| Chúa nhật VII thường niên - Năm B |
Vào hoang địa với Đức Giêsu CHÚA NHẬT I MÙA CHAY, năm B Mc 1, 12-15 Mùa chay là dịp, là cơ hội thuận tiện nhất để chúng ta quay về với chúa, và nhận ra vô vàn cám dỗ đang bủa vây chúng ta. Những cám dỗ này dù được trá hình dưới bất cứ hình thức nào thì nó vẫn là những vật làm cản trở bước tiến của chúng ta đến với Chúa và đến với anh chị em của chúng ta. Chúa nhật I mùa chay, năm B, mời gọi chúng ta hãy vào sa mạc với Đức Kitô để ăn chay, cầu nguyện và với sự tác động của Chúa Thánh Thần, chắc chắn chúng ta sẽ lướt thắng ma quỉ và những mưu mô trá hình của chúng. Chúng ta cũng sẽ như Đức Kitô với ý của Chúa Cha, chúng ta quyết định cuộc đời của chúng ta… Sau khi lãnh nhận phép rửa thống của Gioan Tẩy Giả bên dòng sông Giorđăng, Chúa Giêsu đã khai mạc sứ vụ công khai của Ngài bằng lời mời gọi: ” Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng “ ( Mc 1, 15 ). Rồi cũng chính thời gian đó, Thánh Thần đã dẫn đưa Ngài đến nơi thanh vắng, nơi hoang địa để ăn chay, cầu nguyện. Đây là cuộc tĩnh tâm của Chúa Giêsu kéo dài trong vòng 40 đêm ngày. Và chính trong cuộc tĩnh tâm này, Chúa đã định hướng rõ ràng cho sứ vụ cứu thế của Ngài và cũng chính nơi hoang địa Chúa chịu ma quỉ cám dỗ, và Ngài đã chiến thắng ma quỉ để khai mở sứ vụ rao giảng và cứu độ của Ngài. Trong sứ vụ rao giảng Nước Trời, Chúa Giêsu đã cho thấy: ” Biến cố lớn lao về sự chết và phục sinh của Ngài được gọi là Mầu Nhiệm Vượt Qua “. Do đó, phép rửa là Bí tích lớn lao Mùa chay gợi lên bởi vì qua phép rửa chúng ta được kết hiệp với Mầu Nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô.Bài đọc I thánh Phêrô cho chúng ta thấy chúng ta đã được cứu chuộc qua Bí tích rửa tội như Thiên Chúa đã cứu ông Noe và gia đình khỏi cơn đại hồng thủy. Qua cơn đại hồng thủy, Thiên Chúa đã thiết lập một giao ước tình yêu với dân của Người.. Nước rửa tội giúp chúng ta từ tình trạng tội lỗi bị chết như mọi người, chúng ta được tái sinh trong đời sống mới của Đức Kitô và chúng ta được sống cuộc sống mới và đi vào sự sống vĩnh cửu đời đời. Khi lãnh nhận Bí tích rửa tội, chúng ta nên trong trắng, nên tinh tuyền, sạch mọi vết nhơ tội lỗi nhưng vì là con người chúng ta vẫn còn lỗi phạm và hay sa ngã, tuy nhiên chúa đã giải hòa chúng ta qua Bí tích giải tội, bí tích lớn lao chúng ta luôn phải nghĩ, luôn phải mau mắn đến với Bí tích này trong Mùa chay. Bí tích hòa giải nhằm giúp chúng ta làm hòa với Chúa và làm hòa với anh chị em của chúng ta. Là Kitô hữu, chúng ta đang mặc lấy con người mới là Đức Kitô. Tuy nhiên là con người mang thân phận yếu hèn, tội lỗi, chúng ta luôn bị ma quỉ, sự dữ bủa vây. Những cám dỗ luôn là những thử thách, những thách đố cho chúng ta. Những cám dỗ có thể nói luôn nhiều, luôn đầy dẫy. Ma quỉ dưới nhiều hình thù quai ác dẽ làm mê hoặc đời sống của chúng ta. Xưa ma quỉ đã dùng tiền tài, danh vọng, phù hoa, phú quí để cám dỗ Chúa. Ngày nay, chúng con dùng nhiều cám dỗ tinh vi, thủ đoạn hơn nữa để thúc giục con người sa ngã, phạm tội. Nên, chúng ta phải có ơn Chúa đễ biết chọn lựa điều tốt, điều xấu, việc nên làm và việc không nên làm vv…Ngày nay, với