File "Bai_6.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/GIAOHOI/NamDucTin/GL_DTC/Bai_6.htm
File size: 21.58 KiB (22098 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_themedata.thmx" rel="themeData">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_colorschememapping.xml" rel="colorSchemeMapping">
<style>
<!--
/* Font Definitions */
 @font-face
	{font-family:"Cambria Math";
	panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4;
	mso-font-charset:1;
	mso-generic-font-family:roman;
	mso-font-format:other;
	mso-font-pitch:variable;
	mso-font-signature:0 0 0 0 0 0;}
 /* Style Definitions */
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
span.longtext
	{}
.MsoChpDefault
	{font-size:10.0pt;
	}
@page Section1
	{size:612.0pt 792.0pt;
	margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt;
	mso-header-margin:36.0pt;
	mso-footer-margin:36.0pt;
	mso-paper-source:0;}
div.Section1
	{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Tính Hợp Lý của Đức Tin vào Thiên Chúa</title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
	border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>



<!--[if !mso]>
<style>span.contents
	{}
span.small
	{}
</style>
<![endif]-->
<!--[if !mso]>
<style>h2
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:18.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	font-weight:bold}
h1
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:24.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
span.submitted
	{}
h4
	{margin-top:12.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:3.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:14.0pt;
	font-family:"Calibri","sans-serif";
	font-weight:bold}
h3
	{margin-top:10.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:0cm;
	margin-left:0cm;
	margin-bottom:.0001pt;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:11.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	color:#4F81BD;
	font-weight:bold}
span.author
	{}
span.longtext
	{}
</style>
<![endif]-->
</head>

<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
	<tr>
		<td>
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
		<font face="Verdana" size="4" color="#006666">NĂM ĐỨC TIN</font></b></p>
		<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
		<p class="MsoNormal" align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
		<b><font face="Arial" color="#0000FF">Tính Hợp Lý của Đức Tin vào Thiên 
		Chúa</font></b><p class="MsoNormal" align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
		<font face="Arial">Bài Giáo Lý VI của ĐTC Bênêđictô XVI về Năm 
		Đức Tin</font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right">
		<font size="2"><i><span style="font-family: Arial,sans-serif">Nguồn: 
		Vietcatholic</span></i></font><p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right">
		<font size="2"><i><span style="font-family: Arial,sans-serif">Phaolô 
		Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ</span></i></font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<div id="Content">
			<p align="center" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
			<font face="Times New Roman"><b><span style="font-size: 13pt">“Nhờ 
			Đức Tin chúng ta đạt được sự hiểu biết chân thật về Thiên Chúa và 
			chính mình”</span></b><span style="font-size: 13pt"><br>
			<br>
			<i>Dưới đây là bản dịch Bài Giáo Lý thứ sáu của ĐTC Bênêđictô XVI về 
