạo nay đây mai đó. Trước hết, Ngài giảng ở Ga-li-lê-a và cố gắng khuyến dụ dân ở đó. Rồi Ngài kéo dài địa điểm rao giảng tới Giê-ru-sa-lem. Ngài biết mình được sai tới cho dân Is-ra-en và muốn mang sứ điệp mới cho dân đó. Tâm điểm sứ điệp là Nước Chúa, là sự đổi mới thế gian nhờ vào lượng từ bi của Thiên Chúa.

Các yếu tố riêng lẻ, mà anh nói tới, tất cả đều nằm trong viễn tượng lớn đó. Một mặt,  Đức Giê-su sống trung thành với lịch sử cứu độ của Thiên Chúa, nhưng Ngài cũng tuân giữ cấu trúc chặt chẽ của Do-thái, cũng hành hương, cũng mừng lễ vượt qua. Ngài sống như một người Do-thái có niềm tin và sùng đạo. Và đồng thời cũng sống như một người con của Mai-sen mới, nhưng vượt cao hơn Mai-sen. Ngài giờ đây không cắt nghĩa luật như cách các thầy thông luật làm, nhưng như một người Con, và người Con này cũng chính là kẻ tạo ra luật và đã nâng mình lên một bậc mới cao hơn.

Ngài là một kẻ phản kháng?

 Đức Giê-su chẳng chủ trương phóng khoáng hay phản kháng, chẳng chống lại cái này hay cái kia, chẳng tránh né mà cũng chẳng phải muốn từ chối, nhưng đó viễn tượng của đấng ra luật, của chính đấng Tạo hoá. Ngài muốn phá vỡ cái đang có để đưa vào cái chung cuộc, và chính trong khi thực hiện điều đó, Ngài đã làm gương cho ta về sự trung thành sâu xa. Tôi tin rằng, ta phải thấy sự hiện diện cùng lúc của trung thành và cái xem ra phản kháng đó, nếu ta muốn hiểu đúng con người  Đức Giê-su. Ngài không bỏ đi cái đã qua – như Ngài đã nói: „Không một dấu chấm, dấu phẩy nào biến mất“ -, nhưng đã đưa mọi sự vào chiều sâu thẳm của chúng.

 Đức Giê-su đặc biệt tỏ ra vui vẻ với trẻ con và với tín hữu bình dân. Ngài đã hân hoan, một chuyện ít khi thấy: „Con ngợi khen Cha là vua trời đất, vì Cha đã dấu không cho những người thông thái biết những điều đó, nhưng đã mạc khải ra cho những kẻ bé mọn“.

Vâng, đó là bí ẩn của việc làm Thiên Chúa: Những người đơn sơ thấy điều cao cả dễ dàng hơn những kẻ với đầu óc chất đầy kiến thức, chứa đầy khả năng phân tích, có thể nắm bắt những cái chi li, nhưng cái lớn lao thì chẳng còn khả năng nhận ra nữa.

Đó không phải là việc loại trừ người trý thứchay kẻ thông hiểu kinh sách, nhưng là lời cảnh báo không nên đánh mất sự đơn sơ tâm hồn, mà hãy nhìn vào cái tâm điểm nền tảng của tổng thể, hãy gồng mình chấp nhận cái không thể chờ đợi.

Rõ ràng chước cám dỗ trên thường thấy nơi người trí thức. Nếu nhìn lại lịch sử ý thứchệ trong thế kỷvừa qua, ta sẽ thấy người bình dân thường đã có những phán đoán đúng đắn hơn hạng trí thức. Hạng người sau cứ phân tích mãi, nhẫn nha bới tìm cây này bụi nọ - nhưng rừng trước mặt thì chẳng thấy.

 Đức Giê-su nói với môn đệ: „Anh chị em đã được ban cho khả năng nhận biết những bí ẩn của Nước Chúa. Những kẻ khác chỉ được nghe qua dụ ngôn mà thôi; bởi vì họ nhìn mà chẳng thấy, nghe mà chẳng hiểu. Đây là í nghiã của dụ ngôn: Lời Chúa là hạt giống“. Hẳn ngôn ngữ của Tin Mừng có cái gì đặc biệt. Mọi người trên trái đất, bất luận thuộc văn hoá hay thời đại nào, đều có thể hiểu Tin Mừng.

Câu anh vừa nêu bắt nguồn từ tiên tri I-sai-a.  Đức Giê-su đưa ra lời đe doạ phán xét đó trước cuộc sống bất kham của dân Is-ra-en. Với câu đó, Ngài muốn nói rằng, tất cả các ngươi đều được nghe chân lí đấy, nhưng rốt cuộc chân lí chỉ được Chúa mạc khải ra, để các ngươi không hiểu được nó.

MỘT CÂU ĐẦY BÍ HIỂM ?

 Đức Giê-su nói, những gì đã được ban cho hiểu nơi các ngươi cuối cùng đã trở thành chai cứng và không còn hiểu được. Các ngươi có thể an thân ẩn nấp sau những hàng chữ bề mặt – và bám lại ở đó, thành ra chẳng muốn hiểu gì nữa. Như thế, lời Chúa có thể nói trở thành lời phán xét, vì người ta cứ bám vào vỏ chữ, chẳng còn muốn hiểu vào chiều sâu của chúng.

Dụ ngôn có mục đích đưa con người tới gần những cái không thể hiểu. Về mặt sư phạm, dụ ngôn quả là một phương pháp tuyệt diệu. Những bí ẩn cao xa, muôn đời được kể ra trong những câu chuyện thường nhật, nhờ đó bí ẩn Thiên Chúa bỗng sáng ra, dễ hiểu ra. Và qua những điều tầm thường, qua hạt giống, mùa gặt, qua những câu chuyện như chuyện La-da-rô hay người Sa-ma-ri-ta, cái cao cả lớn lao lại hiện ra.

Thiên Chúa đến với con người qua Đức Ki-tô. Ngài dùng ngôn ngữ loài người để nói với họ, trình bày ngôn ngữ đó bằng những kinh nghiệm, hiểu biết, cơ cấu sinh hoạt hàng ngày của họ, để nhờ cái gần gũi và thường nhật đó mở ra cho họ thấy được cái cơ bản. Trong ý nghĩa đó, lời Chúa quả thật mang tính vượt thời gian và toả trùm mọi văn hoá, vì nó nối liền với những sinh hoạt uyên nguyên của con người.

Nhưng rõ ràng lời Chúa còn mang thêm một cấp độ, một mật mã khác. Ngài đã có lần nói, muốn hiểu lời Chúa thì buộc „phải cùng sống với Đức Ki-tô. Những ai chỉ muốn hiểu lời đó bằng trí óc, qua lịch sử hay bằng phỏng đoán, thì không thể nào hiểu nổi“.

Nếu tôi đọc Kinh Thánh một cách hời hợt và không quan tâm tới tính siêu việt của nó nằm nơi những diễn biến đơn giản, thì tôi lạc đường, không đi vào được nội dung của dụ ngôn.

Mỗi dụ ngôn dẫn tôi bước vào một con đường. Thoạt tiên tôi thấy những gì ai cũng thấy, những gì tôi đã biết. Và rồi tôi biết là không phải chỉ có thế. Như vậy, tôi phải học nhìn vượt qua những cảm nhận thường nhật. Nếu như tôi, trái lại, cứ bám vào bề mặt và không nhìn xuyên qua được cái thường ngày, thì tôi sẽ chẳng nhìn ra được sự thật nằm sâu trong câu chuyện, và nhất là dụ ngôn bao giờ cũng gắn liền với chính cuộc sống của  Đức Giê-su. Một số dụ ngôn trở thành một thứ chìa khoá để hiểu tiểu sử tự thuật của  Đức Giê-su, và tiểu sử đó lại chỉ biểu hiện qua chính cuộc sống và khổ nạn của Ngài.

PHÉP LẠ HOÁ BÁNH

Một câu chuyện trong Tin Mừng thường hay được kể, chẳng có gì vòng vo mà cũng chẳng có gì khó hiểu: Phép lạ hoá bánh.Chuyện xẩy ra một nơi hẻo lánh nào đó ở Ga-li-lê-a. Nhiều người quây quần quanh  Đức Giê-su. Có lẽ họ say mê nghe Ngài giảng. Bỗng dưng trời đổ chiều, mà chẳng ai  để ý. Các môn đệ yêu cầu Ngài bảo dân ai nấy trở về làng mình, bởi vì ở đây chẳng có của ăn cho họ và cũng chẳng có chợ búa nào gần cả.  Đức Giê-su điềm nhiên trả lời: “Cho họ ăn”.Chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá, nghĩa là có sẵn bảy đơn vị. Sách viết: “và Ngài cầm năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, nói lời ngợi khen, rồi bẻ bánh trao cho các môn đồ. Nhờ đó mọi người được no nê, năm ngàn người đàn ông và một số đàn bà và con trẻ. Khi nhặt những mảnh bánh dư, người ta còn chất đầy đúng 12 giỏ”.

Câu chuyện có hai chiều kích, vừa sự kiện vừa ý nghĩa biểu trưng. Người ta chờ đợi thời của đấng Messias, chờ đợi phép lạ Manna tái xuất hiện. Người ta tin rằng, đấng Cứu thế sẽ cho họ ăn, và bánh sẽ chính từ trời rơi xuống.

 Đức Giê-su giờ đây có í muốn chuyển phép lạ Manna lên một chiều kích khác. Đó là Thánh Thể. Với bánh của chính thân xác Ngài, và bánh đó sẽ tiếp tục hoá ra thêm mãi suốt dòng lịch sử cho tới ngày nay. Bánh đó có thể được phân chia mãi, không bao giờ hết.

Qua phép lạ Manna mới đó,  Đức Giê-su muốn diễn lại cảnh Manna cũ, đồng thời có í dẫn tới một cái gì hoàn toàn khác, có thể nói khiêm tốn và đòi hỏi hơn. Về chiều sâu, đây mới là phép lạ lớn hơn nhiều. Cái lớn đó cũng nằm nơi việc không phải là bánh từ trời rơi xuống, nhưng là việc con người cùng chia sẻ cho nhau.Phép lạ đó mở ra một viễn tượng nhiều ý nghĩa cho cuộc sống con người và tương lai Giáo Hội. Câu chuyện đó đồng thời cũng gây phân rẽ nơi con người. Một số người coi Ngài đúng là vị Messias, muốn đẩy Ngài lên ngai vua và ép Ngài vào con đường chính trị. Và vì Ngài từ chối làm chuyện đó nên giờ đây lại có dư luận bảo Ngài chẳng phải là Messias. Từ giây phút đó có sự phân rẽ đôi đường: kẻ thì chống, người thì đi theo Ngài vào khổ nạn.

Câu chuyện có thật hay chỉ là một biểu tượng?

Ngày nay, nhiều nhà chú giải tin vào định luật thiên nhiên, cho rằng chuyện đó không thể xẩy ra, và bảo đó chỉ là biểu tượng. Thực tế thì câu chuyện có một nội dung biểu trưng rất lớn. Nhưng chúng ta cũng đừng vội hạn chế khả năng vô lường của Chúa. Trong Giáo Hội cũng đã có những chuyện tương tự.

Vừa rồi tôi tới Turin, và một linh mục dòng già kể cho tôi nghe về hai sự kiện lạ lùng đã xẩy ra trong đời thánh Don Bosco. Một lần vì sơ suất người ta đã không làm phép đủ bánh thánh. Khi cho rước lễ, chỉ còn cỡ mười tới hai mươi bánh thánh cho một khối vô cùng đông người trẻ. Don Bosco chẳng nao núng gì, ngài bảo “Cứ an tâm phân phát, có đủ cho mọi người”. Và ai cũng nhận được Mình Thánh.

Lần khác, sau một ngày làm việc mệt nhọc, ngài hứa cho đám trẻ con ăn hạt dẻ khô. Ngài bảo mẹ chuẩn bị dẻ dùm. Nhưng bà mẹ hiểu sai, chỉ rang đủ dẻ cho độ một chục đứa trẻ mà thôi. Khi nhận ra lầm lẫn của mỉnh, bà mẹ hốt hoảng. Nhưng ngài bảo: “Mẹ đừng lo, cứ phân phát cho chúng, không những đủ mà còn có dư để chúng mang về nữa”. Và quả thật như vậy. Có rất nhiều người đã chứng kiến những chuyện đó.

Vì thế, ta không nên cản ngăn Chúa làm những việc mà thường ra không thể xẩy ra nổi.

 

ĐỨC GIÊSU và CÁC PHỤ NỮ

 Đức Giê-su thường phá bỏ các rào cản quy ước. Ngài minh nhiên đi tới với những người tội lỗi và người nghèo khó. Và Ngài có một liên hệ đặc biệt với các phụ nữ. Chuyên viên Kinh Thánh người Do-thái, ông Schalom Ben-Chorin, cho rằng  Đức Giê-su „không phải là người chay tịnh, nhưng Ngài là người ham vui sống“. Phụ nữ luôn nhìn Ngài với một ánh mắt lạ lùng. Có thể nghĩ được rằng Ngài cũng là một người có quan hệ tình dục với phụ nữ?

Không có chuyện tình dục trong quan hệ bạn bè của Ngài. Con người  Đức Giê-su thuộc vào một cấp độ khác. Nhưng, như chúng ta thấy qua các trình thuật Tin Mừng về những liên hệ của Ngài, Ngài vẫn có khả năng làm bạn và yêu thật sự. Đúng, chính các bà là những người bén nhạy đã cảm ra được cái mới, cái khác, cái lớn lao, cái bí ẩn trong con người Ngài, và Ngài đặc biệt đã kéo các bà vào trong cộng đoàn của mình. Trái với thói quen đương thời nơi người Do-thái, coi phụ nữ là hạng thấp kém,  Đức Giê-su có thể nói đã tạo nên một cái gì như là giải phóng phụ nữ. Do địa vị xã hội, phụ nữ một cách nào đó thuộc vào loại những người bé nhỏ, mà Chúa muốn hướng về họ và yêu thương họ một cách đặc biệt. Làm như thế là Ngài cũng đã khơi dậy đoàn sủng của phụ nữ. Trong quan hệ với Ngài, ta thấy đặc biệt có hai người ở Bê-ta-ni-a. Hai khuôn mặt này cho ta thấy vai trò quan trọng và sống động của nữ giới trong việc xây dựng Giáo Hội.

Đó là hai chị đã trung thành theo Ngài mãi tới chân thập giá. Trong khi đó thì các ông đã chạy hết.  Đức Giê-su đã trừ bảy tà thần ra khỏi Maria Ma-đa-lê-na. Không phải Phê-rô hay Gio-an, mà chính chị là người đầu tiên được thông báo biến cố phục sinh của Ngài. Đây quả là một chuyện lạ, nếu như người ta biết rằng các chứng cứ của phụ nữ ở đông phương chẳng có giá trị gì. Vì thế, thánh An-tịnh đã gọi Maria Ma-đa-lê-na là tông đồ của các tông đồ.

Và danh-hiệu đó, thật vậy, vẫn giữ nguyên. Cho tới năm 1962 lời nguyện tông đồ vẫn được đọc trong ngày lễ kính của ngài, vì ngài là một „nữ tông đồ“. Việc Maria Ma-đa-lê-na là người đầu tiên mang tin vui phục sinh cho các tông đồ, một lần nữa, nói lên thịnh tình và mối liên hệ đặc biệt của Ngài đối với chị. Điều này ta cũng thấy được qua lời đối thoại của Ngài với chị, trong đó Ngài gọi chị là „Mariam“, chỉ vì chị đã không nhận ra Ngài. Lúc đó chị liền nhận ra và lại phủ phục dưới chân Ngài: „Rabbuni, thưa Thầy“. Trong lối xưng hô đó, ta thấy vừa có kính trọng, vừa giữ khoảng cách trước vẻ lớn lao của Ngài, mà cũng vừa nói lên yêu thương tha thiết đối với một người là Chúa và với một Chúa đã hoàn toàn trở nên người.

Tôi sẽ trở lại với địa vị phụ nữ trong Giáo Hội sau. Ở đây xin hỏi nhanh một câu: Có chuyện kể nào về  Đức Giê-su hay một câu chuyện nào trong Kinh Thánh có thể trong tương lai sẽ phải bị loại bỏ, vì những khám phá mới, chẳng hạn như trong các nghiên cứu về nguồn tài liệu Qumran, cho thấy chúng hết đáng tin không?

Tôi không thấy khám phá nào cả. Có thể có những tiểu tiết làm mình phải hiểu kinh sách khác đi đôi chút. Nhưng những điều ghi chép trong Tin Mừng đều được viết ngay trong thời đó, nên không thể bị đảo lộn bởi các khám phá mới ngày nay được. Lời chứng Tin Mừng về  Đức Giê-su sẽ không đổi và vẫn giữ nguyên giá trị của nó.

GẶP GỠ

Thưa Hồng Y, có lần ngài nói, tin vào  Đức Giê-su Ki-tô cũng giúp con người mở mắt ra với thế giới. Đức tin đó chỉ cho họ thấy mọi chuyện được kiến tạo như thế nào, mọi sự liên quan với nhau ra sao. Ta có thể nhờ đức tin đó để sống tốt đẹp hơn không?

Những chặng đường sống quan trọng của ta hẳn không nằm trong tay ta. Ta không xác định được việc sinh việc tử của mình. Nhưng trách nhiệm của ta là phải tìm hiểu xem ta là ai, đâu là ơn gọi của mình, con đường nào mình sẽ đi. Đức tin Ki-tô giáo có thực sự giúp cá nhân có được những bước vươn lên không?

Đức tin hẳn không thay thế được nhận thức của mỗi người. Nó cũng không thay thế được việc học hỏi với và qua người khác suốt dọc dài lịch sử. Chúa không lấy đi nỗ lực của ta. Đức tin không phải là thứ thần dược hoá phép. Nhưng nó cho ta chìa khoá để ta có thể tự học. Để ta tự tìm hiểu mình và tự hỏi mình là ai.

Một cách tổng quát, con người luôn chỉ nhận ra mình nhờ người khác và qua kẻ khác. Chẳng ai nhìn ra mình, nếu họ chỉ trông vào mình, chỉ tự tìm cách đào lỗ thoát cho mình, tự vẽ hoạ đồ cho mình. Con người được sinh ra để thiết lập tương giao, để đi tới với người khác. Qua gặp gỡ kẻ khác, họ tìm ra ý nghĩa và trách nhiệm cuộc sống, thấy ra yêu sách và khả thể của cuộc sống.

Từ cấu trúc nền tảng của cuộc sống đó, ta mới hiểu được đức tin và cuộc gặp gỡ với  Đức Giê-su. Đức tin không đơn giản là một hệ thống kiến thức và thông tin, nhưng tâm điểm của nó trước hết là gặp Đức Ki-tô. Có gặp Ngài, mới hiểu được lời Ngài. Câu nói của tôi trên kia cũng chỉ muốn nói lên rằng, trong muôn vàn cuộc gặp mà ta cần, cuộc gặp Đức Ki-tô là đích thực và quyết định nhất. Mọi cuộc gặp gỡ khác không nói cho ta hay ta từ đâu tới và sẽ đi về đâu. Gặp Ngài, ta gặp được ánh sáng để có thể hiểu ra Thiên Chúa, con người, thế giới, sứ mạng và ý nghĩa cuộc sống – và hiểu ra được dây mơ rễ má của mọi gặp gỡ khác.

HOANG ĐỊA

Lời dạy của  Đức Giê-su Ki-tô được các tông đồ gọi là “đường mới”. Con đường mới này khởi đầu từ lúc  Đức Giê-su nhận phép rửa nơi hoang địa. Đó có thể nói là trạm cuối cùng trước khi Ngài bước ra công khai để tiến về khổ nạn. 40 ngày trong hoang địa – đây cũng lại là một biểu tượng?

Con số 40 thật ra là một biểu tượng quan trọng. Cả tiên tri Ê-li-a, chẳng hạn, cũng cần 40 ngày để tới núi thánh. Quãng thời gian đó luôn được dùng để nói về thời gian học hỏi, chuẩn bị, trưởng thành. Thời gian sa mạc là nguyên ảnh của Is-ra-en, qua đó dân này nhận ra được luật lệ và í muốn của Thiên Chúa, để nhờ đó chuẩn bị trở thành dân cưu mang những lời hứa của Ngài.

Với 40 ngày hoang địa,  Đức Giê-su một lần nữa nhắc lại 40 năm sa mạc của Is-ra-en. Có thể nói một lần nữa Ngài đi qua toàn bộ con đường lịch sử, để cũng nói cho ta hay, nếu ta không có thời gian để từ bỏ, để yên lặng, để bước ra và để gom góp sứ mạng lớn, thì ta không thể trưởng thành được. Ngài dùng nơi hoang địa thanh vắng để ăn chay và cầu nguyện. Một mặt, hình ảnh biểu tượng đó nói lên cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa, mặt khác, nó cũng nói lên nỗi hiểm nguy của trần thế. Đó là nơi không có sự sống, không có thức ăn, nơi cô đơn. Như thế, Ngài cũng bước qua toàn bộ sa mạc của nguy nan, của thất bại, của từ bỏ, sa mạc của đói khát. Ngài đồng thời mặc lấy những cám dỗ của nhân loại, khổ đau với họ, để từ đó đưa ra những lời, những sứ điệp cao cả.

Sau 40 ngày ăn chay Ngài bị quỷ cám dỗ. Thoạt tiên, Sa-tan muốn Ngài biến đá thành bánh mì. Tay Sa-tan này quả ngớ ngẩn!

Câu chuyện này nói lên những chương trình đối lập, những chước cám dỗ mà đấng cứu thế Giê-su phải trải qua trong ba năm rao giảng, và những cám dỗ liên tục trong lịch sử Giáo Hội. Một chỗ khác  Đức Giê-su cũng đã nói: “Anh em đã đứng vững với thầy trong các cám dỗ của thầy”. Và Ngài nói với Phê-rô: “Này đây anh Sa-tan, hãy trao những cám dỗ đó cho thầy”. Cả đám đông năm ngàn người no nê cũng tạo cám dỗ cho Ngài, họ muốn tâng Ngài lên làm vua, nghĩa là làm ông chủ cung cấp thức ăn của uống cho họ. Đó là những thứ mà chúng ta sẽ luôn gặp dưới nhiều hình thức và luôn phải thắng vượt trên con đường theo Chúa và cả trong Giáo Hội.

Ngài muốn nói gì với điều đó?

Tôi muốn nói, chẳng hạn như nhu cầu phải cải tạo trật tự xã hội thế giới và tạo lập một nhà nước lý tưởng. Giáo Hội rất cần phải chung tay vào việc cải tạo xã hội, nhưng việc cứu độ con người đích thật phải đến từ trong, chứ không phải từ cơ cấu bên ngoài. Và cho dù trong mọi thời Giáo Hội phải quan tâm tới nỗi đói khát của con người, và phải tìm mọi cách để có những bàn tay tăng gia của ăn cho họ, Giáo Hội vẫn luôn phải nhớ rằng, mình không phải là một tổ chức xã hội, chỉ biết quan tâm tới vật chất, coi đó là việc giải thoát con người đích thực. Không. Giáo Hội không được quên rằng, con người không chỉ sống bằng bánh, mà còn bằng lời Chúa nữa.

Hai cám dỗ khác cũng thế. Quỷ thách thức, bảo  Đức Giê-su nhảy từ nóc đền thờ xuống, để xem Ngài có phải là Chúa thật không. Và cuối cùng là chước cám dỗ ghê gớm về quyền lực, làm chủ cả thiên hạ: “Hãy cầu tôi, tôi sẽ cho làm chủ thế giới”. Điều này muốn nói, việc cai trị thế giới qua quyền lực, dù là với mục đích thật lý tưởng, mà không tìm Chúa, thì việc cai trị kia sẽ làm hư con người.

Đã có nhiều cuộc thí nghiệm trong lịch sử, trong đó con người chối từ Chúa, và tìm cách tự mình và bằng qua những cơ cấu quyền lực tạo ra cho mình những thứ họ cần. Tất cả những thí nghiệm đó đưa tới đâu, đã rõ. Chúng luôn là tấm gương cho Giáo Hội và cho mỗi người: Ở đâu con người chối Chúa, ở đâu ta muốn tự mình thiết lập thế giới mà chẳng cần Chúa, ở đâu ta cho rằng thoả mãn nhu cầu vật chất mới là lối giải quyết đích thực, ở đó ta chẳng giải quyết được gì hết, mà trái lại ta phá hoại, ta thực hiện công trình của Sa-tan.

Sau kinh nghiệm ở hoang địa, các môn đệ đầu tiên tới với  Đức Giê-su. Họ hỏi Ngài: “Thưa Thầy, Thầy ở đâu?” Và Ngài trả lời thật ngắn gọn: “Tới mà xem”.

Vâng, cùng thử làm với nhau là điều cần thiết.  Đức Giê-su không ở một nơi cố định. Ngài ở trên đường, ở trong những bước đi trước. Chỉ khi ta theo Ngài, cùng Ngài lên đường, lúc đó ta mới học biết Ngài ở đâu. Và rồi ta cũng sẽ thấy Ngài. Nếu chỉ muốn hiểu Ngài và lời Ngài qua lí thuyết và suy luận, ta sẽ chẳng biết được Ngài.

Những môn đồ đầu tiên, mà  Đức Giê-su muốn biến họ thành “ngư phủ câu người”, là An-rê và Gio-an, sau đó tới Phê-rô, em An-rê. Điều lạ, quây quần quanh Ngài không phải những kẻ học thức, mà là những người ngay thẳng, đơn sơ. Họ không phải là những người đặc biệt khôn ngoan, không đặc biệt can đảm và tỉnh táo, và nếu không có hỗ trợ của Thánh Thần họ cũng chẳng biết giảng ra sao. Họ luôn vấp ngã bởi hồ nghi và không tin. Phải chăng  Đức Giê-su không biết chọn người?

Tất nhiên, đó không phải là những hạng người tự sức và trí mình mà đã có thể châm ngòi được một cuộc truyền giáo thế giới như thế. Nếu họ, như thánh Chrysostomos* nói, đã “thẩy được hạt xúc xắc lớn xuống”, thì đó là nhờ một nguồn lực nào khác. Vì thế, đối với tôi, xem ra việc chọn những người tầm thường, không phải những nhà chính trị hay trí thức, mang nhiều ý nghĩa. Rõ ràng, không phải tự sức họ. Họ được một đấng lớn hơn chạm tới, nâng đi và vạch đường chỉ lối.

Tuy nhiên, trong xã hội nhiều giai tầng thời đó, ta cũng có thể có được một cách xếp loại nào đó về các tông đồ. Một số trong họ là những tay chống Rô-ma cực đoan, như Si-mon thuộc phái Ze-lot chẳng hạn. Zelot là đảng muốn dùng bạo lực để giải phóng đất nước. Cả Giu-đa Is-ka-ri-ot cũng thuộc vào một đảng cùng khuynh hướng, tên gọi của ông nói lên điều đó. Đó là những người, nói theo ngôn ngữ ngày nay, thuộc phía cực tả. Họ sẵn sàng võ trang đấu tranh và họ cũng mong  Đức Giê-su làm theo họ. Mặt khác, ta có Lê-vi, cán bộ thâu thuế, dân nhà giàu, là kẻ đi với quyền lực, hợp tác với thực dân.