khoa học tiến bộ vượt bực, với Internet, với những kiểu dụ dỗ tinh vi như ma túy, sì ke, như bài bạc, như ăn mặc hở hang, như những chất kích dục, những hình ảnh sex đang làm mê hoặc rất nhiều người. Thắng được cám dỗ là điều đòi hỏi cử chỉ, thái độ anh hùng, thái độ từ bỏ, hy sinh…Thắng thể xác nhiều khi còn dễ hơn thắng cám dỗ tinh thần. Do đó, chúng ta cần phải có ơn Chúa, cần phải từ bỏ và hy sinh tập luyện không ngừng. Cám dỗ nào cũng khiến chúng ta chỉ nghĩ tới mình, và nhiều khi chúng ta im lặng, mù quáng để phạm tội, để chấp nhận. Chúng ta phải biết ăn chay, cầu nguyện và thực hành đức ái, nghĩ tới tha nhân bằng việc bố thí. Chỉ khi nào chúng ta bám chặt lấy Chúa thực sự chúng ta mới dễ dàng lướt thắng và thắng được những cám dỗ đang kéo chúng ta dần xa Chúa và xa anh em. Lạy Thiên Chúa toàn năng, hằng năm Chúa ban cho chúng con bốn mươi ngày chay thánh, để tôi luyện hồn xác chúng con. Xin giúp chúng con sống những ngày khắc khổ ấy, để học biết Đức Kitô, và dõi theo gương Người, hầu xứng đáng hưởng ơn Người cứu độ. ( Lời nguyện nhập lễ, Chúa nhật I mùa chay ). GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ: 1.Ai dẫn Chúa Giêsu vào hoang địa ? 2.Ma quỉ cám dỗ Chúa những gì ? 3.Mùa chay là cơ hội gì ? 4.Mùa chay kéo dài bao lâu ? 4.Mùa chay bắt đầu từ lễ nào ? Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT TÂM TÌNH MÙA CHAY Mùa Chay Là Gì? Sưu Tầm Mùa Chay là mùa ăn năn thống hối, cầu nguyện, bố thí, mùa chịu nạn, thương khó, chuẩn bị cho đại biến cố Phục Sinh. Được bắt đầu từ thứ tư Lễ Tro và kết thúc với Chúa Nhật Phục Sinh. Nó chứa đựng 40 ngày chay tịnh để tưởng nhớ đến biến cố Chúa vào trong hoang địa ăn chay, cầu nguyện và sau đó chịu sự cám dỗ trong 40 đêm ngày; là thời gian của thương khó và thống hối. (thực sự là 46 ngày, nếu tính từ Thứ tư lễ Tro cho đến Chúa nhật Phục sinh, nhưng theo nghĩa hẹp, Mùa Chay tính từ Chúa nhật thứ nhất đến chiều Thứ Năm Tuần Thánh, nghĩa là cho tới lúc cử thành thánh lễ Tiệc Ly vào ban chiều "in Caena Domini", trong đó Chúa lập Bí tích Thánh Thể, rửa chân cho 12 môn đệ và truyền lại Giới răn mới) (Thời gian 40 ngày cũng để nhớ lại 40 đêm ngày Maisen cầu nguyện trên Núi Sinai và được Chúa trao cho 10 Giới răn. Rồi 40 ngày còn để nhớ lại cuộc hành trình 40 ngày trong sa mạc của Tiên tri Elia, lúc ông trốn khỏi cơn thịnh nộ của Hoàng hậu Gezabele, để tiến về Núi Oreb (cũng là núi Sinai, kế Biển Ðỏ và Kênh đào Suez), nơi đây Chúa mạc khải và trao cho ông sứ vụ mới (1 Vua 19),Trong ba thế kỷ đầu, Mùa Chay chỉ kéo dài hai hay ba ngày, sau đó kéo dài từ ba đến bốn tuần. Con số bốn mươi được áp dụng do quy định của Công Đồng Nicaea (325). Ngoại trừ những ngày Chúa Nhật, Giáo Hội đề nghị các tín hữu nên ăn chay theo luật định. Toàn thời gian Mùa Chay cũng là thời gian chuẩn bị tâm hồn cho cuộc khổ nạn, chịu chết và Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô. Trong Mùa Chay không được kết hôn, Linh mục mặc áo màu tím, không có kinh Vinh Danh và Alleluia trong Thánh lễ. Không đệm đàn khi không có tiếng hát. Không trưng bông trên bàn thờ. Mỗi ngày có Thánh lễ với những lời mở đầu Mùa Chay khác