File "Phan IV.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/THIENCHUA/Than Do Huyen Nhiem/Phan IV.htm
File size: 227.58 KiB (233042 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<LINK rel="stylesheet" href="../Suyniemmoingay/_common/colours.css" type="text/css">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">

<title>Thien Chua - Thần Đô Huyền Nhiệm</title>
<style>
<!--
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Arial","sans-serif";
	}
-->
</style>
<meta name="keywords" content="Năm Bánh - Hai Cá - Giêsu Kitô; tinmung.net; dongcong.net, suy niệm mỗi ngày">
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../_themes/network/netw1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="network 1011">
</head>

<body>

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="10" bgcolor="#FFFFF2" cellpadding="10">
	<tr>
		<td style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 12pt; font-weight: bold; border-left-style:solid; border-left-width:1px; border-right-style:solid; border-right-width:1px; border-top-style:solid; border-top-width:1px">
		<p align="center"><font color="#FF0000">PHẦN IV</font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 12pt" align="justify">
		<p style="margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 12pt; margin-bottom: 0" align="center">
		<span style="font-family: Arial,sans-serif; color: #333333"><b>
		<a name="CHƯƠNG_1_">CHƯƠNG 1</a></b></span></p>
		<p style="margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 12pt; margin-bottom: 0">
		<span style="font-family: Arial,sans-serif; color: #333333"><b>THÁNH 
		GIUSE QUYẾT ĐỊNH RỜI XA HIỀN THÊ</b><br>
		<br>
		Đức Maria cưu mang Con Thiên Chúa làm người đã tới tháng thứ năm khi đức 
		phu quân Giuse trinh khiết bắt đầu nhận thấy hoàn cảnh của Người. Một 
		hôm thánh Giuse thấy Đức Trinh Nữ từ trong phòng cầu nguyện bước ra, 
		ngài thấy nơi Người sự thay đổi rất khác thường, không thể nào giải 
		thích cho xuôi điều hiển nhiên trước mắt. Người của Chúa bị thương tận 
		đáy lòng, linh hồn ngài bị thương tổn vì không thể gạt bỏ sự thực hiển 
		nhiên. Lý do sự phiền sầu này là sự trinh khiết, tình yêu mãnh liệt tột 
		độ và tuyệt đối trung thành mà ngay từ thuở ban đầu thánh nhân đã trao 
		trọn vẹn cho hiền thê. Hơn nữa, vẻ duyên dáng diễm kiều và thánh thiện 
		của Đức Maria cột chặt linh hồn thánh Giuse với hiền thê. Vì Đức Maria 
		toàn hảo khôn ngoan thận trọng khiêm tốn nhu mì ít nói, nên ngoài sự lo 
		lắng băn khoăn phục vụ Đức Maria, thánh Giuse tự nhiên nuôi ước vọng 
		tình yêu của ngài được đáp ứng từ phía hiền thê. Điều này được Thiên 
		Chúa an bài, để do lòng ước ao trao đổi tình yêu, thánh Giuse có thể 
		được thúc đẩy phục vụ Đức Trinh Mẫu trung thành hơn.<br>
		Thánh Giuse không dính líu chút gì tới việc Đức Trinh Nữ mang thai, mà 
		những kết quả việc đó hiển nhiên ở trước mắt ngài, không thể chối cãi; 
		chắc chắn không thể tránh được sỉ nhục khi người ta biết việc này. Ý 
		nghĩ này làm cho thánh Giuse lo lắng buồn phiền. Ngài biết mức độ sự 
		thất sủng tủi hổ về phần mình và hiền thê yêu dấu trong hoàn cảnh mỗi 
		người. Nỗi ưu tư đặc biệt sâu sắc trong lòng thánh Giuse khiến ngài đau 
		đớn nhất là sợ phải nộp Đức Maria cho chức quyền để Người bị ném đá chết 
		(Lêvi 20:10), vì đây là tội ngoại tình bị kết án tử. Thánh Giuse chìm 
		trong lo âu đau đớn chẳng khác gì bị ngàn lưỡi gươm bén xuyên thấu, mà 
		không có lấy một chỗ nào để ẩn tránh khác hơn lòng tín nhiệm hoàn toàn 
		nơi hiền thê Maria. Cũng vì không dám hé răng tiết lộ sự đau trong lòng 
		với một ai, ngài thấy mình bị bao vây bởi những đau buồn chết người (Tv 
		17:5), cảm thấy trong chính ngài lời Sách Thánh: “Lòng ghen tương thì 
		khốn nạn hơn hỏa ngục” (Dc 8:6).<br>
		Giữa những lo lắng giày vò tâm trí này, thánh Giuse kêu cầu và đặt mình 
		trước nhan thánh Chúa: “Lạy Thiên Chúa Tối Cao, Chúa biết hết mọi ước 
		nguyện và những tiếng thở dài của con. Con thấy mình bị nhồi đập vì sự 
		cuồng bạo từ những cơn sóng buồn phiền (Tv 31:10) đã làm đau đớn trái 
		tim con. Con hoàn toàn tin cậy nơi hiền thê được Chúa ban cho con. Con 
		hoàn toàn tin cậy sự thánh thiện của Người. Nhưng các dấu hiệu của sự 
		thay đổi bất ngờ này nơi Người không ngừng dâng lên những hoài nghi đày 
		đọa đáng sợ, e rằng lòng tín nhiệm của con bị đặt lầm chỗ. Cho tới giờ 
		phút này con không thấy ở Người điều gì khả dĩ giải thích cho bất cứ 
		điểm hoài nghi nào nơi lòng khiêm tốn và đặc biệt nhân đức của Người, 
		đồng thời con không thể chối cãi được Maria đang mang thai. Chắc con 
		chết vì phiền sầu, trừ phi có mầu nhiệm gì che giấu mà con không đo 
		lường được. Lý trí cho rằng Người vô tội, trong khi đó tri giác lại kết 
		án Người.<br>
		Người không nói nguyên do việc thai nghén, trong khi con thấy việc đó 
		trước mắt. Con phải làm gì? Cả hai chúng con cùng thề hứa giữ Đức Trinh 
		Khiết vì vinh danh Chúa. Giả dụ có thể Người đã vi phạm lòng trung thành 
		đối với Chúa và với con, con sẽ bênh vực danh dự Chúa mà quên phần con 
		vì yêu mến Chúa. Nhưng làm sao Người có thể giữ được sự trinh trắng 
		thánh thiện nếu đã phạm đại trọng tội trong trường hợp này? Con hoãn lại 
		sự xét đoán của con. Vì không thể thấu hiểu được nguyên do những gì con 
		thấy, con trút hết linh hồn đau đớn của con trước nhan thánh Chúa (Tv 
		141:3). Lạy Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Jacob, xin Chúa nhận nước 
		mắt con làm hiến lễ đáng được chấp nhận. Nếu tội lỗi con xứng đáng bị 
		Chúa thịnh nộ, thì xin Chúa đại lượng nhân từ không khinh chê sự đau 
		buồn dữ dội của con. Con không tin Maria yêu dấu đã xúc phạm đến Chúa. 
		Dẫu vậy con lại càng không thể nào cho rằng có điều gì mầu nhiệm mà con, 
		với tư cách là phu quân lại không được cho biết. Xin Chúa thống trị trí 
		khôn và trái tim con bằng ánh sáng, để con có thể biết hầu chu toàn 
		thánh ý.”<br>
		Thánh Giuse kiên trì cầu nguyện thiết tha hơn nữa. Ngài đoán chừng phải 
		có điều gì mầu nhiệm trong việc thai nghén của Đức Maria mà giấu ngài, 
		nhưng vẫn không thể tìm được chút gì bảo đảm. Ý nghĩ này không mạnh hơn 
		để bào chữa cho Đức Maria so với những lý do dựa trên sự thánh thiện của 
		Người. Vì thế, ý nghĩ Đức Maria có thể là Mẹ Chúa Cứu Thế đã không đến 
		trong trí ngài. Đôi khi ngài xua đuổi những ức đoán đi, nhưng chúng trở 
		lại bằng những con số đông hơn với chứng cớ hiển nhiên hùng hồn hơn. Vì 
		thế, thánh Giuse bị nhồi đập giữa những cơn sóng hoài nghi dồn dập. Từ 
		sự đuối sức cùng cực, đôi khi thánh Giuse rơi vào tình trạng rối vò 
		không thể nào tìm được sự bình an cho trái tim, cũng không tìm được một 
		tiêu chuẩn nào để căn cứ vào đó để có thể lèo lái cuộc sống. Dẫu vậy sự 
		kiên trì chịu đựng dưới cái đọa đày này quá sức lớn lao, và là bằng 
		chứng hiển nhiên của đức thận trọng cao cả thánh thiện của ngài. Điều đó 
		làm cho ngài xứng đáng với hồng ân vô cùng cao cả duy nhất đang chờ đợi.<br>
		Đức Maria biết hết mọi diễn biến trong trái tim thánh Giuse, Người đi 
		vào trái tim thánh Giuse bằng ánh sáng thần linh. Mặc dầu tâm hồn Đức 
		Maria chan chứa yêu thương đau xót đối với những đau khổ của đức phu 
		quân, Người không nói một lời nào về vấn đề đó; mà chỉ tiếp tục phục vụ 
		thánh Giuse tận tình chu đáo. Người của Chúa không biểu lộ điều gì bề 
		ngoài khi nhìn Đức Maria, nhưng nỗi lo âu của ngài lớn lao hơn tâm trạng 
		như thế của tất cả mọi người đã từng sống trên đời. Việc thai nghén 
		không nặng nề đau đớn gì đối với Đức Maria; nhưng vì Người phục vụ thánh 
		Giuse tại bàn ăn hoặc việc nội trợ, hẳn không thể tránh để lộ tình trạng 
		cơ thể ngày càng rõ. Với tâm hồn nặng đau đớn, thánh Giuse để ý tới 
		những hành động cử chỉ của Đức Maria, ngài duyệt xét lại các ý kiến của 
		mình. Mặc dầu thánh thiện công chính, thánh Giuse tự cho phép mình, do 
		cuộc hôn nhân, được Đức Trinh Nữ kính trọng và phục vụ, được hưởng mọi 
		điều xứng với địa vị gia trưởng và phu quân nhưng khiêm tốn thận trọng. 
		Bao lâu còn chưa biết bí mật nơi hiền thê yêu dấu, thánh Giuse xét thấy 
		đúng rằng cần phải biểu lộ quyền hạn trong phạm vi những giới hạn chính 
		đáng, theo gương các thánh Tổ và Tiên Tri. Vì biết các thánh Tổ đòi hỏi 
		các và vợ phục tòng tuyệt đối, ngài không muốn bỏ không theo gương các 
		Tổ Phụ. Hẳn thánh Giuse đã hoàn toàn đúng trong việc này nếu Đức Maria 
		cũng chỉ như những phụ nữ khác. Tuy nhiên không một phụ nữ nào đã hoặc 
		sẽ sống, đã hoặc sẽ hết sức vâng lời, khiêm tốn tận tụy đối với chồng 
		như Đức Maria đã cư xử với thánh phu quân. Đức Maria phục vụ thánh Giuse 
		với lòng kính trọng ân cần. Mặc dầu biết các tư tưởng rối vò và nhận xét 
		của phu quân về sự thai nghén của mình, Đức Maria không bỏ sót một săn 
		sóc nào đối với ngài, Người cũng không cố giấu giếm hoặc biện giải tình 
		trạng của mình.<br>
		Vì đức khôn ngoan và khiêm tốn đã không cho phép Đức Maria nghĩ đến 
		mình, không thể tự mình làm sáng tỏ điều huyền nhiệm nơi Người. Mặc dầu 
		lòng trắc ẩn yêu thương đối với phu quân làm cho Đức Maria lo lắng phải 
		an ủi và làm cho ngài khuây khỏa, Người không làm điều đó bằng cách nói 
		rõ về mình hoặc che giấu việc thai nghén. Người phục vụ đức phu quân 
		bằng những biểu lộ tình yêu tận tụy hơn, ân cần hơn. Nhiều lần Đức Maria 
		quì gối phục vụ cơm nước cho thánh Giuse. Việc này an ủi thánh Giuse đôi 
		chút, nhưng cũng gây cho ngài sự phiền muộn mới. Vì do đó ngài chỉ nhìn 
		thấy những động lực của tình yêu và kính trọng được gia tăng mà vẫn chưa 
		biết chắc hiền thê của mình giả dối hoặc không. Đức Maria không ngừng 
		cầu nguyện cho thánh phu quân, xin Đấng Tối Cao thương nhìn đến an ủi 
		ngài; phần còn lại Người hoàn toàn vâng phục thánh ý Thiên Chúa.<br>
		Thánh Giuse không thể hoàn toàn giấu kín sự đau lòng dữ dội, thường tỏ 
		ra tư lự bơ phờ. Đôi khi quên lãng vì ưu phiền, ngài đã nói với hiền thê 
		thiên đàng bằng giọng hơi gay gắt, mà trước kia chưa bao giờ xảy ra. Đây 
		là ảnh hưởng tự nhiên của sự đau đớn nơi trái tim ngài, chứ không do cảm 
		giác tức giận hóa ra trả thù; vì ý nghĩ trả thù không bao giờ đến với 
		thánh Giuse. Dẫu vậy, Đức Nữ Vương không bao giờ thiếu vẻ ngọt ngào, mà 
		chỉ gia tăng nỗ lực làm nhẹ bớt tâm tư của thánh phu quân. Đức Trinh Nữ 
		phục dịch ở bàn ăn, kéo ghế mời thánh Giuse ngồi, dâng thức ăn, nước 
		uống. Nhưng nếu sau khi Đức Maria chu toàn tất cả những việc phục dịch 
		này, thánh Giuse nài Đức Maria ngồi xuống, ngài lại càng tin hơn rằng 
		Người đang mang thai.<br>
		Cho dù sự đau buồn của Đức Trinh Nữ vượt mọi giới hạn, nhưng khả năng 
		của tâm hồn đại lượng nhân từ của Người còn cao cả hơn nhiều, nhờ đó có 
		thể che giấu sự buồn phiền hoàn toàn hơn, và dành hết khả năng vào việc 
		săn sóc yêu thương thánh phu quân Giuse. Tâm tư buồn phiền của Người chỉ 
		làm tăng thêm việc tận tụy lo lắng cho sức khỏe và hạnh phúc của thánh 
		Giuse. Vả lại, vì nguyên tắc hành động bất khả vi phạm của Đức Maria là 
		phải thi hành mọi sự cách cẩn trọng hoàn hảo, Người tiếp tục không nói 
		đến mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể vì không nhận được chỉ dạy nào về việc 
		tiết lộ. Mặc dầu chỉ một mình Người có thể giải tỏa đức phu quân bằng 
		một lời giải thích, Người giữ lại điều đó vì kính trọng và trung thành 
		với bí tích của Vua trên trời (Tôbia 13:7). Đức Maria nói với thánh 
		Giuse về sức khỏe của ngài, vì ngài bị suy nhược trầm trọng. Đức Trinh 
		Nữ khuyên ngài nghỉ ngơi dưỡng sức, vì cần phải bồi dưỡng sức khỏe đã bị 
		hao mòn để có thể phục vụ Chúa lâu dài.<br>
		Đức Maria buồn rầu vô hạn vì biết thánh Giuse quyết định rời bỏ Người, 
		tự mình vắng mặt. Người nói với các thiên thần: “Hỡi các thiên thần đặc 
		sứ của Đức Vua Tối Cao, Đấng nâng quí vị lên bậc diễm phúc, và do Ơn 
		Quan Phòng nhân từ của Chúa, tháp tùng bảo vệ tôi, xin các thiên thần, 
		quí bạn hữu của tôi, trình lên trước thánh nhan Chúa nhân từ những đau 
		buồn của phu quân Giuse. Tôi nhờ các thiên thần khẩn khoản xin Thiên 
		Chúa đoái nhìn và với tư cách Người Cha đích thực, xin Chúa an ủi Giuse. 
		Và cả các thiên thần nữa, hằng hết lòng tận trung vâng lời Chúa, cũng 
		xin nghe lời cầu nguyện của tôi, nhân danh Chúa, Đấng hằng hữu, mà tôi 
		dâng cho Ngài thân xác loài người trong lòng tôi, tôi khẩn khoản xin các 
		thiên thần đừng chần chờ, hãy giúp cho phu quân tôi bớt đau đớn nơi trái 
		tim ngài, xua đuổi khỏi tâm trí ngài quyết định rời bỏ tôi.” Các thiên 
		thần đã lập tức vâng lời, trút vào trái tim thánh Giuse nhiều tư tưởng 
		tốt lành, lại thuyết phục ngài rằng hiền thê Maria của ngài thánh thiện 
		hoàn toàn nhất, ngài không thể tin có điều gì sai trái nơi Người. Các 
		thiên thần cũng nhắc thánh Giuse nhớ rằng Thiên Chúa quá sức cao siêu, 
		không ai lường được các việc Chúa làm, các phán xét của Chúa bí ẩn vô 
		cùng (Tv 33:19), Thiên Chúa luôn trung thành đối với những ai trông cậy 
		Ngài, không bao giờ khinh miệt hoặc bỏ rơi những người đó trong mọi khổ 
		não của họ.<br>
		Nhờ những soi dẫn thánh thiện này và nhiều chỉ dạy khác, tinh thần bối 
		rối của thánh Giuse được tương đối lắng dịu, mặc dầu ngài không biết các 
		điều đó từ đâu tới. Nhưng vì nguyên do nỗi lo âu không được dứt đi, 
		chẳng mấy chốc ngài lại bị các tư tưởng đó giày vò. Vì không tìm được 
		điều gì bảo đảm làm cho trái tim nguôi ngoai, ý định rút lui bỏ hiền thê 
		lại xâm chiếm tâm trí ngài. Đức Maria biết điều này và kết luận là cần 
		phải phá tan điều nguy hiểm này nên đã khẩn khoản hơn xin cách cứu chữa 
		và cầu cứu Con cực thánh. Mẹ Maria cầu xin: “Lạy Chúa và Thiên Chúa linh 
		hồn con, với điều Chúa cho phép, mặc dầu con chỉ là bụi tro (Stk 8:27), 
		con sẽ nói trước thánh nhan Chúa và giãi bày những thở dài con không thể 
		nào giấu Chúa được (Tv 37:19). Con không được bất cẩn trong việc giúp đỡ 
		phu quân con đã nhận từ tay Chúa. Con thấy Giuse bị những khổ tâm áp đảo 
		mà Chúa đã gởi tới cho người, con không thể nào nhẫn tâm để người trong 
		hoàn cảnh đó. Nếu con được đẹp lòng Chúa, con tha thiết xin Chúa, lạy 
		Thiên Chúa hằng hữu, vì tình yêu mà Chúa đến ngự trong lòng nữ tì của 
		Chúa để cứu độ nhân loại, xin vui lòng an ủi tôi tớ Giuse của Chúa và 
		sắp đặt cho nguời giúp đỡ con trong việc chu toàn các công trình vĩ đại 
		của Chúa. Con, nữ tì của Chúa, rất cần có một đấng phu quân bảo vệ và 
		giám hộ. Lạy Chúa và Thiên Chúa, xin đừng để Giuse thi hành quyết định 
		rút lui khỏi đời con.”<br>
		Đấng Tối Cao đáp lời Đức Maria: “Người Yêu vô cùng dấu ái của Ta, ngay 
		bây giờ Ta sẽ đến thăm và an ủi Giuse tôi tớ Ta. Sau khi Ta đã tỏ hiện 
		cho Giuse, qua thiên thần, mầu nhiệm mà tới nay Giuse không biết, Người 
		có thể nói cho Giuse biết tất cả mọi điều Ta đã làm cho Người, không cần 
		phải giữ kín từ nay trở đi về các vấn đề này. Ta sẽ đổ tràn đầy Thần 
		Linh Ta trên Giuse, cho Giuse đủ khả năng chu toàn phần mình trong các 
		mầu nhiệm này, giúp đỡ Người trong các mầu nhiệm đó và trong tất cả mọi 
		việc sẽ xảy ra.” Nhờ lời Thiên Chúa hứa, Đức Maria được khuây khỏa an ủi 
		và dâng lời tạ ân nồng nàn.<br>
		Trong khi đó thánh Giuse lo lắng suy nghĩ về cách hành động sao cho 
		chính đáng. Ngài đã mang nỗi thống khổ này ròng rã hai tháng rồi, và bây 
		giờ, bị sức nặng lớn lao của nỗi khổ tâm chế ngự, ngài tự nhủ: “Tôi 
		không thể tìm được cách nào tốt đẹp để thoát khỏi những khó khăn này hơn 
		là tự tôi vắng mặt. Tôi thú nhận rằng hiền thê của tôi toàn hảo, không 
		tỏ ra điều gì sai lỗi, trái lại Người hiển nhiên là một đấng thánh; 
		nhưng Người mang thai mà tôi không thể đo lường được mầu nhiệm. Tôi 
		không muốn làm tổn thương danh giá thánh thiện của Người bằng việc làm 
		cho Người chịu hình phạt theo luật, đồng thời tôi không thể đứng bên và 
		chứng kiến những hậu quả việc Người có thai. Bây giờ tôi rời xa Người, 
		trao phó chính tôi cho sự quan phòng của Thiên Chúa, Đấng quản trị tôi.” 
