File "ChuongII-ThienChua.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/THIENCHUA/ThienChuavaTranThe/ChuongII-ThienChua.htm
File size: 314.48 KiB (322026 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<LINK rel="stylesheet" href="../Suyniemmoingay/_common/colours.css" type="text/css">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">

<title>Thien Chua - Thiên Chúa và Trần Thế</title>
<style>
<!--
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Arial","sans-serif";
	}
-->
</style>
<meta name="keywords" content="Năm Bánh - Hai Cá - Giêsu Kitô; tinmung.net; dongcong.net, suy niệm mỗi ngày">
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../_themes/network/netw1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="network 1011">
</head>

<body>

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="10" bgcolor="#FFFFF2" cellpadding="10">
	<tr>
		<td style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 12pt; font-weight: bold; border-left-style:solid; border-left-width:1px; border-right-style:solid; border-right-width:1px; border-top-style:solid; border-top-width:1px">
		<p align="center"><font color="#FF0000">CHƯƠNG II:</font></p>
		<p align="center"><font color="#FF0000">THIÊN CHÚA</font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 12pt" align="justify">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thưa Hồng 
				Y, tiến bộ khoa học ngày càng lột trần những bí ẩn của tạo dựng. 
				Dù vậy, tạo dựng luôn vẫn là một ẩn số đối với ta. Tại sao Chúa 
				không hiện ra một lần và nói: „Này các con hãy nghe! Hôm nay Ta 
				cho các con biết vũ trụ đã hình thành như thế nào và trái đất tí 
				hon của các con vận hành ra sao“?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Quả thật tạo dựng là 
				một ẩn số; và ta càng biết thêm về nó, khoa vật lí càng đi sâu 
				vào cấu trúc tế vi của vật chất, tạo dựng càng trở nên bí ẩn. 
				Thêm nữa, lịch sử không thể hiểu và không thể lường của loài 
				người cũng là một vũ trụ đầy bí ẩn. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hẳn nhiên, cuối cùng 
				rồi thì ta vẫn không thể trả lời được câu hỏi: &quot;Tại sao Chúa lại 
				làm như thế?” Tại sao Ngài lặng lẽ như thế? Tại sao Ngài bất lực 
				như thế trong trần gian? Đó là câu hỏi mà chính người có đức tin 
				luôn phải đặt ra. Hay: Tại sao Ngài không tỏ ra dứt khoát và rõ 
				ràng hơn? Nhưng mặt khác, ta phải biết phận ta là hữu hạn. Nếu 
				bỗng dưng thế giới bị lột trần hoàn toàn ra trước mắt ta, và 
				việc lột trần đó vượt quá trí hiểu của ta, thì rồi các thắc mắc 
				trên cũng vẫn không thể lí giải. Thành ra, ta chỉ có thể cố gắng 
				chấp nhận Chúa như Ngài vẫn là, và rồi qua Ngài ta tìm ra ý 
				nghĩa. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ý nghĩa 
				nào?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi tin rằng, khi ta 
				mạo hiểm vào một lịch sử mà rốt cuộc vẫn không thể hiểu nó nổi, 
				nhưng biết rằng lịch sử đó được tình yêu Chúa nâng đỡ và hướng 
				dẫn, thì rồi với thời gian, ta sẽ nhìn ra từng phần. Mạo hiểm đó 
				là một công tác phù hợp Chúa trao cho loài người chúng ta. Vấn 
				đề không phải là để ta có được một sản phẩm tính toán tiền chế 
				ẩn dấu đâu đó, nhưng là ta bước vào một con đường, và trên con 
				đường đó, chính chúng ta có thể đóng góp vào cái bí ẩn và lớn 
				lao của thế giới. Tôi nghĩ, Chúa đã ban cho ta đủ vốn liếng để 
				ta có thể sống. Và giới hạn nhận thức của ta không chỉ là một 
				thách đố, mà cũng là một quà tặng. Nó dẫn ta vào cuộc phiêu lưu 
				của tiếp tục lên đường, của học hỏi, nhờ đó các chiều kích nơi 
				ta lớn lên dần. Nhưng điều kiện đặt ra ở đây, là phải luôn khiêm 
				tốn cúi mình trước Thiên Chúa, đấng mà ta không thể thấu hiểu.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<a name="1._CON_NGƯỜI__">
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">1. CON 
				NGƯỜI </span></a></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhà thần 
				học Hans Urs von Balthasar<sup>*</sup> cho rằng, mọi điều có thể 
				được nhìn dưới hai mặt, chúng vừa là dữ kiện vừa là bí ẩn. Ông 
				nói: con người, nếu nhìn như một dữ kiện, thì nó là một sản phẩm 
				ngẫu nhiên bên lề vũ trụ. Nhưng nếu nhìn như một bí ẩn, thì đó 
				là tạo vật được Chúa sinh ra vì chính ơn ích của nó. Lối nhìn đó 
				có phải là nền tảng giúp ta tiếp cận được nhân sinh quan và thế 
				giới quan Ki-tô giáo không?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đúng, tôi muốn nói như 
				thế. Thoạt tiên, chúng ta thấy những dữ kiện, nghĩa là thấy được 
				thực tại như nó có. Lịch sử cũng được nhìn như vậy, trong đó 
				thật ra mọi chuyện cũng có thể xẩy ra một cách khác. Nhưng con 
				người không ai bằng lòng mình chỉ là dữ kiện. Là vì, ngoài việc 
				biết mình tiên vàn là một dữ kiện thuần tuý, mọi người trong 
				chúng ta đồng thời cũng biết mình không phải chỉ có thế, mà còn 
				là gì hơn thế nữa, và sự có mặt của mình không phải là một ngẫu 
				nhiên.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vì thế, không nhất 
				thiết phải nhìn con người dưới khía cạnh dữ kiện thuần tuý, rồi 
				bảo rằng, con người chỉ là sinh vật bị trò chơi tiến hoá ném vào 
				thế giới. Không, mọi người đều là sản phẩm mong muốn. Mỗi người 
				là một ý nghĩ của Thiên Chúa. Tất cả mọi sự, thoạt tiên xuất 
				hiện như một dữ kiện, đều được tác động bởi một chương trình và 
				một ý nghĩ. Và nhờ có ý nghĩnày mà cuộc tìm kiếm ý nghĩ riêng 
				của tôi, và việc tôi bước đi cùng với toàn thể cũng như với 
				đường đi của lịch sử trở nên có ý nghĩa. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Mỗi người 
				là một ý nghĩ của Chúa. Nghiã là sao?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vâng, đó là xác tín 
				nền tảng của Ki-tô giáo. Khi Kinh Thánh dùng hình ảnh để trình 
				bày việc tạo dựng con người: nó được người thợ Thiên Chúa nặn ra 
				và thổi tinh thần vào, thì đó là hình ảnh mẫu được áp dụng cho 
				từng người một. Con người nói về mình trong Thánh Vịnh: Ngài đã 
				tạo ra tôi bằng bùn đất ; Ngài đã thổi hơi cho tôi. Điều này nói 
				lên rằng, mỗi người có một giao tiếp trực tiếp với Chúa. Và như 
				vậy, mỗi người đều mang một vai trò đầy ý nghĩa trong cấu trúc 
				to lớn của lịch sử thế giới, mỗi người đều được đặt để vào một 
				vị trí riêng, và với vị trí đó, nó có thể đóng góp phần không 
				thể thay thế được của mình vào cái toàn thể của lịch sử. </span>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">HƠI THỞ 
				THIÊN CHÚA </span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Sách Sáng 
				Thế viết: Lúc đầu, địa cầu lạnh lẽo và trống không. Thiên Chúa 
				chưa cho mưa xuống. Giờ đây Ngài dựng nên con người, và để làm 
				chuyện đó, Ngài lấy „bụi đất và thổi hơi sự sống vào mũi, nhờ 
				vậy con người trở thành vật sống động“. Hơi sự sống – có phải là 
				câu trả lời cho ta về phát nguyên của con người?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi tin đó là một hình 
				ảnh hết sức lớn và là một tiên đoán quan trọng về con người. 
				Theo đó, con người bắt nguồn từ đất và từ các khả thể của đất. 
				Đoạn phim này ta cũng có thể đọc nó như một thứ tiến hoá. Nhưng 
				không chỉ có thế mà thôi. Một thứ gì nữa đã được thêm vào; nó 
				chẳng phải là đất mà cũng không thể tự phát triển thêm, nhưng là 
				một cái gì hoàn toàn mới: và đó chính là hơi thở Thiên Chúa.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cơ bản của bức tranh 
				trên là tính hai mặt của con người. Con người vừa thuộc vào vũ 
				trụ, vừa trực tiếp với Chúa. Đức tin Ki-tô giáo cho hay, điều 
				được thông báo cho con người đầu tiên ở đây cũng có giá trị cho 
				từng người một. Nghĩa là mỗi người là một sinh vật, nhưng đồng 
				thời nó còn có cái gì hơn là một sản phẩm gồm những di tử (Gene) 
				và chuỗi DNA, nó là cái gì đến trực tiếp từ Thiên Chúa. </span>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Con người mang hơi thở 
				Thiên Chúa. Nó có thể giống Thiên Chúa, nó có thể vượt lên trên 
				vật chất, vượt lên trên cái được tạo thành. Nó là thứ có một 
				không hai. Nó được Thiên Chúa đoái hoài và được xếp một cách đặc 
				biệt vào cùng loại với Ngài. Qua con người, quả thật một hơi thở 
				mới, hơi thở Thiên Chúa, đã đi vào tạo dựng. Có nhìn con người 
				là tạo vật đặc thù của Chúa như thế, ta mới thấy được nét độc 
				nhất và phẩm giá của nó, và qua đó, mới nhận ra được nền tảng 
				của mọi nhân quyền. Có như thế, con người mới có được sự kính 
				trọng đối với chính mình và với kẻ khác. Nó mang hơi thở của 
				Chúa. Nó biết rằng, nó không chỉ là một kết hợp các vật liệu 
				kiến trúc, mà còn là một ý nghĩriêng tư của Thiên Chúa. </span>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Con người 
				đầu tiên được Chúa thở hơi mang tên Adam,theo tiếng Hi-lạp nghĩa 
				là người, đồng thời cũng là Adama, một lối chơi chữ, có nghĩa là 
				đất. Sách ghi, Thiên Chúa đã lập nên một mảnh vườn trong địa 
				đàng cho con người đó. Có phải hình ảnh biểu trưng đó đã nói lên 
				mục đích sinh thành của con người?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hẳn nó cho chúng ta 
				biết về chuyện đó. Vườn biểu tượng cho tạo dựng lành lặn và cuộc 
				sống an toàn. Trong đó tạo dựng không bị phá hoại hay bị lợi 
				dụng, nhưng được chăm sóc và che chở - và được tiếp tục hình 
				thành về mặt tinh thần. Hình ảnh đó nói lên tất cả tầm xa, nét 
				tươi vui và sự chở che trong tạo dựng. Nó cho hay, Chúa muốn cho 
				ta sống hài hoà với tạo dựng và được sống an toàn bên Ngài. Như 
				thế, nó cho thấy hai khía cạnh nơi con người: là kẻ canh giữ tạo 
				dựng, đồng thời có quan hệ trực tiếp với Chúa, để có thể nhờ 
				Ngài và cùng với Ngài chia sẻ gánh tạo dựng. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Sách 
				Khởi-nguyên cho thấy tạo dựng là một tiến trình. Mọi chuyện được 
				hình thành từng bước. Và trong tiến trình đó Chúa nhận thấy „con 
				người ở một mình không tốt. Ta muốn giúp nó có đối vật để hỗ trợ 
				nó“. Vì thế Ngài đã dùng đất tạo ra muôn thú trên đồng và muôn 
				chim trên trời và đưa chúng cho con người, để xem con người muốn 
				đặt tên gì cho chúng. Một cơ hội tốt để nói về thú vật, là loài 
				sống gần với ta. Adam đặt cho mỗi loài một tên. Ta có được phép 
				sử dụng thú vật và ăn thịt chúng không?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đây là một câu hỏi rất 
				nghiêm túc. Rõ ràng loài vật được trao cho ta canh giữ, và ta 
				không được đối xử một cách tuỳ tiện với chúng. Cả loài thú cũng 
				là tạo vật của Chúa, tuy chúng không được tạo ra trực tiếp như 
				con người, nhưng vẫn là những vật do Ngài muốn, và ta phải quý 
				trọng chúng như là những kẻ đồng hành và như những thành tố quan 
				trọng của tạo dựng. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Về câu hỏi có được 
				phép giết và ăn thịt thú không, đã có câu trả lời lạ lùng trong 
				Kinh Thánh. Theo đó, thoạt tiên của ăn của loài người là cây cỏ. 
				Chỉ sau khi xẩy ra nạn hồng thuỷ, nghĩa là sau cuộc đứt đoạn mới 
				giữa con người với Chúa, Ngài mới để cho con người tự quyết định 
				việc ăn thịt thú vật. Điều này có nghĩa là, ăn thịt thuộc vào 
				trật tự hạng hai và nó cũng chỉ được thông báo về sau. Dẫu sao, 
				nếu việc ăn thịt thú có làm buồn lòng một người nào, ta cũng 
				không nên để mình trở nên môn đồ của phái thờ thú vật. </span>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nghĩa là con người 
				cũng được phép ăn thịt thú. Không ai cấm họ dùng thú làm của ăn, 
				nhưng khi làm điều đó, họ nên giữ lòng quý trọng thú vật. Còn 
				cái lối dùng thú như kĩ nghệ làm, như nhồi nhét cho ngan ăn để 
				có gan lớn, hay khoá gà trong chuồng biến chúng thành những con 
				vật dị hợm, cái lối hạ sinh vật xuống thành hàng hoá đó, tôi cho 
				rằng phản lại sự tương thuộc giữa người và thú, như Kinh Thánh 
				đã chỉ cho ta thấy. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thế giới 
				thú vật quả là một tạo dựng đầy man rợ. Ai cũng biết, có những 
				loài thú có thể bất cứ lúc nào cũng săn đuổi, cắn xé và giết 
				đồng loại. Con nào thoát, con đó thật sự có được cơ hội lớn để 
				huỷ diệt con khác.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Quả là một ẩn số của 
				tạo dựng, khi xem ra trong tạo dựng có sự hiện diện của quy luật 
				bạo tàn. Nhà văn công giáo Reinhold Schneider, người vốn có 
				khuynh hướng suy nhược thần kinh, đã lột trần mọi cái khủng 
				khiếp trong thiên nhiên và trong thế giới loài thú ra cùng với 
				cái nhìn thật chi li của một con người đau khổ. Và ông đã tuyệt 
				vọng về Chúa và về tạo dựng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Giáo Hội vẫn luôn tin 
				rằng, sự rối loạn của tội tổ tông ảnh hưởng cả lên tạo dựng. Nó 
				khiến cho tạo dựng không còn phản ảnh í định trong suốt của 
				Thiên Chúa nữa. Nó làm cho mọi thứ, một cách nào đó, bị biến 
				dạng. Thành ra chúng ta đứng trước những bí ẩn. Dù sao, thế giới 
				loài vật cũng đã gợi lên cho ta thấy trước những nguy hại có thể 
				có nơi con người. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">NGƯỜI NAM 
				VÀ NGƯỜI NỮ </span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Theo sách 
				Khởi-nguyên, kể từ đây thế giới có lẽ mới được trở thành là thế 
				giới loài người. Chúa tiếp tục tạo ra các đối vật cho con người, 
				và Kinh Thánh khoác cho hành vi đó một bức tranh tuyệt mĩ. Kinh 
				Thánh viết: „Nhưng con người không tìm thấy sự hỗ trợ trong đối 
				vật“. Chúa liền để cho con người ngủ say, rút một xương sườn ra 
				và lấy thịt lấp chỗ đó lại. Thiên Chúa dùng xương sườn này làm 
				thành một người nữ và đưa tới cho Adam. Và con người thốt lên: 
				„Đây mới thật xương của xương tôi, thịt từ thịt tôi“. Kinh Thánh 
				tiếp, từ đó người nam bỏ cha mẹ và hợp với vợ mình để thành một 
				xương thịt. </span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Adam, theo ngữ nghĩa 
				là „người”, gọi vợ mình là Eva. Eva có nghĩa là sự sống, và như 
				thế Eva là mẹ của mọi loài sinh vật. Có lẽ cho tới ngày nay, các 
				ông vẫn còn cảm thấy mất mát về vụ tặng xương đó, hình như trong 
				chuyện này ẩn chứa một bí mật lớn nào đó ?</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đây cũng là một trong 
				những hình ảnh nguyên mẫu mà Kinh Thánh đã tặng cho ta, để nhờ 
				đó ta hiểu được những điều khó hiểu. Trước hết, ở đây nhấn mạnh 
				tới sự bình đẳng giữa nam và nữ. Cả hai là một bản chất và cùng 
				có một phẩm giá. Dù sao, ở đây, sự bình đẳng phẩm giá đã được 
				trình bày một cách thật tài tình. Điểm thứ hai là sự tương thuộc 
				lẫn nhau. Điều này thể hiện qua vết thương hiện hữu trong mỗi 
				chúng ta và nó dẫn ta đi tới với người khác. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hình ảnh, mà ta gặp 
				trong Kinh Thánh ở đây, đã xuất hiện dưới nhiều dạng khác nhau 
				trải dài trong toàn bộ lịch sử tôn giáo. Cả Platon</span><sup><span style="font-size: 12.0pt; font-family: Symbol" lang="VI">*</span></sup><span style="font-size: 12.0pt" lang="VI"> 
				cũng đã kể về huyền thoại con người cắt đôi và mỗi nửa trở thành 
				người nam và người nữ. Nhìn như thế, thì mỗi người chỉ là một 
				nửa, và nửa này luôn trên đường đi tìm nửa kia của nó. Dịch chữ 
				„xương sườn“ không chắc lắm. Có lẽ ở đây cũng là hình ảnh tương 
				tự như trên, trong đó con người tự phân đôi và nửa này được tạo 
				thành cho nửa kia. Người nam cho người nữ, người nữ cho người 
				nam. Họ tìm kiếm nhau, để gặp lại cái toàn thể của họ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Và nếu 
				làm khác đi thì không có cái toàn thể đó?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Con người được tạo ra 
				trong nhu cầu cần tới người khác, để nó vượt qua được chính 
				mình. Nó cần sự bổ túc. Nó không được tạo ra để sống đơn độc, 
				điều này không tốt cho nó, mà để sống vì nhau. Nó phải tìm và 
				gặp nó trong người khác.Sau đoạn sách Khởi-nguyên đó, ta cũng 
				thấy tiếp câu tiên tri: vì thế người nam sẽ bỏ cha mẹ để cùng 
				với vợ mình kết thành một thân xác. Họ trở thành một thân xác 
				với nhau, cùng nhau thành một con người. Toàn bộ bi kịch về nhu 
				cầu của phái tính, về sự cần nhau, về tình yêu đều nằm trong đó. 
				Ngoài ra, trong đó cũng nói tới việc hai người trao thân cho 
				nhau, để chính từ việc trao thân này phát sinh một sự sống mới, 
				và cả hai rốt cuộc hiến mình cho sự sống mới đó. Như thế, ở đây, 
				bí ẩn hôn nhân cũng đã được nói tới, và cả chuyện gia đình cũng 
				đã được nhắm tới. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Lắm lúc 
				người ta có thể nghĩ rằng, đàn bà là tạo vật thành công và tốt 
				hơn đàn ông, vì họ được tạo dựng sau. Họ xem ra không những đẹp 
				hơn, mà cả phát triển hơn.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi không muốn mở ra 
				đề tài tranh luận này. Không chối cãi là đàn bà có nhiều khả 
				năng đặc biệt, và trong một khía cạnh nào đó, giỏi chịu đựng và 
				dai sức hơn. Và với khả năng yêu đặc biệt trời cho, họ có thể 
				mang trong mình một con người mới và trao đi chính mình, máu 
				thịt mình cho con người mới đó, tất cả những thứ đó làm cho 
				người đàn bà có được sự tôn vinh và nét cao cả riêng. Còn những 
				thứ khác, chúng ta nam hay nữ nên trao lại cho Chúa, và cả hai 
				nên cố gắng cùng nhau sống sao cho đời mình được tốt đẹp.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Trên thực 
				tế, có lẽ cả nam lẫn nữ không phải là hai bản chất hoàn toàn 
				khác nhau?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đúng, nhưng chúng ta 
				cứ muốn chống lại điều đó. Cả hai đều là một con người. Và vì 
				thân xác không chỉ là một phụ phẩm bên ngoài thêm vào cho con 
				người, nên sự khác biệt thân xác dĩ nhiên là một khác biệt xuyên 
				suốt toàn thể con người, và có thể nói, nó biểu hiện cho hai 
				cách thế làm người. Tôi nghĩ, ta phải chống lại những thuyết sai 
				trái về quan niệm bình đẳng cũng như về khác biệt.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Sai, nếu ta chủ trương 
				đánh đồng nam nữ, rồi bảo rằng mấy cái khác biệt thể lí lẻ tẻ đó 
				chẳng ăn nhập gì. Đây là khuynh hướng ngày nay đang chiếm thế 
				thượng phong. Cá nhân tôi vẫn chưa hết rùng mình trước cảnh 
				người ta muốn gọi nữ giới nhập ngũ. Đúng ra, họ là người canh 
				giữ hoà bình, và chúng ta muốn thấy họ là lực lượng đối địch lại 
				với tính ham gây gỗ và thích chiến tranh của nam giới. Vậy mà 
				giờ đây họ lại ôm súng lang thang đây đó, cho thấy mình cũng có 
				khả năng đánh nhau không thua gì nam giới. Cũng như cảnh phụ nữ 
				có “quyền” làm phu đổ rác và làm thợ mỏ. Tất cả những gì lẽ ra 
				người ta không nên làm cho họ, vì kính trọng nét cao cả, kính 
				trọng sự khác biệt lớn lao và phẩm giá của họ, thì giờ đây người 
				ta lại làm vì nhân danh bình đẳng. Theo tôi, đó là cái nhìn của 
				chủ nghĩa ma-ni-kê, một chủ nghĩa chống lại thân xác. </span>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhưng đó 
				nhất định không phải là một khám phá của thời đại chúng ta.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Platon bảo, người ta 
				nên đẩy cả nam lẫn nữ vào trại lính, cả hai nên làm công việc 
				như nhau, vì cơ thể chẳng có gì quan trọng. Con người chỉ quan 
				trọng nơi trí tuệ, và khi có con cái, nên đưa chúng vào vườn trẻ 
				của nhà nước. Trên căn bản, ý hệbình đẳng này là một chủ trương 
				duy linh, một thứ khinh miệt thân xác, ý hệđó không muốn công 
				nhận chính thân xác cũng là con người. Vì thế, theo tôi, loại 
				bình đẳng đó không nâng cao nữ giới, nhưng lấy đi nét cao cả nơi 
				họ. Nó kéo họ xuống hạng tầm thường, khi muốn họ trở thành nam 
				giới.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Mặt khác, cũng có một 
				ý hệgiả tạo về khác biệt. Nó thường nhìn phái nữ như là hạng 
				người thấp kém, chỉ có nấu nướng và quét dọn, trong khi đó các 
				ông có quyền ăn nói, ra trận và tự coi mình ở vào một giai cấp 
				cao hơn. Nó coi phái nữ chỉ là xác thịt, nhục dục, trí tuệ hẹp 
				hòi, kém sáng tạo, và nhiều thứ khác nữa. Như thế, ý hệkhác biệt 
				đã vươn lên thành chủ trương giai cấp mang tính tôn giáo. Nhận 
				thức đó che lấp đi tính cách độc đáo của tạo dựng. Tạo dựng của 
				Chúa thật đa dạng, nhưng vẫn mang tính thống nhất và bổ túc cho 
				nhau. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Dù vậy, 
				không ít khi các đôi vợ chồng thường chia tay bằng cuộc cãi cọ 
				nhuốm màu phái tính.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nam và nữ thuộc vào 
				nhau. Họ có những năng khiếu cần được phát huy, để nhờ đó, đời 
				người mới toả rộng chân trời và mới trưởng thành. Dĩ nhiên, ta 
				biết cái khác biệt trong sự nhất thống đó có thể đưa tới căng 
				thẳng và thử thách. Trong mỗi tình bạn cũng thế. Càng gần nhau, 
				người ta cũng có thể bực bội nhau nhiều hơn. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tình yêu là một đòi 
				hỏi không cho phép tôi được yên thân nguyên vẹn một mình. Trong 
				tình yêu, tôi không thể đơn giản vẫn là tôi, nhưng tôi luôn phải 
				bỏ mình bằng cách bị gọt dũa, bị thương tích. Và tôi nghĩ, chính 
				điều đó cũng là thành phần của tầm lớn và sức mạnh chữa trị của 
				tình yêu, nó chấn thương tôi, để làm thức dậy những khả thể lớn 
				hơn trong tôi. Vì thế, không được nghĩ rằng tình yêu chỉ có tính 
				lãng mạn mà thôi, nghĩa là bầu trời đã ập xuống trên hai người 
				khi họ hợp í nhau, và từ lúc đó trở đi, chỉ còn toàn là điều tốt 
				mà thôi. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phải coi tình yêu như 
				đam mê. Chỉ khi ta sẵn sàng chịu đựng nó như đam mê, và luôn 
				chấp nhận nhau một cách mới mẻ, thì cuộc tình duyên suốt đời mới 
				có thể trưởng thành. Nếu không như thế, khi gặp khủng hoảng, ta 
				sẽ tìm cách tránh né và rã nhau. Và như vậy, ta đánh mất cơ hội 
				đích thực nằm sẵn trong sự kết hợp nam nữ, cũng là cơ hội nằm 
				sẵn trong thực tại tình yêu. <span style="color:maroon">&nbsp;</span></span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">BÊN KIA 
				ĐỊA ĐÀNG - TỘI TỔ TÔNG </span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Chúng ta 
				đã nói tới một chệch hướng nào đó đã xẩy ra trong tạo dựng. Cái 
				nhìn đó là nền tảng cho giáo huấn về tội tổ tông, do thánh 
				An-tịnh hình thành. Giáo huấn dạy, vì tội Adam ngảnh mặt lại với 
				Chúa và Eva bị cám dỗ ăn trái cây hiểu biết, nên sự chết và tội 
				đã đi vào thế gian. Xưa nay, người ta vẫn luôn tranh cãi gay gắt 
				về giáo huấn này, kể cả trong Giáo Hội. Sách Khởi-nguyên còn 
				nói, con người bỗng dưng sợ Chúa. Phải chăng tội tổ tông quả là 
				nét bản chất nền tảng nhất của con người không?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không, tội tổ tông 
				không phải là nét bản chất nền tảng nhất, nhưng nó là một thực 
				tại mà ta có thể cảm nhận được sự hiện diện của nó – cả cho dù 
				ta chỉ nhận ra nguồn gốc phát sinh của nó qua hình ảnh mà thôi. 
				Một người bạn tôi đã khuất, ông ta là tay phê phán rất gay gắt, 
				có lần nói với tôi: Tôi quả gặp khó khăn với nhiều tín điều. 
				Nhưng có một tín điều mà tôi chả cần phải tin, là vì tôi cảm 
				nhận nó hàng ngày, đó là tội tổ tông.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Qua những suy tư về 
				con người trên đây, ta luôn nhận ra một nếp gẫy, một gián đoạn 
				nào đó nơi con người, khiến nó không trở nên được như nó có thể 
				trở nên. Sách Khởi-nguyên xem nếp gẫy đó như thể là một thời 
				điểm khởi đầu lịch sử. Kinh Thánh Cựu Ước chưa coi điều đó là 
				hậu quả của tội nguyên, nhưng Cựu Ước càng ngày càng gây nơi ta 
				ý thứcrằng, con người luôn hướng về sự dữ. Và trong Kinh Thánh, 
				chính Chúa đã nói trước và sau cơn hồng thuỷ: “Ta thấy chúng chỉ 
				là xác thịt, chúng yếu ớt, chúng ngã theo sự dữ”.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Giáo huấn tội nguyên 
				do An-tịnh đưa ra, đúng, nhưng căn bản nội dung của nó đã nằm 
				sẵn trong thư gởi Rô-ma của thánh Phao-lô. Phao-lô một lần nữa 
				đọc câu chuyện trong Khởi-nguyên dưới ánh sáng Đức Ki-tô. Và 
				ngài nhận ra toàn bộ lịch sử đã được kể ra qua câu chuyện khởi 
				đầu đó. Ngài bảo, ngay từ đầu, con người đã mang nỗi kiêu căng 
				cho rằng mình đã nắm được chìa khoá hiểu biết, chẳng cần gì Chúa 
				nữa, cũng chẳng cần chìa khoá mở ra sự sống, chẳng phải chết 
				nữa, và vân vân. Từ việc rút lui khỏi Chúa, con người rốt cuộc 
				trốn mặt Ngài. Lòng tín thác của tình yêu bỗng dưng trở thành 
				nỗi sợ hãi trước một Thiên chúa đáng sợ và quá quyền uy. </span>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nghĩa là, 
				ngay từ đầu, con người bị khống chế bởi ám ảnh của sự hiểu biết, 
				và đó là tất cả cái bất hạnh của con người?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đối với Phao-lô, câu 
				chuyện trong sách Khởi-nguyên rõ ràng minh chứng cho thấy cái 
				gián đoạn nơi con người, lạ thay, đã có ngay từ đầu. Nó là kết 
				quả của toàn bộ lịch sử con người, mà ta phải biết tới. Tuy 
				nhiên, kết quả đó chỉ có thể được trình bày ra và nghĩ ra một 
				cách rõ ràng đầy đủ, một khi lực đối đầu xuất hiện. Nghiã là chỉ 
				sau khi Đức Ki-tô đến và đi ngược lại nó, thì cái gián đoạn kia 
				mới có thể gánh chịu được, và có thể nói, mới được công nhận, 
				vấn đề là thế.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cũng thuộc thư gởi 
				Rô-ma của Phao-lô còn có thư gởi Phi-líp, chương hai, như một 
				bài thánh ca của Ki-tô giáo sơ khai, (thư này) xuất hiện trước 
				Phao-lô. Theo thư này, Adam giờ đây muốn giật lấy chìa khóa hiểu 
				biết cho mình, và như vậy là muốn chiếm đoạt những gì dành riêng 
				cho Chúa. Adam muốn cao bằng Chúa và chẳng cần Ngài nữa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng Thiên Chúa đã 
				tạo ra một lịch sử đối nghịch, khi Ngài xuống trần qua Đức 
				Ki-tô, sống thân phận nghèo hèn con người cho tới chết trên thập 
				giá. Qua đó, Ngài lại mở ra cánh cửa giúp ta có thể quay về với 
				Chúa, và giúp ta nhận ra kiêu căng chính là hạt nhân mọi tội 
				lỗi. Ngài đã cùng đau với ta, để kéo ta vào lại trong cộng đoàn 
				gia đình Ngài. Vì thế, tôi tin rằng, ta không bao giờ được tách 
				tường thuật Khởi-nguyên ra khỏi lịch sử Đức Ki-tô, khi đọc sách 
				đó. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhưng, 
				sau cái chết của Đức Ki-tô chết trên thập giá, tội tổ tông vẫn 
				không được bứng ra khỏi thế gian.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không, nó vẫn còn đó, 
				ai cũng thấy. Nhưng trước đây, nó là vật cản bí ẩn và là nếp gẫy 
				mà ta không vượt qua được, thì giờ đây đã có câu trả lời qua sức 
				mạnh thứ tha của Chúa. Sức mạnh này làm cho hoạt động của ta, 
				cuộc sống ta, việc làm của ta trở nên không phải vô ích. Nhưng 
				nó đưa chúng vào một nội dung khác, và như vậy, nó cũng đề ra 
				cho chính chúng ta một mẫu sống đức tin. Nếu ta sống theo nó, 
				nghĩa là cùng bước đi với Đức Ki-tô, ta sẽ vượt qua được mọi vật 
				cản, mọi nếp gẫy. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tuy 
				nhiên, Thiên Chúa không những cất đi ơn nên thánh khỏi Adam và 
				Eva, mà còn khỏi cả nhân loại. Tại sao? Chúng ta là hậu sinh, 
				đâu có tội tình gì?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Quan trọng là phải 
				hiểu chữ tổ tông hay sự hiện hữu liên tục của nếp gãy nơi con 
				người như thế nào. Chắc chắn các câu trả lời của ta cũng chẳng 
				giải toả được hết mọi điều. Nhưng ta hãy bắt đầu với từ ơn nên 
				thánh. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Mất ơn đó, có nghĩa là 
				tương giao bị gián đoạn. Ta mất sự liên lạc đầy tin cậy và sống 
				động với Chúa. Liên lạc này là cội nguồn và có lực chữa lành mọi 
				liên lạc giữa người với người. Mất liên lạc, Chúa trở thành lu 
				mờ trong ta. Ta trốn Ngài, và vì lô cốt của ta xây kĩ quá, nên 
				ta cũng chẳng còn thấy Ngài nữa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chúng ta sinh ra trong 
				gián đoạn liên lạc đó, trong thế giới đổ vỡ quan hệ đó. Và ta 
				thấy Kinh Thánh diễn tả điều đó một cách tâm lí tuyệt hay, khi 
				kể rằng, sau vụ phạm tội, Adam và Eva lập tức đổ lỗi cho nhau 
				trước mặt Chúa. Như thế, gián đoạn tương giao với Chúa tức khắc 
				khiến con người đâm ra chống đối nhau. Bởi vì ai chống Chúa, kẻ 
				đó cũng chống lại người khác. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Như vậy, mất ơn nên 
				thánh như là hạt nhân của tội nguyên tổ có nghĩa là một gián 
				đoạn tương giao đã xẩy ra, và gián đoạn này đã trở thành một 
				thành phần của cấu trúc lịch sử con người. Dĩ nhiên, mỗi chúng 
				ta chẳng có lỗi gì trong chuyện này, nhưng vì chúng ta được sinh 
				ra trong đó, nên ta cần đến người tái lập tương giao kia. Và vì 
				Chúa chẳng muốn hành hạ hay tra tấn hoặc phạt con người, nên 
				Ngài đã tự mình nối lại tương giao, và qua đó, sửa lại cái đã đổ 
				vỡ. Khi ta nói về tội nguyên tổ, nghĩa là nói về cái tương giao 
				đổ vỡ mà ta bị thẩy vào trong đó, ta phải luôn nói thêm, là Chúa 
				cũng đã khởi sự lập tức nối lại và chữa lành lại tương giao đó. 