Nghĩa là có đồng cân lực lượng.

Có thể nói, khi triệu tập vòng tông đồ,  Đức Giê-su đã làm một cuộc hoà hợp. Mọi người từ mọi phía, từ mọi quan điểm có thể tới với Ngài hoặc bỏ Ngài. Như thế, trong nhóm môn đệ đó hẳn có thể có nhiều xung khắc.

Mặt khác, như anh nói, các tông đồ là những người đứng tuổi. Phê-rô có một hợp tác xã lưới cá, ông là một doanh nhân nhỏ. Đó là những người đứng trong thực tế cuộc sống, họ có cảm quan về cái thực tại, nhưng không ngụp lặn trong chủ nghĩa thực dụng. Họ có một ước vọng cao hơn. Họ không rơi vào một thứ mê hoặc nào đó, nhưng đã hết sức phục vụ ơn gọi của mình. Họ là tấm gương để ta hiểu rằng, Chúa dùng người tầm thường để làm những việc mà chỉ có Ngài mới làm được mà thôi, và cũng để ta hiểu rằng, có sự lớn lao trong những con người tầm thường.

Khác hẳn với các tông đồ theo Chúa xưa, con người ngày nay nghĩ rằng, họ có thể hoàn toàn tự mình vạch ra lối đi, đường sống cho mình. Họ cho rằng, chẳng có một bản sắc rõ rệt nào nữa cả. Cuộc sống là một chuỗi đổi thay ảo tưởng liên tục, tuỳ vào công việc đang có, tuỳ vào hoàn cảnh trước mắt - hoặc vào sở thích mỗi người. Họ bảo, trong thế giới tân tiến ngày nay chẳng còn sự lựa chọn : hoặc cái này hoặc cái kia, mà thay vào đó, ta có một khả năng lựa chọn mới: chẳng cái này mà cũng chẳng cái kia.

Ngày nay, uyển chuyển đã trở thành một từ quan trọng nền tảng. Chúng ta muốn có thể thích ứng được với các thách đố mới, và hi vọng nhờ việc thay đổi nghề nghiệp liên tục cũng sẽ leo thang xã hội một cách thật dễ, thật nhanh. Nhưng tôi nghĩ, trước sau vẫn có những nghề đòi hỏi con người rất nhiều. Chẳng hạn nghề thầy thuốc hay nghề giáo dục, đó không phải là những nghề giai đoạn, mà là ơn gọi, chúng đòi hỏi suốt cả cuộc đời mình. Nghĩa là, ngày nay cũng có những công việc không phải là việc làm phụ trội để kiếm thêm tiền sống. Tiêu chuẩn quyết định trong các ơn gọi thật sự cũng không phải là thu nhập, nhưng là thi hành một công tác phục vụ trong nhân loại.

 Đức Giê-su có thể sẽ nói thế nào về điểm này?

Ngài sẽ chẳng cấm ai muốn uyển chuyển thích ứng với các thách đố. Chính các tông đồ của Ngài cũng đã phải uyển chuyển bước ra khỏi cuộc đời chài lưới để cùng đi vào một con đường vô định và đầy bí ẩn – và cuối cùng đã thoát ra khỏi đạo Do-thái mà mình đã trầm mình trong đó, để dám bước ra rao truyền cho dân ngoại.

Đồng thời các ngài đã phải bền đỗ và trung thành trong sự chọn lựa nền tảng của mình. Vì vậy, ta không nên đặt uyển chuyển đối lập với trung thành. Ngay trung thành cũng phải chứng tỏ được sự bền đỗ của nó trong những hoàn cảnh đổi thay. Một người, sau năm mươi năm làm linh mục hay sống cuộc đời hôn nhân, hẳn phải trải qua một cuộc đời đầy biến đổi. Người đó phải trưởng thành trong mọi biến đổi và đưa bản sắc mình tới hoàn thiện.

Tiếc thay, trong hoàn cảnh tân tiến ngày nay, thường chỉ còn thay đổi vì thay đổi, uyển chuyển vì uyển chuyển mà thôi. Tôi chống lại quan điểm này. Chính hôm nay là lúc ta cần trung thành với một sứ mạng, với một nghề; chính hôm nay là lúc ta cần những người quên mình hoàn toàn. Ta hãy quay trở lại chuyện viện trợ phát triển. Cần có những người sẵn sàng bỏ ra hai, ba năm đi giúp kẻ khác, nhưng ta cũng cần có thật nhiều người biết quên mình. Có những ơn gọi đòi hỏi toàn thân con người.

Những mẫu sống mà tôi nói tới này không phải là chỉ dấu của sự thiếu sáng tạo hay đông cứng. Chính sự bền vững đó làm cho tâm hồn con người lớn rộng ra và trưởng thành lên, khiến cho đổi thay và liên tục tháp nhập vào nhau. Cái lớn đích thực nằm trong sự hoà quyện với nhau đó.

Về những mẫu sống ngài đã đề cập: Nhiều người nghĩ rằng đời họ như là một cuốn phim, tự họ có thể cắt xén, đạo diễn từng cảnh, từng đoạn. Thâm tâm họ tự bảo: Tại sao tôi lại phải đi vòng vòng, phải nỗ lực trong cuộc sống, phải tìm kiếm, phải tự hạn chế hay phải chịu đựng? Nghĩa là tại sao họ lại phải đi theo con đường khó khăn của các tông đồ đã đi với  Đức Giê-su xưa. Một cuộc sống thật đơn giản dễ dãi có phải hơn không?

Chỉ có những ai lớn lên trong bàn tiệc cuộc đời dư đầy mới có được một cuộc sống dễ dãi như thế. Đó là một tưởng tượng của những kẻ có của, những kẻ không hiểu rằng, đối với đa số con người, cuộc sống là cả một nỗi thử thách cam go. Vì thế, tôi coi việc tự biên tự diễn trên là ích kỉ và nó làm hao mòn đi các ơn gọi.

Ai bảo rằng, mình đã có đủ mọi thứ, vì vậy họ chỉ việc lấy những thứ đã có ra để tự thiết kế cho đời mình, kẻ đó sẽ không cho được cái họ có thể cho. Con người sinh ra, không chỉ để tự thiết kế nên mình, mà còn phải chấp nhận thử thách trong cuộc sống. Chúng ta tất cả nói chung cùng đứng trong một lịch sử và phải cần đến nhau. Vì thế, con người không nên chỉ nghĩ mình muốn gì, nhưng nhất thiết hơn, nên tự hỏi : mình tốt cho ai, mình có thể giúp ích được gì. Có như thế, họ mới thấy dễ dãi, thoải mái và buông thả không phải là những phương cách làm thoả mãn đời mình, nhưng sự thoả mãn nằm nơi việc sẵn sàng chịu thử thách, nằm nơi con đường hẹp. Mọi thứ còn lại, một cách nào đó, đều là buồn chán. Chỉ ai “bị trui trong lửa”, chỉ ai nhận ra được tiếng gọi, ơn gọi, một lý tưởng cần đáp ứng nơi mình, chỉ ai chấp nhận một sứ mạng cho toàn thể, kẻ đó mới có cuộc sống tràn đầy. Như đã nói, chúng ta trở nên giàu có, khi biết cho đi, chứ không phải khi nhận vào hoặc khi bước đi trên con đường rộng.

QUYỀN VÀ CỦA

 Đức Giê-su có nói về “Cai trị và phục vụ”. Ngài nói: “Anh chị em biết, nhà cai trị đàn áp dân mình và kẻ quyền lực lạm dụng quyền mình đối với người khác. Anh chị em không nên làm như thế, nhưng ai trong anh chị em muốn làm người lớn, thì hãy làm kẻ phục vụ, và ai trong anh chị em muốn làm kẻ cao nhất, thì hãy trở nên nô lệ cho anh chị em mình. Bởi vì Con Người cũng không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và để hiến đời mình làm giá chuộc cho nhiều người”. Phục vụ và vâng lời là hai đặc điểm cơ bản trong lời dạy của Đức Ki-tô và trong đời sống Giáo Hội. Các ý niệmđó ngày nay chẳng còn phổ thông lắm. Có cái gì ẩn chứa đàng sau các ý niệmđó không?

Quả thật Tin Mừng đưa ra một chương trình đối lập với mốt sống tân tiến hiện tại. Nó đề ra một thứ lạc hậu lành mạnh, nhằm kéo chúng ta ra khỏi khuynh hướng cai trị và muốn chiếm đoạt. Và chính ai không thuộc vào hàng ngũ những kẻ quyền lực, người đó là kẻ may mắn, khi nhận ra được rằng, chính kẻ quyền lực sẽ không được phục vụ nơi bàn tiệc cuộc đời. Họ là kẻ may mắn, khi nhận thức được rằng, quyền và của mà mình nhận được là một sứ mạng, để qua đó mình trở nên kẻ phục vụ.

Tôi tin rằng, câu người cai trị nên trở thành kẻ phục vụ, và việc chính  Đức Giê-su đã thực thi điều đó qua hành động của Ngài, là một cuộc cách mạng đúng nghĩa có khả năng làm đổi thay thế giới. Bao lâu người ta coi quyền và của tự chúng là cùng đích giá trị, thì quyền luôn cũng là quyền chống lại người khác, và của luôn cũng là của chỉ riêng mình.

Chính khi vị Vua vũ trụ tới và làm công việc của kẻ nô lệ là rửa chân cho kẻ khác – đây chỉ là một trong muôn vàn thí dụ của cả cuộc đời phục vụ của Ngài – lúc đó chúng ta có một hình ảnh hoàn toàn khác. Thiên Chúa đầy quyền lực đã không dẫm đạp ta, mà trái lại cúi xuống để nâng ta lên ngang tầm với Ngài. Thiên Chúa có thể trở nên bé nhỏ, đó là tất cả bí ẩn trong cái cao cả của Ngài. Ngài không bước xuống từ bệ cao, và cũng không an ngự nơi tầng trên. Với cử chỉ hạ mình đó, Ngài muốn thay đổi ý nghĩvề quyền lực và về cai trị nơi ta. Ngài chỉ ra, khi ta có thể sai khiến đám đông và có được mọi thứ mình muốn, lúc đó ta đang rơi vào nhỏ mọn – còn khi ta phục vụ kẻ khác, đó là lúc ta trở nên cao cả.

Một khiêu khích quái gỡ.

Chấp nhận điều đó là cả một cuộc cách mạng. Cách mạng này chẳng bao giờ đơn giản chỉ bằng hành động mà thôi, mà nó luôn đòi hỏi một cuộc trở về nội tâm – nhưng đây là cuộc trở về lành mạnh và quan trọng nhất trong mọi cuộc trở về. Chỉ khi nào quyền lực được thay đổi từ trong, chỉ khi nào ta thay đổi từ trong thái độ của ta đối với của cải, và khi ta chấp nhận lối sống suốt đời rửa chân của  Đức Giê-su, thì lúc đó thế giới mới trở nên lành mạnh, và con người mới có thể sống hạnh phúc bên nhau.

Một tuyên ngôn.

 Đức Giê-su là khuôn hình mà con người cần đi theo, là đích điểm mà chúng ta phải đạt tới.

38 năm sau khi Goethe mất, diễn ra một cuộc họp lớn giữa các cụ già trong lòng đại thánh đường thánh Phê-rô ở Rô-ma, và họ đã đi tới một quyết định – quyết định tán đồng với Mephisto [nhân vật trong ở FAUST của Goethe]. Công đồng Vaticano I tuyên bố vào ngày 24.04. 1870: “Mẹ Giáo Hội thánh này xác quyết và dạy rằng, Thiên Chúa, nguồn cội và mục tiêu của mọi sự, có thể nhận biết được bằng ánh sáng tự nhiên của lí trí được tạo thành của con người.”

Một quyết định đầy bí ẩn. Phải chăng Công đồng đã đề cao lí trí quá đáng? Phía Tin lành phản đối ngay. Họ bảo, chỉ có mạc khải, lời Chúa, Kinh Thánh và đức tin – chứ không phải chút ánh sáng leo lét của lí trí con người – mới là đường dẫn tới Thiên Chúa. Karl Barth, có lẽ là nhà thần học tin lành lớn nhất trong thế kỷ 20, về sau cho hay, chỉ vì hậu quả của tuyên bố đó mà ông không thể nào trở thành công giáo được. Nhưng Công đồng vẫn khẳng định: “Ai bảo rằng, ánh sáng tự nhiên của lí trí được tạo dựng của con người không thể nhận biết được Thiên Chúa độc nhất và chân thật, Người là hoá công và Chúa của chúng ta, kẻ đó sẽ mang lấy vạ tuyệt thông.”

Trích từ: Thiên Chúa. một chút lịch sử Đấng vĩ đại nhất (Câu trả lời Kitô giáo cho vô thần). Tác giả : Manfred Lütz. Dịch giả: Phạm Hồng Lam

 

4. SỰ THẬT

Là trưởng Bộ giáo lýđức tin, ngài là người cao nhất trong Giáo Hội có nhiệm vụ bảo vệ chân lí đức tin. Người ta có luôn biết chắc được cái này là chân lí hoặc cái kia là phản chân lí không ?

Mỗi cá nhân luôn biết mình có thể sai lầm. Nhưng không thể có cảnh ki-tô hữu có đức tin lại phải lần mò trong bóng tối, chẳng biết mình thật sự tin gì. Nếu thế, thì rồi dần dà sẽ chẳng còn ai biết mình tin gì nữa, và mỗi người cứ tự do đi tìm cái mình muốn. Nếu ta chẳng còn cái gì chung và chẳng còn một bản sắc khả giác nào nữa, nếu đức tin mất hết sắc cạnh, thì Ki-tô giáo trên thực tế chẳng còn gì nữa để mà biện minh. Và lúc đó mình phải chấp nhận sập tiệm, và chẳng còn biết mình muốn gì nữa.

Là người công giáo, ta có thể nói rằng – những người khác cũng có thể nói theo cách của họ - ngay từ đầu, các tông đồ đã truyền cho ta một bản sắc đức tin, và nội dung đó đã được viết ra. Trong chương 6 thư gởi giáo đoàn Rô-ma thánh Phao-lô đã nói : « Qua phép rửa, anh chị em đã được đưa vào một loại giáo lý». Nói cách khác : Ngay thánh Phao-lô đã nhìn ra [qua nghi thức phép rửa] nội dung bản sắc đức tin Ki-tô giáo, trong đó tóm gọn những gì ta nhận được từ Đức Ki-tô - và cả từ toàn bộ Kinh Thánh Cựu Ước. Những công thức đức tin này, theo Phao-lô, làm nền và định nghĩa cho phép rửa; từ những lời Kinh Thánh, chúng đã rất sớm biến thành chính lời tuyên xưng đức tin, và sau đó trở thành qui điều đức tin, những điểm này đều thực sự bắt nguồn từ các tông đồ

Đó là bản sắc đức tin của ta ?

Đúng. Dĩ nhiên từ thế kỷnày qua thế kỷkhác, đức tin đó đã dần được phát triển và làm cho chính xác thêm, nhưng không phải vì vậy mà nó thành ra vô định. Vì thế, phải chống lại các tư tưởng cào bằng, phải chống lại các quan điểm cho rằng đức tin không cụ thể. Đức tin có nội dung. Và vì nội dung này có thể diễn tả được, nên nó cũng có những ranh giới. Ta có thể biết, bắt đầu từ lúc nào thì một người nào đó rõ ràng hết còn là ki-tô hữu. Và khi một người không còn và không thể là ki-tô hữu nữa, người đó nên có can đảm tuyên bố : Tôi không thể sống với bản sắc đó nữa, không thể nhìn nhận đó là chân lí nữa, và tôi xin thôi. Còn thứ sương mờ, trong đó mọi thứ bị thoái hoá thành mớ thói quen nhập nhằng, thì chẳng có lợi cho ai cả.

Phương châm giám mục của ngài là « Thợ của chân lí ». Vì đâu ngài chọn câu này ?

Tôi là một người mê đọc Kinh Thánh, và không hiểu sao ngay từ đầu câu này trong lá thư thứ ba của thánh Gio-an đã làm tôi mê say. Thoạt tiên, ý nghĩa của nó khá hạn chế. Tôi hiểu thế này, ai đón nhận sứ giả của Tin Mừng, kẻ đó trở thành người thợ của chân lí. Và khi đón nhận sứ giả, chính người đó đã vào làm việc trong vườn này rồi.

Phải nói, trong mấy chục năm dạy học, khủng hoảng về yêu sách chân lí đã lay động tôi rất mạnh. Tôi lo không biết phải hành xử thế nào với ý niệmchân lí của Ki-tô giáo, một phần cũng vì ngại bị coi là thiếu tôn trọng đối với các tôn giáo khác. Vấn đề là ta được phép sử dụng ý niệmđó đến mức độ nào ?

Tôi đã ưu tư rất nhiều về câu hỏi đó. Cuối cùng, tôi suy ra, là nếu mình không đề cập tới vấn đề chân lí nữa, thì cũng có nghĩa là mình đi ra khỏi nền tảng mọi vấn đề. Bởi vì Ki-tô giáo không giống như các tôn giáo khác, đặc điểm đức tin của nó ngay từ đầu không ưu tiên dựa trên các kĩ thuật luyện tập và quan sát như nơi nhiều tôn giáo khác, các tôn giáo này chủ yếu dựa vào việc tuân giữ một số nghi thức nào đó.

Ki-tô giáo xuất hiện, là để nói cho chúng ta hay điều gì đó về Thiên Chúa và trần gian, và cả về chính chúng ta – nghĩa là về cái gì là thật và cái gì trao ban cho ta sự sáng. Vì thế, tôi đi tới nhận thức là trong thời đại khủng hoảng này, một thời đại đạt được nhiều chân lí trong khoa học tự nhiên, nhưng đồng thời lại đẩy các vấn nạn nhân sinh vào vòng chủ quan, chuyện đi tìm chân lí, và cả việc can đảm tuyên xưng nó, lại càng trở nên khẩn thiết. Vì thế, câu tôi chọn nói lên phần nào trách nhiệm của một linh mục và một nhà thần học, họ cần cố gắng, trong khiêm tốn và trong nhận thức về khả năng hữu hạn của mình, trở nên những người thợ của chân lí.

CON THIÊN CHÚA

Trên đường rao giảng từ vùng này qua xóm khác, có lần  Đức Giê-su bỗng hỏi các môn đệ: „Người ta bảo Con Người là ai?“ Họ trả lời: „Có người bảo Thầy là Gio-an tẩy giả, có người bảo là Ê-li-a, Giê-rê-mi-a hay một tiên tri nào khác“. „Còn anh em bảo Thầy là ai?“ Phê-rô trả lời: „Thầy là người được xức dầu, Con của Thiên Chúa hằng sống“.  Đức Giê-su khoan khoái bảo: „Phúc cho anh, này Phê-rô con nhà Si-mon Ba-gio-na; vì không phải xác thịt hay máu huyết, nhưng là Cha thầy trên trời đã tỏ cho anh biết điều đó“.

Trong câu chuyện này có một điểm khác biệt rõ ràng và quan trọng: Thiên hạ bảo Ngài là ai – và anh em bảo Thầy là ai?  Đức Giê-su ám chỉ có hai cách nhận ra Ngài. Những người có lẽ một lần nào đó đã thấy được phép lạ hay đã nghe Ngài giảng, thường cho rằng Ngài là một vĩ nhân trong lịch sử tôn giáo.

Điều này ngày nay vẫn đúng. Người ta muốn xếp Ngài vào một loại nhân vật nổi tiếng nào đó. Chẳng hạn triết gia Karl Jaspers[3] bảo Ngài là một trong những vị dẫn đường cho thiên hạ; kẻ khác lại bảo Ngài là một trong những tiên tri lớn hay là một vị giáo tổ.  Đức Giê-su nói đó là nhận thức của những kẻ chỉ biết Ngài qua trung gian người khác. Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai? Có nghĩa là những kẻ biết Ngài từ trong tâm hồn bảo Ngài là ai?

Theo Lu-ca, cảnh trên có liên quan với chuyện cầu nguyện của  Đức Giê-su. Qua đó, Lu-ca cho thấy rõ : những ai biết nét đặc thù của Ngài, biết Ngài từ đáy sâu tâm hồn, và biết Ngài qua trao đổi giữa Ngài với Cha Ngài, những người đó mới thực sự biết Ngài. Có như thế, họ mới bước được ra khỏi khuôn mẫu thường tình, và khám phá ra đặc tính duy nhất và có một không hai của khuôn mặt kia: đó là đấng được xức dầu của Chúa, là Con của Thiên Chúa hằng sống. Cảnh này được ba thánh sử trình bày cách khác nhau, nhưng đó chính là mốc khởi đầu của đức tin Ki-tô giáo. Có thể nói, Phê-rô là người xướng đầu lời tuyên tín đó, và vì vậy ngài cũng được giao một trọng trách đặc biệt.

Các bậc thầy của Hội thánh nói về  Đức Giê-su: „Thiên Chúa từ Thiên Chúa, ánh sáng từ ánh sáng, Thiên Chúa thật từ Thiên Chúa thật, đồng một bản thể với Cha“.

Có so sánh ba Tin Mừng, ta mới thấy được sự lớn lên từ từ của lời tuyên tín, và thấy được việc nó cắm rễ theo tiến trình kinh nghiệm của các môn đồ và của đức tin. Thoạt tiên, ta đọc được nơi Mác-cô: „Thầy là người được xức dầu“; rồi ở Lu-ca: „người được xức dầu của Thiên Chúa“; rồi tới Mát-thêu: „người được xức dầu, Con của Thiên Chúa hằng sống“.

Điều đó muốn nói lên gì? Nó từ từ cho thấy  Đức Giê-su không chỉ là một người được xức dầu, như vị mà dân Do-thái đang trông chờ, nhưng trong Ngài hai điểm trông chờ đã qui vào làm một. Một đàng, người ta trông chờ một Đa-vít mới hay một Mai-sen mới, là vị vua tối cao, vị ra luật lớn, là bạn và là người môi giới của Chúa, như Đa-vít và Mai-sen xưa đã làm. Đàng khác, người ta trông đợi chính Thiên Chúa sẽ hành động và đưa tay ra nắm lấy vận mệnh của thế giới. Hai nỗi chờ mong trên đã nhập vào nhau trong Đức Ki-tô. Ngài là một con người, nhưng chính Chúa đã bước vào trong con người đó.

Mệnh đề „Con Thiên Chúa, ánh sáng từ ánh sáng, Thiên Chúa thật từ Thiên Chúa thật, được sinh ra mà không phải tạo thành“, là kết quả của tất cả những gặp gỡ với  Đức Giê-su, bắt đầu từ bài giảng ở Ga-li-lê, qua sứ điệp của Ngài, qua phiên toà của người Do-thái, trong đó Ngài trả lời câu hỏi có phải mình thật là Thiên Chúa không, qua thập giá cho tới qua những cuộc gặp gỡ với  Đấng Phục Sinh. Ngay các vị đầu lãnh Do-thái cũng đã ngửi được việc Ngài tự xưng mình là Chúa là một điều gì vượt quá con người, nên họ cho đó – có lẽ họ phải cho đó - là phạm thượng. Và như vậy thì họ đã hiểu Ngài đúng.  Đức Giê-su cũng đã bảo là họ nói đúng. Ngài bảo, vâng, tôi là kẻ đúng như các ông nói!

BA NGÔI

Nước Ái-nhĩ-lan (Irland) dùng chiếc lá có ba khía làm biểu tượng cho quốc gia, bởi vì ngày xưa thánh Patrick[4] dùng lá đó để cắt nghĩa về Chúa ba ngôi. Đối với một người thường, hay ít nhất không phải là dân Ái-nhĩ-lan, thì điều này quả khó hiểu: Cha, Con và rồi thêm một Thánh Thần nữa – ba vị, nhưng lại vẫn là một bản thể. Và chuyện lại càng rắc rối hơn đối với các thánh. Hoạ sĩ Pinturicchio có một bức hoạ, trên đó ông vẽ một giám mục ngồi bên bờ biển, giơ hai tay lên trời như vẻ thắc mắc, mắt như nhìn vào quãng không. Tên bức hình: „Thánh An-tịnh ngồi bên bờ biển suy tư về mầu nhiệm ba ngôi“. Có phải giáo lýba ngôi chỉ là kết quả của một phỏng đoán về Thiên Chúa?

Tôi muốn dừng lại một lát nơi thánh An-tịnh. Trên huy hiệu của tôi có in hình vỏ sò nói lên câu chuyện bên bờ biển của ngài. Tôi làm thế, để nói lên khuynh hướng muốn theo gương An-tịnh của tôi. 

Thánh An-tịnh đã viết cuốn sách dày về ba ngôi, đó là cả một cuộc vật lộn tri thức, nhưng cuối cùng chính ngài cũng phải nhận rằng mình thất bại. Từ cuộc vật lộn đó, nẩy sinh truyền tụng về chuyện ngài gặp một chú bé bên bờ biển đang lấy tay moi một cái lỗ trên cát, và cầm vỏ sò múc nước biển đổ vào lỗ. Nhìn thấy cảnh đó, ngài chợt nghĩ: Làm sao đổ hết nước biển vào lỗ đó được, làm sao trí tuệ hạn hữu của mình lại có thể hiểu được hết bí mật của Thiên Chúa. Tôi tin rằng câu chuyện trên là một diễn tả rất đúng về sự hữu hạn của ta. Đại dương làm sao đổ vào được trí tuệ vỏ sò của ta, cho dù trí tuệ đó được căng lớn ra. Ta không thể hiểu được tất cả những gì khác của Thiên chúa.

Không phải chỉ người thường, mà cả bậc thông minh xuất chúng, cũng không thể hiểu được bí ẩn này: Thiên Chúa thật ra là một, nhưng Ngài lại ở trong ba người, Ngài hiện hữu trong tương quan tình yêu tay ba này, chuyện quả thật không thể giải nổi. Điểm quan trọng cần nhớ, là Ki-tô giáo vững tin vào hai điều này: Thiên Chúa là đấng duy nhất và là một hợp nhất tối cao. Nhưng rồi sự hợp nhất tối cao này không còn là hợp nhất của những cái bất khả phân, nhưng là sự hợp nhất được hình thành qua đối thoại tình yêu. Thiên Chúa, đấng duy nhất, đồng thời cũng là một tương quan với chính Ngài, và vì vậy Ngài cũng có thể tạo ra tương quan. Một cách nào đó, chúng ta thấy đây là điểm hợp lí, mặc dầu ta không lí giải được.

Như vậy giáo lýba ngôi từ đâu mà có?

Qua sự tiếp cận với Đức Ki-tô. Qua sự kiện Ngài gọi Thiên Chúa là Cha và tự xưng mình là Con - Đức Ki-tô không tự xưng mình là „một Con Thiên Chúa“ –, qua việc Ngài tỏ ra mình với Thiên Chúa là một.