		Thánh Giuse quyết định ra đi đêm đó. Để chuẩn bị hành trình, ngài gói 
		ghém vài y trang và các thứ lặt vặt. Ngài cũng đã đòi tiền công các dịch 
		vụ đã làm, và đi ngủ với ý định ra đi lúc nửa đêm. Theo thói quen dâng 
		mọi ý định lên Thiên Chúa, khi đã tới quyết định này, ngài nói với Thiên 
		Chúa: “Lạy Thiên Chúa tối cao hằng hữu của tổ phụ Abraham, Isaac và 
		Jacob của chúng con, Chúa thực sự là nơi nương náu duy nhất cho kẻ nghèo 
		khó đau khổ. Mọi nỗi buồn phiền khổ tâm của con đều quá rõ ràng đối với 
		lòng nhân hậu Chúa. Lạy Chúa, Chúa cũng biết, mặc dầu con không xứng 
		đáng, con vô tội vì những gì gây ra sự đau buồn của con, hơn nữa Chúa 
		cũng biết sự bất hạnh ô nhục và nguy hiểm đem lại cho trường hợp hiền 
		thê của con. Con không tin Người ngoại tình, vì con chỉ thấy ở Người 
		nhân đức và hoàn toàn cao cả; nhưng rõ ràng con thấy Người đang mang 
		thai. Con không biết do ai hoặc cách nào việc đó xảy ra, vì thế con 
		không thể nào duy trì được bình an tâm hồn. Để chọn cái ít xấu nhất, con 
		sẽ rút lui khỏi hiền thê của con, tìm một nơi mà không ai biết con và 
		hoàn toàn ký thác thân con cho sự Quan Phòng của Chúa, con sẽ sống trọn 
		đời ở sa mạc. Lạy Chúa và Thiên Chúa hằng hữu, xin đừng bỏ con, vì con 
		chỉ ước nguyện làm vinh danh và phụng sự Chúa mà thôi.”<br>
		Thánh Giuse phủ phục dưới đất cầu nguyện và hứa lên đền thờ Jerusalem 
		dâng một phần số tiền nhỏ mọn ngài dành cho cuộc hành trình, để xin 
		Thiên Chúa gìn giữ hiền thê Maria của ngài khỏi mọi tai họa, giải thoát 
		Người khỏi mọi bất hạnh. Sau khi cầu nguyện, thánh Giuse ngả mình ngủ 
		một lát, định âm thầm ra đi lúc nửa đêm.<br>
		<br>
		Nhờ lời Thiên Chúa hứa, Đức Maria được an tâm. Thiên Chúa Toàn Năng cho 
		Đức Maria thấy mọi việc thánh Giuse chuẩn bị thi hành. Khi nghe lời 
		thánh Giuse khấn hứa vì sự an toàn hạnh phúc của Người, nhìn thấy gói 
		nhỏ và phần lương thực nghèo nàn ngài chuẩn bị cho cuộc hành trình, Đức 
		Trinh Nữ lòng tràn đầy thương xót yêu mến và lại cầu xin cho ngài, tạ ân 
		và chúc tụng Chúa vì ơn quan phòng hướng dẫn mọi hành động của nhân loại 
		vượt trên khả năng hiểu biết của loài người. Thiên Chúa cao cả sắp đặt 
		các biến cố như thế để cả Đức Maria và thánh Giuse được đưa tới đỉnh xa 
		nhất của nỗi thống khổ bề trong nhưng đầy công phúc.<br>
		(Trong tiến trình này, lý do sau cùng luôn luôn là chính thánh ý Chúa, 
		công chính, thánh thiện và trọn hảo. Tuy nhiên một vài lý do khác có thể 
		được dùng để giải thích:<br>
		<br>
		Lý do thứ nhất là thánh Giuse công chính khôn ngoan dè dặt cao độ, được 
		tràn đầy ân sủng thiên đàng, có quan niệm hết sức cao về Đức Maria. Đức 
		Maria, Đấng đầy ơn phúc, không cần phải làm cho thánh Giuse tin bằng 
		những chứng cớ hùng hồn, đoan chắc với ngài về địa vị của Người và các 
		mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể; vì nơi những trái tim ngay lành thì ơn soi 
		sáng từ thiên đàng dễ dàng chiếu soi.<br>
		Lý do thứ hai là sự bối rối của thánh Giuse khởi đầu bằng tri giác, khi 
		thấy hiền thê của mình mang thai. Đây chỉ là sự báo thù, vì các tri 
		giác, đã bị lừa dối hoặc bị làm cho nghi ngờ, có thể là bị làm cho u mê 
		hoặc bị ngăn chặn vì thiếu thị kiến siêu nhiên.<br>
		<br>
		Lý do thứ ba có thể là thánh Giuse, mặc dầu không mắc tội gì, chịu ảnh 
		hưởng sự đau khổ và các tri giác của ngài, có thể nói, đã bị làm chết 
		đi, bị làm cho bất khả đối với trực giác bén nhạy và việc tiếp xúc của 
		thiên thần. Vì thế thiệt là thích hợp, thiên thần thông báo sứ điệp này 
		cho ngài khi các tri giác đã bị trì trệ ngưng hoạt động. Vì thế khi 
		thánh nhân khôi phục được việc sử dụng đầy đủ các tri giác, tự mình tẩy 
		sạch và sắp đặt bằng nhiều hành động nhân đức để đón nhận hoạt động của 
		Ơn Chúa Thánh Thần, mà trước kia đã bị những bối rối làm cho hoàn toàn 
		gián đoạn.)<br>
		Thánh Giuse thức dậy ý thức hoàn toàn rõ rệt rằng hiền thê của ngài đích 
		thực là Mẹ Thiên Chúa (Mt 1:18-25). Hết sức vui mừng vì ơn hiểu biết cao 
		cả này và niềm hạnh phúc khôn tả, thánh Giuse xúc động đau buồn vì những 
		gì ngài đã làm. Với lòng khiêm tốn kính trọng và vui vẻ, thánh Giuse quì 
		sấp mình xuống đất nồng nàn tạ ân Chúa. Ngài tạ ơn Chúa đã cho biết mầu 
		nhiệm này và đã chọn ngài làm phu quân của Đức Maria, Đấng mà Thiên Chúa 
		đã chọn làm Mẹ, mặc dù ngài không đáng là nô lệ của Người. Khi tuyên 
		xưng, nhìn nhận và thi hành các việc nhân đức này, tinh thần thánh Giuse 
		được bình yên, sẵn sàng đón nhận những hồng ân mới của Chúa Thánh Thần. 
		Những hoài nghi lo âu trong vài tháng vừa qua đã xây dựng trong ngài nền 
		móng kiên cố về Đức Khiêm Tốn cần thiết để “người được ký thác những mầu 
		nhiệm cao cả vô cùng của Thiên Chúa”.<br>
		Hồi tưởng những sự việc trải qua là bài học ngài nhớ suốt đời. Thánh 
		Giuse kết tội chỉ một mình ngài về tất cả mọi việc đã xảy ra và thốt 
		lên: “Ôi hiền thê trên trời của tôi, Chim Bồ Câu hiền lành nhất của tôi, 
		được Đấng Tối Cao chọn làm nơi Ngài ngự và là Mẹ Ngài, làm sao tên nô lệ 
		bất xứng này dám hoài nghi lòng chung thủy của Người? Làm sao tấm thân 
		tro bụi này dám để cho Người hầu hạ? Người là Nữ Vương trời đất, là Bà 
		Chúa vũ trụ. Làm sao tôi còn chưa hôn đất nơi gót ngọc Người chạm vào? 
		Tại sao tôi lại chưa lo lắng quì mà hầu hạ Người? Làm sao tôi dám ngước 
		mắt lên trước sự hiện diện của Người và dám là bạn đồng hành với Người, 
		hoặc mở miệng nói với Người? Lạy Chúa và Thiên Chúa của con, xin ban cho 
		con hồng ân và sức mạnh để xin Người tha thứ; xin Người rủ lòng thương 
		xót, không khinh miệt tên đầy tớ đau buồn vì lỗi của nó.&quot;<br>
		Thánh Giuse lúc này rời khỏi căn phòng nhỏ của ngài, quá sức sung sướng 
		thấy mình thay đổi tình cảm từ lúc ngả lưng ngủ. Đức Maria luôn luôn 
		giam mình trong phòng, thánh Giuse không muốn khuấy động sự chiêm niệm 
		ngọt ngào của Người. Trong khi chờ đợi, “người của Thiên Chúa” mở cái 
		gói nhỏ đã chuẩn bị, vừa mở vừa nhỏ lệ mà cảm giác hoàn toàn khác với 
		lúc sửa soạn. Mắt đẫm hoan lệ, ngài tỏ lòng tôn kính đối với hiền thê 
		thiên đàng yêu dấu bằng cách sắp xếp các căn phòng gọn gàng, lau chùi 
		nền nhà đã được gót ngọc Đức Maria chạm tới. Thánh Giuse cũng làm nhiều 
		việc lặt vặt khác trước kia vốn thường để cho Đức Maria làm. Thánh Giuse 
		quyết định thay đổi hoàn toàn mối liên hệ đối với Đức Trinh Nữ, tự giành 
		cho mình vị thế người nô bộc và dành cho Người địa vị Bà Chủ. Đức Maria 
		thấy hết mọi điều xảy đến cho thánh Giuse, không một tư tưởng hoặc một 
		cử chỉ nào của ngài thoát khỏi sự chú ý của Người. Khi tới giờ, thánh 
		Giuse tới phòng Đức Maria, Người đang âu yếm chờ ngài.<br>
		Thánh Giuse, lúc này biết rõ mọi chuyện, đã chờ đợi cho tới khi hiền thê 
		của ngài chiêm niệm xong. Tới giờ mà ngài biết, ngài mở cửa căn phòng 
		khiêm tốn nơi Mẹ của Đức Vua thiên quốc ở. Vừa mới bước chân vào, thánh 
		Giuse lập tức quì sụp xuống, nói bằng giọng kính cẩn sùng bái: “Thưa bà 
		chủ và hiền thê của tôi, Hiền Mẫu đích thực của Ngôi Lời Hằng Sống, tôi 
		đây là nô lệ quì phục nơi chân của lòng nhân từ độ lượng của Người, vì 
		Chúa và Thiên Chúa, Đấng (mà) Người cưu mang trong dạ trinh khiết, xin 
		Người tha thứ cho sự táo bạo liều lĩnh của tôi. Tôi biết chắc không một 
		ý nghĩ nào của tôi giấu được sự khôn ngoan minh mẫn trên trời của Người. 
		Tôi ý thức đã lầm lỗi hết sức lớn lao do lòng kiêu căng quyết định rời 
		bỏ Người, sự vô lễ của tôi trong việc cư xử với Người cho tới lúc này 
		như là kẻ bề dưới, thay vì tôi phải phục vụ Người là Mẹ Chúa và Thiên 
		Chúa của tôi. Nhưng Người cũng hiểu tôi đã phạm những lỗi đó vì không 
		biết, vì tôi không được biết các mầu nhiệm của Vua thiên đàng và địa vị 
		cao cả của Người, mặc dầu tôi tôn kính nơi Người những hồng ân khác của 
		Đấng Tối Cao. Thưa bà chủ, xin đừng khiển trách sự ngu đần của một thụ 
		tạo thấp hèn như tôi, kẻ mà lúc này được chỉ dạy tường tận hơn. Tôi xin 
		dâng hiến trái tim và toàn thể sinh mạng tôi để phục vụ giúp đỡ Người. 
		Tôi sẽ không đứng dậy, trước khi chắc chắn được Người xót thương. Tôi 
		cũng sẽ không đứng lên cho tới khi đã được Người tha thứ, được hảo ý của 
		Người và được Người chúc lành.”<br>
		Nghe những lời khiêm nhượng của thánh Giuse, Đức Maria đã trải qua nhiều 
		cảm nghĩ khác nhau. Với niềm vui yêu mến trong Chúa, Người thấy thánh 
		Giuse được ký thác các mầu nhiệm Thiên Chúa cách khôn ngoan như thế nào, 
		vì ngài nhìn nhận và tôn kính các mầu nhiệm với đức tin vững chắc và 
		lòng khiêm tốn sâu thẳm. Đức Trinh Nữ hơi lúng túng vì thánh Giuse quyết 
		định từ nay trở đi đối xử với Người cách kính trọng và tự hạ ám chỉ 
		trong lời ngài. Đức Maria khiêm tốn e rằng do việc đổi mới này Người mất 
		cơ hội vâng phục và hầu hạ đức phu quân. Như một người bất chợt thấy 
		mình lâm nguy bị cướp mất đồ tế nhuyễn hoặc kho tàng quí giá, Đức Maria 
		buồn rầu vì tư tưởng là thánh Giuse không còn coi Người là bề dưới phải 
		vâng phục ngài trong mọi sự, vì lúc này ngài nhận ra nơi Người địa vị Mẹ 
		Thiên Chúa.<br>
		Đức Trinh Nữ nâng phu quân thánh thiện đứng dậy và, mặc dầu thánh Giuse 
		cố cản, Người quì phục xuống chân ngài, nói: “Thưa chủ nhân và phu quân 
		của thiếp, chính thiếp phải xin phu quân tha thứ vì những đau buồn đắng 
		cay thiếp đã gây ra; vì thế thiếp quì đây xin phu quân tha thứ, cũng xin 
		phu quân quên đi những lo lắng, vì Thiên Chúa Tối Cao đã vui lòng đoái 
		nhìn đến những ước vọng và đau buồn của thiếp.”<br>
		Đức Maria an ủi phu quân là việc chính đáng. Vì thế, không phải để bào 
		chữa cho mình, Đức Trinh Nữ nói thêm: “Thiếp hằng ước ao, nhưng không 
		thể tự mình cho phu quân biết một điều nào về bí tích nhiệm mầu ẩn náu 
		trong mình thiếp do quyền phép Đấng Toàn Năng. Là nữ tì Thiên Chúa, 
		thiếp có bổn phận phải chờ sự tỏ hiện thánh ý toàn hảo của Chúa. Không 
		phải thiếp không kính trọng phu quân là chủ nhân của thiếp, mà thiếp đã 
		nín thinh. Thiếp đã và sẽ luôn luôn là nữ tì trung tín, tha thiết đáp 
		ứng những ước vọng thánh thiện và lòng yêu mến của phu quân. Từ đáy trái 
		tim thiếp và nhân danh Chúa, Đấng thiếp cưu mang trong dạ, xin phu quân 
		đừng thay đổi cách xưng hô nói chuyện, tiếp xúc. Thiên Chúa không làm 
		cho thiếp trở thành Mẹ Ngài để được phục vụ và ra lệnh ở đời này, nhưng 
		để là tôi tớ tất cả, là nô lệ tuân phục ý phu quân trong mọi sự. Thưa 
		chủ nhân của thiếp, đây là bổn phận thiếp, nếu không như vậy, hẳn thiếp 
		sẽ sống cuộc sống không vui vẻ mà tràn đầy đau buồn. Điều chính đáng là 
		nếu phu quân cho thiếp cơ hội chu toàn bổn phận đó, vì Đấng Tối Cao đã 
		sắp đặt như thế. Chúa đã ban cho thiếp sự bảo vệ giúp đỡ tận tình và 
		sống an toàn dưới bóng sự ân cần lo lắng của phu quân, nhờ phu quân trợ 
		giúp dưỡng nuôi Con của lòng thiếp, Đấng là Thiên Chúa và Chúa của chúng 
		ta.” Thánh Giuse nâng Đức Trinh Nữ lên để bàn với Người về mọi điều cần 
		thiết đối với mầu nhiệm này.<br>
		Được ơn soi sáng đặc biệt và muôn vàn ơn thánh, được hoàn toàn đổi mới 
		trong tinh thần yêu mến sốt sắng, thánh Giuse nói: “Thưa Quí Nương, 
		Người được chúc phúc hơn mọi phụ nữ, hạnh phúc và được sủng ái trước 
		muôn dân và muôn thế hệ. Xin cho Đấng tạo thành trời đất được ca tụng 
		đời đời. Từ ngai tòa cao sang, Chúa đã đoái nhìn đến Người và chọn làm 
		nơi Chúa ngự, chỉ nơi một mình Người mà thôi các lời hứa xưa với các 
		thánh Tổ Phụ và Tiên Tri đã được hoàn tất. Xin muôn thế hệ chúc tụng 
		Thiên Chúa. Chúa không tỏ lộ danh Chúa nơi một ai khác như Ngài đã thực 
		hiện nơi lòng khiêm tốn của Người. Phần tôi, kẻ hèn hạ nhất trong các 
		sinh linh, trong tình thương chiếu cố, Chúa đã chọn tôi làm nô bộc của 
		Người.” Trong những lời chúc tụng và cầu xin này, thánh Giuse được Chúa 
		Thánh Thần soi sáng cùng cách như thánh Elisabeth, khi bà đáp lời Đức 
		Maria chào. Ơn soi sáng và cảm hứng mà thánh phu quân nhận được đã hết 
		sức thích hợp với địa vị và chức vụ của ngài. Nghe lời thánh Giuse, Đức 
		Maria đã đáp lại bằng những lời trong kinh Magnificat, như trong cuộc 
		viếng thăm thánh Elisabeth, và thêm nhiều ca khúc khác nữa. Đức Maria 
		được bốc cháy trong ơn ngất trí, được cất lên khỏi mặt đất trong bầu ánh 
		sáng bao phủ làm cho Người biến hình trong vinh quang.<br>
		Với thị kiến thiên đàng này, thánh Giuse ngỡ ngàng hoan hỉ khôn tả. Chưa 
		bao giờ ngài thấy hiền thê tột đỉnh phước đức của ngài trong sự cao sang 
		vinh quang lạ lùng tuyệt vời như thế. Lúc này thánh Giuse nhìn Đức Maria 
		với sự hiểu biết đầy đủ rõ ràng vì toàn thể sự toàn vẹn trinh khiết của 
		Đức Maria và mầu nhiệm về địa vị của Người đã tỏ hiện cho ngài tường 
		tận. Thánh Giuse thấy và nhận ra nơi lòng dạ trinh khiết Đức Maria nhân 
		tính của Thiên Nhi và sự kết hợp hai bản tính của Ngôi Lời. Với lòng 
		khiêm tốn tôn kính thẳm sâu, thánh Giuse thờ lạy Ngôi Lời, nhận Ngài là 
		Chúa Cứu Chuộc, tự hiến thân mình cho Thiên Chúa Cao Sang. Chúa đoái 
		nhìn thánh Giuse cách nhân từ âu yếm đặc biệt khác với mọi người, vì 
		Chúa chấp nhận ngài là Dưỡng Phụ và ban cho ngài tước hiệu đó.<br>
		Thánh Giuse đã không thẹn mà hết sức vui mừng vì niềm vui bất ngờ của 
		việc tiết lộ mầu nhiệm đích thực liên quan đến hiền thê Maria. Trong 
		trường hợp thứ nhất, thánh Giuse chứng tỏ sự thánh thiện của mình. Trong 
		trường hợp thứ hai, ngài cho thấy mình xứng đáng với những đặc ân đó. 
		Nếu Thiên Chúa không mở rộng trái tim thánh Giuse, hẳn ngài đã không thể 
		nào tiếp nhận hoặc có thể sống để hưởng niềm vui trong tâm hồn. Trong 
		mọi sự, thánh Giuse đã được canh tân và nâng lên cao, để có thể cư xử 
		cách xứng đáng với Đức Maria, Đấng là Mẹ Thiên Chúa và là hiền thê của 
		ngài; bảo vệ mầu nhiệm Nhập Thể và săn sóc Ngôi Lời làm người. Để thánh 
		Giuse có thể xứng đáng hơn và nhìn nhận nhiều hơn nữa nhiệm vụ giúp đỡ 
		Đức Maria, ngài được biết mọi đặc ân và thánh sủng ngài được ban cho đều 
		nhờ hiền thê của ngài: những ơn trước ngày thành hôn, được tuyển chọn 
		làm phu quân Đức Trinh Mẫu, và những ơn về sau.<br>
		Thánh Giuse ý thức Đức Maria cao cả đã hành động khôn ngoan cẩn thận thế 
		nào đối với ngài, không phải chỉ trong việc phục dịch với lòng vâng phục 
		hiền hoà khiêm nhượng sâu thẳm, mà cả trong việc an ủi khi đau khổ, xin 
		cho ngài được ân sủng trợ giúp của Chúa Thánh Thần, trấn an và làm nhẹ 
		bớt nỗi buồn phiền, chuẩn bị ngài lãnh nhận ảnh hưởng Thần Linh Thiên 
		Chúa. Đức Maria đã là công cụ cho việc thánh hóa thánh Gioan Tẩy Giả và 
		mẹ ngài, Người cũng là máng chuyên ân sủng dồi dào gấp bội cho thánh 
		Giuse. Thánh Giuse, tốt phước và trung thành nhất, hiểu và tận lực tận 
		sức tạ ân vì mọi điều này.<br>
		LỜI MẸ MARIA<br>
		Con của Mẹ, mục đích việc Mẹ tiết lộ cho con quá nhiều bí tích và mầu 
		nhiệm, con đã viết về cả hai thứ đó và nhiều thứ khác nhưng không có khả 
		năng làm sáng tỏ, là để con dùng Cuộc Đời Mẹ như tấm gương sáng cho 
		nguyên tắc bất khả vi phạm cho các hành động của con. Tất cả những điều 
		đó cần được ghi khắc trong trái tim con, Mẹ gợi lại trong trí khôn con 
		các giáo huấn về cuộc sống đời đời, như thế Mẹ làm đúng bổn phận là Thầy 
		của con. Con phải sẵn sàng tuân theo, chu toàn mọi lệnh truyền như một 
		người học trò thiện chí và chuyên cần. Hãy lấy sự lo âu và cẩn thận của 
		thánh phu quân Giuse của Mẹ, việc ngài phục tùng các lời chỉ dạy thánh 
		thiêng, kính trọng ơn thiên đàng soi sáng, làm gương cho con. Chỉ vì 
		trái tim thánh Giuse đã được sắp đặt và chuẩn bị kỹ càng để thực thi 
		thánh ý Chúa, ngài đã được thay đổi và tái tạo hoàn toàn nhờ muôn vàn ân 
		sủng dành cho nhiệm vụ được Đấng Tối Cao ủy thác. Vì thế, hãy để cho ý 
		thức các lỗi lầm của con phục vụ con như nguyên cớ để qui phục với tất 
		cả lòng khiêm nhượng đối với mọi việc Thiên Chúa làm, chứ không phải là 
		cớ để rút lui không thi hành các điều Chúa muốn.<br>
		Mẹ muốn nhân dịp này cho con biết lời quở trách nghiêm khắc và sự phẫn 
		nộ của Đấng Tối Cao đối với loài người, để, nhờ ơn Chúa, con có thể so 
		sánh cách cư xử của nhân loại với lòng khiêm tốn hiền lành Mẹ đã dành 
		cho thánh Giuse. Lý do lời quở trách này, Chúa và Mẹ phải đưa ra đối với 
		loài nguời, là vì nhân loại tàn ác vô nhân đạo trong việc ngoan cố đối 
		xử với nhau quá thiếu sót lòng khiêm nhượng và yêu thương. Trong trường 
		hợp này người ta phạm ba tội, những tội này làm buồn lòng Thiên Chúa rất 
		nhiều, làm cho Thiên Chúa Toàn Năng và Mẹ giữ lại rất nhiều lòng thương 
		xót.<br>
		Tội thứ nhất là người ta biết mình cùng là con một Cha trên trời (Is. 
