File "vao-hoang-dia.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN/_Nam_B/2012/MuaChay/ThuTuLeTro/vao-hoang-dia.htm
File size: 67.31 KiB (68928 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>Chúa nhật VII thường niên - Năm B</title><base target="main"><meta name="keywords" content="Chúa nhật VII thường niên - Năm B; suy niệm, tinmung.net, DongCong, "><style>
<!--
.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
-->
</style>
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000">Chúa nhật VII thường niên - Năm B</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center"> </td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right"> </td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; text-align:justify"><div>Vào hoang địa với Đức Giêsu </div><div><b>CHÚA NHẬT I MÙA CHAY, năm B</b><br><br><i>Mc 1, 12-15</i><br><br>Mùa chay là dịp, là cơ hội thuận tiện nhất để chúng ta quay về với chúa, và nhận ra vô vàn cám dỗ đang bủa vây chúng ta. Những cám dỗ này dù được trá hình dưới bất cứ hình thức nào thì nó vẫn là những vật làm cản trở bước tiến của chúng ta đến với Chúa và đến với anh chị em của chúng ta. Chúa nhật I mùa chay, năm B, mời gọi chúng ta hãy vào sa mạc với Đức Kitô để ăn chay, cầu nguyện và với sự tác động của Chúa Thánh Thần, chắc chắn chúng ta sẽ lướt thắng ma quỉ và những mưu mô trá hình của chúng. Chúng ta cũng sẽ như Đức Kitô với ý của Chúa Cha, chúng ta quyết định cuộc đời của chúng ta…<br><br>Sau khi lãnh nhận phép rửa thống của Gioan Tẩy Giả bên dòng sông Giorđăng, Chúa Giêsu đã khai mạc sứ vụ công khai của Ngài bằng lời mời gọi: ” Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng “ ( Mc 1, 15 ). Rồi cũng chính thời gian đó, Thánh Thần đã dẫn đưa Ngài đến nơi thanh vắng, nơi hoang địa để ăn chay, cầu nguyện. Đây là cuộc tĩnh tâm của Chúa Giêsu kéo dài trong vòng 40 đêm ngày. Và chính trong cuộc tĩnh tâm này, Chúa đã định hướng rõ ràng cho sứ vụ cứu thế của Ngài và cũng chính nơi hoang địa Chúa chịu ma quỉ cám dỗ, và Ngài đã chiến thắng ma quỉ để khai mở sứ vụ rao giảng và cứu độ của Ngài.<br><br>Trong sứ vụ rao giảng Nước Trời, Chúa Giêsu đã cho thấy: ” Biến cố lớn lao về sự chết và phục sinh của Ngài được gọi là Mầu Nhiệm Vượt Qua “. Do đó, phép rửa là Bí tích lớn lao Mùa chay gợi lên bởi vì qua phép rửa chúng ta được kết hiệp với Mầu Nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô.Bài đọc I thánh Phêrô cho chúng ta thấy chúng ta đã được cứu chuộc qua Bí tích rửa tội như Thiên Chúa đã cứu ông Noe và gia đình khỏi cơn đại hồng thủy. Qua cơn đại hồng thủy, Thiên Chúa đã thiết lập một giao ước tình yêu với dân của Người.. Nước rửa tội giúp chúng ta từ tình trạng tội lỗi bị chết như mọi người, chúng ta được tái sinh trong đời sống mới của Đức Kitô và chúng ta được sống cuộc sống mới và đi vào sự sống vĩnh cửu đời đời. Khi lãnh nhận Bí tích rửa tội, chúng ta nên trong trắng, nên tinh tuyền, sạch mọi vết nhơ tội lỗi nhưng vì là con người chúng ta vẫn còn lỗi phạm và hay sa ngã, tuy nhiên chúa đã giải hòa chúng ta qua Bí tích giải tội, bí tích lớn lao chúng ta luôn phải nghĩ, luôn phải mau mắn đến với Bí tích này trong Mùa chay.<br><br>Bí tích hòa giải nhằm giúp chúng ta làm hòa với Chúa và làm hòa với anh chị em của chúng ta. <br><br>Là Kitô hữu, chúng ta đang mặc lấy con người mới là Đức Kitô. Tuy nhiên là con người mang thân phận yếu hèn, tội lỗi, chúng ta luôn bị ma quỉ, sự dữ bủa vây. Những cám dỗ luôn là những thử thách, những thách đố cho chúng ta. Những cám dỗ có thể nói luôn nhiều, luôn đầy dẫy. Ma quỉ dưới nhiều hình thù quai ác dẽ làm mê hoặc đời sống của chúng ta. Xưa ma quỉ đã dùng tiền tài, danh vọng, phù hoa, phú quí để cám dỗ Chúa. Ngày nay, chúng con dùng nhiều cám dỗ tinh vi, thủ đoạn hơn nữa để thúc giục con người sa ngã, phạm tội. Nên, chúng ta phải có ơn Chúa đễ biết chọn lựa điều tốt, điều xấu, việc nên làm và việc không nên làm vv…Ngày nay, với khoa học tiến bộ vượt bực, với Internet, với những kiểu dụ dỗ tinh vi như ma túy, sì ke, như bài bạc, như ăn mặc hở hang, như những chất kích dục, những hình ảnh sex đang làm mê hoặc rất nhiều người.<br><br>Thắng được cám dỗ là điều đòi hỏi cử chỉ, thái độ anh hùng, thái độ từ bỏ, hy sinh…Thắng thể xác nhiều khi còn dễ hơn thắng cám dỗ tinh thần. Do đó, chúng ta cần phải có ơn Chúa, cần phải từ bỏ và hy sinh tập luyện không ngừng.<br><br>Cám dỗ nào cũng khiến chúng ta chỉ nghĩ tới mình, và nhiều khi chúng ta im lặng, mù quáng để phạm tội, để chấp nhận. Chúng ta phải biết ăn chay, cầu nguyện và thực hành đức ái, nghĩ tới tha nhân bằng việc bố thí. Chỉ khi nào chúng ta bám chặt lấy Chúa thực sự chúng ta mới dễ dàng lướt thắng và thắng được những cám dỗ đang kéo chúng ta dần xa Chúa và xa anh em.<br><br>Lạy Thiên Chúa toàn năng, hằng năm Chúa ban cho chúng con bốn mươi ngày chay thánh, để tôi luyện hồn xác chúng con. Xin giúp chúng con sống những ngày khắc khổ ấy, để học biết Đức Kitô, và dõi theo gương Người, hầu xứng đáng hưởng ơn Người cứu độ. ( Lời nguyện nhập lễ, Chúa nhật I mùa chay ).<br><br><b>GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ: </b><br><br>1.Ai dẫn Chúa Giêsu vào hoang địa ?<br><br>2.Ma quỉ cám dỗ Chúa những gì ?<br><br>3.Mùa chay là cơ hội gì ?<br><br>4.Mùa chay kéo dài bao lâu ?<br><br>4.Mùa chay bắt đầu từ lễ nào ? </div><div>Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT<br><br><br> <div><br><br> </div><br> <p style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="left"><b><font color="#006666" face="Verdana" size="4">TÂM TÌNH MÙA CHAY</font></b></p><hr align="left" color="#FF4D20" width="80%"><p style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="left"><b><font color="#0000FF" face="Arial"><span style="font-size: 12pt">Mùa Chay Là Gì? </span></font></b></p><p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right"><span style="font-style: italic"><font color="#008000" face="Arial" size="2">Sưu Tầm</font></span></p><font face="Arial">Mùa Chay là mùa ăn năn thống hối, cầu nguyện, bố thí, mùa chịu nạn, thương khó, chuẩn bị cho đại biến cố Phục Sinh. Được bắt đầu từ thứ tư Lễ Tro và kết thúc với Chúa Nhật Phục Sinh. Nó chứa đựng 40 ngày chay tịnh để tưởng nhớ đến biến cố Chúa vào trong hoang địa ăn chay, cầu nguyện và sau đó chịu sự cám dỗ trong 40 đêm ngày; là thời gian của thương khó và thống hối. (thực sự là 46 ngày, nếu tính từ Thứ tư lễ Tro cho đến Chúa nhật Phục sinh, nhưng theo nghĩa hẹp, Mùa Chay tính từ Chúa nhật thứ nhất đến chiều Thứ Năm Tuần Thánh, nghĩa là cho tới lúc cử thành thánh lễ Tiệc Ly vào ban chiều "in Caena Domini", trong đó Chúa lập Bí tích Thánh Thể, rửa chân cho 12 môn đệ và truyền lại Giới răn mới) (Thời gian 40 ngày cũng để nhớ lại 40 đêm ngày Maisen cầu