File "BoiCanhLichSuCuaBienCoFatima.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/TRANG CUA ME MARIA/Cac-Le-Ve-Me/Me-Fa-ti-ma/TimHieu/BoiCanhLichSuCuaBienCoFatima.htm
File size: 52.88 KiB (54146 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>&nbsp;Bối cảnh lịch sử của biến cố Fatima </title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
	border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>
<meta name="keywords" content="đức maria, duc maria, maria, mẹ maria, me maria, Me tham vieng, Duc Maria Tham Vieng Ba Elisabet">


<!--[if !mso]>
<style>span.contents
	{}
span.small
	{}
</style>
<![endif]-->
<!--[if !mso]>
<style>h2
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:18.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	font-weight:bold}
</style>
<![endif]-->
</head>

<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none">

<table border="0" width="535" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
	<tr>
		<td>
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
		<b><font face="Verdana" size="4" color="#006666">Lễ Ðức Mẹ Fatima</font></b><hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
		<p class="MsoNormal" align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
		<font color="#0000FF"><b>&nbsp; Bối cảnh lịch sử của biến cố Fatima <br>
		</b></font><i><font size="2">LM Nguyễn Hữu Thy<br>
		Nguồn: </font></i><font size="2"><i>www.kinhmungmaria.com</i></font></p>
		</td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sự bùng 
		nổ của phong trào cộng sản vô thần<br>
		<br>
		Chúng ta đã biết rằng vào năm 1917 vì tình mẫu tử đậm đà tha thiết đối 
		với con cái loài người, Mẹ Maria đã đích thân hiện ra tại Fatima với ba 
		trẻ chăn chiên đơn sơ thánh thiện để qua trung gian của các em, Mẹ nhắn 
		gửi đến nhân loại Sứ Điệp khẩn cấp của Trời Cao. Nhưng để hiểu rõ được 
		Sứ Điệp cao cả ấy, trước hết chúng ta cần tìm hiểu bối cảnh lịch sử của 
		nó, tức hoàn cảnh thực tiễn cụ thể của xã hội vào lúc Đức Mẹ công bố Sứ 
		Điệp của Ngài. Hay có lẽ nói đúng hơn, hoàn cảnh thực tiễn cụ thể của xã 
		hội đã đòi buộc Đức Mẹ phải công bố những biện pháp cần thiết để giúp 
		cho các con cái loài người của Mẹ có điều kiện ứng phó kịp thời và hữu 
		hiệu. Đó chính là sự bùng nổ của phong trào cộng sản vô thần tại 
		Mạc-tư-khoa, thủ đô nước Nga.<br>
		<br>
		Đúng vậy! Nếu quả thực Ernst Hello có lý khi ông đã có lần viết rằng sự 
		sợ hãi là con đẻ của tội lỗi, thì chúng ta sẽ hiểu rõ được tại sao bộ 
		mặt của thời đại chúng ta ngày nay đang biểu lộ một sự sợ hãi mà không 
		sao diễn tả hết bằng lời được, thì bấy giờ chúng ta mới ý thức được rằng 
		điều kiện để có thể vượt lên trên được sự sợ hãi đó chính là phải nhìn 
		nhận tội lỗi của mình, tương tự như Ét-ra trong khi dâng Của Lễ Chiều 
		Hôm lên bàn thờ Thiên Chúa, đã công khai xưng thú tội bất trung của dân 
		tộc ông: «Lạy Chúa, con thật xấu hổ thẹn thùng khi ngẩng mặt lên Ngài. 
		Lạy Chúa, vì tội chúng con quá nhiều, đến nỗi ngập đầu ngập cổ, tội lỗi 
		chúng con cứ chồng chất lên mãi tới trời. Từ thời tổ tiên chúng con cho 
		tới ngày nay, vì chúng con đã mắc tội nặng nề và phạm tội, …nên chúng 
		con đã bị nộp cho gươm giáo, phải đi đày, bị cướp bóc và bẽ mặt xấu hổ 
		như ngày nay» (Er 9,6-7).<br>
		<br>
		Đi vào cụ thể, tội lỗi của lục địa Âu Châu, «một nơi ánh sáng văn minh 
		Kitô giáo từng đã chiếu tỏa trong bao thế kỷ qua »(1), chính là đã loại 
		bỏ căn tính Kitô giáo của mình để hoàn toàn chạy theo vật chất, tôn thờ 
		vật chất và tìm cách tục hóa mọi lãnh vực trong các sinh hoạt xã hội của 
		mình. Trong Thông điệp đầu tay của ngài gởi toàn thế giới khi vừa lên 
		ngôi Giáo Hoàng, ĐTC Piô XII đã so sánh bóng đêm tội lỗi đang bao trùm 
		lấy nhân loại với sự tối tăm đã phủ xuống trên khắp nơi khi Đức Giêsu 
		tắt thở trong đau thương trên Thánh giá (x. Mt 27,45). Trong bức Thông 
		điệp đó, Đức Piô XII cũng cho thấy rằng thế giới Kitô giáo thời trung cổ 
		đã nhận ra được «những bất hòa, những xáo trộn và các cuộc chiến tranh», 
		nhất là đã nhìn nhận được rằng những tiêu cực đó là hậu quả của tội lỗi. 
		Trong khi đó, thời đại tân tiến lệch lạc, vật chất và vô thần ngày nay 
		thì ngược lại, đã tự cho mình hoàn toàn lành mạnh, ổn định và hợp lý 
		trong mọi lãnh vực, từ lãnh vực cá nhân cho đến lãnh vực xã hội.<br>
		<br>
		Do đó, cái thảm họa vô cùng nguy hại của kỷ nguyên chúng ta ngày nay, 
		trước hết không do ở chỗ nó đã phạm bao tội lỗi và còn tái phạm nữa, 
		nhưng là do ở chỗ nó đã không nhận ra được tội lỗi của mình và không 
		biết ăn năn hối cải. Như thế, kỷ nguyên ngày nay của chúng ta đã phạm 
		một tội vô cùng nặng nề đến nỗi không thể tha thứ được, đó chính là tội 
		đã xúc phạm đến Chúa Thánh Thần (x. Mt 12,31). Và cũng vì vậy, thế kỷ XX 
		đã trở thành kỷ nguyên của phong trào cộng sản vô thần, mà các hậu quả 
		tai hại của nó còn kéo dài đến ngày nay, mặc dù đế quốc đỏ Sô Viết đã 
		hoàn toàn tan rã.<br>
		<br>
		1. Bản tuyên ngôn của phong trào cộng sản<br>
		<br>
		Bản tuyên ngôn của phong trào cộng sản được công bố vào tháng 2 năm 1848 
		tại Luân Đôn/Anh Quốc, đã một thời là khởi đầu của niềm hy vọng tràn trề 
		cho một cuộc cách mạng trên khắp thế giới trong tương lai, là bản kinh 
		Tin Kính đầy hứa hẹn cho giai cấp vô sản, cho những người vô gia cư, bần 
		cùng đói khổ. Người ta có thể nói được rằng đó là một bản Tin Mừng vẹn 
		toàn, bất khả ngộ, cho công cuộc cách mạng đổi mới xã hội nhân loại với 
		một niềm xác tín mới: Con người chiếm giữ quyền lực tuyệt đối, ngoài con 
		người ra không còn gì nữa! Đúng như Ludwig Feuerbach (1804-1872), triết 
		gia vô thần người Đức đã khẳng định: «Homo hominis Deus est» - con người 
		là Thiên Chúa của con người!<br>
		<br>
		Nhưng người ta cũng phải xác nhận rằng bản tuyên ngôn cộng sản này không 
		phải là một bản văn chứa đựng tính cách khoa học cũng không phải là một 
		sự biểu lộ quan điểm cá nhân của tác giả. Trước hết, bản tuyên ngôn là 
		một bản cáo trạng, mãnh liệt lên án chống lại sự áp chế của một trật tự 
		xã hội theo hệ thống chủ nghĩa cá nhân tự do, đã thẳng tay bóc lột tầng 
		lớp nghèo và tạo điều kiện cho tầng lớp giàu càng giàu thêm.<br>
		<br>
		«Hỡi tầng lớp công nhân thợ thuyền trên khắp thế giới, hãy đoàn kết lại! 
