File "ChuathanhthanvaducmeVuvanAn.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/TRANG CUA ME MARIA/Thang-Kinh-Me/Thang Hoa 2009/ChuathanhthanvaducmeVuvanAn.htm
File size: 28.43 KiB (29114 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html>

<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<title>Tháng Hoa Kính Mẹ Maria</title>
<base target="main">
<meta name="keywords" content="Tháng Hoa Kính Mẹ Maria">
<meta name="Microsoft Theme" content="none">
</head>

<body background="line02.jpg">

<table border="0" width="500" cellspacing="10" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFF2">
	<!-- MSTableType="nolayout" -->
	<tr>
		<td width="460">
		<p style="text-align: center"><b>Chúa Thánh Thần và Đức Mẹ <br>
		trong tư tưởng Thánh Maximillian Kolbe </b></td>
		</tr>
	<tr>
		<td width="474">
							<p style="text-align: right"><font color="#FF0000">
							<i><span style="font-size: 8pt">Vũ Văn An </span>
							</i></font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td width="474">
							<p style="text-align: right">
							<b><font color="#0000FF" size="2">THÁNG HOA KÍNH ĐỨC 
							MẸ - 2009</font></b></td>
	</tr>
	<tr>
		<td width="474">
		<p class="MsoNormal" align="justify">Đôi khi ta nghe người ta nói rằng 
		các trước tác thiêng liêng ngày nay không phản ảnh trọn bộ tín lý về 
		Chúa Thánh Thần. Nhiệm vụ của các nhà chuyên môn là phải suy niệm sâu xa 
		hơn về công trình của Chúa Thánh Thần trong lịch sử cứu rỗi và các trước 
		tác thiêng liêng Kitô Giáo phải làm nổi bật hành động ban sự sống của 
		Người. Các trước tác này phải đặc biệt đào sâu mối liên hệ kín nhiệm 
		giữa Chúa Thánh Thần và Đức Trinh Nữ Thành Nadarét, và cho thấy ảnh 
		hưởng của nó đối với Giáo Hội. Càng suy niệm thấu đáo các mầu nhiệm Đức 
		Tin hơn bao nhiêu, lòng đạo đức của ta càng trở nên chủ yếu hơn bấy 
		nhiêu (1). <br>
		<br>
		Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã viết như thế trong thông điệp “Tôn Sùng Đức 
		Mẹ” (Cultus Marialis) năm 1974. Điều Đức Thánh Cha có thể đã biết hay 
		không biết là Thánh Maximillian Kolbe (1894-1941) đã dành phần lớn đời 
		sống của ngài để khai triển ra một nền thần học về Đức Mẹ nói lên được 
		mối liên hệ kín nhiệm giữa Thánh Thần Thiên Chúa và Đức Trinh Nữ Thành 
		Nadarét; một nền thần học phong phú trong quán niệm, độc đáo trong 
		phương thức, và góp phần vào lòng đạo đức mang lại nhiều sinh lực hơn 
		cho các chi thể của Nhiệm Thể Chúa Kitô. <br>
		<br>
		Trung thành với Thánh Truyền Công Giáo, Thánh Maximillian Kolbe tin rằng 
		Đức Maria có một vị thế hết sức trổi vượt trong kế hoạch cứu rỗi của 
		Thiên Chúa; là người cộng tác đầy ý thức vào mọi ơn thánh Chúa ban cho 
		con người. Tuy nhiên, trong khi Thánh Truyền, qua các nhà trước tác như 