				Nếu nói tới tội nguyên, mà không đề cập gì tới câu trả lời của 
				Chúa, thì quả ta rơi vào vòng phi lí.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Kinh 
				Thánh viết tiếp, cả hai liền mở mắt ra “và nhận thấy mình trần 
				truồng. Họ kết lá cây vải làm khố che thân”. Tôi nghĩ, quả là 
				chuyện khó chấp nhận, một huyền thoại thật cổ xưa và cơ bản như 
				thế mà lại dính tới chuyện đạo đức thái quá như thế?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không, chắc chắn 
				không. Bức tranh đó nói lên rằng, con người không còn ở trong 
				hào quang của Chúa nữa, họ cũng không còn nhìn nhau dưới hào 
				quang đó nữa, họ thấy nhau như trần truồng và chẳng còn có thể 
				chấp nhận nhau dễ dàng nữa. Tình trạng bình thường của tương 
				giao, cả ở đây nữa, cũng bị chấn thương. Chúng ta dấu mặt nhau 
				qua tấm áo, hay nói khác đi, phải chứng minh cho nhau qua những 
				yếu tố xã hội bên ngoài. Như vậy, tấm áo trở nên biểu trưng cho 
				chính con người đó, ta muốn dùng nó để tạo lại một cách bề ngoài 
				phẩm giá bên trong đã bị thương tích của ta.Bức tranh hàm chứa 
				một khoa thần học hay triết học về quần áo. Bức tranh đó hẳn 
				cũng nói lên một cái nhìn thâm sâu về nhân chủng, mà tôi tin 
				rằng, ta còn phải suy nghĩ lại trong từng điểm một. Nhưng, bảo 
				rằng tội nguyên tổ đã tạo ra cái đạo đức quá đáng kia, thì chắc 
				chắn không đúng. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">LINH HỒN&nbsp;</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ta từ đâu 
				tới, ta như thế nào, đó là những câu hỏi nền tảng của con người. 
				Thánh An-tịnh đã nói lên thao thức đó. Rất lâu trước Sigmund 
				Freud<sup>*</sup>, An-tịnh đã thích thú tìm hiểu hai điều, như 
				chính ngài nói: “Tôi chỉ muốn biết Chúa và linh hồn mà thôi, 
				ngoài ra chẳng có gì nữa”. </span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Câu 
				chuyện tạo dựng phân biệt ra hai thế giới lớn. Thế giới của 
				những gì thuộc thân xác, và thế giới những gì thuộc thần linh. 
				Con người ở giữa, dự phần cả hai thế giới. Nó được tạo thành bởi 
				xác và hồn. Và hồn này mang tính thiêng liêng. Tắt lại, có thể 
				nói được đó là hai thành tố chính của con người không?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đúng. Con người là cây 
				cầu nối liền hai thế giới. Nó là nơi hội tụ của hai thế giới vật 
				chất và tinh thần, và nhờ vậy, nó có một vị trí đặc biệt trong 
				toàn bộ cấu trúc của tạo dựng. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Qua con người, vật 
				chất tự nâng mình lên nhập vào lãnh vực tinh thần, và qua sự nối 
				kết đó, cả hai cho thấy cũng phù hợp với nhau. Vật chất không 
				còn được xem là cái gì biệt lập và không thể nối kết được với 
				tinh thần. Qua nối kết này, sự nhất thống của tạo dựng đã tỏ 
				hiện ra nơi con người. Con người, nhờ vậy, đã nhận được một 
				nhiệm vụ rất đặc biệt: Là kẻ đồng mang sự nhất thống của tạo 
				dựng, nó nhập thể tinh thần vào mình, và ngược lại, nâng vật 
				chất lên tới Chúa. Và như vậy, tất cả trong mọi sự, con người 
				góp phần vào bản đại hoà tấu của tạo dựng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Người ta 
				gần như đã giải mã được hết hệ thống di tử của con người. Nhưng 
				có một câu hỏi có lẽ các nhà khoa học luôn vẫn còn đặt ra: Linh 
				hồn con người nằm ở đâu? Đức tin có trả lời được câu hỏi này 
				không?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chẳng ai xác định được 
				Thiên Chúa ở đâu, chẳng hạn trên hành tinh nào. Linh hồn cũng 
				thế, chẳng ở trong tim, mà cũng chẳng ở trong đầu, đó là hai nơi 
				mà người xưa vẫn quan niệm. Linh hồn không thể xác định được vị 
				trí, nhưng nó xuyên thấm toàn bộ con người. Kinh Thánh Cựu Ước 
				đưa ra nhiều biểu tượng về linh hồn: gan, thận, lòng mẹ, tim, 
				nghĩa là nó khoác áo nhiều thứ cơ phận khác nhau. Toàn bộ thân 
				xác mang nhiệm vụ của linh hồn. Mỗi cơ phận biểu trưng cho một 
				khía cạnh hiện hữu con người và biểu trưng cho hồn người. Điều 
				đó nói lên rằng, toàn thân con người đều đượm hồn, và hồn, nói 
				chung, tự thể hiện ra theo những cách thế khác nhau. Như vậy, có 
				thể nói: Hồn có những tụ điểm, nhưng nó không có vị trí địa dư.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có phải 
				lương tâm - thứ thỉnh thoảng vẫn gây phiền toái kinh khủng cho 
				con người - là một thành phần của hồn? Hay lương tâm chỉ là cái 
				gì được tạo thành theo thời gian, như một số người vẫn tin?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Lương tâm, dĩ nhiên, 
				là một cái gì sống động. Vì thế, nó có thể trở nên chín chắn hay 
				bị méo mó trong một người. Không thể chối cãi, là lương tâm cũng 
				bị các thực tế xã hội quanh tôi ảnh hưởng lên cách hoạt động cụ 
				thể của nó. Môi trường xã hội vừa có những hỗ trợ giúp nó hình 
				thành và triển nở, mà cũng có những nguy cơ bào mòn hay khiến nó 
				chệch đường, những nguy cơ có thể tạo nên thứ lương tâm sai 
				trái, dửng dưng hay bất nhẫn. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có những 
				người không có lương tâm?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi dám nói rằng, 
				không thể có ai tự í giết người, mà không biết rằng đó là điều 
				xấu cả. Thế nào người đó cũng biết, đó là việc không nên. Thấy 
				một người trong cơn vô cùng quẫn bách, tôi không thể không cảm 
				thấy phải làm một cái gì cho họ. Có thể nói, có một tiếng gọi 
				uyên nguyên nằm sẵn trong con người, có một cảm thức nguồn cội 
				về điều tốt, điều xấu. Ngay dù người ta huấn luyện mật vụ 
				quốc-xã giết người để phục vụ chủng tộc Đức, và bảo đó là tốt, 
				và dù Göring<sup>*</sup> bảo, lương tâm của chúng ta mang tên 
				Adolf Hitler, và chỉ có Hitler là chuẩn mực, thì những tay 
				quốc-xã đó cũng hiểu, đó không phải là cái gì tốt. Và vì thế, 
				ngay trong những hoàn cảnh xâm phạm sự sống nghiệt ngã như thế, 
				ta vẫn thấy con người thật sự mang sẵn một hiểu biết nền tảng 
				nội tâm sâu xa. Như vậy, đạo đức không chỉ là cái gì bên ngoài 
				được tạo thành do giáo dục, nhưng khả năng phân biệt nền tảng 
				giữa tốt và xấu là một thành phần của cấu trúc tinh thần con 
				người. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Trong 
				thánh lễ, có câu thưa: “Xin Chúa phán một lời, thì linh hồn con 
				sẽ lành”. Phải chăng chỉ có Chúa mới cứu độ được hồn ta?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vâng, chỉ có Ngài mà 
				thôi. Nhưng để cứu độ hồn, Ngài cũng dựng lên quanh ta những lực 
				chữa trị. Và ở đây, ta lại thấy quan hệ giữa ta với Chúa được 
				phát triển thông qua con người. Chúa muốn vậy, Ngài muốn tới với 
				ta qua con người. Và rồi, qua con người, Ngài cũng nói lên lời 
				tha thứ trong bí tích hoà giải, sự tha thứ thật ra chỉ có Ngài 
				mới có quyền mà thôi. Chỉ có Chúa mới có thể nói lên lời tha 
				tội, vì tội rốt cuộc là cái gì chống lại chính Ngài.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Việc cứu độ luôn cần 
				sự đồng gánh vác của kẻ khác, cần sự thứ tha, chấp nhận, lòng 
				tốt của họ. Chỉ trong tiến trình đồng hành với nhau, được soi 
				sáng bởi niềm tin vào Chúa, ta mới có được những cứu độ cần 
				thiết. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Các nhà 
				phê bình đức tin, sau khi trình bày về một tổng kết khủng khiếp 
				của Ki-tô giáo đối với văn minh nhân loại, cho rằng, những khái 
				niệm như tội tổ tông là một trong những “tật bẩm sinh” của một 
				“tôn giáo thế giới đã trở nên cằn cỗi”. Họ cho rằng, các ý tưởng 
				đó chỉ là bịa đặt và chúng khinh miệt con người, vì chúng tạo 
				cho con người định kiến là mình đã bị “hư mất”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Và một 
				triết lí sống tân thời ngày nay nói: Mày làm được mọi chuyện, 
				nếu mày muốn; hãy quẳng gánh lo đi và vui sống. Giáo huấn nền 
				tảng Ki-tô giáo về nguyên tội và về sự ăn năn xem ra khá yếu 
				trước những lập luận đó. Chẳng mấy ai màng tới nó nữa.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nietzsche<sup>*</sup> 
				cũng đã đặc biệt nói tới điều đó. Ông bảo rằng, Ki-tô giáo là 
				một tôn giáo tình cảm, nó bị thiệt thòi nên giờ đây muốn rửa 
				hận, bằng cách đề cao sự lớn lao của cái bé nhỏ và làm chuyện 
				ngược đời, là thay vì tôn vinh kẻ mạnh, thì lại xiển dương người 
				đau khổ. Như vậy, nó là triết lí của bọn nô lệ, chúng muốn trả 
				thù bằng cách đổ tội lỗi trên đầu con người.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ý nghĩcho rằng Ki-tô 
				giáo nô lệ hoá con người và Giáo Hội tìm cách trấn át tín hữu, 
				bằng cách luôn nói tới tội và rồi lại tự cho mình có quyền tha 
				tội, quả rất phổ biến. Đúng, nơi đâu con người không còn nhìn ra 
				Chúa, nơi đó đương nhiên tội lỗi mất hết ý nghĩa. Bởi vì, khi 
				Chúa chẳng đụng gì tôi cả, khi Ngài chẳng quan tâm gì tới tôi, 
				thì cũng chẳng có quan hệ đổ vỡ nào giữa Ngài với tôi – bởi thật 
				ra hai bên chẳng có quan hệ nào nữa cả. Như vậy, xem ra tội đã 
				được đẩy qua một bên. Và thoạt nhìn, người ta có thể nói, giờ 
				đây cuộc sống quả thật vui, thật nhẹ nhàng, đời ta lên hương.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng người ta sẽ sớm 
				thấy ngay, cuộc lên hương chỉ là thoáng chốc. Ngay cả khi người 
				ta chẳng còn muốn biết gì về tội, và đầu óc của họ xem ra chẳng 
				còn phải nhọc mệt nghĩ ngợi gì nữa, thì họ vẫn nhận ra có sự 
				hiện diện của tội. Cuối cùng rồi họ cũng phải nhận ra rằng, giữa 
				tôi và anh còn có những hoá đơn chưa thanh toán, và còn có những 
				nợ nần phải trả. Từ đó, những tội tập thể cũng lần hiện ra.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ta hãy nhìn vào cảnh 
				quan hiện tại. Con người thời nay gần như không còn ý thứcgì về 
				tội chống lại Chúa nữa. Nhưng đồng thời họ lại nhất quyết vạch 
				ra tội lịch sử. Dân tộc Đức, có thể nói, cứ gặm nhấm tội lỗi 
				mình và đau khổ vì chúng. Ta thấy, như thế, vấn đề không dễ gì 
				giải quyết được. Khi người ta chối Chúa và từ chối một í muốn 
				của Ngài, người ta có thể gạt bỏ được ý niệmtội qua một bên, 
				nhưng không thể gạt bỏ được vấn nạn của nhân sinh thể hiện trong 
				đó. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">TỰ DO&nbsp;</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Theo giáo 
				huấn Ki-tô giáo, năng khiếu là những món quà Chúa tặng cho cuộc 
				sống. Để làm hoa trái cho cuộc sống con người. Vậy tự do cũng là 
				quà tặng, hay nó đúng hơn là một hồng ân của Chúa?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ta hiểu hồng ân là sự 
				thân thiện của Chúa đối với con người. Trong hồng ân, sự ân cần 
				của Chúa tỏ ra một cách mới và đặc biệt đối với con người, và 
				Ngài ban tặng cho họ một cái gì, có thể nói, chưa có trong tạo 
				dựng. Tự do, trái lại, là cái đã có trong cấu trúc tạo dựng, là 
				một thực thể của tinh thần con người. Chúng ta đã không được 
				tiền định, và đã không được tạo thành theo một khuôn mẫu nhất 
				định nào đó. Tự do có mặt, là để giúp mỗi người có thể tự hoạch 
				định cuộc đời mình, và, cùng với tiếng Vâng nội tâm, nó giúp ta 
				có thể bước theo con đường phù hợp với chủng loại mình. Với ý 
				nghĩa đó, tôi cho rằng, tự do không phải là một hồng ân, nhưng 
				đúng hơn là một quà tặng tạo dựng. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhưng câu 
				hỏi đặt ra, đâu là giá trị thật sự của tự do đó? Phải chăng khi 
				người ta cố tình dùng tự do đó làm chuyện không hợp í Chúa, 
				người ta sẽ bị phạt muôn đời muôn kiếp?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phạt có nghĩa là gì 
				trong ngôn ngữ của Chúa? Có phải Ngài phạt những ai cố tình làm 
				theo í riêng mình không? Không. Phạt là tình trạng xẩy ra khi 
				một người nào đó không hành động hay sống xứng hợp với bản chất 
				con người. Chẳng hạn như khi người đó giết người. Hay khi anh ta 
				miệt thị phẩm giá kẻ khác, khi anh ta sống trái với chân lí v.v. 
				Khi đó, đúng là đương sự đang sử dụng tự do của mình đấy, nhưng 
				anh ta đồng thời lạm dụng tự do đó. Anh ta phá vỡ và dày đạp lên 
				kế hoạch sống đã được dự thảo cho anh. Và như vậy, anh ta cũng 
				làm hại chính anh. Tự do có nghĩa là tôi tự nguyện chấp nhận 
				những gì con người tôi có thể làm. Và những gì có thể làm ở đây 
				không chỉ hạn chế vào trong một chọn lựa giữa cái có và cái 
				không mà thôi. Bởi vì, bên trên cái không, còn mở ra muôn vàn 
				khả thể mang tính sáng tạo của sự thiện, mà ta có thể chọn lựa. 
				Như vậy, trên căn bản, khi tôi từ chối nói không với sự dữ, lúc 
				đó tôi mất tự do, tự do trở thành sa đoạ. Tự do chỉ tìm được 
				không gian sáng tạo lớn trong lãnh vực sự thiện mà thôi. Tình 
				yêu mang tính sáng tạo, chân lí mang tính sáng tạo - chỉ trong 
				lãnh vực đó mắt tôi mới mở ra, nơi đó tôi mới nhận ra được rất 
				nhiều thứ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Khi ta nhìn vào gương 
				sống của những mẫu người lớn, của các thánh, ta sẽ thấy, suốt 
				dọc dài lịch sử, họ đã mở ra cho ta một cách sáng tạo những khả 
				năng hoàn toàn mới của con người, khả năng mà những kẻ có tâm 
				đui mù hay cằn cỗi không thể nhận ra được. Nói cách khác: Tự do 
				đạt tới tác động đích thực, khi nó mở ra cái chưa được khám phá 
				hay cái có thể khám phá trong vùng trời rộng lớn của sự thiện, 
				và qua đó, nó mở rộng thêm những khả thể của các tạo vật. Tự do 
				tự đánh mất mình, khi nó chỉ biết nói không mà thôi, mà cứ tưởng 
				rằng í mình là đúng. Bởi vì lúc đó, quả thật tôi sử dụng tự do, 
				nhưng cũng là lúc tôi bóp méo tự do. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<a name="2._THIÊN_CHÚA__">
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">2. THIÊN 
				CHÚA </span></a></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ta hãy 
				bàn tới chuyện cốt yếu đích thực, như ngài vẫn nói, đó là Thiên 
				Chúa, nguồn gốc và mục tiêu của sự sống. Kinh tin kính của Ki-tô 
				giáo bắt đầu bằng câu “Tôi tin”. Nhưng ki-tô hữu đâu có tin một 
				cách chung chung vào một quyền lực cao hơn, vào một bản thể cao 
				hơn.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu “Tôi tin” này là 
				một hành vi ý thứccủa tôi. Một hành vi trong đó quyện lẫn cả ý 
				chí, trí hiểu, sự soi sáng và dẫn dắt, đó là những thứ đã được 
				ban tặng cho tôi. Câu đó cho thấy niềm tín thác hay cả việc tôi 
				bước ra khỏi chính mình để hướng tới Chúa. Và ở đây, không phải 
				là tôi hướng tới một quyền lực nào đó cao hơn, nhưng là hướng 
				tới Chúa, đấng biết tôi và chuyện trò với tôi. Ngài thật sự là 
				một Tôi, dù cái Tôi đó mang bản chất cao hơn bình thường nhiều, 
				tôi có thể vươn tới cái Tôi đó và cái Tôi đó cũng đi đến với 
				tôi. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ngài muốn 
				nói gì khi bảo Chúa cũng là một “Tôi”?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi muốn nói rằng Ngài 
				là một con người. Chúa không phải một phép tính đại cương của vũ 
				trụ. Ngài không hiện diện trong trần gian như một tinh thần nào 
				đó. Ngài không phải là một hoà hợp vô định của thiên nhiên, hay 
				một “vô cùng” không thể gọi tên, nhưng Ngài là đấng tạo dựng 
				thiên nhiên, là nguồn cội của hoà hợp, là đấng hằng sống, là 
				chúa tể. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Khoan, 
				ngài tin Chúa là một con người? Chúa biết nghe, thấy, cảm…?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">… Đúng. Chúa có tất cả 
				những gì cơ bản mà con người có, như í thức, nhận biết và tình 
				yêu. Như vậy, Ngài là người có thể biết nói biết nghe. Tôi tin 
				đó là cái cơ bản nơi Chúa. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thiên nhiên có thể 
				tuyệt diệu. Bầu trời tinh tú có thể lạ lùng. Nhưng đó cũng chỉ 
				là một lạ lùng tuyệt diệu thiếu chất người, bởi vì rốt cuộc 
				chúng cũng làm tôi thành một cơ phận nhỏ trong một bộ máy vĩ 
				đại.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng Chúa còn hơn 
				nhiều. Ngài không đơn giản là thiên nhiên, nhưng là đấng đi 
				trước và cưu mang thiên nhiên. Ngài là đấng có thể biết nói, 
				biết nghe, biết yêu, biết nghĩ. Và đức tin cho ta hay, bản chất 
				của Chúa là quan hệ. Đó là điểm mà chúng ta muốn nói tới khi gọi 
				Ngài là ba ngôi. Vì chính Ngài là quan hệ, nên Ngài cũng có thể 
				tạo ra vật mang quan hệ, và tạo vật này được quan hệ với Ngài, 
				vì Ngài đã quan hệ với nó trước. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ngài có 
				lần nói: “Ai bước vào kinh tin kính này, thì thoát ra khỏi những 
				quy luật của thế giới hiện tại”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Í tôi muốn nói rằng, 
				huyền nhiệm phục sinh của Đức Ki-tô nâng ta lên trên sự chết. Dĩ 
				nhiên, là người, chúng ta vẫn luôn sống theo quy luật tự nhiên 
				của thế giới này. Thiên nhiên vận hành theo quy luật chết và 
				sinh trưởng. Nhưng nơi Đức Ki-tô, ta thấy con người là cái gì 
				viên mãn. Con người không chỉ là một thành tố của quá trình chết 
				và sinh trưởng lớn lao đó, nhưng nó là và vẫn là một đích điểm 
				riêng của tạo dựng. Vì thế, nó được bốc ra khỏi cơn lốc sinh tử 
				muôn đời và được nhận vào trong sự bền vững của tình yêu sáng 
				tạo của Chúa. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tại sao 
				lại dùng hình tam giác và một con mắt ở giữa chòng chòng nhìn ta 
				để làm biểu tượng cho Chúa?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hình tam giác là một 
				cố gắng diễn tả sự hợp nhất trong bí ẩn ba ngôi. Người ta dùng 
				hình đó để nói lên một thực thể duy nhất trong ba ngôi, và để 
				diễn tả sự hoà tan của quan hệ tình yêu tay ba này vào trong một 
				hợp nhất tối cao. Biểu tượng con mắt đã có từ rất xa xưa, và 
				trong suốt lịch sử tôn giáo, nó được dùng để nói lên sự nhận 
				thức. Con mắt cho ta biết, Chúa là đấng nhìn thấy, và con người 
				là kẻ được nhìn thấy, và nhờ Chúa, chính con người cũng có thể 
				trở nên nhìn thấy. Biểu tượng trên, dĩ nhiên, cũng có mặt nguy 
				hiểm. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thời Khai sáng, người 
				ta bỏ Chúa một phần lớn cũng vì nó. Bởi vì người ta không chấp 
				nhận một Chúa luôn chằm chằm nhìn tôi mọi nơi mọi lúc, dõi mắt 
				luôn cả vào chỗ riêng tư của tôi. Vì thế, nếu ta xem cái nhìn đó 
				là sự đe doạ, là một cái nhìn nguy hiểm, nó lấy mất tự do của 
				tôi, thì đó là một quan niệm sai và đi ngược lại với hình ảnh 
				Chúa. Phải hiểu con mắt đó là hiện thân của sự quan tâm đời đời 
				của Chúa đối với ta, nó cho ta hay: Tôi không bao giờ bị bỏ rơi, 
				có ai đó luôn luôn mến tôi, đón lấy tôi và đỡ nâng tôi. </span>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Truyền 
				thống do-thái bảo rằng, trước khi Thiên Chúa tạo dựng thế giới, 
				Ngài chỉ hiện diện một cách ẩn kín. Hình tượng của Ngài không 
				hiện thực. Vì thế, Ngài cần thế giới để thể hiện ra bộ mặt của 
				Ngài. Cũng như một vị vua mà không có dân thì làm sao gọi là 
				vua? Làm sao Chúa có thể yêu, nếu không có ai để yêu? Câu hỏi: 
				Tình trạng trước khi Chúa tạo dựng vũ trụ như thế nào? Ai đã 
				dựng nên Chúa?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Quan điểm trên xuất 
				phát từ một trong nhiều truyền thống của Do-thái. Sau này, những 
				í </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">nghĩ tương tự cũng 
				xuất hiện nơi thần bí Ki-tô giáo, chẳng hạn nơi sư phụ Eckart<sup>*</sup>. 
				Tuy nhiên, những quan điểm coi Chúa chỉ trở nên Chúa sau khi 
				Ngài đã tạo dựng một cái gì, không phù hợp với hình ảnh nguyên 
				mẫu của Kinh Thánh. Không, Thiên Chúa của Ki-tô giáo, đấng đã tỏ 
				ra cho chúng ta thấy, là Thiên Chúa. Ngài nói : “Ta là Ta”. Vì 
				thế, chẳng cần phải thắc mắc với câu hỏi luôn được đặt ra : Ai 
				đã tạo nên Chúa, ai đã tạo nên kẻ tạo nên Chúa và vân vân. Hay 
				cả câu hỏi : Có thật Tinh Thần Tạo Dựng đã tự mình hiện hữu trọn 
				vẹn rồi không, một sự trọn vẹn vượt trên cái chết và sự sinh 
				trưởng ? </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi nghĩ, ta có thể 
				nói như vầy : Chính trong thực tại đã mang tính sáng tạo. Chúa 
				không cần trần gian. Đó là điểm đức tin Ki-tô giáo và cả đức tin 
				trong Kinh Thánh Cựu Ước luôn nhấn mạnh. Các thần linh cần con 
				người, để được trò chuyện và được nuôi ăn. Trái lại, tự thân 
				Chúa chẳng cần gì tới con người. Ngài là đấng duy nhất, đời đời, 
				là toàn bộ hiện hữu. Đức tin Thiên Chúa ba ngôi cho ta hay, 
				chính Ngài là đấng yêu thương, yêu thương qua lại và bên nhau 
				giữa ba ngôi, nhưng đồng thời Ngài cũng là một hợp nhất tối cao.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Mặt khác, câu nói « 
				Chúa là tình yêu » cũng hàm chứa một câu hỏi khác: ai được yêu ? 
				Và câu hỏi này đã tự biến tan đi trong ba ngôi Thiên Chúa, đấng 
				đã tự trao tặng mình và trở thành người Con, và rồi Ngài rút lui 
				và trở nên một Thánh Thần. Xem như thế, thì tạo dựng là một hành 
				vi tự do, và truyền thống Ki-tô giáo cũng luôn nhấn mạnh điều 
				này: Việc tạo dựng, đối với Chúa, không phải là điều bó buộc, 
				nhưng là một hành vi tự do. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thế thì 
				tại sao Chúa lại phải phiêu lưu tạo dựng thế giới và con người?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Rô-mano Guardini, 
				người đã nhìn ra tất cả nỗi đau trong cuộc tạo dựng, đã phải dằn 
				vặt ghê gớm với thắc mắc này: Tại sao Chúa lại làm điều, mà nếu 
				không có nó, thì cũng chẳng sao ? Chúng ta không thể trả lời 
				được câu hỏi đó. Ta chỉ biết chấp nhận, là Ngài hẳn muốn điều 
				đó, Ngài muốn có tạo vật đối diện với Ngài, có thể nhận ra Ngài, 
				và như thế vòng đai yêu thương của Ngài được nới rộng. </span>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Người xưa đã cố diễn 
				tả điều đó bằng một tư tưởng triết học : Tự thân cái Thiện có 
				nhu cầu thông tin. Và vì Chúa là đấng tuyệt đối thiện hảo, nên 
				đã có sự tuôn trào ra từ Ngài. Tư tưởng này cũng không giúp ta 
				câu trả lời rốt ráo. Nhưng quan trọng ở đây : Tạo dựng là một 
				hành vi tự hiến nhưng không, chứ không phải là một thứ nhu cầu 
				của Chúa, vì nếu không, thì chính Chúa sẽ chỉ là Chúa nửa vời 
				và, như thế, hi vọng của ta cũng có thể chỉ là hi vọng nửa vời.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">THIÊN CHÚA 
				ĐÀN ÔNG HAY ĐÀN BÀ ? </span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thiên 
				Chúa là nam hay nữ ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thiên Chúa là Thiên 
				Chúa. Ngài chẳng phải nam mà cũng chẳng phải nữ, mà là Chúa trên 
				đàn ông và đàn bà. Ngài hoàn toàn khác. Đức tin Kinh Thánh luôn 
				nói rõ : Thiên Chúa chẳng phải nam mà cũng chẳng phải nữ, nhưng 
				Ngài là Chúa, và cả nam lẫn nữ đều được tạo nên theo hình ảnh 
				Ngài. Cả hai xuất thân từ Ngài, và mọi khả năng phát triển của 
				họ đều múc từ nơi Ngài. Tôi tin, đấy là điều quan trọng, cần 
				phải nắm vững. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhưng 
				Kinh Thánh gọi Chúa là Cha, và như thế đã khoác vào Ngài tấm áo 
				đàn ông.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước hết phải nói 
				rằng, quả thật Kinh Thánh đã dùng hình ảnh người cha, chứ không 
				phải người mẹ, trong ngôn ngữ cầu nguyện, nhưng đồng thời Kinh 
				Thánh cũng dùng nhiều thuộc tính nữ giới khi nói về Chúa. Chẳng 
				hạn, khi nói về sự thương cảm hay cùng đau khổ của Chúa đối với 
				con người, Cựu Ước không dùng từ «thương cảm» hay «đồng khổ» 
				trừu tượng, nhưng dùng một từ có liên quan tới cơ thể con người, 
				« Rachamin », có nghĩa là « lòng mẹ / bụng mẹ » của Chúa. Như 
				vậy, trong ý nghĩa tinh thần, từ đó cũng nói lên mẫu tính của 
				Chúa. Mọi hình ảnh nói về Chúa được dùng trong Kinh Thánh, nói 
				chung, đều cho ta thấy con người cả nam lẫn nữ đều là hình ảnh 
				của Ngài. Chúa dựng nên cả hai giới. Như vậy, cả hai ở trong 
				Ngài – nhưng đồng thời Ngài vượt lên trên họ. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thế thì 
				tại sao điều đó không được diễn tả ra trong các lời nguyện ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vâng, tại sao người ta 
				vẫn hạn chế cứng nhắc vào từ Cha ? Và câu hỏi tiếp nhức nhối hơn 
				: Tại sao Thiên Chúa xuống trần như một «nam nhi » ? Tại sao 
				Thiên Chúa làm người như một người nam ? Và tại sao người Con 
				Chúa đó lại dạy ta, cùng với Ngài gọi Thiên Chúa là Cha, để cho 
				từ đó chữ « Cha » trong suốt dòng lịch sử đức tin không còn chỉ 
				là một hình ảnh nữa, mà mãi mãi ở lại như một lời dạy của Chúa 
				Con ? </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ngài có 
				thể trả lời được chứ ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước hết, tôi muốn 
				xác định từ « Cha » dĩ nhiên vẫn là một hình ảnh. Đúng là Chúa 
				chẳng phải nam mà cũng chẳng phải nữ, Ngài là Chúa. Đó cũng chỉ 
				là một hình ảnh, mà Đức Ki-tô đã dùng trong lời nguyện, để giúp 
				ta hiểu đôi chút về khuôn mặt Thiên Chúa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng tại sao ? Câu 
				hỏi này hiện nay đang dẫn chúng ta bước vào một giai đoạn suy tư 
				mới, nhưng tôi tin, rốt cuộc thì ta cũng không thể trả lời được 
				nó. Có lẽ ta có thể nói được hai điều. Thứ nhất : Các tôn giáo 
				trong vùng quanh Is-ra-en xưa tin Thiên Chúa có đôi, Chúa nam và 
				Chúa nữ. Trái lại, tôn giáo độc thần không chấp nhận hình ảnh 
				cặp đôi đó, và thay vào đó, tôn giáo này coi nhân loại được 
				chọn, cũng như dân Do-thái được chọn, là hiền thê của Chúa. Lịch 
				sử tuyển chọn này cho thấy Chúa yêu dân Ngài như yêu một người 
				vợ. Như vậy, hình ảnh người nữ được khoác cho Is-ra-en và Giáo 
				Hội, và cuối cùng, hình ảnh đó một lần nữa lại được hiện thân 
				một cách đặc biệt nơi mẹ Maria.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thứ hai : Nơi đâu các 
				hình ảnh Thần Mẹ được dùng, nơi đó người ta buộc phải tạo nên 
				những mô hình phiếm thần. Là vì các hình ảnh này làm cho tư 
				tưởng tạo dựng biến đổi, thay vì tạo dựng, người ta giờ đây chỉ 
				nghĩ tới sự phát sinh, việc sinh đẻ. Thiên Chúa, trái lại, dưới 
				hình ảnh người cha, được tạo ra do Lời – và chính vì vậy nổi bật 
				lên sự khác biệt giữa tạo dựng và tạo vật. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">THIÊN CHÚA 
				NHƯ THẾ NÀO ? </span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Dù Chúa 
				không là nam hay nữ, ta vẫn có thể hỏi, Ngài như thế nào ? Cựu 
				Ước kể chuyện bụi gai cháy và tiếp đó là những bản án. Ngài nói 
				: « Bởi vì Ta là chúa tể, là Chúa ngươi, là Thiên Chúa ganh tị : 
				Ai thù địch Ta, Ta sẽ truy tội đời cha, đời con đến đời thứ ba, 
				thứ bốn của chúng ». Thiên Chúa ngày nay còn thịnh nộ như xưa, 
				hay Ngài đã đổi khác ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước hết, tôi muốn 
				hoàn chỉnh câu trích dẫn. Câu đó như sau : « Ta sẽ phạt tới đời 
				thứ ba, thứ tư, Ta sẽ đổ thứ tha xuống trên ngàn đời ». Ta thấy, 
				qua câu tiên tri này, đã có sự bất cân xứng giữa thịnh nộ và thứ 
				tha. Thứ tha nhiều gấp ngàn lần thịnh nộ, và nếu đọc đầy đủ, thì 
				đây là một câu đong đầy hi vọng. Dù tôi có đáng phạt, dù tôi vấp 
				ngã rơi khỏi tình yêu, tôi vẫn biết rằng, lòng nhân Chúa lớn gấp 
				ngàn lần cơn bực bội của Ngài. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhưng quả 
				Thiên Chúa của Do-thái giáo và Ki-tô giáo đó cũng tỏ ra thịnh 
				nộ.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cơn giận của Chúa là 
				dấu chỉ cuộc sống sai trái của ta, ta chống lại tình yêu, nghĩa 
				là chống lại Ngài. Ai sống xa Chúa, sống xa sự thiện, kẻ đó đang 
				bước vào thịnh nộ. Ai rời khỏi tình yêu, kẻ đó đang bước vào 
				vùng phủ định. Vì thế, đây không phải cái gì như hành vi của một 
				tay độc tài hám quyền đánh vào người nào đó, nhưng chỉ nói lên 
				cái lô-gích nội tại của hành động. Khi tôi hành động ngược lại ý 
				nghĩcủa tạo dựng, khi tôi tách khỏi tình yêu là nền tảng đỡ nâng 
				tôi, lúc đó tôi rơi vào khoảng không, vào vực tối. Và lúc đó, có 
				thể nói, tôi không còn ở trong không gian tình yêu, nhưng ở 
				trong một không gian mà ta có thể gọi là không gian thịnh nộ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hình phạt của Chúa 
				không giống như việc mấy ông bà cảnh sát bắt nộp tiền phạt hoặc 
				thích dí người khác. « Chúa phạt » thật ra là một lối nói nhắc 
				nhở về việc lệch hướng sống của ta, và qua đó, ta sẽ nhận thấy 
				hậu quả sai trái của hành động mình.<span style="color:blue">&nbsp;</span>
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhưng làm 
				sao không tránh khỏi cảm giác bị lệ thuộc, hay cả cảm giác bị xỏ 
				mũi, khi đọc câu : « Chúa là đấng tác động í muốn và hành động 
				trong các ngươi ». Đây là Thiên Chúa nào đây, khi Ngài lúc nào 
				cũng bảo, nếu không có Ta thì ngươi không làm được gì hết ? Tại 
				sao Ngài lại không mang lấy trách nhiệm cho ta ? Bởi có ai trong 
				ta ảnh hưởng được gì trên việc có mặt của mình trên mặt đất này 
				đâu.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Quan trọng là Giáo Hội 
				trình bày hình ảnh Chúa đủ lớn, và Giáo Hội không gán Ngài với 
				những đe doạ sai trái. Trước đây giáo lýcó đôi chỗ như vậy thật, 
				và ngày nay có lẽ cũng còn sót lại đây đó đôi chỗ. Trái lại, ta 
				phải luôn nhìn Ngài qua Đức Ki-tô và trình bày Ngài như một đấng 
				luôn dẫn ta đi với một sợi dây thật dài. Đôi lúc có người lại 
				bảo, lẽ ra Ngài phải nói rõ hơn cho tôi hay. Có người lại tự hỏi 
				: Tại sao Ngài để tôi quá tự do như thế này ? Tại sao Ngài để 
				cho sự dữ lộng hành và quyền năng như thế ? Tại sao Ngài không 
				ra tay nhiều hơn, sớm hơn ?</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">THIÊN CHÚA 
				Ở ĐÂU? </span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Làm sao 
				gặp Chúa, và tìm Ngài ở đâu? Có một câu chuyện ngắn: Ngày nọ bà 
				mẹ dẫn đứa con trai tới gặp giáo trưởng (do-thái). Thầy hỏi cậu 
				bé : « Nếu cháu trả lời được Chúa ở đâu thì thầy cho cháu một 
				đồng tiền ». Cậu chẳng phải suy nghĩ lâu, nói ngay: « Và con sẽ 
				cho thầy hai đồng, nếu thầy trả lời được Ngài không ở những nơi 
				nào ». Sách Khôn ngoan viết, Thiên Chúa «để cho những người 
				không thử thách Ngài gặp Ngài, và Ngài tỏ mình ra cho những ai 
				không ngờ vực Ngài ». Nhưng Chúa thật sự ở đâu ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ta bắt đầu với sách 
				Khôn ngoan. Tôi nghĩ, lời « Chúa không để cho những ai thử thách 
				Ngài có thể gặp Ngài » mang nghĩa rất thời sự. Lời đó có nghĩa, 
				là những ai muốn đem Ngài lên bàn thí nghiệm thì sẽ không gặp 
				được Ngài. Trong thế giới do-thái xưa và cả mãi đến ngày nay, 
				người ta đã biết rất rõ chân lí đó rồi. Nếu ta muốn thử thách 
				Ngài, bằng cách hỏi Ngài có ở đó hay ở kia không, và muốn làm 
				những điều mà ta nghĩ là Ngài sẽ phản ứng, nếu ta muốn đưa Ngài 
				lên bàn thí nghiệm, thì đó là lúc ta bước vào một hướng chắc 
				chắn sẽ không gặp được Ngài. Chúa không thể thử nghiệm. Ngài 
				không phải là vật ta có thể cầm trong tay. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Một người 
				bạn của tôi nói: Chính tôi đã chẳng thấy gì trong một lần bước 
				vào nhà thờ ngày chủ nhật. Tôi chỉ thấy hoàn toàn không có gì 
				cả.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chúa không phải là cái 
				gì có thể áp đặt, Ngài chẳng phải là kẻ một lúc nào đó sẽ la 
				lên: « Này, Ta đây này ». Sẽ gặp được Ngài, khi ta xem Ngài là 
				Chúa, chứ không phải khi ta biến Ngài thành tiêu chuẩn đúng sai 
				của lối thí nghiệm tân tiến và tiêu chuẩn để bám giữ sự sống. 
