File "Co khong nghia la ngang hang.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/TRANG CUA ME MARIA/Cac-Le-Ve-Me/Me-Sau-Bi/SuyNiem/Co khong nghia la ngang hang.htm
File size: 26.49 KiB (27121 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Me Sầu Bi - Me Sau Bi - Mẹ Đồng Công - Me Dong Cong</title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
h3
{margin-right:0cm;
margin-left:0cm;
font-size:13.5pt;
font-family:"Times New Roman";
font-weight:bold}
h4
{margin-right:0cm;
margin-left:0cm;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman";
font-weight:bold}
span.spelle
{}
</style>
<meta name="description" content="Trang Đức Mẹ - "Sự tán tụng Mẹ Maria là một nguồn mạch bất tận, càng trải rộng nó càng tràn đầy; càng tràn đầy nó càng khuyếch trương hơn mãi" - Cha Francon ">
<meta name="keywords" content="đức maria, duc maria, maria, mẹ maria, me maria, mẹ dâng con, me dang con, mẹ dâng chúa, me dang chua">
</head>
<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none">
<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
<tr>
<td>
<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
<b><font color="#006666" face="Verdana" size="4">Đức Mẹ Sầu Bi - 15/09</font></b><hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
<p align="right" style="margin-top: 6px; margin-bottom: 0"><i>
<font color="#006666" size="2">Nguồn : Gp Phú Cường</font></i></td>
</tr>
<tr>
<td align="justify">
Ngày 15-9: Lễ Đức Mẹ Sầu Bi<br>
<br>
Tín lý về Mẹ Maria cộng tác với Chúa Giêsu, Con Mẹ, trong công cuộc Cứu
thế qua các thời đại, đã được sáng tỏ và vững chắc. Còn danh từ Mẹ Đồng
công Core-demptrix, tuy đã được dùng trong Giáo hội từ thế kỷ XIV và đặc
biệt trong thế kỷ XIX, và tiếp đầu ngữ (prefix) "co" (không có nghĩa đặt
Mẹ ngang hàng với Chúa trong công cuộc Cứu thế), vẫn chưa được Giáo hội
chính thức xác định và công nhận, đặc biệt trong phụng vụ. Ngày 15-9: Lễ
Đức Mẹ Sầu Bi, Đức Maria, Đức Mẹ, Giáo phận phú Cường,truyền thông phú
cường, truyền thông giáo phận phú cường, phú cường,<br>
Mẹ Maria<p><br>
LỄ ĐỨC MẸ SẦU BI<br>
Ngày 15 tháng Chín<br>
<br>
I. TIẾN TRÌNH TÍN LÝ ĐỨC MẸ ĐỒNG CÔNG</p>
<p>Thế kỷ II, Thánh Giustinô khởi xướng tín lý Mẹ Maria cộng tác với Chúa
Giêsu Con Mẹ trong công trình Cứu chuộc loài người. Thánh Giáo phụ dựa
vào câu Tiền Phúc âm (St 3:15): Thiên Chúa phán hứa sẽ đặt một Phụ Nữ
chiến thắng ác thần thay thế người phụ nữ đã bị ác thần đánh bại, và
thánh nhân suy diễn sự tương phản trong Thư Thánh Phaolô (Rm 5:12; 1Cr
15:21-22) giữa cựu Ađam và Tân Ađam. Cựu Ađam đã đem tội lỗi và sự chết
