File "ngua-trong-khoa-hoc-quy-dai.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/Xuan-Nham-Dan/Documents/Giap-Tet/ngua-trong-khoa-hoc-quy-dai.htm
File size: 26.46 KiB (27097 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html xmlns:mso="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns:msdt="uuid:C2F41010-65B3-11d1-A29F-00AA00C14882">
<head>
<!--[if gte mso 9]><xml>
<mso:CustomDocumentProperties>
<mso:Categories msdt:dt="string">Đức Mẹ</mso:Categories><mso:Approval_x0020_Level msdt:dt="string"></mso:Approval_x0020_Level><mso:Assigned_x0020_To msdt:dt="string"></mso:Assigned_x0020_To></mso:CustomDocumentProperties></xml>
<![endif]-->
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<title>Giap-Ngo-2014</title>
<style>
<!--
p.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-bottom:.0001pt;
font-size:12.0pt;
font-family:VNI-Times;
margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
-->
</style>
<meta name="keywords" content="Tan Mao 2011">
<meta name="Microsoft Theme" content="none">
</head>
<body>
<table border="1" width="500" id="table1" style="border-color:#FF0000; text-decoration: none; font-family: Tahoma; font-size: 12pt">
<tr>
<td width="474" style="border-color:#FF0000; text-align: justify; text-decoration:none; font-family:ari; font-size:12pt" bgcolor="#FFFFF0">
<blockquote>
<p style="text-align: center"><font face="Times New Roman" size="4">
<br>
<b><font color="#780634">NGỰA TRONG KHOA HỌC và ĐỜI SỐNG</font></b></font></p>
<p style="text-align: right">
<font face="Times New Roman" style="font-size: 8pt; font-style: italic">
Nguyễn Quý Đại</font></p>
<p><font face="Times New Roman" size="4"><br>
<font color="#0000FF">Trong thập nhị chi, con giáp thứ 7 là con ngựa
hay Ngọ chữ Hán Việt là Mã 馬. Tên khoa học: Equus caballus. Nếu ghép
vào can chi thì có các năm: Giáp Ngọ, Bính Ngọ, Mậu Ngọ, Canh Ngọ và
Nhâm Ngọ. Ngọ thuộc cực dương vì 12 giờ trưa là giờ Ngọ, tháng 6 là
tháng Ngọ cây cối phát triển nhanh… Loài ngựa gắn bó với con người
từ thời Thượng Cổ, con người bắt đầu thuần dưỡng ngựa vào khoảng
4000-4500 TCN. Khởi đầu ngựa hoang được thuần hóa ở miền nam nước
Nga, nam Sibirien, các miền đông tây Á Châu và từ đó ngựa phổ biến
trên khắp lục địa Á - Âu. Người ta thường nuôi ngựa làm phương tiện
đi xa buôn bán với các bộ lạc khác nhanh chóng, thuận lợi hơn hoặc
đi săn bắn xa và sau đó bắt đầu dùng ngựa tiến hành chiến tranh để
cướp đất đai trong quy mô lớn.<br>
<br>
Ngựa trong danh từ khoa học:<br>
<br>
Giới (regnum): Animalia <br>
<br>
Ngành (phylum): Chordata<br>
<br>
Lớp (class): Mammalia<br>
<br>
Bộ (ordo): Perissodactyla<br>
<br>
Họ (familia): Equidae<br>
<br>
Chi (genus): Equus <br>
<br>
Loài (species): E. caballus <br>
<br>