		Hãy làm cho thế giới phải rùng mình khiếp sợ trước cuộc cách mạng cộng 
		sản!»<br>
		<br>
		Đó là một trong những lời hô hào ở Luân Đôn xưa kia, được gởi tới tầng 
		lớp công nhân ở Âu Châu và trên khắp thế giới, là phải đứng lên đạp đổ 
		chế độ phong kiến và bẻ gãy ách nô lệ. Đó cũng chính là dấu hiệu manh 
		nha cho công cuộc đấu tranh giai cấp đẫm máu trong tương lai, một cuộc 
		đấu tranh đã từng để lại những hậu quả vô cùng tang thương, bi thảm và 
		vô nhân đạo tại một số lớn các nước trên thế giới, nhất là tại Nga Sô, 
		tại Đông Âu, tại Trung Cộng hay tại các nước cộng sản khác, đã khiến cho 
		hàng triệu người dân lành bị chết cách oan uổng. Cũng vì thế, ở miền Bắc 
		Việt Nam vào các năm 1953-1954, sau khi nhà nước ra chính sách «Cải cách 
		ruộng đất và phát động quần chúng đấu tranh», hàng trăm ngàn người dân 
		lành đã bị ghép vào thành phần «địa chủ bóc lột» hay «cường hào ác bá», 
		và đã bị đấu tố trước các tòa án nhân dân, bị đày ải khổ sai chung thân 
		hay bị xử tử cách bất công, khiến nhà nước đã phải ra chính sách «Sửa 
		sai», để làm nguôi sự căm phẩn của dân chúng.<br>
		<br>
		Chính do tinh thần đấu tranh giai cấp quá khích, người ta đã không ngần 
		ngại biện minh cho bao cuộc nội chiến quốc-cộng (quốc gia và cộng sản) 
		thảm khốc tại một số lớn các nước, khiến cho bao gia đình: con cái mất 
		cha, vợ mất chồng, cha mẹ mất con trai. Những sự cố đó đánh dấu sự khởi 
		đầu công khai của kỷ nguyên phong trào cộng sản.<br>
		<br>
		Dĩ nhiên, người ta sẽ thiếu khách quan khi tìm cách cho rằng phong trào 
		chống đối lại sự đàn áp và bóc lột bất công do những người cộng sản khởi 
		xướng là hoàn toàn xấu và tiêu cực. Chính Đức Giáo Hoàng Piô XI trong 
		Thông điệp gởi thế giới để chống lại phong trào cộng sản vô thần, cũng 
		đã phải nhìn nhận rằng người ta không khỏi ngạc nhiên khi chứng kiến chủ 
		thuyết cộng sản đã mạnh mẽ lan rộng khắp nơi, bởi vì với một lý tưởng 
		sai lầm về sự công bằng và quyền bình đẳng, phong trào cộng sản đã thực 
		sự chống lại những bất công trong xã hội và nhất là đã hứa hẹn sẽ xóa bỏ 
		những bất công đó cũng như sẽ cải thiện cuộc sống của giai cấp công 
		nhân(2).<br>
		<br>
		Đức Giám Mục Fulton Sheen đã thẳng thắn nhìn nhận rằng mặc dù là một ý 
		thức hệ vô thần, nguồn gốc của chủ thuyết cộng sản đã xuất hiện như một 
		sự hiện thực cách mạng trong một thế giới Tây phương tội lỗi. Ngài viết: 
		«Thế giới Tây phương chịu trách nhiệm về sự xuất hiện của triết lý chủ 
		thuyết cộng sản và về cuộc cách mạng cộng sản. Trong toàn thể nền triết 
		học cộng sản không hề tìm thấy một ý tưởng nào có tính cách Nga Sô cả. 
		Xét từ bản chất của nó, nền triết học đó hoàn toàn mang tính cách trưởng 
		giả tây phương, duy vật và tư bản.»(3). Đúng vậy, chính thế giới Tây 
		phương chắc chắn phải chịu trách nhiệm về tình trạng tồi tệ thảm hại của 
		giai cấp công nhân cách đây hơn hai thế kỷ. Nikolai Berdjajew 
		(1874-1948), triết gia người Nga về tôn giáo và lịch sử, đã có lý khi 
		ông đánh giá chủ thuyết cộng sản là một sự biến dịch cụ thể của những sứ 
		mệnh bất thành nơi Kitô giáo, ông viết: «Khi chê trách những người cộng 
		sản là vô thần và đàn áp chống đối tôn giáo, các Kitô hữu không thể bắt 
		những người cộng sản phải gánh chịu trách nhiệm một mình về làn sóng vô 
		thần đó được. Khi phải ra đứng trước toà án tối cao, các Kitô hữu chắc 
		chắn sẽ không thể là quan toà hay kẻ tố cáo được, nhưng là xuất hiện như 
		những tội nhân đầy thống hối»(4).<br>
		<br>
		Khuynh hướng tục hóa càng ngày càng bành trướng của não trạng Âu Châu, 
		vốn đã bắt nguồn từ thời phục hưng và thực sự đã đạt tới tột đỉnh của nó 
		vào đầu thế kỷ 19 và rồi qua triết học và qua toàn bộ văn chương trong 
		hàng chục thập niên qua, đã được coi như một hình thức bày tỏ tư tưởng 
		và thái độ sống một cách duy nhất bất khả kháng. Qua sự chối bỏ Thiên 
		Chúa, con người vào thế kỷ 18 đã tuyên bố loại trừ tất cả mọi tính chất 
		luân lý đạo đực do tôn giáo truyền bá. Sự phân biệt giữa tốt và xấu theo 
		quan niệm cổ truyền bị bãi bỏ, nếu không nói là hoàn toàn bị phủ nhận. 
		Tốt là điều làm lợi cho con người, còn xấu là điều làm hại con người. 