vào trần gian. Đối lại, Tân Ađam đã phục hồi loài người. Cựu Ađam không
một mình làm sa đoạ loài người, vì bà Evà đã cộng tác vào tội Ađam. Cũng
thế, Tân Ađam không một mình hồi phục loài người, vì Đức Maria đã cộng
tác với Người trong công trình Cứu thế. Trong cuộc đối thoại với lạc
giáo Tryphon, Thánh Giustinô nói: "Evà nghe theo lời con Rắn đã sinh ra
sự bất tuân và sự chết. Đức Trinh Nữ Maria đáp lại lời Thiên thần Gabrie
loan tin mừng rằng Đấng Thánh sinh ra bởi Mẹ sẽ là Con Thiên Chúa. Nhờ
Người, Thiên Chúa đánh bại con Rắn và những thiên thần, những người
giống như con Rắn". <br>
<br>
Tín lý Mẹ Maria cộng tác với Chúa Cứu thế qua luận lý tương phản giữa bà
Evà và Mẹ Maria của Thánh Giustinô đã được các Thánh Giáo phụ diễn giải
và bổ túc.<br>
<br>
A - Từ thế kỷ II đến thế kỷ VIII: Đặc biệt là Thánh Êphrem, Thánh
Ambrôsiô, Thánh Êpiphanô, Thánh Phêrô Kim ngôn, Thánh Môdestô và Thánh
Đamascenô. <br>
<br>
B - Từ thế kỷ IX tới thế kỷ XVI: Các Thánh tiến sĩ và các nhà thần học
đồng thanh tiếp tục minh chứng vai trò cộng tác vào công cuộc Cứu chuộc
của Mẹ. Các Thánh tiến sĩ như Thánh Đamianô, Thánh Anselmô, Thánh
Bênađô, Thánh Bônaventura, Thánh Albertô, Thánh Tôma, Thánh Canisiô. Các
nhà thần học như Eadmer, Arnold Chartres, Richard St. Lawrence, Tauler,
Gerson, Denis the Carthusian, Clichtove, Salmeron, Morales, Suarez. <br>
<br>
Danh từ Đấng Đồng công (Coredemptrix) bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ XIV
trong một Thánh thi của nhà thờ Thánh Phêrô tại thành Salzburg
(Austria):<br>
<br>
Pia, dulcis et benigna,<br>
Nullo prorsus luctu digna<br>
Si fletum hinc eligeres.<br>
Ut compassa Redemptori,<br>
Captivato transgressori,<br>
Tu Coredemptrix fieres. <br>
<br>
Nghĩa là: Mẹ nhân từ, hiền dịu và khoan dung,<br>
Mẹ hoàn toàn không đáng chịu một đau khổ nào.<br>
Nếu từ đây Mẹ khóc thương<br>
Như Người thông phần đau khổ với Chúa Cứu Thế,<br>
Thì, với Đấng đã chịu tử hình,<br>
Mẹ cũng trở nên Đấng Đồng Công Cứu Chuộc.<br>
<br>
C - Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX: Tín lý Mẹ Đồng Công được các Thánh
tiến sĩ và các nhà thần học khai triển rộng rãi, mặc dù gặp phản ứng của
giáo phái Cải cách. Trong các Thánh thì có Thánh Laurensô Brindisi,
Thánh Robertô Bellarminô, Thánh Euđê, Thánh Grignion Montfort, Thánh
Anphong Ligouri. Các nhà thần học như Đức Hồng y Berulle, Cornelius a
Lapide, Gaspar Tausch, Salazar, Vulpes, Novati, Luke Wadding, George de
Rhodes, Reichensperger, Dubois, Widenfeld, Crasset, Van Ketwigh, Charles
del Moral, Trombelli, De Clorivière, Jeanjacquot, Peraldi, Faber, Hồng y
Wiseman, Hồng y Newman, Hồng y Manning, Scheeben, Đức Piô IX, Đức Lêô