		Thánh Louis de Montfort, hay nhấn mạnh tới Chức Làm Mẹ Thiên Chúa của 
		Đức Mẹ, coi như đó là nền tảng giáo huấn của mình, thì Thánh Kolbe lại 
		cho rằng tư cách trung gian phổ quát các ơn thánh của Đức Mẹ chủ yếu 
		liên hệ với và được dẫn khởi từ mối liên hệ thân mật và kín nhiệm với 
		Chúa Thánh Thần.<br>
		<br>
		Vị thánh người Ba Lan này cho rằng mọi ơn thánh cuối cùng đều đến với 
		chúng ta từ Đức Chúa Cha, nhờ công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, Con một 
		của Người, và được Chúa Thánh Thần phân phối; và, khi phân phối các ơn 
		thánh ấy, Chúa Thánh Thần luôn hành động trong và qua Đức Mẹ, không phải 
		vì Người bắt buộc phải làm như vậy, nhưng chỉ vì, trong kế hoạch cứu rỗi 
		của mình, Thiên Chúa muốn làm như thế. Và sở dĩ Thiên Chúa muốn làm như 
		thế là vì một lý do: Chúa Giêsu, nguồn mọi ơn thánh, đã đến với chúng ta 
		qua Đức Mẹ nhờ công trình của Chúa Thánh Thần; bởi thế, quả thật mọi ơn 
		thánh đều đến với chúng ta qua Đức Mẹ, nhờ công trình của Chúa Thánh 
		Thần. <br>
		<br>
		Mặt khác, Thánh Kolbe còn nói rằng con đường, qua đó, ơn thánh của Chúa 
		đến với chúng ta, tức từ Đức Chúa Cha, qua Đức Chúa Con và nhờ Đức Chúa 
		Thánh Thần, là nghịch đảo với con đường ta trở lại với Chúa. Con đường 
		ta trở lại với Chúa, tức việc ta yêu thương đáp trả tình yêu và ơn thánh 
		của Người, tiến từ Đức Chúa Thánh Thần (Đấng luôn hành động qua Đức Mẹ), 
		qua Đức Chúa Con và về cùng Đức Chúa Cha (2). <br>
		<br>
		Đối với Thánh Kolbe, vai trò hết sức nổi bật của Đức Mẹ trong sự sắp xếp 
		(ordo) này của Chúa, tức việc ơn thánh và tình yêu từ Chúa đến với con 
		người, và tình yêu từ con người đáp trả lại Thiên Chúa, đặc biệt phát 
		sinh từ việc ngài hợp nhất một cách độc đáo và hết sức thân mật với Chúa 
		Thánh Thần. Thánh nhân cho rằng Chúa Thánh Thần ngự trong linh hồn Đức 
		Mẹ một cách khôn tả đến độ vượt quá và sâu sắc hơn cả sự hợp nhất giữa 
		Chúa Thánh Thần và linh hồn ta nhờ ơn thánh hóa của Bí Tích Rửa Tội (3).<br>
		<br>
		Để soi sáng phần nào sự kết hợp mật thiết giữa Đức Mẹ và Ngôi Ba Thiên 
		Chúa, Thánh Kolbe đã mô phỏng Thánh Truyền mà gọi Đức Mẹ là ‘người phối 
		ngẫu” của Chúa Thánh Thần (4). Nhưng ngài cũng cho rằng thuật ngữ này 
		không thoả đáng hoàn toàn, không lột tả trọn vẹn mối liên hệ mật thiết 
		và hết sức huyền nhiệm này. Vì trong hôn nhân, người đàn ông và người 
		đàn bà, nhờ ơn thánh bí tích, được hợp nhất thành “một thân xác”. Nhưng 
		sự kết hợp giữa Đức Mẹ và Chúa Thánh Thần mật thiết hơn nhiều sự kết hợp 
		trong hôn nhân. Đã đành, trong các loài thụ tạo do Chúa dựng nên, sự kết 
		hợp giữa vợ chồng là sự kết hợp mật thiết hơn hết. Nhưng Chúa Thánh Thần 
		sống ngay trong linh hồn Đấng Vô Nhiễm, trong thẳm cung chính con người 
		của ngài (5). <br>
		<br>
		Điều gì đáng kể nhất trong mối liên hệ đặc biệt của Đức Mẹ với Chúa 
