|
TIN TỨC GIÁO HỘI |
||
|
Sứ điệp
Thượng HĐGM kỳ thứ 12 |
||
|
G. Trần Đức Anh OP chuyển ư |
||
|
Khuôn mặt của Lời Chúa: Đức Giêsu Kitô 4. Trong nguyên ngữ Hy Lạp, chỉ có 3 từ căn bản: Lógos sarx eghéneto , ”Ngôi Lời/Lời nhập thể”. Đây không những là cao điểm trong Lời Tựa Tin Mừng theo thánh Gioan (1,14), một bảo vật quí giá về phương diện thi phú và thần học, nhưng c̣n là trọng tâm của đức tin Kitô. Lời vĩnh cửu và thần linh đi vào không gian vào thời gian, nhận lấy một khuôn mặt và căn cước phàm nhân, đến độ ta có thể đến gần và trực tiếp xin Ngài, như nhóm người Hy Lạp hiện diện ở thành Jerusalem: ”Chúng tôi muốn thấy Đức Giêsu ” (Ga 12,20-21). Những lời nói nào không có một khuôn mặt th́ bất toàn, v́ không thực hiện đầy đủ cuộc gặp gỡ, như ông Gióp đă nhắc nhớ vào cuối hành tŕnh t́m kiếm bi thảm của ông: ” Con đă nhận biết Ngài qua điều Ngài nói, giờ đây mắt con trông thấy Ngài ” (42,5). Chúa Kitô là ” Lời ở nơi Thiên Chúa và là Thiên Chúa ”, là ” h́nh ảnh Thiên Chúa vô h́nh, được sinh ra trước mọi loài thụ tạo ” (Cl 1,15); nhưng Ngài cũng là Đức Giêsu thành Nazareth bước đi trên những nẻo đường trong một tỉnh ngoại biên của đế quốc Roma, Ngài dùng ngôn ngữ địa phương, biểu lộ những sắc thái của một dân tộc, dân Do thái, và nền văn hóa của dân tộc này. V́ thế, Chúa Giêsu Kitô đích thực là một con người mong manh và hay chết, là lịch sử và nhân tính, nhưng cũng là vinh quang, là thần tính, mầu nhiệm: Ngài là Đấng đă mạc khải cho chúng ta Thiên Chúa mà chưa ai được thấy (Ga 1,18). Con Thiên Chúa tiếp tục như thế cả trong thi hài được an táng trong mộ và sự sống lại của Ngài là chứng cớ sinh động và hữu hiệu về sự kiện ấy. 5. Truyền thống Kitô giáo thường đặt song song Lời Chúa nhập thể làm người với chính Lời Chúa trở thành sách. Đó là điều được nói đến trong kinh Tin Kính khi ta tuyên xưng rằng Con Thiên Chúa ”nhập thể làm người do hoạt động của Chúa Thánh Linh trong ḷng Đức Trinh Nữ Maria ”, nhưng cả khi ta tuyên xưng niềm tin nơi ” Chúa Thánh Linh, Đấng đă nói qua các ngôn sứ ”. Công đồng chung Vatican 2 đă đón nhận truyền thống cổ kính theo đó ” Ḿnh của Chúa Con là Kinh Thánh được thông truyền cho chúng ta ” - như thánh Ambrosio đă quả quyết (In Lucam VI, 33) và minh bạch tuyên bố rằng: ” Lời Chúa, được biểu lộ qua ngôn ngữ người trần, đă trở nên giống ngôn ngữ loài người, cũng như Ngôi Lời vĩnh cửu của Chúa Cha, sau khi nhận lấy những yếu đuối của bản tính con người, đă trở nên giống loài người ” (DV 13). Thực vậy, Kinh Thánh cũng là ”xác thể”, là ”chữ” được diễn tả trong những ngôn ngữ đặc thù, qua những h́nh thức văn chương và lịch sử, trong những ư niệm gắn liền với một nền văn hóa cổ xưa, bảo tồn kư ức về những biến cố nhiều khi bi thảm, các trang Kinh Thánh nhiều khi đầy những vết máu và bạo lực, trong Kinh Thánh vang dội tiếng cười của nhân loại và những ḍng nước mắt chảy dài, cũng như kinh nguyện của những kẻ bất hạnh được trổi lên và niềm vui của những kẻ yêu nhau. Do chiều kích ”thể xác” này Kinh Thánh cần có sự phân tích lịch sử và văn chương, theo nhiều phương pháp và lối đề cập vấn đề khác nhau mà khoa chủ giải Kinh Thánh cung cấp. Mỗi độc giả Kinh Thánh, dù là người