nguyện trên Núi Sinai và được Chúa trao cho 10 Giới răn. Rồi 40 ngày còn để nhớ lại cuộc hành trình 40 ngày trong sa mạc của Tiên tri Elia, lúc ông trốn khỏi cơn thịnh nộ của Hoàng hậu Gezabele, để tiến về Núi Oreb (cũng là núi Sinai, kế Biển Ðỏ và Kênh đào Suez), nơi đây Chúa mạc khải và trao cho ông sứ vụ mới (1 Vua 19),<br>Trong ba thế kỷ đầu, Mùa Chay chỉ kéo dài hai hay ba ngày, sau đó kéo dài từ ba đến bốn tuần. Con số bốn mươi được áp dụng do quy định của Công Đồng Nicaea (325). Ngoại trừ những ngày Chúa Nhật, Giáo Hội đề nghị các tín hữu nên ăn chay theo luật định. Toàn thời gian Mùa Chay cũng là thời gian chuẩn bị tâm hồn cho cuộc khổ nạn, chịu chết và Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô. Trong Mùa Chay không được kết hôn, Linh mục mặc áo màu tím, không có kinh Vinh Danh và Alleluia trong Thánh lễ. Không đệm đàn khi không có tiếng hát. Không trưng bông trên bàn thờ. Mỗi ngày có Thánh lễ với những lời mở đầu Mùa Chay khác nhau. Trong thời gian này, Giáo Hội chuẩn bị cho biến cố trung tâm của lịch sử, sự Cứu Chuộc nhân loại của Chúa Giêsu Kitô.<br>Công Đồng Vaticanô thứ hai dạy rằng :” Mùa Chay có hai đặc tính :1/ Hồi tưởng lại bí tích rửa tội hoặc là chuẩn bị cho bí tích này. 2/Nhấn mạnh đến tinh thần ăn năn, sám hối. Bởi những ý nghĩa đặc biệt này, mùa Chay chuẩn bị cho các tín hữu sẳn sàng cử hành mầu nhiệm vượt qua sau thời gian tiếp cận, gần gũi hơn với Lời Chúa và nồng nhiệt hơn trong sự cầu nguyện. Trong chính bản thân phụng tự và trong những hướng dẩn từ trung tâm của phụng tự, những chủ đề về rửa tội và thống hối được tuyên bố cách sâu sắc hơn” (SC 109).<br>“..Hằng năm qua bốn mươi ngày của Mùa Chay, Giáo Hội hiệp thông với mầu nhiệm của Chúa Giêsu trên hoang địa” (GLGHCG 540)<br>Vì thế tinh thần Mùa Chay là làm cho nội tâm cũng như hành động của mỗi cá nhân liên hệ đến phụng tự của Giáo Hội nhiều hơn và các tín hữu đáp trả nhiều hơn đối với sứ điệp và sự dạy dỗ của Chúa Kitô. Do đó Giáo Hội kêu gọi các tín hữu hảy hăng hái hy sinh, hãm mình, làm việc bác ái, cầu nguyện và làm việc Tông đồ trong </font></div><br><br> <p style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right"><b><font color="#0000FF" face="Arial"><span style="font-size: 12pt">Mùa Chay hay mùa 40 ngày!</span></font></b></p><p style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right"><font face="Arial"><i><strong><font size="2"> </font></strong><font size="2">Bình Hòa, OP. </font><strong><font size="2"><br></font></strong></i><font size="2"><strong style="font-weight: 400"><i>Nguồn tin: </i></strong></font><i><font size="2"><a target="_blank" href="http://www.daminhvn.net">http://www.daminhvn.net</a></font></i></font></p><div><div style="text-align: justify"><p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><font face="Arial"><img alt="" style="float: left; margin: 12px" height="210" width="174">Trong tiếng Việt, mùa phụng vụ mà chúng ta đang sống được gọi là “mùa Chay”. Danh xưng này không được chính xác, bởi vì trọng tâm của thời kỳ này không phải là ăn chay. Tên gọi trong nguyên gốc latinh là “Quadragesima” có nghĩa là 40 ngày. Đây là con số mang tính cách biểu tượng của sự đào tạo chuẩn bị. Đức Giêsu đã lên hoang địa 40 ngày để chuẩn bị sứ vụ công khai. Sau khi phục sinh, đức Giêsu hiện ra với các môn đệ trong vòng 40 ngày để chuẩn bị họ thi hành sứ vụ loan báo Tin mừng. Trong Cựu ước, các ông Mosê và Elia cũng trải qua 40 ngày chuẩn bị trước khi diện kiến Thiên Chúa trên núi Horeb.<br><br>Ngoài ra, số 40 cũng nhớ lại 40 năm dân Do thái lưu lạc trên sa mạc trước khi vào đất hứa. Chính vì thế mà từ thời các giáo phụ, Giáo hội đã đặt ra mùa 40 ngày để chuẩn bị các tín hữu mừng lễ Vượt qua, và cách riêng chuẩn bị các dự tòng lãnh các bí tích khai tâm. Bài Tin mừng chúa nhựt thứ nhất mùa 40 thuật lại việc Chúa Giêsu vào trong hoang địa để ăn chay và chịu Satan cám dỗ. Tuy nhiên thay vì dừng lại ở Satan và các chước cám dỗ, bài huấn dụ hôm qua trình bày về các thiên sứ đến phục vụ Chúa Giêsu sau cuộc chiến thắng. Vào buổi chiều, đức thánh cha bắt đầu tuần tĩnh tâm kéo dài cho đến sáng thứ 7. Năm nay vị giảng phòng là đức hồng Francis Arinze, người Nigeria, nguyên tổng trưởng bộ phụng tự, với chủ đề là “Linh mục gặp Chúa Giêsu và đi theo Người”.<br><br>Sau đây là nguyên văn bài huấn dụ.<br><br>Anh chị em thân mến<br><br>Hôm nay là chúa nhật thứ nhất mùa Bốn Mươi. Bài Tin mừng theo thánh Marcô, với lối hành văn ngắn gọn và súc tích, đưa chúng ta vào bầu khí của mùa phụng vụ này với những lời như sau: “Thần khí đẩy đức Giêsu vào nơi hoang địa, và Người ở lại đó 40 ngày, chịu Satan cám dỗ” (Mc 1,12). Bên Thánh địa, ở mạn đông của sông Giorđanô và cánh đồng Giêricô, nổi vượt lên hoang địa Giuđa, với những đồi núi chập chùng cao chừng một ngàn thước, kéo dài cho đến Giêrusalem. Sau khi đã lãnh phép rửa bởi ông Gioan, đức Giêsu vào nơi cô tịch, dưới sự hướng dẫn của Thánh Linh, Đấng đã ngự xuống trên Người, đã thánh hiến và mặc khải Người là Con Thiên Chúa. Trong hoang địa, nơi của thử thách như kinh nghiệm của dân Israel cho thấy, biểu lộ rõ rệt thực tại bi đát của mầu nhiệm tự huỷ (kenosis) của đức Kitô, kẻ lột bỏ hình dong Thiên Chúa (xc. Pl 2,6-7). Đức Kitô, kẻ không phạm tội và không thể nào phạm tội, đã chịu đựng thử thách, và như thế Người có thể cảm thông nỗi yếu đuối của chúng ta (xc Dt 4,15). Người đã chịu cám dỗ bởi Satan, kẻ đối lập, ngay tử nguyên thuỷ đã chống lại kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa dành cho loài người.<br><br>Đối lại với hình ảnh đen tối của kẻ đến cám dỗ Chúa Giêsu, bài trình thuật ngắn ngủi phác thảo sự hiện diện của các thiên sứ, một hình ảnh sáng ngời và huyền nhiệm. Theo bài Tin mừng, các thiên sứ đến “phục vụ” Đức Giêsu (Mc 1,13). Họ là những kẻ đối nghịch với Satan. “Thiên sứ” có nghĩa là kẻ được phái cử. Trong suốt Cựu ước, chúng ta gặp thấy hình ảnh của các ngài; nhân danh Thiên Chúa họ đến giúp đỡ và dẫn dắt loài người. Chỉ cần nhớ lại Sách Tobia, trong đó xuất hiện thiên sứ Raphael, để giúp đỡ cậu Tobia trong nhiều việc. Sự hiện diện trấn an của sứ thần Chúa đã theo dõi suốt dòng lịch sử dân Israel trong hết mọi biến cố vui buồn. Trước thềm Tân ước, thiên sứ Gabriel được phái đến để báo cho ông Dakaria và bà Maria những biến cố bắt đầu lịch sử của ơn cứu độ chúng ta, và một thiên sứ, không nói rõ tên, đã hiện ra với ông Giuse để hướng dẫn ông trong lúc do dự. Một ca đoàn thiên sứ đã mang đến các mục đồng tin vui Đấng Cứu thế giáng sinh, cũng như các thiên sứ sẽ báo tin cho các phụ nữ tin mừng Chúa phục sinh. Vào cuối dòng thời gian, các thiên sứ sẽ tháp tùng Chúa Giêsu khi Người trở lại trong vinh quang (xc. Mt 25,33). Các thiên sứ phục vụ Chúa Giêsu, Đấng cao trọng hơn họ, và địa vị của Người được nêu bật ở đây tuy dưới hình thức kín đáo. Thực vậy, đức Giêsu, tuy ở trong tình trạng cực kỳ nghèo khó và khiêm tốn, chịu Satan cám dỗ, nhưng Người vẫn là Con Thiên Chúa, là Đấng Mesia, là Chủ tể.