Từ hệ quả đó nẩy ra nhiều câu hỏi: Như vậy nghĩa là thế nào? Phải chăng Đức Ki-tô là một Thiên Chúa? Có hai Thiên Chúa? Đức Kitô là một ai hoàn toàn khác? Phải chăng Ngài đã tự nâng mình cao quá lẽ? Những điều Ngài nói có thật là chân lí không? Cứ như thế. Nhưng có một điểm mốc giúp ta hiểu được điều trên là cuộc đối thoại giữa Ngài với Cha Ngài, và từ cuộc đối thoại đó, có thêm yêu sách của Ngài đối với người nghe. Nhờ đó, một đàng ta nhận ra sự bình đẳng, tính hợp nhất và bản tính thiên chúa trong sự duy nhất của Thiên Chúa, đàng khác ta cũng nhận ra được sự khác biệt, sự phân biệt.

Thêm nữa, chính Đức Ki-tô còn nói đến tinh thần của Cha, mà đồng thời cũng là tinh thần của Ngài. Đã có hai vị là Cha và Con rồi, giờ thêm một vị nữa, Thánh Thần, quả lại càng thêm khó hiểu. Đức Ki-tô là một nhân vật ta có thể khả giác được. Thánh Thần có thể nói hiện hữu như là một tác động, chứ như là một người thì quả khó hiểu đối với ta. Vì thế mà đã có những tranh luận dài dài về bản tính người của Ngài. Nhưng nếu Đức Ki-tô nói về Tinh (Thánh) thần như là một trạng sư, một vị an ủi (Parakleten) mà Ngài ban tặng cho ta, thì như vậy rõ ràng Ngài và Tinh thần đó cùng thuộc vào một cấp ngang nhau, và như vậy rõ ràng bản chất tương quan trong Thiên Chúa này được thể hiện qua ba ngôi vị : Cha - Con - Thánh Thần.

Thần học đã luôn tìm cách diễn tả một cách ấn tượng sự phù hợp nội tâm đó, với lí luận rằng, chỉ có ba ngôi vị mới tạo ra được tương quan đầy đủ nhất. Ở đây, các nhà thần học đã cho ta một phương tiện suy tư nền tảng, để giúp trí óc ao tù của ta có thể mường tượng được chút gì về đại dương bao la. Như vậy, điều quan trọng là giáo lýba ngôi không phải do ai nghĩ ra, mà đó là kết quả của kinh nghiệm. Nó hình thành từ việc gặp gỡ lời nói và việc làm của Đức Ki-tô, và đã được diễn tả ra dần dần qua quá trình suy tư và lòng tin vào những lời nói và việc làm đó. Ở đây, ta cũng nên nhớ, là nghi thức rửa tội khởi đầu bằng câu: Tôi rửa … nhân danh Cha, Con và Thánh Thần. Công thức này khởi đi từ sứ mạng của chính  Đấng Phục Sinh. Cho dù ta chưa nắm được chiều sâu của câu này, nhưng nó ngay từ đầu đã ấn dấu lên cấu trúc của việc cầu nguyện và của đức tin Ki-tô giáo.

Tại sao Bạn không cướp nhà băng, nếu Bạn biết chắc sẽ không bị bắt? Do đâu Bạn tin chắc rằng, rồi đây trên giường bệnh Bạn sẽ không bị người ta chích thuốc cho chết? Có thể trường hợp bệnh lí rắc rối của Bạn sẽ tạo ra quá nhiều tốn kém và khó nhọc cho việc chữa trị và chăm sóc, và vì thế xã hội sẽ không lo xuể. Tại sao người ta không vứt xác chết vào bãi rác và dẹp nghĩa trang đi để xây nhà trẻ? Do đâu Bạn biết chồng Bạn trung thành? Do đâu Bạn biết bào thai vợ đang mang là con của Bạn? Và đây là câu hỏi nghiêm chỉnh: Cái gì minh chứng cho sự hiện hữu hay không hiện hữu của Thiên Chúa? Là vì “nếu không có Thiên Chúa, thì mọi chuyện đều được phép làm” (Dostoiewski, Anh em nhà Karamazov). Hay không phải vậy?

Một cuốn sách viết về Thiên Chúa, muốn được con người thời nay nghiêm chỉnh đón nhận, phải nêu bật lên được những câu hỏi từ cuộc sống cụ thể, những câu hỏi mà bất cứ một anh, một chị, một em bé nào cũng phải đối diện. Bởi vì rõ ràng: Ai thật sự tin Chúa, người đó sống khác hơn kẻ không tin Chúa. Tuy vậy, con người vẫn chẳng bao giờ sống và nghĩ cho đến nơi đến chốn. Những người vô thần nướng thời giờ quý báu cho những suy tư vô lí, và họ sống đôi khi như là có Thiên Chúa thật. Còn kẻ tin vào Thiên Chúa thì sống hoang phí đa phần thời gian đời mình như là chẳng có Thiên Chúa. Nếu chúng ta tin rằng, mỗi thời khắc cuộc sống qua đi sẽ không bao giờ trở lại, thì cuộc sống của cả hai hạng trên quả là bất hạnh. Người ta tiêu phí thời gian cuộc sống bất khả hồi cho một Thiên Chúa không hề có; hay hoàn toàn ngược lại, người ta đã để mất cơ hội sống mà lẽ ra phải dùng nó để chuẩn bị cho sự sống đời đời bên Chúa. (THIÊN CHÚA, Manfred Lutz, Dẫn Nhập)

LẠY CHA CHÚNG CON

« Kinh Lạy Cha“ là lời cầu duy nhất Đức Ki-tô đã dạy cho môn đệ, và từ 2000 năm nay, kinh này là phần không thể thiếu trong thánh lễ. Kinh này – cũng như kinh tin kính, như các bộ tộc Is-ra-en, như số các tông đồ và số hình sao trên trời – có tất cả 12 câu. Và 12 câu này lại gồm đúng 7 lời cầu. Hẳn phải có một bí ẩn lớn trong đó?

Có phải gồm 12 câu hay không, tôi không biết. Và trong bản bằng tiếng Hi-lạp cũng có số câu như vậy hay không, lại là một chuyện khác nữa. Nếu quả như vậy, thì đây là một cấu trúc khá đặc biệt. Ta có hai kinh Lạy Cha, một theo Lu-ca và một theo Mát-thêu. Quả thật hay, khi toàn bộ nội dung và thứ tự mong ước được gói trọn trong bảy lời cầu, và mỗi chữ đều mang một ý nghĩa sâu xa.

Chỉ một từ Cha mà thôi, nói lên tương quan cha – con giữa Chúa và ta, đã đầy ắp ý nghĩa rồi. Từ chúng con cũng quan trọng không kém. Con cái Chúa không phải là „con“ đơn lẻ, mà là „chúng con“. Như thế, cấu trúc lời kinh đó chứa đựng một kho tàng, mà ý nghĩa chỉ được khám phá dần dần qua bao nhiêu thế kỉ.

Kinh Lạy Cha chẳng bao giờ trở nên cổ hủ…

Không biết có bao nhiêu tác giả đã viết về kinh đó, vì mỗi người có một cảm nhận riêng. Vì thế, cũng như lời Chúa và kinh Tin kính, kinh này một mặt mang một hình thù bất biến, nhưng mặt khác nó luôn mới, vì là nguồn cho những cảm nghiệm bất tận, nó luôn đẩy ta đi tới. Ta không bị trói vào quá khứ cứng đơ, nhưng kinh Lạy Cha là một vùng đất đầy khám phá, trong đó chính mỗi người cũng có thể tìm ra cho mình những điều mới.

Tại sao Giáo Hội cầu kinh đó hàng ngày trong thánh lễ? Phải chăng vì đó là lời kinh do Đức Ki-tô dạy?

Có lẽ chỉ một lí do đó thôi cũng đã đủ rồi. Đó là lời kinh nguồn cội, mà ta cùng Đức Ki-tô cầu nguyện nhiều nhất và đúng đắn nhất. Đại giáo chủ Grê-gô-ri-ô viết trong một lá thư, kinh Lạy Cha trong thánh lễ mang tầm quan trọng nền tảng, vì rốt cuộc đó là kinh do chính Đức Ki-tô dạy. Ngài nói thêm, kinh đó cao trọng hơn bất cứ một kinh nào do con người lập, và cũng quan trọng hơn những lời kinh phụng vụ.

Một chỗ trong kinh Lạy Cha: “và đừng dẫn chúng con vào chước cám dỗ”. Tại sao một Thiên Chúa nhân từ lại muốn cho chúng ta sa chước cám dỗ? Có phải đây là một lỗi dịch thuật? Sư huynh Roger, người sáng lập phong trào Taizé, một cộng đoàn đại kết ở Pháp, đề nghị nên cầu như vầy: “và đừng để chúng con sa chước cám dỗ”.

Người ta đã thắc mắc nhiều về chuyện trên. Tôi biết, thủ tướng Đức Adenauer đã ép Hồng Y Frings phải xét lại câu đó. Chúng tôi vẫn luôn nhận được thư đề nghị nên đổi theo hướng trên. Dịch đúng chữ phải là “đừng dẫn chúng con vào chước cám dỗ”. Đâu là ý nghĩa của câu này?

Những người cầu xin biết rằng Chúa chẳng ép mình vào đường xấu. Ở đây, có thể nói họ khẩn cầu Ngài đi với họ trong cơn cám dỗ. Thư thánh Gia-cô-bê nói rõ, Thiên Chúa trắng ngần không một vết nhơ chẳng cám dỗ ai cả. Nhưng Chúa có thể thử thách chúng ta – như trường hợp Ab-ra-ham - để chúng ta trưởng thành hơn, để chúng ta đối diện với hố thẳm của mình, và để rồi lại đưa ta về bên Ngài. Như vậy, chữ “cám dỗ” cũng có nhiều tầng ý nghĩa. Rõ ràng Chúa chẳng bao giờ dẫn ta vào đường xấu. Nhưng có thể Ngài không cất đi khỏi ta những cám dỗ, Ngài muốn giúp và dẫn ta, như đã nói, qua thử thách.

Ta cầu Ngài đừng để ta sa chước cám dỗ, đừng để ta đi vào đường xấu, đừng thử thách ta quá sức; cầu Ngài ra tay giúp đỡ sự yếu hèn của ta, để ta khỏi mất Ngài.

Nghĩa là vẫn để nguyên câu đó?

Theo tôi nên để nguyên. Mà cũng không có việc nghiêm cấm chuyện dịch theo các lời đề nghị như kiểu của sư huynh Roger Schütz. Tuy nhiên, theo tôi, vì lòng khiêm tốn, cứ để nguyên như vậy và gắng đi vào chiều sâu của lời kinh thì tốt hơn.

NGUYÊN TẮC CHA – CON

 “Không ai biết Con hơn Cha, và không ai biết Cha hơn Con”, thánh sử Mat-thêu viết như thế. Rõ ràng tính cách Cha của Thiên Chúa cũng giống như một thứ chìa khoá giúp ta hiểu về các thế hệ hoặc về sự trở thành và sự qua đi. Các tông đồ bảo Chúa Cha là “nguồn và cùng đích mọi sự”, chỉ có trong Ngài ta mới hiểu được chính mình. Phải chăng quan hệ này, một cách nào đó, đã được khắc sâu vào cuộc sống như một nguyên tắc? 

Trước hết, điều có lẽ quan trọng với tôi, là phải làm sao nêu bật lên nét đặc thù của quan hệ Cha – Con thật đặc biệt này. Câu “không ai biết Cha ngoài Con, không ai biết Con ngoài Cha” trước hết nói lên một quy luật nhận thức tổng quát. Câu đó có í nói rằng chỉ có những gì giống nhau mới nhận ra nhau. Không thể nhận ra Chúa, nếu không có sự tương đồng nội tâm với Ngài. Thật ra, chỉ có Chúa mới có thể nhận ra Ngài mà thôi. Con người được phép nhận ra Chúa, chỉ khi họ được Chúa đưa vào một quan hệ thân thuộc với Ngài, và khi nơi con người có được nhiều tương đồng với Ngài giúp họ có thể nhận ra Ngài. Và  Đức Giê-su nói tiếp: “Không ai có thể nhận ra, ngoài kẻ mà Cha muốn mạc khải cho”. Nói cách khác: Nhận thức chỉ xẩy ra khi cả hai đều muốn.

Phải chăng quan hệ Cha – Con [của Chúa] cũng không phải là một mối liên hệ tiêu biểu cho cuộc sống con người?

Có thể nói được đó là một quan hệ tiêu biểu. Trước hết, đó chỉ là một thứ khung ngôn ngữ và suy tư, một chút hé mở từ xa nhằm giúp ta hiểu được một chút về Thiên Chúa – mà vẫn luôn biết rằng, như công đồng Laterano thứ 4 nói, giữa ta với Chúa cái khác nhiều hơn gấp bội lần tất cả những cái giống. Nhưng mặt khác, có lẽ không thể dùng quan hệ Cha – Con làm hình ảnh tương đồng giúp ta hiểu từ xa cái bí ẩn bên trong của Chúa, nếu như trong quan hệ đó không ẩn chứa một vết tích nào của Thiên Chúa. Quan hệ Cha – Con đặc biệt này là một mối quan hệ uyên nguyên của con người. Đây là một quan hệ cho đi, nhận vào và trao trả lại. Nếu ta bắt đầu từ đây cứ triết lí tiếp, tất nhiên ta sẽ đề cập tới toàn bộ câu hỏi về gia đình nhân loại, và như thế chắc chắn ta sẽ gặp phải giới hạn. Nhưng đúng là ngón trỏ bàn tay ta có thể vươn lên trời được bao nhiêu, thì quan hệ rất đặc biệt kia cũng vươn xa được tới đó.

Thời đại tân tiến ngày nay đang gặp khủng hoảng về vai trò làm cha. Một khi vai trò làm cha mất, ý niệmquyền uy cũng đổ theo. Và xem ra một số lớn kiến thức cũ cũng mất hoặc bị gạt bỏ đi một cách oan uổng. Xem ra, một cách nào đó, người ta không còn dễ dàng tin vào những gì lưu truyền. Làm như thế, nói một cách bóng bẩy, là người ta hất luôn cả đứa con khi đổ chậu nước tắm.

Lời xưa có viết, Thiên Chúa đã trao cho các bậc làm cha một sứ mạng. Và quả thật, xưa nay việc chuyển tiếp gia sản đã diễn ra trong quan hệ cha con; việc chuyển tiếp này hầu như luôn là một diễn tiến căng thẳng, một cuộc chiến đấu, trong đó một phía phải được thuần hoá và được lãnh đạo, trong đó cần có phản kháng để mới lớn lên được.

Nhà tâm lí Erich Fromm đã có lần phân biệt tình cha và tình mẹ như thế này: Tình mẹ, theo ông, là đương nhiên. Tình đó được trao tặng cho người khác. Nó gần như là một thứ tình đui mù. Và tình này không đòi hỏi một bổn phận luân lí nào. Tình cha, trái lại, là một tình yêu có điều kiện. Đó là một tình yêu người ta có thể sinh lợi cho mình, nếu họ cố gắng sống theo quy luật.

Đó là những vấn nạn thâm sâu về mặt nhân chủng. Việc chuyển tiếp đời sống, khôn ngoan và kinh nghiệm xẩy ra như thế nào? Những quan hệ nguồn cội giữa cha mẹ và con cái, giữa cha với con trai, giữa mẹ với con gái hệ tại ở đâu? Chúng nói cho ta biết cái gì về bí ẩn Thiên Chúa, cái gì không? Trước hết, một lần nữa, tôi muốn nhấn mạnh rằng, có một chuỗi bất tận cái không giống trong tương quan giữa ta với Chúa, rằng có cái giống nhưng lại xuất hiện hoàn toàn khác, và vì vậy ta phải vô cùng thận trọng trong việc dùng các hình ảnh tương đồng và trong những ứng dụng. Càng hiểu về con người, về quan hệ cha với con trai, về tương quan mẹ với con, ta càng nhờ đó có thể hiểu thêm chút gì về Thiên Chúa. Chẳng hạn như ta sẽ hiểu rằng Thiên Chúa cũng có một mối tình mẹ con với ta, cho dù – như đã nói – ta không dùng chữ “mẹ” đối với Ngài trong lời cầu kinh.

Về quan điểm của Erich Fromm mà tôi quả không biết, tôi thấy rất hay và đáng suy gẫm. Nhưng phải nói ngay, tôi không đồng í với tất cả những điều anh nêu. Tôi nghĩ rằng tình mẹ trước hết là một mối tình tự nhiên - là vì bà mang con trong lòng, đó là máu thịt của bà -, nhưng đó không chỉ là sự thiết thân hay tình yêu do quy luật sinh lí mà thôi. Bà còn có trách nhiệm cung cấp cho con mình cả thể lí lẫn tình yêu để nó có thể thành người.

Tôi tin rằng trong đó đã có sẵn một yêu sách đạo đức rồi. Làm mẹ chẳng bao giờ chỉ là một diễn tiến thuần sinh lí, nhưng đó cũng là một diễn tiến tinh thần. Mẹ mang con trong lòng, sinh nó ra và phải trải qua một quá trình cọ xát tinh thần với con. Đây là một quá trình có sự tham gia toàn bộ con người của mẹ.

Quan hệ giữa cha và con trai rõ ràng khác và rắc rối hơn. Một nhà thần học đã nói, ngày nay ta phải thay chuyện người con đi hoang bằng chuyện các người cha đi hoang. Cha thường bỏ hết thì giờ cho nghề nghiệp và công việc, hơn là  để ý tới con, thường nghĩ tới năng xuất nhiều hơn là nghĩ tới tặng phẩm Trời cho và tới những bổn phận mình phải có đối với tặng phẩm đó. Nhưng mất vai trò cha cũng có nghĩa là con bị thiệt hại. Nhìn vào các thần thoại ngoại giáo, chẳng hạn trong câu chuyện về thần Zeus, ta thấy quan hệ ở đây được trình bày như là bất thường, bất nhất và độc đoán: Người cha ở đây tuy có sức mạnh và uy quyền, nhưng thiếu trách nhiệm cần thiết, ông dùng quyền nhiều hơn lí và tình. Còn người cha trong Cựu Ước thì khác hẳn, nhất là người cha trong dụ ngôn của  Đức Giê-su lại càng khác: Ở đây có sự đồng cân giữa quyền và trách nhiệm, vừa có lí có tình, quan hệ đặt trên niềm tin chứ không trên sợ hãi. Thiên Chúa là cha có nghĩa là Ngài hướng đến ta, đón nhận ta vào lòng Ngài, khiến ta có thể lấy tình yêu con cái mà đối xử với Ngài. Thiên Chúa là cha có nghĩa là Ngài đề ra khuôn thước và cũng sửa phạt ta một cách khắt khe, nhưng khắt khe đó đồng nghĩa với yêu thương và luôn đặt nền trên tha thứ. Câu chuyện người con đi hoang trong Tân Ước qua lời kể của  Đức Giê-su có lẽ cũng là một hình ảnh đánh động nhất về tư cách làm cha của Thiên Chúa.

Câu chuyện đó, như vậy, trở thành khuôn thước cho vai trò làm cha của ta, để ta tu chỉnh theo nó. Hình ảnh Thiên Chúa là Cha trong Kinh Thánh không phải là để cho ta phóng chiếu nhìn lên, nhưng ngược lại: Từ trên cao Ngài nói xuống cho ta biết vai trò làm cha thật sự ra sao, và ta có thể và nên đóng vai trò đó như thế nào với nhau.

4. SỰ SỐNG

Tôi tin ai cũng muốn biết cuộc sống rồi sẽ ra sao, nó diễn tiến như thế nào, phải sống ra sao cho đúng, và làm sao để có được một cảm giác thật tốt về nó. Cary Grant, một nghệ sĩ nổi tiếng, trước khi chết đã để lại cho con gái Jennifer một lá thư tuyệt mạng thật cảm động. Trong đó, ông còn muốn khuyên con gái một vài điều về cuộc sống. Ông viết: „Jennifer rất yêu dấu của Ba, hãy sống đầy đủ cuộc đời con, đừng vị kỉ. Hãy mực thước, kính trọng nỗ lực của kẻ khác. Hãy cố gắng làm điều tốt nhất và có được tư cách tốt. Hãy giữ cho đầu óc thanh khiết và có lối cư xử trong sáng“. Ông tiếp: „Hãy cám ơn những khuôn mặt tốt con gặp và tình yêu ngọt ngào đàng sau đôi mắt của họ… cám ơn những bông hoa đùa vui trong gió … Chỉ một giấc ngủ ngắn thôi rồi Ba sẽ thức giấc ngàn thu. Nếu Ba không thức dậy, thức dậy như ta vẫn hiểu, thì Ba sẽ tiếp tục sống mãi trong con gái yêu dấu của Ba“. Nghe có vẻ công giáo quá nhỉ.

Một bức thư tuyệt đẹp. Còn có công giáo hay không thì tôi không biết. Đó là lời nói của một người đã trở nên chín chắn, và đã có được cảm quan về cái thiện và cố gắng trao nó đi tiếp, và bằng một cung cách thân thiện tuyệt vời.

SỰ SỐNG CON NGƯỜI

Nếu đứng từ thật xa mà nhìn cuộc sống - thì nó trông ra sao? Phải chăng đó là một cái gì hơn là một trò chơi bắt buộc? Một chiếc lông đong đưa trong gió? Phải chăng cuộc sống lệ thuộc vào bản năng, bạo lực, gốc gác của một con người, lệ thuộc vào nốt chích của một chú muỗi sốt rét có thể đẩy nó ra khỏi quỹ đạo cuộc sống? Hay lí lịch của tất cả chúng ta đều đã được xác định từ lâu? Đời tôi là một thứ bản đồ dẫn đường mà Thiên Chúa vô lường từ lâu đã viết vào trong cuốn Sách Đời bí mật của Ngài? Hoạ sĩ Michelangelo nói như thế này: „Hình đã nằm sẵn từ lâu trong đá. Tôi chỉ đẽo bớt đi những gì thừa thãi mà thôi“.

Anh đã gom vào câu hỏi đó một chương trình phong phú. Tôi tin rằng, khi ta hỏi „Cuộc sống là gì?“, thì điều quan trọng trước hết là mình phải nhìn ra sự phức tạp của ý niệmđó. 

Trước hết, cuộc sống là một cái gì thuộc sinh học. Nó thoát thai từ vô cơ và rồi diễn tả một cấp độ mới của thực tại. Một trong những dấu chỉ chính nói lên sự có mặt của sự sống là khả năng tự sinh sản và tự điều hành của một guồng máy, nhưng đây không hẳn là một cỗ máy, mà là một cơ phận. Như vậy, ta có trước hết là lớp sinh vật, lớp này khởi đi từ một đơn bào rồi càng ngày càng phát triển lên thành những hình thái cao hơn, phức tạp hơn, để trở nên càng lúc càng lạ lùng, nhiệm mầu và phong phú hơn.

Nơi con người có thêm một lớp mới khác. Đó là tinh thần, sống động và là sự sống. Tinh thần tan hoà vào cơ thể sinh vật và qua đó trao cho đời sống một chiều kích mới.

Ngoài ra, đức tin Ki-tô giáo xác tín rằng chúng ta còn có thêm một lớp nữa, lớp này hình thành qua sự gặp gỡ giữa ta với Đức Ki-tô. Ta có thể thấy trước được lớp này qua tình yêu con người: Mỗi khi được yêu, trước sự hiện diện của người yêu, ta thấy có thêm một chiều kích mới đi vào động lực tinh thần ta. Điều như thế cũng xẩy ra, khi tôi được chính Thiên Chúa qua Đức Ki-tô đoái nhìn, và qua đó Ngài biến cuộc sống tôi trở thành song hành với chính cuộc sống sáng tạo của Ngài.

Như vậy, sự sống mang nhiều cấp.

Và cuộc sống vươn tới cấp cao nhất, khi cùng sống với Chúa. Đây cũng chính là nơi tiềm ẩn sự phiêu lưu liều lĩnh của con người. Con người có thể và nên là sự tổng hợp của toàn thể toà nhà nhiều tầng đó. Nó có thể và nên vươn tới Thiên Chúa hằng sống và trao lại cho Ngài những gì đã nhận được từ Ngài, sau khi đã uốn nắn chúng theo cách thế của ta. Nhưng, như chúng ta đã nói, yếu tố tự do đã đi vào động năng cuộc sống mỗi người, và yếu tố này đối kháng lại toàn bộ sự tiền định.

Theo hình ảnh Thiên Chúa Ki-tô giáo, cuộc sống không có một quy định cứng nhắc. Bởi vì Thiên Chúa quá vĩ đại và quá toàn năng trên tất cả, vì bản chất của Ngài quá yêu tự do, nên Ngài không thể và không muốn lèo lái cuộc sống con người một cách tuỳ thích. Mà dù cuộc sống này vẫn luôn được Ngài bảo bọc và nâng niu trong hai bàn tay Ngài, thì yếu tố tự do kia vẫn có chỗ đứng rõ ràng. Tự do này mở rộng tới mức con người có thể phá đổ toàn bộ kế hoạch của Chúa. Quan trọng là cuộc sống phải được diễn ra trong những lớp khác nhau đó. Nhờ các lớp bên trên mà cuối cùng con người vượt qua được sự chết để tiến vào vĩnh cửu. Lại nữa, trên thực tế, cái chết là thân phận cần có của tất cả mọi sự sống thuần hữu cơ.

Nếu tôi có tự do thật, thì làm sao tôi có thể làm chủ được cuộc sống mình, làm sao tôi có thể lái đời mình vượt qua được những bến đỗ, những đoạn đường, những ngã rẽ quan trọng trong đời? Khi nào được gọi là thành công trên đường đời? Giáo huấn Đức Ki-tô có giúp tôi xác định được điều đó không? Cuộc đời tôi phải giống như của mẹ Tê-rê-xa ở Calcutta?

Mẹ Tê-rê-xa chỉ là một mẫu mực. Nhưng khi nhìn vào cuộc đời các thánh lớn, hay nhìn vào các nhân vật có cuộc sống thành công, ta thấy ơn gọi rất khác nhau. Không phải ai cũng phải là mẹ Tê-rê-xa. Một nhà khoa học nổi danh, một học giả cao kiến, một nhạc sĩ, hay một người thợ thủ công, hay người làm công bình thường cũng có thể có một cuộc sống thành toại, họ sống đời mình một cách khiêm tốn, trung thành và ngay thẳng…

Nghe ra hơi lỗi thời…

Có thể như vậy, nhưng người ta tìm gặp trong đó một cuộc sống tràn đầy, dù là hôm qua, hôm nay hay ngày mai. Mỗi cuộc sống có ơn gọi riêng. Nó có ẩn số riêng và con đường riêng. Không cuộc đời nào là thuần bắt chước, tung tăng bước ra từ một chuỗi giống nhau. Và mỗi người cũng cần can đảm sống đời mình một cách sáng tạo mà chẳng cần bắt chước ai. Nếu anh nhìn vào dụ ngôn anh lười, hắn ta chôn tài năng mình để khỏi bị sứt mẻ, thì anh sẽ thấy điều tôi muốn nói trong đó. Hắn ta là người không muốn liều lĩnh sống và làm triển nở cuộc đời độc đáo riêng của mình; không muốn trực diện với những nguy cơ cần có trong cuộc sống.