		Thánh Thần? Thánh Kolbe cho hay đó chính là việc ngài được vô nhiễm 
		nguyên tội từ lúc tượng thai, một việc sở dĩ có được là nhờ công trình 
		trực tiếp của Chúa Thánh Thần. Nhờ Đức Mẹ được Vô Nhiễm Thai, nên Chúa 
		Cha và Chúa Con muốn rằng Đức Mẹ sẽ kết hợp nên một với Thánh Thần Yêu 
		Thương chung của cả hai ngôi vị, một cách gần gũi và mật thiết đến có 
		thể cho phép Chúa Thánh Thần thực hiện được việc Nhập Thể của Ngôi Lời 
		ngay trong lòng Đức Mẹ, khiến ngài trở nên Mẹ Thiên Chúa; và mặt khác, 
		sự kết hợp này phải cho phép Đức Mẹ trở thành dụng cụ hay máng chuyển 
		qua đó Chúa Thánh Thần sẽ phân phát mọi ơn thánh do Chúa Kitô tạo lập 
		được. Thánh Kolbe nhấn mạnh rằng ý nghĩa chính xác của tước hiệu “Vô 
		Nhiễm Thai” là một mầu nhiệm lớn, quá sâu sắc và huyền nhiệm đến độ 
		không thể nào hiểu thấu. <br>
		<br>
		Cách tiếp cận của Thánh Kolbe, nhất là việc ngài nhấn mạnh tới mối liên 
		hệ giữa ơn Vô Nhiễm Thai của Đức Mẹ với tư cách làm trung gian phổ quát 
		mọi ơn thánh của ngài, đã tìm được sự ủng hộ trong thông điệp Marialis 
		Cultus (Tôn Sùng Đức Mẹ) và nhiều trước tác khác của Thánh Truyền. Trong 
		Marialis Cultus, Đức Giáo Hoàng Phoalô VI nói rằng cùng với xu hướng 
		Kitô học trong lòng sùng kính đối với Đức Thánh Nữ Trinh, quả là thích 
		hợp nếu ta làm “nổi bật thêm lòng sùng kính này bằng một trong những sự 
		kiện chủ yếu của Đức Tin đó là Ngôi Vị và công trình của Chúa Thánh 
		Thần”. Cùng trong đoạn văn ấy, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI còn cho hay: cả 
		suy tư thần học lẫn phụng vụ đều nhấn mạnh đến việc: sự can thiệp đầy 
		thánh hóa của Chúa Thánh Thần nơi Đức Mẹ là giờ phút tuyệt đỉnh cho hành 
		động của Người trong lịch sử cứu rỗi. Tỉ dụ, một số giáo phụ và nhà văn 
		của Giáo Hội vốn kể sự thánh thiện tinh nguyên của Đức Mẹ là công trình 
		của Chúa Thánh Thần; như thể Đức Mẹ “được Chúa Thánh Thần nhào nặn để 
		trở thành một thứ vật chất mới và một thụ tạo mới”. Trong mối liên hệ 
		đầy mầu nhiệm giữa Chúa Thánh Thần và Đức Mẹ, các vị này thấy ra một 
		khía cạnh gợi người ta nhớ tới hôn nhân… và các vị gọi Đức Mẹ là “Đền 
		Thờ Chúa Thánh Thần”, một biểu thức muốn nhấn mạnh tới tư cách thánh 
		thiêng của Đức Trinh Nữ, nay đã trở thành nơi ngự thường trực của Thánh 
		Thần Thiên Chúa. Đào sâu hơn nữa học lý về Đấng Phù Trợ, các vị thấy 
		rằng từ Người, giống như từ một suối nguồn, sự viên mãn của ơn thánh 
		(xem Lc 1:28) và sự dư thừa hồng phúc đã tuôn trào ra để trang sức cho 
		Đức Mẹ… Và trên hết, các vị đã chạy đến xin Đức Nữ Trinh cầu bầu ngõ hầu 
		được Chúa Thánh Thần ban cho khả năng có thể ‘phát sinh’ ra Chúa Kitô 
		trong linh hồn mình, như lời Thánh Ildephonsus từng cầu nguyện trong câu 
		kinh bất hủ: “Ôi Nữ Trinh rất thánh, con van xin Mẹ cho con có được Chúa 