		64:8) mà cư xử với nhau như thù địch. Mọi người đều là công trình của 
		Cha trên trời tạo dựng từ cùng một bản chất; được nuôi dưỡng và giữ cho 
		sống cách bao dung do sự quan phòng của Chúa; được nuôi ăn cùng một bàn 
		các Mầu Nhiệm Thánh, nhất là bằng chính Mình Máu Chúa. Thế mà người ta 
		quên và khinh miệt mọi ơn ích này; tập trung mọi chú ý vào những việc 
		trần thế tầm thường; tự khích động vô cớ, điên cuồng giận dữ; tạo ra bất 
		hòa cãi cọ; nuôi lòng phỉ báng và ngôn từ hằn học, đôi khi lên tới độ 
		trả thù vô nhân đạo ác độc nhất hoặc thù hằn không đội trời chung.<br>
		Thứ hai là, khi vì yếu đuối và thiếu hãm mình, bị ma quỉ cám dỗ, người 
		ta thường sa ngã xích mích bất hòa, người ta không lập tức từ bỏ lỗi 
		lầm, cũng không cố gắng làm hoà lại, như phải thi hành giữa anh em với 
		nhau trước mặt vị quan toà công chính. Vì thế người ta chối bỏ Thiên 
		Chúa là Cha nhân từ, bắt buộc Thiên Chúa trở thành quan toà nghiêm khắc 
		đối với tội lỗi họ; không có tội nào thúc đẩy Chúa mau chóng thi hành 
		phép công thẳng bằng tội thù hằn và khinh ghét.<br>
		Tội thứ ba là khi một người anh em đến làm hoà, thì người kể như bị xúc 
		phạm không thèm chấp nhận người đến làm hòa, nhưng đòi hỏi sự đền bù lớn 
		lao hơn số lượng, mà người đó biết rằng có thể được Thiên Chúa chấp nhận 
		khi chính người đó dâng để đền bù phép công thẳng của Chúa. Tất cả mọi 
		người đều ước ao Thiên Chúa, Đấng bị xúc phạm nặng nề vô cùng, nhận và 
		tha thứ bất cứ khi nào họ đến với Chúa bằng lòng khiêm tốn thống hối. 
		Trái lại, người ta chỉ là bụi tro, đòi trả thù anh em, không bằng lòng 
		với phần đền bù mà Đấng Tối Cao sẵn sàng chấp nhận đối với tội lỗi của 
		họ.<br>
		Trong tất cả mọi tội lỗi mà con cái Giáo Hội phạm, trước thánh nhan 
		Thiên Chúa không có tội nào kinh khủng bằng tội nuôi hận thù. Con sẽ 
		hiểu điều này nhờ ánh sáng thánh sủng và trong uy lực Lề Luật Chúa 
		truyền dạy người ta phải tha thứ cho anh em mình, cho dù chúng đã xúc 
		phạm tới bảy mươi lần bảy lần. Nếu người anh em phạm lỗi nhiều lần trong 
		một ngày, ngay khi người phạm lỗi nói ân hận về điều đó, Thiên Chúa dạy 
		chúng ta tha thứ bấy nhiêu lần mà không kể, không đếm số lần. Những 
		người nào không sẵn sàng tha thứ, Thiên Chúa đe dọa hình phạt nặng nề 
		nhất vì điều ô nhục chúng gây ra. Điều này có thể được gom lại từ những 
		lời đe dọa chính Thiên Chúa phán: Khốn thay cho kẻ nào là nguyên cớ cho 
		tội lỗi sinh ra và nó gây ra tội lỗi. Thà rằng nó rơi xuống đáy biển với 
		cối đá buộc vào cổ còn hơn. Điều này được Chúa nói ra để cho thấy sự 
		nguy hiểm của tội thù hằn, khinh ghét, và sự khó lòng được tha thứ khỏi 
		tội đó, đến mức được so sánh với một người rơi xuống biển với cối đá cột 
		vào cổ. Lời này cũng cho thấy hình phạt tội này là nơi tối tăm đau khổ 
		đời đời (Mt 8:9). Vì thế, giới răn của Con Cực Thánh Mẹ là lời khuyên 
		tốt lành cho các tín hữu, thà rằng họ để mắt bị móc đi, tay bị chặt đi, 
		còn hơn để cho mình mắc phải trọng tội làm hư các trẻ nhỏ.</span></p>
		<p style="margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 12pt; margin-bottom: 0" align="center">
		<span style="font-family: Arial,sans-serif; color: #333333"><br>
		<b><a name="CHƯƠNG_2">CHƯƠNG 2</a></b></span></p>
		<p style="margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 12pt; margin-bottom: 0">
		<span style="font-family: Arial,sans-serif; color: #333333"><b>CÁCH CƯ 
		XỬ HÀNG NGÀY CỦA ĐỨC MARIA VÀ THÁNH PHU QUÂN GIUSE</b><br>
		<br>
		Thánh Giuse, sau khi biết mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể, đã có cảm nghĩ 
		hết sức cao về Đức Maria. Thánh Giuse, vốn luôn thánh thiện toàn vẹn, 
		nay được đổi thành con người mới. Ngài quyết định đối xử với Đức Maria 
		theo nguyên tắc mới với lòng tôn kính lớn lao hơn. Theo thánh Giuse, 
		việc này phù hợp với sự khôn ngoan cần phải có đối với hiền thê tuyệt 
		vời của ngài. Do ơn Chúa, thánh Giuse nhận thức rõ ràng ngài chỉ là nô 
		bộc và Đức Maria là Nữ Vương trời đất. Để thỏa lòng ao ước tôn kính Đức 
		Maria theo địa vị Mẹ Thiên Chúa, mỗi khi thánh Giuse đi qua trước mặt 
		hoặc nói chuyện với Người, ngài hết sức kính cẩn. Ngài không để Đức 
		Maria phục vụ hầu hạ, hoặc phải làm bất cứ công việc khiêm nhượng nào 
		như quét dọn nhà cửa, rửa chén bát. Vị phu quân tột đỉnh hạnh phúc ước 
		muốn chính mình làm những việc này, để không làm giảm địa vị cao cả của 
		Đức Maria.<br>
		Mẹ Maria xin thánh Giuse đừng quì trước mặt Người, vì mặc dù việc phụng 
		thờ này phải dành cho Chúa, nhưng bao lâu Chúa còn ẩn dật đối mọi người, 
		bề ngoài không thể phân biệt rõ ràng giữa Ngôi Vị của Chúa và ngôi vị 
		Mẹ. Thánh Giuse thuận ý đáp ứng nguyện vọng của Đức Maria. Dẫu vậy một 
		đôi lần, khi Đức Maria không nhìn, thánh Giuse tiếp tục thi hành việc 
		thờ lạy này đối với Chúa nơi cung lòng Đức Maria, và cũng cả đối với 
		Đấng là Mẹ Thiên Chúa, định rằng theo cách đó tôn kính cả hai thích nghi 
		với sự tuyệt vời của mỗi Vị. Thánh Giuse cho rằng không chính đáng nếu 
		để Đức Nữ Vương cao cả phải làm các việc trong nhà, nên ngài tìm cách 
		làm xong trước mọi việc đó. Đức Maria cũng nhiệt thành muốn làm các việc 
		nội trợ trước thánh Giuse. Thánh Giuse làm hết các việc này trong khi 
		Đức Maria chiêm niệm cầu nguyện, không để cho Người thực hiện ước nguyện 
		phục vụ ngài và chu toàn việc nội trợ, mà Người coi là thuộc bổn phận nữ 
		nhi của mình. Đức Maria buồn vì việc này. Người hướng vào Chúa với những 
		lời kêu than khiêm nhượng, xin Chúa truyền cho thánh Giuse không được 
		cản trở Người thực hành đức khiêm nhượng. Đức khiêm tốn rất mạnh thế, có 
		hiệu lực kỳ diệu trước ngai tòa Chúa, không lời cầu nguyện nào bị coi là 
		nhỏ mọn nếu được dâng lên với lòng khiêm tốn. Chúa truyền cho thiên thần 
		bản mệnh thánh Giuse nói cho ngài biết: “Đừng làm trở ngại các ước 
		nguyện khiêm tốn của Đức Maria, Đấng siêu việt trên hết mọi thụ tạo trên 
		trời dưới đất. Bề ngoài hãy để cho Người phục vụ Giuse và bề trong đối 
		xử với Người theo lòng kính trọng cao cả nhất, thờ lạy Ngôi Lời Nhập Thể 
		mọi nơi mọi lúc. Đây là thánh ý Chúa, cũng là mỹ ý của Đức Hiền Mẫu: 
		phục vụ người khác chứ không phải được người khác phục vụ, để dạy cho 
		trần gian bài học về cuộc đời và sự tuyệt vời của lòng khiêm tốn. Giuse 
		có thể giúp đỡ Người trong một số công việc, nhưng luôn tôn kính Chúa 
		muôn loài nơi lòng dạ Người.”<br>
		Được lệnh truyền của Đấng Tối Cao chỉ dạy, thánh Giuse nhường cho Công 
		Chúa thiên đàng thực hành đức khiêm nhượng. Như thế cả hai vị có thể 
		dâng lên Thiên Chúa ý nguyện của mình. Do việc thực hành đức khiêm 
		nhượng thẳm sâu và vâng lời đức phu quân, Đức Maria chu toàn không sót 
		một điểm nhỏ nhặt nhất của sự trọn lành. Vâng lời Đấng Toàn Năng, nhưng 
		thánh Giuse đôi khi bối rối khi ngài thấy mình được hầu hạ phục vụ bởi 
		Đấng mà ngài đã nhìn nhận là Bà Chúa của ngài và cả vũ trụ, là Mẹ Thiên 
		Chúa, Đấng tạo dựng ngài.<br>
		Trong những chương tiếp, tác giả sẽ tận dụng khả năng hạn hẹp của mình 
		kể lại một vài ngôn từ và đối thoại thiên đàng giữa Đức Maria và thánh 
		Giuse. Ai có thể kể được những hiệu lực thành hình trong trái tim dịu 
		hiền nhiệt thành của thánh Giuse khi ý thức rằng ngài được chọn làm phu 
		quân của Đức Maria, Đấng là Mẹ đích thực Đấng tạo dựng ngài, được Người 
		phục vụ như nữ tì khiêm tốn nhất; đồng thời ngài thấy Đức Maria được 
		nâng lên trong sự thánh thiện, địa vị cao cả vượt trên các thiên thần 
		sốt mến Seraphim thượng đẳng, chỉ dưới một mình Thiên Chúa? Nếu Thiên 
		Chúa đã ban dư đầy ân sủng cho nhà Obededom vì Hòm Bia hình bóng thời 
		Cựu Ước đã ở trong nhà đó một vài tháng (1 Par. 13:4), lẽ nào Chúa lại 
		không ban thánh sủng cao quí dồi dào tột độ cho thánh Giuse, người mà 
		Chúa đã ký thác Hòm Bia đích thực và chính Đấng Ban Luật Lệ ngự trong 
		lòng dạ Người? Sự tốt phước và hạnh phúc của thánh Giuse khôn sánh! 
		Không phải ngài chỉ có trong nhà mình Hòm Bia Sống đích thực của Tân 
		Ước, mà Bàn Thờ, Của Lễ, và Đền Thờ, tất cả đều trao cho ngài trách 
		nhiệm. Cũng vì ngài, người nô bộc trung thành, đã săn sóc những tột đỉnh 
		quí báu này cách tận tụy đáng công (Mt 24:45), thánh Giuse được chính 
		Thiên Chúa đặt trong nhà Ngài để cung cấp mọi sự cần thiết đúng lúc như 
		một người quản lý trung thành nhất (Os. 14:20). Muôn thế hệ và muôn dân 
		cần nhận biết và chúc tụng ngài, ca tụng công nghiệp của ngài, vì Đấng 
		Tối Cao đã không ưu ái một người nào khác như thế.<br>
		Ngôi nhà khiêm tốn nhưng hồng phúc của Thánh Gia có ba phòng, các phòng 
		này choán gần hết diện tích ngôi nhà, nơi cư ngụ riêng cho hai đấng phu 
		thê. Các ngài không có nô bộc cũng không có nữ tì. Một phòng ngủ của 
		thánh Giuse, một phòng chứa đồ đạc và dụng cụ thợ mộc. Đức Maria sử dụng 
		phòng thứ ba, phòng này cũng là phòng ngủ của Người. Trong phòng của Đức 
		Maria, có chiếc giường (trường kỷ) được chính thánh Giuse đóng. Đức 
		Maria và thánh Giuse giữ cách xếp đặt này từ ngày đến nhà này. Trước kia 
		thánh Giuse ít khi tới gặp Đức Maria; vì trong khi Người cầu nguyện 
		chiêm niệm, ngài bận làm việc, trừ phi việc gì đó hết sức cần phải hỏi ý 
		Người. Từ khi biết địa vị cao cả của Đức Maria và hạnh phúc cao cả của 
		mình, thánh Giuse lo lắng nhiều hơn về phúc lợi của Đức Hiền Mẫu. Để 
		canh tân niềm vui trong trái tim ngài, thánh Giuse thường tới nơi tĩnh 
		tâm của Đức Nữ Vương thiên đàng, thăm hỏi và nhận những điều Người chỉ 
		bảo. Ngài đến gặp Đức Maria luôn luôn với lòng khiêm tốn tôn kính e dè, 
		trước khi nói với Đức Maria, ngài cẩn thận coi xem Người đang làm gì. 
		Nhiều lần thánh Giuse thấy Đức Maria ngất trí được nâng lên khỏi đất, 
		huy hoàng trong ánh sáng rực rỡ, hoặc đang nói chuyện với các thiên 
		thần, những lần khác thánh Giuse thấy Đức Maria phủ phục trên đất theo 
		hình thánh giá nói chuyện với Thiên Chúa. Đức phu quân tối ư hạnh phúc 
		được chia sẻ các đặc ân này. Bất cứ khi nào ngài thấy Đức Trinh Mẫu 
		trong những trường hợp này, ngài không làm gì hơn là nhìn ngắm Người với 
		lòng tôn kính sâu thẳm. Nhờ đó đôi khi ngài được nghe một vài khúc nhạc 
		thiên quốc du dương tuyệt vời, và hưởng hương thơm ngát kỳ diệu.<br>
		Chỉ có Đức Maria và thánh Giuse sinh sống trong nhà này. Công Chúa thiên 
		đàng rất ít khi ra khỏi nhà, trừ trường hợp khẩn thiết để phụng thờ 
		Thiên Chúa hoặc phục vụ giúp đỡ người khác. Bất cứ khi nào có điều gì 
		cần thiết, Người hỏi một bà lối xóm tốt phước, bà này đã từng phục vụ 
		thánh Giuse khi Đức Maria ở lại nhà thánh Zacharia. Người phụ nữ này 
		được Đức Maria đền đáp rất trọng hậu: không phải chỉ một mình bà trở nên 
		thánh thiện trọn lành, mà toàn thể mọi người trong nhà bà đều được chúc 
		phúc nhờ sự giúp đỡ của Đức Maria. Bà này được Đức Maria viếng thăm 
		trong một số lần bà bị bệnh và cả gia đình bà được làm cho phong phú ân 
		sủng thiên đàng.<br>
		LỜI MẸ MARIA<br>
		<br>
		Con của Mẹ, trong trường dạy đức khiêm nhượng, mà cả cuộc đời Mẹ là bài 
		học cho con, Mẹ muốn con cẩn trọng chuyên cần. Đức khiêm tốn phải là 
		điều chính yếu con lo lắng trước nhất. Nếu con muốn vui hưởng sự âu yếm 
		ngọt ngào của Chúa, con phải cương quyết giành cho được lòng Chúa ưu ái, 
		chiếm hữu kho tàng ánh sáng vốn bị giấu kín đối với những kẻ kiêu căng 
		(Mt 11:25). Vì nếu không có nền tảng vững chắc của đức khiêm tốn, các 
		kho tàng đó không được ký thác cho bất cứ ai. Tất cả hoài bão của con 
		phải là tự hạ trong việc tự đánh giá con và tư tưởng của con, để trong 
		các hành động bên ngoài con có thể thực sự phô bày đức khiêm tốn bề 
		trong. Đây phải là đối tượng cho sự xấu hổ, là sức mạnh thúc đẩy để con 
		và tất cả các linh hồn có Chúa là Cha và là Phu Quân thấy rằng tính tự 
		phụ kiêu căng của sự khôn ngoan trần thế, nơi kẻ sùng mộ nó, mạnh sức 
		hơn lòng khiêm tốn và biết mình đích thực nơi con cái sự sáng. Con hãy 
		nhìn xem lòng khao khát ngưỡng vọng, việc học hỏi và lo lắng không mệt 
		mỏi của những người cao vọng. Họ phấn đấu để được thế gian kính trọng, 
		tranh đấu không bao giờ nghỉ, mặc dầu hết sức phù vân vô giá trị. Họ cư 
		xử bề ngoài theo những ý niệm giả trá. Họ khoác lấy cho mình thứ mà 
		không phải là họ, cố gắng qua mưu mô lừa dối này để giành được của cải, 
		mà họ không xứng đáng mặc dầu những thứ đó chỉ thuộc về trần thế. Vì 
		vậy, nguyên do sự bối rối xấu hổ đối với người lành là con cái ma quỉ 
		đáp ứng các thúc giục của sự lừa dối mãnh liệt hơn những người được 
		tuyển chọn đáp ứng các thúc đẩy của chân lý. Số người còn ở trần gian lo 
		lắng tận lực phụng sự Thiên Chúa và Đấng Tạo Hóa thì quá ít so với con 
		số những người phụng sự phù vân giả trá, vì kẻ được gọi thì nhiều mà 
		người được chọn thì ít (Mt 20: 16).<br>
&nbsp;</span></p>
		<p style="margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 12pt; margin-bottom: 0" align="center">
		<span style="font-family: Arial,sans-serif; color: #333333; font-weight: 700">
		<a name="CHƯƠNG_3">CHƯƠNG 3</a></span></p>
		<p style="margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 12pt; margin-bottom: 0">
		<span style="font-family: Arial,sans-serif; color: #333333; font-weight: 700">
		HÀNH TRÌNH ĐI BETHLEHEM </span></p>
		<p style="margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 12pt; margin-bottom: 0">
		<span style="font-family: Arial,sans-serif; color: #333333">Thánh ý Đấng 
		Quan Phòng ấn định Con Một Thiên Chúa Cha sinh ra tại Bethlehem (Mica 
		5:1), đã được các Thánh Tổ và Tiên Tri loan báo từ rất nhiều thế hệ 
		trước (Jer. 10:9). Những quyết định do thánh ý tuyệt đối của Thiên Chúa 
		bất khả ngộ, không thứ gì có thể chống lại (Est 13:9), trời đất không 
		qua đi trước khi các điều đó được hoàn tất (Mt 24:35). Việc hoàn tất 
		quyết định bất di dịch này được bảo đảm bằng chiếu chỉ hoàng đế Caesar 
		Augustus ra lệnh kiểm tra dân số toàn đế quốc Lamã (Lc 2:1). Đế quốc 
		Lamã gồm phần lớn các miền đất đã được biết đến trên thế giới thời đó, 
		vì thế họ tự xưng là bá chủ cả thế giới. Mục đích việc kiểm tra dân số 
		này là để mọi cư dân nhìn nhận và nộp thuế cho hoàng đế. Mọi người phải 
		trở về nguyên quán ghi danh kiểm tra. Thánh Giuse nghe biết chiếu chỉ 
		này khi ngài đi lo công việc. Lòng rụng rời lo âu, thánh Giuse trở về 
		nói cho Đức Maria biết. Đức Trinh Nữ nói: “Xin chủ nhân và phu quân đừng 
		lo lắng gì về lệnh vua trần thế, mọi việc xảy đến cho chúng ta đều do 
		Chúa là Vua trời đất an bài; Đấng Quan Phòng sẽ phụ giúp, chỉ dẫn chúng 
		ta trong mọi việc (Gv 22:28). Cứ phó thác cho Chúa, chúng ta sẽ không bị 
		thất vọng.”<br>
		Được ký thác mọi mầu nhiệm của Con cực thánh, Đức Maria biết nội dung và 
		việc hoàn thành các lời tiên tri: Con Một Thiên Chúa Cha và của Đức 
		Trinh Nữ phải được sinh ra tại Bethlehem, như “người xa lạ,” như “kẻ vô 
		danh.” Nhưng Đức Maria không nói gì về huyền nhiệm này cho thánh Giuse 
		biết vì không được Thiên Chúa ủy thác. Đức Maria đã giữ kín tất cả mọi 
		điều không được lệnh tiết lộ, mặc dầu Người ước ao an ủi phu quân Giuse. 