Trong ý nghĩa đó, có nhiều loại ơn gọi. Tôi đã nói trong cuốn “Muối Cho Đời” của chúng ta, là có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu con đường tới Chúa. Ở đây phải thêm: Có bao nhiêu con người thì có bấy nhiêu con đường để sống thành toại.

Như vậy, có thể nói, con người là một lực sáng tạo trống rỗng?

Không, tất cả điều đó không có nghĩa là ta bị thẩy vào đại dương vô định mà chẳng hiểu tại sao, như Sartre nói, chẳng hạn. Sartre cho rằng, tự do là điều đáng nguyền rủa. Con bò không cần suy tư về số phận trâu bò của mình, nhưng con người phải tìm cho chính mình lẽ sống. Dù vậy, con người cũng không phải bị thẩy vào cuộc sống từ hư vô, mà không mang một dự án nào trước.

Có khuôn mẫu nền tảng. Mỗi người cố gắng tìm ra cho mình nguồn thông tin để hỏi, bạn đã làm như thế nào, hắn đã làm như thế nào, tôi có thể làm như thế nào? Làm sao tôi có thể nhận ra chính mình và những khả thể của mình? Chúng ta xác tín rằng Đức Ki-tô là nguồn thông tin chính của ta. Một mặt, Ngài cung cấp cho ta những đường nét chung và lớn. Mặt khác, Ngài đồng thời cũng đưa ta vào một quan hệ thật riêng tư, để ta có thể cùng Ngài và cùng cộng đoàn tín hữu nhận ra được cái độc đáo của riêng mình – và rồi độc đáo sẽ hoà giải với cộng đoàn.

Trước đây, người ta đơn giản chỉ mong sao được trở nên người ngay thẳng và cuộc sống làm sao được tương đối bảo đảm. Thế là đủ. Có một thời để dọn đất, một thời để gieo hạt và một thời để thu hoạch. Còn chuyện phải sống ra sao, thì đã có Kinh Thánh hướng dẫn. Ngày nay, mọi việc xem ra rắc rối hơn nhiều. Sợi chỉ đỏ của một cuộc đời, cái hoạ đồ sống khả dĩ làm nên cái gọi là bản sắc con người, càng ngày xem ra càng khó thấy, khó tạo.

Phải công nhận cuộc sống xã hội phức tạp ngày nay đã trở nên phức tạp hơn. Dù vậy, ta không nên quá thiển cận để phủ nhận sự hiện hữu của những hằng số. Chúng ta đã suy niệm về mười giới răn. Mỗi thế hệ và mỗi cá nhân phải khai thác từ gia tài đó một cách mới mẻ cho mình, nhưng dù vậy, chúng chứa đựng một thông điệp rõ ràng và không thể lẫn lộn được.

Có lẽ cần nhắc lại, lúc này đây Ki-tô giáo không phải đang chìm vào một thể vô hình và chẳng còn gì để nói nữa. Chính Ki-tô giáo có một chu vi đủ lớn, để có đủ chỗ cho cái độc đáo phát triển – và đồng thời nó cũng có thể đặt ra chuẩn mực cho cái độc đáo kia, nhờ đó mà sự phát triển có thể diễn ra. Chính vì đang ở trong một thế giới phức tạp và rắc rối mà ta càng nên và càng được phép dựa vào những hằng số lớn của lời Chúa, để tiếp tục tìm ra sợi chỉ đỏ. Bởi vì nếu ta không làm chuyện này, thì khả năng sáng tạo của cá nhân, trên thực tế, sẽ chóng trở thành một bản sao chỉ còn biết tuân phục những chuẩn mực chung, chỉ còn biết làm theo những gì thời thượng và những gì nó có thể làm mà thôi.

Nếu ta bỏ đi thông điệp đặc biệt của đức tin, ta sẽ không trở nên độc đáo hơn, mà trái lại, tùy theo mốt thời gian, ta chỉ càng ngày càng rơi vào đồng phục. Chúng ta đã chứng kiến rất rõ tiến trình đồng phục này trong cái đồng dạng của nếp sống tân tiến ngày nay. Vì thế, tôi tin rằng, nay là lúc hơn bao giờ hết, ta cần phải coi các hằng số của mạc khải và đức tin luôn vẫn là bảng chỉ đường, nó giúp tôi những điểm mốc để đi lên, và tặng tôi ánh sáng để có thể triển nở ơn gọi riêng của mình.

NGUYÊN TĂC CỦA ĐỨC GIÊ-SU

 Đức Giê-su luôn muốn chỉ cho con người đường ngay nẻo chính; Ngài muốn chỉ ra những điểm mốc để họ theo đó mà thành người, như Hồng Y nói. Một lần Ngài đi lên núi, và bài giảng trên núi đó coi như đã mở ra một chương mới. Bài giảng hẳn đã có tác động mạnh vào thời đó, vì Kinh Thánh chép rằng: “Khi  Đức Giê-su giảng xong, đám đông rất xúc động; bởi vì Ngài dạy họ như thể là một người được Thiên Chúa uỷ quyền, chứ không phải như những luật sĩ của họ”.

Ngọn núi nơi Ngài giảng chắc chắn có một ý nghĩa tượng trưng. Ở đây  Đức Giê-su hiện thân như một Mai-sen mới. Và thay vì núi Si-nai thì giờ đây là ngọn núi chỉ đường mới, núi của các mối phúc. Thoạt tiên, Ngài dựa vào cấu trúc một cuộc đối thoại, nhưng đồng thời đã đào sâu, làm mới và đưa vào bài giảng một chiều rộng mới, một đòi hỏi mới. Thêm nữa, Ngài còn mở ra một cấp độ nhân bản mới, qua đó con người có thể nối kết được với Thiên Chúa.

 Đức Giê-su tuyên bố công khai: “Những lời dạy không phải là của tôi, nhưng của Đấng đã sai tôi. Ai thực hành ý Thiên Chúa, người đó sẽ nhận ra được những lời đó là do tự tôi nói ra hay là lời dạy của Thiên Chúa”.

Không những Ngài tự coi ngang hàng với Mai-sen, hẳn điều này đã khiến người nghe không dễ chấp nhận rồi, mà còn ngang hàng với kẻ ra luật, là chính Thiên Chúa.  Đức Giê-su giảng dạy qua sự uỷ nhiệm của Thiên Chúa. Ngài nói: “Quý vị đã được nói cho hay” có nghĩa là “Thiên Chúa đã nói cho quý vị hay”, rồi tiếp: “Còn tôi, tôi nói cho quý vị hay”. Như vậy, nhìn từ nhiều mặt, bài giảng trên núi nói lên cách mạnh mẽ nhất tư cách Thiên Chúa của Đức Ki-tô; Ngài muốn cho thấy rằng, giờ đây không phải do trung gian con người nữa, nhưng là do chính Thiên Chúa, mà lề luật cựu ước có được những diễn giải sâu xa nhất và có được giá trị phổ quát.

Người nghe cảm được điều đó. Và họ cũng cảm được rất mạnh cái gọi là ý nghĩa đôi của bài giảng. Họ hiểu rằng, thông điệp đó một mặt chứa đựng một tinh thần mới, một nét trưởng thành mới và sự nhân hậu, một giải thoát mới đưa ta ra khỏi cái hời hợt và bề ngoài, nhưng mặt khác, nó cũng là một đòi hỏi mới. Và đòi hỏi này quá lớn đến độ có thể đè bẹp con người, nếu như họ bị bỏ mặc một mình.

Nếu giờ đây thay vì nói: ngươi không được xé bỏ hôn ước, mà lại nói, ngươi không được nhìn đàn bà với lòng ham muốn. Thay vì: ngươi không được giết người, mà lại nói, ngươi không được nổi giận về một người nào; thay vì: mắt đền mắt, răng đền răng thì chưa đủ, mà trái lại, ai vả má phải thì hãy đưa thêm má trái cho họ - thì lúc đó ta sẽ đứng trước một đòi hỏi rất đặc biệt, đòi hỏi này có thể tạo nên sự thán phục đấy, nhưng đồng thời nó lại xem ra quá sức đối với con người. Ít nhất, nó sẽ quá sức đối với những ai đã không bước đi cùng với  Đức Giê-su Ki-tô và đã không đặt toàn bộ đòi hỏi đó như là hệ quả của cuộc gặp gỡ giữa họ với Chúa. Quả thật, chúng ta thấy sự uỷ quyền của Thiên Chúa trong đòi hỏi đó.  Đức Giê-su chẳng phải là một trong những sứ giả của Thiên Chúa. Nhưng Ngài là đấng Tối hậu, và chính Thiên Chúa đã dùng miệng Ngài để phát biểu.

Đoạn Tin Mừng Gio-an mà anh vừa đề cập một lần nữa đã tóm tắt toàn bộ những điều trên đây vào một công thức. Công thức đó muốn nói với ta: Bạn phải thử sống, và khi bạn sống lời tôi, bạn sẽ thấy là bạn đang bước đi trên đường đúng.

Bài giảng trên núi không nhất thiết phù hợp với những suy nghĩ thông thường. Nó còn phản lại định nghĩa của ta về hạnh phúc, về giá trị, về quyền lực, về thành công hoặc công lí. Rõ ràng  Đức Giê-su có những phạm trù khác. Vào cuối bài giảng Ngài còn tóm tắt cho người nghe biết cái gì thật sự quan trọng, có thể nói đây là một lề luật của các lề luật, đây là luật vàng của cuộc sống: “Như vậy, tất cả những gì các ngươi mong kẻ khác làm cho mình, thì cũng hãy làm cho họ! Lề luật và các tiên tri là đó”.

Luật vàng đã có từ trước thời Đức Ki-tô rồi, nhưng nó được diễn tả một cách phủ định: “Cái gì ngươi không muốn người khác làm cho mình, thì cũng đừng làm cho kẻ khác”.  Đức Giê-su đã chuyển nó lên thành thể xác định, thể này dĩ nhiên mang yêu sách cao hơn. Ngài nói, những gì ngươi muốn người khác làm cho mình, thì cũng hãy làm cho họ. Đó có thể nói là một thách đố cho trý tưởng tượng sáng tạo của tình yêu. Như vậy, luật vàng trở thành Luật Tự do; thư thánh Gia-cô-bê đã tóm tắt bài giảng trên núi, mà cũng là tóm tắt toàn bộ thông điệp của  Đức Giê-su, như thế. Sở dĩ gọi Luật Tự do là vì thông điệp đó rốt cuộc đã mở ra một không gian lớn vô tận, trong đó lực sáng tạo của sự thiện có thể triển nở.

Tôi tin cái tuyệt vời ở đây là người ta không còn phải hỏi: ai đã làm gì cho ai khi nào ra sao, không còn phải bận rộn với những cái khác biệt. Mà trái lại, người ta thấy được cái gì cơ bản đã được uỷ thác cho mình, đó là: hãy mở mắt ra, mở lòng ra và tìm ra những phương cách thực thi cái thiện. Không còn chuyện hỏi mình mong gì, mà vấn đề là làm cho người khác những gì mình mong. Và cái cho- mình- đi thật sự đó với tất cả trý tưởng tượng sáng tạo của nó, với tất cả những khả thể mà cá nhân có thể có, đã được tóm lại trong một quy luật hoàn toàn thực tế, chứ không còn chỉ là một giấc mơ lý tưởng nào nữa.

Bài giảng khởi đầu với những lời chúc phúc. Lạ thật, có chín lời chúc tất cả. Số chín cũng là con số các thiên thần, bởi vì thế giới của thiên thần được chia ra chín tầng. Số đó cũng là biểu tượng của sự hoàn thiện.

Những câu chúc phúc quả đặc biệt, vì chúng vượt ra ngoài rất xa chuẩn mực của ta. Không phải những kẻ giàu, mà là kẻ nghèo, được chúc phúc – có sự khác biệt giữa phúc và hạnh phúc; và không phải những ai không đau khổ mới được phúc, nhưng là những kẻ khổ đau. Bản văn cũng đề cập tới nỗi khao khát công chính, tới việc cần có quả tim tinh tuyền, và nhiều điều khác nữa.

Trong một thông điệp, giáo chủ Gio-an Phao-lô II nói rằng, bản chúc phúc thật ra là bản tự thuật tiểu sử kín đáo của  Đức Giê-su. Chúng ta nhận ra từng lời chúc thể hiện thực sự trong con người Ngài. Ngài là kẻ nghèo trong Thánh Thần. Là người xuất thân từ hạng nghèo hèn. Là kẻ nỗ lực tìm công lí cho người khác. Là kẻ tạo hoà bình. Là người chịu đau khổ vì sự thật. Tôi tin rằng, ta chỉ hiểu đúng các lời chúc, một khi ta hiểu chúng từ con người Đức Ki-tô. Ngài đã sống những lời chúc đó, và qua Ngài mà chúng cũng đã trở thành những bảng dẫn đường cho ta. Dĩ nhiên, trên con đường Ngài chỉ, mỗi người đi theo một ơn gọi khác nhau, mỗi người có một thứ tự ưu tiên khác nhau. Quan trọng là ta đọc những ơn gọi đó qua hình tượng Đức Ki-tô, và rồi cũng theo Ngài sống ơn gọi đó.

Có thể nói được rằng mỗi lời chúc là chìa khoá đi vào một bí mật đặc biệt?

Vâng, có điều là ta không nên hiểu nó theo nghĩa huyền bí. Đó là chìa khoá đi vào cuộc sống, và rồi những cánh cửa bí mật sẽ đương nhiên mở ra, những bí mật mà trước đó ta không rõ. Đây không hẳn là một sự khai sáng dưới dạng huyền bí hay một giải toả bí mật. Nhưng đúng hơn, đó là một cái nhìn vào cuộc đời, và mỗi một bước song hành đi vào cuộc đời đó cũng sẽ mở ra cánh cửa hiểu và biết.

NHỮNG LO LẮNG ĐÚNG CHỖ VÀ KHÔNG ĐÚNG CHỖ

Ta hãy đi vào một vài “quy chế thực hành” của bài giảng. Trong đó có nói tới những âu lo đúng chỗ và những âu lo không đúng chỗ.  Đức Giê-su nói, ta không nên lo cơm ăn áo mặc, bởi chưng cuộc sống quan trọng hơn cơm áo. Chỉ những dân ngoại mới lo các thứ đó. Cha trên trời đã biết con mình cần những thứ gì rồi. Ngài khuyên: ” Hãy xem chim trời, chúng không gieo gặt và lượm lặt của ăn vào kho lẫm; Cha trên trời nuôi chúng. Anh chị em không giá trị nhiều hơn chúng sao?”

Nghe hay thật, nhưng cứ theo lời đó, rồi thì chỉ biết gặm cỏ thay cơm.

Trong một thế giới được xây dựng hướng về tương lai và luôn phải lo làm sao cho mình mỗi ngày được tốt đẹp hơn, thì hiển nhiên chẳng ai hiểu được ý nghĩa của câu trên. Tôi nghĩ, ta phải đọc thật kĩ bản văn. Rồi sẽ tìm thấy chìa khoá trong đó.  Đức Giê-su cũng từng nói: Trước hết hãy tìm nước Thiên Chúa, rồi anh chị em sẽ nhận được thêm điều khác. Điều đó có nghĩa là có một thứ tự ưu tiên. Nếu ta bỏ ra ngoài ưu tiên về sự hiện hữu của Chúa trong thế giới, thì nhiều chuyện ta làm, dù hữu ích, có thể một cách nào đó rồi cũng sẽ đổ vỡ trong tầm tay. Và ta cũng sẽ nhận ra còn thiếu một cái gì đó. Các nỗ lực cải tiến kĩ thuật của thế giới có làm giảm đi nhiều gánh nặng đấy, nhưng trên một số phương diện chúng đồng thời làm cho cuộc sống nặng nề và đen tối hơn.

Tôi tin rằng phải đặt việc tìm nước Thiên Chúa lên hàng ưu tiên. Đó phải là âu lo nền tảng. Và rồi từ trong nước Chúa, âu lo này sẽ cấu trúc các âu lo khác. Hiển nhiên điều này không dễ đối với ta. Ta còn phải lo cho ngày mai, phải lo làm sao thế giới tiếp tục đi đúng hướng. Tuy nhiên, những âu lo đó sẽ giảm bớt và nhẹ gánh, nếu chúng ta gắn chúng vào cái ưu tiên kia. Và ngược lại, nếu con người hoàn toàn không còn thấy gì trong ưu tiên kia nữa, thì các âu lo sẽ làm họ hao mòn và rồi nuốt trửng họ.

XÉT ĐOÁN

Một lần, từ trên núi, Đức Ki-tô nói: “Đừng xét đoán, kẻo bị xét đoán! Bởi anh chị em xét đoán thế nào, thì cũng bị xét đoán như vậy, và sẽ bị xét xử theo tiêu chuẩn mà anh chị em đã dùng để xét xử kẻ khác”. Nghe thì dễ thật. Nhưng cả xét đoán nữa mình cũng không buộc phải làm?

Đúng vậy. Theo Mát-thêu câu 18, chính  Đức Giê-su đã đưa ra một quy chế cộng đoàn, khi Ngài bảo rằng, trước hết, ta nên cảnh cáo nhau giữa hai người mặt đối mặt, sau đó mới đưa ra tập thể lớn hơn, và cứ thế đi lên. Trật tự và luật pháp cần cho con người. Nhưng ở đây, vấn đề nằm trên một bình diện khác, đó là ta không làm như kiểu toà án thế gian, nghĩa là ta phải giữ bí mật của người khác trong khi kết án họ. Cả khi vì kỉ luật mà toà phải kết án – dĩ nhiên chẳng bao giờ kết án một con người, nhưng là kết án một hành động nào đó, và án này là câu trả lời cho hành động đó -, thì ta cũng phải giữ bí mật, vì đó là cái gì riêng tư, chỉ có Chúa mới có quyền phán xét nó mà thôi.

Đoạn thứ hai câu trên nhắc ta phải coi chừng, vì ta cũng sẽ bị xét xử theo tiêu chuẩn mình đã áp dụng cho người khác. Như vậy, nó cảnh cáo ta phải có tiêu chuẩn đúng, giới hạn đúng và phải có lòng kính trọng đúng đắn đối với người khác. Như thế,  Đức Giê-su đã ra cho ta một tiêu chuẩn nội tại áp dụng cho tình thế buộc phải xét xử. Tiêu chuẩn đó là việc công nhận quyền quyết định tối hậu của Chúa.

HAI CON ĐƯỜNG

 Đức Giê-su nói: “Hãy đi qua cửa hẹp! Vì cửa rộng đưa tới hư hỏng, và vì cửa đó rộng nên nhiều người bước vào. Song cửa dẫn vào sự sống thì hẹp, và vì cửa đó hẹp nên ít người tìm ra nó”.

Có lẽ vì vậy mà người ta cho rằng hoả ngục đầy người, trong khi thiên đàng vắng tanh. Hẳn nhiên, đây không có nghĩa như thế. Nhưng chỗ khác Chúa cũng nói – một lần nữa nên nhớ luôn cần phải đọc lời Chúa trong toàn văn –, là nhiều người từ đông sang tây sẽ đến, và họ sẽ ngồi vào bàn chung với Ab-ra-ham, I-sa-ac, Gia-cóp. Sách Khải-huyền vẽ cho ta thấy trước cảnh đoàn lũ người quây quần bên ngai con chiên. Đây quả là một lời cảnh cáo thực tiễn: Nếu ta làm theo những gì người khác và thiên hạ làm, nếu ta chọn con đường rộng, nghĩa là con đường dễ dãi, lúc này đây xem ra quả dễ chịu hơn, thì như vậy là ta đang xa rời con đường thật. Câu trên muốn nói rằng, con đường hẹp và khó khăn cũng như cánh cửa hẹp mà ta cố ép mình bước qua chính là quyết định đúng.

Ở đây, ta có một hình ảnh đượm màu quyết liệt đông phương, nói lên nguyên tắc nền tảng cho việc xử trí hàng ngày. Nếu cứ để thả mặc, cứ buông trôi theo giòng rồi chìm đi trong đám đông, thì rốt cuộc mình sẽ luôn lặn ngụp trong đám đông đó, và kết cuộc sẽ kết thúc trong trống rỗng. Chính sự can đảm đi lên, can đảm chấp nhận khó nhọc sẽ đưa ta vào con đường đúng.

CÁC TIÊN TRI GIẢ

Đức Ki-tô nói: “Hãy coi chừng các tiên tri giả; họ tới với anh chị em như những con cừu (ngoan), nhưng thật ra là những chú sói dữ. Cứ nhìn vào kết quả tất sẽ nhận ra được họ. Có thế nào thu hoạch được nho từ bụi gai hay được vả từ cỏ gai? Cây tốt sinh trái tốt, cây xấu sinh trái xấu”. Nghe như một mệnh lệnh chống lại các giáo phái hoặc bè rối.

Cũng có thể như vậy. Trước hết, đó cũng là một quy luật đơn giản. Đó chính là thời của những triết gia lang thang, những lang băm, những nhà cứu tinh. Họ ai nấy đều hứa hẹn cứu khổ và vẽ ra con đường đúng, họ muốn làm đẹp con người, và xem ra muốn mang lại điều tốt cũng như điều đúng đắn, nhưng thật ra thường chỉ vì tư lợi. Họ là sói dữ, phá hoại.

 Đức Giê-su cảnh cáo ta trước những “lang băm cứu độ” đó. Ngài chỉ ra tiêu chuẩn để nhận định: Hãy xem chính các lang băm đó sống như thế nào? Họ thật sự là ai? Đâu là hoa trái họ tạo ra nơi họ và chung quanh họ? Cứ nhìn vào họ tất sẽ biết sự thật ra sao. Tiêu chuẩn thực dụng thời đó cũng đúng cho lịch sử ngày nay. Hãy nghĩ tới các nhà thuyết giảng cứu độ trong thế kỷvừa qua, từ Hitler cho tới các tay tổ cộng sản, họ xuất hiện và nói, đây là lúc chúng tôi mang tới cho các bạn điều thật sự đúng. Trong một cái nhìn nào đó, họ xuất hiện như những chú cừu ngoan, nhưng rốt cuộc là những tay phá hoại có tầm cỡ.

Nhưng không chỉ những tay tổ đó, mà cả những nhà thuyết giảng nhỏ, những tiên tri giả nữa. Họ mách với người ta là họ nắm chìa khoá trong tay, cứ việc làm theo, thì rồi bạn sẽ thành đạt nhanh, giàu nhanh, sẽ có ngay hạnh phúc.  Đức Giê-su yêu cầu ta phải biết phân biệt, phải coi chừng những lời hứa hẹn đó. Đừng để bị rơi vào tròng, nhưng hãy giữ đầu óc tỉnh táo, sáng suốt, đừng để rơi vào những phong trào xem ra tốt đẹp, nhưng rốt cuộc chỉ là trống rỗng hoặc phá hoại. Nhất là Ngài muốn chúng ta luôn phải tự hỏi, đâu là hằng số của lời Chúa, đâu là hoa trái thật.

Lời khuyên kia cũng đúng cho các phong trào trong Giáo Hội?

Hoa trái luôn là tiêu chuẩn để nhận định. Trong Giáo Hội, ta phải  để ý xem có phải người đó chỉ muốn rao giảng về họ, chỉ muốn ép ta theo quan điểm của họ mà thôi hay không. Hay họ là người khiêm nhu, muốn phục vụ đức tin của Giáo Hội, muốn trở thành kẻ phục vụ lợi ích chung, phục vụ lời Chúa.

Bài giảng trên núi còn có nhiều lời khuyên thiết thực khác. Tôi muốn nêu lên đây câu cuối cùng của bài giảng.  Đức Giê-su nói điều sau đây thật khó hiểu và lại càng khó theo: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những ai bách hại mình”. Và thêm, Thiên Chúa để cho “mặt trời chiếu sáng trên kẻ xấu và người lành, và Ngài để mưa xuống trên người công chính cũng như trên kẻ bất lương”.

Yêu kẻ thù quả thật là một bước mới và lớn. Ở đây, chẳng còn chuyện trả thù nữa. Ta cần nhìn ra khía cạnh người nơi kẻ thù, nhìn ra nơi họ khía cạnh thụ tạo của Chúa. Điều này không có nghĩa là khoanh tay mặc cho sự dữ tới với mình. Nhưng ta phải biết kính trọng con người trong chính hành động của mình. Nghĩa là cố gắng làm điều tốt cho cả kẻ thù, cố gắng đưa họ về đàng lành, rốt cuộc đưa họ hướng về Đức Ki-tô. Trong ý nghĩa đó, cầu nguyện cho họ vốn là một việc làm nền tảng, đó là một cách làm tốt cho họ. Khi ta muốn điều tích cực cho kẻ thù trước mặt Chúa, khi ta cố gắng cầu cho họ không còn là kẻ thù nữa, nhưng cho họ được thoát ra khỏi tư thế thù địch, thì lúc đó ta đã thay đổi từ thâm tâm cái nhìn về họ.

Trong thời cổ, người ta đã nói đến một Thiên Chúa độ lượng, Ngài muốn phân phát cho ngay cả kẻ xấu những món quà của tạo dựng. Nhưng thời đó người ta dùng hình ảnh này để nói lên phần nào sự dửng dưng của Thiên Chúa trước chuyện thiện ác. Và  Đức Giê-su đã nâng nó lên một bình diện khác, khi Ngài qua đó chỉ ra lòng tốt hải hà của Thiên Chúa là đấng muốn đưa mọi người vào đường thiện, muốn trao cho họ những cơ hội, muốn chăm sóc họ bằng điều tốt lành. Và cả khi Thiên Chúa có thể nói là trừng phạt ta đi nữa, thì Ngài cũng chỉ muốn cho ta trở nên quan tâm lắng nghe. Là Tạo hoá, Ngài không thể làm gì khác hơn là yêu thương những tạo vật của Ngài, và muốn cho chúng tìm ra con đường ngay lành. Mọi loại trả thù đều hoàn toàn xa lạ với suy nghĩ của Thiên Chúa.

Sau khi giảng dạy và khuyên răn, và người nghe dù đôi chút thấm mệt nhưng cũng cảm thấy hạnh phúc, vì hiểu rằng nguồn gốc và cùng đích cuộc đời mình không phải là thế gian này và cũng không dừng lại ở đây,  Đức Giê-su còn đưa ra bảo đảm cho những điều Ngài nói: “Ai nghe lời tôi dạy và làm theo, kẻ đó là người khôn, biết xây nhà trên đá”.

Còn những người khác xây nhà trên cát, và khi lũ lụt tới, chúng sẽ cuốn trôi tất cả. Nhà xây trên nền đá mới chắc chắn. Chỗ này cũng giống như đoạn phúc âm Gio-an mà ta đã nghe: Ai sống theo Tin Mừng, ai dám thử nghiệm theo nó, ai thật sự xây nhà trên lời Chúa, kẻ đó biết rằng mình đã chọn được một nền chắc chắn.