XIII. Trong thế kỷ XIX, danh từ Đấng Đồng công năng được dùng. <br>
<br>
D - Thế kỷ XX: Tín lý Mẹ Đồng công được các Đức Giáo hoàng: Đức Lêô
XIII, Đức Thánh Piô X, Đức Bênêđictô XV, Đức Piô XI, Đức Piô XII, Đức
Gioan Phaolô II giảng dạy rất minh bạch. Riêng Đức Piô XI kêu xin Đức Mẹ
rõ ràng với tước hiệu Đấng Đồng công. Và Đức Gioan Phaolô II cũng nêu
bật giáo huấn về vai trò Đức Mẹ Đồng công, đặc biệt trong Thông điệp "Mẹ
Đấng Cứu Thế", Tông thư "Sự Khổ đau Cứu chuộc", và ngài rõ ràng dùng
tước hiệu "Coredemptrix" có tới 5 lần:<br>
<br>
1. Trong lời chào chúc các bệnh nhân sau cuộc đại triều yết tại quảng
trường Thánh Phêrô, Rôma, ngày mồng 8 tháng 9 năm 1982.<br>
<br>
2. Trong huấn từ sau kinh Truyền tin tại Arona năm 1984.<br>
<br>
3. Trong bài giảng tại đền thánh Đức Mẹ Guayaquil, nước Ecuador, ngày 31
tháng 1 năm 1985.<br>
<br>
4. Trong huấn từ Ngày Quốc tế Giới trẻ, Chúa nhật Lễ Lá năm 1985.<br>
<br>
5. Dịp kỷ niệm 600 năm tôn phong Thánh Brigitta hiển thánh ngày mồng 6
tháng 10 năm 1991.<br>
<br>
Ngoài ra, trong 52 buổi đại triều yết, Đức Thánh Cha nêu cao vai trò
Đồng công đặc biệt của Mẹ trong nhiệm cuộc Cứu thế của Chúa Kitô. <br>
<br>
Công đồng Vatican II, dưới triều đại Đức Gioan XXIII và Đức Phaolô VI,
đã minh nhiên nêu rõ sứ mạng Đồng công của Mẹ: "Đức Maria đã tận hiến
làm tôi tớ Chúa, phục vụ cho thân thế và sự nghiệp của Con Mẹ, và phục
vụ mầu nhiệm Cứu chuộc dưới quyền và cùng với Con của Mẹ... Sự liên kết
giữa Mẹ và Con trong công cuộc Cứu rỗi được tỏ rõ, từ khi Mẹ Maria thụ
thai Chúa Kitô cách trinh khiết cho đến lúc Chúa Kitô chết". <br>
<br>
Theo cha Dillenschneider, thế kỷ XX có rất nhiều nhà thần học diễn giải
tín lý Đức Mẹ Đồng công. Đó là các nhà thần học Le Rohellec, Broise,
Bainvel, Bittremieux, Friethoff, Bover, Garcia Garces, Borzi, Seiler,
Philipon, Deneffe, Carol, Hugon, Anger, Mura, Rondel, Hồng y Lépicier,
Terrien, Keuppens, Merkelbach, Boyer, Roschini, Lagrange, v.v. <br>
<br>
Từ tháng 3 năm 1993, phong trào "Vox Populi" (Tiếng dân) đã phát động
khắp Giáo hội "Chiến dịch Thỉnh nguyện thư" tâu xin Đức Thánh Cha tuyên
tín Mẹ Maria là "Đấng Đồng công". Phong trào này do tiến sĩ thần học
Mark Miravalle, giáo sư đại học dòng Phanxicô tại Steubenville, bang
Ohio, Hoa Kỳ, lãnh đạo, với ban cố vấn gồm 32 Hồng y. Cho tới tháng
10-1997, phong trào đã thu thập được chữ ký của hơn 500 Giám mục, 55
Hồng y và 5 triệu tín hữu thuộc 155 quốc gia. Cuối tháng 5 năm 1996, một
Hội nghị quốc tế được tổ chức tại Rôma gồm 3 Hồng y, 13 Giám mục, và một
số đông linh mục, giáo dân chính thức yểm trợ phong trào "Vox populi".