			Năm Đức Tin, được ban hành tại Đại Sảnh Phaolô VI hôm thứ tư ngày 21 
			tháng 11, 2012. Hôm nay ĐTC tiếp tục dạy loạt Bài Giáo Lý về Đức 
			Tin. </i><br>
&nbsp;</span></p>
			<p align="center" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
			<span style="font-size: 13pt">* * *</span></p>
			<p align="justify" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
			<span style="font-size: 13pt"><br>
			Anh chị em thân mến,<br>
			<br>
			Chúng ta tiến bước vào Năm Đức Tin này bằng cách mang trong tâm hồn 
			niềm hy vọng tái khám phá ra tất cả niềm vui khi tin và tìm thấy sự 
			nhiệt tình để truyền thông tất cả chân lý của đức tin. Các chân lý 
			này không phải là một sứ điệp đơn giản về Thiên Chúa, một phần kiến 
			thức về Ngài. Trái lại, chúng diễn tả biến cố của cuộc gặp gỡ giữa 
			Thiên Chúa và loài người, một cuộc gặp gỡ cứu độ và giải thoát, làm 
			thỏa mãn những khát vọng sâu xa nhất của con người, những khao khát 
			hòa bình, tình huynh đệ và tình yêu của họ. Đức tin dẫn đến việc 
			khám phá ra rằng cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa tăng gia, thanh lọc và 
			nâng cao những gì là chân thiện mỹ nơi con người. Như vậy, nhờ Thiên 
			Chúa tự tỏ mình ra và cho chúng ta biết về Ngài mà con người biết 
			Thiên Chúa là ai, và vì biết Ngài, họ khám phá ra chính mình, nguồn 
			gốc và số phận của mình, sự cao quý và phẩm giá của sự sống con 
			người.<br>
			<br>
			Đức tin cho phép chúng ta có một sự hiểu biết đích thực về Thiên 
			Chúa liên trong liên quan với toàn thể con người: đó là một “tri 
			thức”, một sự hiểu biết cung cấp hương vị cho cuộc đời, một thị hiếu 
			mới cho cuộc sống, một cách sống vui vẻ trên thế gian. Đức tin được 
			diễn đạt qua món quà tự hiến cho người khác trong tình huynh đệ, tạo 
			ra tình đoàn kết, khả năng yêu thương, chiến thắng sự cô đơn là điều 
			làm cho chúng ta buồn. Do đó, sự hiểu biết về Thiên Chúa nhờ đức tin 
			này không những chỉ thuộc về phạm vi trí tuệ, mà còn cần cho đời 
			sống. Đó là sự hiểu biết về Thiên Chúa Tình Yêu, nhờ chính tình yêu 
			của Ngài. Như thế tình yêu của Thiên Chúa làm cho chúng ta nhìn 
			thấy, mở mắt chúng ta, cho phép chúng ta biết toàn thể thực tại, 
			vượt ra ngoài những quan điểm hẹp hòi của các chủ nghĩa nhân và chủ 
			quan, là những điều làm cho lương tâm bị lạc hướng. Cho nên, sự hiểu 
			biết về Thiên Chúa là một kinh nghiệm của đức tin và đồng thời bao 
			hàm một con đường trí tuệ và luân lý: được đánh động tận đáy lòng 
			bởi sự hiện diện của Thần Khí Chúa Giêsu trong chúng ta, chúng ta 
			vượt qua những chân trời ích kỷ của mình và mở chính mình ra cho 
			những giá trị đích thực của cuộc đời.<br>
			<br>
			Hôm nay, trong bài giáo lý này, tôi chú trọng đến tính hợp lý của 
			đức tin vào Thiên Chúa. Truyền thống Công Giáo ngay từ đầu đã không 
			chấp nhận thuyết duy tín, là ý muốn tin ngược lại với lý trí. Credo 
			quia absurdum (Tôi tin vì nó vô lý) không phải là công thức diễn tả 
			đức tin Công Giáo. Thực ra, Thiên Chúa không phải là vô lý, nếu có 
			thì là một mầu nhiệm. Còn mầu nhiệm không phải là điều không hợp lý, 
			nhưng tràn đầy ý thức, ý nghĩa và sự thật. Nếu khi nhìn vào mầu 
			nhiệm, lý trý của một người nhìn thấy bóng tối, không phải là vì 
			không có ánh sáng trong mầu nhiệm ấy, nhưng vì có quá nhiều ánh 
			sáng. Giống như khi đôi mắt của một người nhìn thẳng vào mặt trời, 