Chủng tộc ngựa có bốn nhóm: thoroughbred/Vollblut (giống ngựa nầy ở
Á Rãp và Anh Quốc); warmblood/Warmblut; draft horse/ Kaltblut;
ponies /Ponys. Mỗi nhóm, chi có đời sống tập tính khác nhau như:
Ngựa vằn núi Bergzebras (Epuus Zebra), ngựa Quagga (Epuus quagga),
ngựa Onager (Epuus hemionus) thuộc loại nửa ngựa nửa lừa) ngựa
Przewalskipferd (Epuus Przewalskii) ngựa Steppentarpan (Epuus
przewalskii igmelini) ngựa Waldtarpan (Epuus Przewalskì silvaticus)
ngựa Westpferd (Epuus przewalskii robustus); ngựa ở Phi Châu
Wildesel (Epuus asinus africanus); ngựa ở bắc Phi Châu Wildesel
(Epuus asinus atlanticus<br>
<br>
Tùy thuộc vào giống môi trường, thức ăn, nước uống v.v, ngựa có tuổi
thọ khoảng 25 đến 30 năm. Ngựa cái mang thai kéo dài khoảng 335-340
ngày. Ngựa con vừa lọt lòng mẹ có thể đứng và đi ngay. Ngựa bốn tuổi
được coi là ngựa trưởng thành, mặc dù chúng tiếp tục phát triển bình
thường cho đến sáu tuổi, thời gian hoàn thành sự phát triển của ngựa
cũng phụ thuộc vào kích cỡ của ngựa, giống, giới tính.Có loại ngựa
dài 2.80m cao 1,5m…..Ngựa ăn cỏ, dạ dày ngựa chỉ có một túi và không
thuộc bộ nhai lại như trâu bò, răng ngựa tốt, ăn và nghiền nhỏ thức
ăn, ngựa đực có 40 cái răng, ngựa cái chỉ có 36 cái. Uống nước mỗi
ngày từ 30-60 lít nước. Tai ngựa rất thính, nhãn quan của ngựa rộng
nhưng chỉ thấy rỏ về phía trước hơn, khuyết điểm không nhìn rõ hai
bên, nên hay hoảng sợ khi nhìn thấy các di động hai bên, bởi vậy
người ta dùng hai miếng da che hai bên mắt để ngựa kéo xe chỉ nhìn
thấy phía trước. Ngựa có nhiều màu như lông màu trắng gọi là ngựa
bạch, đen tuyền gọi là ngựa ô, đen pha đỏ tươi là ngựa vang, đen pha
đỏ đậm là ngựa hồng, tím đỏ pha đen là ngựa tía, trắng sọc đen là
ngựa vằn... Về cách đi đứng của ngựa có nhiều động từ để diễn tả
như: đi, bước, rảo, chạy, nhảy, kiệu, phóng, vút, phi (bay), tế,
sải, lao, vọt, phốc, phi nước đại, phi nước kiệu, phi rạp mình, ngựa
lồng: ngựa chạy trung bình mỗi giờ từ 40-50 km, nhưng có thể chạy
nhanh đến 90 km/ giờ. Người ta lấy sức ngựa (mã lực) làm tiêu chuẩn
tính sức mạnh của động cơ Kilowatt (1 PS=75 mkp/S; hay 1 PS=
0,735498 KW).<br>
<br>
Chân ngựa cũng có nhiều ngón, nhưng chỉ có một ngón giữa phát triển
to ra, trên đầu ngón có một cái móng bằng chất sừng bao bọc ở mặt
ngoài của móng ngựa, chất sừng rất dày cứng, nó gắn chặt với xương
ngón chân, nhưng phần phía trong của móng là chất sừng mềm có tính
đàn hồi co giãn được, nó có tác dụng làm giảm xung lực từ mặt đất
khi ngựa bước đi. Vì móng ngựa là chất sừng cứng, khi ngựa đi lại
trên đất, đá lâu ngày, lớp sừng bảo vệ bên ngoài sẽ bị mòn đến lớp
sừng mềm bên trong. Ngựa bị đau chân không thể chạy nhảy kéo xe được
Vì thế người ta đóng móng cho ngựa để bảo vệ cho móng không bị mòn.