<br>
<br>
Tín lý về Mẹ Maria cộng tác với Chúa Giêsu, Con Mẹ, trong công cuộc Cứu
thế qua các thời đại, đã được sáng tỏ và vững chắc. Còn danh từ Mẹ Đồng
công Core-demptrix, tuy đã được dùng trong Giáo hội từ thế kỷ XIV và đặc
biệt trong thế kỷ XIX, và tiếp đầu ngữ (prefix) "co" (không có nghĩa đặt
Mẹ ngang hàng với Chúa trong công cuộc Cứu thế), vẫn chưa được Giáo hội
chính thức xác định và công nhận, đặc biệt trong phụng vụ.<br>
<br>
II. LỊCH SỬ PHỤNG VỤ<br>
Năm 1011, một nguyện đường đầu tiên dâng kính Đức Mẹ đứng dưới chân
thánh giá tại Paderborn, nước Đức. Dòng Citercian và Dòng Phanxicô khởi
xướng lòng sùng kính Đức Mẹ Sầu bi từ thế kỷ XII và thế kỷ XIII.<br>
<br>
Từ đó đến năm 1969 có hai lễ Đức Mẹ Sầu bi:<br>
<br>
1. Lễ Đức Mẹ Sầu bi ngày thứ Sáu sau Chúa nhật Khổ nạn (trước Chúa nhật
lễ Lá).<br>
Năm 1423, Công đồng Cologne, nước Đức, thành lập lễ Đức Mẹ đồng thụ nạn
(Compassion of Mary) để đền tạ vì tội do bè rối Hussites xúc phạm ảnh
tượng Thánh giá vả ảnh tượng Đức Mẹ đứng dưới cây Thánh giá. Năm 1482,
Đức Sixtô IV truyền soạn một bài lễ kính Đức Mẹ đau thương, tưởng nhớ
Đức Mẹ dưới chân Thánh giá.<br>
<br>
Năm 1714, Dòng Tôi tớ Đức Mẹ được phép cử hành lễ Đức Mẹ Sầu bi vào thứ
Sáu tuần Thương khó. Năm 1727, nhờ sự vận động của Dòng Tôi tớ Đức Mẹ,
lễ này được Đức Bênêđictô XIII đặt hẳn vào ngày thứ Sáu sau Chúa nhật
Khổ nạn.<br>
<br>
Năm 1969, lễ này bị bãi bỏ do việc cải tổ Phụng vụ sau Công đồng Vatican
II. Lý do việc bãi bỏ ngày lễ Đức Mẹ đau thương ngày thứ Sáu sau Chúa
nhật Khổ nạn là vì Giáo hội không muốn mừng hai lần trong một năm một
biến cố hay một mầu nhiệm.<br>
<br>
2. Lễ Đức Mẹ Sầu bi ngày 15 tháng Chín<br>
Năm 1668, Dòng Tôi tớ Đức Mẹ được phép Toà thánh mừng lễ Đức Mẹ Sầu bi
ngày Chúa nhật thứ ba tháng Chín.<br>
<br>
Năm 1704, Đức Clêmentê XI ban đại xá cho những ai tham dự lễ này.<br>
<br>
Năm 1814, Đức Piô VII lập lễ này trong khắp Giáo hội để tạ ơn Đức Mẹ đã
giải thoát Đức Thánh Cha khỏi sự quản thúc của vua Napoléon.<br>
<br>
Sau này, Đức thánh Piô X quyết định chuyển lễ từ Chúa nhật thứ ba tháng
Chín sang ngày 15 tháng 9 sau ngày Suy tôn Thánh giá, để liên kết cuộc
Đồng thụ nạn của Mẹ Maria với cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu. Ngoài việc
thiết lập Thánh lễ, còn có những hình thức đạo đức kính Đức Mẹ Sầu bi.<br>
<br>
1. Thánh thi Stabat Mater dolorosa (Mẹ sầu bi đứng bên Thánh giá) do tác
giả Jacopone di Todi (1230-1306), tu sĩ dòng Phanxicô, và được lưu hành
trong khắp Giáo hội từ thế kỷ XIII. Thánh thi này được dùng làm Ca tiếp
liên đọc trong ngày lễ Đức Mẹ Đau thương 15 tháng Chín như ngày nay. <br>
<br>