<br><br>Anh chị em thân mến, chúng ta sẽ cắt bỏ một phần đáng kể của Tin mừng nếu chúng ta gạt qua các thiên sứ, những kẻ được Chúa phái đến, đến loan báo sự hiện diện của Chúa ở giữa chúng ta, và họ trở nên một dấu chỉ. Chúng ta hãy năng kêu khẩn các ngài, xin các ngài nâng đỡ chúng ta trong nỗ lực đi theo Chúa Kitô đến độ đồng hóa với Người. Chúng ta hãy xin các ngài, cách riêng ngày hôm nay, canh giữ tôi và các cộng sự viên trong giáo triều Rôma, sẽ bắt đầu tuần tĩnh tâm chiều nay.<br><br>Lạy Đức Maria là Nữ vương các tông đồ, xin cầu cho chúng con.</font></div></div><p style="text-align: right"><font face="Arial"><strong>Tác giả bài viết: </strong>Bình Hòa, OP. <br> </font></p><p style="text-align: right"><br> </p><p style="text-align: right"><br> </p><p style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right"><b><font color="#0000FF" face="Arial">Chiêm ngắm cuộc khổ nạn</font></b></p><p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right"><span style="font-style: italic"><font color="#008000" face="Arial" size="2">Sưu tầm</font></span></p><p align="justify"><span style="font-family: Arial"><font size="3">Lễ Lá là một lễ vui mừng, nhưng lại đượm nét buồn. Hôm nay chúng ta được nghe bài Thương Khó Đức Giêsu trong thánh lễ. Tuần Thánh đã bắt đầu. Ðức Giêsu bước vào cuộc khổ nạn với những ngày cuối đời. </font></span></p><p align="center"><span style="font-family: Arial"><font size="3"><img border="0" height="274" width="365"></font></span></p><p align="justify"><span style="font-family: Arial"><font size="3">Hosana! Hosana! Đó là tiếng hò reo vang vọng một góc trời khi Đức Giêsu đi vào thành Giêrusalem. Đám đông dân chúng với những cành lá trên tay, với những tấm khăn trải trên đường cho Ngài bước đi, với những cánh tay đưa lên cao để tung hô Ngài là Ðấng Mêsia, là Con Vua Ðavít. Nhưng chỉ một tuần sau, chính những cánh tay đó cũng giơ cao để gào thét, để chửi rủa chế nhạo, và để đòi đóng đinh Ngài vào thập giá. Ôi lòng người sao tráo trở, mau đổi trắng thay đen!</font></span></p><p align="justify"><span style="font-family: Arial"><font size="3">Đức Giêsu, Ngài là Con Thiên Chúa và cũng là con người, Ngài không xa lạ với khổ đau của phận người. Ngài biết thế nào là bị vu khống, bất công, phản bội… thế nào là bị nhục nhã, sợ hãi, cô đơn và bị giết chết. Ngài không phân tích mầu nhiệm đau khổ, nhưng Ngài đón lấy đau khổ với tình yêu to lớn: tình yêu của kẻ thí mạng vì người mình yêu.</font></span></p><p align="justify"><span style="font-family: Arial"><font size="3">Qua bài Thương Khó hôm nay, bạn và tôi, chúng ta hãy đi với Ðức Giêsu qua từng chặng đường của cuộc Khổ Nạn, từ vườn Cây Dầu đến tận Núi Sọ… Ðừng theo Chúa như một người bàng quang xa lạ, bởi lẽ mọi sự Ngài chịu là vì bạn và tôi, cho bạn và cho tôi. Sau khi cảm nghiệm được những đau thương khổ nhục của Chúa Giêsu trong cuộc Khổ Nạn, bạn và tôi sẽ thấy mình yêu thánh giá của Chúa hơn, mến thập giá của mình hơn, và kính trọng thập giá của người khác nhiều hơn. </font></span></p><p align="justify"><span style="font-family: Arial"><font size="3">Qua bài Thương Khó hôm nay, Ðức Giêsu đã xuống tận cùng sâu thẳm của phận người. Ngài muốn gieo hy vọng cho những ai thất vọng. Ngài đem lại ý nghĩa cho những khổ đau vô lý. Ngài đã đón nhận tất cả với tình yêu thứ tha, nhờ đó thập giá của Ngài đã nở hoa để trở thành thánh giá, vực thẳm của phận người đã mang lại sức sống tràn trề.</font></span></p><p align="justify"><span style="font-family: Arial"><font size="3">Khi chiêm ngắm cuộc khổ nạn và cái chết của Ðức Giêsu, ta không cảm thấy đó là chuyện xa lạ. Vì trên thế giới ta đang sống hôm nay, mỗi ngày vẫn còn biết bao Giêsu vô tội bị kết án bất công, bị làm nhục, bị khinh khi, bị hành hạ và đối xử tàn tệ cho đến chết. </font></span></p><p align="justify"><span style="font-family: Arial"><font size="3">Khi chiêm ngắm cuộc khổ nạn và cái chết của Ðức Giêsu, và nhất là đi đàng thánh giá với Ngài, giúp ta bình an hơn với thập giá của chính mình, nhậy cảm hơn với thập giá của tha nhân, và nhận ra mình có trách nhiệm trước những cuộc khổ nạn đang diễn ra trên thế giới hôm nay. </font></span></p><p align="justify"><span style="font-family: Arial"><font size="3">Khi chiêm ngắm cuộc khổ nạn và cái chết của Ðức Giêsu, ta thấy mình không phải là kẻ đứng ngoài cuộc. Ta thấy mình có nét của Giuđa: Một người được chọn, được yêu, được theo Thầy rất gần, bao phép lạ đã chứng kiến, bao lời vàng ngọc đã được nghe... Tất cả đã òa vỡ tan biến khi Giuđa phản bội Thầy bằng nụ hôn giả dối. </font></span></p><p align="justify"><span style="font-family: Arial"><font size="3">Khi chiêm ngắm cuộc khổ nạn và cái chết của Ðức Giêsu, ta thấy mình có nét giống Phêrô: Ông tự hào về tình yêu của mình đối với Thầy để rồi dễ dàng chối Thầy trước một cô đầy tớ. Tiếng gà nào khiến Phêrô chợt tỉnh? Ánh mắt tha thứ nào của Thầy khiến Phêrô òa khóc? Ngày hôm nay vẫn còn văng vẳng đâu đây tiếng gà gáy trong đêm và ánh mắt của Chúa trong đời ta... </font></span></p><p align="justify"><span style="font-family: Arial"><font size="3">Khi chiêm ngắm cuộc khổ nạn và cái chết của Ðức Giêsu, ta thấy mình có nét giống Philatô. Ông bị trói chặt bởi nỗi sợ: sợ dân nổi loạn, sợ mất chức. Ông bị mất tự do vì áp lực của đám đông gào thét. Ông không đủ bản lãnh để tha một người vô tội. Ta cũng thấy mình có nét giống Hêrôđê: tò mò, háo hức, trông chờ Ðức Giêsu làm phép lạ... Nhưng ông mau chóng thất vọng khi thấy Ngài lặng thinh. Ông buồn vì không gặp một Giêsu như ông mong ước. </font></span></p><p align="justify"><span style="font-family: Arial"><font size="3">Khi chiêm ngắm cuộc khổ nạn và cái chết của Ðức Giêsu, ta nhìn thấy những điểm sáng ngời. Điểm sáng đó từ nơi Simon: ông vác đỡ thập giá Ðức Giêsu trên đường lên núi Sọ. Điểm sáng khác từ nơi các phụ nữ theo sau Thánh Giá Chúa Giêsu, họ vừa đi vừa than khóc. Điểm sáng rực rỡ hơn cả từ nơi người trộm lành. Một người bị đóng đinh lại tin vào một người bị đóng đinh khác. Anh tin Ðức Giêsu vô tội và anh xin Ngài nhớ đến anh. Lòng tin khiến anh trở nên người đầu tiên được hưởng nhờ Ơn Cứu Độ. </font><em><font size="3">"Hôm nay, anh sẽ ở với tôi trên thiên đàng". </font></em></span></p><h1 align="center"><span style="font-family: Arial; color: red; font-weight: 400"><font size="3">***</font></span></h1><p align="justify"><span style="font-family: Arial"><font size="3">Lạy Chúa Giêsu, </font></span></p><p align="justify"><span style="font-family: Arial"><font size="3">Vì Chúa đã xao xuyến trong Vườn Cây Dầu, xin ban cho con sức mạnh để đối diện với những khó khăn vất vả trong cuộc sống. </font></span></p><p align="justify"><span style="font-family: Arial"><font size="3">Vì Chúa chịu sỉ nhục và bị nhạo báng, xin cho con luôn biết khiêm nhường và vâng phục.