nhau. Trong thời gian này, Giáo Hội chuẩn bị cho biến cố trung tâm của lịch sử, sự Cứu Chuộc nhân loại của Chúa Giêsu Kitô. Công Đồng Vaticanô thứ hai dạy rằng :” Mùa Chay có hai đặc tính :1/ Hồi tưởng lại bí tích rửa tội hoặc là chuẩn bị cho bí tích này. 2/Nhấn mạnh đến tinh thần ăn năn, sám hối. Bởi những ý nghĩa đặc biệt này, mùa Chay chuẩn bị cho các tín hữu sẳn sàng cử hành mầu nhiệm vượt qua sau thời gian tiếp cận, gần gũi hơn với Lời Chúa và nồng nhiệt hơn trong sự cầu nguyện. Trong chính bản thân phụng tự và trong những hướng dẩn từ trung tâm của phụng tự, những chủ đề về rửa tội và thống hối được tuyên bố cách sâu sắc hơn” (SC 109). “..Hằng năm qua bốn mươi ngày của Mùa Chay, Giáo Hội hiệp thông với mầu nhiệm của Chúa Giêsu trên hoang địa” (GLGHCG 540) Vì thế tinh thần Mùa Chay là làm cho nội tâm cũng như hành động của mỗi cá nhân liên hệ đến phụng tự của Giáo Hội nhiều hơn và các tín hữu đáp trả nhiều hơn đối với sứ điệp và sự dạy dỗ của Chúa Kitô. Do đó Giáo Hội kêu gọi các tín hữu hảy hăng hái hy sinh, hãm mình, làm việc bác ái, cầu nguyện và làm việc Tông đồ trong Mùa Chay hay mùa 40 ngày! Bình Hòa, OP.
Tác giả bài viết: Bình Hòa, OP.
Chiêm ngắm cuộc khổ nạn Sưu tầm Lễ Lá là một lễ vui mừng, nhưng lại đượm nét buồn. Hôm nay chúng ta được nghe bài Thương Khó Đức Giêsu trong thánh lễ. Tuần Thánh đã bắt đầu. Ðức Giêsu bước vào cuộc khổ nạn với những ngày cuối đời. Hosana! Hosana! Đó là tiếng hò reo vang vọng một góc trời khi Đức Giêsu đi vào thành Giêrusalem. Đám đông dân chúng với những cành lá trên tay, với những tấm khăn trải trên đường cho Ngài bước đi, với những cánh tay đưa lên cao để tung hô Ngài là Ðấng Mêsia, là Con Vua Ðavít. Nhưng chỉ một tuần sau, chính những cánh tay đó cũng giơ cao để gào thét, để chửi rủa chế nhạo, và để đòi đóng đinh Ngài vào thập giá. Ôi lòng người sao tráo trở, mau đổi trắng thay đen! Đức Giêsu, Ngài là Con Thiên Chúa và cũng là con người, Ngài không xa lạ với khổ đau của phận người. Ngài biết thế nào là bị vu khống, bất công, phản bội… thế nào là bị nhục nhã, sợ hãi, cô đơn và bị giết chết. Ngài không phân tích mầu nhiệm đau khổ, nhưng Ngài đón lấy đau khổ với tình yêu to lớn: tình yêu của kẻ thí mạng vì người mình yêu. Qua bài Thương Khó hôm nay, bạn và tôi, chúng ta hãy đi với Ðức Giêsu qua từng chặng đường của cuộc Khổ Nạn, từ vườn Cây Dầu đến tận Núi Sọ… Ðừng theo Chúa như một người bàng quang xa lạ, bởi lẽ mọi sự Ngài chịu là vì bạn và tôi, cho bạn và cho tôi. Sau khi cảm nghiệm được những đau thương khổ nhục của Chúa Giêsu trong cuộc Khổ Nạn, bạn và tôi sẽ thấy mình yêu thánh giá của Chúa hơn, mến thập giá của mình hơn, và kính trọng thập giá của người khác nhiều hơn. Qua bài Thương Khó hôm nay, Ðức Giêsu đã xuống tận cùng sâu thẳm của phận người. Ngài muốn gieo hy vọng cho những ai thất vọng. Ngài đem lại ý nghĩa cho những khổ đau vô lý. Ngài đã đón nhận tất cả với tình yêu thứ tha, nhờ đó thập giá của Ngài đã nở hoa để trở thành thánh giá, vực thẳm của phận người đã mang lại sức sống tràn trề. Khi chiêm ngắm cuộc khổ nạn và cái chết của Ðức Giêsu, ta không cảm thấy đó là chuyện xa lạ. Vì trên thế