Tuy nhiên, ở đây còn có thêm một liên tưởng khác. Hình ảnh xây nhà trên đá làm ta nhớ đến lời Đức Ki-tô nói với Phê-rô, là Ngài sẽ xây nhà – Giáo Hội của Ngài – trên đá. Như thế, lời đó có thể đưa ta tới ý nghĩrằng ta không nên xây một mình. Ai chỉ muốn xây cuộc đời mình như là một chỗ trú ẩn riêng, thì người đó đã xa lìa nền đá. Xây dựng cuộc đời luôn có nghĩa là cùng xây. Cùng xây chung một căn nhà Chúa, dựa trên nền lời Ngài, và như vậy căn nhà sẽ chắc chắn tồn tại.

Có thể nói không cùng về cuộc đời, về chuyện nên nhìn đời ra sao, làm sao cho cuộc sống đơm hoa, được sống tự do, thoải mái và hứng thú. Nhà soạn kịch người Anh William Shakespeare, một tín đồ công giáo, đã sống cuộc đời ông hết mình. Tên các vở kịch của ông nghe ra như một bản lí lịch đầy biểu tượng, nào là “Ồn ào vô ích”, nào là “Chừng mực” cho tới “Kết cuộc tốt là mọi chuyện tốt”. Là nhà giáo dục giỏi, ông cuối cùng đã đưa ra một lời khuyên, xem ra như đây là kết tinh mọi nhận thức trần thế của ông: “Buy terms divine in selling hours of dross”, “Hãy mua lấy thời giờ của Chúa bằng cách bán đi những giờ u tối trần gian”.

Đó là một lời khôn ngoan mà người ta có thể chờ đợi nơi một nhân vật lớn. Thời giờ đã được sử dụng một cách tốt nhất là thời giờ đã biến thành cái tồn tại; là thời giờ ta nhận được từ Chúa và trả lại cho Ngài. Còn thời giờ không dính dáng gì tới Chúa chỉ là thứ thời gian vô bổ và chóng qua.

VÔ THẦN LÀ GÌ ?

Không nhận diện thật chính xác, thì không thể chống lại vô thần đang đầy dẫy ở mọi lãnh vực, phạm trù từ tinh thần đến vật chất, để bảo vệ chính bản thân, chứ đừng mong hướng dẫn, bảo vệ những người mình có trách nhiệm. Cuốn THIÊN CHÚA của tác giả Manfred Lutz, do Phạm Hồng Lam dịch, giúp chúng ta trả lời khá sâu sắc các vấn đề liên quan đến vô thần.

Vô thần, theo nghĩa chung chung ngày nay, là phủ nhận có sự hiện hữu của một Đấng tạo dựng trời đất toàn năng, vị này tiếp tục giữ gìn tạo vật trong tay, và đến “ngày sau cùng” sẽ phán xét con người, tách biệt người lành kẻ dữ, người lành sẽ được thưởng phúc thiên đàng, kẻ dữ bị luận phạt hoả ngục. Đi ngược trở lại lịch sử của ý niệmnày, ta thấy lắm hiện tượng khá rối trí. Vì không chịu thờ thần linh nhà nước và thờ hoàng đế thiên tử, các ki-tô hữu xưa bị coi là vô thần. Cả Sokrates cũng phải chết vì tội vô thần, vì ông dám coi đám thần linh lúc nhúc trong bầu trời Hi-lạp chẳng ra gì, và, với suy nghĩ của một triết gia, ông đã lên đường tìm về một Thiên Chúa duy nhất.

Nếu lấy ý niệmThiên Chúa theo lối hiểu Ki-tô giáo ngày nay để thăm dò cổ thời nhân loại, ta sẽ thấy đầy dẫy “Vô thần”. Bởi vì làm sao người thời đó hiểu được Thiên Chúa như ta hiểu ngày nay? Mặt khác, toàn bộ lịch sử nhân loại lại đầy dẫy những niềm tin muôn màu vào thần linh và vào Thiên Chúa. Vì vậy, phải cẩn thận, đừng để rơi vào chủ nghĩa đế quốc tinh thần do những mánh khoé lạm dụng ý niệmtạo ra, và qua đó kéo dãn vương quốc vô thần hay vương quốc niềm tin Thiên Chúa ra quá rộng một cách không thích đáng. Dù sao, ý niệmVô thần khá mơ hồ, và có lẽ nó càng rõ nghĩa hơn, khi ta càng tiến gần vào thời Hiện đại.

Nhưng thời nay cũng không dễ có được những đối lập đơn giản. Nhà thần học Karl Rahner gọi thái độ của những người tự coi là vô thần, nhưng sống một cuộc sống như có Thiên Chúa, là “vô thần vì kính trọng Thiên Chúa”. Họ chấp nhận thà là “vô thần”, còn hơn phải sống với một thứ Thiên Chúa bề ngoài của mấy ông bà “đạo đức” môi miệng. Thiên Chúa này không hợp với kinh nghiệm tôn giáo bề sâu của họ.

Vì thế, ta vẫn phải chấp nhận phần nào tính mơ hồ của ý niệmVô thần, nhất là để khỏi phải loại trừ ra bất cứ hiện tượng quan trọng nào. Sử gia người Pháp Georges Minois cũng công nhận như thế. Năm 2000 Georges Minois cho phát hành cuốn sách nổi tiếng của ông, ấn bản tiếng Đức 700 trang Lịch Sử Vô Thần Từ Khởi Thuỷ Tới Hiện Nay, cuốn sách thật đầy đủ và hấp dẫn, đúng là chỉ có sử gia Pháp mới viết được những cuốn như thế. Sách ông đã giúp tôi viết chương này. Minois có cảm tình với quan điểm vô thần, dù vậy, ông đã không đứng về một phía nào khi viết, và sách ông nói chung đã thành công nhờ thái độ khách quan đó.

Ông phân biệt ra Vô thần thực hành và Vô thần lí thuyết. Người vô thần thực hành sống như không có Thiên Chúa, dù họ có bảo mình tin gì đi nữa. Ngay chính trong những thời hoàng kim của Ki-tô giáo, thái độ sống này cũng rất phổ biến nơi các tầng lớp dân chúng. Người vô thần lí thuyết tuyên xưng rõ ràng sự Vô thần của mình và thường đưa ra những biện minh cho quan điểm mình.

Minois nói nhiều tới loại Vô thần phản kháng, nghĩa là loại người chống lại quan điểm đức tin nhiều ít cứng nhắc trong những giai đoạn nào đó. Thái độ này được coi là ngang ngạnh, can đảm hay cũng chỉ là một thứ tình cảm quá độ. Và như thế, tùy theo mỗi giai đoạn, Vô thần mang những nét hoàn toàn khác nhau.

5. MẸ THIÊN CHÚA

Lịch sử công nguyên khởi đầu với một phụ nữ. Tin Mừng kể “Và thiên thần Chúa đã mang tới cho Maria một sứ điệp”. Đó là một cô gái từ chốn hẻo lánh không ai biết tới Na-da-ret, và cô chẳng hiểu chuyện gì sẽ xẩy đến cho mình.

Người ta chỉ nhận ra được tầm vóc lớn lao của biến cố đó qua dòng thời gian. Trước hết là sự xuất hiện của thiên sứ, vị này đột ngột trao cho Maria một sứ điệp bất thường: Cô đầy ơn phúc, cô đã được chọn để làm mẹ Thiên Chúa. Hẳn lúc đó Maria hốt hoảng.

Một con người làm mẹ Thiên Chúa!

Quả là một mâu thuẫn lớn. Thiên Chúa trở nên bé nhỏ. Ngài trở thành người, như vậy cũng mặc lấy điều kiện đầu thai và sinh ra của con người. Ngài có một người mẹ, và bằng cách đó, Ngài đã thật sự được dệt vào tấm thảm của lịch sử loài người, đến nỗi một phụ nữ đã có thể thật sự nói được với đứa con mình sinh ra: Chúa tể trần gian ở trong con.

Người ta đã tranh cãi nhau rất lâu về chữ Mẹ Thiên Chúa. Nhóm Nestorius* bảo Mẹ không sinh ra Thiên Chúa, mà chỉ sinh ra một con người Giê-su mà thôi. Như vậy, ngài là mẹ của Đức Ki-tô, nhưng không thể gọi là mẹ Thiên Chúa được. Câu hỏi căn bản là sự hoà quyện hai bản tính thiên chúa và con người trong  Đức Giê-su Ki-tô sâu xa tới đâu, tới độ nào để có thể nói được đứa trẻ sinh ra đó là Chúa, và như vậy Maria là mẹ Thiên Chúa. Mẹ Thiên Chúa không phải trong ý nghĩa Mẹ là người sinh ra Thiên Chúa. Nhưng trong nghĩa Mẹ đã sinh ra một con người, và con người đó hoàn toàn kết hiệp làm một với Thiên Chúa. Với cách đó, mẹ Maria đã hoàn toàn kết hiệp một cách lạ lùng với Thiên Chúa.

Maria được kính thờ như Nữ vương thiên đình, như Nguyên ảnh của Giáo Hội, hay cũng như Mẹ của lòng nhân ái. Lực toả sáng của người nữ đó, đấng vẫn luôn dấy động tâm can hàng triệu con người, không thể nào đong đo bằng tiêu chuẩn thường tình được.

Trong lịch sử, biến cố mẹ Maria càng ngày cũng được hiểu như là nét vẻ vang của phụ nữ. Bản chất nguyên thuỷ của phụ nữ được biểu hiện nơi Maria, ngài là hiện thân sự tinh tuyền của nhân loại và Giáo Hội. Và trong khi Eva - người phụ nữ đầu tiên và là “nguyên mẫu”, như người ta vẫn nói, và là người mẹ của mọi loài sống động - được sinh ra trên căn bản để chết, thì Maria – nhờ sinh ra đấng cứu thế, đấng đã phục sinh và mang lại sự sống – thật sự được coi như là sự thể hiện tinh tuyền hai yếu tố hàm chứa trong chữ Eva, đó là niềm hứa hẹn và khả năng sinh sản của người nữ. Maria trở thành mẹ của sự sống, của những gì trao ban sự sống và của mọi loài sống động.

KÍNH CHÀO ĐỨC MARIA

Lời chào của thiên sứ đã trở thành một lời kinh nền tảng của Giáo Hội công giáo. Một vài thiên tài lớn nhất của nhân loại như Mozart*, Rossini* và những người khác, đã dệt Ave Maria thành nhạc: “Kính chào Maria, đầy ơn phúc! Thiên Chúa ở cùng cô. Cô là người trong những người nữ được chúc phúc. Và Giê-su, con trong lòng cô cũng được chúc phúc”. Và thiên sứ còn nói: “Cô đừng sợ”. Và Maria đã trả lời thế nào?

“Này tôi là tôi tớ của Thiên Chúa”. Vâng, ngài đã học được cách chẳng sợ. Bởi vì như ta thấy trong dọc dài Kinh Thánh, bất luận nơi mục đồng hay nơi các tông đồ: Mỗi khi con người khám phá ra mình ở gần Thiên Chúa là họ cảm thấy sợ hãi. Họ nhận ra sự bé bỏng của mình và giật mình trước vinh quang và thánh thiêng kì vĩ của Thiên Chúa, bởi họ thấy mình không thể nào sánh nổi. Đây là một trong những chỗ đầu tiên trong Tân Ước xuất hiện chữ “Đừng sợ”. Thiên Chúa không đến để gây sợ hãi nơi ta, nhưng Ngài trở nên bé nhỏ trong sự lớn lao của mình, Ngài cởi bỏ đi nét gây sợ, bởi Ngài tới để đem ơn cứu độ.

Giáo chủ Gio-an Phao-lô II đã nhắc lại câu “Đừng sợ, anh chị em đừng sợ Chúa Ki-tô” trong bài diễn văn đầu tiên ngày nhận chức. Tôi muốn nói rằng, giờ đây cả hoàn vũ Ki-tô giáo nên để cho lời đó luôn thấm nhập mình. Chúng ta không cần phải sợ Chúa, không sợ Ngài sẽ lấy mất gì của mình hay đe doạ mình, nhưng Ngài đến để đem chở che, giúp ta thắng vượt cả sự chết.

Kinh Kính mừng của Giáo Hội gồm hai phần. Phần đầu là lời chào của thiên thần, phần sau là lời Ê-li-sa-bét thốt lên khi Maria tới thăm mình: “Con trong lòng em cũng được chúc phúc”. Và Ê-li-sa-bét tiếp: “Em là người có phúc hơn mọi người nữ”. Với câu này, Ê-li-sa-bét cũng đã tiên đoán về sự tôn kính Maria. Thánh Thần đã giúp bà tiên tri nói lên điều đó. Nói cách khác: Ki-tô hữu cũng sẽ ca ngợi Thiên Chúa, bằng cách họ vui mừng chào đón những con người, mà qua đó Chúa tỏ cho thấy sự lớn lao và lòng tốt của Ngài.

Mẹ Maria có ý nghĩa nào đối với cá nhân ngài?

Ngài tượng trưng cho sự gần gũi với Thiên Chúa. Nhờ ngài, ta mới hiểu ra việc nhập thể. Tôi rất cảm động việc Con Thiên Chúa có một người mẹ, và người mẹ đó được tất cả chúng ta tín thác. Lời đấng bị đóng đinh trao mẹ mình lại cho Gio-an đã từ giây phút đó đi vào suốt chiều dài lịch sử. Nhờ lời trối trăn đó mà khi cầu nguyện cùng Mẹ, ta có được niềm tin tưởng đặc biệt, cảm thấy được gần gũi và nhất là có được quan hệ với Chúa. Cá nhân tôi trước đây bám chặt vào phong trào phụng vụ duy ki-tô, quan điểm đó càng được đẩy mạnh qua việc đối thoại với các bạn tin lành. Nhưng càng ngày, qua việc sùng kính Maria với các ngày lễ của Mẹ, các buổi chầu tháng năm, các chuỗi mân côi tháng mười, Mẹ càng có ý nghĩa đối với tôi. Và càng về già, tôi càng cảm thấy gần Mẹ Thiên Chúa hơn.

Các Tin Mừng ít đề cập tới Maria. Ngài hoàn toàn vắng mặt trong những giai đoạn cuộc đời quan trọng của  Đức Giê-su, hoặc nếu có, thì cũng xuất hiện dưới dáng tiêu cực hoặc chẳng phải là một người mẹ đáng yêu.

Đúng là truyền thống tin mừng không quan tâm gì tới Maria. Mẹ hầu như chẳng có vai trò gì trong Mát-thêu. Trong Mát-thêu, thời niên thiếu của  Đức Giê-su gắn liền với cha Giu-se. Lúc này đây tôi có thể nói, rõ ràng người ta đã muốn tránh nói tới Mẹ, bao lâu Mẹ còn sống. Và cả chính Mẹ cũng muốn giữ kín đáo.

 Đức Giê-su kiến tạo một gia đình mới, và ở đâu người ta ca tụng bà mẹ nào đã cưu mang Ngài và vú nào đã cho Ngài bú, thì Ngài liền sửa ngay cái hình ảnh lúc đó về quan hệ gia đình. Đối với Ngài, quan trọng là: “Phúc thay những ai nghe và tuân giữ lời Chúa”. Đó là tính chất mới về gia đình và về người mẹ. Ngài diễn tả như vầy: Ai làm theo í của tôi, là anh em, mẹ, chị em tôi. Như vậy, Ngài nâng khái niệm gia đình mà con người vẫn hiểu lên thành một loại gia đình lớn mới, gia đình cộng đoàn trong í muốn Thiên Chúa, và đó là điểm quan trọng. Lu-ca cho ta hay về chuyện cải chính trên, nhưng ngài đã nối sự việc đó một cách văn hoa với cuộc đời niên thiếu của  Đức Giê-su và với câu chuyện gặp gỡ bà Ê-li-sa-bet. Trong Lu-ca, Maria xuất hiện không những như một người mẹ xác phàm, mà cả như một người lắng nghe, một kẻ tin, một kẻ đứng trong cộng đoàn của Chúa. Theo Lu-ca, Mẹ là điển hình của những ai lắng nghe và tuân giữ lời Chúa.

 Đức Giê-su có nhiều tình cảm và gần gũi hơn với những phụ nữ khác. Còn đối với mẹ mình thì Ngài nhiều khi tỏ ra cộc cằn. Chẳng hạn trong tiệc cưới Ca-na, khi mẹ yêu cầu phải làm gì để giúp người ta có đủ rượu cho khách, Ngài đã thô lỗ: “Này bà, có chi liên quan tới tôi và bà đâu!” Có thật Ngài đã xử tệ với mẹ như thế không? Có lẽ đôi lúc Ngài đã cắt đứt liên hệ với mẹ mình?

Anh đang đề cập tới một đoạn trong Tin Mừng Gio-an. Thánh Gio-an đưa ra một môn Maria học hoàn toàn đặc biệt. Trong bản Tin Mừng xuất hiện tương đối trễ này vai trò của Mẹ đã được diễn đạt rõ hơn, không như trong Mat-thêu. Chẳng hạn, bất cứ chỗ nào  Đức Giê-su nói với Mẹ, Gio-an đều dùng từ “Bà”. Ta có thể nhìn ra ý nghĩa thần học trong từ xưng hô đó. Bởi vì, nếu giờ đây Maria đơn thuần được gọi là “bà” (gynae), nếu từ tiệc cưới Ca-na cho tới núi Sọ Maria cũng bước vào một vai trò vượt lên trên vai trò cá nhân, thì hình ảnh của Eva mới đã sáng tỏ. Ta phải đọc các màn / cảnh trong mối liên hệ chung của chúng, trong trường hợp này là cảnh thánh giá núi Sọ với cảnh tiệc cưới Ca-na, để thấy rằng, thoạt tiên  Đức Giê-su bước ra khỏi gia đình Ngài, cho tới khi một gia đình mới xuất hiện trong giờ của Ngài – trên thánh giá -, và trong gia đình mới này Maria có một vị trí mới quan trọng.

Nhưng cả trong Ca-na, câu nói xem ra thô lỗ và mang vẻ từ chối kia cũng rất nhiều nghĩa. Với lời đó,  Đức Giê-su muốn nói là Ngài bị trói buộc bởi giờ của Ngài. Có thể nói, Ngài không thể ưu tiên thoả mãn những nhu cầu gia đình được. Nhưng dù vậy, Ngài đã làm phép lạ và có thể nói đã hé lộ ra trước giờ của Ngài vì lời yêu cầu của Mẹ. Thoạt tiên bị từ chối, có nghĩa là Maria chỉ được trả lại chỗ cũ của mình – và rồi lúc này đây, Mẹ đồng thời lại xuất hiện như một phụ nữ đơn thuần, như là nguyên ảnh của Giáo Hội khẩn cầu, và rồi Giáo Hội, cũng như chính Maria, có thể xin tham dự trước giờ của Đức Ki-tô. Như vậy, đây là một bản văn rất sâu xa, người ta có thể còn suy nghĩ và nói nhiều về nó.

Hãy tạm rời tầng thần học cao sâu trở về với thực tại, tôi muốn nhắc lại một kinh nghiệm gặp được qua hình ảnh Maria. Có lần tôi tới thăm điểm hành hương Altötting ở Bayern. Trời lạnh, rảo qua công trường rộng, tôi bước vào căn Nhà Nguyện Ơn Lành nổi tiếng. Căn phòng chật cứng. Tứ phía đều có nến cháy, khung cảnh hơi âm u. Trong nhà nguyện toàn chỉ các bà. Họ cầu chung với nhau, và dĩ nhiên hát với nhau những bài ngọt ngào về đức Mẹ, như Ave Maria, Mater misericordiae, Ôi nữ vương thiên đàng, Mẹ nhân ái.

Thoạt tiên tôi cảm thấy hơi xa lạ và giữ khoảng cách, nhưng những bài hát dễ thương quá: “Chúng con khóc lóc kêu cầu danh Mẹ từ thung lũng nước mắt”. Và lạ lùng thay, bổng nhiên tôi cảm thông được với các bà. Có một cái gì rất thật, rất đẹp, tôi như bắt gặp được một chìa khoá mở tung tim mình ra để cảm giác hạnh phúc tràn vào. Có một cái gì như sức mạnh cứu độ toát ra từ những lời kinh cầu cổ xưa. Những cảm giác đẹp đó nói cho tôi hay là tôi không cô đơn, có ai đó đang ở bên tôi, người đó biết tôi, người đó mến tôi, người đó hiểu tôi. Và trong mọi tình huống khó khăn, người đó luôn ở bên tôi.

Tóm lại, tôi có cảm giác đó là một thứ ngôn ngữ không những trực tiếp đánh đúng vào chỗ yếu của mình, mà đồng thời, như người ta nói, có sức cứu độ. Và có lẽ việc tôn kính Maria cũng là một phản ứng chống lại cái tiến trình tục hoá trong Giáo Hội, với khuynh hướng muốn vứt hay đã vứt đi rồi một phần lớn khía cạnh linh thánh và thần bí của đức tin. Phải chăng đây là thái độ và hành động của những con người đơn sơ chống lại thứ tôn giáo của các vị giáo sư?

Tôi tin mình có thể nói được như thế. Hình ảnh Maria đã làm trái tim con người xúc động một cách đặc biệt. Không những đánh động trái tim phụ nữ, là những người hiểu và gần gũi Mẹ hơn, mà còn cả trái tim của những ông còn giữ cho mình hình ảnh về Mẹ và đức Trinh nữ. Môn thánh mẫu học đã tạo nên tiếng nói con tim của thế giới Ki-tô giáo. Ở đây, con người có thể cảm nghiệm một cách trực tiếp Ki-tô giáo như là một tôn giáo của lòng tin, lòng cậy. Và những lời kinh cổ, đơn giản kia, những lời lớn lên từ lòng sùng kính dân gian và không bao giờ mất tính chất tươi mát và lỗi thời, đã giữ con người ở lại trong niềm tin của họ, bởi vì nhờ những lời kinh gắn bó với đức Mẹ mà họ cảm thấy gần gũi với Chúa, họ cảm thấy đạo không phải là một gánh nặng, nhưng đạo là tin cậy và đỡ nâng giúp họ vượt qua mọi chông gai cuộc sống. Và ta cũng hãy nghĩ tới những lời kinh khác, chẳng hạn “Mẹ rất nhân ái, hãy nâng đỡ con”, nó gợi lên bao nhiêu là tín thác.

Thật ra, mặt khác, cũng có một thứ chủ nghĩa tinh lọc Ki-tô giáo, một thứ hữu lí hoá đã làm cho đạo bị đôi chút đông lạnh. Dĩ nhiên tình cảm luôn cần phải được kiểm soát và thanh lọc - ở đây ta cần phải công nhận vai trò của các giáo sư. Không được để cho mọi chuyện biến thành chỉ còn là tình cảm sướt mướt, khiến ta mất nền thực tế, làm cho ta không còn nhận ra được cái cao cả của Chúa nữa. Nhưng từ thời Ánh sáng trở đi – ngày nay ta cũng lại đang ở trong một thời Ánh sáng mới - ta chứng kiến một tiến trình hữu lí hoá và tinh lọc rất mạnh, khiến cho tâm con người phải chống lại nó và bám chặt vào thánh mẫu học.

Vị Hồng Y vĩ đại người Anh John Henry Newman* viết: “Người không công giáo có thói quen coi việc tôn kính Maria có hại cho  Đức Giê-su”. Và ngày nay những người hoài nghi cũng xem việc tôn sùng Maria một cách quá đà khiến cho tâm điểm nền tảng của đạo, nghĩa là chính sứ điệp của Đức Ki-tô, bị lu mờ.

Ta không được phép quên điều này: Trong quá trình truyền giáo, Mẹ là khuôn mặt đánh động con người nhất và giúp họ hiểu được Chúa Ki-tô. Điều này đặc biệt đúng cho Nam Mĩ. Nơi đây Ki-tô giáo đã tới bằng gươm giáo của người Tây-ban-nha và có lúc vô cùng nghiệt ngã. Ở Mễ-tây-cơ, thoạt tiên Ki-tô giáo đã chẳng làm được gì – cho tới khi xẩy ra biến cố Guadeloupe, và qua Mẹ mà bỗng chốc người ta tới gần được với Chúa Con.

Biến cố đó là việc gặp được tượng đức Mẹ một cách lạ lùng. Người ta có thể nói, biến cố đó đã tạo nên một trang sử tuyệt đối mới, nếu không có nó thì việc truyền bá Ki-tô giáo trên lục địa này đã không thể xẩy ra.

Đúng, và bỗng chốc đạo Chúa không còn mang khuôn mặt hung ác của những tay thực dân nữa, mà là khuôn mặt dịu dàng của Mẹ.

Cho tới ngày hôm nay, ở Nam Mĩ có hai điểm sùng mộ: Yêu đức Mẹ và việc đồng hoá với Chúa Ki-tô chịu đau khổ. Đức tin của họ biểu tỏ qua hai khuôn dạng đó, và nhờ đó họ không còn xem Thiên Chúa là Chúa của những kẻ xâm lăng, nhưng là Thiên Chúa thật và cũng là đấng cứu độ. Vì thế đặc biệt dân công giáo ở châu Mĩ la-tinh rất trân quý đức Mẹ. Và ta không nên đứng từ quan điểm thuần lí của ta mà chê bai họ đã làm sai lệch Ki-tô giáo. Chính chỗ này họ đã nhận ra đúng đắn: Thiên Chúa là đấng muốn cứu độ ta, chứ không phải là Chúa của những người chiếm đóng. Nhờ vậy, họ đã có thể trở thành ki-tô hữu qua quá trình thấy và hiểu của chính họ, chứ không phải là phải chấp nhận chịu đựng đạo của kẻ xâm lăng.

Người tin lành xem ra từ lâu đã đẩy được đức Mẹ ra khỏi niềm tin của họ. Mẹ không còn quê hương nơi họ nữa, cho dù chính Luther trước đây chưa bao giò bỏ lòng tôn sùng đức Mẹ của ông. Đối với Giáo Hội công giáo, huyền thoại Maria chẳng phải là trò ảo thuật mà cũng chẳng phải là chuyện bên lề. Chính ngài đã thuộc vào cốt lõi của đức tin. Các bí mật của ngài còn được đóng ấn tín điều như là những sự thật không hề sai.

Phải nói thêm về chữ huyền thoại. Nếu nó muốn ám chỉ một chuyện vượt trên sự kiện thực tế, thì ta có thể dùng từ đó. Vấn đề quan trọng ở đây là ta đang có một câu chuyện thật, chứ chẳng phải là chuyện bịa đặt nào cả.

Một ghi chú về người tin lành: Đúng là đã có một khuynh hướng tinh lọc nơi họ. Ban đầu, người ta sợ rằng đức Mẹ có thể lấy mất đi một chút gì đó nơi  Đức Giê-su. Và trong quá trình thanh lọc đó quan điểm “duy Ki-tô” đã dần trở nên quá khích đến nỗi người ta tin là có một tương quan cạnh tranh giữa hai vị, thay vì nhận ra rằng, qua khuôn mặt Mẹ, chính khuôn mặt của Đức Ki-tô hiện ra và lời đích thực của Ngài được sáng tỏ, như ta đã thấy qua thí dụ ở Nam Mĩ.