</font></span></p><p align="justify"><span style="font-family: Arial"><font size="3">Vì Chúa chịu vác thập giá nặng nề , xin cho con biết noi gương bắt chước Chúa, biết can đảm chấp nhận vác lấy thập giá của đời mình. </font></span></p><p align="justify"><span style="font-family: Arial"><font size="3">Vì Chúa bị lột áo, xin cho con biết cởi bỏ những đam mê yếu hèn của kiếp người, biết mặc lấy tâm tình thống hối và yêu thương.</font></span></p><p align="justify"><span style="font-family: Arial"><font size="3">Vì Chúa bị đóng đinh, xin cho con đóng đinh tính xác thịt của con vào thánh giá Chúa. </font></span></p><p align="justify"><span style="font-family: Arial"><font size="3">Vì Chúa đã giang tay chết trên thập giá, xin cho con biết qúy trọng Ơn Cứu Độ, vì Chúa đã chết để cho con được sống, để con được hưởng nhờ Ơn Tái Sinh mà Chúa đã hứa ban, Amen </font></span></p><p style="text-align: justify" align="center"><span style="font-family: Arial"><font size="3">Tổng hợp từ R. veritas</font></span></p><p style="text-align: justify" align="center"><span style="font-family: Arial"><font style="font-size: 12pt" size="3">(BĐ1: Is 50, 4-7 - BĐ2: Pl 2, 6-11 - PÂ: Mt 26, 14 - 27, 66 )</font></span></p><p style="text-align: justify" align="center"><br> </p><p style="text-align: justify" align="center"><br> </p><p style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right"><span style="font-size: 12pt"><b><font color="#0000FF" face="Arial">Mầu nhiệm Con Người và hành trình về Giêrusalem</font></b></span></p><p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right"><span style="font-style: italic"><font face="Arial" size="2">Lm.Thêophilê</font></span></p><h2><font color="#000000"><span style="font-weight: 400"><strong><font face="Arial" size="4">Mầu nhiệm Con Người và hành trình về Giêrusalem mạc khải Đức Giêsu là Đấng Mêsia. </font></strong><font face="Arial"> </font></span></font></h2><p style="margin: 0pt" align="justify"><font face="Arial" size="3"><strong style="font-weight: 400">Đoạn 1.10. Máccô 10,1-12: Vấn đề rẫy vợ.</strong> </font></p><p style="margin: 0pt" align="justify"> </p><p style="margin: 0pt" align="justify"><font face="Arial" size="3">1 Đức Giêsu bỏ nơi đó, đi tới miền Giuđê và vùng bên kia sông Giođan. Đông đảo dân chúng lại tuôn đến với Người. Và như thường lệ, Người lại dạy dỗ họ.2 Có mấy người Pharisêu đến gần Đức Giêsu và hỏi rằng: “Thưa Thầy, chồng có được phép rẫy vợ không? “ Họ hỏi thế là để thử Người.3 Người đáp: “ Thế ông Môsê đã truyền dạy các ông điều gì? “4 Họ trả lời: “Ông Môsê đã cho phép viết giấy ly dị mà rẫy vợ.”5 Đức Giêsu nói với họ: “Chính vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsê mới viết điều răn đó cho các ông.6 Còn lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ;7 vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình,8 và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt.9 Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.”10 Khi về đến nhà, các môn đệ lại hỏi Người về điều ấy.11 Người nói: “Ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ mình;12 và ai bỏ chồng để lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình.”<br>Với đoạn Máccô 10,1-12 về vấn đề rẫy vợ chứ không phải về vấn đề ly dị như thường thấy nói tới cho đoạn văn này. Thật vậy, ở đây nói về chuyện một người đàn ông rẫy vợ mình chứ không phải chuyện hai người đồng ý xin ly dị. Với vần đề rẫy vợ cũng bắt đầu cho một loạt lời Đức Giêsu giảng dạy liên quan đến những yếu tố khác nhau về cuộc sống thường nhật như tiếp đón các trẻ nhỏ (10,13-16), tương quan với của cải (10,17-31). Những lời giảng dạy này sẽ còn kèm theo lời loan báo thứ ba về sự Thương Khó (10,32-34).<br>Về phương diện lịch sử biên soạn đoạn văn, câu nhập đề (câu 1) và câu 10 thường được coi do Máccô biên soạn. Máccô lấy câu 2-9 đến từ cộng đoàn kitô hữu gốc Do Thái dùng ngôn ngữ Hy lạp. Câu 11 cũng có nguồn gốc chung với Luca 16,18 và Mt 5,32. Máccô lấy theo truyền thống đó và biên soạn lại thành hai câu 11 và 12. Đoạn Máccô 10,1-12 mang thể loại văn chương một cuộc tranh luận (câu 2-9) đi theo một lời giảng dạy cho các môn đệ (câu 10-12). Đoạn văn cũng được chia ra làm hai phần:<br>1. Câu 1-9: Đức Giêsu với đám đông: một cuộc đối thoại.<br>2. Câu 10-12: Đức Giêsu với các môn đệ: một lời giảng huấn. </font></p><p style="margin: 0pt" align="justify"><font face="Arial" size="3"><strong style="font-weight: 400">1. Câu 1-9: Đức Giêsu với đám đông: một cuộc đối thoại.</strong> </font></p><p style="margin: 0pt" align="justify"><font face="Arial" size="3">- Câu 1 như lời nhập đề vào câu chuyện, và câu văn bắt đầu cũng vụng về, vì nếu qui vào đoạn văn trước câu chuyện xảy ra tại thành Caphácnaum. Giờ đây Đức Giêsu lên đường đi Giuđê bên kia sông Giođan. Máccô nói đến việc Đức Giêsu di chuyển. Tác giả cũng vẫn thường biên soạn như thế để đưa đến điều Đức Giêsu giảng dạy cho đám đông. “Đức Giêsu bỏ nơi đó, đi tới miền Giuđê và vùng bên kia sông Giođan”: Hướng đi này cũng gây nên nhiều khó khăn và nhiều ngạc nhiên, vì thế từ lâu đã gây nên nhiều khác biệt trong các biệt trong truyền thống các thủ bản, cũng như những tranh luận giữa các nhà nghiên cứu. Cụm từ “bên kia sông Giođan” cũng khó hiểu vì xứ Giuđê không kéo dài ra bên kia sông Giođan.<br>Đức Giêsu vừa rời thành Caphácnaum (9,33) và miền Galilê. Sứ vụ bên Galilê đã chấm dứt và lần đầu tiên Ngài đi vào phần đất của miền Giuđê và bên kia sông Giođan. Về phương diện địa hình, chương 10 kể Đức Giêsu đang trên đường lên Giêrusalem và Đức Giêsu đến nơi đó như Máccô 11,1 ghi. Vì vậy hành trình trong Máccô 10,1 không mấy rõ ràng. Điều khó khăn này cũng thấy những do dự trong các thủ bản, và có tài liệu để tránh sự khó khăn này đã ghi Đức Giêsu đi đến miền Giuđê bằng cách băng qua Transjordanie. Dù sao đi nữa cũng không giải quyết được vấn đề. Nếu như để miền Giuđê kéo dài qua tới sông Giođan lại không tương ứng với thực tại chính trị. Hoặc Đức Giêsu đang trên đường về Giêrusalem (10,32) và khi gần tới đó Ngài đã tạt ghé ngang trên một phần đất không dự định trước trong hành trình. Cả hai giả thuyết đều rất khó để có thể chấp nhận. Vì thế, tác giả Máccô có thể theo truyền thống và với ký ức xưa cũ cho Đức Giêsu đến thành Giêrusalem ở phía đông tức là đi về hướng đông qua phía thành Giêrikhô (10,46), Bethphagé và Béthanie (11,1). Từ đó có thể hiểu Đức Giêsu làm hành trình xuyên qua miền Transjordanie. Theo Máccô 7,24 Đức Giêsu đang ở gần vùng biên giới, vì thế bên kia sông Giođan tương ứng với thành Pérée, xứ Galaad. Trong lịch sử Do Thái, phần đất này trước đó là của dân Do Thái, và sau này thuộc phần đất dân ngoại (xem 1 Mcb 5,9), dầu sao nơi đó cũng còn một số đông người Do Thái cư ngụ.