giới ta đang sống hôm nay, mỗi ngày vẫn còn biết bao Giêsu vô tội bị kết án bất công, bị làm nhục, bị khinh khi, bị hành hạ và đối xử tàn tệ cho đến chết. Khi chiêm ngắm cuộc khổ nạn và cái chết của Ðức Giêsu, và nhất là đi đàng thánh giá với Ngài, giúp ta bình an hơn với thập giá của chính mình, nhậy cảm hơn với thập giá của tha nhân, và nhận ra mình có trách nhiệm trước những cuộc khổ nạn đang diễn ra trên thế giới hôm nay. Khi chiêm ngắm cuộc khổ nạn và cái chết của Ðức Giêsu, ta thấy mình không phải là kẻ đứng ngoài cuộc. Ta thấy mình có nét của Giuđa: Một người được chọn, được yêu, được theo Thầy rất gần, bao phép lạ đã chứng kiến, bao lời vàng ngọc đã được nghe... Tất cả đã òa vỡ tan biến khi Giuđa phản bội Thầy bằng nụ hôn giả dối. Khi chiêm ngắm cuộc khổ nạn và cái chết của Ðức Giêsu, ta thấy mình có nét giống Phêrô: Ông tự hào về tình yêu của mình đối với Thầy để rồi dễ dàng chối Thầy trước một cô đầy tớ. Tiếng gà nào khiến Phêrô chợt tỉnh? Ánh mắt tha thứ nào của Thầy khiến Phêrô òa khóc? Ngày hôm nay vẫn còn văng vẳng đâu đây tiếng gà gáy trong đêm và ánh mắt của Chúa trong đời ta... Khi chiêm ngắm cuộc khổ nạn và cái chết của Ðức Giêsu, ta thấy mình có nét giống Philatô. Ông bị trói chặt bởi nỗi sợ: sợ dân nổi loạn, sợ mất chức. Ông bị mất tự do vì áp lực của đám đông gào thét. Ông không đủ bản lãnh để tha một người vô tội. Ta cũng thấy mình có nét giống Hêrôđê: tò mò, háo hức, trông chờ Ðức Giêsu làm phép lạ... Nhưng ông mau chóng thất vọng khi thấy Ngài lặng thinh. Ông buồn vì không gặp một Giêsu như ông mong ước. Khi chiêm ngắm cuộc khổ nạn và cái chết của Ðức Giêsu, ta nhìn thấy những điểm sáng ngời. Điểm sáng đó từ nơi Simon: ông vác đỡ thập giá Ðức Giêsu trên đường lên núi Sọ. Điểm sáng khác từ nơi các phụ nữ theo sau Thánh Giá Chúa Giêsu, họ vừa đi vừa than khóc. Điểm sáng rực rỡ hơn cả từ nơi người trộm lành. Một người bị đóng đinh lại tin vào một người bị đóng đinh khác. Anh tin Ðức Giêsu vô tội và anh xin Ngài nhớ đến anh. Lòng tin khiến anh trở nên người đầu tiên được hưởng nhờ Ơn Cứu Độ. "Hôm nay, anh sẽ ở với tôi trên thiên đàng". ***Lạy Chúa Giêsu, Vì Chúa đã xao xuyến trong Vườn Cây Dầu, xin ban cho con sức mạnh để đối diện với những khó khăn vất vả trong cuộc sống. Vì Chúa chịu sỉ nhục và bị nhạo báng, xin cho con luôn biết khiêm nhường và vâng phục. Vì Chúa chịu vác thập giá nặng nề , xin cho con biết noi gương bắt chước Chúa, biết can đảm chấp nhận vác lấy thập giá của đời mình. Vì Chúa bị lột áo, xin cho con biết cởi bỏ những đam mê yếu hèn của kiếp người, biết mặc lấy tâm tình thống hối và yêu thương. Vì Chúa bị đóng đinh, xin cho con đóng đinh tính xác thịt của con vào thánh giá Chúa. Vì Chúa đã giang tay chết trên thập giá, xin cho con biết qúy trọng Ơn Cứu Độ, vì Chúa đã chết để cho con được sống, để con được hưởng nhờ Ơn Tái Sinh mà Chúa đã hứa ban, Amen Tổng hợp từ R. veritas (BĐ1: Is 50, 4-7 - BĐ2: Pl 2, 6-11 - PÂ: Mt 26, 14 - 27, 66 )
Mầu nhiệm Con Người và hành trình về Giêrusalem Lm.Thêophilê Mầu nhiệm Con Người và hành trình về Giêrusalem mạc khải Đức Giêsu là Đấng Mêsia.Đoạn 1.10. Máccô 10,1-12: Vấn đề rẫy vợ.