Có thợ chuyên môn rèn sắt đo ni lấy một cái vành bằng sắt có đục lỗ
sẵn đóng móng cho ngựa, đã được sáng chế từ thời La Mã cổ đại. <br>
<br>
Ngựa trong chiến tranh được gọi là Ngựa chiến hay chiến mã.<br>
<br>
Hình ảnh ngựa còn là chủ đề cho các môn nghệ thuật như hội họa, điêu
khắc, thơ văn... Đối với văn hóa phương Tây, ngựa gắn liền với nhiều
biểu tượng thần thoại. Quan hệ giữa chủ nhân và ngựa không khác gì
đôi bạn thân, cùng nhau vào sinh ra tử, xông pha trận mạc. Bên cạnh
chiến binh, ngựa được coi là chiến mã, tượng trưng cho sự dũng mãnh,
thần tốc và lòng kiêu hãnh, các binh chủng kỵ binh, kỵ mã, kỵ xạ,
thám mã trong chiến đấu, săn bắn… Người Ai Cập và Trung Hoa cổ đại
sử dụng xe ngựa kéo, sáng chế ra yên cương và bàn đạp giúp tăng hiệu
quả chiến đấu của chiến mã và giúp cho người cưỡi giữ thăng bằng, ổn
định và không bị ngã ngựa. Các hiệp sĩ trên lưng ngựa mặc áo giáp
với một thanh kiếm hoặc giáo thương, đại đao hoặc các vũ khí đánh xa
khác… có sức chống lại mạnh mẽ và gây nguy hiểm cho hầu hết các loại
lính bộ binh. <br>
<br>
Việc sử dụng chiến thuật ổn định từ ngựa chiến được đóng yên cương
và bàn đạp chân đã cho phép người Mông Cổ có thể tấn công và bắn tên
hiệu quả từ trên lưng ngựa (nhất là các kỵ xạ), đồng thời đem đến
cho họ sự linh động để chinh phục phần lớn các vùng đất đã biết đến
trên thế giới. Thành Cát Tư Hãn/Genghis Khan phiên âm Hán: 成吉思汗 (trị
vì 1206-1227) là người sáng lập ra Đế quốc Mông Cổ. Vó ngựa quân
Mông Cổ tung hoành khắp nơi, nhờ giống ngựa Mông Cổ với vóc dáng có
phần nhỏ hơn, chân ngắn hơn, bờm và đuôi rậm hơn, song chúng ít đòi
hỏi chăm sóc, sức chịu đựng tốt, đặc biệt thích nghi tốt với khí hậu
cận nhiệt đới. Quân Mông Cổ đã bành trướng xuống phía Nam, ngựa Mông
Cổ có thể nói là phương tiện duy nhất để di chuyển đại quân từ Á
sang Âu. Vó ngựa Mông Cổ đi đến đâu thì cỏ không mọc được, đến đâu
thì bình địa đến đó, máu chảy đầu rơi, xơ xác. Nhưng đến Việt Nam bị
Hưng Đạo Vương đánh thua chạy dài về nước.<br>
<br>
Theo truyền thuyết Đời Hùng Vương thứ Sáu nổi tiếng và đặc sắc nhất
về ngựa là hình ảnh ngựa thần của Thánh Gióng, cậu bé làng Phù Đổng
đã vươn vai thành người lớn cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt ra trận dẹp
tan giặc Ân. Hình ảnh Thánh Gióng cưỡi ngựa thần bay lên trời tượng
trưng cho sự tự do, bất khuất, lòng dũng cảm, ý chí kiên cường. Tại
ngã sáu ở Sài Gòn còn tượng tưởng nhớ Phù Đổng Thiên Vương.<br>
<br>
Ngựa thành Troia Hy Lạp Cổ đại: Người Hy Lạp sử dụng ngựa trong
chiến trận. Lịch sử Hy Lạp cách đây hơn 3200 năm có chuyện ngựa gỗ
thành Troia. Khi quân Hy Lạp đến bao vây thành Troie (Trojanische
Krieg), dân thành này chống cự mãnh liệt, quân Hy Lạp không thể nào
vô thành được. Theo mưu mẹo của Odysseus/ Odyssey chế ra một con
ngựa gỗ rất cao lớn, bên trong rỗng ruột để quân lính chui vào nấp,
sau đó giả vờ bỏ con ngựa lại chiến trường rồi ra lệnh tất cả thuyền
bè rút ra khơi. Dân thành Troia thấy quân Hy Lạp rút lui, vui mừng