		Giêsu nhờ Chúa Thánh Thần, Đấng mà nhờ Người Mẹ đã hạ sinh Chúa 
		Giêsu…Ước chi con yêu mến Chúa Giêsu trong Chúa Thánh Thần, Đấng mà 
		trong Người Mẹ từng thờ lạy Chúa Giêsu là Chúa và ngắm nhìn Người như 
		Con Mẹ” (6).<br>
		<br>
		Trong suốt cuộc sống trưởng thành của mình, Thánh Kolbe luôn cố gắng đào 
		sâu mối liên hệ độc đáo và kín nhiệm của Đức Mẹ với Chúa Thánh Thần. Một 
		cách đặc biệt, ngài coi các lời Đức Mẹ nói với Thánh Bernadette tại Lộ 
		Đức: “Ta là Đấng Vô Nhiễm Thai” có một ý nghĩa mạc khải quan trọng về 
		phương diện này. Ta có thể nói: các lời Đức Mẹ nói với Thánh Bernadette 
		luôn luẩn quẩn trong đầu Thánh Kolbe; vì lúc nào ngài cũng cố gắng nắm 
		được tốt hơn mầu nhiệm sâu sắc ẩn sâu bên dưới. Ngài cho hay những lời 
		trên không những cho ta thấy sự kiện Đức Mẹ được tượng thai mà không 
		vướng tội, mà còn cho thấy cách thế đặc ân ấy thuộc về ngài nữa. Nó 
		không phải là một điều tùy thể (accident), mà là một điều gì đó thuộc về 
		chính bản tính của ngài. Vì ngài quả tình là Vô Nhiễm Thai bằng người” 
		(7). <br>
		<br>
		Trong trước tác sau cùng, viết vài giờ trước khi bị Quốc Xã bắt giữ vào 
		ngày 17 tháng Hai năm 1941, Thánh Maximillian đạt tới một thông tuệ sâu 
		sắc, không những giúp ta hiểu rõ hơn mối liên hệ giữa Đức Mẹ và Chúa 
		Thánh Thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn việc Người là Ngôi Vị Thiên Chúa 
		đã tự đời đời từ Chúa Cha và Chúa Con ‘mà ra’, cũng như nắm vững hơn vai 
		trò của Đức Mẹ trong việc phân phát mọi ơn thánh của Chúa cho con người 
		trong kế hoạch cứu rỗi của Người. <br>
		<br>
		Trong trước tác này, Thánh Kolbe nói rằng: trong khi Đức Mẹ là một thụ 
		tạo Vô Nhiễm Thai, được dựng nên nhờ tình yêu của Thiên Chúa và nhờ công 
		trình của Chúa Thánh Thần để trở thành một thụ tạo duy nhất được tràn 
		đầy ơn thánh và được chỉ định làm Mẹ Thiên Chúa, thì Chúa Thánh Thần là 
		đấng Vô Nhiễm Thai từ thuở đời đời và không phải là tạo vật, Đấng ‘đã 
		được tượng thai’ bằng tình yêu tự đời đời diễn ra giữa Chúa Cha và Chúa 
		Con; một tình yêu hoàn hảo đến độ đã được ngôi vị hóa. Bởi thế, Thánh 
		Kolbe nói rằng Đức Mẹ là Đấng Vô Nhiễm Thai được dựng nên; và ngài được 
		như thế là nhờ công trình trực tiếp của Đấng Vô Nhiễm Thai không phải là 
		thụ tạo. Cả hai sự ‘tượng thai’ này đều là hoa trái tình yêu của Chúa; 
		sự tượng thai đầu là thụ tạo và được thực hiện trong thời gian; sự tượng 
		thai sau không phải là thụ tạo và là từ thuở đời đời. Một cách đầy ý 
		nghĩa, chính ở đây, trong những chữ viết cuối cùng của ngài, Thánh Kolbe 
		đã tặng danh xưng “Đấng Vô Nhiễm Thai Không Được Dựng Nên” (Uncreated 
		Immaculate Conception)&quot; cho Chúa Thánh Thần để phân biệt với Đức Mẹ, vốn 
		là “Đấng Vô Nhiễm Thai Được Dưng Nên” (Created Immaculate Conception).