<br>Một lần nữa, đám đông nghe biết danh Đức Giêsu đã tìm tụ họp chung quanh Người để nghe giảng dạy. Trong tin mừng Máccô đây là giây phút quan trọng, một cuộc gặp gỡ thiết yếu giữa Đức Giêsu và những người tìm đến nghe lời Người. <br>- Câu 2. Câu văn trên nói Đức Giêsu giảng dạy, nhưng câu văn kế tiếp không cho biết nội dung ra sao, nhưng dấy lên một cuộc đối thoại tranh luận giữa Đức Giêsu và mấy người Pharisêu. Câu hỏi người Pharisêu đưa ra cố tình giăng một cái bẫy. Câu chất vấn về quyền của người đàn ông được phép rẫy vợ cho thấy dường như người Pharisêu đã biết được ý của Đức Giêsu, vì thế họ muốn cho mọi người biết Đức Giêsu không đi đúng theo lề luật Môsê; vì thời bấy giờ việc rẫy vợ cũng thường thấy xảy ra trong xã hội Do Thái và việc làm đó dựa vào điều khoản đến từ sách Đệ nhị luật 24,1.<br>Qua câu hỏi đó cũng có thể người Pharisêu muốn xem Đức Giêsu đứng về phía nào trong cuộc tranh luận giữa hai trường phái Do Thái chú giải về lề luật: nhóm Shammaï được coi như bảo thủ và chỉ cho phép người ta rẫy vợ trong trường hợp ngoại tình; riêng nhóm Hillel tự do hơn và cho phép ly dị với những lý do không gắt gao.<br>- Câu 3-4. Cách thức Đức Giêsu đặt ngược lại câu hỏi và không trả lời trực tiếp nhắm thoát khỏi cái bẫy người Pharisêu muốn đóng vào cho Người. Đức Giêsu hỏi họ về lề luật Môsê nói gì về vấn đề này. Người phân biệt rõ ràng ý của Thiên Chúa và lề luật Môsê, Đức Giêsu đặt cuộc tranh luận trên một bình diện khác. Câu trả lời của người Pharisêu cũng rất trung thực tương ứng vào việc tuân giữ luật Môsê theo Đệ nhị luật 24,1-4: khi người đàn bà không còn được chồng mình thích nữa, vì ông tìm thấy nơi người vợ những điều chướng; và nếu như ông quyết định rẫy vợ, thì ông phải đưa cho vợ tờ giấy ly dị (híp ri: séfer kerîtût; LXX: biblion apostasiou). Ông Môsê không đưa ra những luật lệ để rẫy vợ, nhưng cho phép người ta được rẫy vợ với một tờ giấy ly dị. Tấm giấy này bảo đảm cho người vợ có được một quy chế xã hội tránh cho họ bị coi là người vợ trốn nhà bỏ đi. Người Pharisêu trả lời câu hỏi về vấn đề ly dị trên quy luật đã được đặt ra. Đây không phải là điều răn nhưng là một sự khoan dung.<br>- Câu 5-9. Lời Đức Giêsu đáp trả chống lại quy luật của ông Môsê mà người Do Thái đang theo với ý chí sáng tạo của Thiên Chúa. Đức Giêsu đã dựa vào Thánh Kinh đưa ra một giáo thuyết về hôn nhân và dẫn đến việc không chấp nhận cho ly dị. Nếu như ông Môsê cho phép rẫy vợ vì ông muốn thích ứng với tâm hồn chai đá của con người. Một quy luật cần thiết về tội lỗi của con người, và ông Môsê đưa ra điều đó để đáp lại hầu làm giới hạn những hậu quả nỗi dậy của người dân, vì thế quy luật coi như tạm thời và rất mong manh. Ý Thiên Chúa sáng tạo không có sự thỏa hiệp đó, và Đức Giêsu tìm trong Thánh Kinh nền tảng vững chắc và vĩnh cửu. Đức Giêsu dựa vào trình thuật Sáng tạo trong sách Sáng thế 1,27. Điều Thiên Chúa tạo dựng nên từ đầu có nam và có nữ. Tiếp theo Đức Giêsu dựa vào Sáng thế 2,24 nêu lên hậu quả xã hội của cặp con người: người đàn ông bỏ cha mẹ để gắn bó với vợ mình. Cặp con người như thể nền căn bản của thể chế xã hội, một trật tự bình thường không thay đổi được vì đến từ ý của Thiên Chúa. Điều này còn đi xa hơn để tiến đến sự hòa hợp của hai người được trình bày như sự sáng tạo một hữu thể duy nhất, làm xóa đi hai nhân vị để họ trở thành một xương một thịt. Cụm từ không chỉ nói đến sự phối hợp giữa hai người nam nữ như ý nghĩa của sách Sáng thế hay như điều thánh Phêrô nói đến trong thư 1Côrintô 6,16, nhưng còn nêu ra ý nghĩa của một cộng đoàn không thể cắt chia được. Sau những nhận xét đó, Đức Giêsu coi như đưa ra lý luận có nền tảng để trả lời câu hỏi của người Pharisêu một cách mới mẽ hơn. Vì chính Thiên Chúa là tác giả phối hợp người nam và người nữ nên không ai có quyền tháo gỡ. Theo hoàn cảnh đó, mọi sự cắt đứt, mọi cuộc ly dị đi ngược lại với ý của Thiên Chúa. Trước lý luận vững chắc đến từ Thánh Kinh của Đức Giêsu, người Pharisêu đã không đáp trả lại được, và không thấy đoạn văn nhắc đến họ nữa.<br>Trong đoạn văn này, sau câu 7 có một vài thủ bản không quy chiếu vào lời trích dẫn sách Sáng thế 2,24 tức là không ghi cụm từ “gắn bó với vợ mình”, đưa câu văn ngắn lại “vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ, và cả hai sẽ thành một xương một thịt”, như thế có tác giả cho rằng thích hợp hơn với ý nghĩa hỗ tương của các câu 11-12 tiếp theo. </font></p><p style="margin: 0pt" align="justify"><font face="Arial" size="3"><strong style="font-weight: 400">2. Câu 10-12: Đức Giêsu với các môn đệ: một lời giảng huấn.</strong><br>- Câu 10-12. Khi Đức Giêsu về lại nhà với các môn đệ, các ông trở lại vấn đề vừa được tranh luận. Tác giả Máccô ghi “về đến nhà”, nhưng câu hỏi cũng cần nêu lên nhà nào? Cụm từ gây nên ngạc nhiên vì Đức Giêsu và các môn đệ đang trên hành trình đi về Giêrusalem, và đang ở trên một vùng mới đến lần đầu tiên. Ở đây Đức Giêsu xác định lại rõ ràng tư tưởng của Người bằng cách đặt một sự song song giữa người nam và người nữ như thể cả hai đều được bình quyền đẳng. Đức Giêsu hiểu rõ việc rẫy vợ là chuyện có thật, và có những cuộc chia ly và ly dị cho dù biết rằng điều đó đi ngược lại ý của Thiên Chúa. Vì vậy phải đáp trả lại những tình huống đó cho dù nó không hợp pháp hay không chính đáng. Người đàn ông rẫy vợ để lấy một người đàn bà rơi vào tình trạng phạm tội ngoại tình. Rẫy vợ để tái hôn hay sống chung đều rơi vào tội ngoại tình. Do đó quy luật của Đệ nhị luật 24 không bị bãi bỏ. Hành vi rẫy vợ đi ngược lại ý Thiên Chúa, cho nên người vợ bị rẫy cần được hưởng những bảo đảm.<br>Câu 12 không hoàn toàn tương hợp với luật Môsê khi không cho phép người vợ được rẫy chồng. Luật nơi câu 12 cũng giống như nơi câu 11. Người vợ rẫy chồng để lấy người khác cũng phạm tội ngoại tình. Theo xã hội Do Thái, luật ly dị có lợi hoàn toàn cho phía người nam thôi, và chỉ có một vài trường hợp người nữ được phép ly dị như trong một vài văn bản của các rabbi, ví dụ người chồng làm một nghề hôi thúi như thuộc da hay hốt rác; hoặc khi người chồng ép buộc vợ thề hứa ngược lại với phẩm giá của họ; hoặc như người chồng bị nhiễm bệnh khó chữa như trường hợp bệnh cùi… Thế nhưng, câu văn rất tương hợp với luật của người Hy lạp và người La mã vì theo đó người vợ có quyền bỏ chồng không gặp khó khăn gì. Người vợ không có quyền lợi gì, cũng không cần gấy tờ chứng minh, nhưng họ chỉ có quyền có thể bỏ người chồng thế thôi.