“Nhờ
Đức Tin chúng ta đạt được sự hiểu biết chân thật về Thiên Chúa và
chính mình”
Dưới đây là bản dịch Bài Giáo Lý thứ sáu của ĐTC Bênêđictô XVI về
Năm Đức Tin, được ban hành tại Đại Sảnh Phaolô VI hôm thứ tư ngày 21
tháng 11, 2012. Hôm nay ĐTC tiếp tục dạy loạt Bài Giáo Lý về Đức
Tin.
* * *
Anh chị em thân mến,
Chúng ta tiến bước vào Năm Đức Tin này bằng cách mang trong tâm hồn
niềm hy vọng tái khám phá ra tất cả niềm vui khi tin và tìm thấy sự
nhiệt tình để truyền thông tất cả chân lý của đức tin. Các chân lý
này không phải là một sứ điệp đơn giản về Thiên Chúa, một phần kiến
thức về Ngài. Trái lại, chúng diễn tả biến cố của cuộc gặp gỡ giữa
Thiên Chúa và loài người, một cuộc gặp gỡ cứu độ và giải thoát, làm
thỏa mãn những khát vọng sâu xa nhất của con người, những khao khát
hòa bình, tình huynh đệ và tình yêu của họ. Đức tin dẫn đến việc
khám phá ra rằng cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa tăng gia, thanh lọc và
nâng cao những gì là chân thiện mỹ nơi con người. Như vậy, nhờ Thiên
Chúa tự tỏ mình ra và cho chúng ta biết về Ngài mà con người biết
Thiên Chúa là ai, và vì biết Ngài, họ khám phá ra chính mình, nguồn
gốc và số phận của mình, sự cao quý và phẩm giá của sự sống con
người.
Đức tin cho phép chúng ta có một sự hiểu biết đích thực về Thiên
Chúa liên trong liên quan với toàn thể con người: đó là một “tri
thức”, một sự hiểu biết cung cấp hương vị cho cuộc đời, một thị hiếu
mới cho cuộc sống, một cách sống vui vẻ trên thế gian. Đức tin được
diễn đạt qua món quà tự hiến cho người khác trong tình huynh đệ, tạo
ra tình đoàn kết, khả năng yêu thương, chiến thắng sự cô đơn là điều
làm cho chúng ta buồn. Do đó, sự hiểu biết về Thiên Chúa nhờ đức tin
này không những chỉ thuộc về phạm vi trí tuệ, mà còn cần cho đời
sống. Đó là sự hiểu biết về Thiên Chúa Tình Yêu, nhờ chính tình yêu
của Ngài. Như thế tình yêu của Thiên Chúa làm cho chúng ta nhìn
thấy, mở mắt chúng ta, cho phép chúng ta biết toàn thể thực tại,
vượt ra ngoài những quan điểm hẹp hòi của các chủ nghĩa nhân và chủ
quan, là những điều làm cho lương tâm bị lạc hướng. Cho nên, sự hiểu
biết về Thiên Chúa là một kinh nghiệm của đức tin và đồng thời bao
hàm một con đường trí tuệ và luân lý: được đánh động tận đáy lòng
bởi sự hiện diện của Thần Khí Chúa Giêsu trong chúng ta, chúng ta
vượt qua những chân trời ích kỷ của mình và mở chính mình ra cho
những giá trị đích thực của cuộc đời.