2. Lòng sùng kính Đức Mẹ Sầu bi cũng được lập vào thế kỷ XIV do Chân
phúc Henri Susô. <br>
<br>
3. Ngắm bảy Sự Đau đớn Đức Mẹ, kèm theo bảy kinh Kính mừng sau mỗi ngắm,
được Dòng Tôi Tớ Đức Mẹ ấn định năm 1646. Trong Toàn niên kinh nguyện
Giáo phận Bùi Chu, Đức cha Đaminh Hồ ngọc Cẩn sửa đổi lại còn một kinh
Lạy Cha, một kinh Kính mừng và một kinh Sáng danh sau mỗi ngắm.<br>
<br>
BẢY SỰ ĐAU ĐỚN ĐỨC MẸ<br>
Năm 1482, cha Gioan Couderberghe, giáo xứ Flanders, nước Bỉ, bắt đầu
giảng về việc sùng kính Bảy Sự Đau đớn Đức Mẹ: <br>
<br>
1. Cụ già Simêon nói tiên tri cùng Đức Mẹ (Lc 2:34-35).<br>
<br>
2. Đức Mẹ đem Chúa Giêsu trốn sang nước Ai Cập (Mt 2:13-21).<br>
<br>
3. Chúa Giêsu ở lại trong đền thờ mà Đức Mẹ tìm kiếm Người ba ngày (Lc
2:41-50).<br>
<br>
4. Đức Mẹ gặp Đức Chúa Giêsu vác cây Thánh giá (Ga 19:17).<br>
<br>
5. Đức Mẹ đứng kề Thánh giá Đức Chúa Giêsu là Con rất yêu dấu khi trút
linh hồn (Ga 19:18-30).<br>
<br>
6. Hai môn đệ hạ xác Chúa Giêsu mà trao cho Đức Mẹ ẵm kính (Ga
19:39-40).<br>
<br>
7. Môn đệ táng xác Chúa Giêsu vào huyệt đá mới (Ga 19:40-42).<br>
<br>
III. Ý NGHĨA PHỤNG VỤ<br>
1. Dựa theo giáo huấn Công đồng Vatican II, Giáo hội muốn lòng sùng kính
Đức Mẹ của chúng ta hướng về Chúa Kitô. Do đó, Giáo hội muốn chúng ta
sùng kính Đức Mẹ đồng thụ nạn với Chúa Kitô khổ nạn để chúng ta noi
gương Mẹ, mà kết hợp cuộc đời khổ đau của ta với cuộc đời tử nạn của
Chúa Kitô, mong mai sau chúng ta cùng được trường sinh vinh hiển với
Người như Đức Mẹ.<br>
<br>
2. Trong việc sùng kính và mừng lễ Đức Mẹ Sầu bi, Giáo hội nhắc nhớ
chúng ta hiểu sâu xa rằng qua Thánh Gioan, Chúa Giêsu đã trao trối Mẹ
Maria cho chúng ta: "Này là Mẹ con", và trối chúng ta cho Đức Mẹ: "Này
là con Bà". Như vậy, Đức Mẹ là Mẹ thật của chúng ta, và chúng ta thật là
con của Đức Mẹ. Dưới cây Thánh giá, Đức Mẹ đã thực sự sinh ra chúng ta
về phần hồn trong nỗi cực độ khổ đau, cũng như mẹ phần xác sinh ra chúng
ta về phần xác, cũng trong đau đớn theo án lệnh Chúa đã ra cho tổ mẫu
Evà: "Ngươi sẽ sinh con đẻ cái trong đau đớn" (St 3:16). Mẹ Maria hạ
sinh chúng ta càng trong đau khổ, Mẹ càng yêu thương chúng ta.<br>
<br>
3. Trong mầu nhiệm Đồng thụ nạn của Mẹ Maria với cuộc Khổ nạn Cứu thế
của Chúa Giêsu, Giáo hội cũng nhắc nhớ chúng ta rằng, nhờ Mẹ mà chúng ta
được hưởng ơn Cứu độ đã trào dâng từ thương tích của Chúa.<br>
<br>
4. Trong sứ mạng Đồng công của Mẹ Maria với sứ mạng Cứu chuộc của Chúa
Cứu Thế, Giáo hội khích lệ chúng ta cũng hãy ý thức sứ mạng của chúng
ta, là đồng công với Chúa và Mẹ trong việc cứu rỗi chính mình chúng ta,
và cũng trong việc làm tông đồ cứu rỗi người khác.<br>
<br>