		Giai cấp chiếm hữu mới phủ nhận một cách vô ý thức trách nhiệm bó buộc 
		của luật luân lý Kitô giáo trong tất cả mọi lãnh vực của đời sống thương 
		mại và đời sống kinh tế. Giai cấp chiếm hữu còn chối bỏ mọi can thiệp 
		của Nhà Nước vào trong các nghiệp vụ buôn bán của họ, vì họ đã quan niệm 
		lầm lẫn về quyền tự do cá nhân của mình.<br>
		<br>
		Vâng, người ta còn biện minh cho cả những cách thức thu tích của cải 
		trần thế một cách bất công trên sự đau khổ của đồng loại với những ngụy 
		biện giả dối cho rằng sự giàu có thịnh vượng là dấu chỉ hữu hình sự kén 
		chọn đặc biệt của Thiên Chúa, còn sự đói nghèo rõ ràng là sự chúc dữ của 
		Thiên Chúa(5). Như thế, Phúc Âm Đức Giêsu Kitô hoàn toàn mất hết giá trị 
		và không còn đất đứng nữa, và phải nhường chỗ cho chủ nghĩa vật chất thô 
		thiển. Cả đến lời chúc phúc cho tinh thần nghèo khó của Phúc Âm cũng bị 
		loại bỏ và được thay thế vào đó là sự thần thánh hóa việc chiếm giữ của 
		cải vật chất đời này. Như vậy, qua đó các giá trị luân lý Kitô giáo bị 
		phá đổ. Điều đó cho thấy rằng bây giờ - xét một cách tổng quát - sự tiến 
		bộ mang tính cách đa dạng và bất ngờ trong lãnh vực kỹ thuật rất có thể 
		là một rào cản cho sự thăng tiến của con người trong lãnh vực luân lý và 
		đạo giáo.<br>
		<br>
		Đàng khác, một số lớn quần chúng nhân dân cũng đã tỏ ra xa lạ với Giáo 
		Hội. Bởi vậy, họ đã dễ dàng bị lôi cuốn bởi những lý thuyết và chủ 
		trương sai lầm đó và họ đã thích thú đón nhận chúng như một học thuyết 
		mới mẻ. Về điểm này, Đức Giáo Hoàng Piô XII đã viết: «Có lẽ nhiều người 
		đã không ý thức được khi lìa bỏ giáo huấn của Đức Kitô là sẽ bị thu hút 
		và bị lôi cuốn bởi những hình ảnh giả dối mới mẻ khác trong những cách 
		thức trình bày hấp dẫn. Những cách thức trình bày đó đã coi sự lìa bỏ 
		giáo huấn của Đức Kitô như một sự giải phóng khỏi vòng nô lệ từng giam 
		cầm con người từ trước tới nay. Nếu thế, hoặc họ đã không nhìn thấy 
		trước được những hậu quả đau đớn khi người ta tìm cách thực hiện một sự 
		thay đổi thật đáng buồn giữa sự thật có khả năng giải phóng con người, 
		với sự sai lạc chỉ chực nô lệ hóa con người; hoặc họ đã không nghĩ rằng 
		ai chối bỏ luật lệ vô cùng khôn ngoan và đầy tình phụ tử của Thiên Chúa 
		cũng như chối bỏ giáo huấn luôn có tác dụng hợp nhất và nâng cao con 
		người của tình yêu Đức Kitô, thì sẽ vô tình bị rơi vào ách độc đoán của 
		một sự khôn ngoan nghèo nàn giới hạn và hay thay đổi của phàm nhân. Một 
		đàng người ta nói đến sự tiến bộ, nhưng đàng khác người ta lại làm điều 
		thụt lùi; từ tình trạng phát triển, người ta lại hạ thấp xuống; từ sự 
		tiến lên cho tới tột đỉnh cao, người ta lại trở thành nô lệ. Người ta đã 
		không chịu nhận ra rằng tất cả mọi nỗ lực vất vả của con người trong 
		việc tìm cách thay thế luật lệ Đức Kitô bằng luật lệ phàm nhân, sẽ là 
		một việc làm hoàn toàn vô ích »(7).<br>
		<br>
		Và người ta đã không chờ đợi lâu những hậu quả tai hại cụ thể của sự 
		thoái hóa đó. Qua sự đàn áp vẫn được tiếp tục kéo dài trong một chế độ 
		tư bản kiểu mới với chiếc «mặt nạ dân chủ», các tầng lớp công nhân vẫn 
		nghèo, vẫn phải tiếp tục sống trong sự khốn cùng và vẫn mang nặng trên 
		mình nỗi lo lắng cho miếng cơm manh áo của cuộc sống hằng ngày. Như vậy, 
		ngày nay bên cạnh giai cấp trưởng giả vô thần lại xuất hiện thêm giai 
		cấp vô sản vô thần nữa. Và qua đó sân khấu cho thảm họa của cuộc cách 
		mạng thế giới đã được dàn dựng. Nếu Đức Giáo Hoàng Piô XI đã có lần gọi 
		tình trạng đó là «Xì-căn-đan của thế kỷ», thì nay đã trở thành thực tại 
		cụ thể. Nhiều người công nhân là tầng lớp đã quay lưng lại với Giáo Hội, 
		đã bỏ đạo. Họ đã xa lìa tôn giáo chân chính của Đức Giêsu Kitô đã từ 
		Trời Cao mang đến và cúi đầu chạy theo một thứ tôn giáo hão huyền của 
		Các-Mác và Ăng-ghen. Những người công nhân bồng bột đó gia nhập phong 
		trào cộng sản vốn thù nghịch chống đối Tôn Giáo, mà biểu tượng không 
		phải là tượng Thánh Giá, nhưng là liềm búa.<br>
		<br>
		Bản tuyên ngôn cộng sản năm 1948 không những đã kích động được con tim 
		của tầng lớp công nhân, nhưng còn cống hiến cho họ một chương trình hành 
		động cụ thể, dễ hiểu và khả thi. Những người công nhân vốn từng bị khinh 
		bỉ và bị xúc phạm một cách vô cùng đau đớn, bỗng nhiên giờ đây lại tìm 
		gặp được ý nghĩa sâu xa cho cuộc sống bất hạnh của mình. Họ nhìn thấy 
		được lý tưởng của đời mình không phải được ghi tạc tận các ngôi sao trên 
		vòm trời, nhưng đang nằm gọn trong bàn tay một cách rõ ràng và cụ thể; 
		một lý tưởng mà họ có thể diễn tả được bằng những lời nói đơn sơ, bằng 
		những khẩu hiệu đầy quyến rủ, và nhất là vì lý tưởng đó họ còn có thể 
		hăng hái lao động không chút mệt mỏi, còn có thể chấp nhận chịu đau khổ 
		và sẵn sàng chấp nhận cả cái chết nữa. Ngay cả khi phải đối mặt với một 
		hoàn cảnh vô cùng khó khăn, hầu như bất khả chịu đựng, họ vẫn cảm thấy 
		như được chính lý tưởng đó nâng đỡ và dìu dắt, họ vẫn cảm nhận được tận 
		sâu trong đáy linh hồn mình sức mạnh của một sứ mệnh thiêng liêng, cao 
		cả và mới mẻ củng cố, đó là: Họ cần phải giải phóng thế giới ra khỏi mọi 
		bất công và thiết lập lại một thiên đường đã bị đánh mất: Thiên đường 
		cộng sản!<br>
		<br>
		2. Học thuyết cộng sản<br>
		<br>
		Dựa trên nền tảng duy vật biện chứng, học thuyết cộng sản cho rằng dòng 
		lịch sử nhân loại hoàn toàn lệ thuộc vào sự đồng nhất và bất đồng của 
		những lực lượng đối kháng, và cũng vì thế, tinh thần bản tuyên ngôn cộng 
		sản năm 1848 đã hoàn toàn loại trừ tất cả mọi giải pháp ôn hòa trong 
		lãnh vực cách mạng xã hội, đồng thời gạt bỏ tất cả mọi hình thức dung 
		hòa dựa theo sự hợp lý của sự việc như một hành động thiếu thực tế. Tinh 
		thần cách mạng theo chủ thuyết cộng sản không bao giờ chấp nhận biện 
		pháp nửa vời, tức biện pháp hòa giải hay dung hòa. Trong trường hợp nếu 
		có hòa giải, thì đó cũng chỉ là một giải pháp vá víu tạm thời và chỉ có 
		tính cách chiến thuật trong khi chờ đợi thắng lợi cuối cùng mà thôi. 