			họ chỉ thấy bóng tối, nhưng ai dám nói rằng mặt trời không ngời 
			sáng? Trái lại, nó là nguồn gốc của ánh sáng? Đức tin cho phép chúng 
			ta nhìn lên “mặt trời,” là Thiên Chúa, bởi vì đức tin là sự đón nhận 
			mặc khải của Ngài trong lịch sử, và có thể nói, thực sự nhận được 
			tất cả ánh sáng của mầu nhiệm của Thiên Chúa, qua việc nhận ra phép 
			lạ cả thể: Thiên Chúa đã đến gần con người, và đã ban Chính Mình để 
			con người biết Ngài, bằng cách hạ xuống để cho những giới hạn thụ 
			tạo của lý trí con người có thể hiểu được (x. CĐ Vaticanô II, Hiến 
			Chế Tín Lý Dei Verbum, 13). Đồng thời, Thiên Chúa, với ân sủng của 
			Ngài, soi sáng lý trí, mở ra chân trời mới, khôn lường vô tận, cho 
			nó. Vì lý do đó mà đức tin là một sự khích lệ mạnh mẽ để luôn luôn 
			tìm kiếm, không bao giờ ngừng lại và không bao giờ nghỉ ngơi, trong 
			việc khám phá ra sự vô tận của chân lý và thực tại. Thành kiến của 
			một số tư tưởng gia hiện đại, mà theo đó lý trí con người bị ngăn 
			chặn bởi những tín điều của đức tin, là một điều thật sai lầm. Điều 
			hoàn toàn ngược lại là điều đúng, như các bậc thầy vĩ đại của truyền 
			thống Công Giáo đã chứng tỏ. Thánh Augustinô, trước khi hoán cải, đã 
			thao thức tìm kiếm chân lý qua tất cả các triết lý có sẵn và thấy 
			rằng tất cả đều không thỏa đáng. Đối với ngài, việc tìm kiếm chăm 
			chỉ theo lý trý của ngài là một phương pháp sư phạm quan trọng cho 
			cuộc gặp gỡ chân lý của Đức Kitô. Khi ngài nói, “hiểu để tin, và tin 
			để hiểu” (Bài Giảng 43, 9: 38 PL, 258), như thể ngài đang kể lại 
			kinh nghiệm cuộc đởi của chính ngài. Trước mặc khải của Thiên Chúa, 
			trí tuệ và đức tin không xa lạ hay đối nghịch nhau, nhưng đều là 
			những điều kiện để hiểu được ý nghĩa, để đón nhận sứ điệp đích thực 
			của (mặc khải), và đến gần ngưỡng cửa của mầu nhiệm. Thánh 
			Augustinô, cùng với nhiều tác giả Kitô giáo khác, đã làm chứng cho 
			một đức tin được thể hiện nhờ sử dụng lý trí. Ngài suy nghĩ và mời 
			gọi chúng ta suy nghĩ. Theo đường hướng này, Thánh Ansêlmô nói trong 
			Proslogion (Bài giảng về sự hiện hữu của Thiên Chúa) của ngài nói 
			rằng đức tin Công giáo là fides quaerens intellectum (Đức tin đi tìm 
			sự hiểu biết): việc tìm kiếm sự hiểu biết là một hành động nội tại 
			của đức tin. Đặc biệt là Thánh Tôma Aquinô, nhờ truyền thống này, sẽ 
			đối diện với lý luận của các triết gia, cho thấy bao nhiêu hiệu quả 
			sống động mới đến với tư tưởng hợp lý của con người nhờ tháp nhập 
			những nguyên tắc và chân lý của đức tin Kitô giáo.<br>
			<br>
			Cho nên, đức tin Công Giáo là điều hợp lý và cũng nuôi dưỡng sự tin 
			tưởng vào lý trí con người. Công Đồng Chung Vaticanô I, trong Hiến 
			Chế Tín Lý Dei Filius đã khẳng định rằng lý trí có thể biết một cách 
			chắc chắn sự hiện hữu của Thiên Chúa qua con đường tạo dựng, trong 
			khi khả năng có thể nhận biết “một cách dễ dàng, với sự chắc chắn 
			tuyệt đối và mà không sai lầm” (DS 3005) những chân lý về Thiên 
			Chúa, trong ánh sáng ân sủng, chỉ thuộc về đức tin mà thôi. Hơn nữa, 
			sự hiểu biết về đức tin không chống lại lý lẽ đúng đắn. Thực ra, 
			Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong Thông điệp Fides et 
			Ratio (Đức Tin và Lý Trí), mô tả nó một cách tổng hợp: “Lý trí của 
			con người không bị hủy bỏ, cũng không bị hạ giá trong việc đồng ý 
			với những nội dung đức tin, là những điều đạt đến được trong bất kỳ 