IV. CA TIẾP LIÊN TRONG THÁNH LỄ (Stabat Mater)<br>
1. Mẹ sầu bi, tầm tã giọt châu, đang đứng bên cây thập giá, nơi Con
Người đã bị treo lên.<br>
Một lưỡi gươm nhọn đã đâm qua tâm hồn Bà đang rên siết, đang sầu khổ và
đau buồn.<br>
<br>
2. Ôi đau buồn sầu khổ biết bao cho bà Mẹ đáng suy tôn của một người Con
duy nhất!<br>
Bà Mẹ hiền nhìn xem nỗi khổ hình của người Con chí thánh, mà đau lòng
thổn thức tâm can.<br>
<br>
3. Ai là người không tuôn châu lệ, khi nhìn thấy Mẹ Chúa Kitô, trong
cảnh cực hình như thế?<br>
Ai có thể không buồn bã nhìn xem Mẹ Chúa Kitô, đang đau khổ cùng với Con
Người?<br>
<br>
4. Mẹ nhìn thấy Chúa Giêsu vì tội dân mình mà khổ cực và bị vùi giập
dưới làn roi.<br>
Mẹ nhìn Con mình dịu hiền như thế, bị thống khổ lúc lâm chung, khi Người
trút hơi thở cuối cùng.<br>
<br>
5. Ôi lạy Mẹ là niềm yêu mến, xin cho con cảm thấy mãnh lực của đau
thương, để cho con được khóc than cùng Mẹ.<br>
Xin cho lòng con cháy lửa mến yêu, mến yêu Đức Kitô là Thiên Chúa, để
cho con có thể làm đẹp ý Người.<br>
<br>
6. Ôi Thánh Mẫu, xin Mẹ làm ơn đóng vào lòng con cho thực mạnh những vết
thương của Đấng bị treo thập giá.<br>
Xin Mẹ cho con được chia phần thống khổ của Con Mẹ đã thương vong, đã
khấng chịu cực hình vì con như thế.<br>
<br>
7. Xin cho con được cùng Mẹ thảo hiếu khóc than, cùng Đấng bị đóng đinh
tỏ niềm thông cảm, bao lâu con còn sinh sống ở đời.<br>
Con ước ao được cùng với Mẹ đứng bên cây thập giá và hợp nhất cùng Mẹ
trong tiếng khóc than.<br>
<br>
8. Ôi Đức Trinh Nữ thời danh trong hàng trinh nữ, xin đừng tỏ ra cay
đắng với con, xin cho con được cùng Mẹ chan hoà dòng lệ.<br>
Xin cho con được mang sự chết của Đức Kitô, được cùng Người thông phần
đau khổ và tôn thờ những thương tích của Người.<br>
<br>
9. Xin cho con được mang thương tích của Người, cho con say sưa cây thập
giá và máu đào Con Mẹ đã đổ ra.<br>
Ôi, Đức Trinh Nữ xin đừng để cho con bị lửa hồng thiêu đốt, nhưng được
Mẹ chở che trong ngày thẩm phán!<br>
<br>
10. Lạy Chúa Kitô, khi phải lìa bỏ cõi đời này, nhờ Đức Mẹ, xin Chúa cho
con được tới lãnh ngành dương liễu khởi hoàn.<br>
Khi mà xác thịt con sẽ chết, xin cho linh hồn con được Chúa tặng ban
vinh quang của cõi Thiên đường. <br>
<br>
V. Ý NGHĨA LỜI CHÚA TRONG THÁNH LỄ<br>
Bài đọc I: Do Thái 5:7-9<br>
<br>
Đây là một phần chính thư Thánh Phaolô gửi giáo đoàn Do Thái khích lệ
mọi người hãy cảm thương Chúa Giêsu khi còn sống ở đời này đã khổ đau
đến rơi lệ. Đặc biệt trong vườn Gietsimani, Người khổ đau đến cùng cực
đến nỗi đã kêu van Đấng có thể cứu Người khỏi chết. Nhưng Người đã vâng
phục Chúa Cha vui lòng hy hiến để nên căn nguyên ơn Cứu độ cho chúng ta.