				Và, xem Ngài như là Chúa, có nghĩa là ta có một thái độ hoàn 
				toàn khác đối với Ngài.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Với vật chất, ta có 
				thể khảo nghiệm và áp đặt chúng, vì chúng là những gì thấp hơn 
				ta. Nhưng ta không thể hiểu một con người, nếu ta cũng dùng lối 
				đó để đối xử với họ. Trái lại, ta chỉ có thể hiểu họ được đôi 
				chút, khi ta bắt đầu đi vào tâm họ với một thứ thiện cảm nào đó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Với Chúa, cũng thế. Ta 
				có thể tìm Ngài, khi ta gạt bỏ thói ngự trị ra khỏi đầu óc ta. 
				Thay vào đó, khoác vào mình tinh thần sẵn sàng mở lòng mình ra, 
				sẵn sàng tìm kiếm. Tôi phải sẵn sàng chờ đợi trong khiêm tốn để 
				đón nhận điều Ngài muốn, chứ không phải để có được điều tôi 
				muốn. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhưng 
				Chúa thật sự ở đâu ? </span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngài chẳng ở chỗ nào 
				xác định cả, như đã hàm ý trong câu chuyện trên rất hay của anh. 
				Nói một cách tích cực : Không có chỗ nào cho Ngài cả, vì Ngài ở 
				trong mọi sự. Tiêu cực mà nói thì : Ngài chắc chắn không hiện 
				diện ở nơi nào có tội lỗi. Ngài không có mặt khi phủ định nâng 
				cái không lên thành quyền lực. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chúa ở khắp mọi nơi. 
				Và có nhiều cấp độ khác nhau đưa ta đến gần Ngài, vì mỗi cấp 
				sống cao hơn lại đưa ta tới gần Ngài hơn. Nhưng ở đâu mở ra tình 
				yêu và trí hiểu, ở đó có một cách mới để gần Ngài, ở đó đạt tới 
				một hình thức gần Ngài mới. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Như vậy, ở đâu có lòng 
				tin, hi vọng và tình yêu, ở đó có Chúa, bởi vì những thứ này, 
				khác với tội lỗi, là không gian đưa ta vào những chiều kích của 
				Chúa. Như vậy, ở đâu có thiện hảo, ở đó có Chúa hiện diện, hiện 
				diện một cách đặc biệt, vượt lên trên mọi hiện hữu và hiện tại 
				thường tình. Ta gặp Ngài trong sâu thẳm, khi ta tới gần những 
				chiều kích tương ứng nhiều nhất với bản chất nội tại của Ngài, 
				đó là chiều kích của sự thật, của tình yêu, của sự thiện. </span>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">« Gặp 
				Ngài trong sâu thẳm » phải chăng có nghĩa là Chúa không lơ lửng 
				đâu đó ngoài vũ trụ, nhưng Ngài ở trong chính ta, ở trong mỗi 
				người chúng ta ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đúng, thánh Phao-lô 
				cũng đã nói điều đó với dân Athen nơi toà án thượng thẩm. Ngài 
				đã trích dẫn câu của một thi sĩ Hi-lạp: Chúng ta chuyển động 
				trong Chúa, chúng ta sống và hiện hữu trong Ngài. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chúng ta chuyển động 
				và hiện hữu trong bầu khí của Chúa là đấng tạo hoá. Điều này, 
				trước hết và nhìn chung, đã được thể hiện trong đời sống sinh lí 
				của ta. Và điều đó càng đúng, khi ta càng tiến sâu vào cái đặc 
				thù của Chúa.Ta có thể diễn tả điều đó như thế này : Ở đâu một 
				người làm điều tốt cho tha nhân, ở đó đặc biệt có sự gần gũi 
				Chúa. Ở đâu con người mở lòng mình ra với Chúa trong lời nguyện, 
				ở đó đặc biệt có sự gần gũi với Ngài. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chúa không có độ lớn 
				kiểu không gian vật lí. Ngài không ở cao trên hàng trăm ngàn cây 
				số hay ở xa hàng nhiều năm ánh sáng. Trái lại,gần gũi của Ngài 
				mang tính chất một tình trạng sống. Ở đâu khuôn mặt và sự hiện 
				diện của Ngài được thể hiện nhiều nhất, ở đâu có tình yêu và sự 
				thiện, ở đó ta sờ được đấng vô biên một cách đặc biệt. </span>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nếu như 
				vậy thì cũng có nghĩa Chúa không hiện diện một cách đương nhiên, 
				bởi vì Ngài </span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">không 
				phải bao giờ cũng có mặt sẵn đấy.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chúa vẫn có đó, cả khi 
				ta không cần đến Ngài để rồ máy cuộc sống của ta, nếu muốn nói 
				như thế. Như vậy, có sự hiện diện của Ngài khắp mọi nơi. Nhưng, 
				món quà được gần Chúa một cách thâm sâu của ta có thể nhỏ lại 
				hoặc mất đi, mà cũng có thể trở nên lớn hơn.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Người được Chúa thấm 
				nhập hoàn toàn đương nhiên ở gần Ngài hơn là kẻ xa hẳn Chúa. Ta 
				hãy nghĩ tới việc truyền tin cho Maria. Chúa muốn Maria trở 
				thành đền thờ sống động của Ngài. Đền thờ đó không chỉ là một 
				chỗ ở nơi thân xác Mẹ mà thôi. Và Mẹ đã trở nên chỗ ở của Chúa, 
				vì Mẹ đã mở lòng ra cho Ngài, vì tâm Mẹ đã hoàn toàn hoà hợp với 
				tâm Chúa. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhưng, có 
				thể có chuyện thỉnh thoảng Chúa lui mình vào bóng tối không? 
				Einstein<sup>*</sup> chẳng hạn, ông tôn thờ Chúa như một bậc 
				thầy kiến trúc của vũ trụ, nhưng cuối cùng ông cũng cho rằng, 
				Ngài chẳng còn thú vị gì nữa với tạo dựng của Ngài và với số 
				phận của con người.&nbsp;</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tư tưởng coi Chúa là 
				một nhà đại kiến trúc trên làm cho ý niệmThiên Chúa bị gò bó. 
				Chúa ở đây chỉ là một giả thuyết bên lề, mà người ta còn cần để 
				có thể giải thích sự hình thành vũ trụ. Theo đó, có thể nói, 
				Thiên Chúa thoạt tiên phác thảo ra vũ trụ, và rồi sau đó vũ trụ 
				tự nó cứ việc tiếp tục chuyển động. Ở đây, bởi vì Chúa thuần tuý 
				chỉ là một căn nguyên vật lí cuối cùng đối với thế giới, nên 
				Ngài cũng có thể đương nhiên rời khỏi sân khấu. Thiên nhiên giờ 
				đây đã có được sự độc lập của nó, còn Chúa thì hết nhiệm vụ. Và 
				cũng theo tư tưởng trên, mối liên hệ tiếp tục của Chúa với tâm 
				con người – nghĩa là với một chiều kích khác của hiện hữu - tới 
				đây cũng hết, vì nó đã không được dự trù ngay từ đầu trong 
				chương trình tạo dựng. Như vậy thì Chúa chẳng còn là đấng « sống 
				động » nữa, mà thật ra chỉ là một giả thuyết, mà người ta rốt 
				cuộc sẽ tìm cách loại trừ. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhưng 
				nhiều nhà thần học cũng nói về « sự vắng mặt của Thiên Chúa ».</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Điều này lại hơi khác. 
				Kinh Thánh đã nói tới chuyện Chúa dấu mặt. Chúa ẩn mặt trước đám 
				dân bất tuân. Ngài im tiếng. Ngài không gởi tiên tri đến. Và cả 
				trong cuộc sống các thánh cũng có những đêm tối. Có thể nói, các 
				ngài bị đẩy vào một thứ vắng mặt, một thứ im lặng của Chúa, như 
				trường hợp thánh Thérèse ở Lisieux chẳng hạn, và rồi phải cùng 
				đau khổ cảnh đêm đen của những kẻ không tin.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng điều đó không có 
				nghĩa là không có Chúa. Cũng không có nghĩa là Ngài kiệt sức, 
				Ngài chẳng còn là tình yêu nữa. Đây là những hoàn cảnh của lịch 
				sử con người hoặc của cuộc sống con người, trong đó vì bất lực 
				không nhận ra Chúa, nên con người đã tạo ra « bóng đêm Thiên 
				Chúa », như Martin Buber nói. Trong cảnh bất lực hay cố chấp 
				không muốn nhận diện hay liên hệ với Chúa này của con người, xem 
				ra Chúa ẩn mặt. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">THIÊN CHÚA 
				MUỐN GÌ? </span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thánh 
				Clê-men-tô<sup>*</sup> ở Alexandria, một trong những giáo phụ 
				lớn của Giáo Hội, có lần nói: « Thiên Chúa vì con người mà dựng 
				nên con người, và Ngài muốn có con người ». Vậy, nếu Chúa là 
				tình yêu nhưng không, thì tại sao Ngài lại cứ bắt ta tôn thờ và 
				ngợi ca?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đức thánh cha Gio-an 
				Phao-lô II đã dùng lại câu « vì con người mà dựng nên con người 
				» nhiều chỗ khác nhau trong các thông điệp của ngài. Ngài dùng 
				câu đó dựa theo í của Immanuel Kant<sup>*</sup> và suy diễn thêm 
				theo một cách mới. Kant nói, con người là vật duy nhất mang 
				trong chính mình một mục đích, và không phải trở thành mục đích 
				cho một cái gì khác. Giáo chủ thì nói : Thật ra, con người mang 
				trong chính mình một kết thúc, và về phần nó, nó lại không phải 
				là mục đích cho một cái gì khác. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Điều đó cũng là thành 
				trì chở che vững vàng cho mỗi con người. Bởi vì Thiên Chúa tạo 
				hoá muốn rằng, không ai có quyền dùng kẻ khác như một phương 
				tiện - dù kẻ đó nghèo hèn hay yếu kém-, cho một mục đích nào đó 
				cao hơn. Ngày nay, trước những thí nghiệm con người, ngay cả 
				việc thí nghiệm phôi thai, điều đó đã trở thành một chân lí cao 
				trọng, nó trở thành một thành trì bảo vệ rất quan trọng cho phẩm 
				giá con người. Nhân quyền chẳng là gì khác ngoài việc không được 
				biến con người thành phương tiện, nhưng là để cho họ có được một 
				phẩm giá bảo toàn.&nbsp;Nhưng sự kiện đó không có nghĩa là con người 
				hành động đúng, khi nó tự khép kín, khi nó chỉ biết có mình nó 
				mà thôi. Con người là một vật tương giao. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nghĩa là 
				gì ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước hết, con người 
				được dựng nên để hướng về tình yêu, hướng về giao tiếp với người 
				khác. Nó không phải là vật chỉ sống cho mình, chỉ biết có mỗi 
				mình mà thôi, không phải là một ốc đảo, nhưng bản chất của nó là 
				giao tiếp. Không có giao tiếp, nó sẽ tự huỷ. Và con người giống 
				Chúa là chính chỗ đó. Là vì, như giáo huấn về Chúa ba ngôi dạy, 
				bản chất của Chúa cũng là tương giao. Như vậy, tương giao của 
				con người trước hết là tương giao giữa người với người, nhưng đó 
				cũng là tương giao với cái vô cùng, với chân lí, với chính tình 
				yêu. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Đó là 
				điều bắt buộc?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tương giao đó hẳn 
				không hạ giá con người. Nó không biến con người thành phương 
				tiện, nhưng trao cho con người tầm lớn của nó, vì chính con 
				người ở trong một tương giao trực tiếp với Chúa và con người 
				trực tiếp được Chúa muốn. Vì thế, không được phép nhìn việc thờ 
				phượng Chúa như là một công việc bề ngoài, như thể đó là chuyện 
				Chúa muốn, hoặc như thể là Chúa cần những nịnh bợ. Chuyện đó xem 
				ra trẻ con, thật khó chịu và buồn cười. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Vậy thì 
				thế nào?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thờ phượng hiểu đúng 
				nghĩa, là tôi sống đúng với bản chất tương giao của con người 
				tôi, như vậy là tôi sống đúng với mục đích hiện hữu của đời tôi. 
				Và đó là một cuộc sống theo í Chúa, nghĩa là đi tới đồng í với 
				chân lí và với tình yêu. Đây không phải là ta làm một cái gì để 
				Chúa cũng được vui. Thờ phượng nghĩa là chấp nhận đường bay của 
				mũi tên cuộc đời mình. Chấp nhận rằng mục đích của đời tôi không 
				phải là cho chính mình, nhưng tôi phải vươn lên trên mọi mục 
				tiêu khác. Nghĩa là vươn tới hợp nhất với đấng muốn tương giao 
				với tôi, và đấng đó đồng thời cũng để tôi hoàn toàn tự do trong 
				hành động mình. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Và đó 
				thật là điều Chúa muốn nơi ta ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đúng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<a name="3_-_TẠO_DỰNG__">
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">3 - TẠO 
				DỰNG </span></a></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">KHỞI THỦY 
				LÀ LỜI </span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Sách 
				Khởi-nguyên viết: „Khởi đầu Thiên Chúa dựng trời và đất. Đất 
				thời trống không mông quạnh, bóng tối bao trùm lũ lụt, và thần 
				khí Chúa là đà trên mặt nước. Chúa phán: Hãy có ánh sáng! Và đã 
				có ánh sáng“.Chẳng ai trong chúng ta có mặt lúc trái đất hình 
				thành. Một truyền thuyết cổ do-thái kể rằng, Đấng toàn năng lúc 
				đó đã tạo dựng thế giới chúng ta gần đúng i như những gì viết 
				trong Kinh Thánh. Người ta kể, Chúa nhìn vào kinh Thora, và đã 
				dựng thế giới theo mẫu cấu trúc trong đó. Và cả Gio-an cũng bắt 
				đầu Tin Mừng của mình bằng câu: „Từ khởi thuỷ là Lời“.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vâng, quả thật 
				Khởi-nguyên và Tin Mừng Gio-an đã quyện vào nhau, cái này giải 
				thích cái kia. Thời Do-thái giáo cổ, nghĩa là đương thời &nbsp;Đức 
				Giê-su, người ta nghĩ Thora đã có trước lúc thế giới vật chất 
				được tạo dựng. Có thể nói, trái đất là chỗ ở đã được xây lên cho 
				Thora. Điểm này ta thấy có vẻ ngây thơ, nhưng trong đó chứa đựng 
				một tư tưởng rất lớn, đó là thế giới có một ý nghĩa tinh thần.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thế giới được tạo 
				dựng, là để có chỗ cho Thiên Chúa nối kết với con người. Có thể 
				nói, nó được hình thành theo cấu trúc nội tâm của giao ước, và 
				Thora được ví như là chứng thư của giao ước và của cô dâu. 
				Gio-an đã cố tình lấy lại câu đầu của Thora: „Từ khởi thuỷ Thiên 
				Chúa dựng nên trời và đất“, vâng, có thể nói Gio-an đã tóm cả 
				câu chuyện tạo dựng vào một câu duy nhất: „Từ khởi thuỷ là Lời“.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nghĩa cụ 
				thể của câu đó ra sao? </span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu của Gio-an cũng là 
				một chìa khoá quan trọng để diễn giải trình thuật Khởi-nguyên. 
				Nó cho ta thấy, mọi yếu tố trong trình thuật tạo dựng đều là 
				hình ảnh cả. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thiên 
				Chúa phân biệt ngày và đêm, Ngài làm ra trời và đất, chim trời 
				và cá biển…</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Các yếu tố hình ảnh 
				cho thấy thế giới là tạo dựng và nó bắt nguồn từ Logos, nghĩa là 
				„ý nghĩa “ hay „Lời“. Logos là „lực chuyển tải ý nghĩa“. Xưa kia 
				trong thế giới hi-lạp và do-thái cổ, Logos là một từ nguồn cội 
				quan trọng, nó vừa có nghĩa là tư tưởng, vừa có nghĩa là lời 
				nói. Nói cách khác: Thiên Chúa này không chỉ là tư tưởng mà 
				thôi, nhưng Ngài đồng thời là lời nói, là hành động. „Khởi đầu 
				là Lời“ có nghĩa là thế giới có sau ý nghĩa tinh thần, nghĩa là 
				có sau tư tưởng về thế giới. Có thể nói, thế giới là kết quả vật 
				chất hóa của tư tưởng và của cái ý tưởng cội nguồn mà Chúa mang 
				trong Ngài, và Ngài đã biến thế giới thành không gian lịch sử 
				giữa Chúa và thụ tạo của Ngài<span style="color:blue">.</span>
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Gần đây, 
				các hiểu biết khoa học đã chiếu một ánh sáng mới trên những phát 
				biểu Kinh Thánh. Một giáo sư giải thích cho tôi hay, di tử con 
				người được viết ra như một thứ cuốn sách, hay nói đúng hơn, một 
				cuộn chữ. Cuộn này bao gồm mọi thông tin khơi nguồn sự sống, dù 
				sự sống đó là người, vật, tế bào hay siêu vi khuẩn. Các nhà khoa 
				học đã đặt tên cho các yếu tố hoá học của di tử là A, C, G và T. 
				Quả thật lạ lùng, vì mọi chữ trong cuộn đó đều hình thành do bốn 
				vần đó mà thôi. Tổng số di tử của con người, gọi là Genom, như 
				vậy quả là một cuốn sách, một cuốn sách với không biết bao nhiêu 
				là câu. Cuốn sách về lịch sử sự sống này, theo giáo sư trên, 
				„trước đây hàng tỉ năm đã được viết ra chỉ một lần mà thôi, và 
				chữ đều thống nhất“.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Quả đó là một trong 
				những hình ảnh quan sát mới mà khoa học đã cung ứng cho ta. Nhờ 
				chúng, có thể nói, ta nhận ra được cơ cấu vần chữ của tạo dựng. 
				Người xưa cũng đã từng nói tới cơ cấu toán học của thế giới, cơ 
				cấu này giờ đây đã được xác nhận. Như vậy, Lời quả thật là lực 
				tạo thành, và tạo dựng có thể hiểu như là sự cụ thể hoá và việc 
				tự mở ra của một chứng thư đã có. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">TUYỆT ĐỈNH 
				TẠO DỰNG </span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Để có thể 
				hiểu được các chiều kích thời gian của tạo dựng, có người đã ví 
				toàn bộ tuổi trái đất là một năm. Theo đó, mồng 1 tháng 1 là 
				ngày hình thành địa cầu. Mồng 1 tháng 4 – quả đúng ra là sau 
				khoảng 3,4 tỉ năm – xuất hiện sự sống của các loại đơn bào trên 
				hành tinh. Mãi tới ngày 27 tháng 11 mới xuất hiện chú cá đầu 
				tiên, và các chú khủng long có mặt vào ngày 12 tháng 12. Hẳn là 
				Chúa yêu thương mọi loài lắm. Chúng làm chủ địa cầu suốt khoảng 
				150 triệu năm, và không phá hoại mặt đất gì cả.Cuối cùng xuất 
				hiện các loài có vú ngày 27 tháng 12, nghĩa là cách đây 15 đến 
				20 triệu năm. Lịch sử của con người khôn ngoan (Homo sapiens) 
				mới có cách đây 150.000 năm. Tuyệt đỉnh tạo dựng có mặt, như 
				vậy, tương đối trễ.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước hết, tất cả 
				những con số đó đều là ước định. Tuy chúng có nền tảng khá vững, 
				nhưng ta không được tuyệt đối hoá chúng. Dù thế, tôi thấy niên 
				biểu đó rất quan trọng, vì nó phù hợp với những gì Kinh Thánh và 
				các giáo phụ đã nói, nghĩa là tiêu đích của nó cũng sẽ xuất hiện 
				khi thời gian kết thúc.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đặc biệt về Đức Ki-tô, 
				khuôn mẫu toàn vẹn của con người, kinh sách viết là Ngài sẽ tới 
				khi thời gian viên mãn. Kinh Thánh cho ta thấy hình ảnh về một 
				toàn bộ lịch sử diễn ra trước chúng ta, mà ta không thể mường 
				tượng được ý nghĩa từng chi tiết của nó. Lịch sử này hẳn không 
				chỉ là sự chuẩn bị cho cái sẽ tới. Bởi vì nhiều thứ sẽ lại biến 
				mất hoặc cho thấy đó là một quá trình chuyển tiếp. Nhưng rõ ràng 
				đây là một con đường dài vô cùng và cuộc phiêu lưu của loài 
				người sẽ xuất hiện như một thứ chung kết. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Câu hỏi 
				thêm: Chúng ta còn bao nhiêu thời gian nữa?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ta không thể trả lời 
				được. Chỉ biết rằng cái chung kết đó, từ nội tại, đã nằm sẵn 
				trong kế hoạch, nhưng sẽ được đưa ra áp dụng khá trễ, và có thể 
				nói, nó sẽ thâu tóm tất cả vào mình. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nếu là 
				Thiên Chúa yêu thương và nếu Ngài yêu hết thảy chúng ta, thì tại 
				sao Ngài lại tạo ra chúng ta quá khác nhau như vậy? Người này 
				xinh đẹp và được mến mộ, kẻ kia cô đơn. Người này khôn và giỏi 
				giang, kẻ kia phải chiến đấu nhọc nhằn mới thành công. Chưa nói 
				tới những người sinh ra trong cảnh tật nguyền. Phải chăng đó là 
				do lỗi của chính mỗi người? </span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chắc chắn không, vì 
				như vậy có nghĩa là ta có thể chuẩn bị trước cho cuộc sống về 
				sau của mình. Mặt khác, quan niệm luân hồi cũng hoàn toàn không 
				giải thích được tính duy nhất và trách nhiệm của con người. 
				Không, ta không biết được. Ta chỉ có thể nói điều này: Thiên 
				Chúa đã dựng nên một thế giới đa dạng, đa dạng này đã có nơi con 
				người và cả trong giai đoạn trước con người rồi. Điều này không 
				nhất thiết mang tính tiêu cực. Người không có khiếu toán, có thể 
				rất giỏi về nghệ thuật. Kẻ yếu mặt trí thức, có thể có tay nghề 
				giỏi trong lãnh vực thủ công. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi tin rằng, có lẽ 
				nền giáo dục khuôn thước của ta quá một chiều, chỉ chú trọng 
				huấn luyện điều con người có thể làm được mà thôi. Trở đi trở 
				lại cứ lấy cái gọi là chỉ số thông minh mà đo, nhưng chỉ số này 
				cũng chỉ giúp nắm bắt được một loại thông minh nào đó mà thôi. 
				Chúng ta nhận diện con người qua khía cạnh khả năng hay thành 
				công, mà bỏ quên kho tàng các năng khiếu khác, tất cả những năng 
				khiếu này cũng đều có ý nghĩa, giá trị và vai trò của chúng.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Dĩ nhiên cũng có những 
				trường hợp tiếp biên, bị thiệt thòi thật, đó là những người tàn 
				tật, hay những người lớn lên trong bần cùng, không bao giờ có 
				được môi trường để thăng tiến. Ở đây, chúng ta lại gặp lại câu 
				hỏi, tại sao trên thế giới này có nhiều khổ đau đến thế. Nhưng, 
				ta chưa cần vội tìm câu trả lời, mà hãy khẳng định rằng, không 
				phải người tàn tật là tạo vật đáng lẽ không nên có. Ngay chính 
				cái tàn tật làm cho người đó có một giá trị riêng. Và Đức Ki-tô, 
				người đã để cho người ta đóng mũ gai lên đầu và đã tự ví mình là 
				sâu bọ chứ chẳng phải người, cũng đã tự xếp mình vào đoàn người 
				tàn tật đó, và họ đã mang tới cho nhân loại một sứ điệp. Là 
				những kẻ khổ đau, những kẻ đòi hỏi tình yêu của ta cũng như sẽ 
				tặng lại ta trong tình yêu, họ có thể có một sứ mạng đặc biệt 
				trong một cách thế đặc biệt, – nếu như ta chịu khó tỉnh thức để 
				nhận ra điều đó. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có đủ lí 
				do để gọi con người là tuyệt đỉnh tạo dựng. Chúng ta đã phát 
				minh ra 19.000 ngôn ngữ. Chúng ta hát nhạc kịch và chơi những 
				nhạc cụ do ta tạo ra. Chúng ta vượt qua những khoảng cách diệu 
				vợi. Nhưng mặt khác, tuyệt đỉnh tạo dựng đó nhiều khi cũng hiện 
				thân như những tạo vật khát máu, không ngừng biến nhà mình thành 
				lò sát sinh. Đau khổ này chưa dứt thì đã gây nên đau khổ khác. 
				Chiến tranh này chưa xong, thì đã chuẩn bị cuộc chiến khác. Và 
				nạn nhân hôm qua, nay trở thành thủ phạm.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Anh đã nói lên toàn bộ 
				nỗi căng thẳng và toàn bộ tấn bi kịch của kiếp người. Không ai 
				chối cãi được nét cao cả của con người. Tạo vật tí hon này, so 
				với các tạo vật khác về mặt sinh lí, thuộc vào hàng những tạo 
				vật nghèo nàn và kém sinh hoạt giác năng (đây cũng lại là cái 
				lớn lao trong sự nhỏ bé), nhưng nó đã có được những khả năng để 
				tìm hiểu vũ trụ. Với đôi mắt, con người có thể nhìn thấu vào vũ 
				trụ, và từ vũ trụ lại nhìn lại được những chi tiết sự sống mình. 
				Như thế, có thể nói, con người đã tiến sâu được vào trong giếng 
				sâu hữu thể, để có thể tự tái cấu trúc nó hoặc sử dụng nó một 
				cách có ý nghĩa và làm phát triển nó tiếp.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi tin rằng, cái lớn 
				lao - và dĩ nhiên cả cái khả năng gẫy đổ - của con người chưa 
				bao giờ hiện rõ như lúc này. Bởi vì tạo vật càng lớn, nó càng 
				phải đối diện với nhiều hiểm nguy. Và các khả thể lẫn sức mạnh 
				và khả năng của nó càng lớn chừng nào, thì các nguy cơ ẩn tàng 
				trong nó có thể càng lớn chừng đó. Một con muỗi có thể làm hại 
				trong chừng mực khả năng của muỗi, không hơn không kém. Nhưng 
				con người nắm trong tay với cả nhân loại toàn bộ khả năng tàng 
				ẩn trong nó.Do đó, nó có thể bày ra những cách phá hoại vượt xa 
				các loài khác.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đó là cái mâu thuẫn 
				nội tại của con người. Con người được kêu mời trở nên cao cả, 
				nhưng tự do của nó có thể khiến nó muốn chống lại Chúa, muốn trở 
				nên Chúa, khiến nó có thể trở nên một đe doạ thật sự. Tự do đó 
				có thể chính là cái vấp ngã của nó, biến nó trở thành một con 
				quỷ phá hoại<span style="color:blue">.</span></span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đôi khi, chúng ta muốn 
				nói với Chúa thế này: Giá mà Chúa dựng nên con người bớt cao cả 
				đi một chút thì hay biết mấy, bởi vì nó sẽ bớt nguy hiểm hơn. 