Ngày nay, có những nỗ lực dè dặt tìm về lại với mẹ Maria nơi người tin lành. Họ nhận ra việc xoá yếu tố nữ ra khỏi sứ điệp ki-tô cũng là một thiếu sót về mặt nhân chủng. Một người nữ hiện diện nơi tâm điểm Ki-tô giáo, xét về mặt thần học và nhân chủng học, là điều quan trọng. Qua Maria và các thánh nữ khác, yếu tố nữ đã đi vào tâm của đạo Ki-tô. Chẳng có chuyện cạnh tranh giữa hai khuôn mặt mẹ con, vì hai vị khác nhau trên nền tàng.  Đức Giê-su đã trao Mẹ cho tất cả chúng ta qua Gio-an. Không phải cạnh tranh, nhưng là một thứ gần gũi sâu xa hơn. Đức Mẹ và đức Trinh nữ có chỗ đứng quan trọng trong nhân sinh quan Ki-tô giáo.

TÍN ĐIỀU

Liên quan tới Maria, nhiều người tỏ ra chống đối và sợ hãi, cái sợ hãi nhiều khi khoác áo diễu cợt. Hãy nhìn lại vài tín điều để hiểu thêm Maria. Ta bắt đầu với tín điều khó hiểu, khiêu khích nhất, đó là tín điều đồng trinh, hình thành năm 553. Đó là một câu chuyện sinh học? Hay phải hiểu nó như thế nào?

Về chuyện anh chị em của  Đức Giê-su, Tin Mừng cho biết Đức Ki-tô không có anh chị em ruột nào cả, và mẹ Maria cũng chẳng sinh ai thêm. Trái lại, Ngài có một tương quan đặc thù và duy nhất với mẹ Maria quá rõ, đến nỗi người ta chỉ có thể hiểu là anh chị em họ mà thôi, chứ không phải anh chị em ruột. Maria là của Giê-su mà thôi chứ không là của ai khác nữa.

Tại sao không?

Là bởi việc sinh ra này không do liên hệ với một người đàn ông, mà do chính sự can thiệp của Chúa. Ngày nay có người bảo: không, việc Chúa sinh ra không thể dính dáng tới sinh học được, vì đó là chuyện bất xứng đối với Thiên Chúa, và rồi gạt nó qua một bên. Quan niệm như thế là họ đang ngã theo thuyết Ma-ni-kê, chối bỏ nhân tính của Đức Ki-tô.Con người cũng là sinh học. Và khi ta không nhìn nhận mặt thân xác, mặt sinh học nơi con người, thì một cách nào đó, vật chất sẽ bị khinh miệt và bị đẩy ra ngoài, và rồi như thế rốt cuộc ta cũng sẽ coi việc nhập thể là chuyện giả tạo. Vì vậy tôi chống lại lối lập luận trên. Đây là một con người thật, toàn diện - Câu trả lời cho vấn nạn trên là đó. Thiên Chúa cũng đã nắm lấy sự sống – cả sự sống thể lí, sinh lí lẫn vật chất – và đặt để vào đó một dấu chỉ.Về sự kiện này, tôi cho rằng các giáo phụ đã tìm ra được một hình ảnh đẹp. Tiên tri Ê-sê-ki-en, chương 40, viễn kiến về một đền thờ mới, trong đó có một “cánh cửa phía đông” chỉ dành cho nhà vua bước vào mà thôi. Các giáo phụ coi đó là một biểu tượng. Trước hết các ngài xem đó là một đền thờ sống động: Giáo Hội sống động. Cánh cửa, qua đó không ai ngoài  Đức Giê-su đi vào, nếu không phải là mẹ Maria thì còn ai hay cái gì vào đó? Vì thế, không thể kéo Mẹ, người sinh ra Thiên Chúa, xuống hạng tầm thường được. Ngài là cánh cửa dành riêng cho nhà vua. Và như vậy chính ngài trở thành cánh cửa thật của lịch sử, qua đó vị mà cả nhân loại trông đợi bước vào.

Nghĩa là trước sau vẫn là: Sinh con mà vẫn đồng trinh?

Vâng.

Tín điều vô nhiễm nguyên tội năm 1854 muốn nói lên điều gì ?

Hậu cảnh của tín điều đó là giáo huấn về tội tổ tông. Giáo huấn này dạy rằng, mỗi chúng ta thoạt tiên sinh ra từ một liên hệ tội lỗi – chúng ta gọi đó là “rối loạn tương quan” -, và do rối loạn này mà ngay từ đầu tương quan giữa ta với Chúa đã bị sứt mẻ. Trong quá trình phát triển giáo huấn đó dần dần đã nẩy ra một suy nghĩ trong thế giới Ki-tô giáo, là Maria không thể rơi vào tương quan sứt mẻ đó được, vì ngay từ đầu ngài là cánh cửa của Thiên Chúa, cánh cửa đã được đặc biệt tạo ra để Chúa bước vào.

Về điểm này, đã có một cuộc tranh cãi lớn trong thời trung cổ. Một bên là các tu sĩ đa-minh. Họ bảo rằng Maria là một con người bình thường như những người khác, nghĩa là ngài cũng mắc tội tổ tông. Phía bên kia là các tu sĩ phan-sinh, lí luận ngược lại. Tóm lại, qua cuộc tranh cãi dai dẳng đó, lần hồi một quan điểm đã kết tinh, bảo rằng sự lệ thuộc của Maria vào Đức Ki-tô mạnh hơn sự lệ thuộc của ngài vào Adam. Và quan điểm đó cũng bảo rằng Maria đã được Thiên Chúa chuẩn bị cho Đức Ki-tô từ trước rồi, và chính đó là đặc điểm của đời ngài. Vì Maria là nguồn của một khởi đầu mới, nên ngài không thể thuộc vào tương quan tội lỗi kia được: Tương quan giữa ngài và Chúa không bị sứt mẻ, ngay từ đầu ngài đã được Chúa bảo bọc một cách đặc biệt, Chúa đã “đoái xem” ngài (Magnificat) và đã để ngài hướng lên với Chúa.

Hơn nữa, vì Maria thuộc về Đức Ki-tô một cách đặc biệt, nên tương quan này đã đặt ngài hoàn toàn trong tình trạng đầy ơn phúc Thiên Chúa. Lời chào thoạt tiên xem ra đơn giản của thiên thần “Cô đầy ơn phước” như vậy có thể hiểu là ơn phước đó bao trùm cả cuộc đời của Maria. Đây rốt cuộc không hẳn đơn giản chỉ là một đặc ân của Maria, mà còn là một hi vọng cho tất cả chúng ta.

Vấn đề càng khiêu khích hơn: Mẹ hồn xác lên trời. Tín điều này muốn nói gì? Nó được hình thành khá trễ, vào năm 1950. Chuyện quái lạ, là ngay từ đầu, chúng ta chẳng thấy một vết tích gì về Maria được để lại, chẳng có mồ mà cũng chẳng còn hạnh tích nào.

Hẳn nhiên tìn điều này thật khó hiểu đối với tất cả chúng ta, bởi vì ta không mường tượng được trời là gì. Lại càng khó hiểu khi mường tượng cả một thân xác được đưa lên. Xem thế, tín điều này đặt ra cho trí óc ta một bài toán lớn, đó là phải hiểu trời và xác như thế nào, phải hiểu về chính con người và tương lai của nó ra sao…

Và cá nhân ngài đã giải bài toán đó như thế nào?

Tôi đã nhờ thần học về phép rửa của thánh Phao-lô để hiểu, khi thánh nhân nói: “Thiên Chúa đã cho ta sống lại với  Đức Giê-su và cho ta cùng ngồi trên nước trời trong Đức Ki-tô Giê-su” (Ê-phê-sô 2,6). Có nghĩa là, khi lãnh phép rửa, tương lai của chúng ta đã được báo trước rồi.

Như vậy, tín điều chỉ nói lên điều này, là hệ quả của phép rửa : - được ở (“ngồi”) bên Chúa (Chúa là nước trời!)- đã ứng nghiệm đầy đủ nơi Maria. Phép rửa (cùng ngồi với Đức Ki-tô) đã đạt được đầy đủ hiệu năng cuả nó. Nơi chúng ta, việc cùng ngồi với Đức Ki-tô, việc được sống lại với Ngài còn bất cập, còn rất mong manh. Nhưng nơi Maria thì khác. Ngài không thiếu gì nữa. Ngài đã bước vào cộng đoàn toàn đầy với Đức Ki-tô. Và một khi ở trong cộng đoàn này thì ngài cũng có một cuộc sống thân xác mới, mà chúng ta không thể mường tượng được nó như thế nào.

Tóm lại, căn bản của tín điều là Maria đã hoàn toàn ở bên Chúa, hoàn toàn bên Đức Ki-tô, hoàn toàn là một “tín hữu ki-tô”.

Hơn một triệu tín hữu đòi Giáo Hội công giáo nâng Maria lên thành “đấng cùng cứu độ”. Yêu cầu đó sẽ được thoả mãn – hay đó là một lạc tín?

Không phải một, mà hiện có nhiều triệu người yêu cầu điều đó. Nhưng tôi tin đòi hỏi này sẽ không được đáp ứng trong tương lai gần. Câu trả lời của Bộ giáo lýđức tin: vai trò cùng cứu độ đó đã thể hiện khá rõ ràng trong các tước hiệu khác của mẹ Maria rồi, còn danh hiệu “đấng cùng cứu độ” đi quá xa Kinh Thánh và các giáo phụ, nên sẽ gây ra hiểu lầm.

Đâu là cái đúng trong đó? Đúng, là Đức Ki-tô không đứng ngoài hay bên cạnh chúng ta, mà Ngài cùng với chúng ta xây dựng một cộng đoàn mới và thiết thân. Những gì của Ngài là của ta và những gì của ta Ngài đều nhận vào mình, để trở thành của Ngài: Sự trao đổi lớn lao đó là nội dung của cứu độ, là sự mở toang cái tôi và bước vào cộng đoàn với Chúa. Vì Maria đã thể hiện Giáo Hội đích thực nơi mình, có thể nói ngài là Giáo Hội bằng xương thịt, nên sự “đồng cứu độ” đó đã được thể hiện một cách mẫu mực. Nhưng trên cái “đồng” đó ta không được quên cái “trước tiên” của Đức Ki-tô: Mọi sự đều đến từ Ngài, như đã được đề cập một cách đặc biệt trong thư gởi giáo đoàn Ê-phê-sô và Kô-lô-xê; và tất cả những gì nơi Maria đều cũng đến từ Đức Ki-tô.

Chữ “đấng cùng cứu độ” có thể sẽ làm lu mờ cái nguồn cội đó. Một  ý hướng đúng được diễn tả bằng một từ ngữ sai. Chính trong vấn đề đức tin ta không được đứt đoạn với ngôn ngữ Kinh Thánh và của các giáo phụ; không được chế biến ngôn ngữ đó một cách tuỳ hứng.

CÁC PHÉP LẠ

Không ai trong Giáo Hội được tôn kính như Mẹ Thiên Chúa, với vô số nhà thờ, bàn thánh, với bao nhiêu bài hát, kinh cầu, lễ kính và cuộc hành hương. Hàng ngàn địa điểm hành hương đức Mẹ trở thành như một mạng lưới tế bào thần kinh toả khắp thế giới.

Và xem ra không ai làm nhiều phép lạ như Mẹ. Những nơi hiện ra treo đầy chứng tích và tài liệu về những biến cố không giải thích được. Bernard ở Clairveaux*, chẳng hạn, gán cho đức Mẹ một năng lực khó tin: “Cứ cầu Mẹ, và anh / chị chẳng bao giờ mất hi vọng”. Thưa Hồng Y, tất cả đều là phép lạ thật?

Không thể kiểm chứng được hết mọi biến cố. Thường đó là những chuyện xẩy ra lạ lùng, nhưng có lẽ không nên coi tất cả là phép lạ theo nghĩa hẹp. Tuy nhiên, tất cả những cái đó nói lên lòng tín thác đặc biệt của con người nơi Maria. Qua Mẹ, họ nhìn ra khuôn mặt của Chúa và Đức Ki-tô, và nhờ đó mà họ có thể hiểu được Thiên Chúa.

Những dữ kiện mà anh vừa kể, một lần nữa cho thấy là qua Mẹ, con người hiểu được một cách đặc biệt những bí ẩn của Con Chúa và của Thiên Chúa. Đó là lí do nói lên lòng tin sâu xa của con người đối với Mẹ.

Maria là cánh cửa mở đưa tới Thiên Chúa. Người ta có thể nói với Mẹ một cách thoải mái, có thể cầu khẩn ngài với ngôn ngữ và lòng tin con trẻ, những chuyện mà ta thường ngại làm trước mặt Đức Ki-tô. Đó là ngôn ngữ của trái tim. Ngôn ngữ đó, hiện diện ở khắp các địa điểm hành hương, càng cho thấy việc Mẹ đã đánh động sâu xa trái tim con người như thế nào. Đó là thứ đức tin mà Đức Ki-tô bảo là có thể dời non chuyển núi.

Phải chăng các phép lạ thật đã xẩy ra? đó lại là một chuyện khác. Quan trọng là người ta có lòng tín thác sâu xa, và lòng tín thác đó cũng đã được đáp trả. Qua sự tín thác đó đức tin trở nên thật sống động, đến nỗi nó có thể thấm vào được trong cái vật lí, vào được trong cái hàng ngày, và qua đó ta nhận ra được bàn tay nhân lành của Chúa qua sức mạnh từ ái của Mẹ.

Lấy thí dụ Fatima: Ngày 13.05.2000 giáo chủ Gio-an Phao-lô II phong ba trẻ đã nhìn thấy Mẹ lên hàng chân phước. Chính ngài bảo, ngài thoát chết trong cuộc ám sát ngày 13.05.1981 là do ơn lạ của Mẹ. Và ngài còn nói, biến cố phép lạ đó đã ấn dấu sâu đậm lên toàn bộ nhiệm kì giáo chủ của ngài.

Việc gì đã xẩy ra? Gần giữa trưa ngày 13.05.1917 ba em chăn thú tại một miền quê hẻo lánh Bồ-đào-nha là Lucia (10) cùng hai anh em Jacinta (7) và Francisco (9) đã có một thị kiến lạ lùng. Các em kể, một lằn sáng chói chang xuất hiện trên gốc sồi đá chiếu toả vào “một bà tuyệt đẹp”. Bà ấy bảo “Các con đừng sợ”, và bà nói rằng, bà mang đến một sứ điệp hoà bình cho con người. Thoạt tiên câu chuyện đã là trò cười và diễu cợt cho mọi người. Nhưng vào ngày 13.10 năm đó có khoảng 70 ngàn người đã tuôn về để được chứng kiến tận mắt cảnh tượng.

Người ta kể, sự lạ xuất hiện vào khoảng giữa trưa. Trời bỗng dưng ngừng hẳn mưa. Màn mây xé ra và mặt trời bắt đầu xoay tít quanh nó như một bánh xe quay. Cây cối và con người bổng như chìm vào trong ánh sáng huyền diệu đó. Đám đông la thét, vì tưởng như sắp bị mặt trời sa xuống đè bẹp.

Chuyện gì thuần khoa học tự nhiên đã xẩy ra hoặc không xẩy ra ngày 13 tháng 10, ta không thể kiểm chứng. Quan trọng là con người đã bị đánh động bởi biến cố có một không hai lúc đó. Họ đã có thể cảm nhận có một chuyện gì xẩy ra. Và một cách nào đó, mặt trời đối với họ đã trở thành dấu chỉ ẩn chứa một bí mật nào đó.

Sách Khải-huyền nói về một bà bận áo mặt trời chân đạp mặt trăng. Thoạt tiên, điều đó muốn ám chỉ dân Thiên Chúa trong toàn bộ giao ước cũ và mới, nhưng nó cũng ám chỉ đặc biệt Maria. Áo mặt trời của bà ám chỉ Đức Ki-tô là ánh sáng thật cho thế gian. Hình ảnh đó như vậy nói lên sự gắn bó cội rễ với Đức Ki-tô. Mặt trăng – hình ảnh của sự chóng qua – bị bà dẫm dưới chân. Hình ảnh dẫm đạp đó một mặt nói lên chiều kích lớn lao có thể làm ta khiếp sợ, nhưng mặt khác cũng cho thấy đó là một sức mạnh ủi an. Và những ai tới Fatima, Lộ-đức hay Guadeloupe đều cảm thấy cái lớn lao cũng như lực ủi an và cứu độ đó.

Nói tới Fatima tất phải nói tới những “bí mật Fatima”. Đó là những sứ điệp mà ba em đã nhận được vào năm 1917. “Bí mật” thứ nhất cho thấy hoả ngục (Các con đã thấy hoả ngục, nơi những người tội lỗi đáng thương đang sa chân vào). Bí mật thứ hai tiên báo việc chấm dứt thế chiến thứ nhất, nhưng (“Nếu người ta cứ tiếp tục thoá mạ Thiên Chúa”) một cuộc chiến “khốc liệt hơn nữa” sẽ xẩy ra. Bí mật đó cũng báo trước về cuộc trở lại của Nga-sô. Nhưng chuyện này chỉ xẩy ra sau khi Gio-an Phao-lô II dâng nước Nga cho đức Mẹ; và một năm sau ngày dâng đó, Gorbachow đã mở ra chương trình tái tổ chức và bức màn sắt đã sập đổ sau đó mười năm.

Về bí mật thứ ba, đã có nhiều phỏng đoán từ nhiều chục năm nay, đặc biệt phỏng đoán về cuộc tận thế hay ít ra là một cuộc sụp đổ của Giáo Hội. Người ta bảo, bí mật này chỉ liên quan tới cá nhân giáo chủ Rô-ma mà thôi, nên không được công bố. Trong kì viếng Fatima lần thứ ba, chính Giáo chủ đã hé lộ cho thiên hạ biết về bí mật đó. Hồng Y Sodano đã được uỷ thác thông báo tóm tắt nội dung sứ điệp, ngài cho hay ba trẻ đã có thị kiến về “một giám mục mặc áo trắng” đã bị trúng đạn và ngã chết dưới đất”, và theo Hồng Y, sứ điệp này là một tiên đoán về vụ mưu sát giáo chủ Gio-an Phao-lô II.

Về cơ bản, sứ điệp Fatima không phức tạp lắm, mà trái lại. Ba trẻ đã diễn tả sứ điệp đó như vầy: “Ta là bà dịu hiền của chuỗi mân côi. Ta đến để con người được tốt hơn. Con người hãy chấm dứt việc thoá mạ Thiên Chúa”.

Trên thực tế, sứ điệp rất đơn giản. Và chị Lucia, người duy nhất còn sống (năm 2000), vẫn luôn coi trọng sự giản đơn đó, và chị nói, đừng  để ý đến những chuyện gì khác mà người ta đã tường thuật, tất cả chung quy lại chỉ là đức tin, hi vọng và tình yêu. Tôi cũng đã được nói chuyện vắn tắt với chị. Chị nhấn mạnh với tôi là hãy kể tiếp chuyện này cho mọi người nghe.

Chị nói : Thoạt tiên thiên thần hiện ra với chúng con, các ngài dạy cho chúng con tin, cậy, mến; và nội dung của toàn bộ sứ điệp kia là chúng ta hãy học lấy những nhân đức đó. Đó là những gì Mẹ Thiên Chúa tập cho ta, và nhờ đó giúp ta tinh luyện và trở về với Chúa. Sám hối chính là sự thay đổi cuộc sống, là việc bước ra khỏi khuynh hướng thời thượng, một khuynh hướng đẩy ta rời xa Thiên Chúa và chỉ biết nghĩ tới mình mà thôi. Sám hối là quay về, là đi ra khỏi mình, là cho mình đi; cho mình đi tức là tình yêu, và rồi tình yêu đòi buộc phải có đức tin như là điều kiện, và tình yêu làm nẩy mầm hi vọng.

Tôi tin rằng, tất cả những cuộc hiện ra đó, nếu quả có thật, không phải là một cái gì bên lề Tin Mừng. Đó không phải là những thoả mãn cho tính hiếu kì và thích chuyện giật gân của ta, nhưng chúng đưa ta trở về với cái giản đơn và cơ bản, mà ta thường rất ít  để ý đến. Chính ngày hôm nay, với bao phức tạp của cuộc sống, đạo của chúng ta lại thường trở nên quá rắc rối, khiến ta nhiều khi chỉ thấy cây mà chẳng còn nhận ra rừng. Vấn đề lúc này là quay trở về cái tâm điểm đơn giản, chẳng phải đi đâu khác, mà là trở về với tin, cậy và mến.

Bộ giáo lýđức tin đã tổ chức một cuộc họp báo ngày 26.06.2000 để trình bày với báo giới toàn bộ bản văn liên quan tới cái gọi là bí mật thứ ba của Fatima. Song song Bộ cũng ra một tài liệu bằng nhiều thứ tiếng, trong đó có chụp lại bản văn viết tay của chị Lucia về bí mật trên, để người ta hết phải bàn tán về sự trung thực và đầy đủ của bản văn. Tài liệu trình bày cẩn thận diễn tiến các thị kiến, các trình thuật bằng văn bản của chị Lucia cũng như biên bản về bí mật thứ ba. Cả cái thông báo của Hồng Y Sodano cũng được in lại trong đó; chính tôi trong đó cũng có viết một bài thử phân tích các bản văn. Vì cuốn sách được phổ biến rộng rãi, nên tôi xin được tóm tắt đôi dòng về nội dung.

Thị kiến cho thấy con đường gian nan của một giám mục bận áo trắng (mà chính ba trẻ nhận ra là giáo chủ Rô-ma) đang khó nhọc leo lên một ngọn núi có dựng một cây thánh giá; con đường dẫn xuyên qua một thành phố nửa đổ nát. Các giám mục, linh mục, giáo dân và cuối cùng cả giáo chủ cũng bị giết. Nhưng máu của những nạn nhân đã được thiên thần hứng lấy, và máu đó đã làm cho thế giới sinh hoa kết quả. Ta có thể xem đó là hình ảnh biểu trưng cho Giáo Hội tử đạo trong thế kỷ20; giáo sư Riccardo (chủ tịch cộng đoàn Thánh Egidio) mới đây vừa cho ra một cuốn sách về các vị tử đạo dưới các chế độ độc tài trong thế kỷchúng ta, cuốn sách đã cụ thể hoá một cách hùng hồn những hình ảnh thị kiến. Đọc qua ba phần của bí mật, ta thấy rõ tâm điểm của sứ điệp là lời kêu gọi sám hối, đồng thời sứ điệp còn nói lên tính tự do của lịch sử, nghĩa là lịch sử không hoàn toàn bất biến theo tiền định, mà có thể thay đổi đường đi nhờ vào việc sám hối.

Toàn bộ bí mật là lời thảm thiết kêu gọi tự do con người hãy sửa mình, và nhờ đó sửa lại vận hội thế giới; nội dung bản văn cũng giống như sách Khải-huyền. Sự kiện Giáo chủ thoát chết có thể được hiểu như là một dấu chỉ cho thấy lịch sử có thể diễn tiến khác đi nhờ lời cầu nguyện.

Giờ hãy ghé viếng Lộ-đức. Điểm hành hương lớn nhất thế giới, còn lớn hơn cả Mec-ca nữa, nằm ẩn khuất trong dãy Pyrenée nước Pháp. Người ta bảo nơi đây từ tháng hai tới tháng bảy năm 1858 Mẹ đã hiện ra tất cả 18 lần với Bernadette, và càng ngày càng có đông người hơn được cùng cô gái xay bột chiêm ngưỡng sự biến hình của Mẹ. Bernadette thuật lại: “Bà bận áo trắng, đội khăn trắng, thắt giải khăn xanh và dưới chân có một bông hồng vàng”. Và theo lệnh Bà, Bernadette đã lấy tay moi đất và một mạch nước thiêng từ đó phun lên, hiện nay mỗi ngày phun tới 122 ngàn lít nước.

Nhà văn Do-thái Franz Werfel, khi còn nằm trong tù Quốc-xã, đã hứa nếu sống sót, sẽ viết về Bernadette, và ông đã thực hiện điều đó. Lúc này đây người ta chẳng còn nhắc gì tới Bernadette nữa. Trước khi mất, chị nói: “Hẳn quý vị cũng thấy là lịch sử của tôi rất đơn giản. Đức trinh nữ đã dùng đời tôi cho ngài. Xong việc thì người ta đẩy tôi vào một góc. Đó là chỗ của tôi, nơi tôi trú ngụ đầy hạnh phúc”.

Câu chuyện Lộ-đức, đối với cá nhân tôi, quả thật cảm động. Và cũng như nhiều người khác, nhờ cuốn sách của Werfel mà tôi hiểu được thêm sự kiện. Qua cuốn sách, tôi thấy tâm ông Werfel rất gần gũi với Bernadette. Vì muốn liên đới với dân tộc do-thái, ông đã không vào công giáo, nhưng dù vậy tâm ông đã cùng với Bernadette nhìn thấy đức Mẹ thật, đã tin và đã tín thác vào ngài.

Có lẽ ta chẳng phải dài dòng luận bàn về câu chuyện. Cô gái đơn sơ kia, chẳng có gì ngoài một tâm hồn tinh khiết lớn lao, đã có thể mang bộ mặt Mẹ Chúa Trời – cho dù ngay bước đầu đã gặp phải sự ngờ vực hữu lí của giáo quyền - vào một thế giới lạnh lùng và có xu hướng đông lạnh tinh thần trong thế kỷcủa chủ nghĩa duy lí này, một thứ duy lí thô lỗ và cả nhuốm màu chống giáo sĩ. Và với mạch nước ban sự sống và cứu độ ở Lộ-đức, Bernadette đồng thời đã minh chứng nơi Mẹ có lực cứu độ của tạo dựng, tạo dựng được Mẹ cho sống lại một cách mới.

Quả là một dấu chỉ đầy ý nghĩa, khi chính trong khung cảnh duy lí này mà một tâm hồn đơn sơ –đơn sơ nên mới có thể nhìn thấy - đã giúp con người tái nhận ra được Ki-tô giáo là một tôn giáo của tâm hồn và là một thực tại có lực cứu rỗi. Và vì vậy ở Lộ-đức con người thường dễ dàng nhìn ra được nét bí ẩn nơi Đức Ki-tô. Và đấy là một điểm khá tích cực. Mạch nước cứu độ ở Lộ-đức nhắc nhở con người về nước rửa tội, đây mới thật là nguồn nước mới Đức Ki-tô đã ban tặng cho ta.

LÒNG NHÂN ÁI

Tin Mừng viết: “Này anh chị em, có ích gì chăng, khi một người bảo, tôi có đức tin, nhưng lại không làm gì cả. Đức tin như thế có cứu người đó được không?” Mat-thêu ghi: vì công lí nước trời, Con Người sẽ mở một trương mục và có ngày cũng sẽ kết toán sổ sách. Vì “Cái gì ngươi đã làm cho người anh em bé mọn nhất, thì chính là ngươi đã làm cho ta”. Vì đức tin không có việc làm là đức tin chết, nên Giáo Hội đã đưa ra bảy mối thương người, gồm:
Cho kẻ đói ăn
Cho kẻ khát uống
Cho kẻ trần truồng áo mặc
Cho khách đỗ nhà
Chuộc người tù
Thăm người bệnh
Chôn kẻ chết

Câu đầu trích từ thư thánh Gia-cô-bê, thư mang nặng truyền thống ki-tô gốc Do-thái. Thánh Gia-cô-bê là giám mục thành Giê-ru-sa-lem. Trong lịch sử Giáo Hội, ngài là người đại biểu cho loại Ki-tô giáo chủ trương đức tin phải nhập thể vào đời sống, đức tin phải tạo nên hoa trái, phải thể hiện ra hành động.