Đoạn văn ám chỉ Mẹ Maria cũng cùng chịu đau khổ với Chúa để thông cảm
với Chúa, và để đồng công với Chúa cứu chuộc loài người.<br>
<br>
Phúc âm: Luca 2:33-35<br>
<br>
Mẹ Maria và Thánh Giuse kinh ngạc trước những lời ông già Simêon nói về
Ấu Chúa Giêsu là ánh sáng cho dân ngoại và là vinh quang cho dân Do
Thái. Ông Simêon chúc lành cho hai ông bà và nói tiên tri với Mẹ Maria
rằng: Con Trẻ này đã được đặt lên cho sự sụp đổ hay sự đứng lên của
nhiều người dân Do Thái và là mục tiêu cho người ta chống đối, một dấu
hiệu kêu mời mọi người hãy mở lòng ra cho chương trình của Thiên Chúa và
thường là một dấu hiệu kêu gọi người ta cải tà qui chính.<br>
<br>
Lưỡi gươm đâm thấu tâm hồn Mẹ Maria như ông Simêon tiên báo là sự thống
khổ xâu xé Trái tim Mẹ. Lưỡi gươm cũng có ý nghĩa trong tiên tri Ezekiel
14:17 là sự giáng phạt của Thiên Chúa. Chúa Giêsu nói Người đến không
phải để đem lại bình an, mà là gươm giáo (Mt 10:34-36), tức là sự chia
rẽ (Lc 12:51-53). Chúa muốn nói "chia rẽ" là Chúa và lời Chúa như mũi
gươm chia lìa các gia đình và kêu gọi các phần tử dấn thân bước theo con
đường Phúc âm của Chúa. Mẹ Maria là một người tiên phong dấn thân để
trung thành với tiếng Chúa mời gọi (xem Lc 8:19-21; 11:27-28).<br>
<br>
VI. THÁNH KINH<br>
1. St 3:15: "Ta sẽ đặt mối thù giữa ngươi và người nữ, giữa dòng dõi
người nữ và dòng dõi ngươi. Người nữ sẽ đạp nát đầu ngươi".<br>
<br>
Lời tiên tri này minh nhiên và mặc nhiên hàm chứa mầu nhiệm Maria, về Mẹ
Chúa Cứu Thế, về mẫu chức trinh trong, về đặc ân Vô nhiễm thai, về sứ
mạng Đồng công... <br>
<br>
Lời: "Ta sẽ đặt mối thù" liên quan đến vai trò Đồng công, ám chỉ Người
Nữ và Dòng dõi người Nữ đối đầu với Satan và bè lũ hắn. Do đó, trong
"mối thù" ẩn chứa vai trò Đồng công của Mẹ Maria. Thực vậy, Mẹ đã cộng
tác với Chúa Con trong công trình Cứu chuộc loài người. <br>
<br>
Lời: "Người Nữ sẽ đạp nát đầu ngươi" tiên báo Người Nữ và Dòng dõi người
sẽ chiến thắng con rắn và bè lũ hắn. Cả câu tiên tri trong tiền Phúc âm
3:15 làm nổi bật mối tương phản giữa Evà và Maria, giữa Ađam và Chúa
Giêsu. Nếu Evà đồng phạm với Ađam làm hư hỏng loài người, thì Maria đồng
công với Chúa Giêsu cứu chuộc loài người. <br>
<br>
2. Is 7:14: "Một Trinh nữ sẽ thụ thai sẽ sinh Con Trai tên là Emmanuel".