1 Đức Giêsu bỏ nơi đó, đi tới miền Giuđê và vùng bên kia sông Giođan. Đông đảo dân chúng lại tuôn đến với Người. Và như thường lệ, Người lại dạy dỗ họ.2 Có mấy người Pharisêu đến gần Đức Giêsu và hỏi rằng: “Thưa Thầy, chồng có được phép rẫy vợ không? “ Họ hỏi thế là để thử Người.3 Người đáp: “ Thế ông Môsê đã truyền dạy các ông điều gì? “4 Họ trả lời: “Ông Môsê đã cho phép viết giấy ly dị mà rẫy vợ.”5 Đức Giêsu nói với họ: “Chính vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsê mới viết điều răn đó cho các ông.6 Còn lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ;7 vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình,8 và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt.9 Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.”10 Khi về đến nhà, các môn đệ lại hỏi Người về điều ấy.11 Người nói: “Ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ mình;12 và ai bỏ chồng để lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình.” 1. Câu 1-9: Đức Giêsu với đám đông: một cuộc đối thoại. - Câu 1 như lời nhập đề vào câu chuyện, và câu văn bắt đầu cũng vụng về, vì nếu qui vào đoạn văn trước câu chuyện xảy ra tại thành Caphácnaum. Giờ đây Đức Giêsu lên đường đi Giuđê bên kia sông Giođan. Máccô nói đến việc Đức Giêsu di chuyển. Tác giả cũng vẫn thường biên soạn như thế để đưa đến điều Đức Giêsu giảng dạy cho đám đông. “Đức Giêsu bỏ nơi đó, đi tới miền Giuđê và vùng bên kia sông Giođan”: Hướng đi này cũng gây nên nhiều khó khăn và nhiều ngạc nhiên, vì thế từ lâu đã gây nên nhiều khác biệt trong các biệt trong truyền thống các thủ bản, cũng như những tranh luận giữa các nhà nghiên cứu. Cụm từ “bên kia sông Giođan” cũng khó hiểu vì xứ Giuđê không kéo dài ra bên kia sông Giođan. 2. Câu 10-12: Đức Giêsu với các môn đệ: một lời giảng huấn. Kết luận. Đoạn 1.11. Máccô 10,13-16: Đức Giêsu và các trẻ em. 1. câu 13: nhập đề. Câu 13 không cho biết gì về địa hình hay thời gian xảy ra câu chuyện. Đoạn văn được tiếp nối với đoạn văn trước nói về vấn đề hôn nhân. Cùng với nhóm đám đông tụ họp chung quanh Đức Giêsu tại Pérée, và chính họ đã đưa các trẻ em đến cùng với Người. Từ “trẻ em” (paidia) thường chỉ định các trẻ em thuộc nhiều lứa tuổi từ bé thơ cho đến lứa tuổi 12, nhưng dựa vào Máccô 9,36 có thể đây là những em nhỏ còn được bồng bế trên tay. Luca 18,15 cũng nói các “trẻ thơ” (bréphè). Điều họ muốn Đức Giêsu làm là đặt tay trên các em. Việc đặt tay này có thể hiểu để chữa bệnh nhưng cũng có thể là sự chúc lành lớn lên trong hạnh phúc. Từ “chạm, hay đặt tay” (haptomai) trong Máccô 1,41; 3,10; 5,27.28.30.31; 6,56; 7,33; 8,22 đều có nghĩa một sự chạm tay điều trị. Điều này bị các môn đệ coi như dị đoan bình dân nên tỏ ra la rầy chúng. Các trẻ em cũng có thể phá rầy lời giảng dạy của Đức Giêsu, thời Đức Giêsu các trẻ em thường bị coi như chưa có khả năng để hiểu kinh Torah tức là biết được ý Thiên Chúa, vì thế các môn đệ cho rằng việc mang các em đến với Đức Giêsu là vô ích nên họ không bằng lòng và la rầy các cha mẹ và các trẻ em. 2. câu 14-15: hai lời của Đức Giêsu. 3. câu 16: đón tiếp nồng hậu dành cho trẻ em. Kết luận.