		<br>
		<br>
		Rõ ràng là, trong các trước tác của mình, Thánh Kolbe đã nắm rất vững 
		nền thần học của Thánh Tôma Tiến Sĩ. Ngài biết rằng ta chỉ có thể đặt 
		tên cho Thiên Chúa bằng các thụ tạo mà thôi; vì Thánh Tôma Aquinô, trong 
		phần đầu cuốn Summa Theologiae (Tổng Luận Thần Học), từng nói rằng lời 
		nói là dấu chỉ các ý niệm, và ý niệm là tương hợp (similitude) của sự 
		vật… Hệ luận là ta có thể đặt tên cho sự vật bao lâu ta hiểu rõ chúng. 
		Ta biết Thiên Chúa nhờ các thụ tạo như là nguyên lý của chúng. Bởi thế, 
		theo cách đó, Người có thể được chúng ta đặt tên nhờ các tạo vật, nhưng 
		lẽ dĩ nhiên cái tên chỉ về Người không phát biểu được chính yếu tính 
		thần linh của Người (8). <br>
		<br>
		Thánh Kolbe cũng biết rằng Thánh Tôma không đặt tên riêng cho đấng thứ 
		hai được phát sinh ra (procession) từ Ba Ngôi Thiên Chúa, vì nơi thụ 
		tạo, việc sinh ra (generation) là nguyên lý thứ nhất của sự thông truyền 
		bản tính (communication of nature), và việc sinh ra chỉ có thể gán cho 
		việc phát sinh ra trí hiểu của Thiên Chúa (Ngôi Lời); chứ không thể áp 
		dụng cho việc phát sinh ra ý chí (Tình Yêu). Bởi thế, việc phát sinh mà 
		không phải là sinh ra, vì không có tên riêng, nên được gọi là “phà hơi” 
		(spiration), tức việc phát sinh ra Thánh Thần (9). Đàng khác, Thánh Tôma 
		còn nói rằng vì việc phát sinh ra Tình Yêu nơi Thiên Chúa không có tên 
		riêng, nên Ngôi Vị phát sinh ra cách đó cũng không có tên riêng (10), 
		mặc dù sau đó, thánh nhân vẫn dành cho Ngôi Vị này những tên riêng như 
		“Tình Yêu” (11) và “Hồng Ân” (Gift) (12) trong khi nhận rằng làm thế chỉ 
		vì “nghèo nàn trong ngôn từ”. <br>
		<br>
		Trong trước tác sau cùng của mình, Thánh Kolbe viết tiếp rằng: Mọi sự 
		hiện hữu, bên ngoài chính Thiên Chúa, vì từ Thiên Chúa mà ra và luôn 
		luôn tùy thuộc vào Người, nên mang nét hao hao phần nào đó giống như 
		Đấng Dựng Nên mình… bởi vì mọi loài thụ tạo đều là hậu quả của Đệ Nhất 
		Nguyên Nhân. <br>
		<br>
		Đúng là những ngôn từ ta dùng để nói về các thực tại thụ tạo chỉ nói lên 
		sự hoàn hảo của Chúa một cách ngập ngừng, có giới hạn và loại suy 
		(analogical) mà thôi. Chúng chỉ là những tiếng vang ít nhiều từ xa vọng 
		lại nói về các phẩm tính của chính Thiên Chúa, cũng như các thực tại thụ 
		tạo mà chúng đứng thay cho. <br>
		<br>
		Nhưng há “tượng thai” không phải là một luật trừ hay sao? Không; không 
		bao giờ có luật trừ nào cả (13). Đứng trên quan điểm của trường phái 
		Tôma, điều vị thánh người Ba Lan này viết trong trước tác sau cùng của 
		ngài quả là sáng chói. Ngài biết rằng tại Lộ Đức, Đức Mẹ tự định nghĩa 
		ngài là sự Tượng Thai Vô Nhiễm. Mặc dù không hoàn toàn thấu hiểu ý nghĩa 
		thuật ngữ này khi áp dụng vào Đức Mẹ, nhưng ngài hiểu tạm đủ nó muốn nói 
		Đức Mẹ chính là sự Tượng Thai Vô Nhiễm; ta cũng có thể nói: sự Tượng 