<br>Lời Đức Giêsu giảng dạy rất rõ ràng, cả hai người nam và người nữ đã thành vợ chồng không thể nào cắt đứt mói liên hệ chồng vợ nữa. Lý do đã được nói đến nơi câu 9 “sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”. Mối liên hệ đó là một thiết chế của Thiên Chúa và không thuộc loài người để có thể tháo gỡ được. </font></p><p style="margin: 0pt" align="justify"><font face="Arial" size="3"><strong style="font-weight: 400">Kết luận.</strong><br>Máccô 10,1-12 nêu rõ ba điểm khác biệt của Đức Giêsu với nhóm Pharisêu về vấn đề ly dị. Khi người Pharisêu đặt câu hỏi liên quan đến người chồng, nhưng đối với Đức Giêsu điều này liên quan cả chồng lẫn vợ. Đối với người Pharisêu coi luật Môse là trên hết, nhưng với Đức Giêsu luật đó chỉ tạm thời, nên phải theo ý của Thiên Chúa khi sáng tạo. Người Pharisêu đặt câu hỏi theo quan điểm con người muốn ly dị, nhưng lời Đức Giêsu giảng dạy làm nổi bật sự thiệt hại của người bị rẫy. Trong trường hợp ở đây chính là sự thiệt hại của người vợ thứ nhất. Theo Đức Giêsu, người đàn bà cũng cần được lề luật tôn trọng và bảo vệ.<br>Thái độ của Đức Giêsu trước vấn đề ly dị rất rõ ràng. Hậu quả nhấn mạnh đưa đến việc không thể hoàn thành ý sáng tạo của Thiên Chúa. Cái nhìn triệt để của Đức Giêsu trong đoạn văn này cần được giải thích theo những phản đề của bài giảng trên núi (Mátthêu 5,20-48). Đó là lý tưởng nhắm đến chứ không phải một khuôn thước áp dụng không để ý đến bối cảnh. Vì vậy Máccô 10,1-12 không phải là văn bản quy luật về hôn nhân và sự ly dị. Đoạn văn đưa ra trước hết một giáo thuyết của Thánh Kinh về cặp nhân loại, và vì thế lời Đức Giêsu giảng dạy có giá trị thường xuyên và trở nên nền tảng giáo thuyết kitô giáo về hôn nhân. Sau đó đoạn văn nêu lên những quy luật tương đối mềm dẻo đối với những trường hợp khó khăn mà con người gặp phải, nhưng cũng rất cứng rắn về điều thiết yếu. </font></p><p style="margin: 0pt" align="justify"><font face="Arial" size="3"><strong style="font-weight: 400">Đoạn 1.11. Máccô 10,13-16: Đức Giêsu và các trẻ em.</strong><br>13 Người ta dẫn trẻ em đến với Đức Giêsu, để Người đặt tay trên chúng. Nhưng các môn đệ la rầy chúng.14 Thấy vậy, Người bực mình nói với các ông: “Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Thiên Chúa là của những ai giống như chúng.15 Thầy bảo thật anh em: Ai không đón nhận Nước Thiên Chúa với tâm hồn một trẻ em, thì sẽ chẳng được vào.”16 Rồi Người ôm lấy các trẻ em và đặt tay chúc lành cho chúng.<br>Sau khi khai triển chủ đề về hôn nhân và trước khi nói về vấn đề của cải, tác giả Máccô đặt vào đây những lời nói về các trẻ em. Máccô 10,13-16 thường được xếp vào loại thể văn cách ngôn hay danh ngôn. Một lời của Đức Giêsu lúc ban đầu được truyền rao một cách độc lập, rồi sau đó được đặt vào khung của một trình thuật. Vì thế, các nhà nghiên cứu cho câu 15 “Thầy bảo thật anh em: Ai không đón nhận Nước Thiên Chúa với tâm hồn một trẻ em, thì sẽ chẳng được vào” là một câu văn độc lập và chỉ được thêm vào đoạn văn sau này. Theo một số tác giả, Máccô 10,13-16 được dùng trong cộng đoàn kitô hữu tiên khởi như nền tảng cho việc thực hành rửa tội cho các em nhỏ. Ngoài ra thực trạng của hoàn cảnh cũng có thể đến từ việc thực hành nghi thức chúc lành cho các trẻ nhỏ. Đoạn văn bao gồm ba phần:<br>1. câu 13: nhập đề.<br>2. câu 14-15: hai lời của Đức Giêsu.<br>3. câu 16: đón tiếp nồng hậu dành cho trẻ em. </font></p><p style="margin: 0pt" align="justify"><font face="Arial" size="3"><strong style="font-weight: 400">1. câu 13: nhập đề.</strong> </font></p><p style="margin: 0pt" align="justify"><font face="Arial" size="3">Câu 13 không cho biết gì về địa hình hay thời gian xảy ra câu chuyện. Đoạn văn được tiếp nối với đoạn văn trước nói về vấn đề hôn nhân. Cùng với nhóm đám đông tụ họp chung quanh Đức Giêsu tại Pérée, và chính họ đã đưa các trẻ em đến cùng với Người. Từ “trẻ em” (paidia) thường chỉ định các trẻ em thuộc nhiều lứa tuổi từ bé thơ cho đến lứa tuổi 12, nhưng dựa vào Máccô 9,36 có thể đây là những em nhỏ còn được bồng bế trên tay. Luca 18,15 cũng nói các “trẻ thơ” (bréphè). Điều họ muốn Đức Giêsu làm là đặt tay trên các em. Việc đặt tay này có thể hiểu để chữa bệnh nhưng cũng có thể là sự chúc lành lớn lên trong hạnh phúc. Từ “chạm, hay đặt tay” (haptomai) trong Máccô 1,41; 3,10; 5,27.28.30.31; 6,56; 7,33; 8,22 đều có nghĩa một sự chạm tay điều trị. Điều này bị các môn đệ coi như dị đoan bình dân nên tỏ ra la rầy chúng. Các trẻ em cũng có thể phá rầy lời giảng dạy của Đức Giêsu, thời Đức Giêsu các trẻ em thường bị coi như chưa có khả năng để hiểu kinh Torah tức là biết được ý Thiên Chúa, vì thế các môn đệ cho rằng việc mang các em đến với Đức Giêsu là vô ích nên họ không bằng lòng và la rầy các cha mẹ và các trẻ em. </font></p><p style="margin: 0pt" align="justify"><font face="Arial" size="3"><strong style="font-weight: 400">2. câu 14-15: hai lời của Đức Giêsu.</strong><br>Đức Giêsu phản ứng một cách mạnh mẽ trước thái độ của các môn đệ. Người bực mình và giải thích cho họ biết sự sai lầm chống lại sự hiện diện của các trẻ em. Họ phải để các trẻ em đến với Người, vì Nước Thiên Chúa là “của ai giống như chúng”. Đây không phải quyền lợi các trẻ em đòi nhưng chỉ là ân huệ nhưng không Thiên Chúa dành cho các em. Hiệu quả lời Đức Giêsu nói đưa các môn đệ phải suy nghĩ lại thái độ của các ông đối với trẻ em. Cấu trúc đoạn văn này cũng tìm thấy tương tự trong một văn bản của kinh talmud: một hôm có một người đàn bà tiến gần đến rabbi Aquiba và hôn chân ông. Các môn đệ muốn đuổi bà đi, nhưng rabbi Aquiba nói: “hãy để vậy, các anh và tôi, chúng ta đều đến từ bà”. Trong cả hai trường hợp, từ những gì bị xua đuổi và người Thầy bắt buộc các môn đệ tái xác định lại để tồn tại như một nhóm.<br>Nơi câu 15 Đức Giêsu nói với những người lớn và bắt đầu một cách trang trọng với từ “amen” (Thầy bảo thật…) và kêu gọi họ phải xử sự như các trẻ em. Đó có thể là ý nghĩa của cụm từ “đón nhận Nước Thiên Chúa như một trẻ em”. Ý nghĩa cụm từ này rất nhập nhằng, vì từ “trẻ em” (paidion) có thể là một chủ ngữ, hay một bổ ngữ. Vì thế cũng có thể hiểu “đón nhận Nước Thiên Chúa như đón nhận một trẻ em”. Thế nhưng bối cảnh đưa chấp nhận ý nghĩa “đón nhận Nước Thiên Chúa như một trẻ em đón nhận điều đó”. Các trẻ em đón nhận Nước Thiên Chúa với tấm lòng tin tưởng và khiêm nhường. </font></p><p style="margin: 0pt" align="justify"><font face="Arial" size="3"><strong style="font-weight: 400">3. câu 16: đón tiếp nồng hậu dành cho trẻ em.</strong><br>Câu 16 đưa trở lại với danh ngôn về trẻ em của Đức Giêsu. Giờ đây, Người làm ba hành vi áp dụng vào những gì đã nói ở câu 14. Đức Giêsu ôm lấy những trẻ em đến bên Người như đã làm ở Máccô 9,36. Điều này nói lên lòng âu yếm Người dành cho các trẻ em, những người mà các môn đệ coi như quấy rầy. Tiếp đó, Đức Giêsu chúc lành bằng cách đặt tay trên các em. Một ân huệ thiêng liêng có nhiều ý nghĩa hơn sự bảo vệ chống lại bệnh tật hay vận số xấu của các em. </font></p><p style="margin: 0pt" align="justify"><font style="font-size: 12pt" face="Arial" size="3"><strong style="font-weight: 400">Kết luận.