TÂM TÌNH MÙA CHAY
Lịch sử và ý nghĩa Mùa Chay Kính mời quý độc giả ôn lại lịch sử và ý nghĩa Mùa Chay.
Trong truyền thống phụng vụ từ thế kỷ thứ 7, Ngày Thứ Tư Lễ Tro là một ngày quan trọng, và không một lễ nào có thề vượt lên trên. Người ta cũng gọi ngày này là "Ðầu Mùa Chay" (Caput ieiunii), hay " Ðầu Mùa ăn chay 40 ngày" (Caput Quadragesimalis). Việc ăn chay trong Mùa này đã có từ thời Ðức Giáo Hoàng Gregoriô Cả (590-604). Về nghi thức làm phép tro và xức tro, qua thời gian lễ nghi này đã có sự biến đổi từ một nghi thức nghi thức thống hối trong định chế về tập tục thống hối công cộng thời xưa. Lịch sử phụng vụ về việc thành hình Nghi thức cử hành bí tích thống hối và hòa giải, cũng như định chế Giáo hội về một số sinh hoạt đặc biệt, đã có tục lệ bỏ tro cho hối nhân công cộng đã phạm một số tội nặng cách công khai, mà mọi nguời đều biết, như chối bỏ đức tin, giết người, ngoại tình... Những người này bị loại ra khỏi cộng đoàn tín hữu. Ðể được nhận lại trong cộng đoàn, họ phải làm việc thống hối công cộng theo định chế Giáo hội đưa ra. Vào ngày thứ tư trước Chúa Nhật thứ nhất Mùa Chay, những hối nhân công cộng này sẽ tụ tập lại tại nhà thờ chính tòa, và sau khi xưng thú tội của mình, họ sẽ được Ðức Giám mục trao cho chiếc áo nhậm mang trên mình, rồi lãnh nhận tro trên đầu và trên mình. Sau đó họ bị đưổi ra khỏi nhà thờ và được chỉ định đi tới một tu viện để ở đó và thi hành một số việc thống hối đã ra cho họ. Vào sáng thứ năm Tuần thánh, các hối nhân này tụ tập lại tại nhà thờ chính tòa, được Ðức Giám mục xem xét việc thực hành thống hối của họ trong Mùa Chay, sau đó ngài đọc lời xá giải tội lỗi của họ để giao hòa với cộng đoàn. Từ đây họ được quyền tham dự các buổi cử hành bí tích. Tại Rôma, vào thế kỷ thứ 7, các hối nhân công cộng tập họp tại một số nhà thờ tước hiệu (tituli) của thành phố, cũng như tại 4 Ðại Vương cung thánh đường thánh Phêrô, thánh Phaolô ngoại thành, thánh Gioan Lateranô và Ðức Bà Cả, để cử hành nghi lễ như vừa nói trên đây. Về sau định chế thống hối công cộng không còn nữa, tuy nhiên lễ nghi bỏ tro vẫn còn giữ lại trong ngày Thứ Tư Lễ Tro. Ðầu tiên chỉ có các tín hữu lãnh nhận tro trên mình. Về sau các Ðức Giáo hoàng và tín hữu đều lãnh tro, để tỏ lòng thống hối. Sang thế kỷ thứ 10, thì có việc làm phép tro và một lời nguyện kèm theo bắt chước cơ cấu thánh lễ, nghĩa là có lời nguyện giống như Kinh nguyện thánh thể, và việc lãnh nhận tro như khi cử hành việc rước lễ. Vào thế kỷ thứ 11, cũng tại Rôma, Ðức Giáo hoàng tập họp các giáo sỹ, giáo dân tại nhà thờ thánh Anastasia. Ngài làm phép tro, bỏ tro cho mọi người, sau đó tất cả đi kiệu về nhà thờ thánh nữ Sabina ở đồi Aventino. Trong khi đi kiệu, Ðức Giáo hoàng và cộng đoàn hát kinh cầu các thánh. Tất cả đều mặc áo nhậm, đi chân không, để