			trường hợp nào bằng cách lựa chọn tự do và có ý thức” (số 43). Trong 
			ao ước chân lý không thể cưỡng lại được, chỉ có mối liên hệ hài hòa 
			giữa đức tin và lý trí là con đường đúng đắn dẫn đến Thiên Chúa và 
			làm thỏa mãn chính mình.<br>
			<br>
			Chúng ta có thể dể dàng nhận ra học thuyết này khắp nơi trong Tân 
			Ước. Thánh Phaolô nói khi viết cho các tín hữu thành Côrinthô, như 
			chúng ta đã nghe: “Trong khi người Do Thái đòi hỏi những dấu lạ, còn 
			người Hy Lạp tìm sự khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng Đức Kitô 
			chịu đóng đinh, một chướng ngại cho người Do Thái, và một sự điên rồ 
			đối với Dân Ngoại” (1 Cor 1:22-23). Thực ra, Thiên Chúa đã cứu thế 
			gian không phải bởi một hành động quyền lực, nhưng qua sự sỉ nhục 
			của Con Một Ngài: theo những tiêu chuẩn của loài người, cách thức 
			khác thường mà Thiên Chúa dùng mâu thuẫn với những đòi hỏi của sự 
			khôn ngoan Hy Lạp. Tuy nhiên, thập giá Đức Kitô có lý do của nó mà 
			Thánh Phaolô gọi là: ho logos tou staurou, “lời của thập giá” (1 Cor 
			1:18). Ở đây, từ ‘logos” vừa có nghĩa là lý trí vừa có nghĩa là lời, 
			và nếu nó ám chỉ lời, là vì nó diễn tả bằng lời nói điều mà lý trí 
			suy nghĩ cẩn thận. Vì vậy, Thánh Phaolô thấy thập giá không phải là 
			một biến cố phi lý, nhưng một thực thể cứu độ trong đó có sự hợp lý 
			riêng của nó, là điều có thể nhận biết được trong ánh sáng đức tin. 
			Đồng thời, ngài có một lòng tin tưởng vào lý trí con người đến nỗi 
			ngài kinh ngạc về sự kiện nhiều người, trong khi thấy vẻ đẹp của các 
			công trình mà Thiên Chúa tạo ra, đã nhất định không tin vào Ngài. 
			Thánh nhân viết trong Thư gửi tín hữu Rôma: “Vì những gì không thể 
			nhìn thấy được nơi Thiên Chúa từ khi tạo thành vũ trụ, nghĩa là 
			quyền năng vĩnh cửu và thần tính của Ngài, có thể được nhìn thấy rõ 
			ràng, và hiểu thấu qua những tạo vật của Ngài.” (1:20). Vì vậy, cả 
			Thánh Phêrô cũng khuyên Kitô hữu bị phân tán ngoài vùng Palestin hãy 
			tôn thờ “Ðức Kitô là Chúa trong lòng anh em, và luôn luôn sẵn sàng 
			trả lời cho bất cứ ai hỏi anh em về lý do của niềm hy vọng nơi anh 
			em” (1 Pr 3:15). Trong một bầu khí bị bách hại và với một nhu cầu 
			thúc bách để làm chứng cho đức tin, các tín hữu được yêu cầu biện 
			minh cho việc tuân hành Lời của Tin Mừng với những lý do chắc chắn 
			cho niềm hy vọng của chúng ta.<br>
			<br>
			Trên những tiền đề về mối dây liên kết hiệu quả giữa sự hiểu biết và 
			niềm tin này, sự liên hệ đoan chính giữa khoa học và đức tin cũng 
			được xây dựng. Nghiên cứu khoa học dẫn đến sự hiểu biết về những sự 
			thật luôn mới mẻ về con người và vũ trụ, như chúng ta thấy. Những sự 
			tốt lành thực sự của nhân loại, có thể đạt đến được trong đức tin, 
			mở ra chân trời mà hướng về đó cuộc hành trình khám phá của khoa học 
			phải đi đến. Do đó những nghiên cứu này cần được khuyến khích, thí 
			dụ như những nghiên cứu nhằm phục vụ sự sống và diệt trừ các bệnh 
			tật. Các cuộc nghiên cứu để khám phá những bí mật của hành tinh và 
			vũ trụ của chúng ta cũng rất quan trọng, trong ý thức rằng con người 
			là tột đỉnh của việc tạo dựng, không phải để khai thác nó một cách 
			điên rồ, nhưng để bảo vệ nó và làm cho nó có thể cư ngụ được. Vì 
			vậy, đức tin, khi được sống cách thực sự, không mâu thuẫn với khoa 
			học; trái lại đức tin hợp tác với khoa học bằng cách cung cấp những 
			tiêu chuẩn cơ bản là điều thăng tiến sự tốt lành cho mọi người, bằng 