				Nếu như Chúa đừng cho nó tự do, thì nó có thể đã không sa ngã 
				nặng nề như thế. Nhưng rồi cuối cùng ta đã không dám nói lên 
				điều đó, bởi vì ta phải cám ơn Chúa, vì Ngài đã dựng nên điều 
				cao cả. Và cho dù Chúa có nhận vào Ngài hết mọi cái nguy cơ của 
				tự do con người và tất cả những vấp ngã của tự do đó, thì ta 
				cũng có thể bị choáng váng trước những sa ngã có thể xẩy ra, và 
				phải gắng dốc toàn lực để chống trả lại chúng, nhưng đồng thời 
				ta cũng phải nói lên niềm tín thác nền tảng sẵn có của ta nơi 
				Chúa. Và chỉ trong tư thế bám chặt vào niềm tín thác đó ta mới 
				có thể chống trả được những nguy cơ của con người và có thể chịu 
				đựng được chúng. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Khi Chúa 
				tạo nên địa cầu, Ngài dựng nên nó như một phần của hệ thống mặt 
				trời, hệ thống này lại là thành phần của một hệ thống ngân hà 
				gồm một trăm triệu ngôi sao vận hành trong vũ trụ, giữa một đại 
				dương vô tận với vô số dải hành tinh tương tự. Hệ thống hành 
				tinh gần chúng ta nhất cách khoảng hai triệu năm ánh sáng. Có 
				thể tưởng tượng được rằng, đâu đó trong vũ trụ bao la ngoài hành 
				tinh tí hon của ta, còn có sự hiện diện của các tạo vật của 
				Chúa, mà có thể cũng giống như con người?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phải chăng chúng ta 
				không cô độc trong vũ trụ hành tinh bao la này, tư tưởng này 
				không xa lạ. Chúng ta cũng không thể gạt bỏ tư tưởng đó một cách 
				dứt khoát, bởi vì ta không biết được hết tầm xa của ý nghĩThiên 
				Chúa và của tạo dựng. Nhưng thực tế cho tới lúc này, mọi nỗ lực 
				tìm ra các tạo vật khác đã không thành công. Mới đây, có một 
				quan điểm rất khoa học bảo rằng, có lẽ không có sự sống cao cấp 
				ở ngoài hành tinh của ta. Jacques Monod chẳng hạn, một tác giả 
				trước đây không phải là ki-tô hữu, nói rằng, theo những kiến 
				thức khoa học về thế giới mà chúng ta biết, thì xác xuất có sự 
				sống ngoài hành tinh quá thấp đến độ không thể có được. </span>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ta chỉ có thể nói được 
				là: Ta không biết. Cho tới lúc này vẫn chưa có một cứ điểm nào 
				cho thấy có thể có sự hiện hữu các tạo vật như thế. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tuy nhiên, ta biết một 
				cách chắc chắn, là Chúa coi con người trên địa cầu hạt bụi này 
				quan trọng đến nỗi chính Ngài đã sống và đã gắn bó đời đời với 
				địa cầu này. Điều đó rốt cuộc cũng tương ứng với khuôn mẫu hành 
				động của Chúa, mà chúng ta biết. Chúa luôn nâng cao những gì xem 
				ra tầm thường, và tỏ hiện ra cho con người qua cái xem ra như 
				chỉ là hạt bụi, hoặc như ở Na-da-ret, trong một địa danh hầu như 
				không có trên trái đất. Như vậy, Chúa luôn nắn đi sửa lại tiêu 
				chuẩn của ta. Ngài cho thấy cái mênh mông của lượng có một độ 
				lớn hoàn toàn khác với cái mênh mông của con tim, như Pascal<sup>*</sup> 
				cũng đã nói. Lượng có độ lớn không thể chối cãi của nó, nhưng 
				điều cũng quan trọng, là lượng đó - chẳng hạn như độ dài bất tận 
				của vũ trụ - cũng chỉ là tương đối. Một trái tim biết cảm thông 
				và yêu thương cũng có một độ lớn vô cùng khác. Độ lớn này khác 
				hẳn độ lớn của mọi lượng số với sức mạnh dữ dội trong chúng, 
				nhưng dù vậy, nó không nhỏ hơn. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nếu ta có 
				bà con trong vũ trụ, thì Chúa đã cho biết qua mạc khải của Ngài 
				rồi?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không nhất thiết, vì 
				Ngài không muốn kể hết cho ta mọi thứ đang có. Mạc khải không có 
				mục đích cung cấp cho ta một nhận thức đầy đủ về ý nghĩcủa Chúa 
				và về vũ trụ. Một trong các sách Khôn ngoan mà các giáo phụ hay 
				trích, có câu: Chúa trao thế giới cho ta tranh luận. Hiểu biết 
				khoa học có thể nói là cuộc phiêu lưu, mà Chúa để lại cho chính 
				chúng ta. Trái lại, trong mạc khải, Ngài chỉ cho ta hay cái gì 
				thật quan trọng cho cuộc sống và cái chết mà thôi. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Giáo huấn 
				Ki-tô giáo chia thế giới ra làm hai, thế giới hữu hình và vô 
				hình. Giáo huấn đó nói tới cái „trên“ và „dưới“. Nghĩa là thế 
				nào?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trên và dưới dĩ nhiên 
				chỉ là hình ảnh giúp ta dễ hiểu mà thôi. Trợ cụ này có thể khiến 
				nhận thức của ta trở nên ngây thơ mang tính thuần vật lí, làm ta 
				quên mất cái nền tảng. Nhưng hình ảnh trên dưới tự nó vẫn có giá 
				trị. Nó dạy ta biết có chiều sâu chiều cao, biết có nhiều cấp 
				sống, biết có cái lớn cái bé, biết có cái chiều cao đích thực, 
				biết có Chúa hằng sống.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ta cũng kinh nghiệm 
				được cái vô hình và hữu hình một cách cụ thể. Có những lực, tuy 
				mắt ta không thể thấy, nhưng chúng vẫn thực tế hiện diện. Cứ xem 
				những điều liên quan tới trí tuệ và con tim thì biết. Nhìn vào 
				mắt một người, nhìn lối biểu tả hay nhìn một cái gì khác nơi họ, 
				tôi có thể thấy được nội tâm họ, nhưng thấy như một phản xạ từ 
				đáy sâu tâm hồn. Như vậy, nhờ những cái vật chất mà cái vô hình 
				được sáng tỏa, qua đó chúng ta biết chắc chắn có cái vô hình, và 
				cái đó kéo chúng ta theo hướng nó. Dù sao, những lực vô hình, mà 
				ta cảm được qua tác động của chúng, giúp ta hiểu được rằng, thế 
				giới còn sâu xa hơn những gì con mắt và giác quan có thể thu 
				nhận<span style="color:blue">.</span> </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Trong 
				Kinh Thánh Cựu Ước có những dạng hình đầy bí ẩn liên quan tới 
				cái „trên“ và „dưới“, cái „ vô hình“ và „hữu hình“. Những dạng 
				hình đó xuất hiện như là sứ giả của Chúa hoặc như là „thiên thần 
				của Chúa“. Trong số các thiên thần, có ba vị tổng lãnh có danh 
				gọi hẳn hoi. Đó là thiên thần Mi-ca-el (tên có nghĩa là „Ai 
				giống như Chúa“?), Ra-pha-el („Chúa cứu độ“) và Ga-bri-el („Chúa 
				phù-trợ“). Trước đây, trường học dạy cho chúng tôi hay, thiên 
				thần là đấng thiêng liêng, biết nghe và biết muốn. Điều này có 
				còn đúng không?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đúng, vẫn luôn đúng. 
				Kinh Thánh nói cho ta hay điều đó, và con người tự thâm tâm, một 
				cách nào đó, cũng biết rằng không phải chỉ có họ là thụ tạo linh 
				thiêng mà thôi. Chúa cũng phủ đầy thế giới với các tạo vật linh 
				thiêng khác, các tạo vật này giống ta, bởi vì kì cùng thì toàn 
				bộ thế giới của Ngài cũng chỉ là một. Các thiên thần cũng là dấu 
				chỉ sự phong phú, sự cao cả và lòng từ ái của Chúa. Như thế, 
				thiên thần có mặt thật sự trong vũ trụ quan Ki-tô giáo, các ngài 
				là những tạo vật của tạo dựng, nhưng mang dạng hình khác, phi 
				vật chất. Với tính thiêng liêng, các ngài hiện diện trong một 
				không gian sống động quanh Chúa, nơi chúng ta cũng sẽ được đưa 
				vào. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Trong 
				vương quốc thiên thần, theo lời dạy của Giáo Hội, không chỉ có 
				các tổng lãnh và các Ke-ru-bim lẫn Se-ra-fim, mà còn có các 
				thiên thần bản mệnh. Lạ thật, mỗi người có một thiên thần bảo 
				vệ, và người đó còn có thể cộng tác với thiên thần đó!</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đó là một niềm tin đã 
				hình thành nên trong Giáo Hội, và niềm tin đó có lí lẽ vững 
				vàng. Không ai buộc phải tin, vì điều đó không mang tầm mức chắc 
				chắn như các lời dạy về Đức Ki-tô hay về mẹ Maria, chẳng hạn. 
				Nhưng nó thuộc vào những xác tín tại tâm, đã dần dần lớn lên với 
				kinh nghiệm Giáo Hội. Kinh nghiệm đó cho ta hay, một cách nào 
				đó, Chúa đã gởi tới cho ta mỗi người một vị đồng hành để hỗ trợ 
				ta. Dĩ nhiên không phải ai cũng có một xác tín nội tâm như nhau 
				về điểm này. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ngài có 
				biết vị bản mệnh của ngài không?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không. Cám ơn Chúa đã 
				cho tôi tin có thiên thần bản mệnh. Nhưng riêng tôi, tôi cảm 
				thấy có liên hệ trực tiếp với Chúa hơn. Về điểm này, mỗi người 
				mỗi khác, tuỳ tánh khí. Có những người gần thiên thần bản mệnh 
				hơn, và cảm thấy rất được ngài ủi an. Điều quan trọng là không 
				được dừng lại nơi vị bản mệnh, mà phải qua ngài ta tiến tới 
				Chúa, và hướng tương giao đích thực luôn phải là chính Chúa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">&nbsp;</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">ĐIỀU GỌI 
				LÀ SỰ DỮ </span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Huyền 
				thoại kể rằng, lúc đầu các thiên thần mang đầy ơn nghĩa và vinh 
				quang Chúa. Các ngài được ngắm dung nhan Chúa, được cầu nguyện 
				và đầy hạnh phúc. Nhưng Lu-zi-fer, một trong những thiên thần 
				bên cạnh Chúa, đã sa chước cám dỗ kiêu căng và muốn chống lại 
				Chúa. Lu-zi-fer và đồng bạn vì thế phải sa hoả ngục. </span></i>
				</b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Cố gắng 
				giải thích sự dữ đó của huyền thoại Kinh Thánh cho tới nay vẫn 
				không ổn. Hiện nay các nhà khoa học quan sát thấy nơi con người 
				có hiện tượng «gia tăng sự man rợ khả nghiệm và của tính xấu 
				không thể hiểu nổi ». Thánh Phao-lô đã mô tả: “Tôi lỗi luật, sự 
				dữ hiện diện trong tôi, mặc dầu tôi muốn làm điều lành ». Người 
				ta còn kể, Luther* đã thấy sự dữ, nghĩa là đã thấy Sa-tan, bằng 
				xương bằng thịt, và ông đã ném bình mực vào đầu Sa-tan. Câu hỏi 
				nền tảng : Tại sao Chúa lại dựng nên Sa-tan ? Tại sao Ngài lại 
				dựng nên cho chính Ngài một đối thủ ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu chuyện sa hoả ngục 
				trên không do Kinh Thánh trực tiếp kể, nhưng bắt nguồn từ nhiều 
				bản văn được hình thành theo thời gian. Nhưng Kinh Thánh có nói 
				tới các thần dữ. Lúc đầu đề cập ít, nhưng về sau càng lúc Kinh 
				Thánh càng cho thấy bên cạnh thần lành còn có thần dữ, chúng tác 
				động vào thế giới và con người, làm hại con người, và có thể nói 
				muốn lôi con người đi xuống. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng không thể nói 
				Chúa tạo ra Sa-tan. Câu chuyện Lu-zi-fer sa hoả ngục mới hình 
				thành sau này. Nó muốn nói lên rằng, rõ ràng không phải Chúa tạo 
				nên các lực thần dữ. Các lực này xuất hiện rõ nét trong câu 
				chuyện &nbsp;Đức Giê-su trừ quỷ. Chúa chỉ tạo nên thần lành. Và sự dữ 
				không bao giờ là một cái gì độc lập, song nó chỉ xuất hiện như 
				là phủ định của một sự lành. Chỉ trong tương quan với sự lành 
				mới có sự dự, chứ một mình sự dữ thì không có. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Cơn cám 
				dỗ đã như thế nào ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhắc lại : Chúa đã 
				không tạo ra vua sự dữ nào cả, Ngài chẳng cần có một Chúa đối 
				lập nào đứng bên cạnh. Điều Ngài đã tạo ra, là tự do và hoàn 
				cảnh trong đó nhiều khi ta không thấy rõ được tự do đó. </span>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Kinh Thánh cho hay, 
				những lực thần dữ đó có thể là gương soi cho ta. Qua chúng, ta 
				có thể nhận ra cái nguy hiểm của tự do có hình thù dễ sợ như thế 
				nào. Hình thù đó có dạng như sau : Tạo vật càng lớn, nó càng 
				muốn có nhiều độc lập, càng muốn bớt bị lệ thuộc và muốn mình 
				trở thành một thứ chúa tể, chẳng cần nhờ ai giúp nữa. Đây là lúc 
				xuất hiện í muốn bất cần đời, mà ta gọi là kiêu ngạo.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Luôn luôn có cám dỗ 
				nơi loài linh thiêng. Cám dỗ đó xuất hiện như một thứ ngược đời 
				: nó khiến người ta coi tình yêu là lệ thuộc, chứ không phải là 
				quà tặng để tôi được sống. Nó khiến người ta coi tình yêu không 
				như là nguồn lực sự sống nữa, mà như cái gì hạn chế sự độc lập 
				của mình. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Bằng cách 
				nào có thể nhận ra sự dữ ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có lẽ phải nói, chẳng 
				bao giờ có thể chứng minh được quỷ. Nhưng ta biết, ngoài tính 
				xấu nơi con người ra, còn có những rối loạn và phá hoại trong 
				tạo dựng, còn có một thứ lực ganh tị, nó muốn lôi ta đi và nhấn 
				ta xuống. Đó là điều Kinh Thánh và đức tin Ki-tô giáo muốn ta 
				phải í thức. Nhưng phải nhớ rằng, không bao giờ được nâng quỷ 
				lên thành một nghịch chúa, vị này có thể đối đầu và chống trả 
				lại Chúa. Cuối cùng rồi thì phủ định cũng chẳng có quyền lực gì. 
				Sự dữ, tuy là một mối nguy và một cám dỗ thường trực, nhưng kì 
				cùng nó không phải là đối thủ ngang hàng của Chúa. Ta phải luôn 
				biết rằng, chỉ có Chúa là Chúa, và ai bám vào Ngài, kẻ đó chẳng 
				cần sợ gì mọi quyền lực Sa-tan. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Hitler có 
				phải là « Sa-tan bằng xương bằng thịt không », như một số người 
				vẫn nói ? Sartre* có lần bảo: « Quỷ là Hitler, là Quốc-xã Đức ». 
				Và triết gia gốc Do-thái Hannah Arendt*, khi nói về những hành 
				vi tội ác của chủ nghĩa phát-xít, đã dùng một từ nổi tiếng để mô 
				tả : «nỗi tầm thường của sự dữ ».</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Quả thật lạ. Một tay 
				lớn lên từ đáy tầng xã hội, chẳng học-thức gì, ăn không ngồi 
				rồi, mà lại có thể làm dấy động cả một thế kỉ. Với cái nhìn 
				thông suốt quỷ quái, i đã có những quyết định chính trị và đã có 
				thể làm cho mọi người, ngay cả những kẻ trí thức, nghe theo.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hitler là một hình 
				tượng ma quái. Đọc lịch sử các tướng lãnh người Đức, ta thấy 
				trong họ ai cũng muốn chống lại, nhưng rồi cuối cùng lại bị ông 
				ta hớp hồn và không còn dám nói lên ý kiến riêng của họ nữa. Nếu 
				nhìn thật gần con người mang nét mê hoặc ma quái đó, ta lại thấy 
				i quả là một tay thật tầm thường. Và cuối cùng, chính vì quyền 
				lực sự dữ cắm lều trong sự tầm thường, nên ta cũng nhận ra phần 
				nào diện mạo của nó : sự dữ càng lớn, nó càng trở nên nghèo nàn, 
				và kích thước lớn lao của nó thật ra chẳng lớn gì cả. </span>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có thể nói, Hitler 
				cũng đã nhìn ra được trước những hoàn cảnh ma quái. Chẳng hạn, 
				tôi đã đọc một phúc trình về việc chuẩn bị cho chuyến thăm của 
				lãnh tụ phát-xít nước Í ở Berlin. Những người được uỷ thác công 
				việc theo nhau đưa ra đề nghị. Nhưng rồi, sau một hồi lâu suy 
				nghĩ, Hitler tuyên bố : « Không, mọi đề nghị đều trật lất. Tôi 
				thấy phải làm như thế nào rồi ». Và rồi, như trong một cơn xuất 
				thần, i nói ra toàn bộ kế hoạch, và kế hoạch đó cũng đã được 
				thực hiện. Nghĩa là, đâu đó có một siêu lực ma quái khiến cho 
				cái tầm thường trở nên lớn lao – và cái lớn lao trở nên tầm 
				thường – và nhất là khiến nó trở nên nguy hiểm và phá hoại.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chắc chắn không thể 
				nói Hitler là một con quỷ. </span>
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="FR">Ông ta là một con 
				người. Nhưng, qua những tường trình đáng cậy của những người mắt 
				thấy tai nghe, xem ra Hilter có những cuộc gặp gỡ với ma quỷ, i 
				hay run lên và nói: “Nó lại tới kìa”, hoặc những câu đại loại 
				như thế. Ta không thể tìm hiểu ngọn ngành được điều đó. Tuy 
				nhiên, tôi tin, một cách nào đó, i có dính dáng với ma quỷ; điều 
				này có thể thấy qua cách i sử dụng quyền lực, qua những khủng bố 
				và đại hoạ do quyền lực của i gây ra. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Như thế 
				nghĩa là nơi Chúa dứt khoát không có vực sâu, không có mặt tối? 
				Không như kiểu nơi con người có “hai hồn ngủ gật trong lồng ngực 
				tôi”?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu hỏi đó luôn được 
				đặt ra trong lịch sử tôn giáo, ngay cả nơi các phong trào ngộ 
				giáo trong lịch sử Ki-tô giáo. Carl Gustav Jung* cũng đã nhắc 
				lại câu đó theo lối của ông, và tự hỏi, phải chăng đấng Tối hậu 
				cũng lại phải mang trong mình hai khuôn mặt? và ông tiếp: Phải 
				chăng Thiên Chúa này cũng đồng thời là một con quỷ? Phải chăng 
				sự dữ bắt nguồn từ Ngài? Bởi vì, nếu sự dữ hiện hữu, thì nó hẳn 
				phải là cái gì xuất phát từ nơi Ngài?</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Câu hỏi này khiến cho 
				thế giới trở nên thật đáng sợ, bởi vì Thiên Chúa quả đáng sợ.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng câu đó đã được 
				Đức Ki-tô giải toả mọi thắc mắc, khi chính Ngài đã chết cho 
				chúng ta, và qua đó cho ta thấy vực thẳm yêu thương nơi Thiên 
				Chúa. Vì thế, thư Gia-cô-bê đã có thể viết: “Không có bóng tối 
				nơi Ngài”, bóng tối đến từ một chỗ nào khác, chứ Chúa, trái lại, 
				là nơi ta có thể hoàn toàn trông cậy; ma quỷ hay sự dữ không cắm 
				neo trong Ngài, và vì thế, khi Chúa trở nên tất cả trong mọi sự, 
				thì đấng Tối hậu sẽ là kẻ giải phóng khỏi mọi áp chế của sự dữ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Dĩ nhiên ta phải đặt 
				câu hỏi, nếu sự dữ không bắt nguồn từ Thiên Chúa, thì nó từ đâu 
				mà ra? Như vậy, nó làm sao có thể tồn tại? Nếu sự dữ không do 
				Chúa, thì làm sao còn nói được Chúa là đấng tác tạo mọi sự? Ở 
				đây, chúng ta lại đứng trước một vấn nạn vực thẳm. Câu trả lời 
				của Ki-tô giáo và của Kinh Thánh là: Nó tới từ tự do.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Như vậy, sự dữ không 
				phải là một tạo vật mới, nó không phải là một cái gì tự sinh tự 
				tồn, nhưng, tự bản chất, nó là phủ định, nó là sự huỷ diệt thụ 
				tạo. Nó không phải là một hữu thể, vì hữu thể chỉ xuất phát từ 
				nguồn của mọi hữu thể, nhưng nó là cái không. Sức mạnh của cái 
				không này quả làm cho chúng ta rùng mình. Nhưng, tôi tin rằng, 
				ta cũng an tâm khi biết rằng sự dữ không phải là một tạo vật 
				riêng rẽ, mà nó là một thứ cây chùm gởi. Nó sống nhờ kẻ khác, và 
				rốt cuộc nó sẽ tự giết nó, như số phận cây chùm gởi, một khi nó 
				trở thành ông chủ và giết kẻ bảo trợ mình. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Sự dữ không phải là 
				thứ gì tự sinh, tự hữu, nhưng nó là phủ định. Và khi tôi để mình 
				sa vào sự dữ, thì đó là lúc tôi bỏ không gian triển nở tích cực 
				của hữu thể, để bước vào tình trạng ăn bám của phá hoại và phủ 
				định hữu thể. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">THIÊN ĐÀNG 
				VÀ ĐỊA NGỤC </span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Một trong 
				những thành tố cơ bản của đức tin là quan điểm về thiên đàng, 
				hoả ngục, và ngay cả luyện ngục. Quan điểm này ngày càng trở nên 
				xa lạ và bị ngờ vực.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chết không phải là 
				hết, đó là xác tín của đức tin Ki-tô giáo. Ngoài ra, đây cũng là 
				niềm tin chung của nhân loại, thể hiện dưới nhiều hình thức khác 
				nhau. Một cách nào đó, con người biết rõ: còn có một cái gì 
				thêm, còn có một cái gì hơn nữa. Điều đó có nghĩa là chúng ta có 
				trách nhiệm trước Chúa, có nghĩa là có một toà án, có nghĩa là 
				cuộc sống con người có thể được cứu rỗi hay bị hư mất.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Liên quan tới việc 
				được cứu rỗi, mà chúng ta ai cũng hi vọng đạt đến, dù mình vẫn 
				còn nhiều thất bại, thì lửa luyện ngục đóng vai trò quan trọng. 
				Nào ai trong chúng ta có được cuộc sống toàn hảo. Và hi vọng 
				cũng không có nhiều người trong chúng ta hoàn toàn bị hư mất. Dù 
				gặp nhiều thất bại, đa số chúng ta vẫn ao ước điều tốt. Chúa có 
				thể đưa tay đón lấy bình vỡ và hàn gắn nó lại. Nhưng với điều 
				kiện là ta phải có một sự thanh tẩy cuối cùng nào đó, tức là lửa 
				luyện ngục; ánh lửa nhìn của Đức Ki-tô này, có thể nói, sẽ uốn 
				ta lại cho đúng, và nhờ đó ta mới có thể gặp được Chúa, và có 
				thể bước vào được trong nhà Ngài. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nghe ra 
				vừa khiêu khích vừa cổ hủ.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi tin đó là một cái 
				gì rất người. Có thể nói, ngay cả nếu không có luyện ngục thì 
				cũng nên lập ra nó, vì ai dám bảo mình đã toàn hảo, có thể trực 
				diện với Chúa. Và ta cũng chẳng muốn mình, nói như trong Kinh 
				Thánh, là chiếc “bình bất hạnh” phải bị bỏ đi, nhưng muốn mình 
				được cứu độ. Lửa luyện ngục thật ra có nghĩa là Chúa hàn gắn lại 
				những mảnh vỡ, là Ngài có thể thanh tẩy ta thật sạch, để ta có 
				thể tới được bên Ngài và có được một cuộc sống dư đầy.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Còn các tín hữu Phật 
				giáo hay Tin lành làm gì ở thế giới bên kia? Một vở kịch xưa của 
				tiểu bang Bayern bảo rằng, dân Phổ có riêng một thiên đàng, bởi 
				vì nếu không, thì thiên đàng của Bayern không còn là thiên đàng 
				nữa. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi muốn nói rằng, với 
				cái nhìn thật người, thì lửa luyện tội cũng giúp ta bỏ đi được 
				các chủ trương cá biệt kiểu đó. Nó giúp ta quẳng đi những gì 
				không kham nổi, và tẩy sạch những gì không thể chịu đựng, để 
				trong ta chỉ còn hiện ra cái tâm trong sáng, và ta nhận ra rằng, 
				tất cả mọi người đều thuộc vào một bản đại hoà tấu chung.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Còn các Phật tử, họ 
				quan niệm tất cả chỉ là khổ đau, nên cũng muốn bước ra khỏi bánh 
				xe khổ đau của quá khứ, để bước vào một cõi không tinh tuyền, 
				nhưng cõi không này, một cách nào đó, cũng không phải là hoàn 
				toàn hư vô. Vì thế, dù với một lối diễn tả hoàn toàn khác ta, 
				đạo đó cũng dạy một cái gì như hi vọng vào một hiện hữu tối hậu 
				chân thực.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chúng ta chia sẻ với 
				tín hữu tin lành niềm tin có thiên đàng và hoả ngục. Vì nhiều lí 
				do, trong đó có giáo huấn về công chính hoá, nên họ đã không thể 
				chấp nhận lửa luyện tội. Và có lẽ ta cũng chẳng nên tranh luận 
				nhiều về chuyện này. Trên căn bản, mọi người chúng ta đều mừng, 
				khi biết Chúa sẽ uốn nắn lại những gì ta không thể uốn nắn được.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Cầu 
				nguyện cho kẻ chết hẳn cũng bắt nguồn từ đó?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có một lực thôi thúc 
				uyên nguyên nơi con người, khiến họ muốn làm một cái gì thêm cho 
				người đã khuất, cũng như để nói lên tình yêu đối với người đó, 
				nhất là khi họ cảm thấy mình có lỗi với người quá cố. Chúng ta 
				tin rằng, mình còn có thể gởi một món quà sang bên kia thế giới 
				cho người đã mất. Nếu chỉ có thiên đường và hoả ngục không thôi, 
				thì điều đó quả vô nghĩa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Như vậy, cầu nguyện 
				cho người chết hàm chứa nhận thức sâu xa, là ta còn có thể làm 
				điều tốt cho họ. Và tôi tin rằng, cái khía cạnh rất nhân bản này 
				chính là luyện ngục. Những người chết đang ở trong một tình 
				trạng, mà lời cầu của ta có thể giúp họ. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">An-tịnh 
				có lần phân biệt « tạo dựng ban đầu » và « tạo dựng tiếp tục ». 
				Giáo Hội thì nói tới « chương trình cứu độ lớn của Chúa ». Như 
				vậy, có nghĩa là trước sau Chúa vẫn ngồi trước tập sách của Ngài 
				và viết tiếp trang lịch sử sự sống, hết chương này tới chương 
				khác ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong Tin Mừng Gio-an, 
				Đức Ki-tô cũng có lần nói : « Cha Ta đã tác động, và Ngài vẫn 
				luôn tác động ». Ngài dùng cả chữ « làm việc », vì Ngài được nói 
				tới như một người làm công, và Ngài nói : Chúa đã làm việc và 
				Ngài luôn còn làm tiếp. Điểm này hoàn toàn giống như điều chúng 
				ta có thể thấy được trong khái niệm « Thiên Chúa sống động ».
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chúa không rút lui. 
				Trong Ngài, chỉ cần một nháy mắt là mọi sự đã có. Và mọi sự diễn 
				ra không bao giờ như một bánh xe quay nhàm chán, mà trái lại, 
				luôn tiếp diễn như một hiện tại sống động. Như thế, đúng là Chúa 
				luôn hiện diện trong lịch sử. Lịch sử thâu tóm sự duy nhất của ý 
				nghĩvà lời nói của Ngài, tắt lại, thâu tóm toàn bộ hiện tại của 
				Ngài trong từng cấp phát triển của nó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Người ta cũng có thể 
				nghĩ rằng, giờ đây, chính con người là kẻ viết tiếp chương tạo 
				dựng. Bởi vì thiên nhiên cho tới nay đã cần hàng triệu năm để 
				làm điều, mà ngày nay các nhà nghiên cứu di tử và các nhà hoạ 
				mẫu sinh học, chỉ bằng qua một nháy mắt lịch sử, đã tạo ra nơi 
				các loại thực phẩm và sinh vật mới.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Việc ráp nối di tử đó 
				dĩ nhiên là một vấn nạn lớn. Một mặt, đó là một cơ may. Nhờ đó, 
				chúng ta đã tiến sâu vào cơ cấu uyên nguyên của sự sống, để có 
				thể nhận ra được những mật mã, và có thể cùng cấu trúc hoặc ngay 
				cả tái cấu trúc các di tử. Việc làm này tốt, bao lâu nó có tác 
				dụng chữa lành và còn tôn trọng tạo dựng. Nhưng khi con người 
				tin rằng, chính mình là tạo hoá, là thợ cấu trúc thế giới, lúc 
				đó nó có thể trở nên kẻ phá hoại.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vấn đề quan trọng ở 
				đây, là phải biến sự kính trọng trước những gì không được đụng 
				đến thành một hiến chương cho mọi hành động con người. Ta phải 
				biết, con người không thể và không được phép trở thành thí vật 
				cho kế hoạch lắp ráp của chính con người. Ta phải ý thứcrằng, 
				ngay khi bắt đầu lắp ráp là trong ta có thể đã manh nha tư tưởng 
				muốn cai trị thế giới, và điều này đồng thời cũng có nghĩa là 
				một tiềm năng phá hoại đã chớm nở. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Con người không thể 
				tạo ra một cái gì cả, nó cùng lắm chỉ có thể kết hợp một cái gì 
				đó thôi. Với khả năng đó, nó có thể là một người giúp việc và 
				bảo vệ khu vườn Thiên Chúa, bao lâu nó còn tỏ ra khiêm tốn và 
				kính trọng đối với những ý nghĩđã có trong tạo dựng. Nhưng khi 
				nó muốn làm tạo hoá, lúc đó tạo dựng sẽ bị đe dọa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">CÂY SỰ 
				SỐNG </span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Việc hái 
				trái cây hiểu biết đã là một tội tầy đình. Chúa đã cảnh cáo điều 
				đó trong trình thuật Kinh Thánh, và Ngài còn cảnh cáo tiếp về 
				một chuyện tày đình hơn, chuyện cấm kị tuyệt đối, đó là việc 
				nhúng tay vào cây sự sống.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Sách 
				Khởi-nguyên viết, Chúa đã sai các thiên thần Che-ru-bim cầm gươm 
				lửa đứng canh phía đông vườn địa đàng, để không ai được tới gần 
				cây đó, cho tới khi ngày phán xét đến. Chúa nói trong Kinh Thánh 
				«Vâng, con người giờ đây đã trở thành giống Ta, vì nó nhận ra sự 
				lành sự dữ. Giờ đây, chỉ còn việc là không để nó vươn tay tới 
				cây sự sống, hái trái ăn và sống đời đời!» Phải chăng Chúa muốn 
				dựng lên một biên cương cuối cùng ở đây ? Nếu vượt qua, đương 
				nhiên con người sẽ tự huỷ diệt mình ?</span></i><span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">&nbsp;</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Những hình ảnh lớn 
				trên đây của Khởi-nguyên, rốt cuộc, không thể giải thích hết 
				được và sẽ không bao giờ hoàn toàn cạn ý nghĩa. Chúng còn bao 
				gồm các chiều kích khác vượt lên trên mọi nhận thức của ta.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước hết, tôi muốn 
				trình bày cái nhìn cổ điển do các giáo phụ khai triển về những 
				hình ảnh đó. Các ngài cho rằng, con người không được gần cây sự 
				sống, là vì con người đã ăn trái cây hiểu biết, và do đó tự đưa 
				mình vào một tư thế không còn xứng hợp. Khi đưa tay hái trái cây 
				đó, con người đã chuốc vào mình một số phận thảm thương. Trước 
				hoàn cảnh mới này, Chúa bảo, con người không được gần cây sự 
				sống nữa, bởi vì, nếu như nó bất tử trong tình trạng này, thì 
				quả đó là điều khốn nạn cho nó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Như vậy, việc cấm tới 
				gần cây sự sống, là nơi gắn liền với số phận sự chết, là một ân 
				huệ. Nếu chúng ta phải bất tử trong tư thế ta đang sống, thì đó 
				không phải là một tình trạng đáng mong. Trong một cuộc sống với 
				quá nhiều hỗn mang, thì cái chết là một hồng ân, tuy nó vẫn là 
				một mâu thuẫn và là một biến cố bi thảm đối với từng người. Bởi 
				vì nếu không, cuộc sống theo kiểu đó sẽ nên bất tử, và thế giới 
				như thế sẽ trở thành nơi hoàn toàn không thể dung thân được.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Phải 
				chăng sứ điệp của hình ảnh trên ngày hôm nay phải được lưu tâm 
				hơn bao giờ hết ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Dĩ nhiên ta có thể đi 
				sâu hơn vào ý nghĩa của những hình ảnh đó. Nếu giờ đây ta thấy 
				con người, khi đã nắm được các mật mã di tử, bắt đầu chiếm hữu 
				cây sự sống, và tự coi mình là chúa sự sống, có thể lắp ráp sự 
				sống ra mới, thì như vậy, họ đã thật sự vượt qua lằn biên cuối 
				cùng mà đáng lẽ họ phải giữ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Với kĩ năng xảo thuật 
				đó, con người biến con người thành tạo vật của mình. Do đó, con 
				người không còn xuất phát từ bí mật tình yêu, nghĩa là không còn 
				được hình thành từ tiến trình tạo thai và sinh hạ vốn đầy bí ẩn 
				nữa, nhưng là một sản phẩm kĩ nghệ. Nó được tạo ra bởi người 
				khác. Như vậy, nó bị cướp mất phẩm giá và hào quang tạo dựng 
				riêng của nó. Ta không biết tương lai của lãnh vực này rồi sẽ ra 
				sao, nhưng ta có thể xác tín : Chúa sẽ ra tay chống lại tội ác 
				tự huỷ của con người. Ngài sẽ chống lại việc dày đạp con người, 
				sẽ chống lại việc con người tạo ra những đồng loại nô lệ. Có 
				những đường biên cuối cùng, mà nếu ta bước qua, ta sẽ trở thành 
				những tên phá hoại tạo dựng, và lỗi phạm của ta còn vượt xa tội 
				tổ tông và các hậu quả tiêu cực của nó. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Vấn đề 
				dùng xảo thuật để cải biến sự sống con người đã trở nên cấp 
				tính.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Sự sống con người là 
				bất khả nhượng, không thể có chọn lựa nào khác ở đây. Phải dựng 
				lên nơi đây một biên giới cho hành động, khả năng, khuôn phép và 
				thí nghiệm của con người. Con người không phải là một đồ vật. 