		Cách mạng cộng sản chân chính là phải phá đổ hoàn toàn cái cũ tận nền 
		móng, để xây dựng lên cái mới trên một nền móng mới. Nói cách khác, giai 
		cấp tư bản và giai cấp công nhân vô sản không thể cùng đội trời chung. 
		Một trong hai giai cấp đó bắt buộc phải hoàn toàn bị đào thải hay hoàn 
		toàn bị loại trừ, và nhất định đó phải là giai cấp tư bản.<br>
		<br>
		Bởi vậy, công cuộc phát động mặt trận đấu tranh giai cấp giữa chủ nghĩa 
		tư bản và tầng lớp công nhân cần phải được hiện thực như một đòi hỏi cấp 
		bách của sự diễn biến và tiến triển lịch sử, trong đó không loại trừ 
		tính cách bạo động. Vâng, để đẩy nhanh cuộc chiến thắng sau cùng của 
		tầng lớp vô sản và để thiết lập được một xã hội mới vô giai cấp, tất cả 
		mọi phương tiện chẳng những đều được coi là hợp pháp, mà còn cần thiết 
		phải sử dụng nữa, nếu như tình huống đòi hỏi, vì tất cả «cuộc thánh 
		chiến đó chỉ nhắm phục vụ sự tiến bộ của nhân loại»(8). <br>
		<br>
		Qua đó, chúng ta thấy rằng một động lực khủng khiếp, phát xuất từ học 
		thuyết chủ nghĩa duy vật biện chứng sử quan đã được thành hình. Đức Giáo 
		Hoàng Piô XI đã thẳng thắn gọi đó quả là «một chủ thuyết thần bí đã khéo 
		léo biết dùng những lời hứa hão huyền để lôi kéo các tầng lớp quần chúng 
		hào hứng chạy theo mình»(9). Chủ thuyết thần bí hay người ta cũng có thể 
		gọi là sự mong đợi được giải thoát này thực ra là một đóng góp của não 
		trạng người dân Nga lúc bấy giờ vào công trình xây dựng lên tòa nhà chủ 
		thuyết cộng sản. Walter Schubart đã so sánh thái độ của não trạng người 
		dân Nga như là một sự tự hiến, ngược lại với sự tự chủ của người Tây Âu. 
		Tự thẳm sâu trong đáy lòng mình, người Nga sống thiên về tình cảm hơn là 
		lý trí. Cũng vì thế, chủ thuyết duy vật khô khẳng phát xuất từ Tây Âu lẽ 
		ra khó lòng đâm rễ sâu được vào quan niệm của người Đông Âu như Nga Sô. 
		Hơn nữa, vì người Nga sống thiên về tình cảm, chứ không nặng óc suy lý 
		theo khoa học tự nhiên, nên thường dễ bị ảnh hưởng bởi những sự kỳ bí lạ 
		lùng. Vì thế, người Tây Âu nhiều khi đã không khỏi bỡ ngỡ trước bản tính 
		hay thay đổi thất thường của người Nga. Hơn nữa, khác với bản tính tự 
		lập và thiên về cá nhân của người Tây Âu, người Nga mang nhiều sắc thái 
		đoàn thể xã hội hơn và luôn mong muốn cho xã hội nơi mình sinh sống phải 
		đạt được tình trạng hoàn hảo. Vì thế, một khi xã hội đó không đạt tới 
		được mức độ hoàn hảo lý tưởng như họ mong muốn, thì họ tỏ ra bất đồng và 
		giận dữ, và họ hăng say đem hết mọi nỗ lực để cải thiện. Đó cũng là lý 
		do tại sao văn hào cách mạng Fjodor M. Dostojewskij (1821-1881) được gọi 
		là «nhà triết học vĩ đại nhất của nước Nga»(10). <br>
		<br>
		Vì lý do đó, thời gian từ hậu bán thế kỷ XIX đến gần hết hậu bán thế kỷ 
		XX mà chúng ta đang đề cập đến ở đây, phải được gọi là kỷ nguyên cộng 
		sản, bởi vì chủ nghĩa Mác-xít đã tìm gặp được tại Nga Sô chỗ đứng vững 
		chắc và thuận lợi cho học thuyết cách mạng về kinh tế và xã hội của 
		mình.<br>
		<br>
		Một cách khách quan mà nói, những người cha đẻ của chủ nghĩa cộng sản 
		không hề nghĩ rằng học thuyết cách mạng vô sản mang tính cách toàn cầu 
		của họ lại có thể tìm gặp được Nga Sô như là một «bản doanh» hay như một 
		«ngòi châm» cần thiết. Thực ra, dựa theo nền tảng của học thuyết cộng 
		sản, thì ngọn lửa cách mạng phải được bùng cháy trước hết tại các nước 
		có nền kỹ nghệ hàng đầu thế giới ở Tây Âu, tức là một nơi những căng 
		thẳng và mâu thuẩn giữa tầng lớp tư bản và tầng lớp công nhân đã lên đến 
		tột đỉnh. Trong khi đó, người ta có thể nói được rằng Nga Sô vào lúc bấy 
		giờ hãy còn là một nước nông nghiệp lạc hậu.<br>
		<br>
		Nhưng dưới các triều đại thối nát của Nga Hoàng bất tài lúc bấy giờ, Nga 
		Sô bị rơi vào một tình trạng cực kỳ khó khăn: Xã hội và nền kinh tế của 
		đất nước hoàn toàn bị băng hoại, bị phá sản. Và thảm họa to lớn cuối 
		cùng đã thực sự xảy ra, là vào đúng khi đức tin Kitô giáo đã từ lâu chỉ 
		còn hiện diện trên hình thức, còn trong thực tế đã trở nên xa lạ và mất 
		hết sức lôi cuốn đối với đại đa số người dân, thì nước Nga - vì muốn đạt 
		được những canh tân kinh tế và xã hội cần thiết - bó buộc phải chạy theo 
		các nước Tây Âu, những nước mà vào lúc bấy giờ cũng đang đem hết mọi nỗ 
		lực vào công cuộc cải cách xã hội và kinh tế, nên càng ngày càng lơ là 
		và bỏ bê lãnh vực tôn giáo(11); trong khi đó các luồng tư tưởng cấp 
		tiến, tự do và vô thần lại bành trướng mạnh mẽ.<br>
		<br>
		Trong bối cảnh đó, chủ nghĩa Mác-xít duy vật đã được xâm nhập vào nước 
		Nga như một miền đất phì nhiêu mầu mỡ. Và do sự nối kết chặt chẽ giữa 
		chủ nghĩa duy vật Tây Âu với nguyện vọng mong được giải thoát của Đông 
		Âu, một phong trào quá khích đẫm máu đã bùng nổ như chúng ta đã từng 
		chứng kiến trong suốt lịch sử Liên Sô và các nước cộng sản chư hầu kể từ 
		năm 1917.<br>
		<br>
		Như vậy, từ những học thuyết cộng sản về kinh tế và xã hội đã dần dà 
		biến thành một thứ đức tin cộng sản. Bởi vậy, Hamish Fraser, một đảng 
		viên cộng sản kỳ cựu đã viết: «Một sự kiện quá rõ ràng là nước Nga Sô 
		Viết được coi như biểu tượng cụ thể của đức tin mang tính cách thiên 
		sai, một đức tin tiềm ẩn trong chủ nghĩa Mác-xít cách mạng»(12).<br>
		<br>
		Ngoài Đức GM Fulton J. Sheen, còn có Linh Mục Gustav A. Wetter, dòng Tên 
		- qua các sách báo và các bài thuyết trình của ngài – cũng đã lôi kéo sự 
		chú ý của Tây Phương về tính chất ngụy tôn giáo của chủ nghĩa duy vậy 
		biện chứng sử quan(13). Linh Mục G.A. Wetter đã trình bày cho thấy chủ 
		nghĩa duy vật biện chứng hoàn toàn khác với chủ nghĩa duy vật thông 
		thường, vì nó mang tính cách loại trừ hoàn toàn niềm xác tín tôn giáo. 