		Đức Maria hoàn toàn phó thác cho thánh Giuse điều khiển sắp xếp mà không 
		hành động như những người tự cho mình là giỏi giang, như lời Đấng Khôn 
		Ngoan cảnh giác chúng ta (Cn 3:7). Đức Trinh Mẫu và thánh Giuse bàn thảo 
		về cuộc hành trình. Việc thai nghén của Đức Maria đã trọng tháng và ngày 
		sinh hạ đã gần kề. Thánh Giuse nói: “Thưa Nữ Vương trời đất và Bà Chủ 
		của tôi, nếu Người không nhận được lệnh gì khác từ Đấng Toàn Năng, có lẽ 
		tôi phải đi một mình. Nhưng, mặc dầu chiếu chỉ này chỉ nói đến các gia 
		trưởng mà thôi, tôi không dám ra đi mà không có ai giúp đỡ Người. Tôi 
		cũng không thể sống nếu vắng Người. Tôi cũng không thể nào có được lấy 
		một phút an lòng nếu xa cách Người. Trái tim tôi không thể nào có được 
		dẫu chỉ một chút thư thái nếu không nhìn thấy Người.”<br>
		Đức Maria và thánh Giuse quyết định ngày Thánh Gia lên đường. Thánh 
		Giuse đi khắp thị trấn Nazareth cố gắng tìm một con lừa đỡ chân Đức 
		Maria. Không dễ gì tìm được một con lừa vào lúc đó vì quá nhiều người đi 
		khắp nơi để chu toàn nhiệm vụ theo chiếu chỉ nhà vua. Sau nhiều lo lắng 
		tìm kiếm, thánh Giuse tìm được con lừa nhỏ ốm yếu. Nếu chúng ta có thể 
		gọi những con vật như thế là tốt phước, con lừa nhỏ ốm yếu đó tốt phước 
		nhất trong các con vật không có lý tính; không những vì nó được đặc 
		quyền chở Đức Nữ Vương muôn loài và Con cực thánh của lòng Người, Vua 
		trên hết các vua, Chúa trên hết các chúa (Is. 1:13); mà còn vì con lừa 
		đó đã dâng lên Đấng Tạo Thành việc thờ lạy mà loài người từ chối dâng 
		lên Ngài. Đức Maria và thánh Giuse chuẩn bị hành trang và thực phẩm cho 
		cuộc hành trình năm ngày. Hành trang lần này của hai Vị Lữ Khách thiên 
		đàng cũng như trong chuyến đi lần trước tới nhà ông Zacharia thăm viếng 
		bà Elisabeth. Bánh, trái cây và vài con cá là những thứ thông thường 
		cung cấp dinh dưỡng được mang theo. Đức Trinh Nữ đem theo khăn tã cần 
		thiết cho việc Chúa Cứu Thế giáng sinh. Người muốn sắp đặt mọi thứ theo 
		đúng thánh ý khôn lường của Thiên Chúa, chuẩn bị cho các biến cố Người 
		biết phải xảy ra. Đức Maria và thánh Giuse giao nhà nhờ người lối xóm 
		trông coi.<br>
		Đức Maria và thánh Giuse đã từ Nazareth đi Bethlehem, khó nghèo khiêm 
		tốn trước mặt người đời. Nhưng Đức Mẹ và thánh Giuse không đi một mình, 
		các ngài đem theo Kho Tàng Thiên Quốc là chính Thiên Chúa, vì thế được 
		cả triều thần thiên đàng tôn kính. Mọi vật vô hồn nhận biết Hòm Bia 
		Thánh sống động đích thực (Jos 3:16) mau lẹ hơn nước sông Jordan nhận 
		biết Hòm Bia hình bóng, khi nước sông này mở lối cho Hòm Bia thánh và 
		các người tháp tùng đi qua sông. Muôn vàn thiên thần được Thiên Chúa chỉ 
		định phục vụ Đức Nữ Vương suốt hành trình. Thêm vào với đoàn hộ vệ này, 
		nhiều thiên thần khác từ thiên đàng là sứ giả Thiên Chúa Cha hằng hữu 
		đến với Con Một Chúa Cha làm người trong lòng Đức Maria; các thiên thần 
		là sứ giả đưa thông điệp của Chúa Con và Đức Hiền Mẫu dâng lên Thiên 
		Chúa Cha.<br>
		Tuy nhiên, cùng với các đặc ân và hân hoan này, Chúa Cứu Thế cũng chịu 
		một số vất vả bất tiện mà Đức Hiền Mẫu rất thánh phải chịu trên đường. 
		Sự tụ họp đông đảo người ta ở các quán trọ, do chiếu chỉ hoàng đế tạo 
		ra, là điều hết sức khó chịu cho Đức Trinh Mẫu và thánh phu quân Giuse. 
		Vì sự khó nghèo ẩn dật, các ngài bị đối đãi hững hờ, coi thường. Thế 
		gian xét đoán, tỏ hảo ý theo bề ngoài, theo ảnh hưởng cá nhân. Đức Maria 
		và thánh Giuse phải nghe đi nghe lại những lời sỉ nhục thậm tệ tại những 
		quán trọ các ngài ghé lại sau cuộc hành trình dài mỏi mệt. Tại một số 
		nơi các ngài bị từ chối không cho vào vì nghèo khó. Nhiều lần người ta 
		để cho Đức Nữ Vương trời đất ở xó góc nào đó nơi hành lang. Tại nhiều 
		nơi khác Người bị đối xử tệ hơn thế. Mẹ Maria và thánh Giuse phải dừng 
		chân ở những nơi còn khiêm nhượng hơn nữa. Nhưng tại bất cứ nơi nào Đức 
		Trinh Mẫu dừng chân, cho dù nơi đó bị coi là hết sức bần tiện, các thiên 
		thần thiết lập cấm thành chung quanh Đức Vua và Đức Nữ Vương. Thánh 
		Giuse thấy Đức Maria được bảo vệ cẩn thận như thế đã yên tâm nghỉ ngơi, 
		mau mắn chìm vào giấc ngủ sau hành trình vất vả. Trong khi đó Đức Maria 
		tiếp tục nói chuyện với các thiên thần. <br>
		Được giúp đỡ nhiều cách kỳ lạ như thế, các Vị Lữ Khách của chúng ta tới 
		thị trấn Bethlehem lúc bốn giờ chiều ngày chót của hành trình năm ngày. 
		Lúc đó là tiết đông chí, mặt trời đã lặn, màn đêm xuống. Đức Maria và 
		thánh Giuse tới thị trấn, đi qua nhiều đường phố tìm một quán trọ hoặc 
		chỗ trú qua đêm. Các Ngài gõ cửa những gia đình quen thuộc và thân nhân 
		họ hàng; nhưng không được một nơi nào nhận cho tá túc, ở nhiều nơi các 
		Ngài còn bị đón tiếp bằng những lời sỉ nhục tàn nhẫn. Đức Maria theo 
		thánh phu quân qua các đám đông, đi hết nhà này đến nhà khác, hết cửa 
		này qua cửa kia. Người biết trái tim và nhà của loài người đều đóng chặt 
		đối với các ngài, nhưng lòng chai dạ đá của dân thành khiến Đức Maria 
		đau lòng hơn việc các Ngài không tìm được nơi trú qua đêm. Đức Maria và 
		thánh Giuse lang thang qua các đường phố, khi đi ngang nơi khai sổ nhân 
		danh, các ngài đã ghé vào khai tên và nạp thuế theo đúng chiếu chỉ để 
		khỏi phải trở lại lần nữa, rồi lại tiếp tục tới những nhà khác tìm kiếm 
		chỗ trọ. Các thiên thần kinh ngạc trước những mầu nhiệm cao cả của Đấng 
		Tối Cao, đức nhẫn nhục hiền lành của Đức Trinh Mẫu, và lòng chai đá 
		không tình cảm của loài người. Đồng thời các ngài chúc tụng những công 
		việc và mầu nhiệm của Đấng Toàn Năng, vì từ ngày đó trở đi Thiên Chúa 
		bắt đầu tôn vinh đức khó nghèo khiêm tốn giữa loài người.<br>
		Lúc chín giờ đêm, thánh Giuse, lòng đau như cắt, trở lại nói với Đức 
		Maria: “Thưa Bà Chủ hiền dịu của tôi, trái tim tôi vỡ ra vì buồn phiền 
		vì không thể nào tìm được chỗ trú xứng đáng cho Người như tôi ao ước. 
		Tôi không thể nào tìm được cho Người dù bất cứ chỗ che mưa nắng nào, 
		hoặc một nơi nghỉ ngơi, một thứ mà hiếm khi hoặc không bao giờ từ chối 
		đối với những người nghèo nàn bần tiện nhất trần gian. Không thể nào 
		hoài nghi, Thiên Chúa che giấu mầu nhiệm gì đây, vì trong trường hợp như 
		thế này để cho trái tim nhân loại quá sức tàn ác chai đá đến nỗi từ chối 
		không cho chúng ta một chỗ nghỉ đêm. Thưa hiền thê, tôi nhớ phía ngoài 
		thành có một cái hang dùng làm chỗ che mưa nắng cho mục đồng và bầy 
		chiên của họ. Chúng ta hãy tìm cái hang đó; có lẽ bỏ trống, chúng ta hy 
		vọng được thiên đàng giúp đỡ, vì chúng ta không nhận gì nơi người trần 
		thế.” Đức Trinh Nữ nói: “Thưa phu quân và chủ nhân của thiếp, xin đừng 
		để cho trái tim hiền hòa nhất mực của người đau khổ vì những ước ao mãnh 
		liệt mà tình yêu Thiên Chúa thúc đẩy nơi người không chu toàn được. Vì 
		thiếp cưu mang Thiên Chúa trong lòng, xin phu quân cùng thiếp tạ ân Chúa 
		đã sắp đặt các biến cố theo cách này. Nơi phu quân nói đó sẽ là chỗ hài 
		lòng nhất đối với thiếp. Xin hãy để cho những giọt lệ đau buồn của phu 
		quân trở thành hoan lệ. Chúng ta hãy yêu mến ấp ủ sự khó nghèo là kho 
		tàng quí giá khôn lường của Con chí thánh của thiếp. Chúa từ thiên đàng 
		đến trần gian để tìm đức thanh bần, như thế chúng ta hãy dành cho Chúa 
		cơ hội thực hành đức khó nghèo trong niềm vui linh hồn chúng ta. Nhất 
		định thiếp không thể nào hoan hỉ hơn nếu phu quân tìm được nơi đó. Chúng 
		ta hoan hỉ đi bất cứ nơi nào Chúa dẫn chúng ta tới.” Các thiên thần hộ 
		vệ Thánh Gia, soi đường. Khi tới cổng thành các ngài thấy cái hang bỏ 
		trống không ai ở. Đức Maria và thánh Giuse tạ ơn Chúa vì đặc ân này.<br>
		LỜI MẸ MARIA<br>
		<br>
		Con yêu quí của Mẹ, nếu con có trái tim hiền lành ngoan ngoãn, thì các 
		mầu nhiệm, mà con hiểu và viết ra, sẽ khơi lên trong lòng con những cảm 
		giác ngọt ngào của tình yêu cảm mến đối với Đấng là Tác Giả các mầu 
		nhiệm vĩ đại đó. Mẹ muốn con luôn nhớ các mầu nhiệm này trong trí khôn, 
		từ nay trở đi với lòng quí mến cao cả ôm ấp việc bị người đời khinh bỉ 
		thờ ơ. Con yêu dấu nhất của Mẹ, con hãy nói Mẹ nghe, nếu đổi việc bị 
		người đời hững hờ và thóa mạ để được Thiên Chúa đoái nhìn với cặp mắt 
		hiền dịu nhất, tại sao con không mua thứ quí giá vô cùng bằng giá quá 
		rẻ? Thế gian có thể cho con điều gì, cho dù nó quí trọng và ca tụng con 
		nhất? Không phải mọi ân huệ trần thế chỉ là hư ảo và lừa dối sao (Tv 
		4:3)? Không phải tất cả chỉ là ảo ảnh mau qua bồng bềnh và vuột khỏi tay 
		những kẻ vội vã chạy theo nó sao? Vì thế, nếu con có mọi thứ ở đời này 
		là của con, nhưng con từ bỏ, coi khinh nó không có giá trị gì thì đó là 
		hành động lớn lao biết chừng nào? Hãy nghĩ xem con phải trả ít chừng nào 
		trong việc từ bỏ mọi sự để đổi lấy tình yêu của Thiên Chúa, tình yêu của 
		Mẹ và lòng yêu thương của các thiên thần. Nếu thế gian không hững hờ với 
		con đủ như con muốn, con hãy thi hành phần riêng con tự ý khinh chê nó, 
		để giữ con tự do không bị cản trở trong việc hoàn toàn hiệp thông và vui 
		hưởng Thiên Chúa Tối Cao trong chan hòa yêu thương hoan lạc nhất.<br>
		Con Cực Thánh Mẹ là Người Yêu trung thành nhất của các linh hồn, Ngài đã 
		đặt Mẹ làm Thầy dạy, là gương sáng sống động về lòng yêu mến đức khiêm 
		nhượng, thực sự khinh chê phù vân và kiêu căng trần thế. Chúa sắp đặt 
		như thế vì vinh quang Chúa mà cũng vì Mẹ. Mẹ, là Nữ Tì và Mẹ Chúa, phải 
		bị để cho không có chỗ trú ẩn, bị loài người xua đuổi, để từ đó về sau 
		các linh hồn yêu thương của Chúa có thể được khuyên sẵn sàng khước từ 
		việc người đời chào đón, để Chúa, bằng một tình yêu tuyệt vời, phải đến 
		ở với họ. Chúa cũng tìm kiếm cảnh thiếu thốn thanh bần, không phải vì 
		Chúa cần đến những thứ đó để đưa việc thực hành các nhân đức lên tới 
		đỉnh trọn lành, nhưng để dạy loài người con đường ngắn chắc chắn nhất 
		đạt tới đỉnh yêu thương thanh tịnh và kết hợp với Thiên Chúa.<br>
		Con yêu dấu nhất của Mẹ, con biết rõ rằng nhờ ơn Chúa con đã liên tiếp 
		được chỉ dạy và khuyến khích quên đi mọi thứ hữu hình thuộc về trần gian 
		để mặc lấy lòng can đảm (Cn 31:17), để nâng con lên bắt chước Mẹ. Con 
		hãy tận lực sao chép lại trong con các việc làm và nhân đức mà con được 
		biết về Cuộc Đời Mẹ. Đây chính là mục đích thứ nhất của kiến thức con 
		nhận được khi viết lịch sử này. Con có gương mẫu tuyệt hảo ở Mẹ, nhờ 
		gương mẫu đó con có thể sắp xếp việc sửa đổi và quản trị cuộc đời con 
		theo cùng một cách Mẹ đã sắp xếp cho Mẹ do việc bắt chước Con vô cùng 
		hiền dịu của Mẹ. Nếu sự e sợ xúi bẫy con rằng lệnh truyền phải bắt chước 
		Mẹ là quá sức, con phải tự chế, phải tự khuyến khích bằng những lời Con 
		chí thánh Mẹ nói trong Phúc Âm thánh Mátthêu: “Anh em phải trọn lành như 
		Cha anh em ở trên trời là Đấng Trọn Lành” (Mt 5:48). Lệnh truyền này của 
		Đấng Tối Cao đặt ra cho Giáo Hội không phải không thể chu toàn. Nếu các 
		con cái trung thành của Chúa biết sắp xếp cách thích nghi, Chúa sẽ không 
		từ chối một ai ân sủng đạt được sự nên giống như Cha trên trời. Con chí 
		thánh Mẹ đã xin được những ơn này cho mọi người. Nhưng sự lãng quên lơ 
		là suy đồi của loài người cản trở không làm cho các hoa trái Ơn Cứu Độ 
		chín mùi trong họ.<br>
		Mẹ đặc biệt trông chờ sự trọn lành ở con. Mẹ mời con tiến tới trọn lành 
		nhờ luật yêu thương ngọt ngào kèm theo lời Mẹ chỉ dạy. Nhờ ánh sáng siêu 
		nhiên, con hãy suy xét cân nhắc cẩn thận bổn phận Mẹ đặt cho con và làm 
		đúng bổn phận đó như một người con trung thành tận tụy. Đừng để bất cứ 
		khó khăn hoặc vất vả nào làm xáo trộn con, hoặc ngăn cản con trong bất 
		cứ việc thực hành nhân đức nào, cho dù việc đó khó khăn bao nhiêu chăng 
		nữa. Con cũng đừng bằng lòng chỉ với việc phấn đấu đạt được tình yêu 
		Chúa và cứu rỗi một mình con mà thôi. Nếu con được trọn lành trong việc 
		bắt chước Mẹ chu toàn mọi điều Phúc Âm dạy, con phải làm việc cho phần 
		rỗi các linh hồn khác, ca tụng thánh danh Thiên Chúa Con Mẹ, làm cho 
		chính con trở nên dụng cụ của Chúa trong việc hoàn thành các công trình 
		phi thường của Ngài để tăng thêm sự hài lòng và vinh quang Chúa.</span></p>
		<p style="margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 12pt; margin-bottom: 0" align="center">
		<span style="font-family: Arial,sans-serif; color: #333333"><br>
		<b><a name="CHƯƠNG_4">CHƯƠNG 4</a></b></span></p>
		<p style="margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 12pt; margin-bottom: 0">
		<span style="font-family: Arial,sans-serif; color: #333333"><b>CHÚA 
		KITÔ, ĐẤNG CỨU CHUỘC NHÂN LOẠI, GIÁNG SINH BỞI ĐỨC TRINH MẪU MARIA TẠI 
		BETHLEHEM, XỨ JUDEA<br>
		</b><br>
		Cung điện, được Vua Tối Cao trên hết các vua và Chúa trên hết các chúa 
		chọn để đón mừng Con hằng hữu nhập thể, là một túp lều hoặc hang đá 
		nghèo nàn hèn hạ. Đức Hiền Mẫu Maria và thánh Giuse tới hang đá này sau 
		khi đã bị loài người từ chối mọi tiếp nhận cho tạm trú với lòng hảo tâm 
		tối thiểu. Hang đá này hèn hạ đến độ khắp Bethlehem có vô số khách lạ 
		thiếu chỗ trọ, nhưng không một ai tự hạ tới mức dùng làm chỗ trú đêm. 
		Không một ai cho rằng nơi này thích hợp hoặc đáng dùng làm nơi tạm trú, 
		ngoại trừ các Bậc Thầy đức khiêm tốn khó nghèo là Chúa Cứu Thế, Thánh 
		Mẫu cực trinh khiết và thánh Dưỡng Phụ Giuse. Thiên Chúa Cha hằng hữu đã 
		dành hang chiên bò này cho Chúa Cứu Thế và Đức Hiền Mẫu, thánh hoá nơi 
		đó bằng sự trống không trơ trụi hoang vắng nghèo hèn để làm đền thờ thứ 
		nhất của Ánh Sáng (Malaki 4:2, Tv 111:4), là cung điện cho Mặt Trời công 
		chính đích thực, Mặt Trời từ nơi Bầu Trời Hừng Đông Maria mọc lên cho 
		những tâm hồn ngay chính, biến đêm tội lỗi thành ngày ân sủng.<br>
		Khi bước vào nơi tạm trú được dành sẵn, do ánh sáng rực rỡ của muôn ngàn 
		thiên thần hộ vệ, Đức Maria và thánh Giuse dễ dàng nhận thấy sự nghèo 
		nàn quạnh hiu của hang đá, nhưng các ngài coi trọng như đặc ân, chào đón 
		bằng những giọt lệ vui mừng an ủi. Không chần chờ, hai Vị Lữ Khách thánh 
		thiện quì gối chúc tụng, cảm tạ Thiên Chúa vì ân huệ mà các ngài biết đã 
		được dành cho mình do thánh ý khôn ngoan nhiệm mầu. Công Chúa Maria hiểu 
		thấu đáo mầu nhiệm này hơn vì ngay khi thánh hóa phía trong hang bằng 
		những bước chân, Người cảm thấy chan hòa vui mừng phấn khởi. Đức Maria 
		xin Thiên Chúa chúc lành dồi dào cho mọi cư dân trong thành, vì từ chối 
		không tiếp nhận Người, họ đã dành cho Người cơ hội hưởng những ân huệ vĩ 
		đại được chờ đợi tại hang đá hoang vu này. Hang này toàn bằng đá sần 
		sùi, một nơi chỉ dành làm chỗ trú cho súc vật; vậy mà Thiên Chúa Cha 
		hằng hữu đã chọn làm nơi Con Một Ngài giáng sinh.<br>
		Các thiên thần hợp thành những đạo quân như các đoàn vệ sĩ bảo vệ Đức Nữ 
		Vương. Các thiên thần cũng hiện rõ với thánh Giuse vì dịp này ngài xứng 
		đáng được hưởng đặc ân đó. Một mặt, để làm dịu bớt nỗi đau buồn của ngài 
		bằng cách để cho ngài thấy chỗ trú nghèo nàn này được trang hoàng bằng 
		sự hiện diện của các thiên thần. Mặt khác, để tưởng lệ, chuẩn bị tinh 
		thần thánh Giuse đón tiếp những biến cố vĩ đại vô cùng Thiên Chúa an bài 
		xảy ra trong đêm nay tại hang đá trống vắng này. Đức Maria, được thông 
		báo đầy đủ về mầu nhiệm xảy ra tại đây, đã khởi sự bằng chính tay Người 
		dọn dẹp hang đá, mà chẳng mấy chốc nữa sẽ được dùng làm ngai tòa, là đền 
		thờ Thiên Chúa. Đức Hiền Mẫu Maria không muốn lỡ dịp này thi hành đức 
		khiêm nhượng, Mẹ cũng không muốn để Con Một vô cùng yêu dấu Mẹ không 
		được thờ lạy tôn thờ ám chỉ trong việc chuẩn bị này là dọn dẹp đền thờ 
		Chúa.<br>
		Thánh Giuse, ý thức địa vị cao cả của Đức Maria (đối với ngài thì dường 
		như Người quên mất địa vị cao cả của mình trong việc nồng nàn ước ao 
		được khiêm nhượng), đã nài nỉ Đức Maria đừng tước đoạt việc này, mà ngài 
		coi là được dành riêng cho mình. Thánh Giuse mau mắn khởi sự lau chùi 
		nền và các góc hang. Đức Maria khiêm nhượng tiếp tục phụ giúp ngài. Theo 
		cách chúng ta nói, các thiên thần bối rối trước sự sốt sắng thi hành đức 
		khiêm tốn của Đức Maria, nên đã mau mắn phụ giúp dọn dẹp hang đá. Chỉ 
		trong nháy mắt các thiên thần đã lau chùi dọn dẹp hang đá gọn gàng và 
		tỏa hương thơm thiên đàng ngào ngạt. Bằng những vật liệu đem theo, thánh 
		Giuse nhóm lửa. Trời rất lạnh, Mẹ Maria và thánh Giuse ngồi sưởi bên 
		đống lửa. Các ngài chia sẻ thực phẩm đem theo, dùng bữa tối thanh đạm 
		với niềm hân hoan vô biên. Mẹ Maria hết sức ngây ngất khi nghĩ tới mầu 
		nhiệm Chúa Cứu Thế Giáng Sinh sắp xảy ra, nên không muốn dùng thực phẩm 
		nếu không bị thúc giục bởi đức vâng lời đối với thánh phu quân Giuse.<br>
		Bữa tối xong, Đức Maria và thánh Giuse tạ ơn Chúa như thường lệ. Sau khi 
		cầu nguyện và chuyện vãn về các mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể một lát, Đức 
		Trinh Mẫu cảm thấy gần tới giờ Chúa Cứu Thế giáng sinh, Người yêu cầu 
		thánh Giuse đi nghỉ vì đêm đã khuya. Trước khi lui về nghỉ, với mền 
		chiếu đem theo, thánh Giuse sửa soạn máng cỏ thành một thứ giường. Để 
		Đức Maria ở phần hang được chuẩn bị như thế, thánh Giuse lui ra một góc 
		ở gần cửa hang, ở đây ngài bắt đầu cầu nguyện. Lập tức thánh Giuse được 
		Thần Linh Thiên Chúa viếng thăm, cảm thấy hết sức ngọt ngào khác thường, 
		được bao bọc trong Thiên Chúa và được nâng lên ngất trí (= xuất thần). 