				Song mỗi người là đại biểu cho sự hiện diện của Chúa trên trần 
				gian. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Đôi lúc 
				xem ra đường ranh đó không còn ở trước ta nữa, nhưng đã bị ta 
				vượt qua rồi. Với kĩ thuật di tử, con người có được một dụng cụ 
				mới cho phép họ lần đầu tiên toàn quyền sử dụng toàn bộ vật liệu 
				di truyền trên hành tinh này. </span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Sự sống 
				đã bị biến thể từ khá lâu rồi. Đã có tới hàng chục, thậm chí 
				hàng trăm ngàn bào thai không được hình thành qua hành động giao 
				phối bình thường, nhưng qua việc kết hợp tinh trùng và trứng bên 
				ngoài dạ mẹ. Có những đứa trẻ có tới ba mẹ : mẹ cho trứng, mẹ 
				mang thai và mẹ nuôi. Có những trẻ có cha đã mất nhiều năm trước 
				khi chúng sinh ra.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Trong 
				tương lai, rất có thể người ta sẽ tạo ra trẻ theo í muốn, theo 
				phái tính, màu mắt, chiều cao, sức nặng, hay có thể kéo dài sự 
				sống với một thân xác khác. Cuối 1999, khi một nhóm nhà khoa học 
				đã hoàn tất mở khoá được một trong 24 chromosomen của con người 
				(tuy là một trong những chromosomen nhỏ bé, nhưng mỗi cái chứa 
				khoảng 30 triệu thông tin di truyền), một bà trong nhóm đã nói 
				với phóng viên : Quả là một « công việc hỏa ngục ». Có thể nhà 
				khoa học đó có lí ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đúng, rất tiếc có thể 
				đúng như vậy. Nhưng trước hết, ta phải phân biệt giữa cái con 
				người làm và cái con người là. Bất cứ ai được sinh ra từ ống 
				nghiệm đều cũng là người, và ta vẫn yêu và chấp nhận họ như là 
				người. Việc ta phải chống lại lối tạo người bằng ống nghiệm 
				không có nghĩa là ta đóng ấn những người được sinh ra bằng cách 
				đó. Dù vậy, ta vẫn nhận ra nơi họ cái bí ẩn của con người và 
				chấp nhận họ như là người. Đó là điều rất quan trọng, tôi tin 
				như thế. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Quả thật đã có sự vượt 
				rào gia trọng, như anh nói. Giáo Hội công giáo, ngay từ đầu, đã 
				cảnh báo việc chế tạo con người. Lối chế tạo đó, thoạt tiên, 
				diễn ra dưới những hình thức vô tội, như mọi chuyện vẫn luôn 
				khởi đầu một cách vô tội. Trước hết, người ta bảo là để giúp cho 
				những cặp vợ chồng không con. Vấn đề ở đây chưa phải là gia 
				trọng, nếu quả thật đó là những vợ chồng thành tâm muốn có được 
				con bằng cách ấy. Tuy nhiên, ở đây, người ta cũng bắt đầu tuột 
				dốc, khi tin rằng, mình phải có con bằng bất cứ giá nào, mình 
				phải có quyền có con. Với kiểu đó, đứa con trở thành một của cải 
				thuần tuý. Nó không còn được sinh ra từ tự do của Tạo hoá nữa, 
				tự do này cũng được thể hiện nơi sự bất lường của tự do nơi 
				thiên nhiên. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi nghĩ, cái nguy cơ 
				lớn của ngày nay, nói chung, là xem con như một quyền, như một 
				của cải. Các cha mẹ không những muốn phô trương chính họ qua của 
				cải đó, mà còn qua đó nhắm vớt vát lại những gì họ chưa thành 
				đạt. Có thể nói, qua con cái, họ lặp lại chính cuộc đời mình một 
				lần nữa và để được xã hội công nhận. Vì vậy mới có sự chống đối 
				của con cái. Chúng chống cha mẹ, vì chúng muốn thể hiện quyền 
				muốn được là chính chúng. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chính mỗi người được 
				sinh ra từ tự do của Chúa, và ở trong tự do đó với quyền riêng 
				của mình. Giáo dục gia đình là để hướng trẻ tới cái riêng tư của 
				chúng, chứ không phải là để cho cha mẹ, đó là trọng điểm đích 
				thực của các chương trình giáo dục phản quyền uy hiện nay. Nhưng 
				điểm sai của các chương trình này là chủ trương hoàn toàn vứt bỏ 
				giáo dục, với lập luận rằng, giáo dục sẽ lèo lái tự do và có thể 
				bóp chết tự do. Tự do cần được giúp đỡ để cất cánh, nó cần được 
				nâng đỡ qua sự đồng hành. Và một lối giáo dục thật sự cảm thông 
				sẽ không nhắm lái trẻ theo mình, nhưng là giúp chúng phát triển 
				hình hài và mở ra con đường riêng của chúng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Xin trở 
				lại một lần nữa về việc lắp ráp, chế tạo con người …</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Như đã nói, việc làm 
				khởi đầu vô hại, tỏ ra vì con người, nhưng khi coi đứa con không 
				còn là quà tặng nữa, mà là sở vật phải tạo ra nếu cần, lúc đó là 
				ta đã bước qua lằn biên. Hành vi kĩ thuật, bao gồm cả việc thụ 
				thai ống nghiệm, giờ đây thay thế cho một hành vi tình yêu. Từ 
				đây, những vấn nạn kế tiếp sẽ được đặt ra. Trước hết, làm gì với 
				số phôi gọi là thặng dư, phôi đó đã là người, nhưng lại bị xử lí 
				như là những sản phẩm dư thừa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Với lối 
				xử lí hiện tại, hàng ngàn sự sống đã bị giết hàng loạt.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhiều hậu quả khác cứ 
				thế theo nhau xẩy ra, chúng rốt cuộc từng bước làm biến đổi 
				tương quan đối với con người. Rồi cái gì sẽ diễn ra tiếp, bắt 
				đầu từ lúc nào sẽ nổ ra tai hoạ kiểu nào, ta chưa biết được. Cám 
				ơn Chúa là ta không biết. Nhưng ta biết, ta phải chống lại việc 
				dùng xảo thuật cải biến sự sống và việc tuỳ nghi sử dụng sự 
				sống. Không phải ta chống lại tự do của khoa học hay cản ngăn 
				những khả thể của kĩ thuật, nhưng là bảo vệ tự do của Chúa và 
				phẩm giá con người, vì hai thứ đó đang gặp nguy. Ai có được lối 
				nhìn đó nhờ đức tin – khá nhiều người không phải ki-tô hữu cũng 
				có cái nhìn như vậy -, đều có bổn phận làm nổi bật lằn biên đó 
				lên và làm cho người khác chấp nhận dừng lại trước lằn biên đó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<a name="4_._TRẬT_TỰ_TỰ_NHIÊN__">
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">4 . TRẬT 
				TỰ TỰ NHIÊN </span></a></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">NHỮNG BẰNG 
				CHỨNG HIỂN NHIÊN CỦA VŨ TRỤ </span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngay cả khi chúng ta 
				không thể nhìn thấu được Chúa, chúng ta vẫn có thể, qua những gì 
				dưới đây, thấy được ít nhiều về việc cấu tạo thế giới và về 
				những gì được trao tặng cho con người trong vũ trụ thần thánh 
				này. Nhưng luôn với điều kiện là Chúa hiện hữu thật sự. Về điểm 
				này, ngài nhiều lần nói tới những giá trị khách quan, tới « bằng 
				chứng hiển nhiên của sự sống con người » và tới những sứ điệp 
				của vũ trụ. Ngài bảo rằng, vấn nạn của thời đại tân tiến là con 
				người đã xa lìa khỏi bằng chứng hiển nhiên đó. Có những thái độ 
				tuyệt đối đúng và luôn đúng, có những thái độ khác đương nhiên 
				sai và luôn sai, vì chúng đi ngược lại sự sống và con người. 
				Nghĩa là thế nào ?</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ki-tô giáo quan niệm 
				thế giới, trong từng chủng loại, được hình thành qua một quá 
				trình tiến hoá rất phức tạp, nhưng nó chung quy lại cũng được 
				phát sinh ra từ cội nguồn Logos (Lời). Như vậy, thế giới mang 
				trong mình không những một lí trí toán học – không ai chối cãi 
				được rằng thế giới được cấu tạo theo toán học -, nghĩa là một lí 
				trí trung lập và khách quan, mà với tính cách là Logos, nó còn 
				mang một lí trí đạo đức nữa. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Làm sao 
				biết được điều đó ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chính tạo dựng giúp ta 
				hiểu và chấp nhận điều đó. Ngay người ngoài Ki-tô giáo cũng hiểu 
				được điều này. Song, nhờ đức tin bật mí, ta thấy được trong lí 
				trí của tạo dựng không những chỉ có sứ điệp toán học, mà còn có 
				cả sứ điệp đạo đức nữa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cái bật mí thứ nhất 
				gọi là lương tâm. Lương tâm là nhận thức cội nguồn, nó cho ta 
				biết có những sự việc không bao giờ là tốt cả. Giết một người vô 
				tội, dù với lí do nào đi nữa, là điều đương nhiên ai cũng thấy 
				sai, với điều kiện người đó không bị giáo dục sai lầm. Nói 
				chung, tôn trọng sự sống là tốt. Hoặc giữ lời hứa, nghĩa là 
				trọng tính chân thật và sự thật, cũng vậy. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Dĩ nhiên đó là những 
				giá trị rất chung. Ta biết, Hans Küng* muốn hoà trộn chúng lại 
				dưới dạng một nền đạo đức thế giới, nghĩa là lập chúng thành một 
				bảng điều lệ chung áp dụng cho hết mọi người. Ta chưa cần tranh 
				luận chuyện này ở đây. Nhưng dù vậy, nỗ lực của ông cũng hé cho 
				ta thấy có một nét trong sáng nào đó trong tạo dựng, xuyên qua 
				đó ta nhìn ra được những huấn lệnh của Tạo hoá. Và nữa, các hằng 
				số giá trị chung - cho dù trong mỗi cái riêng còn chứa những 
				khác biệt lớn - xưa nay vẫn hiện diện xuyên suốt qua các tôn 
				giáo lớn và qua toàn bộ lịch sử tri thức của nhân loại. Hãy lấy 
				nói dối làm thí dụ. Có người cho rằng, đôi lúc nói dối là đúng, 
				là cần. Nhưng chẳng ai muốn xác định nói dối tự nó là đúng cả.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Để các bằng chứng hiển 
				nhiên đó trở nên tác dụng và trong sáng, chúng ta cần được giáo 
				huấn. Nhờ giáo huấn, các kiến thức tổng quát và chưa rõ ràng sẽ 
				được cụ thể hoá và trở nên có thể thực hiện được. Việc giáo huấn 
				đó là một phần của con đường dẫn ta tới Đức Ki-tô. Giáo Hội gọi 
				con đường đó là sự soi sáng, bởi vì nhờ đó mà một cá nhân dần 
				dần nhìn ra được rõ hơn về một điều nào đó đã tiềm tàng nơi 
				mình. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Phải 
				chăng những «bằng chứng hiển nhiên của vũ trụ», cái « hiến 
				chương sự sống » đó (mà ta vẫn luôn hay quên và thường không 
				nghĩ đến) đã nằm sẵn trong những huyền thoại xa xưa như lũ lụt, 
				tháp Babylon, hay thành Sodom và Gomorrha ? Phải chăng sứ điệp 
				của các câu chuyện đó quả là một thứ kiến thức sống còn cho cả 
				nhân loại ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Lạ thật, những câu 
				chuyện đó có mặt khắp nơi trong lịch sử tôn giáo. Chúng hiển 
				nhiên là những tiếng còi báo động. Chuyện lũ lụt có mặt trong 
				nhiều vùng địa lí hoàn toàn biệt lập, không liên hệ gì tới nhau. 
				Một cách nào đó, chúng nói lên một kinh nghiệm và nhận thức 
				chung của nhân loại, một hồi tưởng còn đọng lại nơi con người. 
				Ta có thể khám phá ra nhiều sứ điệp ẩn tàng trong các câu chuyện 
				đó. Chẳng hạn việc xây tháp Babylon, ở đây con người muốn dùng 
				kĩ thuật để kiến tạo cho mình một văn minh chung. Họ muốn dùng 
				sức mình và khả năng xây dựng của mình để thực hiện giấc mơ – 
				chính đáng - về một thế giới, về một nhân loại. Và qua tháp cao 
				chạm trời đó, họ muốn chứng tỏ quyền năng mình và muốn nhảy vào 
				lãnh vực thiên chúa. Trên căn bản, điều đó cũng giống như giấc 
				mơ của nền kĩ thuật hiện nay: nắm được quyền năng thiên chúa và 
				tìm ra được chốt khoá của thế giới. Như vậy, các hình ảnh trên 
				đúng là những lời cảnh cáo vang lên từ nhận thức cội nguồn của 
				ta. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Hãy bàn 
				tiếp chuyện tháp Babylon. Ở đây, Kinh Thánh cho ta một thông tin 
				lạ lùng «Chúa nói, xem kìa, chúng là một dân tộc, và chúng tất 
				cả chỉ có một tiếng nói. Nhưng đó mới là khởi đầu công việc của 
				chúng. Không có gì chúng muốn mà chúng không làm được. Thôi, Ta 
				hãy xuống đó! Ta sẽ làm rối loạn ngôn ngữ của chúng, để chúng 
				không thể nghe hiểu nhau nữa ». Nghe ra thật chuyên quyền.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vâng, nghe như giọng 
				ganh tị, cơ hồ Chúa không muốn để cho con người ngẩng cao đầu. 
				Dĩ nhiên đây là một ngôn ngữ hình ảnh, rút ra từ kho văn hoá 
				do-thái xưa. Một số yếu tố ngoại giáo lúc đầu vẫn còn hiện diện 
				trong đó, nhưng qua những đợt giải thích chúng dần dần được gột 
				bỏ hết. Vấn đề ở đây không phải là Chúa sợ con người trở nên quá 
				lớn rồi giành ngai Ngài, nhưng Ngài thấy được ước vọng sai trái 
				và tiềm năng tự huỷ của họ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có lẽ ta nên giải 
				thích hình ảnh trên như thế này : Tháp Babel tượng trưng cho 
				việc con người muốn chỉ dùng khả năng kĩ thuật để hợp nhất nhân 
				loại và để vươn tới Chúa, trở thành như chính Ngài. Nhưng giờ 
				đây Chúa nói cho ta biết, một hợp nhất trên căn bản như thế sẽ 
				không vững, nó sẽ tạo ra hỗn-loạn.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Bài học đó có thể áp 
				dụng cho ngày nay. Một mặt, thế giới hôm nay có sự hợp nhất đó. 
				Trọng điểm của mọi thành phố đều giống nhau, dù ở Nam Phi hay 
				Nam Mĩ, ở Nhật hay Mĩ châu, Âu châu. Đâu đâu con người cũng bận 
				quần bò (Jeans), hát một thứ nhạc, cùng theo dõi một chương 
				trình truyền hình và cùng chiêm ngưỡng những ngôi sao màn ảnh. 
				Như thế, có thể nói, nhân loại có một thứ văn minh chung, kể cả 
				một thứ thức ăn chung là McDonalds.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thoạt nhìn, cảnh đồng 
				phục đó là một thứ lực dung hoà khá hiệu nghiệm – cũng giống như 
				cái ngôn ngữ chung khi xây Babel -, nhưng cùng lúc đó con người 
				trở nên xa lạ nhau. Họ không tới gần nhau được nữa. Thay vào đó, 
				ta thấy nổi lên các chủ trương độc lập vùng, các văn hoá chống 
				đối nhau, ai cũng muốn mình chỉ là mình hoặc cảm thấy mình bị 
				văn hoá khác đàn áp. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có phải 
				đó là một bản luận chứng chống lại nền văn minh chung không?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đúng, bởi vì nó làm 
				người ta mất nét riêng, mất nét đích thực của họ. Mất thông tin 
				chiều sâu giữa người với người. Thông tin này không thể tạo ra 
				được bằng những cách cư xử bề ngoài, phiến diện và bằng những 
				máy móc kĩ thuật giống nhau. Nếu người ta chỉ hợp nhất trên bề 
				mặt đó, thì cùng lúc thâm tâm họ sẽ chống lại sự đồng phục, vì 
				họ nhận ra chính sự đồng phục đó làm cho họ bị nô lệ. </span>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có thể nói, dạng thống 
				nhất và tư tưởng muốn làm chủ thế giới cũng như làm chủ sự sống 
				theo kiểu Babel của con người cần phải xét lại. Đây chỉ là một 
				thứ hợp nhất giả hiệu, một thứ giả nâng con người lên mà thôi. 
				Thật ra nó cướp đi chiều cao và độ sâu của con người. Ngoài ra, 
				nó cũng biến con người thành nguy hiểm, vì một mặt con người có 
				thể làm được rất nhiều chuyện, nhưng mặt khác khả năng đạo đức 
				của họ không tương ứng được với khả năng kĩ thuật. Sức mạnh đạo 
				đức không lớn kịp với khả năng hành động và đập phá, mà con 
				người đã tạo ra. Đó là lí do, tại sao Chúa ra tay chống lại thứ 
				hợp nhất kia và mở ra một loại hợp nhất hoàn toàn khác. </span>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ngài muốn 
				nói gì ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Với ki-tô hữu chúng 
				ta, Tân Ước và Cựu Ước luôn là một. Các sách Cựu Ước là bước 
				đầu. Theo xác tín của ta, các sách đó không thể hiểu, nếu ta 
				không đọc tiếp bước thứ hai. Ta cũng sẽ thấy điểm này trong các 
				chương sau, khi bàn đến liên hệ giữa Adam và Đức Ki-tô và qua 
				các thí dụ khác. Chúa đã mở ra một mô hình hợp nhất qua diễn 
				tiến câu chuyện ngày lễ ngũ tuần. Mô hình đó là đối cực của 
				Babel, chỉ nhờ nó ta mới hiểu được Babel. Lúc đó, các tông đồ 
				tuy không nói chung một thứ tiếng, nhưng tất cả đều hiểu nhau. 
				Vẫn giữ đa dạng, như giờ đây sự hợp nhất con tim đã tạo thành 
				một hợp nhất nội tâm. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Mô hình ngũ tuần đối 
				lại với Babylon : một sự hợp nhất vẫn bảo tồn được kho tàng của 
				nhân loại. Chúa muốn hợp nhất. Đó là mục tiêu của toàn bộ hành 
				động của Ngài trong lịch sử; đó là lí do xuống thế của Đức 
				Ki-tô; đó là lí do Ngài lập Giáo Hội. Nhưng sự hợp nhất mà Ngài 
				muốn phải có một độ sâu và một tầm cao khác.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Lời cảnh báo của 
				Babylon khiến ta phải nghĩ tới cuộc cách mạng điện tử hiện tại, 
				một cuộc cách mạng làm thay đổi và đảo điên thế giới như chưa 
				từng có. Xem ra chúng ta muốn tạo một vũ trụ hoàn toàn mới. 
				Những hiện thực trên mạng lưới và những cái gọi là công ti 
				thương mại điện tử không còn chỉ là trò chơi giải trí, mà đã trở 
				thành một trò chơi ăn thua đủ với rất nhiều tiền, với quyền lực 
				và với kinh tế quốc dân, chúng nắm trong tay số phận của hàng 
				triệu con người.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Và thêm nữa : Ngày 
				nay, đa phần dân tây phương mất nhiều thì giờ cho máy móc điện 
				tử hơn là cho việc tiếp xúc với thực tế « thường nhật », nghĩa 
				là tiếp xúc với con người và thiên nhiên. Những thực tế ảo trên 
				mạng đang thay thế cho các thực tế thường nhật. Càng ngày, chúng 
				ta buộc phải bỏ thêm công sức ra để chống trả lại những hình ảnh 
				thôi miên trong cái thế giới hợp nhất đó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ở đây, nhờ diễn tiến 
				lịch sử, ta lại nhận ra được những trực giác của một hình ảnh, 
				mà trước đây ta không thể nghĩ tới được. Dĩ nhiên, đó không phải 
				là nghĩa chữ của nội dung câu chuyện Babylon. Song, nếu ta đọc 
				nó với ánh sáng kinh nghiệm, ta sẽ nhận ra cái trực giác chứa 
				đựng trong đó, nó cụ thể hoá ra trước mắt ta ngày hôm nay. Nhờ 
				đó, ta hiểu được ý nghĩa của những biến chuyển hiện tại, hiểu 
				được tại sao việc tạo nên thứ thống nhất kia là một mối nguy.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có thể so 
				sánh một hình ảnh huyền thoại lớn khác của Kinh Thánh, đó là lụt 
				hồng thuỷ, với những thứ lụt khác trên thị trường tư bản: lụt 
				hình ảnh khích dâm, lụt tuyên ngôn, lụt quảng cáo… không ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nước cũng là một hình 
				ảnh mang nhiều chiều kích. Nước luôn có hai nghĩa. Với nghĩa là 
				nguồn, là mưa, thì đó là một quà tặng, một yếu tố cần cho sự 
				sống. Khi nó mang hình ảnh đại dương hay lũ lụt, thì đó lại là 
				mối nguy cho trái đất, nó có thể nuốt luôn sự sống. Lụt hồng 
				thuỷ như vậy là biểu tượng nguyên mẫu cho những thế lực phá 
				hoại, chúng vùi chôn sự sống, xoá đi biên cương bảo vệ sự sống 
				mà Chúa đã vạch ra. Đê vỡ cuốn theo sự sống. Nhìn như thế, thì 
				cơn hồng thuỷ vẫn là một hình ảnh rất nhiều nghĩa đối với con 
				người. Bao nhiêu cảnh tượng ta thấy ngày nay : lũ lụt, đê vỡ, 
				phá hoại sự sống, phá hoại văn hoá, phá hoại con người. </span>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<a name="5_CÁC_GIAO_ƯỚC__">
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">5 CÁC GIAO 
				ƯỚC </span></a></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">GIAO ƯỚC 
				CŨ </span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Giao ước 
				cũ là câu chuyện giữa Thiên Chúa với dân riêng Ngài. Chính Chúa 
				đã cho dân này một tên gọi. Đó là ngày Ngài đánh vật với tổ phụ 
				Gia-cóp bên sông Gia-cóp. Gia-cóp đã không chịu thua, vì vậy từ 
				đây ông được gọi là „Is-ra-en“, kẻ tranh cãi với Chúa. </span>
				</i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tại sao 
				Chúa lại phải chọn một dân riêng? Và tại sao lại là dân Do-thái?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cựu Ước, chẳng hạn như 
				trong sách Dân-số, luôn nêu lên lí do đặc biệt về sự tuyển chọn 
				đó. Qua Mai-sen Chúa nói với dân Ngài: Ta không chọn ngươi vì 
				ngươi là một dân đặc biệt lớn và đặc biệt quan trọng, cũng không 
				phải vì ngươi có được phẩm cách này kia, mà vì Ta yêu ngươi.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chúng ta không thể 
				dùng lí luận để tìm hiểu việc tuyển chọn này, đó vẫn là một ẩn 
				số. Vấn đề là Chúa chọn. Nhưng không phải Ngài chọn để loại trừ 
				những dân khác, mà là để qua dân này Ngài tới với các dân khác, 
				và để Ngài bước vào sân chơi lịch sử một cách cụ thể. </span>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Suốt 3000 
				năm lịch sử, dân riêng đó đã phải trải qua 2000 năm lưu đày, và 
				cho tới ngày nay cũng còn phải đấu tranh cho nền an ninh đất 
				nước. Phải tự hỏi: Tại sao lại là Ai-cập to lớn và hùng mạnh với 
				các đại đế Pha-ra-ôn, và tại sao một dân tộc được tuyển chọn nhỏ 
				bé lại bị truy nã, lưu đày và bách hại suốt bao nhiêu thế kỷ- 
				cho tới sém bị huỷ diệt hoàn toàn bởi nạn Quốc-xã?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Thiên Chúa có những 
				khái niệm khác. Việc tuyển chọn của Ngài không mang nghĩa to lớn 
				như ta hiểu. Ngài không cất nhắc dân Ngài lên hàng cường quốc, 
				nhưng Ngài tự tỏ mình và gây tác động qua cái bé nhỏ. Tiêu chuẩn 
				quan trọng của Chúa không phải là cường quốc, mà là thực tại đức 
				tin.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vì đức tin mà một dân 
				tộc được chọn. Dân tộc này nằm lọt giữa các nước lớn Ai-cập và 
				Babylon, và luôn bị họ đe doạ xâu xé. Như vậy, Chúa làm lịch sử 
				của Ngài một cách hoàn toàn khác, không như một quyền lực trần 
				gian. Và đó có thể là bài học cho Giáo Hội chúng ta, để ta hiểu 
				rằng giá trị của mình không nằm nơi quyền lực thế gian, mà nơi 
				việc mình luôn thể hiện và đại biểu cho một Thiên Chúa khác. 
				Thời điểm lớn lao của Giáo Hội là thời điểm đau khổ và bách hại, 
				chứ không phải lúc có nhiều tiền và nhiều quyền lực.Đây cũng là 
				bài học cho chính ta, để nhìn ra đâu là cái cơ bản và đâu không 
				là cơ bản trong cuộc sống. Chứ đừng hỏi tại sao Chúa lại làm 
				thế. Ngài đã chỉ cho ta một con đường, một hướng đi, và Ngài giữ 
				sự độc lập của Ngài. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Quả là 
				một lịch sử lạ lùng. Dù dân Do-thái suốt 2000 năm lang thang, bị 
				săn đuổi từ nước này sang nước khác, tôn giáo của họ vẫn không 
				bốc hơi. Đây là một hiện tượng có một không hai trong nhân loại. 
				Câu hỏi: Có sự liên quan nào giữa sự phát triển đầy bí ẩn của 
				thế giới với sự phát triển của dân tộc Do-thái?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Theo tôi, rõ ràng có. 
				Một dân tộc tí hon, không đất, không tên tuổi, suốt 2000 năm 
				sống rải rác khắp thế giới, vậy mà vẫn giữ được đạo, vẫn giữ 
				được căn cước Is-ra-en và do-thái của mình, quả là một bí ẩn 
				tuyệt đối. Điều này cho thấy có sự tác động của một bàn tay nào 
				khác trong đó. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chúa đã không biến dân 
				đó thành nước lớn, mà trái lại, họ đã trở thành một dân tộc mang 
				nhiều đau khổ nhất trong lịch sử thế giới. Nhưng họ luôn giữ 
				được căn cước của mình. Đức tin của họ không mất. Và đức tin đó 
				luôn là một cái gai cho hoàn vũ Ki-tô giáo, một tôn giáo thoát 
				sinh từ lịch sử do-thái và gắn bó với lịch sử đó. Như vậy, chỉ 
				giải thích bằng các ngẫu nhiên lịch sử không thôi thì không đủ. 
				Mọi cường quốc thời đó đều đã suy-tàn. Chẳng còn Ai-cập xưa, mà 
				cũng chẳng còn dân Babylon hay Assiri. Nhưng Is-ra-en vẫn còn 
				đó. Và nó chỉ cho ta thấy chút gì bền vững, vâng, cho ta thấy 
				cái bí ẩn của Thiên Chúa. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Is-ra-en 
				là cái nôi của đức tin Ki-tô giáo, và ta có thể nói không ngoa 
				rằng, hai tôn giáo lớn này đã ảnh hưởng quyết định lên nền tảng 
				cuộc sống của nhiều vùng đất lớn địa cầu. Cho tới hôm nay, dân 
				Do-thái còn tác động nhiều lên việc phát triển văn hoá của nhiều 
				quốc gia, mà Hoa-kì là một điển hình đặc biệt. Có phải dân 
				Do-thái ngày nay vẫn là dân riêng của Chúa?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đó là câu hỏi thời 
				gian qua đã có những tranh luận kịch liệt. Dân Do-thái có một 
				mối liên hệ đặc biệt với Chúa và Chúa không bỏ rơi họ, đó là 
				điểm quá rõ. Và đó cũng là hướng nhìn của Tân Ước. Phao-lô nói 
				với ta trong thư gởi giáo đoàn Rôma: cuối cùng thì cả Is-ra-en 
				sẽ trở về. Nhưng vấn đề là sau khi đã hình thành Giáo Hội, đã 
				hình thành Dân Chúa bao gồm mọi dân tộc, sau khi đã có Giao-uớc 
				mới, thì một cuộc sống theo Giao ước cũ - một cuộc sống không mở 
				ra cho cái mới của Đức Ki-tô – tự nó có còn giá trị nữa hay 
				không?</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngày nay có rất nhiều 
				luận-thuyết trả lời cho câu hỏi đó. Là ki-tô hữu, chúng ta xác 
				tín rằng bản chất Cựu Ước là hướng về Đức Ki-tô, và nó chỉ tìm 
				thấy lời giải đích thực cũng như đích điểm tối hậu, khi nó được 
				đọc từ quan điểm Đức Ki-tô. Ki-tô giáo không phải là một đạo nào 
				đó khác với đạo của Is-ra-en, nhưng nó là cách đọc Cựu Ước mới 
				với Đức Ki-tô.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chúng ta đã thấy qua 
				một lô thí dụ, là những câu chuyện và bản văn Cựu Ước chỉ là 
				nhập đề để đi tới một cái gì khác. Chỉ khi ta đọc chúng qua Tân 
				Ước thì ý nghĩa của chúng mới sáng tỏ và toàn hảo. Tân Ước vì 
				thế không phải là cái gì chép thêm vào. Và thái độ của ta đối 
				với Cựu Ước không phải là thái độ của người chiếm hữu trái phép 
				một cái gì đó của người khác. Với ta, Cựu Ước chỉ là một đoạn 
				đường dang dở, nếu không được tiếp tục với Tân Ước. Đó là xác 
				tín nền tảng của Ki-tô giáo.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng, cùng với xác 
				tín đó, ta cũng tin rằng Is-ra-en ngày nay vẫn có một sứ mạng 
				đặc biệt. Chúng ta vẫn chờ thời điểm dân tộc này về với Đức 
				Ki-tô, nhưng chúng ta cũng biết rằng, trong giai đoạn lịch sử 
				gọi là đứng trước cửa này, họ vẫn mang một sứ mạng có tầm quan 
				trọng đối với thế giới. Như vậy, dân tộc này vẫn nằm trong 
				chương trình của Thiên Chúa một cách đặc biệt. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nghĩa 
				Chúa không rút lại lời, Is-ra-en vẫn là dân riêng của ngài?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không, Chúa không rút 
				lại, vì Ngài thuỷ chung. Dĩ nhiên, ta có thể thấy là Is-ra-en 
				còn có một đoạn đường nữa phải đi. Là ki-tô hữu, chúng ta tin 
				rằng kết cuộc rồi họ sẽ gặp Đức Ki-tô cùng với chúng ta. Nhưng 
				không phải vì vậy mà họ bị coi thường và đẩy ra khỏi chương 
				trình của Chúa, trái lại họ vẫn chung thuỷ với Ngài. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Như vậy 
				có nghĩa là dân Do-thái phải, hoặc nên chấp nhận đấng Cứu Thế?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="FR-CA">Chúng ta tin như 
				thế. Điều này không có nghĩa là ta được phép ép họ theo Đức 
				Ki-tô, nhưng ta phải chia sẻ sự kiên nhẫn của Chúa. Ta cũng phải 
				nỗ lực sống sao cho cộng đoàn ki-tô không còn chống lại họ hay 
				trở nên quá đáng đối với họ, mà ngược lại, phải làm sao để con 
				đường trở về mở rộng thêm cho họ. Nhưng ta vẫn luôn xác tín Đức 
				Ki-tô cũng là vị cứu tinh của dân Do-thái. Dĩ nhiên mọi quyết 
				định đều nằm trong tay Chúa, Ngài sẽ quyết định khi nào và bằng 
				cách nào dân Do-thái sẽ làm một với dân ngoại, khi nào và bằng 
				cách nào tất cả đều quy tụ thành một Dân Ngài. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Phao-lô 
				viết trong thư gởi giáo đoàn Rô-ma: “Cả tôi cũng là dân Do-thái, 
				cũng là một hậu duệ của Abraham theo chi Benjamin”. Dù vậy, ngài 
				cho hay, một phần dân này vẫn “cứng đầu”. Và ngài tiếp: “Nhìn 
				theo Tin Mừng thì họ là kẻ thù của Chúa…, nhìn theo sự tuyển 
				chọn thì họ là dân được Chúa yêu”. Quả nặng lời.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đó lại là một trong 
				những nghịch lí của Tân Ước. Việc không chấp nhận Đức Ki-tô, một 
				mặt, đẩy dân Do-thái vào một hoàn cảnh xung khắc với hành động 
				tiếp nối của Chúa, nhưng đồng thời ta cũng biết, là Chúa vẫn 
				chung thuỷ với họ. Họ không bị loại ra khỏi ơn cứu độ, nhưng vẫn 
				phục vụ Ngài theo cách riêng của họ, và vì thế Chúa vẫn chờ họ, 
				cũng như Ngài vẫn chờ&nbsp;ta </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">SÁCH CỦA 
				MỌI SÁCH</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Kinh 
				Thánh, cuốn sách ta thường đọc, gồm 72 cuốn: 45 cuốn của Cựu Ước 
				và 27 cuốn của Tân Ước. Lâu đời nhất là sách Mai-sen, đã có từ 
				hơn 3000 năm. Người ta bảo, Chúa Thánh Thần đã hướng dẫn và chỉ 
				vẽ cho người viết phải viết thế nào và Ngài đã giúp họ tránh lầm 
				lẫn: “Điều này được viết cho dòng dõi sẽ tới, để dân tộc sắp 
				được tạo thành ca ngợi Thiên Chúa”. </span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có phải 
				tất cả Kinh Thánh thật sự đều là lời Chúa không? Nếu đúng như 
				thế, thì lẽ ra Chúa Thánh Thần phải biết trái đất hình cầu, chứ 
				đâu phải hình dĩa!</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vâng, người ta có thể 
				nêu ra những thắc mắc hài hước như thế. Nhưng anh thấy đó, người 
				ta cũng phải suy nghĩ về nét cá biệt của Kinh Thánh. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hãy so sánh Kinh Thánh 
				với kinh Co-ran, chẳng hạn. Tín hữu Islam xác tín rằng Co-ran do 
				Chúa trực tiếp đọc cho viết. Chẳng cần phải thông qua lịch sử, 
				chẳng cần môi giới con người nào, đó là lời Chúa trực tiếp. Kinh 
				Thánh, trái lại, có một cấu trúc hoàn toàn khác. Nó được môi 
				giới qua một lịch sử, và chính sách đó được viết trải dài hơn 
				một ngàn năm. Việc Mai-sen hay một ai đó có thật sự là tác giả 
				hay không, chuyện này ta tạm để qua một bên. Nhưng đúng là văn 
				chương Kinh Thánh đã hình thành trải qua một ngàn năm lịch sử, 
				và trong đó phản ảnh nhiều tầng lịch sử và văn minh khác nhau. 