kéo nhau ra khỏi thành hì hục đưa con ngựa gỗ vào bên trong thành
như là một chiến lợi phẩm quý giá thu được từ Hy Lạp. Nửa đêm hôm
ấy, quân mai phục từ bụng con ngựa chui ra chém giết lung tung, mở
cửa thành cho quân Hy Lạp tràn vào. Thành Troia thất thủ, vua Priam
bị giết, câu chuyện ngựa gỗ phá thành được chép lại như một thiên
anh hùng ca trong các tiểu thuyết của nhà thi hào Homer.<br>
<br>
Ngựa trong đời sống bình dân<br>
<br>
Ngựa là gia súc đóng góp to lớn trong việc mưu sinh và sự phát triển
của con người. ngựa đối với người phương Đông còn là biểu tượng của
lòng trung thành, sự kiên trì, nhẫn nại và cần mẫn. Trong thời bình
ngựa giúp chúng ta cày bừa, chuyên chở hàng hóa, kéo xe, chở người
di chuyển trên đường xa, những nơi hiểm trở. Ngoài ra ngựa là phương
tiện di chuyển nhanh nhất thời xưa trong vấn đề liên lạc thư tín,
công văn …và tạo những niềm vui cho công chúng như đua ngựa, đi săn,
cưỡi ngựa thi bắn tên, làm xiếc thú. Ngựa còn cho ta thịt để ăn và
cúng tế, xương nấu cao ngựa làm thuốc, giúp các nhà y học chế ra các
loại huyết thanh trị bệnh, huyết thanh chống nọc rắn. Viện Pasteur
Nha Trang thành lập từ năm 1895, đến năm 1896 bác sĩ Yersin đã lên
vùng Suối Dầu, thành lập một trang trại chăn nuôi ngựa lấy huyết
thanh bào chế vacxin phòng chống bệnh dịch hạch. Và cũng từ trại
ngựa này, Yersin đã sáng chế ra những loại huyết thanh cổ điển khác
như kháng huyết thanh bạch hầu, uốn ván. Cho đến nay, với hơn 100
năm tồn tại và phát triển, trại chăn nuôi vùng Suối Dầu đã trở thành
một trung tâm sản xuất vacxin lớn trong khu vực, với số lượng thú
nuôi phục vụ nghiên cứu khoa học đứng đầu trong cả nước gồm ngựa,
thỏ, chuột lang, chuột bạch.<br>
<br>
Tiếp bước theo công trình của bác sĩ Yersin, tập thể các cán bộ ở
trại chăn nuôi Suối Dầu đã bào chế ra những kháng huyết thanh mới từ
ngựa như kháng huyết thanh trị rạ, trị nọc độc rắn cắn, mới đây nhất
là nghiên cứu phát triển loại kháng huyết thanh chữa ngộ độc cá nóc
cho ngư dân, theo tinh thần mà ngày xưa bác sĩ Yersin đã đề xướng:
nghiên cứu và phục vụ đời sống.<br>
<br>
Nhiều giống ngựa đã tuyệt chủng, nhưng nhiều giống ngựa khác được
lai giống to lớn có lông mai và đuôi dài rất đẹp, hàng năm lễ hội
Beer Tháng Mười ở Munich nhiều ngựa to lớn kéo xe rất đẹp <br>
<br>
Ngựa trong văn chương<br>
<br>
Thời xa xưa đời sống hàng ngày chỉ sử dụng phương tiện di chuyển,
kiệu, cán, xe kéo và ngựa. Ảnh hưởng đời sống nên truyện Kiều của
thi hào Nguyễn Du nhắc đến ngựa rất nhiều lần, hơn 24 câu nói đến
ngựa. (1) <br>
<br>
Trong đoạn thơ tả cảnh chị em Thuý Kiều, Thuý Vân đi lễ hội Thanh
minh:<br>
<br>
Dập diều tài tử giai nhân,<br>
<br>
Ngựa xe như nước, áo quần như nêm.<br>
<br>
Tác phẩm thứ hai có nhắc đến ngựa là Chinh Phụ Ngâm. vài đoạn thơ
liên quan đến ngựa. Nói về nam nhi trong thời chinh chiến:<br>
<br>
Chí làm trai đặm nghìn da ngựa<br>
<br>
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao<br>