		Thai Vô Nhiễm nằm ngay trong “chính bản tính của Đức Mẹ”. Trong các câu 
		chữ sau cùng, sau khi viết rằng Chúa Cha sinh hạ (begets) từ thuở đời 
		đời và Chúa Con được hạ sinh (begotten) từ thuở đời đời, Thánh Kolbe đã 
		áp dụng ý niệm hay cái tên mà Đức Mẹ, trong tư cách thụ tạo, đã dùng để 
		tự định nghĩa về mình, cho Thiên Chúa; nhất là cho Chúa Thánh Thần: Chúa 
		Thánh Thần là ai? Là sự đơm bông tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con. Nếu 
		hoa trái của tình yêu thụ tạo là sự tượng thai thụ tạo, thì hoa trái của 
		tình yêu Thiên Chúa, vố là nguyên mẫu của mọi tình yêu thụ tạo, nhất 
		thiết phải là sự “tượng thai” Thiên Chúa. Bởi thế, Chúa Thánh Thần chính 
		là “sự tượng thai không được dựng nên nhưng có tính đời đời”, là nguyên 
		mẫu của mọi sự tượng thai vốn nhân thừa sự sống suốt tận cùng vũ trụ 
		(14). <br>
		<br>
		Thánh Kolbe nhận định rằng: về phương diện phát sinh của Thiên Chúa, 
		tượng thai có thể có hai nghĩa. Thứ nhất, nó có nghĩa như một hành vi 
		của tri thức qua đó người ta “tượng thai” một ý niệm nghĩa là một khái 
		niệm (concept); và đó là cách Thánh Tôma dùng để mô tả việc Ngôi Lời đã 
		phát sinh ra sao từ Chúa Cha (15). Thứ hai, nó có nghĩa như một hành vi 
		của ý chí, mà Thánh Tôma vốn mô tả như một “thúc đẩy và chuyển dịch 
		hướng về một đối tượng” (16). Thánh Tôma nói rằng “việc phát sinh ra ý 
		chí (tức Tình Yêu trong Chúa Ba Ngôi) được thực hiện… bằng một thúc đẩy 
		và chuyển dịch hướng về một đối tượng”. Như thế, ta có thể nói rằng tình 
		yêu được “tượng thai” giữa hai chủ thể. Đó chính là cách Thánh Kolbe 
		dùng hạn từ ấy để mô tả việc phát sinh ra Tình Yêu nơi Chúa Ba Ngôi. 
		Ngài nói rằng ta có thể đặt tên riêng cho việc phát sinh ấy là sự (hay 
		Đấng) Tượng Thai Vô Nhiễm Không Được Tạo Dựng Nhưng Có Tính Đời Đời”, 
		một cái tên có thể mô tả được hành vi yêu thương (tức hành vi của ý chí) 
		phát sinh từ thuở đời đời giữa Chúa Cha và Chúa Con. <br>
		<br>
		Hơn nữa, tận cùng hay cùng đích của hành vi yêu thương phát sinh từ thuở 
		đời đời giữa Chúa Cha và Chúa Con kia, một tình yêu hoàn hảo vì có tính 
		Thiên Chúa, có thể được ngôi vị hóa. Thánh Kolbe gọi Ngôi Vị ấy, một 
		Ngôi Vị vốn là hoa trái của tình yêu Thiên Chúa, bằng tên riêng là sự 
		Tượng Thai Vô Nhiễm Không Được Dựng Nên Nhưng Có Tính Đời Đời. <br>
		<br>
		Thánh Tôma vốn cho rằng: “Ta chỉ có thể đặt tên cho Thiên Chúa từ các 
		thụ tạo. Vì nơi thụ tạo, việc hạ sinh là nguyên lý duy nhất của việc 
		thông truyền bản tính, nên việc phát sinh nơi Thiên Chúa không có tên 
		riêng hay tên đặc thù, ngoài chính việc hạ sinh. Bởi thế, việc phát sinh 
		mà không phải là hạ sinh mãi mãi không có tên đặc thù” (17). Nhưng việc 
		Tượng Thai Vô Nhiễm của Đức Mẹ nhận diện không những cách thức ngài được 
		tượng thai (chỉ một hành động); tên ấy còn nhận diện chính con người của 