				Chẳng hạn trong ba chương đầu của sách Sáng-thế, ta đối diện với 
				một hình thái văn minh khác với hình thái của thời lưu đày hay 
				thời sách Khôn ngoan hoặc cuối cùng là thời văn chương tân ước. 
				Như vậy, rõ ràng đây không phải là lời trực tiếp của Chúa, nhưng 
				là lời viết về một lịch sử do Ngài dẫn lối, là chứng từ của lịch 
				sử đó. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đọc Kinh Thánh, người 
				ta bắt gặp những câu chuyện thật gay cấn và những dụ ngôn ơn ích 
				cho cuộc sống – nhưng cũng gặp vô số chuyện đầy mâu thuẫn. Tôi 
				chỉ hiểu Kinh Thánh như là lời Chúa, khi đọc nó trong sự lôi 
				cuốn của cái nhất thống, của cái toàn thể, chứ không phải đọc 
				từng chữ, từng câu. Đó là một cái gì rất nền tảng và rất gây 
				cấn. Kinh Thánh vì thế chứa đựng nhiều chuyện mâu thuẫn hoặc 
				chắc chắn hào hứng, bởi vì, trước mắt ta, đức tin được trình bày 
				như là một hệ thống chưa hoàn chỉnh.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Kinh Thánh không phải 
				là sách giáo khoa về Chúa hay những chuyện của Ngài, nhưng nó 
				chứa đựng những hình ảnh mở ra các nhận thức và những cái nhìn 
				đang phát triển, và trong đó cũng cho thấy một lịch sử đang được 
				hình thành.&nbsp;Tôi chỉ hiểu Kinh Thánh như là lời Chúa, nếu khi 
				đọc, tôi biết nối cái này với cái kia, biết dùng hình ảnh này để 
				sửa hình ảnh kia. Nếu khi đọc, tôi không đặt những hình ảnh đó 
				trong liên quan với cuộc sống phúc âm, thì lúc đó tôi chỉ đọc 
				những câu chuyện lịch sử mà thôi. Dĩ nhiên các câu chuyện đó có 
				những trạng huống đặc biệt, nhưng chúng cũng chỉ là những câu 
				chuyện riêng rẽ - và đó không hẳn bao giờ cũng là lời Chúa trực 
				tiếp.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Rắc rối 
				quá.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Một là, ta coi Kinh 
				Thánh như những câu chuyện lịch sử thuần tuý, trong đó có thể 
				nói các yếu tố con người được phơi bày ra một cách không che 
				đậy. Hai là, ta nhìn nó trong tổng thể như là lời Chúa, trong đó 
				các sự việc có liên quan với nhau và chúng mở ra từ từ. Nhìn như 
				thế, thì tiêu chuẩn linh ứng và không sai lầm không thể áp dụng 
				một cách máy móc được ở đây. Không thể rút ra một câu nào đó, và 
				bảo rằng câu này trong sách Chúa và tất nhiên nó phải đúng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Kinh Thánh là lời 
				Chúa, khi ta nhìn nó như một lịch sử thống nhất. Người Do-thái 
				cũng quan niệm như thế. Họ phân biệt giữa kinh Thora như là quy 
				điển thật sự của Kinh Thánh, và các sách tiên tri và sách truyện 
				khác như là một loại khung. Còn chúng ta, như đã nói, chúng ta 
				xác tín Tân Ước là chìa khoá của Cựu Ước.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đó là lí do các giáo 
				phụ thần học và thần học thời trung cổ không bao giờ gọi Kinh 
				Thánh là “mạc khải”. Mạc khải là cái gì lớn hơn, cái gì đứng 
				đàng sau Kinh Thánh. Và linh ứng có nghĩa là những tác giả Kinh 
				Thánh – nên nhớ Kinh Thánh thường là kết quả của các tập thể - 
				đều xuất phát từ dân Chúa và viết về lịch sử của Ngài. Gọi là 
				linh ứng, vì họ là những người, xuyên qua nhiều trung gian, đã 
				diễn tả lịch sử dân Chúa và sự hướng dẫn của Ngài ra bằng chữ 
				viết, trong đó có phần đóng góp của chính Chúa. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có nghĩa 
				là toàn bộ lịch sử nhân loại đã được ghi chép trong Kinh Thánh, 
				từ đầu đến cuối. Trong đó đã gồm mọi khôn ngoan, mọi bí mật, và 
				cả mọi biến cố cho tới hôm nay và cả tương lai. Muốn hiểu nó, 
				chỉ cần thủ đắc một thứ chìa khoá. Vì thế ta chỉ cần học cách mở 
				khoá. Ngài nghĩ gì về quan điểm này?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nếu hiểu một cách 
				phiến diện và máy móc thì quan điểm đó sai. Có người tin rằng đã 
				nắm được chìa khoá, rồi bảo rằng Chúa muốn nói đến chiến tranh 
				nguyên tử trong sách Khải-huyền, chẳng hạn, và gán cho Chúa là 
				tác giả của những biến cố. Dĩ nhiên ta có thể theo cách đó nhìn 
				ra nhiều tương đồng lạ lùng và thấy được nhiều chuyện đã được 
				nói trước. Nghĩ rằng trong Kinh Thánh đã chứa sẵn mọi sự kiện 
				thực nghiệm, là hoàn toàn sai.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cái toàn thể và tổng 
				thể có thật trong Kinh Thánh mang bản chất hoàn toàn khác. Kinh 
				Thánh nói về toàn bộ lịch sử, và cũng mở ra những nguồn sáng cơ 
				bản chiếu soi đường đi của lịch sử. Nhưng Chúa không nghĩ thay 
				chúng ta. Ngài không thay thế khoa học, không thay thế những nỗ 
				lực tinh thần của chính chúng ta. Ngài để cho chúng ta, như đã 
				nói, tự do vật lộn với thế giới. Ngài không nhảy vào lỗ hổng 
				kiến thức của ta, nhưng ban cho ta khôn ngoan - sự khôn ngoan 
				này dĩ nhiên bao gồm cả kiến thức trong nó, vì nếu không, thì nó 
				chẳng phải là khôn ngoan thật sự. Ngài cho ta những định hướng 
				cần thiết để ta có thể sống đúng. Những bảng chỉ đường của Ngài 
				có giá trị cho toàn bộ lịch sử, cho mọi nơi mọi thời, nhưng vấn 
				đề là ta phải luôn hiểu chúng một cách mới. Sách giáo lýcó ghi 
				lại câu của đại giáo chủ Grê-gô-ri-ô: Lời trong Kinh Thánh lớn 
				lên với người đọc. Và người đọc cũng lớn lên với Lời đó, và chỉ 
				như thế Lời mới cho thấy nét cao cả của nó và đồng thời lớn lên 
				trong lịch sử.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có người 
				tin rằng Kinh Thánh chứa đầy bạo tàn, bất dung và thiếu độ 
				lượng. Họ đếm được 250 chỗ nói tới việc tiêu diệt kẻ thù. Mặt 
				khác, một thầy dòng già nói với tôi, càng đọc Kinh Thánh, cuộc 
				sống thường nhật của ta bắt đầu càng thay đổi, tiến về hướng tốt 
				đẹp hơn.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đúng, tôi cũng muốn 
				nói như thế. Nếu tôi đọc Kinh Thánh chỉ để tìm những cảnh rùng 
				rợn, hay để thu góp những màn máu me, thì việc đọc hẳn chả giúp 
				gì cho tâm hồn. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Một mặt, Kinh Thánh 
				quả là tấm gương phản chiếu lịch sử, nhưng mặt khác, nó cũng là 
				con đường dẫn đưa từng người tiến về ánh sáng. Khi tôi đọc Kinh 
				Thánh đúng với tinh thần của nó, nghĩa là đọc trong tư thế hướng 
				về Đức Ki-tô, cũng như khi người Do-thái đọc nó với tinh thần vô 
				tư và tin tưởng, lúc đó Kinh Thánh có sức biến đổi thật. Nó đưa 
				tôi vào phong cách của Đức Ki-tô, chỉ ra cho tôi ý nghĩa cuộc 
				đời và làm chính tôi biến đổi.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Ngài có 
				lần nói, sở hữu chủ của Kinh Thánh là dân thường, chứ không phải 
				là hạng thông thái. </span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Điều đó tôi muốn nói 
				với thần học giải phóng. Đúng là: Kinh Thánh do Dân Chúa viết 
				ra, các tác giả riêng rẽ được linh ứng, vì thế tiếng nói của họ 
				cũng là tiếng nói của Giáo Hội, và qua Giáo Hội Chúa nói với ta. 
				Vì thế, Kinh Thánh cũng được trao cho đức tin của những người 
				đơn sơ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Dĩ nhiên cần có những 
				chuyên viên, những học giả để diễn giải những chuyện thuần lịch 
				sử và khoa học. Nhưng ý nghĩa quyết định của Kinh Thánh thì ngay 
				tín hữu bình dân cũng hiểu được. Kinh Thánh thật sự được viết ra 
				cho mọi người nên ai cũng hiểu. Thánh An-tịnh có một câu thật 
				hay: Con thỏ và con lừa rừng đều uống từ một nguồn suối, cả hai 
				đều đã khát. Mà quả thực như thế, thỏ và lừa đều nhận được của 
				uống phù hợp cho mình.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có một lô 
				những tài liệu không được nhận vào Tân Ước. Ngày nay, những tài 
				liệu thuộc loại ẩn thư đó đã được khai quật và được nói đến khá 
				nhiều. Có lẽ người ta đã kết thúc công việc điển chế Kinh Thánh 
				quá sớm?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chuyện điển chế là một 
				trong những vấn đề lớn, ngay cả cho Cựu Ước. Cựu Ước cũng có 
				nhiều ẩn thư, và cũng có những quy điển khác nhau. Người ta đã 
				phân biệt rất sớm giữa quy điển Alexandria, là tập hợp các sách 
				Cựu Ước được dịch ra tiếng Hi-lạp, và quy điển Masora, mà đạo 
				Do-thái đã ấn định sau thời Đức Ki-tô. Dĩ nhiên, đã có những tài 
				liệu quan trọng – như kinh Thora và cả phần nhiều các sách Tiên 
				tri – từ lâu đã được xếp vào loại quy điển rồi, nhưng nói chung, 
				vào thời Đức Ki-tô công việc điển chế vẫn còn chưa xong.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Từ cái nhìn Tân Ước, 
				hầu như toàn bộ quy điển Alexandria được công nhận là quy điển 
				của Cựu Ước. Còn các giáo sĩ Do-thái chọn quy điển Masora, là 
				bản mỏng hơn, vì theo họ bản Alexandria chứa quá nhiều yếu tố 
				Ki-tô giáo. Cuối cùng, Luther chọn bản quy điển do-thái, mà ông 
				cho là bản duy nhất đúng. Vì vậy ngày nay Cựu Ước của Tin lành 
				mỏng hơn Cựu Ước của ta.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Lịch sử điển chế Tân 
				Ước quả rất nhiêu khê. Dù các phần cơ bản đã định hình vào cuối 
				thế kỷthứ hai rồi, nhưng chuyện điển chế vẫn dây dưa mãi tới thế 
				kỷthứ năm. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhìn từ quan điểm 
				thuần lịch sử, hay nói như nhà thần học tin lành Harnack<a href="http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=533&ict=7121#_ftn1">[1]</a>, 
				là nhìn từ góc độ tự do, ta có thể nói được rằng, việc điển chế 
				Tân Ước xẩy ra một cách tình cờ, dù vậy, các tài liệu thật sự 
				quan trọng và giá trị đều đã được nhận vào đầy đủ trong đó. Nếu 
				xét từ góc độ đức tin, thì việc quy điển đã không do một ai làm 
				nên cả, chẳng phải do một nhóm nhà thông thái tụ nhau lại nghiên 
				cứu sắp đặt, nhưng nó đã được hình thành lần hồi qua việc Giáo 
				Hội sống trực tiếp với những bản văn sống động đó, và nhất là 
				chúng cũng đã được bảo toàn nhờ phụng vụ. Người xưa đã tự hỏi: 
				Cái gì nên đọc? Cái gì mang giá trị phổ quát? Cái gì đã được 
				ki-tô hữu do-thái, hi-lạp và la-tinh công nhận? Có thể nói, qua 
				một tiến trình sàng lọc khó khăn, Giáo Hội đã chọn ra những gì 
				là nền tảng chung (dĩ nhiên có những chút khác biệt tuỳ từng 
				vùng trong Giáo Hội).</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngày nay, có những nỗ 
				lực xét lại và làm lại từ đầu một phần quy điển. Đặc biệt các 
				phong trào nữ quyền thấy quan điểm của họ được phản ảnh trong 
				các tài liệu ngộ giáo và những tài liệu này lại không được nhận 
				vào Tân Ước. Vì thế, họ đòi có một quy điển khác. Nhưng, như vậy 
				có nghĩa là chối bỏ Giáo Hội sống động để thay vào đó những tái 
				cấu trúc của các nhà thông thái. Như vậy là người ta muốn có một 
				cuộc trưng cầu về đức tin. Vấn đề là: Tôi tin có Giáo Hội, Giáo 
				Hội này được nhận ra nơi một đức tin chung và đặt nền tảng trên 
				đức tin đó. Hay tôi cho rằng việc tuyển chọn các bản văn mang 
				tính tình cờ và lịch sử? Nếu tôi theo quan điểm thứ hai, thì tôi 
				cứ việc tìm lấy một Ki-tô giáo khác, và cứ việc tìm cho mình 
				những nguồn mới khác.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Mặt khác, 
				chẳng tìm đâu ra một nguyên bản các sách Kinh Thánh nào. Lại 
				nữa, làm sao tránh khỏi lỗi lầm khi chép lại các văn bản. Như 
				vậy làm sao xác định được sự trung thực của Kinh Thánh?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vẫn xác định được, đó 
				là điều chắc chắn. Dĩ nhiên người ta vẫn còn tranh luận nhau 
				từng chữ từng câu. Cứ đọc ấn bản Tân Ước mới và mang tính phê 
				bình của Nestle-Aland<a href="http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=533&ict=7121#_ftn2">[2]</a> 
				thì rõ, trong đó có biết bao điểm khác với ấn bản thường. Nhưng, 
				dù đọc và học được nhiều cái hay trong các bản chép tay đó, dù 
				biết được những phong trào và kinh nghiệm của Giáo Hội phản ảnh 
				trong đó, cuối cùng ta vẫn nhận ra nét bản chất không đổi của 
				Kinh Thánh. Dù ta chọn cho mình một bản chép tay khác hay chọn 
				một lối đọc khác, thì Kinh Thánh vẫn vậy. Có nhiều biến thái và 
				khía cạnh hay, nhưng bản văn và bản chất thực của nó nhìn chung 
				vẫn không đổi. Và chính vì tính trung thực của nó được bảo đảm, 
				nên nó có thể xuất hiện dưới nhiều biến thái khác nhau.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Phan-sinh 
				không những đọc Kinh Thánh, mà còn dùng nó như một lối chơi bài. 
				Tương truyền, khi lập dòng, ngài mở đại một trang sách và nói: 
				“Chúng ta làm như thế!”. Rồi lại mở một trang khác và nói: “Đấy 
				là luật dòng chúng ta!”. Cả thánh An-tịnh cũng có lần mở đại một 
				trang và áp dụng cho đời mình; trang đó đã biến đổi hoàn toàn 
				con người ngài.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chuyện đó có lâu lắm 
				rồi. Cả thánh An-tịnh cũng đã từng nghe chuyện đó. Trang Kinh 
				Thánh đã đổi đời An-tịnh và Phan-sinh. Vua Baudouin nước Bỉ có 
				lần kể cho tôi hay, ông cũng áp dụng cách thức đó, và luôn gặp 
				được những câu ông cần, và chúng đã mang lại cho ông ơn ích 
				không thể tưởng. Trong một cuộc khủng hoảng chính phủ thật trầm 
				trọng, ông không còn biết làm sao để lập chính phủ, ông liền vào 
				nhà nguyện, cầm Kinh Thánh dở ra và đã tìm được phương cách giải 
				quyết. Chuyện có thể xẩy ra.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Và đó là 
				lời khuyên cho những ai muốn lập chính phủ…</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Dĩ nhiên. Nhưng ta 
				không thể đơn giản dùng nó như một toa thuốc. Bằng không, Kinh 
				Thánh trở thành sách bói toán. Điều đúng và quan trọng, là ta 
				đọc Kinh Thánh thường đều, và để lời Chúa đồng hành và hướng dẫn 
				ta. Cứ suy tư với nó, ta sẽ gặp được những lời thiết thực có ích 
				cho ta trong những tình huống nhất định.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<a name="6._LỀ_LUẬT__">
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">6. LỀ LUẬT
				</span></a></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">VỀ BỐN LỀ 
				LUẬT </span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Giáo Hội 
				đã lập ra bốn lề luật. Những lề luật này đặt nền tảng trật tự 
				cho việc tổ chức cuộc sống trong thế giới. Các luật đó: thứ nhất 
				là luật thiên nhiên; thứ hai là luật dục vọng; thứ ba là luật 
				giao ước cũ qua Mai-sen; thứ bốn là luật giao ước mới qua &nbsp;Đức 
				Giê-su Ki-tô. Tóm tắt của tôi như thế có đúng không?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước hết, phải nói 
				các lề luật đó không có cùng một cấp độ ngang nhau. Luật thiên 
				nhiên cho biết chính thiên nhiên cũng có một sứ điệp luân lí. 
				Công cuộc tạo dựng còn mang một nội dung tinh thần, và nội dung 
				này không chỉ mang tính cơ giới toán học. Sứ điệp luân lí là 
				chiều kích nâng khoa học tự nhiên lên trong các luật thiên 
				nhiên. Nhưng không phải chỉ có tinh thần, không phải chỉ có 
				„luật thiên nhiên“ trong cuộc tạo dựng. Tạo dựng tiềm ẩn trong 
				nó một trật tự, và nó cũng chỉ cho ta thấy trật tự đó. Qua trật 
				tự này, ta đọc được suy nghĩ của Thiên Chúa và hiểu được mình 
				phải sống ra sao.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Điểm thứ hai: Luật dục 
				vọng muốn nói lên rằng sứ điệp của tạo dựng đã bị che mờ. Tội 
				lỗi trong thế giới là một thứ đối lực chống lại sứ điệp đó. Luật 
				này cho thấy con người, như người ta vẫn nói, đang chống lại 
				mình. Về điểm này, Phao-lô đã nói như sau: Con người cảm thấy có 
				sự hiện diện của một luật trong họ, nó khiến họ nhiều khi làm 
				chuyện trái với mong muốn của mình. Điều này như vậy là một cấp 
				độ khác. Trong khi luật thiên nhiên cho biết sứ điệp tiềm ẩn nơi 
				tạo dựng, thì luật dục vọng cho thấy con người tự xây cho mình 
				một thế giới riêng, và như vậy đã mang vào thế giới một chiều 
				hướng đối nghịch. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Đó là 
				điều đặc biệt thánh Tô-ma ở Aquino đã diễn tả và kiện toàn?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vâng. Tô-ma là tổng 
				hợp và kết quả của những điều trên.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Điểm ba : luật giao 
				ước cũ. Cả luật này cũng có nhiều tầng ý nghĩa. Căn bản của luật 
				này là mười giới răn ở núi Si-nai. Thêm vào đó, cả 5 sách của 
				Mai-sen cũng được gọi là « luật ». Các sách này là bộ luật của 
				Is-ra-en. Chúng đề ra những quy tắc sống, những lề lối cầu 
				nguyện và những quy định đạo đức phải theo cho dân này. Phao-lô 
				đã xét kĩ các luật đó, và nhận ra rằng luật Mai-sen đã là một 
				quyền lực thật sự. Luật này vẫn còn giá trị cho dân Do-thái, và 
				trên nhiều bình diện, cho cả chúng ta nữa, chúng ta sẽ bàn thêm 
				chuyện này sau. Nhưng Phao-lô đồng thời cho hay, luật đó hoàn 
				toàn không thể giải phóng được con người. Lí do: Luật càng đòi 
				hỏi mạnh bao nhiêu thì bản năng chống lại nó càng lớn bấy nhiêu.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chính &nbsp;Đức Giê-su 
				Ki-tô, theo Phao-lô, là kẻ đã giải phóng lề luật, đã đưa tự do 
				đức tin và tình yêu thay thế lề luật. Tiếp nối í của thánh 
				Phao-lô, Tô-ma ở Aquino đã nói tới một luật gọi là luật Đức 
				Ki-tô, và luật này có một bản chất hoàn toàn khác. Thánh Tô-ma 
				nói, luật mới, luật Đức Ki-tô, là Thánh Thần, nghĩa là đó là một 
				sức mạnh thúc đẩy ta từ bên trong, và ta không hoàn toàn bị lệ 
				thuộc bởi bên ngoài. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Như vậy chúng ta có 
				tất cả bốn tầng khác nhau : thứ nhất là sứ điệp của tạo dựng. 
				Thứ hai là khuynh hướng đối nghịch của con người trong lịch sử, 
				muốn chống lại Thiên Chúa và muốn tạo cho mình một thế giới 
				riêng. Thứ ba là tiếng nói Thiên Chúa trong Cựu Ước, Cựu Ước đề 
				ra cho con người một con đường, nhưng con người chống lại con 
				đường đó và xem ra họ bất lực trong việc chống đó. Luật giao ước 
				cũ tạm thời vẫn còn, nó mở ra cánh cửa vượt qua nó. Và cuối cùng 
				thứ tư là Đức Ki-tô, Ngài đã đến trong ta không qua các lề luật 
				bề ngoài, và đã mở ra một hướng nội tâm cho cuộc đời chúng ta.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhưng câu 
				này của &nbsp;Đức Giê-su làm cho tôi khó chịu : « Đừng nghĩ rằng tôi 
				đến để phá lề luật và các tiên tri. Tôi đến, không phải để phá, 
				mà để làm cho trọn. Amen, tôi cũng muốn nói điều này : Cho tới 
				khi trời đất qua đi, một nét chữ nhỏ nhất trong luật cũng không 
				qua đi, cho tới khi tất thảy mọi sự đã xảy ra ». </span></i></b>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đức Ki-tô đến không 
				như một kẻ phá luật. Ngài không đến để bãi bỏ luật hay biến nó 
				thành ra vô nghĩa. Phao-lô cũng hành động như thế, cả cho dù một 
				số người theo quan điểm của ngài nhận thấy có điều khó hiểu 
				trong câu nói của &nbsp;Đức Giê-su được ghi lại bởi Mat-thêu trên. 
				&nbsp;Đức Giê-su nói, toàn bộ luật cũ có vai trò sư phạm rất quan 
				trọng. Và Ngài đến để làm trọn nó. Điều này cũng có nghĩa là để 
				nâng nó lên một tầm cao hơn. Ngài làm trọn nó qua cuộc khổ nạn, 
				qua cuộc sống và sứ điệp của Ngài. Và nhờ vậy, toàn bộ luật đó 
				giờ đây mới có được ý nghĩa. Tất cả những gì luật cũ gói gém và 
				muốn nói lên, đã được thực hiện nơi con người &nbsp;Đức Giê-su.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đó là lí do tại sao 
				chúng ta giờ đây chẳng cần phải thực thi từng mớ chi tiết của 
				luật cũ nữa. Sống cộng đoàn với Đức Ki-tô có nghĩa là chúng ta 
				đang ở nơi luật đã được nên trọn, nơi luật có chỗ đứng đúng của 
				nó, nơi nó đã được « nâng lên », nghĩa là nơi nó được bảo tồn và 
				đồng thời cũng được biến thể. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có biết 
				bao nhiêu thư viện chứa đầy những bộ luật quy định cách sống 
				chung và cách hành xử cho con người trong các quốc gia. Nhưng 
				ngược lại, &nbsp;Đức Giê-su muốn tóm tắt những luật đó trong vài câu 
				dễ hiểu và có thể áp dụng cho mọi người trên trái đất, Ngài muốn 
				có một bộ luật chính yếu cho thế giới.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Trước câu 
				hỏi: Thưa Thầy, điều luật nào quan trọng nhất, Ngài trả lời : « 
				Ngươi nên yêu Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết tâm hồn và với hết 
				mọi ý nghĩ. Đó là điều luật thứ nhất và quan trọng nhất. Điều 
				thứ hai cũng quan trọng không kém : Ngươi nên yêu tha nhân như 
				chính ngươi ». Và Ngài còn nói thêm, như thể để cho mọi người có 
				thể nắm bắt: « Hai điều luật đó là toàn bộ lề luật và các tiên 
				tri ».</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Quả thực đó là bước 
				đột phá lớn, là tổng hợp quan trọng mà &nbsp;Đức Giê-su đã mang tới. 
				Ngài giúp ta vượt qua mọi góc độ và chi tiết để nhìn vào tổng 
				thể : tất cả mọi thứ đều nằm sẵn trong hai điều răn đó. Thiên 
				Chúa và tha nhân gắn liền với nhau. Như vậy, &nbsp;Đức Giê-su đã đơn 
				giản hoá vấn đề một cách tuyệt diệu, đây không phải là Ngài coi 
				nhẹ hay tầm thường hoá, nhưng là cơ bản hóa vấn đề. Ngài đưa ra 
				ánh sáng tâm điểm của vấn đề, tất cả mọi chuyện đều đặt nền trên 
				đó, đều xoay quanh nó, không có nó là không được, như Phao-lô đã 
				nói. Nếu không có nó như là giới răn nền tảng, thì mọi chuyện 
				chúng ta nói đều là phèng la inh ỏi mà chẳng thực tế. Mọi hành 
				vi sùng mộ và mọi thứ sinh hoạt sẽ là trống không, nếu trong 
				chúng không có hồn tình yêu. Chúng không giúp ta đụng được với 
				Chúa và cũng chẳng giúp được gì cho tha nhân. Như vậy thì việc 
				tóm kết và đơn giản hoá đó quả là một đột phá nền tảng, nó chỉ 
				ra sự đơn giản của Thiên Chúa và đồng thời cũng cho thấy nét đẹp 
				và cao cả trong đòi hỏi của Ngài.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ta hẳn biết rằng, 
				trong Is-ra-en xưa, luật pháp và quy chế luân lí quốc gia đều 
				hoà chung làm một với lề luật phụng tự. Qua biến cố &nbsp;Đức Giê-su, 
				những thứ đó đã được tách ra. Tôn giáo có thể nói giờ đây nhận 
				được bản chất riêng của nó. Tôn giáo vẫn là hồn cho quốc gia và 
				luật pháp quốc gia, và nó vẫn đề ra mực thước đạo đức cho quốc 
				gia, nhưng luật pháp quốc gia giờ đây không còn là một với những 
				gì đạo đức hay đức tin dạy.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Với cái nhìn đó, các 
				quốc gia càng ngày càng phải tạo ra cho mình những quy định và 
				tiêu chuẩn pháp lí riêng. Nhưng những cái đó sẽ trống rỗng, nếu 
				chúng không có hồn, và nếu con người từ thâm tâm không nhận ra 
				được yêu cầu nền tảng của cuộc sống, và từ đó biến những quy 
				định hành xử có tính cách thuần bề ngoài đó trở thành một cuộc 
				chung sống hài hoà, công bình. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có phải 
				đó là điều mà ngài đã có lần phát biểu: luật thiên nhiên đúng 
				nghĩa là một luật đạo đức?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đúng. Như đã nói, 
				thiên nhiên không những mang trong mình những luật diễn biến, 
				như khoa học tự nhiên nghiên cứu, mà còn cả một sứ điệp sâu xa 
				nữa. Sứ điệp này soi đường dẫn lối ta. Và khi Giáo Hội nói tới 
				luật thiên nhiên, thì đây không phải là những luật của khoa học 
				tự nhiên, mà đó là bảng chỉ đường nội tâm mà Tạo hoá đã bật sáng 
				trong ta. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">MƯỚI GIỚI 
				RĂN </span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Trong sa 
				mạc Si-nai, Mai-sen vẽ một đường ranh quanh núi Ho-rép. Không ai 
				được bước qua ranh đó, ngoài một mình ông. Vào ngày thứ ba, sấm 
				chớp bắt đầu nổi lên, mây vần vũ bao phủ lấy ngọn núi, kèn loa 
				vang dội. Cả ngọn núi dậy khói, toả lửa và động đất, và chỉ có 
				Mai-sen leo lên đỉnh để nhận mười giới răn, luật thiên chúa. 
				Mai-sen viết tất cả những lời của Thiên Chúa vào Sách Giao ước.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Huyền 
				thoại được viết lại như thế. Đối với Giáo Hội, mười giới răn nói 
				lên nỗi lo lắng của Thiên Chúa đối với con người, các giới răn 
				hướng dẫn họ bước vào một cuộc sống tốt đẹp. Tôi muốn hỏi : Có 
				thật các giới luật đó đã được Chúa hiện ra trao cho Mai-sen trên 
				núi Si-nai ? Đó</span></i></b><span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI"> 
				là những tảng đá, có phải trên đó chính « tay Chúa đã viết ra », 
				như vẫn được truyền tụng không ?</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có lẽ phải giải thích 
				rõ hơn một chút về chữ « huyền thoại ». Ngôn ngữ diễn tả ở đây 
				rõ ràng là ngôn ngữ hình ảnh. Ngôn ngữ đó nói lên những điều khó 
				có thể diễn tả. Nhưng việc những sứ điệp đó được thông báo qua 
				biểu tượng, không có nghĩa là chúng chỉ là một cơn mơ, một 
				truyền thuyết hay là một thần thoại.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hình ảnh ở đây nói lên 
				một biến cố có thật, đó là biến cố Thiên Chúa đi vào lịch sử, 
				biến cố gặp gỡ giữa Ngài và dân Is-ra-en – và xuyên qua dân này 
				gặp gỡ nhân loại. Hình ảnh này được thông truyền qua một người, 
				người đó sống gần Chúa, thật sự muốn lắng nghe Chúa và, như Kinh 
				Thánh nói, có thể nói chuyện với Ngài như một người bạn, và từ 
				tình bạn đó đã trở thành kẻ môi giới, và đã có thể chuyển tiếp 
				sứ điệp của Ngài. Như vậy, chúng ta gặp ở đây một biến cố trung 
				tâm và biến cố này đã được diễn đạt bằng hình ảnh thị kiến.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhưng làm 
				sao biết được rằng các giới răn đó thật sự đến từ Thiên Chúa ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngày nay ta biết rằng 
				chuyện mười giới răn, như đã được truyền lại trong các sách 
				Mai-sen, có dây mơ rễ má với lịch sử của các dân tộc lân cận. 
				Những chuyện nói lên việc vật lộn với lịch sử như thế cũng có 
				trong vùng Assiri. Tuy nhiên, việc có một giới luật dưới hình 
				thức đó và được viết ra bằng chữ như thế thì quả đã vượt ra 
				ngoài mọi nguồn ảnh hưởng hỗ tương. Nó đã được một người gần gũi 
				với Chúa viết ra dưới một dạng hình mà ta nhận biết thực sự là 
				lời của Chúa. Như là bạn thân tình, Mai-sen đã nhận ra được ý 
				Thiên Chúa, ý này cho tới lúc đó chỉ xuất hiện từng mảng rời rạc 
				và đây đó trong nhiều nguồn khác nhau. Và Mai-sen đã kết hợp 
				chúng và diễn tả ra. Có phải thật đó là những mảng đá hay không, 
				lại là một chuyện khác. Ta biết, theo như sách kể, Mai-sen vì 
				tức giận đã đập bể các mảng đó, và cuối cùng đã nhận được các 
				mảng khác thay thế. Vấn đề quan trọng ở đây là chính thật Thiên 
				Chúa đã tỏ hiện xuyên qua một người bạn. Vì thế, việc môi giới 
				này là điều vượt ra ngoài sự tưởng tượng của con người, hay cả 
				vượt ra ngoài sự nhạy cảm của họ đối với sứ điệp của tạo dựng.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Mười giới 
				răn vẫn mang giá trị - vô giới hạn - cho ngày nay ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chúng vẫn giá trị. 