<br>
Giả nhà đeo bức chiến bào <br>
<br>
Thét roi cầu vị ào ào gió thu.<br>
<br>
Rồi nàng phải tiễn chàng ra trận, cảnh chia ly thật buồn : <br>
<br>
Ngoài đầu cầu nước trong như lọc<br>
<br>
Đường bên cầu cỏ mọc còn non<br>
<br>
Đưa chàng lòng vợi vợi buồn<br>
<br>
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.<br>
<br>
Ngựa liên quan trực tiếp đến người chinh phu ở nơi xa xăm, chịu dãi
dầu sương gió, cùng những hiểm nguy của chiến trận, bên mình ngựa:<br>
<br>
Hơi gió lạnh người rầu mặt dạn<br>
<br>
Giòng nước sâu ngựa nản chân bon.<br>
<br>
Ôm yên, gối trống đã chồn<br>
<br>
Nằm vùng cát trắng ngủ cồn rêu xanh<br>
<br>
Hoặc:<br>
<br>
Xông pha gió bãi trăng ngàn<br>
<br>
Tên reo đầu ngựa giáo lan mặt thành.<br>
<br>
Hay là: <br>
<br>
Chàng ruổi ngựa dậm trường mây phủ<br>
<br>
Thiếp dạo hài lối cũ rêu xanh.<br>
<br>
Tác phẩm Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Đình Chiểu cũng có câu nói về
ngựa:<br>
<br>
Vân Tiên đầu đội kim khôi<br>
<br>
Tay cầm siêu bạc, mình ngồi ngựa ô.<br>
<br>
Tác phẩm Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu cũng có nhắc xa mã:<br>
<br>
Mùi phú quí nhữ làng xa mã<br>
<br>
Bã vinh hoa lừa gã công khanh. <br>
<br>
Ngựa vốn là loài vật gắn bó với con người. Nó nằm trong Lục Súc
Tranh Công, 6 loại gia súc nuôi trong nhà như: ngựa, trâu, bò, dê,
chó và heo. Người Á Đông đã thuần hóa thành công 6 loại gia súc này
trước tiên. Bởi vậy có truyện Lục Súc Tranh Công, ngựa cũng tự khen
mình, vừa kể công đánh Nam dẹp Bắc, giúp không biết bao nhiêu tướng
tài, phò trợ xã tắc suốt trong lịch sử: <br>
<br>
Ngựa nghe nói tím gan, tím phổi<br>
<br>
Liền chạy ra hầm hí vang tai<br>
<br>
Ớ này này tao bảo chúng bây<br>
<br>
Đố mặt ai dài bằng mặt ngựa...<br>
<br>
Tao đã từng đi quán về quê<br>
<br>
Đã ghe trận, đánh Nam, dẹp Bắc...<br>
<br>
Ngày ngày chầu chực sân rồng<br>
<br>
Bữa bữa dựa kề loan giá.<br>
<br>
Ông Cao Tổ năm năm thượng mã <br>
<br>
Mới dựng nên cơ nghiệp Lưu gia.<br>
<br>
Ông Quan Công sáu ải vượt qua<br>
<br>
Vì cậy có Thanh Long, Xích Thố...<br>
<br>
Các chú được ăn no nằm ngủ<br>
<br>
Bởi vì ta cầm cán giữ gìn...<br>
<br>
Các chú những nằm trong xó bếp<br>
<br>
Tài các người ở chốn quê mùa<br>
<br>
Đừng đừng buông lời nói khật khù<br>
<br>
Bớt bớt thói chê bai giớn giác … <br>
<br>
Trong tục ngữ ca dao<br>
<br>
Được đầu voi đòi đầu ngựa: nói về người có lòng tham không đáy<br>
<br>
Ngựa chạy có bầy chim bay có bạn: nói lên tinh thần đoàn kết.<br>
<br>
Ngựa Hồ gió bấc hay chim Việt ngựa Hồ: Ngựa xứ Hồ mỗi khi gió bấc
thì hí, chim nước Việt chọn cành phiá nam mà đậu.<br>
<br>
Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ: Nói về tình đoàn kết <br>
<br>
Mã đáo thành công: Câu chúc may mắn, thành công <br>
<br>
Ngựa non háu đá: Chỉ những người trẻ tuổi thường có tính cách hung
hăng, thiếu chín chắn <br>
<br>
Cưỡi ngựa xem hoa, chỉ thời gian ngắn đi qua chưa nhìn hết mọi vấn
đề<br>
<br>