Hôm nay, trong bài giáo lý này, tôi chú trọng đến tính hợp lý của
đức tin vào Thiên Chúa. Truyền thống Công Giáo ngay từ đầu đã không
chấp nhận thuyết duy tín, là ý muốn tin ngược lại với lý trí. Credo
quia absurdum (Tôi tin vì nó vô lý) không phải là công thức diễn tả
đức tin Công Giáo. Thực ra, Thiên Chúa không phải là vô lý, nếu có
thì là một mầu nhiệm. Còn mầu nhiệm không phải là điều không hợp lý,
nhưng tràn đầy ý thức, ý nghĩa và sự thật. Nếu khi nhìn vào mầu
nhiệm, lý trý của một người nhìn thấy bóng tối, không phải là vì
không có ánh sáng trong mầu nhiệm ấy, nhưng vì có quá nhiều ánh
sáng. Giống như khi đôi mắt của một người nhìn thẳng vào mặt trời,
họ chỉ thấy bóng tối, nhưng ai dám nói rằng mặt trời không ngời
sáng? Trái lại, nó là nguồn gốc của ánh sáng? Đức tin cho phép chúng
ta nhìn lên “mặt trời,” là Thiên Chúa, bởi vì đức tin là sự đón nhận
mặc khải của Ngài trong lịch sử, và có thể nói, thực sự nhận được
tất cả ánh sáng của mầu nhiệm của Thiên Chúa, qua việc nhận ra phép
lạ cả thể: Thiên Chúa đã đến gần con người, và đã ban Chính Mình để
con người biết Ngài, bằng cách hạ xuống để cho những giới hạn thụ
tạo của lý trí con người có thể hiểu được (x. CĐ Vaticanô II, Hiến
Chế Tín Lý Dei Verbum, 13). Đồng thời, Thiên Chúa, với ân sủng của
Ngài, soi sáng lý trí, mở ra chân trời mới, khôn lường vô tận, cho
nó. Vì lý do đó mà đức tin là một sự khích lệ mạnh mẽ để luôn luôn
tìm kiếm, không bao giờ ngừng lại và không bao giờ nghỉ ngơi, trong
việc khám phá ra sự vô tận của chân lý và thực tại. Thành kiến của
một số tư tưởng gia hiện đại, mà theo đó lý trí con người bị ngăn
chặn bởi những tín điều của đức tin, là một điều thật sai lầm. Điều
hoàn toàn ngược lại là điều đúng, như các bậc thầy vĩ đại của truyền
thống Công Giáo đã chứng tỏ. Thánh Augustinô, trước khi hoán cải, đã
thao thức tìm kiếm chân lý qua tất cả các triết lý có sẵn và thấy
rằng tất cả đều không thỏa đáng. Đối với ngài, việc tìm kiếm chăm
chỉ theo lý trý của ngài là một phương pháp sư phạm quan trọng cho
cuộc gặp gỡ chân lý của Đức Kitô. Khi ngài nói, “hiểu để tin, và tin
để hiểu” (Bài Giảng 43, 9: 38 PL, 258), như thể ngài đang kể lại
kinh nghiệm cuộc đởi của chính ngài. Trước mặc khải của Thiên Chúa,
trí tuệ và đức tin không xa lạ hay đối nghịch nhau, nhưng đều là
những điều kiện để hiểu được ý nghĩa, để đón nhận sứ điệp đích thực
của (mặc khải), và đến gần ngưỡng cửa của mầu nhiệm. Thánh
Augustinô, cùng với nhiều tác giả Kitô giáo khác, đã làm chứng cho
một đức tin được thể hiện nhờ sử dụng lý trí. Ngài suy nghĩ và mời
gọi chúng ta suy nghĩ. Theo đường hướng này, Thánh Ansêlmô nói trong
Proslogion (Bài giảng về sự hiện hữu của Thiên Chúa) của ngài nói
rằng đức tin Công giáo là fides quaerens intellectum (Đức tin đi tìm
sự hiểu biết): việc tìm kiếm sự hiểu biết là một hành động nội tại
của đức tin. Đặc biệt là Thánh Tôma Aquinô, nhờ truyền thống này, sẽ
đối diện với lý luận của các triết gia, cho thấy bao nhiêu hiệu quả
sống động mới đến với tư tưởng hợp lý của con người nhờ tháp nhập
những nguyên tắc và chân lý của đức tin Kitô giáo.