		Trong khi ngất trí, thánh Giuse thấy tất cả mọi việc xảy ra trong đêm 
		nay tại hang đá diễm phúc này cho tới khi Đức Hiền Mẫu Maria gọi, ngài 
		mới tỉnh lại.<br>
		Đức Nữ Vương muôn loài, từ nơi đang nghỉ, được Thiên Chúa lớn tiếng gọi. 
		Tiếng gọi đó đã mạnh mẽ mà dịu dàng nâng Người lên trên mọi thụ tạo và 
		cảm thấy những ảnh hưởng mới của quyền năng Thiên Chúa. Đây là một trong 
		những lần ngất trí lạ lùng nhất Mẹ được hưởng. Đức Maria lập tức được 
		tràn đầy ơn soi sáng và ảnh hưởng siêu nhiên đặc biệt, cho tới khi nhìn 
		rõ Thiên Chúa. Tấm màn rơi xuống và Đức Maria nhìn trực diện chính Thiên 
		Chúa trong ánh sáng huy hoàng. Người được ơn khôn ngoan, mà mọi khả năng 
		của cả loài người và các thiên thần không thể hiểu thấu đáo hoặc diễn tả 
		đầy đủ. Tất cả sự hiểu biết về thiên tính và nhân tính của Con cực 
		thánh, Đức Maria đã từng nhận được trong các thị kiến trước, đều được 
		canh tân; hơn nữa các mầu nhiệm khác về mọi điều tích chứa vô tận trong 
		lòng Thiên Chúa đều được tiết lộ cho Mẹ. Chúng tôi không có ngôn từ 
		thích hợp đủ để diễn tả những gì được phép nhìn thấy trong các mầu nhiệm 
		này nhờ ánh sáng siêu nhiên; sự phong phú và quá nhiều của các mầu nhiệm 
		đó làm cho chúng tôi phải nhìn nhận mình nghèo nàn, thiếu khả năng diễn 
		tả.<br>
		Đấng Tối Cao thông báo cho Đức Trinh Mẫu thời gian Chúa đến trong thế 
		gian đã tới và cách thức việc này bây giờ phải được hoàn thành. Đức 
		Trinh Mẫu nhìn thấy trong thị kiến này mục đích cùng giá trị cao cả vô 
		cùng các mầu nhiệm lạ lùng liên quan đến chính Chúa Cứu Thế và toàn thể 
		nhân loại, vì họ mà các mầu nhiệm này đã được ấn định từ thuở đời đời. 
		Đức Maria sấp mình trước thánh nhan Thiên Chúa, chúc tụng tôn vinh, tạ 
		ân, ca ngợi Chúa cho chính Người và thay cho mọi thụ tạo. Đồng thời Đức 
		Maria xin Thiên Chúa ban ánh sáng và ân sủng mới để có thể xứng đáng đảm 
		đương việc phục vụ, thờ lạy, nuôi dưỡng Ngôi Lời Nhập Thể, mà Người sẽ 
		ẵm bồng, chăm sóc, nuôi dưỡng bằng sữa trinh khiết. Vì hiểu rõ tính chất 
		cao cả của mầu nhiệm này, Đức Hiền Mẫu thiên đàng dâng lên lời cầu xin 
		với lòng khiêm tốn sâu thẳm nhất. Đức Maria tự coi mình không xứng đáng 
		với địa vị nuôi dưỡng, đối thoại như một hiền mẫu với Thiên Chúa nhập 
		thể mà nhiệm vụ đó cho dù các thiên thần Seraphim cao cấp nhất cũng 
		không đủ khả năng. Đức Hiền Mẫu khôn ngoan suy nghĩ cân nhắc vấn đề này 
		cách thận trọng và khiêm nhượng. Vì Đức Maria hạ mình xuống tới bụi đất, 
		nhìn nhận sự hư vô của mình trước thánh nhan Thiên Chúa Toàn Năng, Thiên 
		Chúa đã nâng Người lên, tái xác nhận trên Người tước vị MẸ THIÊN CHÚA. 
		Thiên Chúa truyền cho Đức Maria thi hành địa vị và chức vụ MẸ ĐÍCH THỰC 
		VÀ HỢP PHÁP của CHÍNH CHÚA. Đức Maria sẽ phải đối xử với Ngôi Lời Nhập 
		Thể là CON Thiên Chúa Cha hằng hữu, đồng thời là CON của lòng dạ Người.<br>
		Đức Trinh Mẫu Maria ở trong tình trạng ngây ngất thị kiến hạnh phúc này 
		hơn một tiếng đồng hồ trước khi sinh hạ Thiên Chúa làm người. Khi ra 
		khỏi thị kiến, phục hồi việc sử dụng giác quan, Đức Maria cảm thấy và 
		nhìn thấy thân xác Thiên Nhi bắt đầu chuyển động trong dạ trinh khiết 
		của Người để rời khỏi nơi Chúa đã cư ngụ chín tháng. Lúc này Hài Nhi 
		Thiên Chúa chuẩn bị để ra khỏi Phòng Cưới Thánh. Việc chuyển động này 
		chẳng những không gây ra một chút đau đớn hoặc khó chịu nào như nơi các 
		con gái khác của Adong Evà khi sinh con, nhưng làm cho Đức Maria chìm 
		ngụp trong niềm vui hoan hỉ khôn sánh, tạo ra trong linh hồn thân xác 
		cực trinh khiết Mẹ những hiệu lực siêu nhiên lạ lùng vượt quá mọi tư 
		tưởng loài người. Thân xác Đức Trinh Mẫu Maria trở nên hết sức tuyệt vời 
		với vẻ đẹp thiên đàng đến mức dường như Mẹ không còn là người ta, không 
		còn là thụ tạo ở trần thế nữa. Mặt Đức Maria tỏa hào quang tựa mặt trời, 
		sắc da phơn phớt hồng, chiếu sáng trong vẻ trang trọng uy nghi khôn tả, 
		mọi thứ đều bừng bừng lửa yêu mến nồng nàn. Đức Maria quì trong máng cỏ, 
		mắt nhìn lên trời, hai tay chắp trước ngực, linh hồn đắm chìm trong 
		Thiên Chúa và chính Người được hoàn toàn thần hoá.<br>
		Trong tư thế này, lúc nửa đêm, vào cuối thị kiến của Đức Maria, Mặt Trời 
		Công Chính đã giáng sinh rực rỡ xinh đẹp tuyệt vời, Đấng là Con Một 
		Thiên Chúa Cha hằng hữu và Con Đức Maria vô nhiễm nguyên tội cực trinh 
		khiết. Đức Maria được bảo toàn nguyên vẹn tinh tuyền trong trắng, được 
		làm cho giống Thiên Chúa hơn và thánh đến muôn đời; vì Chúa Giêsu đã 
		không chia cắt, nhưng thấm qua cung lòng trinh khiết Đức Maria như những 
		tia sáng mặt trời thấu qua pha lê tinh tuyền làm cho nó trở nên rực rỡ 
		toàn diện. Chúa Hài Đồng đã ra khỏi lòng Mẹ Maria mà không bị cản trở 
		bởi bất cứ thứ gì về thể xác và vật chất. Chúa tiến ra vinh quang sáng 
		ngời. Thiên Chúa khôn ngoan vô cùng đã ấn định rằng sự vinh quang linh 
		hồn cực châu báu Chúa trong ngày Chúa giáng sinh sẽ thông cho thân xác 
		cực thánh Chúa những vinh quang cùng cách như xảy ra về sau trong ngày 
		Chúa hiển dung trước mặt ba Tông Đồ trên núi Tabor (Mt 17:2). Phép lạ 
		này không cần thiết để thấu qua lòng Mẹ Maria và giữ cho sự trinh khiết 
		của Mẹ nguyên vẹn không bị suy suyển; vì nếu không có phép lạ Biến Hình 
		này, Thiên Chúa cũng đã làm cho việc này xảy ra bằng những phép lạ khác.<br>
		Chính thánh ý Chúa muốn Đức Trinh Mẫu nhìn xuống thân xác Con của Người, 
		Thiên Chúa làm người, lần đầu tiên trong trạng thái được vinh quang vì 
		hai lý do. Một là để qua thị kiến này Đức Hiền Mẫu nhận thức được lòng 
		tôn kính cao cả nhất đối với sự Uy Nghi của Đấng mà Người phải đối xử là 
		Con của mình, đích thực là Thiên Chúa làm người. Mặc dầu Đức Maria đã 
		được cho biết về hai bản tính của Chúa Cứu Thế, Chúa định rằng do việc 
		hiển lộ mà mắt thấy rõ ràng, Đức Trinh Mẫu được ban tràn đầy ân sủng 
		xứng hợp với sự cao cả của Con cực thánh. Lý do thứ hai là để qua sự lạ 
		lùng này thưởng công lòng trung tín thánh thiện của Mẹ Thiên Chúa. Cặp 
		mắt trinh trắng của Mẹ, đã vì tình yêu đối với Con cực thánh mà tránh xa 
		mọi thứ ở trần thế, phải được nhìn thấy Chúa ngay khi Giáng Sinh trong 
		vinh quang này, để do đó được vui mừng, được thưởng công vì tình yêu 
		thương tuyệt vời và trung thành.<br>
		Thánh sử Luca kể rằng Đức Trinh Mẫu, sau khi sinh Con Đầu Lòng, đã bọc 
		Con cực thánh trong khăn và đặt trong máng cỏ. Hai Tổng Lãnh Thiên Thần 
		Michael và Gabriel là phụ tá cho Đức Trinh Mẫu trong dịp này. Khi Ngôi 
		Lời Nhập Thể, do quyền năng Thiên Chúa của mình, thấu qua lòng dạ trinh 
		khiết của Đức Hiền Mẫu đã đến trong ánh sáng, hai Tổng Lãnh Thiên Thần 
		đón rước Chúa trong tay các ngài với lòng tôn kính cao cả. Cùng một thể 
		thức khi linh mục dâng Bánh Thánh lên để mọi người thờ lạy, hai Tổng 
		Lãnh Thiên Thần đã dâng Thiên Chúa Con vinh hiển sáng chói lên Đức Hiền 
		Mẫu Maria rất thánh. Toàn thể việc này xảy ra trong khoảng thời gian 
		ngắn. Khi hai Tổng Lãnh Thiên Thần dâng Chúa Hài Đồng cho Đức Hiền Mẫu 
		Maria, hai Mẹ Con nhìn nhau. Trong cái nhìn này, Đức Trinh Mẫu yêu mến 
		Hài Nhi hiền dịu này đến chết được, đồng thời được nâng cao phẩm giá, 
		biến dạng trong Chúa Hài Đồng. Từ tay các Tổng Lãnh Thiên Thần, Chúa các 
		tầng trời nói với Đức Hiền Mẫu rất thánh: “Hỡi Mẹ, hãy nên giống Con, vì 
		từ nay trở đi, do thân xác nhân loại Mẹ đã cho Con, Con sẽ cho Mẹ sự 
		hiện hữu trong ân sủng đáng ca tụng hơn nữa, đồng hoá sự hiện hữu của Mẹ 
		vốn chỉ là một thụ tạo nên giống sự hiện hữu của Con, Đấng là Thiên Chúa 
		và là người ta.” Đức Hiền Mẫu cực khôn ngoan đáp lời: “Lạy Chúa, xin hãy 
		nâng tôi dậy, hãy nâng tôi lên, tôi sẽ chạy theo Ngài vì mùi dầu thơm 
		Ngài xức” (Dc 1:3). Cùng thể thức đó nhiều mầu nhiệm bí ẩn trong các 
		Diệu Ca đã được hoàn tất.<br>
		Những lời Đức Hiền Mẫu Maria nghe từ miệng Con chí thánh cho Mẹ hiểu các 
		hành động bên trong của linh hồn cực thánh Chúa Cứu Thế kết hợp với 
		Thiên Tính, để do việc bắt chước các hành động đó Mẹ có thể nên giống 
		Chúa. Đây là một trong những đặc ân cao cả nhất mà Đức Hiền Mẫu hạnh 
		phúc cực kỳ trung tín nhận được từ Con cực thánh, Đấng là Thiên Chúa 
		thực và người thực. Đặc ân này không những chỉ liên tiếp từ ngày đó cho 
		tới hết cuộc đời Đức Trinh Mẫu, mà chính đặc ân đó cung cấp cho Mẹ 
		phương tiện rập khuôn cuộc sống thiên tính của Ngôi Lời Nhập Thể cách 
		trung tín có thể được đối với một thụ tạo. Cùng lúc đó Đức Maria thấy và 
		cảm được sự hiện diện của Thiên Chúa Ba Ngôi cực thánh, Người nghe tiếng 
		Thiên Chúa Cha hằng hữu phán: “Đây là Con Yêu Dấu của Ta, nơi Con, Ta 
		rất hài lòng và hoan hỉ” (Mt 17:5). Đức Maria, đã được làm cho hoàn toàn 
		giống Thiên Chúa, được đầy tràn hết sức nhiều bí tích, đáp lời: “Lạy 
		Thiên Chúa Cha hằng hữu, là Thiên Chúa cao cả, là Chúa và là Đấng tạo 
		thành vũ trụ, xin cho con lại được phép và chúc lành của Chúa để tiếp 
		nhận trong cánh tay con Đấng muôn dân ước ao trông chờ (Agg. 2:8); xin 
		dạy con chu toàn thánh ý Chúa trong tư cách một người mẹ bất xứng và nô 
		lệ hèn hạ của Chúa.” Đức Hiền Mẫu nghe tiếng Thiên Chúa Cha: “Hãy nhận 
		lấy Con Một Yêu Quí của Người, hãy nuôi dưỡng và bắt chước Chúa Con. Hãy 
		nhớ Người phải hiến dâng Chúa Con khi nào Ta đòi hỏi việc đó ở Người.” 
		Đức Hiền Mẫu thiên đàng đáp: “Xin Chúa hãy đoái nhìn thụ tạo của tay 
		Chúa, xin trang điểm con bằng ân sủng Chúa để Con của Chúa và là Thiên 
		Chúa của con nhận con là nô lệ; nếu Chúa giúp con bằng Quyền Năng Vô 
		Biên, con sẽ trung thành phụng sự Con Chúa; xin Chúa đừng kể đến lòng tự 
		phụ nơi thụ tạo hèn hạ này, vì nàng ẵm trong cánh tay, nuôi Chúa và Đấng 
		Tạo Hóa bằng sữa của mình.”<br>
		Sau những lời trao đổi hết sức mầu nhiệm này, Chúa Hài Đồng ngưng phép 
		lạ hiển dung. Chúa khởi sự một phép lạ khác là ngưng các hiệu lực vinh 
		hiển trong thân xác cực châu báu, chỉ để các hiệu lực vinh hiển trong 
		linh hồn và mặc lấy vẻ bề ngoài của một người có thể chịu đau khổ. Lúc 
		này Đức Hiền Mẫu Maria nhìn Chúa Con dưới hình hài con người bình 
		thường. Vẫn còn khiêm tốn thẳm sâu tôn kính quì thờ lạy Chúa, Đức Maria 
		đón ẵm Chúa Hài Đồng từ tay hai Tổng Lãnh thiên thần. Khi ẵm Chúa trong 
		tay, Đức Hiền Mẫu rất thánh nói với Chúa: “Tình Yêu ngọt ngào nhất của 
		mẹ, Ánh Sáng mắt mẹ, Linh Hồn mẹ, Con đã đến thế gian này sớm giờ, như 
		Mặt Trời Công Chính (Malaki 4:2), để xua đuổi bóng tối tội lỗi và sự 
		chết! Lạy Thiên Chúa thực của các thần thánh, xin cứu các tôi tớ Chúa, 
		cho muôn dân được nhìn thấy Chúa, Đấng đến cứu độ muôn dân (Is. 9:2). 
		Xin Chúa nhận mẹ làm nữ tì của Chúa, làm nô lệ của Chúa, xin bù đắp sự 
		thiếu thốn của mẹ, để mẹ có thể xứng đáng phụng sự Chúa. Con của mẹ, xin 
		làm cho mẹ trở nên như Con muốn trong việc phụng sự Con.” Kế đó, Đức 
		Hiền Mẫu ngước nhìn và dâng lên Thiên Chúa Cha: “Lạy Đấng Tạo Hóa cả vũ 
		trụ đáng chúc tụng, đây là Bàn Thờ và Lễ Vật đáng chấp nhận trong mắt 
		Chúa (Malaki 3:4). Từ giờ phút này trở đi, lạy Chúa, xin đoái nhìn nhân 
		loại với lòng thương xót; vì chúng con đã đáng chịu cơn thịnh nộ của 
		Chúa, bây giờ là lúc Chúa được làm cho khuây khỏa trong Con của Chúa và 
		của con. Xin Chúa ngưng phép công thẳng, xin để cho lòng thương xót Chúa 
		được tôn vinh; vì Ngôi Lời đã mặc lấy thân xác kẻ tội lỗi (Rom 8:3), trở 
		nên Anh Em của loài người và những kẻ tội lỗi (Philip 2:7). Với tước vị 
		này, con nhìn nhận tất cả những người đó là anh em, con cầu xin cho họ 
		từ đáy linh hồn con. Lạy Chúa, mặc dầu con không xứng đáng, Chúa đã làm 
		cho con nên mẹ của Con Một Chúa, địa vị này vượt trên mọi xứng đáng của 
		một thụ tạo. Nhưng con cũng mắc nợ một phần đối với nhân loại vì cơ hội 
		hạnh phúc tốt lành khôn sánh này; chính vì họ mà con là mẹ của Ngôi Lời 
		làm người, Đấng là Chúa cứu chuộc cả loài người. Con sẽ không từ chối họ 
		tình yêu của con; con sẽ ân cần lo lắng cho việc cứu chuộc họ. Lạy Thiên 
		Chúa hằng hữu, xin Chúa nhận những ước nguyện và lời con cầu xin theo sự 
		hài lòng và thánh ý Chúa.”<br>
		Đức Hiền Mẫu hay thương xót cũng nói với các thiên thần và mọi người 
		trần thế: “Xin cho những người đau khổ được an ủi, người phiền muộn được 
		vui mừng, người gục ngã chỗi dậy, những người bứt rứt lo âu được yên 
		nghỉ. Xin cho các người công chính và các thánh vui mừng hoan hỉ; các 
		thiên thần trên trời vui mừng; các thánh Tiên tri các thánh Tổ nơi lâm 
		bô đón lấy niềm hy vọng mới; muôn thế hệ phải chúc tụng tôn vinh Chúa, 
		Đấng canh tân mọi kỳ công của mình. Hỡi những người nghèo khó hãy đến; 
		đến gần đây hỡi những người bé nhỏ, đừng sợ hãi chi cả, vì trong tay 
		tôi, tôi bồng ẵm Sư Tử được làm cho trở nên Con Chiên, Đấng Toàn Năng 
		trở nên yếu đuối, Đấng Vô Địch đã bị chinh phục. Mọi người hãy đến rút 
		lấy sự sống, mau mắn đạt lấy Ơn Cứu Độ, đến để được an nghỉ đời đời, vì 
		tôi có sẵn mọi thứ này cho tất cả mọi người, được ban cho mọi người cách 
		&#39;nhưng không&#39; và truyền thông với mọi người mà không đố kỵ. Đừng chậm 
		chạp hững hờ, hỡi con cái loài người.”<br>
		Kế đó, Đức Trinh Mẫu nói với Chúa Hài Đồng: “Lạy Chúa, niềm vui ngọt 
		ngào nhất linh hồn mẹ, xin cho mẹ được phép nhận từ Chúa nụ hôn mọi thụ 
		tạo ước ao.” Với lời đó Đức Hiền Mẫu áp làn môi cực trinh khiết để nhận 
		nụ hôn của Chúa Hài Đồng, mà về phần Chúa, vì là Con đích thực của Mẹ 
		Maria, đã ao ước được Đức Hiền Mẫu rất thánh hôn.<br>
		<br>
		Ẵm Chúa Hài Đồng trong tay, Mẹ Maria phụng sự như bàn thờ và thánh điện, 
		nơi muôn ngàn thiên thần dưới hình người ta thờ lạy Đấng Tạo Thành nhập 
		thể làm người. Thiên Chúa Ba Ngôi tham dự cách đặc biệt việc Ngôi Lời 
		Giáng Sinh, thiên đàng hầu như không còn một ai, vì cả triều đình thiên 
		đàng đã đến hang đá đáng chúc tụng của thành Bethlehem để thờ lạy Đấng 
		tạo thành trời đất mặc lấy hình thể phàm nhân (Philip 2:7). Trong hợp 
		tấu chúc tụng, các thiên thần hát ca khúc mới: “Vinh Danh Thiên Chúa 
		trên các tầng trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm” (Lc 2:14). 