Ngựa chứng là ngựa hay: nói những người có tài thường có những tật
xấu <br>
<br>
Ngựa quen đường cũ: Chứng nào tật ấy <br>
<br>
Ngưu tầm ngưu mã tầm mã: Chỉ việc những người giống nhau thường tập
hợp lại với nhay, tìm đến nhau <br>
<br>
Đầu trâu mặt ngựa: Câu này dùng để chỉ những kẻ vô loại, kẻ đại bất
lương. <br>
<br>
Thẳng như ruột ngựa: Nói về việc không úp mở, thẳng thắn vào đề luôn
<br>
<br>
Da ngựa bọc thây: Câu này thời xưa dùng để nói về một người lính đã
ngã xuống trên chiến trường <br>
<br>
Đơn thương, độc mã (một ngựa với một cây thương): Chỉ người một mình
chống lại khó khăn, không có sự trợ giúp của ai, giống câu một mình
một ngựa <br>
<br>
Một lời nói ra bốn ngựa khó tìm (Nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy):
Câu này có nghĩa là một lời nói vô ý khi ra khỏi miệng rất khó có
thể lấy lại được. <br>
<br>
Tế ông mất ngựa: Chỉ trong cái rủi có cái may. <br>
<br>
Có mặt nào dài hơn ngựa, trước pháp đình, tội nhân đứng trước vành
móng ngựa. …<br>
<br>
Rồng chầu ngoài Huế, Ngựa tế Đồng Nai<br>
<br>
Trong truyện thần thoại Tây Phương con ngựa cổ nhất là con độc giác
là con bạch mã đuôi dài tha thướt như tóc một thiếu nữ, giữa trán
mọc một cái sừng (Einhorn) và xoắn như mũi khoan phát ra ánh sáng,
thêm con ngựa có cánh bay, các loại truyện thần thọai đã dựng thành
phim hoạt hình. Những lăng mộ ở Ai Cập trên những bức phù điêu đều
có chạm trổ hình những con ngựa, Tại Viện bảo tàng ở Cairo chưng bày
những chiếc xe ngựa của các đời Vua được khai quật hơn 3000 năm.
Trước sân các Đình Miếu ở Việt Nam cũng như Trung Hoa thường có
tượng đá bằng ngựa…Về Âm nhạc có các nhạc phẩm được nhiều người
thích là: Vết thù trên lưng ngựa hoang, Lý Ngựa Ô<br>
<br>
Ở Trung Hoa, có dòng họ Mã lấy theo tên ngựa, trong đó có nhiều
người nổi danh như Mã Viện, Mã Đằng, Mã Siêu, Mã Anh Cửu, Mã Giám
Sinh, Mã Bé… Ngoài ra thêm nhiều chuyện như „trảm mã trà„ cho ngựa
ăn trà chém đầu mổ bụng lấy trà sao chế để uống, hay chuyện cho ngựa
bạch lên núi cao tìm cỏ Phương Chi mọc trên đá cho ngựa ăn lúc mặt
trời vừa mọc, ăn xong cũng chém đầu mổ bụng lấy bao tử mang về chế
thuốc phơi khô trị bệnh, bà Từ Hy Thái Hậu khoản đãi khách quý dùng
loại thuốc đó nấu với Long Tu. <br>
<br>
Dược thảo mang tên ngựa<br>
<br>
Trong các dược liệu cổ truyền, hai khái niệm ngựa và mã thường được
sử dụng để chỉ tên nhiều vị thuốc có giá trị, thậm chí là tên của
nhiều họ cây thuốc. Xin giới thiệu một số thảo dược chính có liên
quan đến hai khái niệm này.<br>
<br>
Mã tiên thảo hay còn gọi là cỏ roi ngựa (Verbena officinalis L.), họ
cỏ roi ngựa (Verbenaceae), trông hình dáng giống như cái roi ngựa.
Vị thuốc là bộ phận trên mặt đất, thu hái lúc cây sắp ra hoa, phơi
khô hoặc sấy khô, với liều 6 - 12g dùng trị các bệnh sốt rét, lỵ,
ngứa lở hạ bộ, sưng đau tuyến vú, mụn nhọt, bế kinh, khí hư bạch
đới.<br>
<br>
Mã kế còn gọi là đại kế (Circus japonicus (DC.) Maxim), họ Cúc
(Asteraceae), dùng toàn cây. Vị thuốc có vị ngọt, đắng, tính mát.