</strong><br>Máccô 10,13-16 đưa lại chủ đề trẻ em (9,36-37) và những trẻ nhỏ (9,42-48) không để nói lên sự mủi lòng dành cho những tâm hồn thơ ngây, nhưng chủ yếu nêu lên sự để ý của Thiên Chúa dành cho những kẻ không thể áp đặt hay lên người khác. Đoạn văn kêu gọi cần có thái độ đức tin biết rằng nhận tất cả từ Thiên Chúa như một ân huệ. Các cộng đoàn tiên khởi lấy đoạn văn này để giải thích việc thực hành rửa tội cho các em nhỏ cũng không có gì phải ngạc nhiên, cho dù đây không phải ý nghĩa của tác giả Máccô hay của Đức Giêsu. Máccô khuyến khích các cộng đoàn dành một chỗ trong cuộc sống hằng ngày cho các trẻ em. <br> </font></p><p style="margin: 0pt" align="justify"><br> </p><p style="margin: 0pt" align="justify"><br> </p><p style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right"><b><font color="#006666" face="Verdana" size="4">TÂM TÌNH MÙA CHAY</font></b></p><hr align="right" color="#FF4D20" width="80%"><p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0pt"><br> </p><p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0pt"><br> </p><p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right"><b><font color="#0000FF" face="Arial">Lịch sử và ý nghĩa Mùa Chay <br></font></b><em><span style="font-family: Arial; color: maroon; font-size: 10pt">Lm. Phanxicô Borgia Trần Văn Khả</span></em></p><b><p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><span style="font-family: Arial; font-size: 12pt">Kính mời quý độc giả ôn lại lịch sử và ý nghĩa Mùa Chay.</span></p></b><p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" class="MsoNormal"><span style="font-size: 12pt; font-family: Arial"><img style="margin-right: 10px" alt="" align="left" height="121" width="169">Ng</span><span style="font-family: Arial; font-size: 12pt">ày Thứ Tư Lễ Tro, chúng ta nghe văng vẳng lời thánh ca từ Sách Sáng thế: Hỡi người hãy nhớ mình là tro bụi và sẽ trở về bụi tro. Lời Kinh thánh này nhắc nhở chúng ta ý thức về thân phận con người qua biểu hiệu "bụi tro" được dùng trong Kinh thánh và trong nghi lễ ngày Thứ Tư đầu Mùa Chay. Trong bài viết này tôi sẽ nói qua về lịch sử và ý nghĩa thần học phụng vụ của Ngày Thứ Tư Lễ Tro.</span><font face="Arial"><br><br></font><strong><span style="font-family: Arial; font-size: 12pt">1. Lịch sử Thứ Tư Lễ Tro</span></strong><font face="Arial"><br><br></font><span style="font-family: Arial; font-size: 12pt">Những Quy luật tổng quát của Năm phụng vụ nói về ngày Thứ Tư Lễ Tro như sau: "Mùa Chay bắt đầu từ Thư Tư Lễ Tro và kết thúc ngay trước Thánh lễ Tiệc Ly. Ngày Thứ Tư đầu Mùa Chay có xức tro; ngày đó khắp nơi ăn chay" (số 28 và 29). Lời chỉ dẫn này cho chúng ta biết ý nghĩa của Ngày Thứ Tư Lễ Tro trong Năm phụng vụ, cũng như trong suốt Mùa Chay thánh. Với Thứ Tư Lễ Tro, Giáo hội bắt đầu Mùa Chay. Ngoài ra trong cơ cấu phụng vụ của ngày này, Giáo hội cử hành lễ nghi làm phép tro và xức tro.</span></p><p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial; font-size: 12pt">Trong truyền thống phụng vụ từ thế kỷ thứ 7, Ngày Thứ Tư Lễ Tro là một ngày quan trọng, và không một lễ nào có thề vượt lên trên. Người ta cũng gọi ngày này là "Ðầu Mùa Chay" (Caput ieiunii), hay " Ðầu Mùa ăn chay 40 ngày" (Caput Quadragesimalis). Việc ăn chay trong Mùa này đã có từ thời Ðức Giáo Hoàng Gregoriô Cả (590-604).</span></p><p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial; font-size: 12pt">Về nghi thức làm phép tro và xức tro, qua thời gian lễ nghi này đã có sự biến đổi từ một nghi thức nghi thức thống hối trong định chế về tập tục thống hối công cộng thời xưa. Lịch sử phụng vụ về việc thành hình Nghi thức cử hành bí tích thống hối và hòa giải, cũng như định chế Giáo hội về một số sinh hoạt đặc biệt, đã có tục lệ bỏ tro cho hối nhân công cộng đã phạm một số tội nặng cách công khai, mà mọi nguời đều biết, như chối bỏ đức tin, giết người, ngoại tình... Những người này bị loại ra khỏi cộng đoàn tín hữu. Ðể được nhận lại trong cộng đoàn, họ phải làm việc thống hối công cộng theo định chế Giáo hội đưa ra. Vào ngày thứ tư trước Chúa Nhật thứ nhất Mùa Chay, những hối nhân công cộng này sẽ tụ tập lại tại nhà thờ chính tòa, và sau khi xưng thú tội của mình, họ sẽ được Ðức Giám mục trao cho chiếc áo nhậm mang trên mình, rồi lãnh nhận tro trên đầu và trên mình. Sau đó họ bị đưổi ra khỏi nhà thờ và được chỉ định đi tới một tu viện để ở đó và thi hành một số việc thống hối đã ra cho họ. Vào sáng thứ năm Tuần thánh, các hối nhân này tụ tập lại tại nhà thờ chính tòa, được Ðức Giám mục xem xét việc thực hành thống hối của họ trong Mùa Chay, sau đó ngài đọc lời xá giải tội lỗi của họ để giao hòa với cộng đoàn. Từ đây họ được quyền tham dự các buổi cử hành bí tích. Tại Rôma, vào thế kỷ thứ 7, các hối nhân công cộng tập họp tại một số nhà thờ tước hiệu (tituli) của thành phố, cũng như tại 4 Ðại Vương cung thánh đường thánh Phêrô, thánh Phaolô ngoại thành, thánh Gioan Lateranô và Ðức Bà Cả, để cử hành nghi lễ như vừa nói trên đây.</span></p><p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial; font-size: 12pt">Về sau định chế thống hối công cộng không còn nữa, tuy nhiên lễ nghi bỏ tro vẫn còn giữ lại trong ngày Thứ Tư Lễ Tro. Ðầu tiên chỉ có các tín hữu lãnh nhận tro trên mình. Về sau các Ðức Giáo hoàng và tín hữu đều lãnh tro, để tỏ lòng thống hối. Sang thế kỷ thứ 10, thì có việc làm phép tro và một lời nguyện kèm theo bắt chước cơ cấu thánh lễ, nghĩa là có lời nguyện giống như Kinh nguyện thánh thể, và việc lãnh nhận tro như khi cử hành việc rước lễ.</span></p><p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial; font-size: 12pt">Vào thế kỷ thứ 11, cũng tại Rôma, Ðức Giáo hoàng tập họp các giáo sỹ, giáo dân tại nhà thờ thánh Anastasia. Ngài làm phép tro, bỏ tro cho mọi người, sau đó tất cả đi kiệu về nhà thờ thánh nữ Sabina ở đồi Aventino. Trong khi đi kiệu, Ðức Giáo hoàng và cộng đoàn hát kinh cầu các thánh. Tất cả đều mặc áo nhậm, đi chân không, để tỏ lòng thống hối ăn năn. Khi đoàn kiệu đến nhà thờ thánh Sabina, Ðức Giáo hoàng đọc lời xá giải và cộng đoàn cùng hát bài "Chúng ta hãy thay đổi đời sống, Xức tro và ăn chay hãm mình, khóc than vì lỗi lầm đã phạm. Hãy khẩn cầu Thiên Chúa chúng ta. Vì Người rất từ bi nhân hậu sẵng sàng tha thứ mọi tội khiên" (Immutemur, xc. Ge 2, 13). Sau đó ngài cử hành thánh lễ. Ðó là trạm đầu tiên (statio) của Mùa Chay. Ngày nay vào Thứ Tư Lễ Tro, Ðức Giáo hoàng cũng đến làm phép tro và bỏ tro tại nhà thờ thánh nữ Sabina theo truyền thống xưa. Trước đó có cuộc rước kiệu từ nhà thờ thánh Anselmô cũng trên dồi Aventino. Tại nhà thờ thánh nữ Sabina, ngài công bố sứ điệp Mùa Chay cho toàn thể Giáo hội (Sứ điệp Mùa Chay năm 2002 mang tựa đề: Anh em đã lãnh nhận nhưng không, thì hãy cho đi nhưng không [Mt 10,8]).