tỏ lòng thống hối ăn năn. Khi đoàn kiệu đến nhà thờ thánh Sabina, Ðức Giáo hoàng đọc lời xá giải và cộng đoàn cùng hát bài "Chúng ta hãy thay đổi đời sống, Xức tro và ăn chay hãm mình, khóc than vì lỗi lầm đã phạm. Hãy khẩn cầu Thiên Chúa chúng ta. Vì Người rất từ bi nhân hậu sẵng sàng tha thứ mọi tội khiên" (Immutemur, xc. Ge 2, 13). Sau đó ngài cử hành thánh lễ. Ðó là trạm đầu tiên (statio) của Mùa Chay. Ngày nay vào Thứ Tư Lễ Tro, Ðức Giáo hoàng cũng đến làm phép tro và bỏ tro tại nhà thờ thánh nữ Sabina theo truyền thống xưa. Trước đó có cuộc rước kiệu từ nhà thờ thánh Anselmô cũng trên dồi Aventino. Tại nhà thờ thánh nữ Sabina, ngài công bố sứ điệp Mùa Chay cho toàn thể Giáo hội (Sứ điệp Mùa Chay năm 2002 mang tựa đề: Anh em đã lãnh nhận nhưng không, thì hãy cho đi nhưng không [Mt 10,8]). Vào năm 1091, Công đồng Benevento (Nam Italia) đã truyền cử hành nghi lễ bỏ tro cho tất cả các nơi trong Giáo hội. Trong khi bỏ tro, vị linh mục đọc lời: "Ta là thân cát bụi sẽ trỏ về cát bụi" (St 3, 19). Tro này lấy từ những cành lá đã được làm phép trong ngày Chúa nhật Lễ Lá năm trước để lại. Trước công cuộc canh tân phụng vụ của Công đồng chung Vaticanô II, lễ nghi làm phép tro và bỏ tro được cử hành trước thánh lễ. Vào năm 1970, khi công bố Sách Lễ Rôma được tu chính, thì lễ nghi này được cử hành sau phần phụng vụ lời Chúa. Ngoài câu trích từ Sách Sáng thế, còn có thêm một công thức dùng khi bỏ tro, lấy từ Phúc âm: "Hãy ăn năn sám hối và đón nhận Tin Mừng" (Mc 1,15). Với công thức mới này được thêm vào, thì biểu hiệu "tro" đã mang thêm một ý nghĩa mới nữa đó là việc canh tân đời sống trong suốt Mùa Chay thánh. Sau đây là một trong hai lời nguyện làm phép tro: "Lạy Chúa, Chúa nhân từ đối với ai khiêm tốn, và tha thứ cho kẻ biết ăn năn. Xin nghe lời chúng con khẩn nguyện và rộng tay giáng phúc cho hết thảy chúng con sắp nhận lấy tro này, để chúng con kiên trì giữ bốn mươi ngày chay thánh, và nhờ đó được nên tinh tuyền, xứng đáng cử hành mầu nhiệm Vượt qua của Ðức Kitô, Con Một Chúa, Ðấng hằng sống và hiển trị muôn đời" (còn có một lời kinh khác trong Sách Lễ Rôma). 2. Ý nghĩa việc bỏ tro và ngày Thứ Tư Lễ Tro Trong Cựu Ước, việc xức tro và mặc áo nhậm được dùng để thực hành và biểu lộ lòng thống hối cá nhân hay toàn thể cộng đoàn dân Israel. Tro chỉ thân xác chúng ta là bụi tro, sẽ phải chết (xc. St 3,18.27; Giob 34, 17; Gr 6, 26; 25, 34; Est 4,13; Is 58, 5; Dn 9,3; Giona 3,6; Giudith 4,16; 9,1). Trong truyền thống các đan sĩ và tụ viện, tro được dùng để nói lên mối liên hệ với sự chết và sự khiêm nhường thống hối trước mặt Chúa. Vì thế, các tu sĩ, các đan sĩ có tục lệ tại một số nơi, muốn nằm trên đống tro với chiếc áo nhặm để chết. Thánh Martino thành Tours bên Pháp đã nói: "Không gì xứng hợp hơn cho một tu sĩ là việc