Trinh Nữ này là Người Nữ đã được phác họa trong lời hứa chiến thắng con
rắn, lời hứa mà nguyên tổ chúng ta đã nhận được sau khi phạm tội, và
chính là Người Nữ, Mẹ Đấng đã được Thiên Chúa trao phó công cuộc Cứu
chuộc.<br>
<br>
3. St 3:20: "Mẹ chúng sinh". Mẹ Maria là Mẹ chúng sinh nghĩa là tất cả
loài người. Trong sứ mạng Đồng công, Mẹ cộng tác với Chúa Kytô trong
việc tái sinh chúng ta trong ơn thánh. Do đó, Giáo hội vinh tụng Mẹ
Maria là Mẹ ơn thánh. Mẹ là Mẹ chúng ta vì Mẹ là Đấng Đồng công Cứu
chuộc, và Mẹ là Đấng Đồng công vì Mẹ là Mẹ chúng ta.<br>
<br>
4. Lc 1:26-38: Trong biến cố Truyền tin, Mẹ Maria khởi đầu vai trò Đồng
công với Chúa Cứu Thế. Lời thưa "Xin vâng" của Mẹ là một sự chia sẻ thân
mật với Thiên Chúa trong công trình Cứu chuộc mà thiên sứ mặc khải cho
Mẹ. Lời "xin vâng" của Mẹ là lời Đồng công làm cho Chúa Ngôi Hai giáng
trần nhập thể trong cung lòng Mẹ, thành nên Chúa Giêsu làm người có thân
xác, để cứu chuộc loài người bằng cái chết hy tế đẫm máu trên thập giá.<br>
<br>
5. Lc. 2:35: "Một lưỡi gươm sẽ đâm thâu lòng Bà". Trong dịp Mẹ Maria
dâng Con trong Đền thờ, lời tiên tri của cụ già Simêon tỏ ra cho Mẹ xem
thấy tầm mức lịch sử Cứu độ của Con Mẹ, một sứ vụ đầy đau khổ mà Mẹ phải
sống trong sự đau khổ bên cạnh Chúa Cứu thế khổ đau, và địa vị làm Mẹ
của Mẹ sẽ bí ẩn và đớn đau.<br>
<br>
6. Ga 19:26: Mẹ Maria đứng dưới cây thánh giá Chúa Giêsu. Khi thấy Mẹ và
môn đệ yêu, Chúa Giêsu nói: "Hỡi Bà, này là Con Bà" và nói với môn đệ:
"Hỡi con, này là Mẹ con". Tiếng "Bà" liên kết Mẹ Chúa Cứu thế với Người
Nữ và dòng dõi cứu chuộc trong tiền Phúc âm 3:15, sẽ cộng tác với Đấng
Cứu thế trong việc chiến thắng Satan, tội lỗi và sự chết. Bà đó là Mẹ
Maria, là Nữ tỳ của Thiên Chúa trong ngày thiên sứ truyền tin, sẽ là một
Bà Mẹ chất ngất đau thương cùng với Con hy tế đẫm máu cứu chuộc loài
người.<br>
<br>
7. Kh 12:1-6: Đoạn Thánh kinh này nêu bật hình ảnh Chúa Kytô và Mẹ Đồng
công cứu chuộc loài người. Hình ảnh Mẹ Chúa Kytô trong cảnh huy hoàng
lộng lẫy của phẩm chức Mẹ Thiên Chúa. Hình ảnh Mẹ Đồng công cứu chuộc
trong cảnh tang thương cay đắng của phẩm chức Mẹ loài người.</td>
</tr>
<tr>
<td>
<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
</tr>
</table>
<p align="center"> </p>
</body>
</html>