		ngài nữa. Như Thánh Kolbe từng nói, sự Tượng Thai Vô Nhiễm “không phải 
		là một cái gì tùy thể [accidental]; nó là một cái gì thuộc về chính bản 
		tính của ngài. Vì ngài là chính sự Tượng Thai Vô Nhiễm bằng người”. <br>
		<br>
		Thánh Kolbe chính xác muốn nói gì khi ngài viết rằng sự Tượng Thai Vô 
		Nhiễm “thuộc về chính bản nhiên của ngài” tức Đức Mẹ? Chính thánh nhân, 
		khi xem sét chủ đề này, cũng phải nhìn nhận rằng ta đang giáp mặt với 
		một mầu nhiệm khôn tả. Ngay từ năm 1933, ngài từng viết rằng: “Đấng Vô 
		Nhiễm là đấng nào và có nghĩa là gì? Ai có thể hiểu ngài một cách hoàn 
		toàn được?... Mọi người chúng ta có thể hiểu “mẹ” có nghĩa gì; nhưng “Mẹ 
		Thiên Chúa” thì là một điều gì đó mà lý trí của ta cũng như trí khôn hữu 
		hạn của ta không thể nào thực sự nắm bắt được. Cũng thế, chỉ có Thiên 
		Chúa mới thực sự hiểu được “vô nhiễm” nghĩa là gì mà thôi. Cùng lắm, ta 
		chỉ có thể phỏng đoán là “được thụ thai mà không mang tội”; nhưng “Tuợng 
		Thai Vô Nhiễm” là một biểu thức có rất nhiều trong các mầu nhiệm của Đạo 
		(18). Và trong trước tác cuối cùng vào ngày 17 tháng Hai năm 1941, Thánh 
		Kolbe một lần nữa đặt câu hỏi: “Ôi lạy Đấng Tượng Thai Vô Nhiễm, vậy Mẹ 
		là ai?”. <br>
		<br>
		Có lẽ trước hết, ta nên xem sét điều Thánh Kolbe không đề cập tới trong 
		lời phát biểu của ngài rằng việc Tượng Thai Vô Nhiễm “thuộc về chính bản 
		tính của Đức Mẹ”. Rõ ràng, ngài không nói: Đức Mẹ không có một bản tính 
		nhân loại do việc hạ sinh nhân bản đem lại. Đức Mẹ hoàn toàn là nhân 
		bản. Ngài tiếp nhận bản tính nhân loại của mình từ cha mẹ tự nhiên của 
		ngài qua việc hạ sinh nhân bản. Thiển nghĩ, Thánh Kolbe cũng không có ý 
		nói Đức Mẹ có một bản tính “siêu nhân” hay lúc ngài được Tượng Thai Vô 
		Nhiễm, một sự gì đó đã “được thêm vào” cho bản tính nhân loại của ngài. 
		Hiệu quả của việc thêm thắt này khiến ngài trở thành điều gì đó khác với 
		hữu thể nhân bản. Không; trong yếu tính, Đức Mẹ là nhân bản trọn vẹn, 
		giống như chúng ta vậy. Điểm dị biệt giữa Đức Mẹ và mọi thành viên khác 
		trong gia đình nhân loại liên quan tới ơn thánh; nó nằm trong sự kiện 
		này là ngay giây phút đầu tiên ngài được tạo dựng hay tượng thai, vì 
		công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, ngài được ban một ơn thánh hay một đặc 
		ân đặc biệt, ơn mà Đức Chân Phúc Giáo Hoàng Piô IX, trong thông điệp 
		dùng để định nghĩa Tượng Thai Vô Nhiễm, tức thông điệp Ineffabilis Deus 
		(Thiên Chúa Khôn Tả), đã cho rằng luôn gìn giữ Đức Mẹ khỏi mọi vết nhơ 
		của Nguyên Tội. <br>
		<br>
		Vị thánh người Ba Lan này chắc chắn biết rõ: ơn thánh vốn xây trên bản 
		nhiên. Nói rằng Tượng Thai Vô Nhiễm có ý nói tới điều gì đó có tính yếu 
		tính nơi Đức Mẹ, như một phần trong chính bản tính nhân loại của ngài, 
		hơn là một ơn thánh đặc thù nào đó, có thể đi ngược lại thông điệp của 