		Trong hoà âm dịu dàng vang dội, các thiên thần lặp lại ca khúc đó và 
		sững sờ kinh ngạc trước những phép lạ mới được hoàn thành, vì sự khôn 
		ngoan, vẻ kiều diễm, khiêm nhượng, sắc đẹp tuyệt vời khôn tả của Xuân Nữ 
		mười lăm tuổi, Người đã trở nên Người Thụ Thác và Quản Lý những bí tích 
		bao la cao cả như thế.<br>
		Bây giờ đã đến lúc gọi thánh Giuse, vị phu quân trung tín. Thánh Giuse 
		hết sức xứng đáng được nhìn thấy trước mọi người khác, với mọi cảm quan 
		thân xác, ngài được hiện diện và tham dự, thờ lạy tôn kính Ngôi Lời mặc 
		thân xác loài người; vì ngài, duy nhất trong muôn người, đã được tuyển 
		chọn làm người trung thành bảo vệ bí tích vĩ đại này. Do sự ước ao của 
		Đức Hiền Mẫu Maria, thánh Giuse ra khỏi cơn ngất trí (xuất thần). Khi 
		hồi tỉnh, mắt ngài nhìn thấy trước tiên là Chúa Hài Đồng trong tay Đức 
		Trinh Mẫu, đang nằm áp vào mặt và tựa vào ngực thánh Mẹ. Thánh Giuse thờ 
		lạy Chúa Hài Đồng với lòng khiêm tốn nhất, mắt đẫm hoan lệ. Thánh Giuse 
		hôn chân Chúa Hài Đồng với niềm vui mừng kính trọng sâu thẳm, đến mức 
		chắc là ngài đã chết hoặc mất đi hoàn toàn việc sử dụng các giác quan 
		nếu quyền năng Thiên Chúa không bảo vệ. Khi thánh Giuse thờ lạy Chúa Hài 
		Đồng, Mẹ Maria xin phép Con Cực Thánh để đứng lên.<br>
		Sau khi đã bọc Chúa Hài Đồng trong khăn, Đức Hiền Mẫu rất thánh đặt Chúa 
		trong máng cỏ, như thánh Luca kể lại (Lc 2:7). Do thánh ý Chúa, một con 
		bò đực từ cánh đồng lân cận vội vàng chạy vào trong hang. Mẹ Maria ra 
		lệnh cho con bò này và con lừa đã đỡ chân Mẹ từ Nazareth tới đây, bằng 
		cử chỉ tỏ lòng tôn kính thích hợp có thể được, nhận biết và thờ lạy Đấng 
		tạo dựng chúng. Hai con vật khiêm tốn, vâng lệnh Đức Nữ Vương, quì phục 
		thở hơi sưởi ấm Chúa Hài Đồng, dâng lên Chúa việc phụng thờ mà loài 
		người từ chối. Như thế Thiên Chúa Làm Người được đặt nằm giữa hai con 
		vật, bọc trong khăn và hoàn tất cách kỳ lạ lời tiên tri: “con bò biết 
		chủ của nó, con lừa biết máng cỏ của chủ nó; nhưng dân Israel không nhận 
		biết Ta, dân Ta không hiểu” (Is. 13).<br>
		LỜI MẸ MARIA<br>
		<br>
		Con của Mẹ, nếu loài người giữ trái tim thanh thản và suy nghĩ cách ngay 
		thẳng chính đáng về lòng nhân từ của Đấng Tối Cao đối với họ, thì điều 
		này là phương tiện hữu hiệu mạnh mẽ hướng dẫn người ta trong cuộc sống, 
		khiến họ qui phục tình yêu của Đấng tạo dựng và cứu độ họ. Nếu người ta 
		dùng khả năng suy nghĩ và sự tự do mà tôn kính đối xử thích đáng với 
		nhiệm tích vĩ đại này, hỏi ai có thể quá sức cứng cỏi không cảm động mềm 
		lòng khi thấy Thiên Chúa của họ trở nên người trần gian, bị sỉ nhục 
		trong sự nghèo hèn, bị khinh miệt, ẩn dật vô danh, sinh xuống trần gian 
		trong hang bò lừa, nằm trong máng cỏ, được những thú vật vây quanh, chỉ 
		được bảo vệ bởi một bà mẹ nghèo nàn, bị loài người kiêu căng điên khùng 
		xua đuổi? Ai dám yêu những thứ phù du và kiêu căng, điều bị Chúa Tể Tạo 
		Thành trời đất khinh ghét và kết án? Không ai dám khinh chê sự khiêm 
		nhượng nghèo hèn cần cù mà Thiên Chúa yêu thích đã tự chọn cho Mình làm 
		chính phương tiện giảng dạy đường tới phần rỗi đời đời. Một số người bỏ 
		không suy nghĩ về chân lý và gương sáng này, mà vì bội bạc khốn nạn, chỉ 
		có ít người gặt hái được hoa trái của những huyền nhiệm cao siêu này.<br>
		Nếu sự hạ cố của Con cực thánh Mẹ quá sức vĩ đại khi Chúa rộng lượng ban 
		cho con ơn soi sáng và hiểu biết liên quan đến những hồng ân bao la này, 
		con hãy suy xét cẩn thận: con có bổn phận phải cộng tác với ơn soi sáng 
		này thế nào. Để con có thể đáp ứng đòi hỏi này, Mẹ nhắc và khuyến khích 
		con quên đi mọi thứ thuộc về thế gian, gạt chúng ra khỏi ánh mắt; không 
		tìm kiếm thứ gì, không dính líu đến một thứ gì ngoài những thứ có thể 
		giúp rút con ra, tách con khỏi thế gian và những kẻ ở trong đó. Để với 
		trái tim không vương mắc một chút lưu luyến trần tục, con tôn vinh các 
		mầu nhiệm đức khó nghèo khiêm tốn và yêu thương của Ngôi Lời Nhập Thể. 
		Con hãy học ở Mẹ lòng tôn thờ kính úy mà theo đó con phải cư xử với 
		Chúa. Con hãy nhớ Mẹ đã hành động thế nào khi bồng ẵm Chúa. Hãy theo 
		gương Mẹ bất cứ khi nào con rước vào lòng con Chúa trong Phép Thánh Thể 
		đáng tôn thờ, mà trong Phép Thánh Thể cũng chính là Thiên Chúa làm 
		người, Đấng đã do lòng Mẹ sinh ra. Trong Phép Thánh Thể, con rước Chúa 
		và chiếm hữu Chúa cách đích thực, Chúa ở lại trong con đích thực, như Mẹ 
		đã chiếm hữu Chúa và nói chuyện với Chúa, mặc dầu theo cách khác.<br>
		Mẹ ước ao con đạt tới cực điểm trong việc tôn thờ kính úy này. Mẹ ước ao 
		con chú ý và tin rằng khi Chúa trong Phép Thánh Thể ngự vào lòng con, 
		Thiên Chúa khuyến khích con cũng bằng những lời Chúa nói với Mẹ mà con 
		đã ghi: “Hãy nên giống như Cha”. Việc Chúa từ trời xuống thế, sinh ra, 
		sống và chết khiêm tốn khó nghèo, là gương sáng đặc biệt hiếm có về bỉ 
		ổi trần thế và những lừa dối của nó. Tất cả những thứ này phải là những 
		tiếng nói sống động con phải nghe theo, phải ghi khắc trong tim. Tất cả 
		những đặc ân này được ban cho con để con khôn ngoan tận dụng các ơn 
		thông thường, để con hiểu phải biết ơn chừng nào đối với Con cực thánh 
		và Chúa của Mẹ. Con phải tận lực cố gắng đáp lại lòng nhân lành Chúa, 
		chẳng khác gì Chúa từ thiên đàng xuống trần gian chỉ để cứu chuộc một 
		mình con, và chẳng khác gì Chúa lập ra các Bí Tích lạ lùng và giáo lý 
		trong Giáo Hội không phải cho ai khác mà chỉ cho một mình con (Galata 
		7:12).</span></p>
		<p style="margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 12pt; margin-bottom: 0" align="center">
		<span style="font-family: Arial,sans-serif; color: #333333"><br>
		<b><a name="CHƯƠNG_5">CHƯƠNG 5</a></b></span></p>
		<p style="margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 12pt; margin-bottom: 0">
		<span style="font-family: Arial,sans-serif; color: #333333"><b>* CÁC MỤC 
		TỬ THỜ LẠY CHÚA GIÁNG SINH; <br>
		* CHÚA HÀI ĐỒNG CHỊU PHÉP CẮT BÌ<br>
		</b><br>
		Sau khi triều thần thiên đàng đã mừng Thiên Chúa làm người giáng sinh 
		tại hang đá gần cổng thành Bethlehem, một số thiên thần được phái đi các 
		nơi đem tin vui mừng cho những người, theo thánh ý Chúa, xứng đáng nhận 
		tin vui đó. Tổng lãnh thiên thần Micae đến báo cho các thánh Tổ ở lâm bô 
		biết Con Một Thiên Chúa Cha hằng hữu đã sinh ra trong thế gian và đang 
		nằm nghỉ khiêm tốn hiền lành trong máng cỏ giữa hai con vật như các 
		thánh đã tiên tri. Theo lời Đức Hiền Mẫu Maria, tổng lãnh thiên thần 
		Micae nhân danh Mẹ đặc biệt thông báo tin mừng cho hai thánh ngoại tổ 
		Joakim và Anna. Tổng lãnh thiên thần Micae chúc mừng hai thánh tổ rằng 
		Ái Nữ của các ngài lúc này đang bồng ẵm Đấng muôn dân trông đợi và đã 
		được các thánh Tiên Tri loan báo (Is.7:14,9:7,v.v.). Đây là ngày hết sức 
		hân hoan vui mừng, ngày toàn thể các người công chính và các thánh được 
		hưởng trong suốt cuộc lưu đầy lâu đời.<br>
		Một trong các thiên thần được Mẹ Maria gởi tới báo tin cho bà Elisabeth 
		và hài nhi Gioan (Tẩy Giả). Khi được tin Chúa Cứu Thế giáng sinh, bà 
		Elisabeth và hài nhi Gioan, mặc dầu hài nhi Gioan lúc này mới được sáu 
		tháng tuổi đời, đã phủ phục thờ lạy Thiên Chúa làm người trong tinh thần 
		và chân lý (Gioan. 4:23). Hài nhi Gioan đã được hiến dâng làm Tiền Hô 
		cho Chúa Cứu Thế, được canh tân trong lòng một tinh thần nồng cháy hơn 
		tinh thần sốt sắng của tiên tri Elias. Bà Elisabeth xin Mẹ Maria nhân 
		danh hai mẹ con bà thờ lạy Chúa Hài Đồng.<br>
		Trong số những người được đặc biệt chúc phúc là các mục tử ở miền lân 
		cận thức đêm canh giữ bầy chiên khi Chúa Cứu Thế giáng sinh (Lc 2:8). 
		Những người này được chúc phúc vì họ chấp nhận thân phận vất vả khổ cực 
		vâng theo thánh ý Thiên Chúa, sống nghèo nàn khiêm nhượng, bị người đời 
		khinh chê. Các mục tử này thuộc hàng ngũ những người Do Thái có lòng 
		chân thành ngay thẳng, hằng tha thiết hy vọng trông chờ Chúa Cứu Thế 
		đến. Những người này đã nên giống như Đấng tạo thành sự sống vì được làm 
		cho xa cách của cải phù vân hào nhoáng trần gian, tránh xa mưu mô ác độc 
		của nó (Gioan 10:14). Trong mọi hoàn cảnh, các mục tử cho thấy họ sẵn 
		sàng thi hành nhiệm vụ, mà Mục Tử Tốt Lành tới để hoàn thành việc biết 
		các chiên của Ngài và chúng biết Ngài. Vì thế họ xứng đáng được Chúa Cứu 
		Thế mời gọi như hoa trái đầu mùa trong số các thánh, là những người đầu 
		tiên Ngôi Lời Hằng Hữu Nhập Thể tỏ mình cho và muốn được những người này 
		chúc tụng, phụng thờ. Tổng lãnh thiên thần Gabriel được phái đến với các 
		mục tử đang canh giữ đàn chiên. <br>
		Các mục tử ngỡ ngàng sợ hãi khi bất thình lình được bao phủ trong hào 
		quang thiên đàng từ thiên thần Gabriel tỏa ra. Tổng lãnh thiên thần trấn 
		an họ: “Hỡi những người ngay lành, đừng sợ, tôi báo cho các người tin 
		vui mừng vĩ đại: hôm nay Đức Kitô Chúa Cứu Thế đã giáng sinh cho các 
		người trong thành David. Để làm dấu chỉ sự thực này, tôi cho các người 
		biết: các người sẽ thấy một Hài Nhi bọc trong khăn và nằm trong máng cỏ” 
		(Lc 2:10,12). Khi tổng lãnh thiên thần Gabriel dứt lời, muôn vàn thiên 
		thần hiện ra, du dương hát ca chúc tụng Đấng Tối Cao: “Vinh Danh Thiên 
		Chúa trên các tầng trời và bình an dưới thế cho người thiện tâm.” Hát 
		xong lời quá sức lạ lùng đối với trần gian này, các thiên thần biến đi. 
		Tất cả các việc này xảy ra lúc canh tư đêm đó. Nhờ nhìn thấy các thiên 
		thần, các mục tử khiêm tốn nhưng tốt phúc được ơn soi sáng đã khao khát 
		chứng kiến tường tận mầu nhiệm cao cả vô cùng vừa mới được cho biết.<br>
		Trao đổi với nhau những ý nghĩ đầy hứng khởi do lời Thiên Sứ, các mục tử 
		quyết định lập tức đi Bethlehem chứng kiến điều kỳ lạ được thiên thần 
		báo tin. Vào trong hang đá, các mục tử thấy Đức Maria, thánh Giuse, và 
		Chúa Hài Đồng nằm trong máng cỏ. Nhìn thấy cảnh này, họ nhận biết sự 
		thực những lời đã được nghe về Chúa Hài Đồng. Khi các mục tử nhìn Chúa, 
		Chúa cũng nhìn họ, toả ra từ gương mặt Chúa hào quang vĩ đại làm cho 
		trái tim chân thành của những người nghèo khó nhưng hạnh phúc này tan 
		biến trong yêu thương. Ơn Chúa đã thay đổi, canh tân những người này, 
		tạo dựng trong họ tinh thần ân sủng thánh thiện mới, ban cho họ sự hiểu 
		biết đáng tôn vinh về mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể và Ơn Cứu Độ cho nhân 
		loại.<br>
		Các mục tử phủ phục thờ lạy Ngôi Lời Thiên Chúa làm người. Không còn dốt 
		nát quê mùa, nhưng là những người khôn ngoan, họ thờ lạy, nhận biết, tôn 
		vinh Chúa là Thiên Chúa thực và người thực, Đấng khôi phục và cứu chuộc 
		loài người. Đức Nữ Vương thiên đàng, Thánh Mẫu của Chúa Hài Đồng, ghi 
		nhận tất cả mọi việc các mục tử làm trong lòng và bề ngoài; vì Mẹ nhìn 
		rõ tận đáy trái tim họ. Bằng sự khôn ngoan cẩn thận cao cả nhất, Đức 
		Maria ghi nhớ trong lòng mọi việc xảy ra, suy gẫm (Lc 2:19), đối chiếu 
		các mầu nhiệm tích chứa trong những việc đó với các lời tiên tri và Sách 
		Thánh. Là thừa tác của Chúa Thánh Thần và đại diện Chúa Hài Đồng, Mẹ 
		Maria nói với các mục tử, chỉ dẫn, khuyến khích họ kiên trì yêu mến 
		phụng sự Đấng Tối Cao. Các mục tử cũng nói với Mẹ về phần họ; những lời 
		đối đáp cho thấy họ hiểu nhiều điều về các mầu nhiệm này. Các mục tử ở 
		lại hang đá từ rạng đông cho tới trưa mới ra về, được đầy thánh sủng và 
		an ủi từ thiên đàng.<br>
		Khi lần đầu tiên đặt Chúa Hài Đồng trong tay thánh Giuse, Đức Mẹ nói: 
		“Thưa phu quân và người giúp đỡ thiếp, trong vòng tay người xin hãy nhận 
		lấy Đấng tạo thành trời đất, hãy vui hưởng sự đồng bạn hiền hoà dịu dàng 
		của Chúa, để Chúa và Thiên Chúa của thiếp được hoan hỉ và đền đáp những 
		phụng sự trung tín của phu quân (Cn 8:31). Xin phu quân hãy giữ lấy cho 
		mình Kho Tàng của Thiên Chúa Cha hằng hữu, thông phần trong đại hồng ân 
		này dành cho nhân loại.” Mẹ nói thầm với Chúa Hài Đồng: “Tình yêu vô 
		cùng ngọt ngào của linh hồn mẹ và ánh sáng mắt mẹ, Con hãy nằm nghỉ 
		trong tay Giuse, bạn và phu quân của mẹ. Mẹ xin Con hiệp thông ngọt ngào 
		với ngài, mẹ xin Con tha thứ cho sự thiếu sót của mẹ. Mẹ cảm thấy mất 
		mát rất nhiều cho dù chỉ trong chốc lát, nhưng mẹ ước ao truyền thông 
		không chút ganh tị những ơn lành Mẹ được cho tất cả những ai xứng đáng” 
		(Kn 7:13). Thánh Giuse hạnh phúc ý thức hồng ân mới này, hạ mình tới 
		đất, đáp lời: “Thưa Đức Nữ Vương thế giới, hiền thê của tôi, tôi là kẻ 
		bất xứng, có thể nào dám bồng ẵm chính Thiên Chúa, mà trước mắt Ngài mọi 
		cột trời run rẩy dao động? (Giób 26:11). Làm sao con trùng hèn hạ này có 
		cam đảm dám nhận đặc ân cao cả như thế? Tôi bất quá chỉ là tro bụi, 
		nhưng thưa Đức Nữ Vương, xin Người giúp đỡ trong sự hèn hạ của tôi và 
		xin Chúa nhân từ đoái nhìn và làm cho tôi nên xứng đáng nhờ hồng ân của 
		Người.”<br>
		Khao khát được ẵm Chúa Hài Đồng và lòng kính sợ Chúa gây ra trong thánh 
		Giuse các hành động yêu mến, tín trung, khiêm nhượng, anh hùng, kính 
		trọng thẳm sâu nhất. Run rẩy với lòng kính úy sâu xa và trong hoan lệ, 
		thánh Giuse quì gối đón Chúa Hài Đồng từ tay Đức Hiền Mẫu Maria. Chúa 
		Hài Đồng trìu mến nhìn thánh Giuse đồng thời canh tân linh hồn ngài bằng 
		những hồng ân hết sức cao cả. Thánh Giuse dâng lên những lời chúc tụng 
		mới khi thấy mình được ban cho hạnh phúc vĩ đại như thế. Sau khi thánh 
		Giuse đã sung sướng ẵm Chúa Hài Đồng, Đấng chứa đựng cả trời đất (Is. 
		40:12) một lúc, ngài đặt Chúa trở lại vòng tay Hiền Mẫu hạnh phúc Maria. 