Cho nên, đức tin Công Giáo là điều hợp lý và cũng nuôi dưỡng sự tin
tưởng vào lý trí con người. Công Đồng Chung Vaticanô I, trong Hiến
Chế Tín Lý Dei Filius đã khẳng định rằng lý trí có thể biết một cách
chắc chắn sự hiện hữu của Thiên Chúa qua con đường tạo dựng, trong
khi khả năng có thể nhận biết “một cách dễ dàng, với sự chắc chắn
tuyệt đối và mà không sai lầm” (DS 3005) những chân lý về Thiên
Chúa, trong ánh sáng ân sủng, chỉ thuộc về đức tin mà thôi. Hơn nữa,
sự hiểu biết về đức tin không chống lại lý lẽ đúng đắn. Thực ra,
Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong Thông điệp Fides et
Ratio (Đức Tin và Lý Trí), mô tả nó một cách tổng hợp: “Lý trí của
con người không bị hủy bỏ, cũng không bị hạ giá trong việc đồng ý
với những nội dung đức tin, là những điều đạt đến được trong bất kỳ
trường hợp nào bằng cách lựa chọn tự do và có ý thức” (số 43). Trong
ao ước chân lý không thể cưỡng lại được, chỉ có mối liên hệ hài hòa
giữa đức tin và lý trí là con đường đúng đắn dẫn đến Thiên Chúa và
làm thỏa mãn chính mình.
Chúng ta có thể dể dàng nhận ra học thuyết này khắp nơi trong Tân
Ước. Thánh Phaolô nói khi viết cho các tín hữu thành Côrinthô, như
chúng ta đã nghe: “Trong khi người Do Thái đòi hỏi những dấu lạ, còn
người Hy Lạp tìm sự khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng Đức Kitô
chịu đóng đinh, một chướng ngại cho người Do Thái, và một sự điên rồ
đối với Dân Ngoại” (1 Cor 1:22-23). Thực ra, Thiên Chúa đã cứu thế
gian không phải bởi một hành động quyền lực, nhưng qua sự sỉ nhục
của Con Một Ngài: theo những tiêu chuẩn của loài người, cách thức
khác thường mà Thiên Chúa dùng mâu thuẫn với những đòi hỏi của sự
khôn ngoan Hy Lạp. Tuy nhiên, thập giá Đức Kitô có lý do của nó mà
Thánh Phaolô gọi là: ho logos tou staurou, “lời của thập giá” (1 Cor
1:18). Ở đây, từ ‘logos” vừa có nghĩa là lý trí vừa có nghĩa là lời,
và nếu nó ám chỉ lời, là vì nó diễn tả bằng lời nói điều mà lý trí
suy nghĩ cẩn thận. Vì vậy, Thánh Phaolô thấy thập giá không phải là
một biến cố phi lý, nhưng một thực thể cứu độ trong đó có sự hợp lý
riêng của nó, là điều có thể nhận biết được trong ánh sáng đức tin.
Đồng thời, ngài có một lòng tin tưởng vào lý trí con người đến nỗi
ngài kinh ngạc về sự kiện nhiều người, trong khi thấy vẻ đẹp của các
công trình mà Thiên Chúa tạo ra, đã nhất định không tin vào Ngài.
Thánh nhân viết trong Thư gửi tín hữu Rôma: “Vì những gì không thể
nhìn thấy được nơi Thiên Chúa từ khi tạo thành vũ trụ, nghĩa là
quyền năng vĩnh cửu và thần tính của Ngài, có thể được nhìn thấy rõ
ràng, và hiểu thấu qua những tạo vật của Ngài.” (1:20). Vì vậy, cả
Thánh Phêrô cũng khuyên Kitô hữu bị phân tán ngoài vùng Palestin hãy
tôn thờ “Ðức Kitô là Chúa trong lòng anh em, và luôn luôn sẵn sàng
trả lời cho bất cứ ai hỏi anh em về lý do của niềm hy vọng nơi anh
em” (1 Pr 3:15). Trong một bầu khí bị bách hại và với một nhu cầu
thúc bách để làm chứng cho đức tin, các tín hữu được yêu cầu biện
minh cho việc tuân hành Lời của Tin Mừng với những lý do chắc chắn
cho niềm hy vọng của chúng ta.