		Đức Piô IX; vì nếu Đức Mẹ, trong chính bản tính, trong chính yếu tính, 
		là sự Tượng Thai Vô Nhiễm, chả hóa ra ngài không cần đến bất cứ một ơn 
		thánh đặc thù nào giúp ngài được như thế hay sao. Bởi thế, cần phải giải 
		thích cặn kẽ các ngôn từ của Thánh Kolbe khi quả quyết rằng Tượng Thai 
		Vô Nhiễm vốn thuộc về chính bản tính của Đức Mẹ; hẳn thánh nhân sử dụng 
		kiểu nói ấy để chuyên chở ý nghĩa này: sự Tượng Thai Vô Nhiễm là một 
		điều gì đó đã trở thành một phần của Đức Mẹ đến độ ngài có thể dùng nó 
		để định nghĩa về chính mình. <br>
		<br>
		Chính nhờ ơn thánh và đặc ân đặc thù đó, không ban cho bất cứ một hữu 
		thể nhân bản nào khác ngoài Đức Mẹ, nên ngài mới nói được rằng “Ta là 
		Đấng Tượng Thai Vô Nhiễm”. Ơn thánh đặc thù đó, một ơn thánh vốn kết hợp 
		ngài một cách khôn tả với Chúa Thánh Thần và đã giúp ngài trở thành Mẹ 
		Thiên Chúa, và là người hợp tác một cách tích cực và có ý thức vào mọi 
		ơn thánh Chúa ban cho con người, đã được đồng hóa với chính con người 
		Đức Mẹ một cách mật thiết đến độ ngài thật sự có thể đồng hóa ơn thánh 
		đó với chính bản ngã, chính con người của mình. <br>
		<br>
		Ở đây, có một loại suy có thể giúp ta hiểu điều trên. Chúa Giêsu Kitô có 
		thể nói rất đúng rằng: “Ta là Linh Mục Đời Đời”. Người là Linh Mục 
		Thượng Phẩm Đời Đời do sự kết hợp nhị tính (hypostatic union) qua đó 
		Người, vốn là Ngôi Hai trong Ba Ngôi Thiên Chúa, tự kết hợp với một bản 
		tính nhân loại, và do sự kiện này là Người tự dâng mình vừa như Linh Mục 
		vừa như Của Lễ Hy Sinh trên Thánh Giá ở Đồi Canvariô. Không ai khác có 
		thể tự hào như thế được (dù những người được thụ phong vào chức linh mục 
		thừa tác, được chia sẻ chức linh mục của Chúa Kitô, có thể nói rằng “Tôi 
		là một linh mục”). Cũng giống như thế, Đức Mẹ có thể nói rất đúng rằng: 
		“Ta là sự Tượng Thai Vô Nhiễm (được dựng nên)” vì ơn thánh và đặc ân đặc 
		thù này đã không được ban cho bất cứ thụ nào khác ngoài ngài ra. Như thể 
		ngài muốn nhắn với ta: “Ta, và chỉ một mình ta, được gìn giữ khỏi mọi 
		vết nhơ của tội lỗi ngay ở giây phút ta được tượng thai. Chỉ có ta được 
		kết hợp nên một với Chúa Thánh Thần, một cách dấu ẩn và mầu nhiệm mà 
		thôi. Chỉ một mình ta là Mẹ Chúa Giêsu Kitô, Ngôi Lời trở thành Xác 
		Thịt. Và chỉ một mình ta hợp tác với hết Trái Tim Vô Nhiễm của ta vào 
		cái chết cứu chuộc của Con Trai ta, và nay đang hợp tác với Chúa Thánh 
		Thần trong việc phân phát mọi ơn thánh do Chúa Giêsu tạo lập được nhờ 
		công nghiệp của Người”. <br>
		<br>
		<span style="font-size: 8pt">(còn một kỳ) </span></td>
	</tr>
	<tr>
		<td width="474">
		<p style="text-align: center"><span class="style3">
		<a target="_top" href="../../../index-Aug-2022.htm">
		<img border="0" src="../../../tinmungLOGO/trangnha.gif" width="85" height="30"></a></span></td>
	</tr>
	</table>

</body>

</html>

PHP File Manager