		Nói cách khác, vật chất được thay thế cho Thiên Chúa, nghĩa là vật chất 
		được đặt vào địa vị Thiên Chúa. Vật chất là Thiên Chúa. Vật chất là sự 
		thiện hảo tối thượng; ngoài vật chất ra không còn gì tốt lành nữa. Trong 
		một sự phát triển liên tục và không bao giờ ngừng, vật chất sản xuất ra 
		từ đời đời tất cả những gì đang hiện hữu, kể cả tinh thần. Khả năng sáng 
		tạo của sự tiến hóa vô tận này – một sự tiến hóa luôn tìm tiến tới sự 
		hoàn hảo cao độ - là chính vật chất mang tính cách nội tại, nghĩa là vật 
		chất tự hiện hữu và tự tồn tại trong chính mình.<br>
		<br>
		Qua đó, người ta thấy rằng, theo chủ nghĩa duy vật biện chứng thì không 
		hề có đệ nhất tác nhân ngoại tại, mà Kitô giáo gọi là Thiên Chúa. Tự bản 
		chất của nó, vật chất là Thiên Chúa của chính mình; vật chất được vận 
		hành bởi những sức mạnh đối kháng nội tại trong chính mình. Chính những 
		sức mạnh đối kháng đó luôn luôn tự sản sinh ra không ngừng và nhờ thế 
		chúng đã sản xuất ra được khả năng cần thiết cho sự phát triển cao độ.<br>
		<br>
		Điều đó dẫn tới một hậu quả là chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng tất 
		cả mọi hữu thể đều «từ dưới» mà có, ngược lại với giáo lý của Kitô giáo 
		vốn dạy rằng vũ trụ được tạo dựng nên «từ trên», tức do một vị Thiên 
		Chúa, Đấng tự hữu và hằng hữu, ngoại tại và vượt trên vật chất.<br>
		<br>
		Nếu Phúc Âm Kitô giáo quả quyết: «Từ ban đầu đã có Ngôi Lời», thì chủ 
		nghĩa duy vật biện chứng lại khẳng định: «Từ ban đầu đã có vật chất». Cả 
		hai, Kitô giáo và chủ nghĩa cộng sản, đều nhắm tới việc giải phóng con 
		người và tự thần thánh hoá chính mình như mục đích sau cùng. Tuy nhiên, 
		cả hai lại tìm đạt tới mục đích bằng những cách thế và trong những tình 
		huống hoàn toàn khác nhau.<br>
		<br>
		Kitô giáo mong đợi sự giải thoát con người khỏi vòng nô lệ của tội 
		nguyên tổ «từ trên cao», như là ơn thánh của Thiên Chúa ban cho. Trong 
		khi đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng lại chờ đợi sự giải phóng như hiệu 
		quả chín mùi của một sự phát triển «từ dưới thấp», nghĩa là từ phía con 
		người. Nói cách khác, đối với người Kitô hữu, sự giải thoát khỏi tội lỗi 
		là ơn huệ nhưng không của Thiên Chúa ban; trái lại, đối với người cộng 
		sản, sự giải phóng nhân loại khỏi tội nguyên tổ của hệ thống tư bản, 
		phải là kết quả tất yếu của những phát triển thuần túy nhân loại. Vì 
		thế, hậu quả chối bỏ sự hiện hữu của Thiên Chúa là một điều không thể 
		tránh được, như Linh Mục Wetter đã viết: «Chính sự thể đó chứng minh cho 
		thấy rằng, khi tranh đấu dưới ngọn cờ duy vật biện chứng sử quan, chủ 
		nghĩa cộng sản đương nhiên tự coi mình có thể trở thành một thể loại 
		tương tự tôn giáo, và vì thế phải tìm cách loại trừ bằng bất cứ giá nào 
		mọi hình thức tôn giáo khác. Ngoài vị thần duy nhất là vật chất với tất 
		cả những yêu sách tuyệt đối của nó, chủ nghĩa cộng sản không chấp nhận 
		bất cứ thần thánh nào khác nữa»(14).<br>
		<br>
		Và như trong các cuộc đấu tranh cụ thể cho công cuộc cách mạng toàn cầu, 
		trong sự xung đột về ý thức hệ của kỷ nguyên cộng sản cũng không thể có 
		sự dung hòa được. Chỉ có hai mặt trận, đó là:<br>
		<br>
		1. Một bên là lời mời gọi của đức tin Kitô giáo, của lòng tin tưởng phó 
		thác và của tình bác ái, với khẩu hiệu: «Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của 
		ngươi.»<br>
		<br>
		2. Một bên khác là lòng kiêu hùng và sự hận thù bất hòa giải trước giai 
		cấp đối kháng của mình, với khẩu hiệu ngược lại: «Ta là Đức Chúa, Thiên 
		Chúa của ta.»<br>
		<br>
		Đó là hai quan điểm hoàn toàn đối kháng nhau và vì thế chúng sẽ không 
		bao giờ có thể đi tới một sự hòa hợp hay một thỏa hiệp sống chung chân 
		thành và bền lâu. Giữa hai bên sẽ không bao giờ có sự đồng hữu thực sự. 