</span></p><p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial; font-size: 12pt">Vào năm 1091, Công đồng Benevento (Nam Italia) đã truyền cử hành nghi lễ bỏ tro cho tất cả các nơi trong Giáo hội. Trong khi bỏ tro, vị linh mục đọc lời: "Ta là thân cát bụi sẽ trỏ về cát bụi" (St 3, 19). Tro này lấy từ những cành lá đã được làm phép trong ngày Chúa nhật Lễ Lá năm trước để lại. Trước công cuộc canh tân phụng vụ của Công đồng chung Vaticanô II, lễ nghi làm phép tro và bỏ tro được cử hành trước thánh lễ. Vào năm 1970, khi công bố Sách Lễ Rôma được tu chính, thì lễ nghi này được cử hành sau phần phụng vụ lời Chúa. Ngoài câu trích từ Sách Sáng thế, còn có thêm một công thức dùng khi bỏ tro, lấy từ Phúc âm: "Hãy ăn năn sám hối và đón nhận Tin Mừng" (Mc 1,15). Với công thức mới này được thêm vào, thì biểu hiệu "tro" đã mang thêm một ý nghĩa mới nữa đó là việc canh tân đời sống trong suốt Mùa Chay thánh. Sau đây là một trong hai lời nguyện làm phép tro: "Lạy Chúa, Chúa nhân từ đối với ai khiêm tốn, và tha thứ cho kẻ biết ăn năn. Xin nghe lời chúng con khẩn nguyện và rộng tay giáng phúc cho hết thảy chúng con sắp nhận lấy tro này, để chúng con kiên trì giữ bốn mươi ngày chay thánh, và nhờ đó được nên tinh tuyền, xứng đáng cử hành mầu nhiệm Vượt qua của Ðức Kitô, Con Một Chúa, Ðấng hằng sống và hiển trị muôn đời" (còn có một lời kinh khác trong Sách Lễ Rôma).</span></p><p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" class="MsoNormal"><strong><span style="font-family: Arial; font-size: 12pt">2. Ý nghĩa việc bỏ tro và ngày Thứ Tư Lễ Tro</span></strong></p><p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial; font-size: 12pt">Trong Cựu Ước, việc xức tro và mặc áo nhậm được dùng để thực hành và biểu lộ lòng thống hối cá nhân hay toàn thể cộng đoàn dân Israel. Tro chỉ thân xác chúng ta là bụi tro, sẽ phải chết (xc. St 3,18.27; Giob 34, 17; Gr 6, 26; 25, 34; Est 4,13; Is 58, 5; Dn 9,3; Giona 3,6; Giudith 4,16; 9,1).</span></p><p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial; font-size: 12pt">Trong truyền thống các đan sĩ và tụ viện, tro được dùng để nói lên mối liên hệ với sự chết và sự khiêm nhường thống hối trước mặt Chúa. Vì thế, các tu sĩ, các đan sĩ có tục lệ tại một số nơi, muốn nằm trên đống tro với chiếc áo nhặm để chết. Thánh Martino thành Tours bên Pháp đã nói: "Không gì xứng hợp hơn cho một tu sĩ là việc nằm chết trên đống tro bụi". Các vị này lấy tro đã được làm phép trong ngày Thứ Tư Lễ Tro, rồi vẽ hình thánh giá trên đất, trên đó còn trải thêm áo nhặm và rồi các vị nằm trên đó khi hấp hối và khi chết. Các tu sĩ cũng có thói quen trộn tro vào bánh như của ăn. Ðó là một hình thức hãm mình nhiệm nhặt mà các tu sĩ phải giữ.</span></p><p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial; font-size: 12pt">Từ đây chúng ta nhận ra, trước tiên Giáo hội đã đặt nền tảng cho việc thống hối, đó là nhìn nhận lại tình trạng nguyên tuyền của ơn thánh đã bị mất do tội nguyên tồ, và hậu quả là con người xa Thiên Chúa, ttốn tránh Thiên Chúa. Con người sẽ phải chết như là một hậu quả của tội lỗi. Vì thế cần phải "quay trở lại" một cách tận căn, như ý nghĩa diễn tả qua từ "canh tân" trong ngôn ngữ Do thái, là quay ngược lại với 360 độ. Ðàng khác suy tư về bụi tro, để cho thấy sự yếu hèn của mình và tính cách tùy thuộc vào Thiên Chúa vì con người được Ngài tạo dựng. Nhưng Thiên Chúa đoái thương và ban ơn cứu rỗi. Phụng vụ đã diễn tả nền tảng này qua các biểu hiệu và các lời kinh của ngày Thư Tư Lễ Tro.</span></p><p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial; font-size: 12pt">Cùng với một số biểu hiệu khác được Giáo hội dùng trong Mùa Chay, như mầu áo lễ tím, không đọc Kinh Vinh Danh, không trưng bông hoa trên bàn thờ, không dùng đàn trong thánh lễ, bụi tro cũng được dùng để cho thấy tính cách thống hối của Mùa Chay và thân phận của con người hay chết.</span></p><p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial; font-size: 12pt">Nói tóm lại, lễ nghi làm phép tro và bỏ tro trong ngày Thứ Tư Lễ Tro gợi ra cho tín hữu về một thời điểm quan trọng đang bắt đầu liên hệ tới ơn cứu rỗi của họ, đó là Mùa Chay. Ðồng thời, lễ nghi khởi đầu này cũng đề ra cho tín hữu một hành trình phải đi theo trong thời gian suốt Mùa Chay.</span></p><p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0pt" class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial; font-size: 12pt">Hành trình đó là thực hành các việc làm biểu lộ sự thống hối, sống bác ái; đàng khác, tín hữu cũng phải đi sâu vào tâm tình thống hối, khi suy tư về thân phận con người, về lỗi lầm của mình và nhu cầu khẩn thiết phải trở về, phải canh tân cuộc sống. Tuy nhiên, tín hữu không làm những việc này trong ý thức khổ hạnh cá nhân, nhưng là để hướng về ơn cứu rỗi Chúa Kitô đã thực hiện và Giáo hội đang chuẩn bị mừng trong đại lễ Phục sinh. Ngày nay các biểu hiệu bên ngoài, như thống hối công cộng, như mặc áo nhậm, như đi chân không trong cuộc hành hương, vv... không còn được thực hiện như xưa, vì hoàn cảnh xã hội đổi thay, nhưng thái độ và ý chí thống hối, canh tân trở về vẫn phải in khắc sâu đậm trong thâm tâm mỗi người. Mỗi người sẽ tự đưa ra cho mình một số những thực hành thống hối trong cuộc sống cụ thể để biểu lộ ý nghĩa và tinh thần của lễ nghi xức tro.</span></p><p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0pt" class="MsoNormal"><br> </p><p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right"><font color="#0000FF" face="Arial"><b>XEM HÌNH ẢNH 14 CHẶNG ĐÀNG THÁNH GIÁ<br> BẰNG ĐỒNG TẠI RÔMA<br></b></font><i><font face="Arial,sans-serif" size="2">Lm. Lê Công Đức<br>Nguồn: <a target="_blank" href="http://xuanbichvietnam.wordpress.com">xuanbichvietnam.wordpress.com</a></font></i></p><p style="text-align: justify"><font face="Arial,sans-serif">Xin giới thiệu bộ “Đàng Thánh Giá” bằng đồng, kích thước lớn hơn người thật, được lắp đặt dọc Đại Lộ Conciliazione, tức con đường chính dẫn vào Quảng Trường Thánh Phêrô, từ nay cho đến 29.4 (nghĩa là sẽ tháo gỡ trước ngày lễ Phong Chân Phước Đức Gioan Phaolô II).</font></p> </td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center"> <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a> <a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/suyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../../_Nam_A/2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a> </td></tr></table><p style="text-align: center"> </p>