đơn sơ nhất, đều phải có kiến thức tương ứng về Bản Văn thánh, và cần nhớ rằng Lời Chúa mang h́nh thức những lời cụ thể, được giải thích và thích ứng để có thể được nhân loại nghe và hiểu. Đây chính là một công việc cần thiết: nếu không để ư tới điều đó, người ta có thể rơi vào thái độ chỉ hiểu Kinh Thánh theo nghĩa chữ (fondamentalisme), thái độ này, trong thực tế, chối bỏ sự nhập thể của Lời Chúa trong lịch sử và không nh́n nhận rằng Lời được diễn tả trong Kinh Thánh theo ngôn ngữ loài người, và phải được giải đoán, nghiên cứu và hiểu, và thái độ như thế cũng cố t́nh không biết rằng sự linh hứng của Chúa không xóa bỏ căn tính lịch sử và nhân cách riêng của các tác giả nhân trần. Nhưng Kinh Thánh cũng là Lời vĩnh cửu thần linh và v́ thế, Kinh Thánh đ̣i hỏi một sự hiểu biết khác, được Thánh Linh ban cho, Ngài là đấng biểu lộ chiều kích siêu việt của Lời Chúa, hiện diện trong những lời nhân trần. 6. Đó chính là sự cần thiết của ” Truyền thống sinh động của toàn thể Giáo Hội” (DV 12) và của đức tin để hiểu Kinh Thánh một cách thống nhất và trọn vẹn. Nếu ta chỉ dừng lại ở ”chữ viết”, th́ Kinh Thánh chỉ là một văn kiện trang trọng của quá khứ, một chứng từ cao quí về mặt luân lư đạo đức và văn hóa. Đàng khác, nếu loại bỏ sự nhập thể, th́ người ta có thể rơi vào sự lầm lạc duy nghĩa đen (fondamentalistico) hoặc một thái độ duy linh hay duy tâm lư mơ hồ. V́ vậy, kiến thức về chú giải phải liên kết chặt chẽ với truyền thống linh đạo và thần học để sự hiệp nhất giữa chiều kính thần linh và nhân trần của Chúa Giêsu Kitô và của Kinh Thánh không bị phá vỡ. Trong sự ḥa hợp được phục hồi như thế, khuôn mặt của Chúa Kitô sẽ chiếu sáng trọn vẹn và giúp chúng ta khám phá một sự hiệp nhất khác, đó là sự hiệp nhất sâu xa và thâm thúy hơn của Bộ Kinh Thánh, gồm 73 cuốn, nhưng được tháp nhập vào một ”Sổ Bộ” duy nhất, một cuộc đối thoại duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, trong một ư định cứu độ duy nhất. ” Sau khi đă nói với các Tổ Phụ và Ngôn Sứ xưa kia, nhiều lần và dưới nhiều h́nh thức, trong những ngày sau hết này, Thiên Chúa đă nói với chúng ta qua Con của Ngài” (Dt 1,1-2). Như thế, Chúa Kitô chiếu ngược ánh sáng của Ngài vào toàn thể lịch sử cứu độ trước đó và cho thấy sự ḥa hợp, ư nghĩa và đường hướng của lịch sử ấy. Ngài là dấu ấn, ” Alpha và Omera ” (Kh 1,8) của cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và mọi loài thụ tạo, được kéo dài trong thời gian và được chứng thực trong Kinh Thánh. Chính dưới ánh sáng của dấu ấn cuối cùng ấy mà những lời của Môisê và các Ngôn Sứ đạt được ”ư nghĩa trọn vẹn”, như chính Chúa Giêsu đă nói, trong một buổi chiều mùa xuân, khi Ngài đi từ Jerusalem đến làng Emmaus, đối thoại với Cléophas và bạn ông, và Ngài giải thích cho họ ” những ǵ nói về Ngài trong toàn thể Kinh Thánh” (Lc 24,27). Sở dĩ như thế v́ ở trọng tâm của mạc khải, có Lời Chúa trở thành khuôn mặt, mục đích tối hậu của kiến thức Kinh Thánh không phải ở ” trong một quyết định luân lư đạo đức hay một ư tưởng lớn, nhưng là cuộc gặp gỡ với một biến cố, với một Người, mang lại cho cuộc sống một chân trời mới và qua đó một hướng đi quyết định ” (Deus caritas est, 1). |
||
|
||