		Vâng, xét về mặt lý thuyết, về mặt ý thức hệ hay giáo lý, thì khoảng 
		cách giữa Kitô giáo và chủ nghĩa cộng sản là quá lớn, khó có thể bắc lên 
		một nhịp cầu được. Tuy nhiên, trong lãnh vực thực hành của cuộc sống cụ 
		thể hằng ngày, như việc bài trừ các tệ nạn xã hội, việc lành mạnh hoá xã 
		hội, hay việc xoá đói giảm nghèo, xây dựng nhân sinh, v.v… sự cộng tác 
		giữa những người cộng sản và những người Kitô hữu không những là một 
		điều có thể, nhưng còn là một điều cần thiết và phải làm. Hơn nữa, ngày 
		nay - như chúng ta đều chứng kiến - ý thức hệ cộng sản đã mất hết tính 
		chất quá khích thủa ban đầu và đang trên đường thoái hóa và biến thể để 
		tiến tới một tân chủ nghĩa xã hội tự do; nhưng nhất là sứ mệnh Phúc Âm 
		hóa mà Chúa Cứu Thế đã trao phó cho Giáo Hội «các con hãy đi khắp thế 
		gian và làm cho muôn dân thành môn đệ của Thầy» (x.Mt 28,19) không hề 
		chủ trương phân biệt màu da, chủng tộc, tôn giáo, ý thức hệ hay chính 
		kiến.<br>
		<br>
		3. Thế giới cộng sản<br>
		<br>
		Đối với chủ nghĩa cộng sản, thế giới nhân loại đang chìm đắm trong trầm 
		luân khốn khổ. Vâng, đối với người Kitô hữu những bất hạnh do tội nguyên 
		tổ gây ra cho nhân loại thế nào, thì đối với những người cộng sản đó lại 
		chính là hệ thống kinh tế tư bản. Vì thế, để đổi mới và kiện toàn thế 
		giới, người cộng sản thâm tín rằng mình có bổn phận phải tiêu diệt hoàn 
		toàn chủ nghĩa tư bản. Và phương tiện hữu hiệu để hiện thực được những 
		mục tiêu «thiêng liêng» đó là cuộc cách mạng toàn cầu; còn tất cả mọi 
		phương tiện khác đều chỉ dùng để phục vụ cho phương tiện trọng yếu duy 
		nhất đó mau đạt tới thắng lợi sau cùng mà thôi. Tiếp đến, cũng thế, tất 
		cả mọi mục tiêu khác chỉ còn là những mục tiêu thứ yếu trên con đường 
		tiến tới sự hoàn tất cuối cùng của một thế giới đại đồng và vô giai cấp, 
		một thiên đường cộng sản. Về điểm này một đảng viên cộng sản khác đã 
		viết: «Toàn bộ ý thức hệ của chủ nghĩa cộng sản và bao gồm trong đó cả 
		nền luân lý cộng sản nữa, đều tùy thuộc công cuộc giải phóng tầng lớp 
		công nhân thợ thuyền. Mục tiêu sau cùng của người cộng sản là xây dựng 
		chế độ cộng sản, là mang lại hạnh phúc tối đa cho tầng lớp công nhân, và 
		dĩ nhiên không chỉ trong huyền thoại ảo tưởng, nhưng là thực sự thiết 
		lập một cuộc sống đầy sung sướng hạnh phúc trên quả đất này. Cuộc chiến 
		thắng của chủ nghĩa cộng sản không tự nhiên mà có được, nhưng người ta 
		chỉ có thể đạt tới được sự chiến thắng đó bằng cuộc xả thân đấu tranh 
		chống lại tất cả những sức mạnh và những hủ tục phản động của thế giới 
		cũ. Trên con đường tiến tới được mục tiêu cao cả và đúng đắn đó với một 
		mức độ tột đỉnh, người ta cần phải có nhiều pháo đài kiên cố, cần phải 
		trung kiên trong các thử thách khó khăn và cần phải hy sinh gian khổ 
		nhiều. Đối với những người chiến sĩ chiến đấu cho quyền lợi của tầng lớp 
		công nhân, chiến đấu cho quyền lợi của tầng lớp thợ thuyền, thì việc chỉ 
		thụ động ngồi chờ một tương lai tốt đẹp sáng sủa và một niềm hy vọng 
		trống rỗng, hoàn toàn là một điều xa lạ, không thể chấp nhận được. Các 
		chiến sĩ cộng sản không bao giờ chờ đợi sẽ đạt tới được mục tiêu đấu 
		tranh của mình bằng một khuôn mẫu có sẵn, chứ không cần phải đấu tranh 
		gian khổ và không cần phải vất vả lao động.» Trên đây là một đoạn quan 
		trọng nói về vũ trụ quan của chủ nghĩa cộng sản, được trích từ bản Quốc 
		Tế Hùng Ca «L’Internationnale», với những lời đáng ghi nhận như sau: <br>
		<br>
		«Không Đấng nào cao cả cứu được ta,<br>
		<br>
		«Chẳng Thần thánh, chẳng vua chúa, chẳng quan tòa.<br>
		<br>
		«Để thoát khỏi cảnh khốn cùng ô trọc,<br>
		<br>
		«Tự chúng ta phải vùng lên tranh đấu, hỡi các bạn!»(15). <br>
		<br>
		Điều đó chứng minh cho thấy rằng một người cộng sản chân chính, nghĩa là 
		một người cộng sản đầy thâm tín về ý thức hệ của mình, sẽ không bao giờ 
		có thể thay đổi được quan điểm của mình để tiếp nhận một quan điểm khác 
		vì nhận ra quan điểm đó tốt và hợp lý hơn quan điểm của mình. Đối với 
		anh, hoặc chỉ có anh hiện hữu với quan điểm ý thức hệ của anh, hoặc là 
		anh phải chết, chứ không thể có giải pháp thứ ba, chẳng hạn như sự liên 
		hiệp hay dung hòa, v.v... Đó chính là điểm quá khích và sai lầm của một 
		ý thức hệ. Và hậu quả tai hại của nó cũng đã được chứng minh qua sự sụp 
		đổ hoàn toàn của chủ nghĩa cộng sản ở Liên Sô cũ và ở các nước Đông Âu 
		vào đầu thập niên 90 của thế kỷ trước. Ở đây người ta nghi ngờ đặt ra 
		một câu hỏi: Giá như chế độ cộng sản ở Liên Sô và ở Đông Âu khi ý thức 
		được cao trào dân chủ của con người hôm nay đang bùng lên như vũ bão, mà 
		biết tự canh tân và tự thích nghi với tình huống mới, thì có lẽ sự sụp 
		đổ mau lẹ đó đã không xảy ra? Nhưng sự thể đã không thế!<br>
		<br>
		Vì vậy, phải chăng đó là một bài học đắt giá mà các nước cộng sản cuối 
		cùng hiện nay, như Trung Quốc, Việt Nam và Cu-Ba đã biết lợi dụng được, 
		khi các nước này đang từ từ loại bỏ một số lớn quan điểm ý thức hệ ảo 
		tưởng và sai lạc của mình, hầu không bị tụt hậu trong đà tiến bộ nhảy 