				Chúng ta đã nói tới một giới răn. Giới răn đó, sau khi gặp Đức 
				Ki-tô, có thể nói đã mang một bộ mặt và ý nghĩa mới : « Ngươi 
				không được tạc tượng hình nào khác ». Giới răn này trở thành mới 
				ngay khi chính Thiên Chúa tự tỏ hiện qua hình ảnh Ngài. Nghĩa là 
				tất cả các giới răn cũng đều đang trên đường hình thành, chỉ qua 
				Đức Ki-tô chúng mới nhận được hình thù hoàn chỉnh.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cả giới răn thánh hoá 
				ngày thứ bảy cũng giữ nguyên giá trị. Giới răn này có liên hệ 
				với câu chuyện tạo dựng. Nhưng nó đã nhận được một khung mới, vì 
				giờ đây ngày phục sinh của &nbsp;Đức Giê-su trở thành thực sự là ngày 
				giao ước. Thứ bảy chuyển thành chủ nhật – và mang theo một chiều 
				sâu mới. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong ý nghĩa đó, các 
				giới răn chưa hẳn là những lời đã hoàn chỉnh. Phải qua ánh sáng 
				Đức Ki-tô chúng mới có được hình thù quyết định. Tuy nhiên chúng 
				vẫn có giá trị trong nền </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">tảng. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Mười giới 
				răn đã chẳng bao giờ bị sửa đổi ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không. Có hai bản văn, 
				một trong sách Xuất hành và một trong sách Dân-số. Hai bản có 
				khác nhau đôi chút bề ngoài, nhưng bản chất giống nhau – và dĩ 
				nhiên con người không có quyền sửa đổi chúng. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Khi 
				Mai-sen từ núi thánh xuống, thấy dân đang nhảy múa quanh bò 
				vàng, ông giận ném tan các mảng giới răn. Chỉ có con cháu của 
				chi Lê-vi, chi họ về sau trở thành giai tầng giáo sĩ, tụ tập 
				chung quanh ông, và như vậy đứng về phe Thiên Chúa. Maisen ra 
				lệnh : « Hãy đi từ bên này sang bên kia doanh trại, từ cửa này 
				tới cửa kia, và giết hết ngay cả anh em, bạn bè, người hàng-xóm 
				».</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Câu 
				chuyện mười giới răn, như thế, đã khởi đi từ một tội chống lại 
				điều răn thứ năm : Chớ giết người. Lẽ ra Mai-sen phải biết điều 
				đó chứ.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước hết, nó khởi đi 
				từ tội chống lại điều răn nền tảng thứ nhất : Ngươi không được 
				thờ thần nào khác ngoài Thiên Chúa.Con người chỉ quân bình, khi 
				họ chấp nhận Thiên Chúa và tôn thờ Ngài. Khi họ bỏ Chúa chạy 
				theo thần khác, khi họ muốn tự mình làm Chúa và thờ lạy chính 
				mình, lúc đó họ phản nghịch lại với thân phận mình. Tội nền tảng 
				này đã làm cho bộ mặt dân này ra dị hợm và khiến họ ăn tươi nuốt 
				sống nhau. Bởi bỏ Chúa là bỏ nguồn sống, cũng có nghĩa là ra 
				khỏi sự sống.Câu chuyện trên quả dã man và thật khó hiểu đối với 
				ta. Nhưng ở đây, ta lại phải nhìn về Đức Ki-tô. Ngài hành động 
				ngược lại. Ngài nhận lấy cái chết cho mình mà không giết hại ai 
				cả. Trong giờ phút lịch sử ở Si-nai, có thể nói, Mai-sen đã chỉ 
				hoàn thành điều đã xảy ra : chính những người khác đã đồi truỵ 
				cuộc sống họ. Câu chuyện trên thật sự xẩy ra như thế nào, lại là 
				một câu hỏi khác. Dân Is-ra-en vẫn còn đó. Câu chuyện muốn nói 
				lên rằng, ai bỏ Chúa, người đó không những bỏ giao ước, mà còn 
				ra khỏi không gian sự sống, phá hoại chính sự sống, và như vậy 
				là đã bước vào vùng đất chết. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Giới răn thứ nhất , « 
				Ta là Chúa, Thiên Chúa ngươi. Ngươi chớ có thần nào khác ngoài 
				Ta » </span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nếu nhìn 
				kĩ, thì cuộc nhảy múa quanh bò vàng trong lịch sử nhân loại chưa 
				bao giờ dữ dội và say sưa như trong thời đại ngày nay.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngày nay không có 
				những thần linh được minh nhiên tuyên xưng, nhưng có những quyền 
				lực khiến người ta kính cẩn sấp mình. Tư bản, hay nói chung của 
				cải, là một trong những quyền lực đó. Hay đam mê quyền lực cũng 
				thế. Bò vàng xuất hiện dưới nhiều bộ mặt và hiện rất thời sự 
				trong thế giới phương tây của chúng ta. Hiểm nguy luôn chờ sẵn.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng còn hơn thế nữa. 
				Càng ngày gương mặt Thiên Chúa càng bị xoá nhoà. Người ta bảo : 
				Chúa nào thì rồi cũng chỉ là một Chúa đó cả thôi. Vấn đề là mỗi 
				nền văn hoá có một cách gọi riêng, chứ dù mình có coi Ngài là 
				một con người hay không, có gọi Ngài là Jupiter, Shiva hay với 
				tên nào đi nữa, thì tất cả cũng chỉ là một! Và càng ngày, người 
				ta càng chẳng quan tâm gì tới Chúa nữa. Người ta rời xa Chúa, và 
				chỉ quay nhìn vào những tấm gương phản chiếu chính họ trong đó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ta thấy : Chính khi 
				Chúa bị gạt ra một bên, thì đó là lúc các chước cám dỗ thờ ngẫu 
				tượng trở nên rất mạnh. Nguy cơ lớn của ta lúc này, là người ta 
				coi Chúa là dư thừa. Họ bảo, Ngài ở xa quá, và có thờ Ngài thì 
				có lẽ cũng chẳng lợi lộc gì. Điều chúng ta ít để ý hơn : Khi ta 
				nhổ cây cột trụ làm nền cho cuộc sống của ta đó đi, lúc đó càng 
				ngày ta sẽ càng trở nên mất cân bằng và phân rã. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Giới răn thứ hai, « 
				Ngươi chớ làm ô danh Thiên Chúa ! » </span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nhưng ta 
				tự hỏi : Nếu Thiên Chúa lớn như thế, thì sao Ngài lại phải phiền 
				vì một tội nhỏ của tôi như thế, tội của một chú giun đất nhỏ 
				nhoi ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Không phải vì ta có 
				thể đe doạ Chúa mà Ngài phải trả thù ta. Song là vì để ta giữ 
				được thăng bằng trong cuộc sống. Chính khi ta làm ô uế Ngài, làm 
				biến thể bộ mặt Ngài, khiến bộ mặt không còn toả rạng để cho thế 
				gian nhận ra Ngài, thì lúc đó con người cũng chẳng còn toả rạng 
				nữa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Martin Buber có lần 
				nói, không có từ nào bị lạm dụng như từ THIÊN CHÚA. Từ đó bị bôi 
				đen và làm biến thể đến nỗi không còn sử dụng được nữa. Ông nói 
				tiếp, tôi nghĩ rằng, dù vậy, ta không được tránh hay không nhắc 
				tới từ đó, nhưng hãy cố gắng kính cẩn vực nó dậy và tạo lại ý 
				nghĩa đúng đắn cho nó.Ta chỉ cần nghĩ tới câu « Thiên Chúa ở 
				cùng chúng ta » được in trên dây lưng của quân đội Đức trong 
				thời quốc-xã, thì cũng đủ rõ. Tưởng là để vinh danh Chúa, nhưng 
				thực ra là để lợi dụng cho mục tiêu riêng của họ.Mỗi lạm dụng 
				danh Chúa, mỗi hành vi làm biến thể bộ mặt của Ngài đều để lại 
				nhiều rác rưởi và dấu vết có hại kinh khủng. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nếu không có những lạm 
				dụng danh Chúa đó, ta không thể giải thích được quyền lực lớn 
				của vô thần, hay của việc chối từ hoặc vô tâm đối với Thiên 
				Chúa. Gương mặt Ngài đã bị bóp méo đến đỗi người ta không còn 
				dám nhìn. Xem đó, ta thấy việc lỗi phạm điều răn này có thể mang 
				lại những hậu quả ghê gớm như thế nào. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Giới răn thứ ba , « 
				Hãy nhớ thánh hoá ngày thứ bảy » </span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có người 
				rất thích ngày chủ nhật và muốn tận hưởng nó. Có người lại chẳng 
				muốn nghỉ, dùng nó để đi chợ, làm việc hay gây ồn ào. Phải chăng 
				là vì người ta không còn hiểu ra ý nghĩa của ngày này nữa?
				</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong trình thuật tạo 
				dựng, ngày thứ bảy là thời gian con người nghỉ ngơi lo việc 
				Chúa. Đây là dấu chỉ giao ước giữa Chúa với dân Ngài trong nội 
				dung thập giới. Ý nghĩa nguồn cội của ngày thứ bảy, như thế, là 
				việc báo trước tự do và bình đẳng cho tất cả mọi người.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong ngày thứ bảy, cả 
				nô lệ cũng không còn là nô lệ nữa, họ cũng được nghỉ ngơi. Đó là 
				một trong những ý nghĩa chính trong truyền thống Giáo Hội. Còn 
				đối với những người tự do thì họ vẫn được tiếp tục làm việc, là 
				vì việc họ làm không phải là công việc đúng nghĩa. Điểm quan 
				trọng thứ hai, đây là ngày nghỉ, kết thúc cuộc tạo dựng. Giới 
				răn này cũng có giá trị ngay cả cho súc vật.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngày nay, con người 
				muốn dành toàn quyền cho mình việc sử dụng thời gian. Thực tế là 
				chúng ta đã quên đi tầm quan trọng của việc để Chúa đi vào thời 
				gian, và quên rằng thời gian không phải chỉ là vật liệu sử dụng 
				cho nhu cầu riêng của mình. Vấn đề là ta phải thoát ra khỏi sự 
				ràng buộc của cái lợi và cái hữu ích - để giải thoát cho chính 
				mình và cho kẻ khác. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Như đã nói, ngày thứ 
				bảy đã mặc lấy hình thức mới trong ngày phục sinh của Đức Ki-tô. 
				Đó là ngày &nbsp;Đấng Phục Sinh hiện ra giữa các môn đồ của Ngài, là 
				ngày chúng ta quy tụ với Ngài, là ngày Ngày mời gọi chúng ta tới 
				với Ngài – ngày cầu nguyện và gặp gỡ, Chúa tới và thăm ta và ta 
				thăm Ngài.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">GIỚI RĂN THỨ BỐN « 
				Ngươi phải tôn kính cha mẹ, để được an khang và sống lâu trên 
				trái đất </span></i><span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">»
				</span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Đây là 
				giới răn duy nhất gắn liền với một hứa hẹn. &nbsp;Đức Giê-su nhiều 
				lần nói tới tầm quan trọng của giới răn này.Tôi muốn kể ở đây 
				một câu chuyện nhỏ. Đó là chuyến nghỉ hè của chúng tôi, và tôi 
				rất vui khi thấy hai đứa con vui. Thằng Paul ngồi hàng giờ câu 
				cá măng và các chú tôm nhỏ. Jakob đào chơi cát. Chúng tôi chèo 
				một chiếc thuyền nhỏ và Paul bơi theo rất lâu bên cạnh. Nó bỗng 
				nhiên chẳng còn sợ nữa và rất hãnh diện vì mình có thể bơi một 
				mình. Có lúc tôi ngồi trên mỏm đá xa xa nhìn vợ con, thấy tất cả 
				khoẻ mạnh, tươi trẻ. Lòng tự nhủ, đây là khởi đầu thời gian đẹp 
				nhất của đời mình, và tôi không muốn phí phạm nó, tôi nghĩ có 
				được như vầy thì tuyệt quá. Nhưng bỗng dưng tôi chợt nghĩ tới bố 
				mẹ và ông bà tôi – và cũng nghĩ tới giới răn thứ bốn này.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Giới răn này quả là 
				đại hiến chương (Magna Charta) của gia đình. Nó xác định một 
				trật tự nền tảng. Nó nói cho chúng ta hay, tế bào căn bản của xã 
				hội tính và của xã hội là gia đình, là cha mẹ và con cái. Và chỉ 
				trong trật tự nền tảng đó ta mới tập được những đức tính căn 
				bản. Chỉ trong đó tương quan nam nữ và tương quan thế hệ mới nẩy 
				nở đúng. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Một mặt, giới răn chứa 
				đựng nhiệm vụ giáo dục, nghĩa là hướng dẫn người khác bước vào 
				tự do của họ một cách đúng đắn, để họ nhận ra những quy luật bên 
				trong, để họ học sống cho ra người. Trong quá trình giáo dục 
				này, sự vâng lời đóng vai trò phục vụ cho việc tập sử dụng tự do 
				riêng. Và ngược lại, điều kiện đương nhiên về phía con trẻ là 
				phải chấp nhận sự giáo dục đó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Điều răn thứ bốn cũng 
				dạy ta cách đối xử với người già cả, là những người hết ích lợi 
				và sinh lực. Nó dạy ta phải quý trọng cha mẹ già. Ta không nên 
				chỉ nghĩ tới cái lợi, nhưng quý trọng các ngài, vì các ngài đã 
				cho ta sự sống. Qua các ngài, ta cũng quý trọng phẩm giá con 
				người nói chung, những con người giờ đây không còn tự giúp mình 
				được nữa. Sự kính trọng nền tảng đối với con người đó, là khía 
				cạnh tối quan trọng của giới răn này. Trong nó cũng hàm chứa 
				tương lai của chính chúng ta, để sau này ta có thể tin tưởng 
				bước vào tuổi già. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">GIỚI RĂN THỨ NĂM, « 
				Ngươi không được giết người » </span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Chẳng ai 
				muốn phản đối điều này. Cái lạ là nó luôn bị lỗi phạm.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong con người, rõ 
				ràng có sự hiện diện của một nhận thức nguồn cội, nó bảo tôi 
				không được phép giết người. Dù tôi quên rằng, chỉ có Chúa mới có 
				quyền trên con người, thì ít nhất tôi cũng biết người đó có sự 
				sống và nhân quyền riêng của họ, và nếu tôi giết họ, là tôi phạm 
				tội đối với nhân loại.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tuy nhiên cái nhìn 
				trên đây càng ngày càng trở nên lu mờ nơi các trường hợp biên 
				tiếp. Đặc biệt nơi sự sống mới bắt đầu, là lúc nó chưa biết tự 
				vệ, còn dễ bị lèo lái. Đây là lúc dễ bị nguy cơ cái lợi sai 
				khiến. Người ta muốn chọn để ai sống, bắt ai chết, vì sợ rằng 
				bào thai đó sẽ hạn chế tự do và nhân cách của mình. Nơi nào sự 
				sống chưa đủ vóc dáng và trí tuệ để đối phó, nơi đó ý thứcvề 
				giới răn thứ bốn dễ mai một. Trường hợp kết thúc cuộc đời cũng 
				thế. Người ta coi người bệnh, người đau khổ trở thành phiền hà 
				và nghĩ rằng cái chết có lẽ tốt hơn cho đương sự. Và đó là cớ để 
				người ta vội vàng trợ tử cho người bệnh.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Và từ đó cứ tùng bước, 
				từng bước một đi tới. Ngày nay, ý nghĩnuôi cấy người lại trở nên 
				thịnh hành, như ta đã thấy trong thời gian bất hạnh vừa qua. 
				Người ta nẩy ra đắn đo, không biết một người không còn ý thức 
				nữa và không còn khả năng hoàn thành được vai trò xã hội nữa, có 
				phải thật sự còn là một con người nữa không.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Suy tư từ đó cứ mở 
				tiếp ra. Đặc biệt, trong lãnh vực trợ tử, ta gặp ngay câu hỏi: 
				Khi nào thì ta có quyền chấm dứt một sự sống, để nó không phải 
				chịu đau đớn quá đỗi. Xem thế, trong các trường hợp tiếp biên, ý 
				thứccội nguồn và đạo đức của con người về việc kính trọng sự 
				sống kẻ khác quả rất dễ bị triệt tiêu. Điều răn thứ năm, nói lên 
				quyền của Chúa trên mạng sống con người từ lúc sinh ra cho tới 
				lúc chết, vì thế, lại đáng cho ta tranh luận hơn bao giờ hết.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">GIỚI RĂN THỨ SÁU, « 
				Ngươi chớ làm sự dâm dục » </span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thế giới 
				chúng ta đã biến việc sở hữu và sử dụng tình dục thành ra một 
				đức tính. Nếu không phải là kẻ quá mê đắm dục tình, thì thử hỏi 
				: Phải chăng dâm dục thật sự là tội ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Bản văn nguồn của giới 
				răn này trong Cựu Ước có nội dung như sau : « Ngươi chớ ngoại 
				tình » (Xh 20,14 ; Ds 5,18). Như vậy, giới răn này thoạt tiên có 
				một nghĩa rất nhất định. Nó dạy sự trung thành trong quan hệ vợ 
				chồng, nó không những bảo vệ tương lai con người, mà còn hội 
				nhập tình dục hôn nhân vào trong toàn thể cuộc sống làm người, 
				và chỉ qua đó tình dục mới có được phẩm giá và chiều kích cao 
				cả.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đó là tâm điểm của 
				giới răn. Hôn nhân không phải là một giao tiếp tạm bợ, mà là sự 
				kết hợp giữa hai người trong tiếng Vâng, tiếng Vâng này đồng 
				thời cũng nói lên việc sẵn sàng chấp nhận con cái. Như vậy, hôn 
				nhân là nơi đích thực để cho tình dục nhận được phẩm giá và cao 
				cả. Chỉ nơi đó tinh thần mới thành cảm giác và cảm giác mới 
				thành tinh thần. Nơi đây diễn ra cái mà ta gọi là bản chất của 
				con người. Nó có vai trò như cây cầu nối liền hai điểm kết thúc 
				của tạo dựng vào nhau và trao cho nhau phẩm giá và nét cao cả.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nếu giờ đây ta bảo, 
				chỗ của tình dục là hôn nhân, thì đương nhiên điều đó cũng hàm ý 
				rằng, chỉ trong hôn nhân tình dục mới có được phẩm giá và sự 
				nhân tính hoá đích thực. Hôn nhân có nghĩa là một kết hợp trong 
				tình yêu và chung thuỷ; nó bao hàm cả sự chăm sóc lẫn nhau và sự 
				sẵn sàng cho tương lai, nghĩa là hướng đến nhân loại trong toàn 
				thể.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hẳn nhiên sức mạnh quá 
				lớn của bản năng tình dục, nhất là trong một thế giới ngập đầy 
				yếu tố kích dục như hiện nay, đã khiến cho bản chất hôn nhân bị 
				lu mờ. Tình dục từ lâu đã trở thành hàng hoá có thể mua bán. 
				Nhưng như thế thì con người đã bị lợi dụng thành kẻ bán dâm, 
				nhân tính họ bị biến thể, và họ chẳng còn được kính trọng như là 
				một con người nữa. Những kẻ tự biến mình thành hàng hoá, hay bị 
				ép buộc làm chuyện đó, trước sau sẽ bị khai thác đến kiệt quệ. 
				Và, lúc này đây, trên nền chợ tình dục kia còn nẩy sinh thêm một 
				chợ nô lệ mới. Như vậy, chính khi tôi không đặt tình dục vào 
				khuôn tự do trách nhiệm của đôi bên, không nối nó vào trong cái 
				toàn thể của sự sống, lúc đó con người đương nhiên trở thành vật 
				mua bán. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Xin ngài 
				nói lại lần nữa tâm điểm của điều răn.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đây là sứ điệp của tạo 
				dựng : Người nam và nữ được tạo nên cho nhau. Sách Sáng-thế 
				viết: Họ sẽ bỏ cha mẹ để hợp với nhau thành một thân xác. Vậy từ 
				cái nhìn thuần sinh lí, ta có thể nói được rằng, thiên nhiên đã 
				sáng tạo ra tình dục để duy trì chủng loại. Điều chúng ta thoạt 
				tiên thấy như chỉ là một sản vật thiên nhiên, như là một thực 
				thể thuần sinh lí, đã trở thành dạng hình người qua sự chung 
				sống của người nam và người nữ. Đó là một cách con người mở ra 
				cho nhau. Một cách không những để làm triển nở sự gắn bó và 
				chung thuỷ, mà còn mở ra một không gian để con người có thể khởi 
				đi từ lúc thụ thai tiến lên thành người. Không gian này là chỗ 
				đặc biệt nẩy sinh cuộc chung sống đúng đắn của con người. Điều 
				thoạt tiên chỉ là một quy luật sinh lí, một xảo thuật của thiên 
				nhiên (nếu có thể nói được như vậy), đã trở thành dạng hình 
				người, trong đó nẩy sinh sự chung thuỷ và gắn bó tình yêu giữa 
				người nam và người nữ, và từ đó đồng thời hình thành nên một gia 
				đình. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đó là tâm điểm của 
				giới răn mà tạo dựng muốn nói với ta. Càng suy nghĩ và sống trọn 
				giới răn đó, ta càng thấy rõ các loại tình dục khác không đưa ta 
				tới độ cao chân thực của ơn gọi làm người. Chúng không đạt tới 
				cấp độ muốn có và nên có của tình dục con người.&nbsp;Chúng ta sẽ nói 
				thêm về tình dục ở chương sau. Nhưng thập giới xem ra phản lại 
				quy luật thiên nhiên. Chúng ta khó mà tuân giữ những điều đó 
				được, vì chúng thường đi ngược lại bản năng con người.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đúng, khó tuân giữ. 
				Nhưng điều răn thứ sáu hàm chứa trong nó chính sứ điệp của thiên 
				nhiên. Thiên nhiên quy định sự hiện diện của hai phái, để cho 
				giống nòi được tồn tại – đặc biệt cho giống người, vì sau khi 
				lọt lòng mẹ, con người còn lâu mới toàn thành và còn cần một 
				thời gian chăm sóc dài. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Con người không phải 
				là loài thoát tổ, mà là nằm tổ. Với cái nhìn thuần sinh lí, thì 
				giống người cần có tình yêu của cha mẹ như là lòng mẹ mở rộng, 
				để mới có thể vượt qua cấp sinh lí ban đầu, hầu tiến lên thành 
				người được. Khung cảnh gia đình có thể xem là điều kiện hiện hữu 
				của con người. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Như vậy, chính thiên 
				nhiên ở đây đã mở cho ta thấy bộ mặt nguồn cội của loài người. 
				Con người cần một gắn bó tiếp tục với nhau. Trong sự gắn bó đó, 
				thoạt tiên hai người nam nữ hiến thân cho nhau – và rồi hiến 
				thân cho con cái, để con cái cũng bước được vào quy luật tình 
				yêu, quy luật tự hiến. Nơi loài nằm tổ, rõ ràng cần có sự chung 
				thuỷ sau khi sinh. Như vậy, sứ điệp hôn nhân và gia đình hẳn là 
				quy luật của chính tạo dựng và không đi ngược lại bản chất con 
				người. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Dù vậy, 
				vẫn quả thật khó mà tuân giữ.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đúng là trong lãnh vực 
				này, cũng như trong các lãnh vực khác mà chúng ta đã đề cập, 
				đang có cảnh lội ngược dòng. Có sự thặng dư quyền lực sinh lí. 
				Ta thấy trong các xã hội tân tiến – và cả trong xã hội của một 
				số thời kì trước đây, chẳng hạn ở Rô-ma dưới thời vua chúa – có 
				một sự kích dục công khai, khiến sức mạnh bản năng gia tăng, và 
				vì thế gây khó khăn cho việc kết hợp hôn nhân.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hãy trở lại với bốn 
				điều răn đã nói. Ta thấy ở đây có hai trật tự khác nhau của 
				thiên nhiên. Thiên nhiên một mặt cho hay, việc kết hợp nam nữ là 
				hành vi thâm sâu nhất, nó rốt cuộc trở thành một hành vi con 
				người, và mở ra không gian để loài người có thể phát triển. Một 
				sứ điệp khác của thiên nhiên là chúng ta, trên phương diện nào 
				đó, cũng hướng về sự chung đụng khác giới, đặc biệt hướng về 
				việc sử dụng tình dục vượt ra ngoài khuôn khổ gia đình.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đứng từ góc độ đức 
				tin, ta thấy rất rõ sự khác nhau của hai chiều hướng trên. Một 
				bên nói lên sứ điệp chân thực của tạo dựng. Bên kia phản ảnh 
				khuynh hướng muốn làm chủ của con người. Do đó, việc tự trói 
				buộc mình vào hôn nhân luôn là một nỗ lực liên lỉ. Tuy nhiên, ta 
				cũng thấy, ở đâu nỗ lực đó thành tựu, ở đó có trưởng thành nhân 
				bản và trẻ con có thể học được tương lai. Ở đâu việc li dị trở 
				thành thường tình, ở đó trẻ con là giới chịu nhiều thiệt hại 
				nhất. Như vậy, đứng từ phía trẻ con mà nhìn, ta có thêm một lí 
				do minh chứng sự kết hợp nam nữ, sự chung thuỷ vợ chồng là đúng 
				đắn và thật sự phù hợp cho con người. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">GIỚI RĂN THỨ BẢY, « 
				Ngươi chớ trộm cắp »</span></i></b><span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Coi trọng 
				tài sản kẻ khác là chuyện thường tình. Giới răn có ám chỉ thêm 
				điều gì nữa không?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Bài học của tạo dựng 
				về quy định chung của tài sản không chỉ là một tư tưởng đẹp, mà 
				nó còn phải được thực hiện. Bài học này xác quyết mỗi người cần 
				cho mình một số nhu cầu căn bản để sống, và vì thế phải có luật 
				để bảo vệ tài sản cho từng người. Ở đây, nhà nước phải có những 
				bộ luật để canh chừng và ngăn chận mọi lạm dụng tư hữu.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ngay lúc này đây, ta 
				thấy rõ hơn bao giờ hết cảnh con người đang tự huỷ diệt mình, 
				khi họ chỉ còn biết sống cho của cải, cho đồ vật, khi họ ngụp 
				lặn trong những thứ đó, và của cải trở thành thượng đế của họ. 
				Chẳng hạn, ai bị quy luật cổ phần chế ngự hoàn toàn, kẻ đó chẳng 
				còn suy nghĩ được gì khác. Ta thấy quyền lực của cải đè lên con 
				người nặng như thế nào. Càng có thêm, ách nô lệ càng nặng, bởi 
				vì họ phải lo giữ của và không ngừng làm tăng chúng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vấn nạn của quyền tư 
				hữu cũng thấy được rõ nét trong tương quan bất ổn giữa thế giới 
				thứ nhất và thế giới thứ ba. Ở đây, quyền tư hữu đã đi trệch ra 
				ngoài quy luật chung về tài sản. Phải tìm ra những hình thức 
				pháp lí để giữ nó thăng bằng hoặc ngay cả đưa nó về lại thế 
				thăng bằng. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Như vậy, đàng sau giới 
				răn đó ta thấy một gánh nặng ghê gớm của thực tế. Giới răn nói 
				tới việc bảo vệ những gì cần thiết cho cuộc sống cá nhân (và 
				những thứ đó cũng phải được quý trọng), cũng như trách nhiệm làm 
				sao sử dụng quyền sở hữu cho đúng, để đừng đi ngược lại sự uỷ 
				thác chung của tạo dựng và ngược lại tình yêu tha nhân. </span>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">GIỚI RĂN THỨ TÁM, « 
				Ngươi chớ nói dối » hay « Ngươi chớ làm chứng dối ». </span></i>
				</b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Có nhiều 
				chuyện tuyệt hay về nói dối. Nhiều khi chính những lời dối trá 
				nhỏ lại trở hành lớn, đến nỗi sém làm tiêu tan sự nghiệp các 
				tổng thống của một siêu cường hoặc sém khiến cho những đảng cầm 
				quyền hay những ông vua truyền thông sụp đổ. Chuyện lạ : chẳng 
				có chi dấu được dưới ánh sáng mặt trời.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi muốn nói, điều đó 
				cho thấy bản chất con người là yêu sự thật. Mọi giới răn chung 
				quy đều là giới răn của tình yêu, hoặc là những khai triển của 
				giới răn tình yêu. Như vậy, tất cả chúng rõ ràng cũng có liên 
				quan tới sản phẩm chân lí. Khi tôi dấu diếm hoặc làm méo mó sự 
				thật, khi tôi trầm mình trong dối trá, lúc đó tôi thường làm 
				người khác thiệt hại, và cũng luôn làm thiệt hại cả chính tôi.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Những dối trá lặt vặt 
				dễ biến thành một thói quen, ở đâu rồi cũng dùng nói dối cho qua 
				chuyện, dần dần người ta tự trói mình trong dối trá, và vì thế 
				sống ngược lại với thực tế. Ngoài ra, mỗi lần làm tổn thương 
				phẩm giá chân lí như thế, là mỗi lần ta không những triệt hạ con 
				người, mà còn lỗi phạm gia trọng chống lại tình yêu. Là vì khi 
				tôi dấu người khác sự thật, có nghĩa là tôi khước từ họ một tài 
				sản nền tảng, và dẫn họ vào đường sai trái. Chân lí là tình yêu, 
				và tình yêu sẽ trở nên dị hợm, khi nó chống lại sự thật. </span>
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">GIỚI RĂN THỨ CHÍN VÀ 
				THỨ MƯỜI, « Ngươi chớ muốn vợ người khác ». « Ngươi chớ tham của 
				cải của người khác ». </span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Hai giới răn gắn liền 
				với nhau đó mang ý nghĩa sâu xa vượt lên trên cái thực tế và bên 
				ngoài. Chúng cho ta hay, khởi đầu của tội không phải là chính 
				lúc ta ngoại tình, hay lúc ta chiếm đoạt tài sản kẻ khác một 
				cách bất công, nhưng tội đã ló dạng ngay từ trong tư tưởng của 
				ta rồi. Một khi tâm tưởng tôi đã không còn kính trọng kẻ khác, 
				không còn tôn trọng hôn nhân và tài sản họ, thì việc dừng tay 
				trước hành động cuối cùng cũng chẳng còn ý nghĩa. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Như vậy, tội không chỉ 
				bắt đầu với những hành vi cụ thể bên ngoài, mà nó đã bắt đầu từ 
				trong vườn ươm của nó, từ trong ý nghĩ ghen tương, ý nghĩ phủ 
				nhận chính kẻ khác và tài sản của họ. Thiếu trong sạch trong tư 
				tưởng, cuộc sống sẽ mang hậu quả bất ổn. Hai giới răn trên, như 
				vậy, muốn kêu gọi trực tiếp tới tâm con người. Bởi vì tâm chính 
				là cội nguồn xuất phát hành động. Chỉ riêng với lí do đó thôi 
				cũng đủ cho ta phải giữ tâm trong và sáng.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Khi Mai-sen nhận những 
				tấm đá giới răn giữa sấm sét trên núi, lúc đó cũng là giây phút 
				khởi đầu của cá nhân tự do. Nhà báo Đức gốc Do-thái Hannes Stein 
				đã lí luận như thế. Kể từ đây, mỗi cá nhân, dù là chủ hay tớ, 
				đàn ông hay đàn bà, đều mang trách nhiệm trực tiếp với Chúa về 
				mình và về hành vi mình. Có thể nói, tính cách pháp nhân tự trị 
				đã hình thành cùng với giao ước trên núi Si-nai. Có liều lĩnh 
				lắm không, khi bảo rằng nền tảng xã hội tự do dân chủ không phải 
				xuất phát từ Hi-lạp cổ, mà từ truyền thống do-thái và Ki-tô giáo 
				?</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi cũng đã đọc sách 
				của Hannes Stein và thấy có những điểm rất nền tảng. Trên thực 
				tế, tâm điểm của nhân quyền nằm nơi phẩm giá của mỗi cá nhân, 
				người đó đối diện một mình với Chúa, Chúa nói trực tiếp với họ, 
				và Giao ước đề cập tới họ như một cá thể. Nhân quyền có nghĩa là 
				mỗi người đều có phẩm giá ngang nhau, và nhân quyền chính là nền 
				tảng của dân chủ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Lẽ ra Is-ra-en thoạt 
				tiên không có vua, mà chỉ có những phán quan dùng luật Chúa mà 
				cai trị. Điều đó có nghĩa là người ta nhắm tới một xã hội hoàn 
				toàn bình đẳng, một thứ xã hội vô chính phủ theo nghĩa tích cực, 
				trong đó không ai ngoài chỉ mình Chúa là kẻ trị vì. Và Ngài cai 
				trị thông qua luật Ngài, lời Ngài và qua các giới răn.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng loại xã hội đó 
				cuối cùng đã phải thay đổi theo thực tế, điều này trước đây 
				chúng ta đã nói rồi. Ở đây, dĩ nhiên tôi không dám coi thường 
				nền dân chủ hi-lạp, nó đã làm nẩy nở đôi điều quan trọng và đã 
				khai sinh một mô hình thực tế, mà người ta về sau đã có thể noi 
				theo. Nhưng ta cũng phải biết, là trong nền dân chủ hi-lạp, chỉ 
				có lớp đàn ông tự do mới có quyền bầu cử, đàn bà và nô lệ không 
				phải là chủ thể của chính trị, nên không được bầu phiếu. Vì tự 
				do bị hạn chế, nên dân chủ hi-lạp chỉ là mẫu mực của một nền dân 
				chủ hạn định. Trái lại, lời Kinh Thánh coi mỗi người đều là 
				người và là hình ảnh của Chúa, và đã trao cho từng người trong 
				họ đầy đủ tư cách chủ thể. Vì thế, quả thật lời Kinh Thánh đã 
				xây thêm nền tảng cho các thể chế dân chủ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<a name="7._TÌNH_YÊU_">
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">7. TÌNH 
				YÊU</span></a></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: red" lang="VI">Ý NGHĨA 
				CUỘC SỐNG </span></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Giáo Hội 
				dạy, con người tự mình không thể tạo ý nghĩa cho thế giới và cho 
				chính mình. Quả thật khó tin, nếu ta nhìn vào những thư viện 
				mênh mông đầy sách nói về cuộc đời và ý nghĩa cuộc đời, do những 
				tác giả vừa giỏi vừa ít giỏi hơn viết.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nếu thế giới đã không 
				có ý nghĩa trong nó rồi, thì ta cũng chẳng có thể tạo thêm ý 
				nghĩa nào cả. Hành động của ta chỉ giúp cho cơ cấu đã có định 
				hướng thêm rõ ra đôi chút, chứ nó không tạo ra chính ý nghĩa 
				cuộc sống. Ý nghĩa đã có - hoặc không có. Vì vậy, nó không thể 
				đơn giản là một sản phẩm của ta. Những gì ta tạo ra, có thể làm 
				cho ta thoả mãn trong giây lát, nhưng chúng không thể biện minh 
				cho toàn bộ cuộc sống của ta và tạo nghĩa cho cuộc sống đó.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Dĩ nhiên con người 
				trong mọi thời và mọi nơi đều đi tìm ý nghĩa, và họ sẽ còn tiếp 
				tục tìm. Trên đường đó, họ cũng có thể gặp được những mẩu giải 
				đáp. Trong những mẩu đó, chỉ có phần do con người khám phá ra 
				nơi thụ tạo mình là đúng đắn, chứ không phải phần do họ nghĩ ra. 