Câu thứ hai là của chính Tin Mừng. Câu này mô tả dụ ngôn cuộc phán xét, trong đó Chúa tự đồng hoá với người thiếu thốn và nói: “Các ngươi gặp người thiếu thốn là gặp chính tôi”. Đây là một tư tưởng luôn đốt lên những ngọn lửa mới trong lịch sử Giáo Hội. Nhận ra Đức Ki-tô trong con người, nhất là khi ta đứng trước những người bị khinh bỉ, những người đau khổ, những kẻ nghèo. Trong dụ ngôn, chính Chúa rốt cuộc nói tới nhiều hình thức thương người: “Tôi trần truồng, ông đã cho tôi mặc; tôi đau, bà đã giúp đỡ; tôi bị tù, chị đã tới thăm…” Như thế Ngài đã vẽ ra những loại người thiếu thốn, họ đại biểu cho Chúa trong thế giới.

Ta hãy nhìn kĩ hơn vào một trong những mối kia: “Cho kẻ trần truồng áo mặc”. Với câu này, hẳn Chúa không ám chỉ việc quyên góp quần áo cũ?

Câu đó hẳn nhiên mang nghĩa bao quát hơn. Việc quyên góp đồ cũ, nếu làm với thiện tâm, cũng mang ít nhiều giá trị; cũng không nên khinh thường những việc nhỏ nhặt. Nhưng ở đây không chỉ có thế. Một mặt, nó đề cập tới điều thực tế. Là người, ta không chỉ yêu trên nguyên tắc và thỉnh thoảng gởi cho tí tiền, nhưng phải mở mắt ra để thấy chỗ nào người khác cần đến mình trong cuộc sống. Và ta sẽ thấy là điều này thường không dễ, chẳng thoải mái. Hãy nhớ lại câu chuyện ông linh mục và các thầy tư tế gặp người bị trấn lột trên đường. Họ đã không dừng lại, có lẽ vì sợ bị lỡ cái hẹn quan trọng, hay sợ bị nguy hiểm vì đoạn đường đó heo hút. Lí do thì lúc nào cũng có.Trái lại, dụ ngôn toà án của  Đức Giê-su, cũng như các mối thương người, nói lên điều rất cụ thể: Không những ta phải thương người một cách chung chung, mà còn phải giúp đỡ cụ thể những kẻ thiếu thốn mình gặp, cả lúc không thuận tiện, không có giờ hay không sẵn phương tiện. Ta phải nghĩ đến từng trường hợp riêng lẻ, chứ không phải chỉ có những chiến dịch lớn mà thôi.

Đòi hỏi tình yêu nơi Ki-tô giáo và nơi cộng sản cũng khác nhau. Tình yêu cộng sản chỉ nhắm tới kế hoạch lớn, tới việc cải tổ cơ cấu và bỏ qua trường hợp cá thể. Dĩ nhiên cũng cần những kế hoạch lớn, nhưng không được bỏ qua việc bác ái cá nhân, là công tác rất quan trọng, và nhất là làm sao giúp cho những người đó có được những khả thể tốt hơn. Vì vậy trong Giáo Hội đã có những bệnh viện, những trường học cho người nghèo, và nhiều thứ khác nữa. Tắt lại, phải quan tâm tới cả hai: không bỏ sót người bên cạnh ta trong những chương trình lớn, cũng như phải làm sao thay đổi cơ cấu bất công và trợ giúp cụ thể cho những ai gọi là trần truồng cần áo mặc.

Bên cạnh bảy mối thương thân xác còn có bảy mối thương linh hồn:
Lấy lời lẽ mà khuyên kẻ hoài nghi
Mở dạy kẻ mê muội
Răn bảo kẻ có tội
Yên ủi kẻ âu lo
Tha thứ kẻ tạo bất công cho mình
Nhịn kẻ mất lòng ta
Cầu nguyện cho kẻ sống lẫn người đã qua đời.

Việc nhân ái không được đóng khung trong khía cạnh vật chất mà thôi, đó là điểm quan trọng. Nếu chỉ lo chuyện vật chất mà thôi thì thật quá ít. Vì vậy, trong viện trợ phát triển, càng ngày ta càng thấy rõ tầm quan trọng của việc giúp con người có được kiến thức và học vấn, để họ đủ khả năng tự giải quyết lấy chuyện của mình. Chỉ khi ta giúp cho trí tuệ, giúp cho con người toàn diện, lúc đó ta mới thực sự giúp. Vì thế, đưa Chúa đến cho con người lại càng là chuyện quan trọng. Giúp tạo nên những tiêu chuẩn luân lí quả là công tác nhân ái hàng đầu.

Thử lấy ra một mối: “Mở dạy kẻ mê muội”. Tôi nghĩ, ít khi người được dạy bảo coi đó là hành vi nhân ái.

Hãy nhìn vào thí dụ viện trợ phát triển ở châu Mĩ la-tinh. Ở đây, Giáo Hội cũng như các nhóm tả đều coi công tác chống mù chữ là yếu tố chính trong hoạt động của mình. Tại sao? Là vì bao lâu con người còn u minh, bấy lâu họ còn tiếp tục bị lệ thuộc. Họ không thể tự thân thoát ra được tình trạng có thể nói là nô lệ đó. Chỉ khi họ tiếp cận được với sản phẩm giáo dục, lúc đó họ mới có thể trở nên ngang hang, và lúc đó xã hội, đất nước họ mới thật sự phát triển. Và như vậy, việc dạy bảo kẻ u minh ở đây được người ta hiểu là phương cách giúp họ đi vào được thế giới trí tuệ, giúp họ có được chìa khoá để hiểu những gì đang chuyển động thế giới ngày nay.

Cũng vậy, nếu ta nhìn lại các phong trào trước đây ở Âu châu, như việc mở trường dạy học cho kẻ nghèo ở Pháp của Jean la Salle*, ta thấy người nghèo, mà bao nhiêu thế hệ đã bị kìm giữ trong lệ thuộc, đã có được vận hội học hành thật lớn. Học là chìa khoá nền tảng mở tung các cánh cửa trí tuệ, là công tác sơ đẳng của nhân ái tinh thần. Dĩ nhiên với điều kiện không chỉ dạy cho người ta biết đọc mà thôi, mà việc đọc này cũng đưa họ vào một liên hệ tinh thần có ý nghĩa, có nghĩa là không phải dạy cho họ một ý thứchệ, nhưng cũng là mở ra cho họ con đường dẫn tới đức tin.

CHUỖI MÂN CÔI (MAI KHÔI)

Giáo Hội đã đặt ra một lời kinh đặc biệt có liên quan trực tiếp với bí ẩn của đức Maria, đó là chuỗi mân côi. Đó là một thứ kinh cầu đọc theo chuỗi từng hạt một: bắt đầu với dấu thánh giá (giáo huấn đức tin); tiếp theo là kinh Kính mừng nói lên ba đức hạnh thiên chúa: tin, cậy, mến (giáo huấn sống); bộ chuỗi gồm ba sự vui, thương, mừng; mỗi sự suy gẫm về năm “bí mật” của đức Mẹ với  Đức Giê-su, đây là những công thức tóm gọn toàn bộ nội dung Tân Ước.

Những nhà tư tưởng và thần bí lớn mọi thời đều trân trọng bộ chuỗi, coi đó là nguồn sức mạnh tinh thần và là cánh cửa mở ra bao nhiêu khả thể khác. Ngày nay, một đàng chuỗi được xem là một thứ gì lỗi thời khó chịu, đàng khác, nó được coi là một hứa hẹn thiêng liêng có thể nâng đỡ người ta trong cuộc sống thường nhật và giúp họ có được ý thứcsống tốt hơn. Tôi chưa có kinh nghiệm, nhưng có lẽ mình phải bỏ nhiều thì giờ tập làm quen, rồi mới dần nhận ra được khả năng suy niệm với nó, như các nhà sư Tây-tạng vẫn làm. Có lẽ phải lần hàng trăm, hàng trăm và hàng trăm chuỗi rồi mình mới ngộ ra được; và ngược lại, mình cũng bắt đầu phải tập hiểu mình hơn và nhận ra đâu là tâm điểm của con người mình. Theo Hồng Y, đâu là cái bí ẩn của bộ chuỗi?

Nguồn gốc lịch sử bộ chuỗi có từ thời trung cổ. Thời đó, kinh cầu hàng ngày là các Thánh Vịnh. Nhưng hầu hết dân thời đó mù chữ nên không thể đọc được Thánh Vịnh của Kinh Thánh. Vì vậy phải có một Thánh Vịnh thích hợp cho họ, và người ta đã gặp được kinh Kính mừng, trong đó chứa đựng những bí ẩn về cuộc đời  Đức Giê-su Ki-tô, và người ta đã xếp lời kinh đó tiếp nhau như xâu chuỗi. Những lời kinh này, khi đọc đi lặp lại trong tinh thần suy niệm, có tác dụng làm con người an tâm, và càng bám vào lời kinh khi đọc, nhất là bám vào hình ảnh Mẹ và hình ảnh Đức Ki-tô trong đó, tâm hồn con người tìm được nỗi yên tĩnh và giải thoát và hướng được lòng lên cùng Chúa.

Trên thực tế, chuỗi mân côi nối ta vào cái hiểu biết và kinh nghiệm cội nguồn, đó là sự lặp đi lặp lại. Lặp đi lặp lại là một phần của cầu nguyện và suy niệm, và nó cũng là một thứ nhịp điệu đưa ta vào yên tĩnh, nghỉ ngơi. Không nhất thiết phải suy nghĩ từng chữ khi đọc, nhưng trái lại cứ thả hồn đi vào nhịp đều đều, đọc qua đối lại của lời kinh. Lại nữa, lời kinh cũng đâu phải là không có nghĩa. Nó làm hiện ra trước mắt và tâm ta những hình ảnh và viễn kiến lớn, nhất là hình ảnh của Maria, và qua Mẹ, là hình ảnh của Chúa Con.

Người dân thời đó phải làm lụng nặng nhọc, họ không thể vận dụng trí tuệ nhiều khi cầu nguyện. Trái lại, họ cần một lối cầu kinh giúp họ an tâm, và cũng giúp họ quên đi những âu lo, và mang lại an ủi và ơn lành cho họ. Tôi nghĩ, cái kinh nghiệm cội nguồn của lịch sử tôn giáo đó: kinh nghiệm về sự lặp đi lặp lại, về nhịp điệu và về lời kinh tiếng hát đọc chung này có tác dụng ủi an và giải thoát. Lời kinh đọc chung lan toả đầy không gian, nâng tôi lên, nó không làm cho tôi khó chịu, nhưng đưa tôi vào lắng đọng tâm hồn. Kinh nghiệm cội nguồn đó đã trở nên một thứ gì hoàn toàn Ki-tô giáo, khi, trong khung cảnh mẹ Maria và với hình ảnh Đức Ki-tô này, nó giúp con người cầu nguyện một cách thật đơn giản, nhưng dù vậy, lời kinh vẫn thấm được vào hồn – nó vượt lên trên vòng trí thức, vọng vào hồn và toát ra bằng lời.

Ngài có lối lần chuỗi nào khác lạ không?

Tôi lần cách rất đơn giản, giống i như cha mẹ tôi đã làm. Cha mẹ tôi rất thích lần chuỗi. Về già, ông bà lại càng thích lần hạt. Càng về già, người ta càng ít khả năng làm những chuyện trí óc lớn, càng cần một nơi trú ẩn tâm hồn, và nhất là càng muốn được hoà chung vào lời cầu của Giáo Hội. Và tôi đã cầu nguyện giống i như ông bà đã làm.

Nhưng cầu thế nào? Ngài đọc một hay cả ba chuỗi?

Không, ba chuỗi thì nhiều quá, tôi là người vọng động, nên dễ bị chia trí. Tôi chỉ đọc một, hoặc thường là hai hay ba chục thôi, vì rồi có thể lại làm một cái gì khác để khỏi chia trí, để được yên tĩnh, lấy lại tỉnh táo đầu óc. Vì thế, cả chuỗi thì nhiều quá.

Câu hỏi cuối của phần này: Phải cần bao nhiêu thời gian người ta mới có thể hiểu được đôi chút về những bí ẩn của đức tin, và cả về nghệ thuật tin?

Mỗi người mỗi khác. Có những người rất dễ lắng đọng tâm hồn. Có những kẻ khác khó hơn. Nhưng quan trọng là không được bỏ cuộc, phải kiên trì. Và rồi người ta từ từ sẽ thấy mình lớn lên trong đó.

Dĩ nhiên có những thời điểm thuận lợi, mà cũng có những lúc khô khan. Có những lúc mình thật dễ bị đánh động và bắt đầu thấy được đôi chút – nhưng rồi lại có những lúc rất khó khăn.

Điều quan trọng trong tiến trình lớn lên của tinh thần này, là không phải chỉ biết cầu nguyện và để tâm vào đức tin những khi mình muốn và cảm thấy thuận lợi mà thôi, nhưng phải giữ kỉ luật. Guardini đã luôn nhấn mạnh điểm này. Nếu chỉ biết cầu nguyện theo hứng thôi, thì đức tin có thể mất. Đức tin cũng cần kỉ luật trong thời hạn hán, có như thế nó mới âm thầm đâm rễ. Cũng giống như cây cỏ vẫn âm thầm tăng trưởng trong cánh đồng mùa đông. “Bánh mì mọc giữa mùa đông”, nhà văn nữ Ida Friedericke Görres đã nói như thế.

Và người ta nên bắt đầu cầu nguyện bằng gì? Bằng các câu hỏi?

Chẳng bao giờ nên chỉ bằng suy tư mà thôi. Bởi vì nếu ta nhìn Chúa qua ống nghiệm suy nghĩ và muốn hiểu Ngài bằng thuần lí thuyết, thì ta sẽ thất bại. Phải luôn liên kết câu hỏi với hành động. Pascal có lần nói với một người bạn không tin: Trước hết, hãy làm theo những gì người có đức tin làm, cho dù những cái đó xem ra vô lí đối với bạn.

Tôi nghĩ, ở điểm này mỗi người có cách riêng của mình. Lịch sử cho thấy, có nhiều người nhìn ra cánh cửa đức tin từ nơi Maria. Nhiều người khác đã thấy được điểm khởi đầu nơi Đức Ki-tô, qua việc đọc Tin Mừng. Tôi cho rằng, đọc Tin Mừng luôn luôn là một cách để bước vào niềm tin. Nhưng không phải đọc như kiểu mấy nhà sử đọc, họ chẻ bản văn ra để tìm xem câu này bắt nguồn từ đâu, í kia từ đâu, nhưng đọc trong tinh thần hướng về Đức Ki-tô, bằng cách luôn biết chuyển vào cầu nguyện khi đọc.

Tôi cho rằng có một tương quan qua lại trong các nhịp bước – đôi khi cũng là bước vấp ngã – giữa sống đạo thực hành và việc tìm kiếm trong suy tư. Đức tin không bao giờ đứng trơ trọi một mình, nhưng luôn đi tới với những người tin; những người này hiểu tôi, có thể họ cùng ở trong một hoàn cảnh với tôi, và nhờ thế một càch nào đó có thể giúp đỡ, dẫn dắt tôi. Đức tin luôn lớn lên trong cái chúng-ta. Ai chỉ muốn tin một mình, thì người đó đã bước sai ngay từ đầu.

6 THÁNH GIÁ

Thường người ta có thói quen trốn chạy đau khổ bằng mọi cách. Và không có gì gây bực tức cho xã hội mạnh hơn, là quan điểm Ki-tô giáo cho rằng phải chấp nhận, chịu đựng và ngay cả sẵn sàng đón nhận đau khổ, để nhờ đó thắng vượt nó. Giáo chủ Gio-an Phao-lô II tin rằng “đau khổ là một ẩn số của con người”. Tại sao?

Nhân loại ngày nay đang tìm cách đẩy đau khổ ra khỏi thế gian. Đối với từng cá nhân, điều đó có nghĩa là phải làm sao tránh bị đau khổ. Nhưng người ta cũng phải thấy rằng, như vậy thì thế giới sẽ hoá ra rất lạnh lẽo, rất khó sống. Đau khổ là một thành tố của kiếp người. Và ai thực sự muốn diệt đau khổ, người đó tất cũng phải huỷ tình yêu; không có đau khổ thì chẳng có tình yêu, bởi vì tình yêu luôn đòi hỏi từ bỏ một phần chính mình, bởi vì tình yêu, tuỳ theo tâm tính mỗi người và mức độ tình huống, cũng luôn kéo theo với nó sự từ bỏ và đau khổ.

Nếu ta biết con đường tình yêu – cuộc xuất hành, ra đi khỏi mình – là con đường thật để thành người, thì ta cũng hiểu rằng đau khổ là tiến trình trưởng thành. Ai sẵn sàng chấp nhận đau khổ, người đó trưởng thành hơn, hiểu người khác hơn, là người hơn. Ai trốn tránh đau khổ, kẻ đó không hiểu tha nhân, sẽ trở nên vị kỉ, tàn bạo.

Chính tình yêu là một cực hình, một chịu đựng. Thoạt tiên tôi cảm nghiệm được trong nó nỗi sung sướng, tôi kinh nghiệm được hạnh phúc thật. Mặt khác, đối lại, tôi cũng phải bước ra khỏi sự yên lành thoải mái của tôi, và phải chấp nhận mình thay hình đổi dạng. Nếu ta bảo, đau khổ là mặt trái của tình yêu, thì ta cũng hiểu được việc học đau khổ quan trọng là dường nào – và ngược lại, cũng hiểu được tại sao việc tránh đau khổ làm cho con người mất khả năng sống. Trường hợp này, đời ta chỉ còn là trống rỗng, rồi có thể chỉ còn lại bực tức, khước từ, hết còn trưởng thành, hết còn biết sẵn sàng chấp nhận.

Việc gì sẽ xẩy ra, nếu Đức Ki-tô không xuất hiện và không chết trên thánh giá? Không có Ngài thì thế gian đã ra tiêu tan từ lâu rồi phải không?

Điều đó không thể nói được. Nhưng ta có thể nói được, là nếu không có Ngài, con người không thể đến được với Thiên Chúa. Con người lúc đó chỉ còn biết tìm Ngài trong lần mò đứt đoạn. Và rốt cuộc họ chẳng còn biết Thiên Chúa là ai hay là gì nữa.

Dĩ nhiên, cũng có đôi chút ánh sáng thiên chúa loé lên trong các tôn giáo lớn, song đấy cũng chỉ là những đốm sáng rời rạc hay cũng chỉ là những câu hỏi. Vả, nếu như câu hỏi về Thiên Chúa không có câu trả lời, nếu con đường dẫn tới Ngài bị tắc nghẽn, nếu không có sự thứ tha – sự thứ tha do chính Thiên chúa uỷ quyền -, thì cuộc sống con người trở thành một cuộc thí nghiệm vô nghĩa. Như vậy là chính Chúa đã kéo mây đen ra khỏi một khoảnh bầu trời, Ngài thắp lên ánh sáng, rọi chiếu mở ra cho ta một con đường, con đường chân lí, con đường giúp ta sống, và đường đó chính là sự sống.

INRI – CUỘC KHỔ NẠN CỦA CHÚA KI-TÔ

Một người như  Đức Giê-su hẳn đã khiến cho dư luận lưu tâm ghê gớm và đã khiêu khích mọi tập thể. Vị tiên tri ở Na-da-ret đó không chỉ được người đương thời hoan hô, mà còn bị nhạo báng và truy nã. Giới cầm quyền coi Ngài và giáo huấn của Ngài là mối nguy cho quyền lực họ, phía Pha-ri-sêu và và các thượng tế bắt đầu tìm cách giết Ngài. Rõ ràng cuộc khổ nạn đã là một phần của sứ điệp Ngài, bởi vì chính Đức Ki-tô đã cho các môn đồ biết trước về khổ nạn và cái chết đó. Ngài nói thế này vào ngày lễ vượt qua, trong hai ngày nữa “Con Người sẽ bị nộp và bị treo trên thánh giá”.

 Đức Giê-su đã chuẩn bị tinh thần cho các môn đệ, để họ hiểu rằng, đấng Thiên Sai sẽ không xuất hiện như một kẻ giải phóng, hay như một kẻ uy quyền vinh quang sẽ đưa Is-ra-el trở lại với quyền lực huy hoàng của thời xưa cũ. Ngài đã không tự gọi mình là Thiên Sai, nhưng là Con Người. Con đường của Ngài, trái lại, chỉ là con đường vô quyền và chấp nhận cái chết, bị nộp cho người ngoài đạo, như Ngài đã nói, và bị họ treo lên thánh giá. Ngài muốn các môn đệ phải hiểu Nước Chúa sẽ đi vào trần gian bằng con đường đó, chứ không bằng con đường nào khác.

Bức họa nổi tiếng của Leonardo da Vinci*, Bữa Tiệc Li, vẽ lại cảnh bữa ăn chia tay giữa  Đức Giê-su và các tông đồ. Trong chiều tối hôm đó, Ngài đã làm cho các tông đồ ngỡ ngàng thất vọng, khi Ngài cho hay sẽ có sự phản trắc. Sau đó Ngài lập ra phép Thánh thể, phép mà từ đó tới nay đã gần hai ngàn năm vẫn được ki-tô hữu cử hành mỗi ngày.

Tin Mừng viết, “Trong bữa ăn,  Đức Giê-su cầm lấy bánh và đọc lời chúc tụng; rồi Ngài bẻ bánh, đưa cho các tông đồ và nói: Hãy cầm lấy mà ăn; đây là mình thầy. Rồi Ngài cầm chén rượu, dâng lời ca tụng, đưa cho các tông đồ và nói: “Hãy cầm lấy mà uống, đây là máu thày, máu của giao ước mới, sẽ đổ ra để anh em và nhiều người được tha tội. Hãy làm việc này để nhớ đến thày”. Có lẽ đây là những câu cho tới ngày nay được lặp đi lặp lại nhiều nhất trong lịch sử. Chúng xem ra như một công thức thánh.

Chúng là một công thức thánh. Nghĩa là những câu nói vượt ra hẳn ngoài mọi sự thường tình, mọi chờ đợi, mọi suy tính. Đó là những câu chứa đựng kho tàng vô giá và ý nghĩa thâm sâu. Muốn biết Đức Ki-tô, tốt nhất nên suy niệm những câu đó và cùng cử hành sự hiện diện của chúng, những lời đã trở thành bí tích. Phép Thánh thể là một tổng kết về Đức Ki-tô.

Ở đây, Đức Ki-tô lấy lại những sợi chỉ nền tảng của Cựu Ước. Một mặt, Ngài dựa vào việc lập Giao ước cũ ở núi Si-nai, và cho thấy rõ rằng, sự việc khởi đầu ở Si-nai giờ đây lại xẩy ra một cách mới: Giao ước mà Thiên Chúa đã lập với con người, giờ đây đã thật sự hoàn thành. Bữa tiệc li là biến cố thành lập Giao ước mới. Khi Ngài giao mình cho con người, lúc đó một cộng đoàn máu mủ giữa Thiên Chúa và con người thành hình.

Mặt khác, ở đây lời của tiên tri Jê-rê-mi-a tiên báo về việc lập Giao ước mới cũng được nhắc tới. Cả hai vòng cựu ước (lề luật và tiên tri) tan biến vào trong sự thống nhất này và đồng thời hình thành nên một hành vi bí tích. Trong đó thập giá đã được hé mở cho thấy trước. Bởi vì nếu như Đức Ki-tô cho đi thịt máu Ngài, cho đi chính Ngài, thì điều kiện đặt ra là Ngài phải cho thực sự. Như vậy thì những lời trên cũng là hành động nội tại của thập giá, hành động đó nói lên rằng, Chúa đã biến bạo lực bên ngoài đối với Ngài thành ra một hành động tự tặng mình cho nhân loại.

Và ở đây, có một điểm nữa cũng đã được nói ra trước, đó là phục sinh. Không thể cho người ta ăn thịt chết, thân xác chết. Chỉ vì Ngài sẽ phục sinh, nên thịt và máu của Ngài trở nên mới. Và không phải ăn uống kiểu con người, nhưng là sự kết hợp với  Đấng Phục Sinh hằng sống.

Xem thế, chỉ trong mấy lời trên, ta thấy chứa đựng cả một tổng hợp lịch sử tôn giáo, một tổng hợp lịch sử đức tin của Is-ra-en cũng như chính cuộc sống và công trình của  Đức Giê-su, và cuộc sống và công trình của Ngài này cuối cùng đã trở thành bí tích và hiện diện luôn mãi.

Các môn đệ cùng Ngài lên núi Cây dầu. Tại đây, Phê-rô khẳng định sẽ chẳng bao giờ phản bội thầy mình.  Đức Giê-su muốn vào vườn Giệt-sê-ma-ni để cầu nguyện. Ngài bị cảm kích mạnh và bị cám dỗ tấn công. Buồn và sợ xâm chiếm Ngài. “Tâm hồn thầy lo buồn đến chết”, Ngài nói với hai môn đệ, “hãy ở lại và thức với thầy”. Hai môn đệ vừa bước khỏi mấy bước thì Ngài sấp mình xuống đất. Ngài cầu nguyện và có lẽ cũng khóc thầm. Hai môn đệ nghe tiếng Ngài “Cha ơi, nếu được thì xin cất chén này khỏi con. Nhưng không theo í con, mà tuỳ í Cha muốn”.

Đây là một trong những đoạn cảm động và gây xúc động nhất của Tân Ước. Bí ẩn về cơn lo sợ của Chúa Ki-tô luôn là nội dung mới mẻ để ta suy gẫm, cũng như các bậc thánh lớn đã hằng suy gẫm.

Ở đây, tôi thấy như có một cuộc vật lộn giữa tâm hồn con người và tâm hồn thiên chúa trong  Đức Giê-su Ki-tô. Ngài thấy toàn bộ vực thẳm xấu xa và kinh hãi của kiếp người, mà Ngài phải mang trên mình và phải trải qua. Ngài thấy nỗi kinh hoàng của gánh nặng đang tới với Ngài. Không chỉ cái sợ của giờ phút bị hành hình mà thôi, mà đó là cuộc đối diện với toàn bộ kinh hoàng và vực thẳm của vận mạng con người mà Ngài gánh trên mình. Cảm nhận đó của Ngài vượt xa những gì ta có thể cảm nhận. Cả ta nữa cũng có thể khiếp hãi, lúc đứng trước nỗi kinh hoàng của lịch sử con người, lúc nhìn vào vực thẳm huỷ diệt con người khi họ chối từ Thiên Chúa.