		vọt của cả nhân loại ngày nay, như chấp nhận mở cửa hội nhập quốc tế, 
		sống chung hòa bình với các dân tộc khác trong tinh thần bình đẳng và 
		tôn trọng lẫn nhau, loại bỏ chính sách bao cấp độc đoán và chấp nhận nền 
		kinh tế thị trường tự do của tư bản, v.v…?<br>
		<br>
		Nhưng điều đó lại kéo theo một thực tại mâu thuẫn khác, đó là một khi 
		chủ nghĩa cộng sản từ bỏ mục tiêu chính yếu từng được theo đuổi của mình 
		là thống trị thế giới, cùng với phương tiện chủ yếu duy nhất là cuộc 
		cách mạng toàn cầu, và nhất là chủ trương sống chung với chế độ tư bản, 
		nếu không nói là tự tư bản hóa chính mình, thì mặc nhiên chủ nghĩa cộng 
		sản đã tự tuyên bố cáo chung và giải thể!<br>
		<br>
		Nếu thế, phải chăng ngày nay chúng ta sẽ không còn phải lo lắng bận tâm 
		tới học thuyết cộng sản nữa, một học thuyết đã từng chi phối não trạng 
		và cuộc sống của gần một phần hai nhân loại trong suốt trên dưới bảy 
		thập niên qua?<br>
		<br>
		Dù cho học thuyết cộng sản đã chính thức tự giải thể, và nếu ngày nay 
		còn hiện diện thì chỉ hiện diện trên giấy tờ và trên hình thức mà thôi, 
		nhưng người ta cũng đừng quên rằng, các ảnh hưởng và các hậu quả tiêu 
		cực hiện nay, như: nền kinh tế của đất nước bị rơi vào tình trạng lạc 
		hậu, chậm tiến, bị băng hoại, nhưng nhất là tình trạng luân lý và tôn 
		giáo hoàn toàn bị suy đồi phá sản, v.v…, do học thuyết đó để lại ở Nga 
		cũng như ở các nước thuộc khối Đông Âu, thì còn cần phải nỗ lực trong 
		rất nhiều thế hệ nữa mới mong hàn gắn lại được phần nào. Vì thế, Đức GM 
		Sheen đã có lần gọi thế giới cộng sản là «thân mình mầu nhiệm của 
		Antichristus».<br>
		<br>
		Cuối cùng, một điều quan trọng mà chúng ta không được phép quên, là mọi 
		biến cố - dù to hay nhỏ và dù quan trọng hay tầm thường – đã, đang và sẽ 
		xảy ra trong vũ trụ, trong cuộc sống của từng người hay của cả nhân 
		loại, đều không xảy ra ngoài sự an bài của Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa Toàn 
		Năng, Đấng tự hữu và luôn hiện hữu trong vũ trụ cũng như trong cuộc sống 
		của nhân loại và của mỗi người, dù cho nhân loại có tin nhận và thờ kính 
		Người hay không. Vâng, tất cả mọi sự xảy ra trong vũ trụ này, đều nằm 
		trong tầm kiểm soát tuyệt đối và đầy uy quyền của Thiên Chúa Toàn Năng.<br>
		<br>
		Điều đó được chứng minh rõ ràng qua hiện tượng: Trong khi vào ngày 
		10.10.1917, Hội đồng Cách mạng Bôn-xờ-vít ở Nga Sô đã nhất trí quyết 
		định sẽ dùng bạo lực tổ chức một cuộc nổi dậy vào đêm 25. rạng ngày ngày 
		26.10.1917, để lật đổ chế độ Nga Hoàng và thiết lập một chế độ cộng sản 
		vô thần, hoàn toàn chối bỏ sự hiện hữu của Thiên Chúa, thì vào ngày 
		13.10.1917, qua trung gian của Đức Trinh Nữ Maria, Thiên Chúa đã công 
		khai thực hiện một phép lạ vĩ đại trước sự chứng kiến của hàng trăm ngàn 
		người trong khắp toàn vùng Fatima: Phép lạ mặt trời vào đúng ngọ đã bỗng 
		chốc quay cuồng múa nhảy một cách kỳ lạ và bắn tung toé ra chung quanh 
		đủ mọi thứ màu sắc rực rỡ, giữa những tiếng kêu la đầy hoảng hốt sợ hãi 
		của đám đông.<br>
		<br>
		Phải chăng khi Thiên Chúa đã công khai thực hiện một phép lạ cả thể như 
		thế - ngoài mục đích là để mọi người tin sự kiện Fatima là thật, như lời 
		Đức Mẹ đã hứa cùng ba trẻ - lại không muốn chứng minh rằng: Dù cho con 
		người có chối bỏ sự hiện hữu của Người, thì Thiên Chúa vẫn luôn còn đó, 
		thì Thiên Chúa vẫn luôn là Thiên Chúa, vẫn luôn là Chúa Tể càn khôn, và 
		vẫn luôn là Thẩm Phán Tối Cao cầm quyền xét xử muôn dân thiên hạ? Tiếp 
		đến, sự thể chủ nghĩa cộng sản vô thần ở Liên Sô cũ và ở các nước Đông 
		Âu bị sụp đổ toàn diện vào đầu thập niên 90 của thế kỷ trước và nước Nga 
		đã thực sự ăn năn trở lại, cũng chính là một chứng từ hùng hồn biện minh 
		cho sự kiện Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, đã hiện ra với ba trẻ chăn chiên ở 
		Fatima vào năm 1917 để gởi tới toàn thể nhân loại những sứ điệp quan 
		trọng và khẩn cấp, là một sự thật hiển nhiên. Vì chính tại Fatima, Đức 
		Mẹ đã loan báo trước là: «Sau cùng Trái Tim Mẹ sẽ toàn thắng… Nước Nga 
		sẽ ăn năn trở lại.»<br>
		<br>
		Trong một cuộc phỏng vấn mới đây, Đức Hồng Y Joachim Meisner, Tổng Giám 
		Mục giáo phận Köln ở Đức đã tâm sự: «Tôi chỉ biết đến Fatima qua nghe 
		nói mà thôi, nên tôi phải thú thật là tôi chẳng thấy tâm hồn rung động 
		gì cả. Nhưng vì tôi mới chuyển từ Berlin về Köln được 9 tháng, trước khi 
		chế độ cộng sản Đông Đức sụp đổ, nên Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã 
		nhờ tôi chủ sự cuộc hành hương vĩ đại vào ngày 13.5.1990 tại Fatima, sau 
		khi chế độ cộng sản cáo chung. Ngài nói rằng tôi là Giám Mục của Berlin, 
		nên cũng làm Giám Mục của hai hệ thống xã hội khác nhau, hệ thống cộng 
		sản và tư bản. Và Đức Thánh Cha nói: ‘Đức Hồng Y rất xứng đáng chủ sự 
		cuộc hành hương Fatima’. Chính ở đây tôi đã khám phá ra được Sứ Điệp đặc 
		biệt của Fatima đối với thế giới tân tiến ngày nay là gì, đó là: Một nửa 
		năm trước khi chế độ cộng sản ở Đông Âu dập tắt đi ánh sáng – ánh sáng 
		đức tin – thì ở phía tận cùng Âu Châu, tức ở Fatima, qua sự hiện ra của 