				Và cái khám phá đó có thể giúp con người hiểu biết mình hơn, để 
				họ sống cho có ý nghĩa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Giáo Hội dạy, ý nghĩa 
				là do Chúa chứ không do con người tạo ra, phải được hiểu theo 
				hướng này: Ý nghĩa là cái nâng con người đi, là cái ở trước và ở 
				trên những suy tưởng và khám phá của ta – và chỉ như vậy nó mới 
				có sức mạnh để nâng ta đi. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nếu ta thật sự có thể 
				thu tóm ý nghĩa cuộc đời vào một chữ, thì chữ đó sẽ là TÌNH YÊU. 
				Thi sĩ và học giả mọi thời bảo đó không những là ý nghĩa, mà 
				cũng là nguyên tắc nền tảng của sự sống, là bí ẩn thật sự của 
				cuộc đời. Có người bảo, ai cảm được cái vô tận của tình yêu này, 
				người đó mới bước được vào tâm điểm của đức tin. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trong cuộc trao đổi, 
				chúng ta đã lặp đi lặp lại nhiều lần, là cùng đích cuộc sống của 
				chúng ta là khám phá ra tình yêu, đón nhận nó và trao nó đi 
				tiếp. Đức Ki-tô chịu đóng đinh, kẻ đã đưa tình yêu tới tận cùng, 
				như chính Tin Mừng Gio-an nói, đã hiện thực hoá nguyên tắc đó. 
				Chính Thiên Chúa là tình yêu. Trong ý nghĩa đó, tình yêu là luật 
				căn bản, và là cùng đích căn bản của cuộc sống.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Ở đây, ta gặp lại bí 
				ẩn hạt lúa miến, trở lại với việc từ bỏ mình và gặp lại mình. Ta 
				biết rằng, tình yêu không do ta làm nên, nhưng đó là quà tặng. 
				Tình yêu xuất phát từ một người khác đi tới với ta, đi vào trong 
				ta.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tình yêu con người 
				luôn hàm chứa một đòi hỏi đời đời trong nó. Tình yêu là một mâu 
				thuẫn với sự chết, như triết gia người Pháp Gabriel Marcel* đã 
				nói. Tình yêu này, như vậy, từ một lời hứa chỉ trở thành thực 
				tại được tuân giữ, khi nó được bao trùm bởi yếu tố đời đời. 
				Marcel bảo, khi tôi nói với một người „Tôi yêu anh/em“, thì điều 
				đó có nghĩa: Tôi không chấp nhận cái chết của anh/em, tôi chống 
				lại cái chết.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Như vậy, ta thấy tình 
				yêu con người tự nó là một lời hứa không thể tháo gỡ. Nó muốn sự 
				vô hạn nhưng có thể chỉ cho cái hữu hạn. Nhưng mặt khác, nó biết 
				lời hứa đó không phải là vô nghĩa và mâu thuẫn và vì thế có tính 
				huỷ diệt, bởi vì nó chứa cái vô tận trong mình. Như vậy, chỉ 
				nhìn theo khía cạnh con người mà thôi, thì tình yêu quả thật là 
				cái chúng ta hướng vọng tới và sống cho nó. Nhìn từ các chiều 
				kích của chính nó, thì tình yêu rốt cuộc hàm chứa trong nó cái 
				nhìn lên Chúa và mong chờ Ngài. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Tình yêu, 
				đôi khi nói thì dễ, nhưng mấy ai hiểu nó là gì. Chẳng hạn mấy ai 
				hiểu được Chúa yêu ta như thế nào? Chúng ta đã nói tới một 
				„Thiên Chúa phẫn nộ“. Có người bảo Chúa cũng loan báo một sứ 
				điệp đe doạ. Tình yêu Thiên Chúa ban tặng cho ta mang hình thù 
				ra sao?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Trước hết, phẫn nộ 
				không phải là cái gì đương nhiên chống lại tình yêu. Chẳng hạn 
				một người cha, anh biết điều đó hơn tôi, thỉnh thoảng cũng phải 
				bực bội với con, vì ông ta yêu con mình. Và ông ta có lẽ sẽ 
				không làm tròn bổn phận và í muốn yêu thương của mình, nếu chỉ 
				vì muốn yên thân cho chính mình và cho người khác, nên chẳng 
				nghiêm khắc răn đe, sửa phạt con. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chúng ta đều biết, một 
				đứa con hư, cái gì cũng nó được phép làm, rốt cuộc không thể có 
				một đời sống tốt đẹp, bởi vì cuộc sống sau này không dễ dãi như 
				nó đã gặp, và bởi vì nó đã không học được kỉ luật, không học 
				được cách sống đúng. Hay một thí dụ khác về con cái nghiện ngập. 
				Thay vì cất thuốc đi (làm thế đứa con sẽ rất khổ sở) thì tôi lại 
				cung cấp thuốc cho nó. Đó không thể gọi được là yêu thương đúng 
				nghĩa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nói cách khác: Tình 
				yêu đúng nghĩa không phải là luôn nhượng bộ, dễ dãi và ngon 
				ngọt. Do đó, nếu &nbsp;Đức Giê-su hay Chúa chỉ luôn tỏ ra ngọt ngào, 
				dễ thương, cái gì cũng ừ, thì đó chỉ là một biếm hoạ về tình yêu 
				đích thực mà thôi. Vì Chúa yêu ta, muốn ta lớn lên trong đường 
				chân lí, nên Ngài phải đòi hỏi và cả sửa sai ta. Thiên Chúa 
				phải, như ta nói, „phẫn nộ“, nghĩa là Ngài phải chống lại, khi 
				chính ta sa ngã và rơi và vòng nguy hiểm. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Nghe thật 
				nghiêm khắc.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Điều quan trọng cần 
				biết, một tình yêu chân thật cũng phải có tính nghiêm khắc trong 
				đó. Nó muốn cho người khác điều tốt thật, vì thế nó phải can đảm 
				chống lại, khi người đó chẳng nhìn ra cái tốt, mà cứ đâm đầu vào 
				cái bất hạnh.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chúng ta cũng đã nói 
				tới khía cạnh tích cực của tình yêu. Nó yêu thích người khác. Nó 
				muốn cho họ được điều tốt đẹp, được hạnh phúc, được nhận ra 
				chính mình. Và như vậy thì tình yêu tốt cho họ. Nhưng tốt cho họ 
				không có nghĩa gì khác hơn là tôi phải bước ra từ điều tốt, phải 
				để cho điều thực sự tốt hướng dẫn và cố gắng giúp người khác trở 
				nên tốt. Như vậy, một hành động yêu đúng nghĩa là hành động bước 
				ra từ điều thiện và lại quay trở vào trong điều thiện. Và như 
				thế, một đàng, yêu cũng có nghĩa là quên mình vì người khác, và 
				mặt khác, cũng là giúp đỡ kẻ khác. Giúp người khác đừng đóng 
				chặt tâm họ lại, cũng đừng vơ vào mọi thứ cho mình, nhưng trái 
				lại giúp họ tìm được con đường mở lòng mình ra, con đường của 
				hạt lúa miến. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Triết gia 
				tôn giáo người Do-thái Martin Buber mô tả tình yêu Thiên Chúa 
				bằng một thuộc tính quan trọng, mà ông gọi là “lôi ra, kéo ra”. 
				Buber nói: “Kéo lôi ra, ngay từ đầu, là bản chất của Thiên Chúa. 
				Kéo ra khỏi những vướng mắc, ra khỏi sự dửng dưng, ra khỏi cô 
				đơn và cô lập”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Về điểm này ta có thể 
				lấy hình ảnh xuất hành của dân Do-thái ra khỏi tù đày ở Ai-cập 
				làm mẫu. Nhưng nó đã khởi đầu với ơn gọi của Abraham. Chúa đưa 
				ông Abraham ra khỏi gia đình ông và dẫn ông lên đường. Tự căn 
				bản, mỗi người phải làm cuộc xuất hành của mình. Không những 
				người đó phải rời lòng mẹ để trở thành tự lập, mà còn để ra khỏi 
				chính mình. Người đó phải đi ra, qua khỏi mình, chỉ như thế nó 
				mới vào được đất hứa - bước vào được không gian tự do, để từ đây 
				góp tay xây dựng thế giới. Bản chất của tình yêu là vượt qua, 
				quy luật nền tảng đó chúng ta đã biết. Hẳn nhiên, hành động của 
				kẻ yêu tôi cũng là một hành động vượt qua. Nó phải kéo tôi ra 
				khỏi bản năng thoải mái muốn ở lại trong chính tôi. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Một bậc 
				thầy về phân tâm, Erich Fromm*, đã tự hỏi: Tại sao ta phải yêu?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Fromm nghĩ là câu trả 
				lời nằm trong kinh nghiệm hãi hùng về cô đơn, về chia lìa, phát
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">sinh từ biến cố bị 
				đuổi ra khỏi vườn địa đàng. Chính vì vậy con người mới có nhu 
				cầu mạnh mẽ hướng tới sự đồng dạng, tới những kinh nghiệm ngất 
				ngây trong một nhóm. Đối lại, ông cho rằng nghiện rượu, nghiện 
				thuốc và tự tử trong thế giới hiện nay là triệu chứng thất bại 
				trong nỗ lực đồng dạng. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Rồi Fromm 
				bước thêm một bước. Ông nói, chúng ta không thể giải quyết tình 
				trạng chia lìa này bằng việc làm, thành công, thích nghi hay cả 
				bằng những kinh nghiệm ngất ngây, tất cả những thoả mãn đó chỉ 
				mang tính cách tạm thời. Câu trả lời đích thực cho vấn nạn nền 
				tảng đó chỉ có qua việc kết hợp với một người khác, nơi tình 
				yêu. Fromm: “Đòi hỏi kết hợp với một người khác là đòi hỏi mạnh 
				nhất nơi con người. Đó là đòi hỏi căn bản nhất, là sức mạnh duy 
				trì giống người, duy trì bộ tộc, gia đình và xã hội. Thất bại 
				của đòi hỏi đó có nghĩa là điên loạn hoặc huỷ diệt - tự huỷ diệt 
				hay hủy diệt kẻ khác. Theo ông, không có tình yêu, nhân loại 
				không thể hiện hữu được chỉ một ngày”</span></i></b><span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cái hay của Fromm, là 
				ông coi cô đơn đối nghịch với tình trạng tự nhiên của tâm hồn 
				con người. Nếu cô đơn là không được yêu, là bị bỏ rơi, là chỉ có 
				trơ một mình mà thôi, và như thế đời tôi trống rỗng, thì tình 
				trạng đó quả là nỗi kinh hãi sâu xa nhất của mọi kinh hãi. Từ 
				đó, ta lại thấy con người, nhìn từ bên trong, quả là hình ảnh 
				của Chúa, nó được tạo nên để được yêu và để trở thành một kẻ 
				yêu.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi tin rằng, ở đây ta 
				nhất định phải nói tới hình ảnh Chúa trong con người. Thiên Chúa 
				là tình yêu. Chính tình yêu nền tảng thể hiện trong ba ngôi. Con 
				người là hình ảnh Chúa, như vậy, nó được sinh ra với động lực 
				chính yếu là để nhận và cho tình yêu.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Con đường đưa vào tình 
				yêu đúng nghĩa gắn liền với sự từ bỏ mình, nghĩa là gắn liền với 
				nỗ lực của một cuộc xuất hành. Do đó, trên con đường dẫn tới nó, 
				đã phục sẵn nhiều cám dỗ thúc ta muốn đạt đích nhanh, bằng qua 
				những thoả mãn thay thế, mà anh đã vừa đề cập ở trên.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Chỉ về sau người ta 
				mới hiểu ra, cái thay thế đó chỉ là những lừa đảo kinh tởm, nó 
				rốt cuộc xô ta vào nỗi cô đơn kinh hoàng, xuống hố thất vọng của 
				sự trống rỗng tuyệt đối. Hình ảnh hoả ngục là đó. Bởi khi ta tự 
				hỏi, bị giam lửa hoả ngục là gì, thì điều đó có nghĩa: chẳng còn 
				tìm được thích thú nơi cái gì nữa cả, chẳng yêu thích gì nữa cả, 
				chẳng thích ai mà cũng chẳng được ai thích. Hết khả năng yêu, và 
				như thế là bị đuổi ra khỏi không gian có thể yêu – đó là sự 
				trống rỗng tuyệt đối, trong đó con người sống mâu thuẫn với 
				chính mình và cuộc sống tiêu vong hoàn toàn.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nếu thật bản chất con 
				người là giống Chúa, là trở thành một kẻ yêu, thì nhân loại và 
				mỗi người chúng ta chỉ có thể tồn tại khi tình yêu có mặt và khi 
				ta cũng được chỉ dạy để đi tới tình yêu đó. Ở đây, ta có thể 
				quay trở lại với Đức Ki-tô: Hành động cứu chuộc của Đức Ki-tô 
				nằm nơi chỗ Ngài làm cho ta hiểu được tình Chúa yêu ta như thế 
				nào. Ngài mang tình đó tới với mỗi chúng ta, và chính Ngài vác 
				thập giá đi với ta tiến về mục tiêu quên mình, từ bỏ mình.Với 
				hành động đó, Ngài đã biến luật yêu thương thành quà tặng yêu 
				thương, và như thế là Ngài đã thắng vượt được nỗi cô đơn của mọi 
				cô đơn, nỗi cô đơn này cũng có thể coi như là việc mất ơn cứu 
				chuộc. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Học yêu 
				như thế nào?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhưng quả lạ, dù cho 
				khao khát yêu thương cắm rễ sâu như thế trong lòng, con người 
				vẫn coi những cái khác quan trọng hơn: Thành công, tình dục, 
				danh tiếng, tiền, quyền. Hầu như tất cả sinh lực của ta được bỏ 
				ra để tìm cách đạt những đích đó. Và hầu như chẳng ai quan tâm 
				một tí gì để học lấy nghệ thuật yêu.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhiều điều anh vừa nói 
				chỉ là những con đường tắt, đường thế. Họ làm thế để chóng đạt 
				đích mà chẳng phải phiêu lưu vào con đường từ bỏ mình. Đó là một 
				chuyện. Còn việc phát triển khả năng mình thì họ coi là chuyện 
				phụ. Việc phát triển khả năng này chính là ơn gọi của con người 
				– và cũng có thể nói nhờ đó họ mới thực thi được sứ mạng yêu 
				thương của mình. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Con người cần cập nhật 
				và tập luyện những khả thể đã được Tạo hoá đặt để trong họ, họ 
				cần làm một cái gì đó trong cuộc đời này. Như vậy, việc học nghề 
				và nỗ lực dấn thân cho nghề đó rõ ràng không đi ngược lại nhiệm 
				vụ căn bản của tình yêu, nhưng là cụ thể hoá tình yêu. Có thể 
				nói, tôi chỉ hoàn thành đầy đủ sứ mạng yêu thương của tôi, khi 
				tôi hoàn toàn trở nên kẻ mà tôi có thể trở thành, khi tôi cho 
				được cái tôi có thể cho, khi tôi mở ra cho tạo vật và quan hệ 
				giữa người với người những khả thể giúp nhau chung sống, và làm 
				cho sự phong nhiêu của thế giới và đời sống trở thành vườn ươm 
				an toàn và tự do.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Nhiệm vụ căn bản trên 
				sẽ không thành đạt, khi việc học nghề chỉ còn nhắm tới việc tập 
				luyện những khả năng; khi việc làm chủ thế giới và khả năng kiếm 
				tiền, khả năng sử dụng quyền lực tách rời khỏi nhiệm vụ thâm sâu 
				của tình yêu, là hiện diện cho và vì người khác; khi quyền hành 
				khiến tôi không còn cho đi được nữa; và cả khi tôi chỉ còn biết 
				có tôi, chỉ còn biết ôm vào mọi thứ cho tôi, và như thế khả năng 
				yêu trong tôi bị chết ngộp. Và rồi con người bị chế ngự bởi 
				quyền và của, và không còn biết đánh giá đúng những thứ đó nữa.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Quan trọng là chúng ta 
				đừng xem chính khả năng của ta, việc học nghề của ta là một thứ 
				gì thứ yếu. Nhưng mọi tài năng của ta, và cả mọi khả năng kĩ 
				thuật của con người, phải giữ đúng chỗ của chúng, và không được 
				chỉ biết có chúng mà thôi. Khi quyền trở thành tâm điểm, nó sẽ 
				biến con người thành nô lệ, và như vậy quyền lúc đó là đối lực 
				của tình yêu. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Câu hỏi 
				cụ thể: Một Hồng Y cũng có thể học nghệ thuật yêu?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Người ta không học 
				yêu, như học chơi đàn hay học sử dụng máy vi tính. Mà có thể nói 
				phải luôn học nó với từng việc một. Và dĩ nhiên cũng học nó từ 
				những người gương mẫu. Trước hết từ cha mẹ, là gương sáng và là 
				người lãnh đạo, mà ta coi như là những vị đã thành nhân. Sau 
				nữa, học qua những cuộc gặp gỡ trong đời. Học nơi tình bạn, nơi 
				công tác nối tôi với kẻ khác, nơi một nhiệm vụ. Điều quan trọng 
				là không phải đi tìm chính mình qua những quan hệ và việc làm 
				đó, mà là để tìm ra con đường cho đi, và nhờ đó biết nhận vào 
				một cách đúng đắn. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Phần tôi, tôi không 
				muốn tự xét đoán mình, nhưng tôi cố bằng mọi cách học yêu qua 
				hình ảnh Đức Ki-tô và các thánh. Nói cách khiêm nhường hơn, là 
				học lấy sự nhân ái nơi các ngài và cố bước theo và làm theo các 
				ngài. Còn việc tôi thật sự học được tới mức nào, thì để cho Chúa 
				và cho người ta phán xét. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Người ta 
				đôi khi có thể lầm. Tôi không quên được hình ảnh mà tôi đã một 
				lần viết về ngài. Trong bài viết tôi lặp lại điều của văn sĩ 
				Stefan Andres. Andres viết trong một chuyện ngắn về một đại quan 
				thẩm tra – hoạ sĩ tài danh El Greco đã hoạ lại hình ảnh đại quan 
				đó - như sau: “Ông ta không dính dáng gì tới tình yêu cả”.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Vâng, một vai trò như 
				tôi người ngoài có thể nhìn thấy như vậy. Dù sao, chúng tôi đã 
				cố dùng tình yêu để đối xử với người khác trong những hoàn cảnh 
				có thể nói là khó khăn. Tình yêu đó, dĩ nhiên, không phải chỉ là 
				ve vãn nhau, nhưng nó cũng đặt ra giới hạn cho chỗ nào có hại, 
				và chỗ nào gây phương hại tới quy luật nội tại của tình yêu. Các 
				cộng sự viên của tôi và tôi cố gắng đặt chính người đó vào một 
				toàn cảnh thuận lợi, để chính người đó nhìn ra vấn đề cần giải 
				quyết. Không phải chúng tôi đơn giản muốn gấp rút khai trừ họ, 
				nhưng muốn phục vụ cả toàn cộng đoàn và trong đó rốt cuộc cũng 
				có cả họ nữa. Và chúng tôi cảm thấy bó buộc phải bảo vệ đức tin 
				của những người bé nhỏ. Vừa rồi, một giám mục danh tiếng kể cho 
				tôi hay, ông đã thấy một trong những người nổi tiếng ở Á châu 
				chống lại Bộ tín lí đức tin tỏ ra cao ngạo quá mức, và thái độ 
				đó đã dẫm đạp lên đức tin của những người bé nhỏ như thế nào. 
				Qua đó, cũng theo giám mục, tôi mới thấy công tác bảo vệ đức tin 
				cho kẻ thấp cổ bé miệng chống lại sự cao ngạo thật quan trọng.
				</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Lời Chúa 
				dĩ nhiên không chỉ được khuôn đúc theo chức vụ, mà còn có thể bị 
				chính người giữ chức vụ làm phai mờ.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Đúng, nguy hiểm đó 
				đương nhiên có. Ta chỉ có thể luôn nỗ lực sửa sai và đừng để 
				nguy hiểm đó đè bẹp mình.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Một vấn đề gặp phải 
				trong vấn đề yêu, là con người ta trước hết chỉ nghĩ tới cách 
				làm sao để được yêu, chứ ít khi làm sao để yêu.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Với cái nhìn như thế 
				thì bản chất tình yêu kể như tiêu. Nếu ta chỉ muốn có được tình 
				yêu mà thôi, thì chắc chắn ta sẽ không nhận được nó, nó sẽ trở 
				nên ích kỉ, thoái hoá, và người khác hẳn cũng nhìn ra được điều 
				đó. Con đường học yêu cũng có nghĩa là vượt thắng mình, từ bỏ 
				mình, học cách trao tặng mình, kể cả khi mình chẳng mong nhận 
				lại được đáp trả nào. Nhất là học cách quên mình cho những người 
				khó thương đối với mình, và cho những người đau khổ đang cần đến 
				mình. Ta hãy nghĩ tới người Samarita. Ta chỉ trở thành kẻ yêu, 
				khi ta không phải lúc nào cũng chỉ nghĩ tới việc thu vén cho 
				mình, mà là lúc ta nỗ lực trở thành kẻ cho đi, kẻ luôn nhìn ra 
				được người bị bỏ rơi không ai đoái hoài, có thể là vì con người 
				đó chẳng có chút thiện cảm nào. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Các bộ 
				mặt của tình yêu</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Erich Fromm nói, lãnh 
				vực quan trọng nhất để cho đi không phải là lãnh vực vật chất. 
				Một người cho kẻ khác nhiều nhất, khi người đó cho chính họ, 
				nghĩa là cho đi cái quý giá nhất mà họ có, cho đi cuộc sống của 
				mình. Người đó cho đi niềm vui, sở thích, sự cảm thông, sự hiểu 
				biết của mình, và dĩ nhiên cả cái hài hước lẫn u sầu của mình – 
				nghĩa là tất cả những gì tạo sống động nơi người đó. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Cho, trước hết, không 
				hẳn là cho tiền, điều đó hiển nhiên. Dĩ nhiên người ta có thể 
				rất cần tiền. Nhưng nơi đâu chỉ cho tiền, nơi đó người ta cũng 
				thường gặp cảnh bị xúc phạm. Tôi luôn chứng kiến điều đó nơi thế 
				giới đệ tam. Họ nói với một nhân vật rằng, nếu các anh chỉ gởi 
				cho chúng tôi tiền mà thôi, thì thường các anh làm hư chúng tôi 
				nhiều hơn giúp chúng tôi. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tiền thường hay bị lạm 
				dụng và thường khiến cho tình trạng gia trọng thêm. Các anh nên 
				cho thêm gì khác. Chính các anh nên tới, các anh nên cho chính 
				các anh, có như thế vật chất mà các anh giúp mới được dùng đúng 
				chỗ, chúng mới không phải là những cái các anh móc túi vứt ra, 
				để tìm cách xí xoá đi những vấn nạn mà chúng tôi đặt ra cho các 
				anh, và những vấn nạn của các anh.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Bao lâu chúng ta chỉ 
				cho tiền và kiến thức, chúng ta chỉ mới cho rất ít. Hiểu như thế 
				thì các nhà truyền giáo là những tấm gương. Họ đã mang Thiên 
				Chúa tới cho người khác. Họ đã làm cho tình yêu trở nên đáng 
				tin. Họ đã trao tặng một con đường sống mới. Họ đã cho chính bản 
				thân họ, không phải chỉ có hai, ba năm mà thôi, không phải vì 
				máu phiêu lưu, mà hiến cả thân mình để đến chung sống, làm một 
				với người. Bao lâu ta chưa học lại được khả năng hiến thân đó, 
				thì cái cho của ta còn quá ít.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Điều đúng trên bình 
				diện thế giới, tất nhiên cũng đúng nơi mỗi cá nhân. Về điểm này, 
				thi sĩ Rilke* có câu thuyện hay. Ông kể, lúc ở Paris, mỗi ngày 
				khi đi ngang qua người đàn bà ăn xin, ông đều thẩy vào mũ bà ấy 
				một đồng tiền. Mỗi lần như thế, ông &nbsp;để ý thấy nét mặt chị ta 
				vẫn bất động, xem ra như chị ấy mất trí. Một ngày nọ, thay vì 
				đồng tiền, ông đưa cho chị một bông hồng. Mặt chị bỗng rạng lên. 
				Lần đầu tiên ông thấy cảm xúc nơi chị. Chị mỉm cười rồi biến mất 
				suốt tám ngày, bởi vì chị đã nhận được cái gì còn hơn tiền.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi tin, đó là một 
				hình ảnh cho ta thấy rằng đôi khi chỉ một bông hồng, một cử chỉ 
				quan tâm, một niềm nở đón nhận người khác còn đáng giá hơn tiền 
				bạc hay những món quà vật chất khác. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Lề luật 
				mới của đấng Cứu thế là Tin Mừng tình yêu. Như vậy phải chăng có 
				thể nói được rằng Giao ước cũ đã mất hết sức sống; phụng vụ, của 
				lễ và lối hiểu về đời sống cộng đoàn của nó kể như chấm dứt? Bởi 
				vì rõ ràng nay là thời điểm để khởi sự một cái gì mới. Malakia, 
				vị tiên tri cuối cùng của Giao ước cũ, đã tuyên bố: „Thiên Chúa 
				của các đạo binh nói: Ta không còn thú vị gì với các ngươi nữa 
				và sẽ chẳng nhận lễ vật nào nữa từ tay các ngươi“.</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Tôi không muốn nói 
				rằng Giao ước cũ đã kiệt sức. Người Do-thái vẫn còn sống với nó 
				và vẫn còn luôn rút ra được từ Cựu Ước kho tàng tinh thần lớn. 
				Nhưng, là người công giáo, chúng ta bảo rằng Giao ước đó đang 
				trên đường, và nó đang tiến dần về tới đích, bởi vì nếu không có 
				đích, thì con đường kia chẳng có nghĩa gì. Như vậy, không thể 
				cắt đứt hoặc bỏ đi cái cũ, vì coi như nó đã hết xài, nhưng đó là 
				một con đường đang tiến về đích của nó. Không có đường thì ta 
				không thể tới đích được.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Những phê bình liên 
				quan tới của lễ đã có trong Cựu Ước ngay từ đầu. Thiên Chúa nói 
				với con người trong các Thánh Vịnh: Ta sẽ không nói cho ngươi 
				hay Ta muốn ăn gì; những của lễ thú vật và lễ vật hoả thiêu của 
				ngươi là những thứ Ta không cần, Ta cần trái tim cơ.</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Của lễ cũng luôn nói 
				lên cố gắng của con người trong việc công nhận quyền cai trị của 
				Chúa, và ít ra, chúng tỏ dấu cho thấy con người muốn dâng cho 
				Chúa một cái gì của chính họ. Đồng thời, một cách nào đó, họ 
				cũng biết Chúa chẳng màng gì tới thú vật hoặc bê thiêu. Trong ý 
				nghĩa đó, các hành vi thờ cúng trong Cựu Ước đã nhập làm một với 
				lễ vật đích thực, là Đức Ki-tô, kẻ đã hiến thân cho ta và trao 
				ta cho Cha Ngài, là kẻ có thể nói, đã khởi sự dùng tình yêu để 
				biến đổi thế giới. Tình yêu mới là lễ vật đích thật. Nó thay thế 
				cử chỉ vô vọng nơi của lễ thú vật và làm cho những của lễ đó 
				thành vô nVì thế, cũng chẳng phải là một việc tình cờ, khi 40 
				năm sau cái chết của Đức Ki-tô, Đền thờ đã biến mất khỏi lịch 
				sử, là vì mục tiêu của Đền thờ giờ đây đã được hiện thực (qua 
				Đức Ki-tô) rồi. </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b><i>
				<span style="font-size: 12.0pt; color: blue" lang="VI">Thiên 
				Chúa gởi Con Ngài xuống trần là vì yêu con người – hay vì muốn 
				chia sẻ nỗi đau của họ?</span></i></b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Có lẽ giữa yêu thương 
				và chia sẻ đau khổ chẳng có gì đối nghịch nhau. Chia sẻ đau khổ 
				đích thực không chỉ là một biểu hiện tình cảm. Nhưng đó là một 
				thứ đồng hoá với nỗi đau của kẻ khác, và như vậy nó là một hành 
				động cơ bản của tình yêu . </span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">Người Hi-lạp xưa quan 
				niệm Thiên Chúa bất biến, như vậy họ coi Ngài là tinh thần thuần 
				tuý, và do đó Ngài không thể cảm giác mà cũng chẳng biết đau. Vì 
				thế ki-tô hữu đã phải tự hỏi, vậy thì Thiên Chúa thật sự ra sao? 
				Và Origenes* đã nói một câu thật hay: Thiên Chúa quả thật không 
				biết đau, nhưng Ngài biết cùng đau. Nghĩa là Ngài có thể đồng 
				hoá với ta, với những kẻ đau khổ. Quả là một hành vi yêu thương 
				lớn, khi Thiên Chúa đã đi vào thân xác con người trong Đức Ki-tô 
				để đồng hóa với ta – và như vậy Ngài đồng hoá ta với Ngài và đưa 
				ta vào trong tình yêu của Ngài. Tôi nghĩ, chính khi ki-tô hữu 
				chống lại quan điểm vô cảm hoàn toàn của phái khắc kỉ và đề cao 
				khả năng chia sẻ đau khổ, thì đó cũng là lúc họ tuyên xưng tình 
				yêu. Chia sẻ đau khổ một cách đúng đắn là một hành động yêu 
				thương. </span></p>
				<div class="MsoNormal" style="text-align:left" align="left">
					<span style="font-size: 12.0pt" lang="VI">
					<hr align="left" size="1" width="33%"></span></div>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<a href="http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=533&ict=7121#_ftnref1">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="DE">[1]</span></a><span style="font-size: 12.0pt" lang="DE"> 
				Adolf von Harnack (1851 – 1930): Người Đức, nhà thần học và sử 
				gia Giáo Hội tin lành nổi nhất cuối thế kỷ19 và đầu thế kỷ20.&nbsp;</span></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<a href="http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=533&ict=7121#_ftnref2">
				<span style="font-size: 12.0pt" lang="DE">[2]</span></a><span style="font-size: 12.0pt" lang="DE"> 
				Nestle-Aland: thuộc Viện nghiên cứu văn bản Tân Ước của đại học 
				Münster, Đức (INTF). Mục tiêu của Viện là thu thập, xếp loại, 
				đánh giá các văn bản Tân Ước cổ bằng tiếng Hi-lạp (nay đã phát 
				hiện được 5700 văn bản) với hi vọng tái tạo lại được bản gốc của 
				Tân Ước.</span></td>
	</tr>
	<tr>
		<td style="border-left-style: solid; border-left-width: 1px; border-right-style: solid; border-right-width: 1px; border-bottom-style: solid; border-bottom-width: 1px">
		<p align="center">
		<img border="0" src="../Suyniemmoingay/Nam2011/thanggieng/02.gif" align="right" width="200" height="200"></p>
		<p align="center">
		&nbsp;</p>
		<p align="center">
		<br>
		&nbsp;</p>&nbsp;</td>
	</tr>
</table>

</body>

</html>

PHP File Manager