Trên những tiền đề về mối dây liên kết hiệu quả giữa sự hiểu biết và
niềm tin này, sự liên hệ đoan chính giữa khoa học và đức tin cũng
được xây dựng. Nghiên cứu khoa học dẫn đến sự hiểu biết về những sự
thật luôn mới mẻ về con người và vũ trụ, như chúng ta thấy. Những sự
tốt lành thực sự của nhân loại, có thể đạt đến được trong đức tin,
mở ra chân trời mà hướng về đó cuộc hành trình khám phá của khoa học
phải đi đến. Do đó những nghiên cứu này cần được khuyến khích, thí
dụ như những nghiên cứu nhằm phục vụ sự sống và diệt trừ các bệnh
tật. Các cuộc nghiên cứu để khám phá những bí mật của hành tinh và
vũ trụ của chúng ta cũng rất quan trọng, trong ý thức rằng con người
là tột đỉnh của việc tạo dựng, không phải để khai thác nó một cách
điên rồ, nhưng để bảo vệ nó và làm cho nó có thể cư ngụ được. Vì
vậy, đức tin, khi được sống cách thực sự, không mâu thuẫn với khoa
học; trái lại đức tin hợp tác với khoa học bằng cách cung cấp những
tiêu chuẩn cơ bản là điều thăng tiến sự tốt lành cho mọi người, bằng
cách yêu cầu nó từ bỏ những nỗ lực trái ngược với kế hoạch ban đầu
của Thiên Chúa, là những điều có thể tạo ra những hậu quả chống lại
chính con người. Vì lý do đó mà cũng hợp lý để tin rằng: nếu khoa
học là một đồng minh quý giá của đức tin trong sự hiểu biết về kế
hoạch của Thiên Chúa trong vũ trụ, thì đức tin cũng cho phép tiến bộ
khoa học luôn xảy ra vì lợi ích và sự thật của con người, trong khi
trung thành với cùng một kế hoạch ấy.
Đó là lý do tại sao việc người ta mở lòng ra cho đức tin cùng cho
việc biết Thiên Chúa và kế hoạch cứu độ của Ngài trong Chúa Giêsu
Kitô là điều rất quan trọng. Trong Tin Mừng, một chủ nghĩa nhân bản
mới được khai trương, một “văn phạm” thật sự của con người và tất cả
các thực thể. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo xác quyết: “Chân
lý của Thiên Chúa là sự khôn ngoan của Ngài, chỉ huy toàn bộ trật tự
của việc tạo dựng và việc điều hành trần gian. Một mình Thiên Chúa
‘đã tạo dựng trời đất’ (Tv 115:15), nên chỉ một mình Ngài có thể ban
sự hiểu biết đích thực về mọi thụ tạo trong tương quan của chúng với
Ngài” (số 216).
Vì thế chúng ta hy vọng rằng quyết tâm của chúng ta trong việc Phúc
Âm hóa giúp hoàn lại cho Tin Mừng địa vị trung tâm trong cuộc đời
của nhiều người nam nữ trong thời đại chúng ta. Và chúng ta cầu
nguyện để tất cả mọi người tái tìm thấy trong Đức Kitô ý nghĩa của
cuộc đời và nền tảng của sự tự do đích thực: thực ra, không có Thiên
Chúa con người đánh mất chính mình. Lời chứng của những người đã đi
trước chúng ta và đã tận hiến cuộc đời của họ cho Tin Mừng xác nhận
điều này mãi mãi. Tin là điều hợp lý, vì có liên hệ sống còn với
cuộc đời chúng ta. Dồn hết nghị lực cho Đức Kitô là điều đáng giá,
chỉ một mình Người có thể thỏa mãn những khao khát chân lý và sự tốt
lành đã ăn sâu trong tâm hồn mỗi người: bây giờ, trong thời gian đã
qua, và ngày vô tận của Cõi Phúc Muôn Đời.