Nhà thần học người Hi-lạp Maximus Confessor đã có một lối diễn tả biến cố cầu nguyện trên núi cây dầu thật đặc biệt. Ông bảo, đã có một “phản ứng hoá học về hiện hữu”. Nghĩa là, lúc đó í muốn của  Đức Giê-su đã trở thành một với í muốn của Chúa Con, và như vậy làm một với í muốn của Chúa Cha. Toàn bộ sự đối kháng của bản tính con người chống lại sự chết và những gì khiếp hãi, đã toát lên trong lời cầu nguyện.  Đức Giê-su phải thắng vượt bản tính đối kháng của con người chống lại Thiên Chúa. Ngài phải thắng vượt cơn cám dỗ làm trái ý Thiên Chúa. Ở đây, cơn cám dỗ đã đạt tới cao điểm, và rồi nó sẽ bị bẻ gẫy để đưa tới tiếng xin vâng. Cuối cùng, í Chúa và í người hoà tan vào nhau làm bật lên lời xin: “Nhưng đừng theo í con, mà theo í Cha”.

Các môn đệ xem ra mệt mỏi. Khi thầy trở lại, thì các ông đã ngủ.  Đức Giê-su thất vọng: “Các anh không thể thức với thầy được một giờ sao”?

Vâng, Ngài thất vọng. Và ki-tô hữu mọi thời đều thấy câu nói của  Đức Giê-su trong giây phút đó đã vang vọng vào dọc dài lịch sử Giáo Hội. Các môn đệ của Ngài luôn ngủ. Luôn luôn xẩy ra chuyện con cái Ngài ngủ, khi việc nhà Chúa đang ở trong tình thế nguy kịch. Ngài đưa họ tới gần Ngài, để họ chia sẻ bớt gánh nặng cô đơn của Ngài, nhưng rõ ràng đã chẳng ai cảm được nỗi kinh hoàng của giây phút đó.

Và Đức Ki-tô còn nói: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện, để đừng bị sa chước cám dỗ. Tâm trí thì sẵn sàng, nhưng xác thịt thì yếu đuối”.

Câu đó làm ta liên tưởng tới lời Chúa nói sau cơn hồng thuỷ: “Ta thấy chúng chỉ là xác thịt, yếu đuối, cần được tha thứ và thương xót”. Như vậy, cuối cùng, nỗi thất vọng của Ngài đã tan biến vào lòng thương xót.

Giu-đa dẫn theo một đám đông lính võ trang. Ông bước tới  Đức Giê-su và hôn Ngài. Đó là mật hiệu. Quân lính vừa xấn tới  Đức Giê-su thì Phê-rô bước ra, rút gươm và chém đứt tai một anh tay sai của thượng tế.  Đức Giê-su chỉ Phê-rô nói: “Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì ai dùng gươm thì sẽ chết vì gươm”.

Phê-rô muốn minh chứng điều mình đã hứa là thật, ông sẵn sàng chết với Thầy. Dĩ nhiên Phê-rô rồi cũng phải hiểu ra rằng kiểu can đảm kia chẳng đi tới đâu cả, vì nó chẳng giải quyết được gì.

Nhưng đây là điều  Đức Giê-su cũng muốn nói cho toàn bộ lịch sử. Ngài cảnh cáo: Việc nhà Chúa không thể bảo vệ được bằng gươm giáo, như người ta, tiếc thay, vẫn luôn cố làm. Ai muốn dùng bạo lực để bảo vệ Chúa, người đó chống lại Ngài.

Sau khi Thầy bị bắt, các môn đệ bỏ chạy hết, không sót một ai. Người ta dẫn Ngài tới thượng tế Cai-pha để tra khảo. Nhưng bản luận tội của Cai-pha thiếu thuyết phục, các lời chứng đều là chuyện bịa đặt. Cuối cùng họ đã tìm ra được một tội: Nhạo báng Thiên Chúa. Thượng tế ép Ngài: “Ngươi hãy thề trước Thiên Chúa hằng sống, có phải ngươi là Thiên Sai, là Con Thiên Chúa không”? Và  Đức Giê-su đã thẳng thắn trả lời: “Đúng như điều ông nói”.

Là thầy cả thượng tế, Cai-pha có trách nhiệm về mặt đức tin cho cả Is-ra-en. Hẳn nhiên Cai-pha thật sự không muốn ra án tử cho Con Thiên Chúa. Ông biết Giê-su là người tin vào một Thiên Chúa duy nhất, đây là tâm điểm đức tin của giáo lýdo-thái giáo; cái tội của Giê-su, theo ông, là đã dám xưng mình là Con Thiên Chúa. Dĩ nhiên ông đã không nhìn ra được gì khác, vì đức tin nơi ông đã bị bó rọ trong công thức. Song ta cũng không nên phán xét ông một cách hời hợt, vì dù sao thì ông cũng phải hành động theo trách nhiệm tôn giáo của mình.

Cuộc khổ nạn bắt đầu. Các thầy luật và trưởng lão là những người đầu tiên nhổ vào mặt  Đức Giê-su. Họ lấy khăn chụp vào đầu Ngài và vả Ngài: “Mày là Thiên Sai, là tiên tri, hãy nói cho chúng tao biết ai đánh mày?” Phê-rô lúc đó đang luẩn quẩn trong sân, ông bị nhận diện và đã chối Thầy. Nhưng khi ông nhận ra hành động mình, ông bỏ ra ngoài, bật khóc cay đắng. Cả Giu-đa cũng chẳng sung sướng gì về việc làm của mình, ông rất hối hận. Ông vứt tiền vào Đền thờ và tự tử.

Ở đây,ta thấy con người yếu đuối một cách thảm hại:Thoạt tiên Phê-rô chạy trốn, nhưng rồi quay lại để xem chuyện gì xẩy ra.Theo cái nhìn của ông, việc chối Thầy chỉ là một lời nói dối nhỏ nhặt, chẳng qua để khỏi bị nhận diện để được gần Thầy mà thôi.Nhưng dưới cái nhìn của  Đức Giê-su, đó là một hành vi hèn nhát bỏ cuộc.

Cái thích thú đối với tôi là phản ứng khác nhau của hai kẻ có tội. Một người nhận ra con đường ăn năn và nhờ đó được đón nhận lại. Người đó sẵn sàng nhận thứ tha, không thất vọng, i đau khổ, quay ra ăn năn và trở về. Người kia quá hoảng hốt về việc phản bội của mình và chẳng còn tin vào sự tha thứ nữa.

Khác biệt là đó. Hai loại ăn năn, tự lên án mình. Người này không rơi vào hư vô, nhưng để mình được đón nhận trở lại. Người kia chẳng còn tin vào sự tha thứ, để mình tự hủy diệt và vì thế không còn chấp nhận con đường đổi mới đang mở ra.

Tôi tin đây là một bài học đầy ý nghĩa cho những ai bị vấp ngã, cho mọi thứ ý thứctội lỗi và mọi cách vượt thắng tội lỗi. Sự tự lên án quá đà và sai lầm, để cuối cùng dẫn đến việc chối bỏ mình hoàn toàn, không phải là phương cách đúng đắn để giải quyết tội lỗi mình.

 Đức Giê-su bị lôi tới tổng trấn người Rô-ma tên là Pontius Pilatus. Pilatus nhạo Ngài: “Ông là vua dân Do-thái?  Đức Giê-su trả lời: “Vâng, tôi là vua, nhưng vương quốc của tôi không ở trong thế giới này. Tôi được sinh ra để làm vua và có mặt trong thế gian này để làm chứng cho sự thật. Ai ở trong sự thật, kẻ đó nghe tiếng tôi”. Pilatus không thể hiểu được câu trả lời, nhưng hỏi lại  Đức Giê-su một cách nghi hoặc: “Sự thật là gì”?

Thoạt tiên  Đức Giê-su bị xét xử và kết án trước toà án do-thái. Nhưng không hiểu tại sao các thế lực do thái lại không thi hành bản án, mà lại chuyển sang toà án của chính quyền Rô-ma. Tại đây, người ta chẳng còn tố Ngài bổ báng Thiên Chúa nữa, mà kết tội Ngài là một tay chính trị muốn lật đổ nền cai trị của Rô-ma, nghĩa là từ án tôn giáo biến thành án chính trị. Pilatus có lẽ chẳng thích thú gì về việc luận tội này.

Bản án không vững, và ông quan toà Rô-ma này là một người vô liêm sĩ, lúc đầu ông chẳng thú vị gì làm anh đao phủ cho người Do-thái. Hình ảnh Pilatus này xem ra thật tân thời. Khi  Đức Giê-su nói về chân lí, câu trả lời của ông đúng là của một kẻ hoài nghi chính hiệu: Như thế là sự thật ư? Vậy thì tay này quả đúng là người gàn, hắn ta quả quyết mình là chứng nhân cho sự thật và sẵn sàng chết cho sự thật đó.

Ông toàn quyền Rô-ma tuyên bố với đám đông, ông thấy Giê-su không có tội gì. Nhưng theo thói quen tha tội nhân vào những dịp lễ lớn, ông để cho họ chọn giữa Giê-su và tay bạo hành Barabas. Đám đông nhao lên: “Tha Barabas!” “Còn Giê-su?” “Đóng đinh vào thập giá”! Pilatus trao vật tế cho đám đông, nhưng rửa tay trước mặt họ để nói lên sự vô tội của mình.

Đoạn này cũng cho ta một bài học về đám đông. Trong đám đông có lẽ cũng có những người trước đó vô hại, những người đã mến và hoan hô Giê-su. Ta thấy đám đông có thể huỷ hoại lương tâm đến thế nào. Nó có thể làm cho chính con người trở nên vong thân và biến họ thành dụng cụ của sự dữ.

Như trước đó các thầy cả đã làm, giờ đây các tay lính cũng bỡn cợt với tù nhân. Họ lột áo, khoác lên mình Ngài một tấm vải đỏ và đội lên đầu Ngài một mũ gai. Đưa cho Ngài một cây gậy thay vương trượng, và rồi cả đám quỳ xuống mà rằng: “Này vua Do-thái, hãy tự cứu mày đi”. Rồi họ nhổ vào mặt Ngài, giật gậy và đánh vào đầu Ngài. Cũng lại là Pilatus, trước cảnh tượng đó, ông đã kêu gọi lòng thương hại: “Ecce homo – hãy xem, một người như thế”.

Tất cả những đoạn đó rất thâm sâu. Chúng dẫn ta bằng nhiều lối tới cả một chuỗi sự kiện, từ nỗi tầm thường của sự dữ cho tới nét khiêm tốn của quyền lực và của tình yêu thiên chúa. Trước hết, ta thấy sự vô tri của đám đao phủ, đối với họ độc ác đã trở thành chuyện thường tình. Nhưng có lẽ còn có cái gì thẳm sâu hơn nữa đàng sau những diễu cợt kia. Bởi vì chính kẻ đội vương miện bị nhạo báng đó là vua thật của thế giới. Kẻ đội vương miện bằng gai kia, nghĩa là đội lấy nỗi đau đớn của thế giới, là vua thật. Câu nói của Pilatus vô tình chứa đựng một nội dung vượt lên trên nghĩa chữ. Một cách nào đó ông đã nói: “Vâng, cái đó là người”, một con bọ thảm thương. Đồng thời ông chỉ vào con người thật, con người mang hình ảnh Chúa trong đau khổ.

Đám lính dẫn kẻ nhục hình với mũ gai trên đầu về Gôn-gô-ta, đến “núi sọ”.  Đức Giê-su vác thập giá nặng, Ngài đổ mồ hôi máu. Ba lần Ngài gục ngã vì gánh nặng. Chị Vê-rô-ni-ca trao cho Ngài tấm khăn để lau mặt tạm, những phụ nữ khác khóc, nhưng tuyệt đối không có ai đứng hai bên đường sẵn sàng vác đỡ cho Ngài. Có lẽ vì sợ Ngài chết dọc đường không đến được nơi hành hình, đám lính đã bắt một người tên là Si-mê-on ở Xi-rê-nê vác đỡ cho Ngài một đoạn.

Lòng sùng mộ Ki-tô giáo đã lấy con đường thánh giá, con đường ngày nay ta có thể đi lại ở Giê-ru-sa-lem, làm nguyên biểu tượng cho bước đường đau khổ của con người. Một số biến cố trong đó đã trở thành nội dung suy gẫm, chẳng hạn như ba lần Chúa ngã hay hình tượng Vê-rô-ni-ca. Đó là những cảm nhận của con tim khi bước theo con đường đó. Đường thánh giá và chuỗi mân côi là kinh cầu quan trọng được hình thành do lòng sùng mộ của tín hữu phương tây trong thời trung cổ. Đó không những là chứng liệu quan trọng về sự trưởng thành tâm hồn và về lòng đạo đức, nhưng thực tế là một trường học của nội tâm và của những an ủi. Đó cũng là trường học dạy ta xét mình, giúp ta trở về, giúp tâm hồn biến đổi và dạy ta cách cùng đau khổ với tha nhân – không phải chỉ cảm nhận cái đau khổ của người mà thôi, mà đó còn là một cái gì thôi thúc ta phải nhận chân con người mình và sửa mình nên tốt hơn.

Hình ảnh Xi-mê-on dĩ nhiên cũng quan trọng không kém. Thế giới ki-tô hữu nhìn thấy trong đó một nhiệm vụ không bao giờ dứt. Có thể nói Đức Ki-tô vác thập giá đi suốt toàn bộ lịch sử. Ngài mong chờ những bàn tay của Vê-rô-ni-ca hay của Xi-mê-on sẵn sàng chia sẻ gánh nặng thánh giá.

Không thể tưởng tượng được việc đám lính hành hạ  Đức Giê-su. Tất cả những thù hận, những gì muông thú, xấu xa nhất mà con người có thể gây cho nhau, đều được chúng đổ lên đầu Ngài.

 Đức Giê-su là một nạn nhân điển hình của bạo lực. Chúng ta vừa chứng kiến con người trong thế kỷ20 đã có thể man rợ tới chừng nào; họ đã tự sỉ nhục và phá huỷ chính khuôn mặt mình, qua việc phá huỷ bộ mặt tha nhân. Trước sự kiện con “Chiên Thiên Chúa” đã phải gánh thay vào mình tất cả những nhục nhã đó, chúng ta một mặt phải rúng động về sự dã man của con người, phải đặt lại vấn đề với chính mình về việc đã tỏ ra hèn nhát hay câm lặng đứng nhìn, cũng như chính mình đã đồng loã với tội ác. Mặt khác chúng ta phải sửa đổi mình để Chúa được vui. Chúa đã đứng về phía những người vô tội và những người đau khổ, và Ngài cũng muốn thấy ta cùng đứng ở phía đó.

Trên thập giá  Đức Giê-su còn bị chế nhạo. Lính đưa cho Ngài rượu có trộn mật đắng. Họ còn treo trên thập giá tấm bảng viết: Giê-su Na-da-ret, vua Do-thái (INRI). Các thượng tế và thầy luật la lên: “Mày muốn phá Đền thờ rồi xây lại trong ba ngày ư? Nếu là con Thiên Chúa thì hãy cứu mình và xuống khỏi thập giá đi.” Nhưng  Đức Giê-su đã không rời thập giá. Ngài chẳng nói gì. Chẳng nói gì cả. Từ giờ thứ sáu tới giờ thứ chín trời đất bỗng tối sầm. Vào khoảng giờ thứ chín Ngài kêu lên: “Eli, Eli, lema sabachtani”. Một câu thật lạ, vì nó mang nghĩa: “Chúa ơi, Chúa ơi, sao Ngài bỏ con?”

Về việc trao thức uống, Tin Mừng kể lại hai cách. Mat-thêu nói đó là rượu trộn mật đắng, và người ta trao cho Ngài lúc bắt đầu đóng đinh, có lẽ đó là một thứ thuốc tê. Nhưng Ngài đã từ chối, vì Ngài muốn chịu đựng nỗi đau với tất cả cảm giác. Mac-cô, Lu-ca và rõ hơn Gio-an bảo đó là giấm, và người ta đã trao cho Ngài khi sắp tắt thở. Rõ ràng các thánh sử muốn liên tưởng tới câu Thánh Vịnh: “Thay vì của ăn chúng đưa cho tôi thuốc độc và giấm” (Tv 69,22). Một vài chỗ trong sách tiên tri cũng viết: Ta đã trồng một vườn nho và nó đã đưa cho ta giấm – một lời than trách vẫn luôn đúng cho hoàn vũ Ki-tô giáo.

Rồi ta nghe những nhạo báng đổ lên  Đức Giê-su. Sách Khôn ngoan trong Cựu Ước có viết: “Những kẻ bất lương nhạo báng người công chính”. Chúng đưa Ngài tới chỗ chết và nói: Này là lúc hãy tỏ cho chúng tao thấy mày có phải Thiên Chúa hay không. Đó là lối thử nghiệm của họ. Đó là giây phút chiến thắng, mà những người pha-ri-sêu, có thể một số trong họ trước đó đã bị cắn rứt lương tâm, giờ đây thấy mình có lí và quay ra nhạo báng Ngài. Như vậy là họ thông đồng với nỗi tầm thường của sự dữ, như nó đã được thể hiện nơi đám binh lính.

Tin Mừng cho hay  Đức Giê-su trên thập giá đã thốt ra bảy lời tất cả. Lời nhắc đến trên kia có tầm quan trọng bản lề. Đó và câu đầu của Thánh Vịnh 21, bài bi ca lớn của dân Is-ra-en, cho thấy trong lịch sử, cứ mỗi lần dân này bị áp bức và bị dồn vào đường cùng, đều kêu lên: “Chúa ơi, Chúa ơi, sao Ngài bỏ rơi tôi?”. Dùng Thánh Vịnh 21 để cầu nguyện, là  Đức Giê-su muốn đồng hoá mình với dân tộc đau khổ Is-ra-en, và muốn nhận vào Ngài số phận của dân này.

Nhưng ta không được quên, đó cũng là một lời cầu nguyện. Trong tiếng la nguy kịch đó Ngài đã hướng về Thiên Chúa.  Đức Giê-su chết như một người cầu nguyện, như một người làm theo lời dạy của điều răn thứ nhất, là luôn cầu nguyện với Thiên Chúa. Thánh Vịnh đưa ta vào một nỗi tín thác lớn, nó tiên tri về phép Mình Thánh và chấm dứt với câu: “Người nghèo được ăn uống no nê”. Từ thập giá tuôn ra Manna mới làm cho kẻ nghèo được no nê.

Khi Ngài tắt thở, khăn Đền thờ bị xé đôi. Động đất, đá tảng vỡ ra, ta còn đọc thấy là mồ mả mở tung. Bao nhiêu thế kỉ, các nghệ sĩ cố gắng bằng mọi cách diễn tả cảnh tượng đó. Tôi nhớ đặc biệt tới một tấm hình: Kẻ bị đóng đinh gục đầu hơi nghiêng về một bên vai, mắt nhìn thẳng vào người xem. Mũ gai ấn mạnh vào sọ. Máu tuôn đầy người. Nước mắt Ngài chảy ra. Nhưng dù bị khổ nạn, ánh mắt hé mở và không bị hây hấn gì của Ngài vẫn toát ra nét bình an. Dù có đủ lí do để than thở, nhưng kẻ bị nạn vẫn mỉm cười với người xem. Chẳng có một nét gì gọi là trách cứ trên khuôn mặt đó,  Đức Giê-su trông như đã được giải thoát và hoàn toàn thanh thoải. Càng nhìn Ngài lâu, quái lạ ta càng nhận ra rõ nét an ủi bên cạnh nét u sầu.

Chỉ trong suy niệm, chỉ khi hồn ta qua cầu nguyện đồng hoá làm một với Đức Ki-tô chịu đóng đinh, khi đó ta mới có được những hình ảnh chịu nạn đích thực, lớn và thuần khiết. Chúng vừa nói lên nỗi khát khao, cơn túng quẫn, nỗi đau đớn và sự tra tấn man rợ nhất, nhưng đồng thời cũng cho thấy sự bình an trong câu nói cuối cùng: “Con phó linh hồn trong tay Cha. Sự việc đã hoàn tất”.

 Đức Giê-su gục đầu và tắt thở. Ngài trút tinh thần và trao nó lại cho Cha Ngài, và sự bình an đã chói rạng lên từ câu nói cuối cùng của Ngài. Hình chịu nạn không bao giờ được phép chỉ nói lên khía cạnh man rợ mà thôi, vì như thế chúng không diễn tả hết được cái bí ẩn của Đức Ki-tô. Nếu chúng chỉ muốn nhắm tới việc thoá mạ con người không thôi, thì chính chúng lại trở nên đích cho người ta diễu cợt.

PHỤC SINH

Trong vòng 24 tiếng đồng hồ, khắp Giê-ru-sa-lem nhận ra sự kiện phục sinh. Người trong thành sáng hôm đó ai nấy đều sửng sốt. Lại có động đất, cuộc động đất hai ngày trước đó đã làm rung chuyển Đền thờ, rồi suốt trong ba giờ liền bão cát nổi lên, tiếp đó lại động đất. Khi các bà là những người đầu tiên tri hô lên không còn thấy xác, người nghe coi đó là chuyện nhảm. Nhưng đến chiều tối thì chẳng còn ai ngờ gì nữa, nhất là trong đám môn đệ.  Đức Giê-su đã hiện ra với hai trong số các môn đệ trên đường đi Ê-mau và đã tỏ mình cho họ biết. Lịch sử đạo Ki-tô như là lịch sử của một niềm tin khởi đầu từ giây phút này.

Giê-ru-sa-lem đã biết đến sự kiện sớm hay muộn, ta không rõ. Ta chỉ biết qua kết luận của Mat-thêu rằng, cả sau cuộc hiện ra cuối cùng của Chúa trên núi Si-nai – Đấng bị đóng đinh đã sống lại và nói: “Mọi quyền năng đã được trao cho Ta” – thì vẫn còn có những kẻ không tin. Sứ điệp phục sinh luôn gặp phải ngờ vực và chối bỏ, cho dù nó là một sứ điệp chiến thắng, sứ điệp vượt thắng hoài nghi.

Đức Ki-tô đã ra khỏi thế gian và ra khỏi cuộc sống thế gian để mặc lấy một thân xác mới. Thân xác này không còn bị lệ thuộc bởi các quy luật vật lí; nó thuộc về thế giới thiên chúa, từ thế giới đó Ngài tỏ mình ra cho con người và mở lòng họ, để họ nhận ra và đụng chạm được Ngài. Chúng ta luôn được mời gọi, cùng với “tông đồ không tin” Tô-ma, sờ vào Ngài và nhận ra cái hiện tại sống động mà Ngài luôn tỏ mình ra một cách mới trong lịch sử.

Biến cố phục sinh là một cái gì mới đi vào trần thế, và từ đó Giáo Hội đã có thể hình thành. Và trong thực tế, phục sinh là cộng đoàn của những người tin vào Đức Ki-tô, cộng đoàn của Dân thiên chúa mới.

Thập giá, biểu tượng linh thiêng nhất của vũ trụ, như Guardini đã nói, đã trở thành dấu chỉ của ki-tô hữu. Thập giá với một người bị đóng đinh – là một biểu tượng gây khó chịu, tạo chống đối. Ngay Phao-lô đã phải cảnh giác: Đừng làm cho thập giá trở nên vô nghĩa, đừng đặt ngang hay dựng đứng nó, đừng biến cái hơn của Chúa ra cái kém của thế giới.

Thật ra đó là một câu chuyện có một không hai. Thập giá không những là nơi kết thúc sứ điệp và chính thân xác thịt máu của  Đức Giê-su. Chính nó đã trở thành biểu tượng cứu độ, biểu tượng không phải của sự chết, mà là sự sống. “Gỗ của sự sống thật” thánh An-rê ở Giê-ru-sa-lem đã hát lên như thế. Điều trớ trêu: Qua thập giá tới cứu độ.

Những bức ảnh chịu nạn xưa mô tả người bị đóng đinh đồng thời cũng là kẻ sống lại, là vua. Hình người trên đó mở mắt, để cho thấy bản chất không chết của Thiên Chúa, nhưng Ngài sống mãi và trao tiếp sự sống. Như vậy, từ một công cụ hành hình xấu xa của người Rô-ma, thập giá đã trở nên dấu chỉ chiến thắng của Con Người. Dấu chỉ đó sẽ không chỉ đến với ta trong ngày sau hết, nhưng nó đã tới, qua việc Ngài đến với ta như một kẻ chiến thắng và mang ta đi. Cùng với Ngài ta lên đường tiến về Thiên Chúa hằng sống; qua nỗi đau khổ của Ngài ta thấy niềm an ủi của tình yêu thiên chúa, tình yêu này mạnh hơn đau khổ.

Như vậy, thập giá thật sự đã trở thành một dấu chỉ cứu độ, dấu chỉ vắn gọn của  Đức Giê-su Ki-tô, qua đó chúng ta nối kết với Ngài.

Các môn đệ ở Giê-ru-sa-lem quả đã bị một cú xốc lớn: Đấng Thiên Sai, Đấng đã có thể chữa lành người mù và khiến kẻ chết sống lại, bỗng dưng hiện thân như một kẻ bị sỉ nhục, bị dày đạp và bị đám tay sai quyền lực treo lên thập giá. Điều tuyệt đối không thể giải thích được: Tại sao Thiên Chúa lại phải đau đớn và chết, mới cứu được tạo vật của Ngài?

Đó là bí ẩn của Thiên Chúa: Ngài không đi vào trần thế để cải tạo công bằng xã hội bằng quyền lực. Ngài đã vì ta hạ mình và để cùng đau khổ với ta.

Ta sẽ không bao giờ hiểu hết được bí ẩn đó. Và dù vậy, cái tích cực nhất mà ta biết được về Chúa, là Ngài không đơn giản cai trị bằng quyền lực. Thiên Chúa có lối sử dụng quyền lực riêng, không như lối của con người. Quyền lực của Ngài là sức mạnh cùng yêu và cùng khổ, và khuôn mặt thật của Ngài tỏ lộ ra chính trong đau khổ. Thiên Chúa mang nỗi bất công của thế giới trong đau khổ, nhờ đó chính trong những giờ phút đen tối ta có thể chạy tới cùng Ngài là kẻ gần với ta nhất.

Thiên Chúa trở nên bé nhỏ, để ta có thể nắm bắt được Ngài. Để cho con người học được nguyên tắc sống chống lại thói kiêu căng và muốn làm trời của họ. Ngài tới như một người sờ đúng trái tim ta.


 


[1] Händel (1685 – 1759): nhạc sĩ sáng tác người Đức, đặc biệt nổi tiếng với nhiều vở nhạc kịnh, trong đó có vở „Messias“.

[2] Edith Stein (1891 – 1942): người Đức gốc Do thái, triết gia, môn sinh của nhà hiện tượng học Edmund Husserl. Vào đạo công giáo, sau khi đọc cuốn sách tự thuật của thánh Teresa ờ Avila, và trở thành nữ tu dòng. Chết trong lò thiêu của Quốc-xã Đức. Năm 1998 được giáo chủ Gio-an Phao-lô II nâng lên bàn thánh.

[3] Karl Jaspers (1883 – 1969): Triết gia và nhà phân tâm người Đức. Vì vợ là người Do-thái, nên bị Quốc-xã cấm dạy học, và đã di cư sang Thụy-sĩ sống, dạy học.

[4] Patrick (khoảng 385 – 461): Thánh bổn mạng của Ái-nhĩ-lan. Dân Ái-nhĩ-lan tôn ngài là „tông đồ“, vì ngài đã đưa đạo tới cho họ.