		Đức Hiền Mẫu và thánh dưỡng phụ quì khi nhận và trao Chúa cho nhau. Mỗi 
		khi tới phiên được hạnh phúc bồng ẵm Chúa, thánh Giuse bắt chước lòng 
		cung kính mà Mẹ Maria thực hành mỗi khi ẵm Chúa Hài Đồng lên hoặc đặt 
		Chúa nằm xuống.<br>
		Từ giây phút được chọn làm Mẹ Ngôi Lời Thiên Chúa, Đức Trinh Nữ luôn suy 
		gẫm những vất vả khổ cực dành sẵn cho Con cực châu báu. Vì thấu triệt 
		Sách Thánh, Mẹ Maria hiểu mọi mầu nhiệm về Ơn Cứu Chuộc và cuộc sống 
		trần gian của Chúa Cứu Thế. Mẹ thấy trước và chuẩn bị cho những gì Con 
		cực thánh sẽ phải chịu để cứu chuộc nhân loại. Sự đau khổ thấy trước mọi 
		chi tiết cặn kẽ là cuộc tử đạo triền miên đối với Đức Từ Mẫu hiền lành 
		nhất của Chiên Thiên Chúa hy sinh (Jer 11:19). Đức Maria không nhận được 
		lệnh truyền hoặc chỉ dạy về thánh ý Thiên Chúa Cha đối với Nghi Lễ Cắt 
		Bì, nghi lễ này phải được thi hành tám ngày sau khi Chúa Hài Đồng giáng 
		sinh. Mẹ Maria nghĩ rằng Con cực thánh Mẹ đến trần gian để tôn vinh và 
		xác nhận Lề Luật Chúa bằng việc chu toàn Lề Luật; hơn nữa Chúa đến để 
		chịu đau khổ vì nhân loại, hẳn lòng yêu thương bừng bừng và những lý do 
		khác thúc đẩy Chúa chịu các đau đớn do nghi lễ này.<br>
		Tình mẫu tử và lòng trắc ẩn của Mẹ Maria hẳn ước mong chước giảm cho 
		Chúa Hài Đồng khỏi phải chịu sự đau đớn cắt bì. Mẹ biết nghi lễ cắt bì 
		được thiết lập để thanh tẩy các trẻ sơ sinh khỏi tội nguyên tổ; trái lại 
		Chúa Hài Đồng hoàn toàn không vương tội này. Lưỡng lự giữa tình yêu Con 
		cực thánh và sự vâng phục thánh ý Thiên Chúa Cha, Đức Trinh Mẫu cực khôn 
		ngoan đã thi hành nhiều hành động nhân đức anh hùng, làm hài lòng Thiên 
		Chúa. Mặc dầu Mẹ Maria có thể thoát khỏi sự phân vân này bằng cách xin 
		Chúa cho biết phải làm gì; nhưng vì khiêm nhượng và khôn ngoan, Mẹ dằn 
		lòng; Mẹ cũng không hỏi các thiên thần. Mẹ chờ thời gian thuận tiện và 
		cơ hội do Chúa Quan Phòng mọi sự; Mẹ không dám tò mò tìm hiểu quyết định 
		của Thiên Chúa bằng cách tham khảo các nguồn tin siêu nhiên, dù đặc biệt 
		là để tránh khỏi bất cứ sự đau buồn nào.<br>
		Khi cần phải biết thánh ý Chúa về một vấn đề nghiêm trọng hoặc điều hoài 
		nghi, mà trong đó có sự nguy hiểm xúc phạm đến Thiên Chúa, hoặc điều 
		hiểu biết cấp thiết vì ích lợi cho mọi người, trước tiên Mẹ Maria xin 
		được phép dâng lên lời cầu khẩn xin ơn soi sáng làm đẹp lòng Chúa. Sau 
		khi cầu nguyện, Mẹ Maria yêu cầu thánh Giuse xúc tiến mọi thứ cần thiết 
		cho nghi lễ cắt bì Chúa Hài Đồng. Mẹ nói thời gian theo luật cắt bì cho 
		Chúa Hài Đồng đã tới và vì không nhận được lệnh nào trái lại, thì chắc 
		là cần phải thi hành đúng luật đó. Mẹ Maria nói chính Mẹ và thánh Giuse 
		có nhiệm vụ phải làm vui lòng Thiên Chúa hơn hết mọi người, mau mắn vâng 
		theo thánh ý, nhiệt thành trong tình yêu mến săn sóc Con cực thánh của 
		Thiên Chúa Cha hơn mọi thụ tạo khác, đền đáp những hồng ân khôn sánh và 
		chu toàn mọi điều làm vui lòng Chúa. Thánh Giuse đáp lời Mẹ Maria: “Vì 
		không có lệnh nào trái lại được ban cho chúng ta về Chúa Hài Đồng, Chúa 
		muốn giữ mọi điều đúng như trong luật chung. Là Thiên Chúa, Ngôi Lời 
		nhập thể không lệ thuộc lề luật, nhưng lúc này Chúa mặc lấy bản tính 
		loài người, vì là Thầy cực trọn lành và là Chúa Cứu Thế, rõ ràng Chúa 
		muốn giữ đúng luật đó như mọi người khác.” Kế đó thánh Giuse hỏi Mẹ 
		Maria về cách tiến hành Nghi Lễ Cắt Bì.<br>
		Mẹ Maria nói với thánh Giuse rằng nghi lễ cắt bì sẽ được thi hành cách 
		đích thực cùng một thể thức như cho các trẻ sơ sinh khác, nhưng Mẹ không 
		trao hoặc ủy thác cho bất cứ người nào khác mà chính Mẹ sẽ ẵm Chúa Hài 
		Đồng. Vì sự yếu ớt non ngày của Chúa Hài Đồng hẳn nghi lễ này làm cho 
		Chúa đau đớn, nên cần có sẵn thuốc chống đau, thứ thuốc vẫn được dùng 
		vào dịp nghi lễ cắt bì. Mẹ Maria cũng xin thánh Giuse chuẩn bị sẵn bình 
		để trữ các thánh tích trong nghi lễ cắt bì Chúa Hài Đồng. Đức Hiền Mẫu 
		cẩn thận chuẩn bị một ít khăn vải để thấm máu thánh, dịp này đổ ra lần 
		đầu tiên vì nhân loại, để không một giọt máu thánh nào bị mất đi hoặc 
		rơi xuống đất. Sau các chuẩn bị, Mẹ Maria xin thánh Giuse thông báo cho 
		vị tư tế, yêu cầu ngài tới cử hành nghi lễ ngay tại hang đá, mà không 
		cần phải đưa Chúa Hài Đồng đi nơi khác.<br>
		Đức Hiền Mẫu Maria và thánh Giuse trao đổi về thánh danh đặt cho Chúa 
		Hài Đồng trong Nghi Lễ Cắt Bì. Thánh phu quân nói:<br>
		<br>
		“Thưa bà chủ, khi thiên thần Đấng Tối Cao cho tôi biết mầu nhiệm vĩ đại 
		này, ngài cũng cho tôi biết Con cực thánh của hiền thê phải được đặt tên 
		là GIÊSU” (Mt 1: 18-21) Đức Trinh Mẫu Maria đáp: “Cũng thánh danh này 
		được tiết lộ cho thiếp khi Ngôi Lời mặc thân xác trong dạ thiếp. Vì thế 
		chúng ta nhận được thánh danh này từ nơi Đấng Tối Cao qua miệng các 
		thiên thần, các thừa tác của Chúa. Thật là chính đáng, chúng ta với lòng 
		khiêm nhượng tôn kính thi hành đúng những phân định huyền nhiệm khôn 
		ngoan vô cùng của Chúa, vì thế chúng ta đặt Tên cho Con Trẻ là GIÊSU. 
		Chúng ta sẽ đưa thánh danh này cho vị tư tế ghi vào sổ các trẻ được cắt 
		bì” (Lc 1:31).<br>
		Trong khi Mẹ Maria và thánh Giuse trao đổi những lời này, muôn vàn thiên 
		thần mang hình người ta từ thiên đàng đến hang đá Bethlehem. Các thiên 
		thần cầm lá thiên tuế, đội triều thiên tỏa ánh sáng chói chang, có huy 
		hiệu thánh danh GIÊSU trước ngực. Các ngài chia làm hai ca đoàn ở trong 
		hang đá, mắt không rời Vua và Chúa của mình trên cánh tay Đức Trinh Mẫu 
		Maria. Thủ lãnh các đạo binh thiên quốc là hai tổng lãnh thiên thần 
		Micae và Gabriel, rực rỡ hơn tất cả, mang nơi tay các ngài huy hiệu đặc 
		biệt: tên cực thánh Chúa GIÊSU, viết bằng đại tự vô cùng rực rỡ.<br>
		Hai tổng lãnh thiên thần đến trình diện Đức Hiền Mẫu: “Thưa Nữ Vương, 
		đây là thánh danh Con của Người (Mt. 1:21). Thánh danh này đã được viết 
		trong trí Thiên Chúa từ thuở đời đời, Thiên Chúa ban cho Con Một của Nữ 
		Vương và là Chúa của chúng thần để là dấu báo Ơn Cứu Độ cho toàn thể 
		nhân loại; đồng thời đặt Con của Nữ Vương trên ngai tòa David. Ngài sẽ 
		thống trị, chiến thắng và trừng phạt các kẻ thù, làm cho chúng trở thành 
		bệ dưới chân và Ngài sẽ phán xét chúng. Chúa sẽ nâng các bạn hữu của 
		Ngài lên vinh quang. Tuy nhiên mọi việc này phải thực hiện bằng giá khổ 
		đau và máu. Ngay từ bây giờ Ngài phải đổ máu ra khi nhận thánh danh, 
		thánh danh Đấng Cứu Thế. Việc đổ máu này sẽ là khởi đầu những đau khổ 
		Chúa Cứu Thế phải chịu vì vâng theo thánh ý Thiên Chúa Cha hằng hữu. Tất 
		cả chúng thần, được tạo dựng để yêu mến tôn thờ và phụng sự Đấng Tối 
		Cao, được Thiên Chúa chỉ định phái đi phụng sự Con Một Thiên Chúa Cha và 
		của Nữ Vương trong mọi mầu nhiệm bí tích thuộc Luật Ân Sủng. Chúng thần 
		theo hầu hạ Chúa Cứu Thế cho tới khi Ngài vinh hiển ngự lên thành 
		Jerusalem trên trời và mở các cửa thiên đàng.”<br>
		Vị tư tế và hai phụ tá tới hang đá Giáng Sinh, nơi Ngôi Lời Nhập Thể, 
		nằm trong cánh tay Đức Trinh Mẫu Maria, đang chờ đợi ngài. Thoạt tiên sự 
		tầm thường nghèo nàn của nơi tạm trú đã khiến vị tư tế ngỡ ngàng và một 
		chút bối rối. Nhưng Đức Trinh Mẫu đã khiêm tốn chào đón ngài và sự cao 
		cả của Mẹ làm cho sự khó chịu của vị tư tế mau lẹ đổi ra sự tận tụy kính 
		phục. Sự bình tĩnh, vẻ uy nghiêm cao quí nhất mực của Mẹ Maria làm cho 
		tư tế xúc động kính trọng đối với nhân cách phi thường như thế mặc dù 
		không biết nguyên do. Khi nhìn gương mặt Mẹ Maria và gương mặt Chúa Hài 
		Đồng trong cánh tay Mẹ, vị tư tế được lòng sốt mến mẫn cảm lạ lùng. Lập 
		tức ông tiến hành nhiệm vụ cắt bì Chúa Hài Đồng, Thiên Chúa thật và 
		người thật. Cùng lúc đó Con Thiên Chúa, với lòng yêu mến khôn lường, đã 
		dâng lên Thiên Chúa Cha hằng hữu ba hy lễ vô giá mà mỗi hy lễ đó đủ để 
		cứu chuộc cả ngàn thế giới, nếu như có ngàn thế giới khác.<br>
		Hy lễ thứ nhất là chính Ngôi Lời, vô tội và là Con Thiên Chúa thật, mặc 
		lấy thân phận kẻ tội lỗi (Philip 2:7) bằng việc tự mình khuất phục đối 
		với nghi lễ được đặt ra để làm thuốc chữa tội nguyên tổ, tuân theo các 
		luật lệ không ràng buộc Chúa (2 Cor. 5:21). Hy lễ thứ hai là việc Ngôi 
		Lời Thiên Chúa sẵn lòng chịu đau đớn do nghi lễ cắt bì, mà Chúa cảm thấy 
		là con người đích thực và hoàn toàn. Hy lễ thứ ba là lòng yêu mến nồng 
		nàn do đó Chúa Hài Đồng đổ máu ra vì loài người, tạ ân Thiên Chúa Cha đã 
		cho Ngài bản tính nhân loại có thể chịu đau khổ để chúc tụng vinh danh 
		Thiên Chúa Cha. Thiên Chúa Cha chấp nhận hy lễ nguyện cầu này của CHÚA 
		GIÊSU. Ngôi Lời nhập thể đã dâng ba trái đầu mùa này của máu thánh Chúa 
		như lời hứa sẽ dâng hết đến giọt cuối cùng để hoàn thành Công Cuộc Cứu 
		Chuộc, xóa sạch nợ cho con cháu Adong. Đức Hiền Mẫu Maria rất thánh nhìn 
		thấy tất cả mọi việc làm và chuyển động bề trong của Con Một cực thánh. 
		Mẹ Maria thấu triệt mầu nhiệm trong hành động của Chúa Hài Đồng; Mẹ kết 
		hợp với Con và Chúa của Mẹ trong mọi việc Chúa đang làm và đau đớn Chúa 
		chịu.<br>
		Đúng với bản chất loài người của mình, Chúa Hài Đồng đã khóc chảy nước 
		mắt như các trẻ sơ sinh khác. Mặc dầu lưỡi dao bằng toại thạch cùn nhụt 
		làm cho thân xác Chúa Hài Đồng rất đau đớn, nước mắt Chúa trào ra do cái 
		đau cảm giác không nhiều bằng bởi sự buồn phiền siêu nhiên vì trái tim 
		chai đá của loài người. Đức Hiền Mẫu Maria cũng khóc, như một con chiên 
		trong sạch, cất tiếng lên hợp với Con Chiên vôi tội. Trong tình yêu trắc 
		ẩn hỗ tương Chúa Hài Đồng níu lấy Mẹ, trong khi Mẹ Maria âu yếm nhẹ 
		nhàng ấp ủ Chúa vào ngực trinh khiết, thâu các thánh tích và máu thánh 
		rơi xuống chiếc khăn.<br>
		Trong khi đó vị tư tế hỏi Hai Đấng Cha Mẹ muốn đặt tên gì cho Chúa Hài 
		Đồng. Vì luôn quan tâm đến danh dự của đức phu quân, Mẹ Maria đã xin 
		thánh Giuse nói thánh danh Chúa ra. Thánh Giuse quay sang Mẹ Maria cùng 
		một cách kính trọng như vậy để Mẹ hiểu rằng ngài nghĩ thánh danh Chúa 
		phải được Mẹ nói ra trước tiên thì thích đáng hơn. Nhưng do thánh ý Chúa 
		can thiệp, cả Mẹ Maria và thánh Giuse cùng nói lên một lượt: “GIÊSU là 
		thánh danh của Con Trẻ.” Vị tư tế nói: “Cả cha và mẹ đều đồng tâm đồng 
		trí, Tên mà hai người đặt cho Con Trẻ thật là vĩ đại.” Vị tư tế khắc 
		thánh danh GIÊSU vào tấm bảng hoặc sổ ghi danh các trẻ chịu phép cắt bì. 
		Đang khi viết thánh danh GIÊSU, vị tư tế xúc động khiến nước mắt tuôn 
		rơi tầm tã. Bỡ ngỡ vì những gì cảm thấy mà không giải thích được, vị tư 
		tế nói: “Tôi tin chắc Con Trẻ này sẽ là một Đại Tiên Tri của Chúa. Hãy 
		cẩn thận nuôi nấng Con Trẻ, và cho tôi biết tôi có thể làm gì để làm nhẹ 
		bớt nhu cầu của qúi vị.” Mẹ Maria và thánh Giuse đáp lời vị tư tế với 
		lòng khiêm nhượng biết ơn và tiễn vị tư tế ra về sau khi đã tặng quà gồm 
		nến và những vật khác.<br>
		Mẹ Maria đắp vào các vết thương cắt bì những thứ thuốc thường dùng trong 
		dịp này cho các trẻ sơ sinh. Hẳn là suốt thời gian Chúa Hài Đồng còn đau 
		đớn và vết thương chưa lành, Mẹ Maria không rời Chúa một lúc nào. Tình 
		yêu nồng nàn của Mẹ Maria vượt qua mọi hiểu biết của loài người vì tình 
		yêu tự nhiên của Mẹ vốn vĩ đại hơn tình yêu của bất cứ bà mẹ nào trên 
		trần gian; tình yêu siêu nhiên của Mẹ vượt hơn tình yêu của tất cả mọi 
		thần thánh hợp lại. Lòng Mẹ Maria tôn kính thờ lạy Chúa không một thụ 
		tạo nào khác có thể so sánh. Đây là những điều làm cho Ngôi Lời Nhập Thể 
		hoan hỉ (Kn 8:31), mà Chúa ước ao và trông chờ nơi con cái loài người. 
		Đây là phần thưởng, mà trái tim đầy yêu thương của Chúa rút từ sự thánh 
		hóa vượt bực của Đức Trinh Mẫu Maria bù lại những đau buồn vì cách cư xử 
		tệ bạc con cái loài người gây ra.<br>
		LỜI MẸ MARIA<br>
		<br>
		Con của Mẹ, Mẹ ước muốn con suy xét cẩn thận đặc ân biết về sự săn sóc, 
		quan tâm lo lắng Mẹ đã dành rất rộng rãi cho Con cực thánh hiền dịu nhất 
		của Mẹ trong các mầu nhiệm vừa mới được kể. Đấng Tối Cao ban cho con ánh 
		sáng đặc biệt hiểu biết các mầu nhiệm này không phải để con được thỏa 
		mãn, nhưng để con bắt chước Mẹ trong mọi sự như một nữ tì trung thành, 
		để con dâng lời cảm tạ về các kỳ công của Chúa theo cùng mức độ như con 
		được làm cho hiểu biết đầy đủ hơn. Con yêu quí, con hãy suy nghĩ về sự 
		đền đáp ít ỏi loài người đáp lại tình yêu của Chúa Con Mẹ, người ta vong 
		ân bội nghĩa chừng nào cho dù Chúa vẫn trung thành. Con phải coi đó là 
		nhiệm vụ, với hết khả năng hạn hẹp của con, dâng lên an ủi để đền bù sự 
		xúc phạm nặng nề này. Con hãy tận lực tận sức yêu mến, tạ ân, phụng sự 
		Chúa, để đền thay tất cả những kẻ không yêu mến, không tạ ân, không 
		phụng sự Chúa. Vì thế con phải là một thiên thần sốt mến, nồng nàn và 
		sẵn sàng trong mọi trường hợp. Con phải chết đi đối với mọi thứ ở đời, 
		loại bỏ, chà đạp mọi khuynh hướng loài người và với đôi cánh tình yêu 
		bay lên tới đỉnh cao yêu thương mà Thiên Chúa muốn cho con.<br>
		Con biết rõ những hiệu quả ngọt ngào tích chứa trong việc ghi nhớ mọi 
		điều Con chí thánh Mẹ đã làm. Con có thể lợi dụng ánh sáng được ban cho 
		con để biết ơn, để có thể lo sợ vì sự nguy hiểm của tội quên ơn. Mẹ đặc 
		biệt cho con biết các thánh trên trời, nhờ ơn Chúa cho hiểu các mầu 
		nhiệm này, đều ngạc nhiên đối với chính các ngài vì đã không chú ý nhiều 
		hơn tới những điều đó khi còn sống ở trần gian. Nếu các thánh còn có thể 
		chịu được đau đớn, hẳn các ngài hết sức buồn phiền vì sự chậm trễ cẩu 
		thả đã không đánh giá đúng mức những việc phải làm để được Ơn Cứu Độ, đã 
		không bắt chước Chúa Kitô. Do ơn hiểu biết thần linh, toàn thể các thần 
		thánh ngỡ ngàng vì sự ác độc của trái tim loài người đối với chính họ và 
		chống lại Chúa Kitô Đấng cứu độ họ. Loài người không có lòng thương xót 
		đối với các đau khổ của Chúa, cũng không có lòng xót thương đối với 
		những đau khổ chính họ phải chịu. Khi những kẻ biết trước bị luận phạt, 
		trong nỗi đắng cay bất tận, nhìn nhận sự vong ân bội bạc kinh khủng và 
		sự hững hờ đối với các việc làm của Chúa Kitô, sự bối rối tuyệt vọng sẽ 
		là hình phạt không chịu nổi, chỉ một điều đó thôi đã là hình phạt không 
		thể tưởng tượng; vì khi đó họ sẽ thấy sự cao cả của Ơn Cứu Chuộc mà họ 
		khinh thường (Tv 44:11).<br>
		Con của Mẹ, hãy nghe Mẹ, lắng nghe các lời khuyên và học thuyết sự sống 
		đời đời. Con hãy xua đuổi khỏi tâm trí con mọi hình ảnh và lòng quyến 
		luyến đối với loài người, hướng mọi khả năng trái tim, linh hồn con về 
		các mầu nhiệm và hồng ân Ơn Cứu Độ. Con hãy chỉ để tâm trí con bận bịu 
		cân nhắc giá trị, tạ ân vì các mầu nhiệm và hồng ân Ơn Cứu Độ như thể 
		chỉ một mình con hiện hữu, như thể những mầu nhiệm, các hồng ân đó chỉ 
		được thực hiện cho một mình con (Gal 2:20). Như vậy con sẽ tìm thấy cuộc 
		sống, cách sống, tiến hành như thế để con không lầm lẫn; nhưng con sẽ 
		tìm thấy ở đó ánh sáng cho mắt con và bình an đích thực.</span></p>
		<p style="margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 12pt; margin-bottom: 0" align="center">
		<span style="font-family: Arial,sans-serif; color: #333333; font-weight: 700">
		<br>
		<a name="CHƯƠNG_6">CHƯƠNG 6</a></span></p>
		<p style="margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 12pt; margin-bottom: 0">
		<span style="font-family: Arial,sans-serif; color: #333333"><b>BA VUA 
		THỜ LẠY CHÚA HÀI ĐỒNG<br>
		</b><br>
		Ba Vua, những người tìm đến thờ lạy Hài Nhi Thiên Chúa, là người Ba Tư, 
		Ả Rập và Sabba (Tv 71:10), ba quốc gia phía đông nước Palestine. Việc ba 
		vua tới thờ lạy Chúa Giáng Sinh đã được vua David đặc biệt tiên báo, và 
		trước đó do Balaam, ông này được Balaac, vua nước Moab, mướn để nguyền 
		rủa dân Do Thái, nhưng Balaam đã chúc lành thay vì nguyền rủa (Ds 
		24:17). Trong lời chúc lành này, Balaam nói ông sẽ gặp Đức Kitô Vua, mặc 
		dầu không phải trong đời ông. Balaam không nhìn thấy Chúa bằng chính mắt 
		ông, nhưng qua mắt ba vua, những người là miêu duệ ông nhiều thế hệ sau. 