nằm chết trên đống tro bụi". Các vị này lấy tro đã được làm phép trong ngày Thứ Tư Lễ Tro, rồi vẽ hình thánh giá trên đất, trên đó còn trải thêm áo nhặm và rồi các vị nằm trên đó khi hấp hối và khi chết. Các tu sĩ cũng có thói quen trộn tro vào bánh như của ăn. Ðó là một hình thức hãm mình nhiệm nhặt mà các tu sĩ phải giữ. Từ đây chúng ta nhận ra, trước tiên Giáo hội đã đặt nền tảng cho việc thống hối, đó là nhìn nhận lại tình trạng nguyên tuyền của ơn thánh đã bị mất do tội nguyên tồ, và hậu quả là con người xa Thiên Chúa, ttốn tránh Thiên Chúa. Con người sẽ phải chết như là một hậu quả của tội lỗi. Vì thế cần phải "quay trở lại" một cách tận căn, như ý nghĩa diễn tả qua từ "canh tân" trong ngôn ngữ Do thái, là quay ngược lại với 360 độ. Ðàng khác suy tư về bụi tro, để cho thấy sự yếu hèn của mình và tính cách tùy thuộc vào Thiên Chúa vì con người được Ngài tạo dựng. Nhưng Thiên Chúa đoái thương và ban ơn cứu rỗi. Phụng vụ đã diễn tả nền tảng này qua các biểu hiệu và các lời kinh của ngày Thư Tư Lễ Tro. Cùng với một số biểu hiệu khác được Giáo hội dùng trong Mùa Chay, như mầu áo lễ tím, không đọc Kinh Vinh Danh, không trưng bông hoa trên bàn thờ, không dùng đàn trong thánh lễ, bụi tro cũng được dùng để cho thấy tính cách thống hối của Mùa Chay và thân phận của con người hay chết. Nói tóm lại, lễ nghi làm phép tro và bỏ tro trong ngày Thứ Tư Lễ Tro gợi ra cho tín hữu về một thời điểm quan trọng đang bắt đầu liên hệ tới ơn cứu rỗi của họ, đó là Mùa Chay. Ðồng thời, lễ nghi khởi đầu này cũng đề ra cho tín hữu một hành trình phải đi theo trong thời gian suốt Mùa Chay. Hành trình đó là thực hành các việc làm biểu lộ sự thống hối, sống bác ái; đàng khác, tín hữu cũng phải đi sâu vào tâm tình thống hối, khi suy tư về thân phận con người, về lỗi lầm của mình và nhu cầu khẩn thiết phải trở về, phải canh tân cuộc sống. Tuy nhiên, tín hữu không làm những việc này trong ý thức khổ hạnh cá nhân, nhưng là để hướng về ơn cứu rỗi Chúa Kitô đã thực hiện và Giáo hội đang chuẩn bị mừng trong đại lễ Phục sinh. Ngày nay các biểu hiệu bên ngoài, như thống hối công cộng, như mặc áo nhậm, như đi chân không trong cuộc hành hương, vv... không còn được thực hiện như xưa, vì hoàn cảnh xã hội đổi thay, nhưng thái độ và ý chí thống hối, canh tân trở về vẫn phải in khắc sâu đậm trong thâm tâm mỗi người. Mỗi người sẽ tự đưa ra cho mình một số những thực hành thống hối trong cuộc sống cụ thể để biểu lộ ý nghĩa và tinh thần của lễ nghi xức tro.
XEM HÌNH ẢNH 14 CHẶNG ĐÀNG THÁNH GIÁ Xin giới thiệu bộ “Đàng Thánh Giá” bằng đồng, kích thước lớn hơn người thật, được lắp đặt dọc Đại Lộ Conciliazione, tức con đường chính dẫn vào Quảng Trường Thánh Phêrô, từ nay cho đến 29.4 (nghĩa là sẽ tháo gỡ trước ngày lễ Phong Chân Phước Đức Gioan Phaolô II). |