		Mẹ Thiên Chúa, ánh sáng đó lại được thắp sáng lên cho cả Âu Châu. Và Mẹ 
		Maria đã không hiện ra ở các Đại Học, Mẹ không mang đến cho các vị giáo 
		sư Sứ Điệp của mình, nhưng Mẹ đã hiện ra trong khung cảnh bình thường 
		của cuộc sống hằng ngày vất vả, đến với những em bé nghèo khó, nhưng lại 
		có một tâm hồn đạo đức sống động. Chính các em bé đó đã được Mẹ Maria 
		trao phó cho một Sứ Điệp làm thay đổi Âu Châu và cả thế giới; nói cách 
		khác, nhờ sự phù trợ của Mẹ, chế độ cộng sản đã giải thể, và Mẹ Maria 
		lại thắp sáng lên ánh sáng ở Đông âu. Chính Sứ Điệp siêu nhiên Fatima đã 
		có sức mạnh làm thay đổi cuộc sống chính trị và nhân bản tân tiến ngày 
		nay một cách lạ lùng mà không một nhà chính trị nào có thể ngờ tới 
		được.»(16)<br>
		<br>
		Nếu vậy, ở đây, người ta có cần tự hỏi nữa hay không, là: Phải chăng sự 
		kiện chế độ cộng sản thuộc khối Đông Âu, bắt đầu từ Đông Đức, đã tự 
		thoái hóa và tan rã hoàn toàn cũng vào tháng 10 (năm 1989) chỉ là một sự 
		trùng hợp ngẫu nhiên thuần túy nhân loại?<br>
		<br>
		Nhưng một điều mà người ta có thể khẳng định được một cách chắc chắn 
		rằng, hai biến cố quan trọng có liên quan đến vận mệnh và sự tồn vong 
		của cả nhân loại, cùng đã xảy ra vào tháng 10 năm 1917 – biến cố Đức Mẹ 
		hiện ra với ba trẻ chăn chiên ở Fatima và cuộc nổi dậy của phong trào 
		cộng sản vô thần ở Nga Sô – phải có liên hệ chặt chẽ với nhau, mặc dù 
		hai biến cố đó mang trong mình hai sứ điệp của hai thế giới hoàn toàn 
		đối kháng:<br>
		<br>
		* Một bên đã công khai minh chứng rằng, ngoài thế giới vật chất hữu 
		hình, còn có thế giới siêu nhiên vô hình và vĩnh cửu nữa, và qua đó 
		chứng minh cách mặc nhiên sự hiện hữu của Thiên Chúa Toàn Năng, Đấng đã 
		tạo dựng nên con người và toàn thể vũ trụ, hữu hình cũng như vô hình, 
		trong tình yêu vô biên của Người. Chính Người là Đấng chỉ muốn con người 
		luôn yêu thương nhau và tha thứ cho nhau, để cùng nhau xây dựng một cuộc 
		sống hạnh phúc ngay trên cõi đời này.<br>
		<br>
		* Còn một bên khác lại khẳng định chỉ có thế giới vật chất hữu hình mà 
		thôi. Ngay từ khởi nguyên đã có vật chất, vật chất đã hiện hữu và ngoài 
		vật chất ra không còn gì khác nữa. Qua đó, họ đã phủ nhận hoàn toàn sự 
		hiện hữu của Thiên Chúa Tạo Hóa. Theo họ, tất cả những gì xảy ra trong 
		vũ trụ đều là kết quả tất yếu phát xuất từ những sức mạnh đối kháng nội 
		tại tiềm ẩn trong vật chất, chứ không do bất cứ một sức mạnh toàn năng 
		ngoại tại nào khác. Cũng vì thế, để thiết lập một thế giới lý tưởng và 
		thuần nhất, thế giới cộng sản đại đồng, họ hoàn toàn dựa vào nguyên tắc 
		đối kháng cố hữu, tức sự đấu tranh giai cấp và loại trừ giai cấp bằng 
		bạo động. <br>
		<br>
		Nhưng ngày nay, tuy chủ nghĩa cộng sản không còn là mối đe dọa nguy hiểm 
		thực tiễn cho nhân loại như vào đầu tiền bán thế kỷ XX nữa, nhưng chủ 
		nghĩa duy vật, chủ nghĩa hưởng thụ, chủ nghĩa xác thịt, chủ nghĩa vô 
		thần và chủ nghĩa khủng bố đội lốt tôn giáo do những phần tử Hồi giáo 
		quá khích chủ xướng, v.v…,vẫn luôn là những mối đe dọa vô cùng nguy hiểm 
		cho tương lai và cho sự hạnh phúc chân chính của nhân loại hơn bao giờ 
		hết. Bởi vậy, đối với chúng ta, những con người ngày nay, những lời nhắn 
		nhủ đầy tình mẫu tử của Mẹ Maria ở Fatima xưa kia, càng trở nên thời sự 
		và khẩn trương hơn bao giờ hết, đó là: Ăn năn sám hối, cải thiện cuộc 
		sống; Siêng năng cầu nguyện và lần hạt Mân Côi mỗi ngày; Tôn sùng Trái 
		Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria.<br>
		<br>
		__________________<br>
		<br>
		1. Piô XII: Thông điệp ‘Summi Pontificatus’, 20.10.1939.<br>
		<br>
		2. Piô XII: Thông điệp ‘Divini Redemptoris’, 19.03.1937<br>
		<br>
		3. Fulton J.Sheen: ‘Der Kommunismus und das Gewissen der westlichen 
		Welt’. Morus-Verlag, Berlin 1950, trang 68.<br>
		<br>
		4. Berdjajew: ‚Sinn und Schicksal des russischen Kommunismus’. Vita 
		Nova-Verlag, Luzern 1937, trang 177.<br>
		<br>
		5. Christopher Dawson: ‚Judgment of the Nations’, Sheel and Ward, New 
		York 1942, trang 59.<br>
		<br>
		6. Josef Sellmair: ‘Bildung in der Zeitenwende’.<br>
		<br>
		7. Summi Pontificatus, 20.10.1939.<br>
		<br>
		8. Divini Redemptoris, 19.03.1937.<br>
		<br>
		9. như trên.<br>
		<br>
		10. Walter Schubart: ‚Europa und die Seele des Ostens’. Vita 
		Nova-Verlag, Luzern 1947, tr.107.<br>
		<br>
		11. Hamish Fraser: ‚Fatal Star’, John S. Burns &amp; Sons, Glasgow 1955, tr. 
		78.<br>
		<br>
		12. như trên.<br>
		<br>
		13. ‘Der Bolschewismus, eine Ersatzreligion’, 3. Band der Kongresse 
		‘Kirche in Not.<br>
		<br>
		14. Wetter SJ: ‚Der dialektische Materialismus’, Herder-Verlag, tr. 577.<br>
		<br>
		15. P.F. Kolonski: ‚Kommunistische und religiöse Moral’. 
		Herausausgegeben als ‚Ein Dokument antireligiöser Propaganda aus der 
		Sowjetunion’, vom Bundesministerium für gesamtdeutsche Frage, Bonn 1956<br>
		<br>
		16. Zeitschrift der Fatima-Aktion „Fatima Ruft“, số 194, 3/2006, trang 
		15.</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
	</tr>
</table>
<p align="center">&nbsp;</p>

</body>

</html>

PHP File Manager