Trị thổ huyết, máu cam, trĩ ra máu, tiểu tiện ra máu, băng huyết,
chấn thương chảy máu. Khi dùng để cầm máu thường được sao đen. Trị
băng huyết và kinh nguyệt quá nhiều<br>
<br>
Mã xỉ hiện còn gọi là rau sam (Portulaca oleracea L.), họ Rau sam
(Portulacaceae), mọc hoang hoặc được trồng để làm thuốc hoặc làm rau
ăn. Có thể dùng tươi hoặc khô để trị lỵ trực khuẩn, giun kim, dưới
dạng nước sắc 15 - 20g ngày. Dùng ngoài, trị ngứa lở, nước ăn chân,
lấy cây tươi rửa sạch, giã nát, chấm vào chỗ bị bệnh, ngày 1 - 2 lần
sau khi đã rửa sạch chỗ bị bệnh và lau khô<br>
<br>
Mã đề còn gọi là Xa tiền thảo (Plantago major L.), họ Mã đề
(Plantaginaceae). Hai chữ mã đề là ám chỉ “móng chân của con ngựa”.
Mã đề cho nhiều vị thuốc hay, toàn cây có tác dụng lợi tiểu, lợi
mật, chống viêm loét, trừ đờm, chống ho, chống lỵ...Dùng trị bí
tiểu, tiểu vàng, đỏ, tiểu ra máu, sỏi đường tiết niệu, viêm gan,
mật...Từ mã đề có thể thu được các vị thuốc: bông mã đề, cụm hoa,
hạt mã đề (xa tiền tử) có cùng tác dụng: lợi tiểu, lợi mật...<br>
<br>
Mặt khác, xa tiền tử còn chứa nhiều chất nhầy, có khả năng bao phủ
các vết loét, nhất là ở dạ dày, tá tràng. Do vậy, vị thuốc này cũng
như tịch chiết lá tươi của nó được dùng để trị viêm loét dạ dày, tá
tràng rất tốt<br>
<br>
Mã đề nước còn gọi là Trạch tả (Plantago plantago- aquatica L. tên
đồng danh Alisma orientalis Sam. Juzep.), họ Trạch tả
(Alismataceae). Gọi là mã đề nước vì lá của cây trạch tả trông rất
giống với lá của cây mã đề, song cây này lại mọc ở dưới ruộng nước.
Y học cổ truyền dùng thân rễ của Trạch tả hàng năm thu hái vào
khoảng tháng 4 - 5 để làm thuốc chữa bệnh phù thũng, viêm thận, viêm
bể thận, tiểu tiện khó khăn, đái ra máu .<br>
<br>
Cá ngựa hay hải mã là tên gọi chung của một chi động vật sống ở đại
dương tại các vùng biển nhiệt đới. Cá ngựa có chiều dài 15 cm có
loài dài đến 30 cm. Cá ngựa là cá biển thuộc chi Hippocampus và họ
Syngnathidae vùng nước nhiệt đới và ôn đới ở khắp nơi trên thế giới.
Đông y thường dùng hải mã khô trong những than thuốc nấu uống hay để
ngâm rượu uống bổ dương. Khoa học chưa có tài liệu nào cho biết
thành phần hóa học tác dụng dược lý?.. Cá ngựa và cá chìa vôi là 2
chi cá đặc biệt ở chỗ con đực "mang thai" và sinh con. Thời gian
mang thai từ 2-3 tuần. Nó có vây ngực ở phía trên gần mang và vây
lưng nằm phía dưới cơ thể. Một số loài cá ngựa có một phần thân thể
trong suốt nên rất khó nhìn thấy.<br>
<br>
Năm Quý Tỵ đã qua nhiều biến đổi, hy vọng năm Giáp Ngọ đến “mã đáo
thành công“ sẽ đem lại Tự Do, Dân Chủ cho Việt Nam. Không còn bọn
„đầu trâu mặt ngựa“ đàn áp đánh đập người dân biểu tình chống Trung
cộng xâm chiếm biển đảo tịch thu ghe tàu, đánh đập ngư dân Việt Nam.
Kính chúc thân hữu và quý độc giả năm mới bình an, thân tâm an lạc,
may mắn và hạnh phúc .<br>
<br>
Nguyễn Quý Đại<br>
<br>
Tài liệu tham khảo<br>
<br>
Tiere und Lebensräume (Das grosse Volks- Lexikom ) Bertelsmann.<br>
<br>
Das neue Universal Lexikon <br>
<br>
Thơ văn hình trên Internet và trang Wikipedia</font></font></p>
</blockquote>
</td>
</tr>
</table>
</body>
</html>