			cách yêu cầu nó từ bỏ những nỗ lực trái ngược với kế hoạch ban đầu 
			của Thiên Chúa, là những điều có thể tạo ra những hậu quả chống lại 
			chính con người. Vì lý do đó mà cũng hợp lý để tin rằng: nếu khoa 
			học là một đồng minh quý giá của đức tin trong sự hiểu biết về kế 
			hoạch của Thiên Chúa trong vũ trụ, thì đức tin cũng cho phép tiến bộ 
			khoa học luôn xảy ra vì lợi ích và sự thật của con người, trong khi 
			trung thành với cùng một kế hoạch ấy.<br>
			<br>
			Đó là lý do tại sao việc người ta mở lòng ra cho đức tin cùng cho 
			việc biết Thiên Chúa và kế hoạch cứu độ của Ngài trong Chúa Giêsu 
			Kitô là điều rất quan trọng. Trong Tin Mừng, một chủ nghĩa nhân bản 
			mới được khai trương, một “văn phạm” thật sự của con người và tất cả 
			các thực thể. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo xác quyết: “Chân 
			lý của Thiên Chúa là sự khôn ngoan của Ngài, chỉ huy toàn bộ trật tự 
			của việc tạo dựng và việc điều hành trần gian. Một mình Thiên Chúa 
			‘đã tạo dựng trời đất’ (Tv 115:15), nên chỉ một mình Ngài có thể ban 
			sự hiểu biết đích thực về mọi thụ tạo trong tương quan của chúng với 
			Ngài” (số 216).<br>
			<br>
			Vì thế chúng ta hy vọng rằng quyết tâm của chúng ta trong việc Phúc 
			Âm hóa giúp hoàn lại cho Tin Mừng địa vị trung tâm trong cuộc đời 
			của nhiều người nam nữ trong thời đại chúng ta. Và chúng ta cầu 
			nguyện để tất cả mọi người tái tìm thấy trong Đức Kitô ý nghĩa của 
			cuộc đời và nền tảng của sự tự do đích thực: thực ra, không có Thiên 
			Chúa con người đánh mất chính mình. Lời chứng của những người đã đi 
			trước chúng ta và đã tận hiến cuộc đời của họ cho Tin Mừng xác nhận 
			điều này mãi mãi. Tin là điều hợp lý, vì có liên hệ sống còn với 
			cuộc đời chúng ta. Dồn hết nghị lực cho Đức Kitô là điều đáng giá, 
			chỉ một mình Người có thể thỏa mãn những khao khát chân lý và sự tốt 
			lành đã ăn sâu trong tâm hồn mỗi người: bây giờ, trong thời gian đã 
			qua, và ngày vô tận của Cõi Phúc Muôn Đời.</span></font></div>
		</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		&nbsp;</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
			<tr>
				<td width="50%">
				<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
					<tr>
						<td width="67">
						<p style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
						<img border="0" src="../../../_Images/LOGOtinmung2.gif" width="67" height="40"></td>
						<td>
				<p style="margin-left:15px; margin-top:0; margin-bottom:0" align="left">
		<font size="2"><b>
		<a style="text-decoration: none" href="../../../DocGia/DocGia_INDEX.htm">
		<span style="text-decoration: none">Trang Độc Giả</span></a></b></font></td>
					</tr>
				</table>
				</td>
				<td width="50%">
				<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
					<tr>
						<td>
				<p style="margin-right:15px; margin-top:0; margin-bottom:0" align="right">
		<font color="#FF5328" face="Arial" size="2"><b>
		<a style="text-decoration: none" target="_top" href="../../../index.htm">Trang Nhà</a></b></font></td>
						<td width="67">
<p style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
<font size="2">
<a target="_top" href="../../../index.htm">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></font></td>
					</tr>
				</table>
				</td>
			</tr>
		</table>
		</td>
	</tr>
</table>

</body>

</html>

PHP File Manager