		Balaam cũng nói một ngôi sao sẽ mọc lên cho nhà Jacob, ngôi sao đó là 
		Đức Kitô, Đấng lên thống trị nhà Jacob đến muôn muôn đời (Lc. 1:32).<br>
		Ngay khi từ Bethlehem đưa tin cho ba vua, các thiên thần cũng tạo ra 
		trên không trung một ngôi sao sáng chói để dẫn đường những người thánh 
		thiện này tới hang đá, nơi Chúa Hài Đồng chờ đợi các ông. Khi rời khỏi 
		cung điện, mỗi vị đều nhìn thấy ngôi sao mới (Mt. 2:2) mặc dầu mỗi người 
		từ địa phương khác nhau. Ngôi sao này được đặt trên độ cao thích hợp để 
		cả ba vị có thể nhìn thấy cùng một lúc. Được ngôi sao lạ dẫn đường, các 
		ngài đã sớm gặp nhau. Khi ba vua gặp nhau, ngôi sao lập tức xuống sát 
		gần, tỏa ánh sáng rực rỡ làm cho các ngài hoan hỉ. Ba vua trao đổi về 
		mạc khải riêng mỗi người nhận được và thấy các ngài có chung một mục 
		đích. Các ngài được thêm lòng tận hiến, khao khát sốt sắng thờ lạy Thiên 
		Chúa mới giáng sinh, dâng lời chúc tụng ca ngợi các kỳ công và mầu nhiệm 
		của Đấng Toàn Năng.<br>
		Chúa Hài Đồng trên tay Đức Hiền Mẫu thiên đàng đón nhận ba vua sốt mến 
		và tận hiến. Giữa những khiêm tốn khó nghèo nơi hang đá, trong vẻ khiêm 
		nhu nhưng diễm kiều khôn sánh, Mẹ Maria cùng lúc đó biểu lộ vẻ uy nghi 
		cao cả, ánh sáng thiên đàng rực sáng trên mặt Mẹ. Ánh sáng nơi Chúa Hài 
		Đồng còn rực rỡ hơn nữa, tỏa ra khắp hang đá ánh sáng huy hoàng chói 
		chang làm cho hang đá trở nên giống như thiên cung. Ba vua Phương Đông 
		đi vào hang đá, thoạt thấy Chúa Hài Đồng và Đức Hiền Mẫu, lập tức họ bị 
		sự ngỡ ngàng lạ lùng tràn ngập. Ba vua quì phục trên đất, tôn kính thờ 
		lạy Chúa Hài Đồng, nhận Ngài là Thiên Chúa thực và người thực, là Đấng 
		Cứu Độ nhân loại. Quyền năng Thiên Chúa tác động linh hồn ba vua khi các 
		ông nhìn thấy Chúa. Ba vua thấy muôn vàn thiên thần phục vụ Vua trên hết 
		các vua, Chúa trên hết các chúa, với lòng tôn kính như những tôi tớ và 
		thừa tác viên. Chỗi dậy, ba vua chúc tụng Mẹ Maria, Đức Hiền Mẫu của Con 
		Thiên Chúa Cha hằng hữu, các ông tới quì trước mặt Mẹ Maria để kính chào 
		Mẹ. Ba vua tìm hôn tay Mẹ theo tập quán nước các ông đối với các hoàng 
		hậu hoặc nữ vương. Đức Hiền Mẫu Maria đã rút tay lại và, để thay vào đó, 
		Người đưa tay Chúa Cứu Thế ra và nói: “Thần trí tôi reo mừng trong Chúa, 
		linh hồn tôi chúc tụng và tôn vinh Ngài; vì giữa muôn dân Chúa đã gọi và 
		chọn quí vị cho ngưỡng vọng cùng nhìn thấy điều mà nhiều vua chúa và các 
		tiên tri đã khao khát nhưng không được thấy, đó là Ngôi Lời Thiên Chúa 
		nhập thể (Lc. 10:24). Chúng ta hãy tôn vinh chúc tụng Danh Ngài vì các 
		bí tích và mầu nhiệm được thi hành giữa dân Ngài; chúng ta hãy hôn đất 
		được thánh hoá do sự hiện diện đích thực của Ngài.”<br>
		Theo những lời này của Đức Maria rất thánh, ba vua phủ phục thờ lạy Chúa 
		Hài Đồng Giêsu, cảm tạ hồng ân vĩ đại được sống trong thời gian khi Mặt 
		Trời Công Chính mọc lên để soi sáng bóng đêm (Malaki 4:2). Kế đó ba vua 
		nói với thánh Giuse, chúc mừng ngài, ngợi khen hồng phúc cao cả ngài 
		được chọn làm phu quân Mẹ Thiên Chúa. Ba vua cũng bầy tỏ sự ngạc nhiên 
		cảm động vì sự nghèo nàn tột cùng, vẻ nghèo nàn đó che giấu những mầu 
		nhiệm vĩ đại nhất trên trời dưới đất. Sau ba tiếng đồng hồ triều kiến 
		thờ lạy chúc tụng, phái đoàn triều kiến xin phép Đức Hiền Mẫu Maria để 
		vào thành tìm nơi nghỉ. Có một số người tháp tùng ba vua, nhưng chỉ có 
		ba vua được ơn soi sáng và ân sủng từ cuộc thăm viếng này. Những người 
		khác chỉ nhìn thấy những gì bên ngoài, chỉ thấy hoàn cảnh thiếu thốn, bị 
		bỏ rơi của Đức Hiền Mẫu và phu quân. Mặc dầu bỡ ngỡ vì biến cố lạ lùng, 
		những người đó không thấy gì về mầu nhiệm này. Ba vua chào tạm biệt ra 
		đi, trong khi Mẹ Maria và thánh Giuse, lại được ở một mình với Chúa Hài 
		Đồng, đã vinh danh Đấng Chí Tôn bằng những lời chúc tụng mới, vì thánh 
		danh Chúa bắt đầu được các Dân Ngoại nhận biết thờ lạy (Tv 85:9).<br>
		Từ hang đá Giáng Sinh, ba vua tới một chỗ tạm trú trong thành Bethlehem. 
		Các ngài dành phần lớn đêm đó nói về những điều đã chứng kiến, những cảm 
		tưởng, lòng yêu mến trào lên trong mỗi vị, những điều riêng từng vị nhận 
		thấy nơi Chúa Hài Đồng và Đức Hiền Mẫu. Trong buổi chuyện vãn này ba vua 
		càng lúc càng được bốc cháy lửa yêu mến linh thiêng, ngỡ ngàng vì sự uy 
		nghiêm cùng vẻ đẹp thánh thiêng của Chúa Hài Đồng Giêsu. Các ngài ngạc 
		nhiên vì sự khôn ngoan, khiêm tốn, dè dặt của Đức Hiền Mẫu, thán phục sự 
		thánh thiện của thánh phu quân Giuse, ngạc nhiên vì cảnh nghèo nàn của 
		Thánh Gia. Các ông ngỡ ngàng vì vẻ khiêm nhượng của nơi Chúa trời đất đã 
		muốn được sinh ra. Ba vị vua nhiệt thành yêu mến cảm thấy ngọn lửa thánh 
		thiêng bốc cháy trong trái tim. Không kềm chế được, các ông nói lên 
		những lời cảm thán của tình yêu ngọt ngào và lòng tôn kính lớn lao: 
		“Chúng tôi cảm thấy điều gì thế này? Phải chăng chính ảnh hưởng của Vị 
		Đại Vương này làm cho chúng tôi có được những ước vọng và lòng yêu mến 
		vĩ đại như thế này sao? Sau biến cố này, chúng ta sẽ nói chuyện với 
		người ta thế nào? Chúng ta có thể làm gì, chúng ta đã được chỉ dạy những 
		mầu nhiệm mới, huyền nhiệm và cao siêu như thế này? Ôi sự cao cả vĩ đại 
		của Đấng Toàn Năng không tỏ lộ cho nhân loại mà được giấu kín dưới sự 
		khó nghèo tột cùng như thế! Ôi sự khiêm nhượng loài người không thể nào 
		hình dung! Ước chi cả nhân loại được lôi cuốn đến với sự khiêm tốn, ngõ 
		hầu loài người không bị gạt ra khỏi niềm hạnh phúc vô biên!”<br>
		Trong những đàm thoại siêu nhiên này, các vị đạo sĩ nhớ tới cảnh cơ hàn 
		thiếu thốn cùng cực của Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse nơi hang đá 
		đã quyết định lập tức dâng một ít lễ vật để tỏ lòng yêu mến và để thoả 
		lòng các ông muốn phụng sự Thánh Gia. Vì không làm được điều gì khác cho 
		Chúa Hài Đồng, Mẹ Maria và thánh Giuse, ba vua cho gia nhân dâng những 
		lễ vật các ông đã dành sẵn và những thứ khác các ông tìm được. Mẹ Maria 
		và thánh Giuse nhận những lễ vật này với lòng khiêm tốn biết ơn. Mẹ 
		Maria và thánh Giuse không phải chỉ đáp lại bằng những lời cám ơn suông, 
		mà bằng nhiều hồng ân có hiệu lực mãnh liệt an ủi tinh thần ba vua. Các 
		lễ vật này giúp Đức Nữ Vương cao cả của chúng ta chuẩn bị bữa tiệc lớn 
		đãi những người khách bình dân nghèo khó của Người. Những người thiếu 
		thốn đó thường tới thăm Mẹ Maria, được bố thí và được lôi kéo mạnh hơn 
		nữa bằng những lời ngọt ngào của Mẹ. Ba Vua chìm vào giấc ngủ với lòng 
		hoan lạc khôn sánh; và trong giấc ngủ, các thiên thần nói với các ông về 
		hành trình hồi hương (Mt 1: 9-12).<br>
		Bình minh hôm sau ba vua trở lại hang đá Giáng Sinh dâng lên Vua thiên 
		quốc những lễ vật đặc biệt. Khi tới nơi, các ngài lại phủ phục trong 
		niềm khiêm tốn thẳm sâu, mở các hộp quí châu ra, dâng lên Chúa vàng, nhũ 
		hương và mộc dược (Mt. 2:21). Ba vua xin Mẹ Maria chỉ dạy về nhiều mầu 
		nhiệm, các việc thực hành đức tin, về những vấn đề liên quan đến bổn 
		phận và cai quản đất nước. Các ngài ước nguyện trở về mà được chỉ dẫn 
		tường tận hầu có thể tiến tới sự thánh thiện trọn lành trong cuộc sống 
		hàng ngày. Mẹ Maria vui mừng khi nghe lời ba vua. Mẹ âm thầm trao đổi 
		với Chúa Hài Đồng về tất cả mọi điều ba vua hỏi, ngõ hầu trả lời, và chỉ 
		dạy cách thích đáng cho những người con này của Luật Mới. Với tư cách 
		Giáo Sư và là công cụ của sự khôn ngoan Thiên Chúa, Mẹ Maria trả lời tất 
		cả các câu hỏi, cho ba vua những giáo huấn cao quí về thánh hoá đến độ 
		ba vua khó lòng rời khỏi sự dịu dàng và sự lôi cuốn từ những lời Mẹ nói. 
		Những lời Mẹ Maria ảnh hưởng đến ba vua hết sức sâu xa vì do Chúa Thánh 
		Thần hướng dẫn và tràn đầy khôn ngoan. Một thiên thần Chúa hiện ra nhắc 
		các ông nhớ sự cần thiết của thánh ý Chúa là các ông phải trở lại quê 
		hương.<br>
		Đức Hiền Mẫu thiên đàng nhận các lễ vật của ba vua và nhân danh các ông 
		dâng các lễ vật đó lên Chúa Hài Đồng Giêsu. Chúa cho thấy những dấu chỉ 
		Chúa hài lòng nhận các lễ vật đó. Ba vua nhận thức được các ân sủng vô 
		cùng dồi dào mà Chúa trả lại gấp trăm (Mt. 19:29). Theo tập quán địa 
		phương của mình, các ông cũng dâng lên Mẹ Maria một vài viên ngọc giá 
		trị rất lớn; nhưng vì những lễ vật này không có ý nghĩa huyền nhiệm nào 
		và không chỉ về Chúa Giêsu nên Mẹ hoàn lại các lễ vật đó, chỉ giữ lại 
		các lễ vật là vàng, nhũ hương và mộc dược. Để ba vua ra đi được hoan hỉ 
		hơn nữa, Mẹ Maria cho ba Vua một số vải khăn trong đó Mẹ đã bọc Chúa Hài 
		Đồng, vì Mẹ không có những bảo vật hữu hình nào quí giá hơn. Ba vua nhận 
		các thánh kỷ vật này với hết lòng tôn kính quí trọng; các ông cho bọc 
		các thánh kỷ này trong vàng và ngọc thạch để giữ mãi mãi về sau. Để làm 
		bằng chứng giá trị của mình, các thánh kỷ vật này toả ra mùi hương lạ 
		lùng. Tuy nhiên, chỉ những người tin tưởng việc Chúa đến thế gian mới 
		được ngửi hương thơm đó. Ở trong nước của mình, ba vua đã làm nhiều phép 
		lạ nhờ những thánh kỷ này.<br>
		Ba vị thánh vương cũng hiến dâng của cải khác lên Đức Hiền Mẫu, hoặc, 
		nếu Mẹ không muốn nhận những thứ đó mà muốn ở lại nơi này hơn, nơi Con 
		cực thánh của Người đã sinh ra, các ông sẽ dựng cho Người một ngôi nhà 
		tiện nghi hơn. Mẹ Maria cám ơn ba vua vì những hiến dâng, nhưng không 
		nhận các thứ đó. Khi từ biệt Đức Hiền Mẫu, ba vua xin Mẹ đừng quên họ; 
		Mẹ hứa và hoàn thành điều đó. Các ông cũng xin thánh Giuse như thế. Với 
		chúc lành của Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse, các ngài lên đường mà 
		dường như đã để trái tim lưu lại nơi hang đá. Vì được thiên thần cho 
		biết trong đêm truớc, các ông trở về theo lộ trình khác để tránh gặp 
		Herode ở Jerusalem. Khi đoàn lữ hành ra khỏi Bethlehem, cũng ngôi sao lạ 
		đã dẫn đường tới Bethlehem lại xuất hiện dẫn các ông trở về quê hương 
		theo lộ trình khác, trở lại nơi gặp nhau lần đầu tiên, từ đó mỗi người 
		đi đường về nhà mình (Mt 1:18).<br>
		LỜI MẸ MARIA<br>
		<br>
		Con của Mẹ, các lễ vật ba vua dâng lên Con cực thánh Mẹ đều quí giá, 
		nhưng lòng yêu mến khi dâng các lễ vật và sự huyền nhiệm tiềm ẩn sau các 
		lễ vật đó còn giá trị hơn. Vì những lý do này các lễ vật đó đáng được 
		Đấng Tối Cao chấp nhận nhất. Mẹ ao ước con cũng dâng những lễ vật tương 
		tự, cảm tạ ơn Chúa vì đã làm cho con nghèo khó theo điều kiện và lời 
		khấn. Con rất yêu quí của Mẹ, Mẹ hứa chắc với con rằng không có lễ vật 
		nào đáng được Đấng Tối Cao chấp nhận hơn sự nghèo khó tự nguyện. Trong 
		thời đại chúng ta, rất ít người sử dụng cách khôn ngoan các của cải tạm 
		bợ của họ, dâng những của cải đó lên Thiên Chúa với lòng đại lượng và 
		yêu mến như ba vua thánh này. Ngày nay, bản chất nhân loại đã trở nên ác 
		độc, tham lam quá độ, chai đá trước các thiếu thốn cùng cực của người 
		khó nghèo. Chúa Ngôi Ba và các thiên thần đau lòng chứng kiến sự cao quí 
		của các linh hồn bị làm cho mất phẩm giá vì họ phục vụ lòng tham lam 
		vàng bạc của cải và mọi quyền lực ác độc của nó (Gv 10:20). Những người 
		giầu có đã tước đoạt của người nghèo, chiếm lấy mọi thứ ở đời này cho 
		riêng mình. Họ không kể gì đến những người nghèo khó là anh em của họ, 
		được sinh ra cùng một bản chất và xương thịt. Họ cũng từ chối ngay cả 
		với Thiên Chúa, Đấng tạo dựng, gìn giữ mọi sự, và có thể cho hoặc lấy 
		lại tùy ý. Điều đáng than khóc nhất là trong khi những người giàu có có 
		thể mua được cuộc sống đời đời bằng tiền bạc, họ đã lạm dụng của cải vật 
		chất, chọn lấy cho mình án phạt đời đời chẳng khác gì những thụ tạo vô 
		linh tính điên khùng (Lc. 14:9).<br>
		Điều ác độc này phổ thông nơi con cái Adong, vì thế sự khó nghèo tự 
		nguyện là y dược tuyệt hảo và an toàn. Nhờ đức thanh bần làm cho người 
		ta sẵn sàng hoan hỉ từ bỏ sản nghiệp vì người nghèo khó, đó là của lễ 
		lớn lao được dâng hiến lên Thiên Chúa. Con cũng có thể hiến dâng như thế 
		đối với những thứ cần thiết cho việc nuôi sống con, chia một phần cho 
		người nghèo khó, nếu có thể con giúp họ bằng sức lao động và mồ hôi. Tuy 
		nhiên của lễ con hiến dâng không bao giờ gián đoạn phải là tình yêu: 
		tình yêu là vàng; cầu nguyện liên tục là nhũ hương; kiên trì chấp nhận 
		những lao khổ và thực sự hãm mình là mộc dược. Con hãy dâng lên Chúa mọi 
		điều con làm với tình yêu nồng nàn sốt sắng, không chút chểnh mảng hoặc 
		sợ sệt; vì những việc làm chểnh mảng, những việc làm không được ủ men 
		tình yêu không phải là của lễ đáng chấp nhận trước mắt Đấng Tối Cao. Để 
		làm cho các việc này trở thành của lễ hiến dâng không ngừng, điều cần 
		thiết là đức tin và ơn soi sáng của Chúa luôn luôn bốc cháy trong trái 
		tim con, có trước mắt con mục tiêu vĩ đại của lời chúc tụng tôn vinh và 
		tác dụng của tình yêu mà nhờ đó con được cột chặt vào Đấng Tối Cao. Con 
		cần phải liên tục thực hành việc yêu mến ngọt ngào này. Điều này rất 
		thích hợp cho các người yêu dấu của Đấng Tối Cao; vì tên những người đó 
		ngụ ý việc liên tục trả nợ tình yêu và lòng thương mến của Ngài.</span></p>
		<p style="margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 12pt; margin-bottom: 0" align="center">
		<span style="font-family: Arial,sans-serif; color: #333333"><br>
		<b><a name="CHƯƠNG_7">CHƯƠNG 7</a></b></span></p>
		<p style="margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 12pt; margin-bottom: 0">
		<span style="font-family: Arial,sans-serif; color: #333333"><b>MẸ MARIA 
		DÂNG CHÚA HÀI ĐỒNG TRONG ĐỀN THỜ.<br>
		</b><br>
		Nhân tính cực thánh của Chúa Kitô thuộc về Thiên Chúa Cha hằng hữu không 
		những chỉ vì nhân tính đó được tạo dựng như mọi người, mà vì (nhân tính) 
		đó là sở hữu đặc biệt của Chúa do việc kết hợp nhân tính với Ngôi Lời 
		Thiên Chúa, vì Ngôi Lời Thiên Chúa, Con Một Thiên Chúa, Đấng mang bản 
		tính này, là Thiên Chúa thực bởi Thiên Chúa thực. Thiên Chúa Cha hằng 
		hữu đã ấn định Con Một Ngài phải được hiến dâng trong đền thờ âm thầm 
		chu toàn lề luật, mà theo đó Chúa Cứu Thế là người cuối cùng thi hành 
		luật hiến dâng (Rom 10:4). Luật hiến dâng này được đặt ra không có mục 
		đích nào khác hơn là các người công chính thời Cựu Ước phải thánh hóa 
		thường xuyên và dâng hiến cho Thiên Chúa con trai đầu lòng của họ, với 
		hy vọng người con được dâng hiến như thế có thể được chứng minh là Con 
		Thiên Chúa và Con Đức Hiền Mẫu Chúa Cứu Thế muôn dân trông đợi (Xh 
		13:2).<br>
		Thánh ý Thiên Chúa Cha, hợp với thánh ý Chúa Con, được thông báo cho Đức 
		Hiền Mẫu đời sống và bản chất loài người của Ngôi Lời. Mẹ Maria thấy mọi 
		hành động bề trong của Chúa Kitô hiệp nhất với thánh ý Thiên Chúa Cha. 
		Mẹ đã dành cả đêm trước ngày hiến dâng Chúa Hài Đồng trong đền thờ để 
		nói chuyện với Thiên Chúa. Mẹ nói với Thiên Chúa Cha: “Lạy Chúa và Thiên 
		Chúa Tối Cao, Cha của Chúa của con, ngày vui mừng cho trời đất sẽ là 
		ngày con dâng lên Chúa trong đền thờ Bánh Thánh hằng sống, đồng thời 
		cũng là Kho Tàng của Chúa. Lạy Chúa và Thiên Chúa của con, việc hiến 
		dâng này giàu sang biết chừng nào, để đổi lại, Chúa sẽ đổ tràn lòng 
		thương xót xuống cho nhân loại. Xin Chúa tha thứ kẻ tội lỗi, an ủi người 
		đau khổ, giúp đỡ người khó nghèo, cho kẻ bần hàn được phú túc, cứu giúp 
		người yếu đuối, soi sáng kẻ mù lòa, đón tiếp người lạc đường. Lạy Chúa, 
		đây là điều con xin khi dâng lên Chúa Con Một yêu dấu của Chúa, Đấng mà 
		do lòng thương xót của Chúa cũng là Con của con. Nếu Chúa ban Chúa Con 
		cho con là Thiên Chúa, con trả lại Chúa Hài Đồng cho Chúa là Thiên Chúa 
		và người trần gian, giá trị của Ngài vô cùng, và những điều con xin thì 
		kém nhiều. Trong sự giàu có, con trở lại đền thờ Chúa mà con đã tự do ra 
		đi trong khó nghèo, linh hồn con sẽ chúc tụng Chúa đến muôn đời, vì Chúa 
		đã ban cho con quá sức đại lượng.”<br>
		Bình minh hôm sau, Mặt Trời thiên đàng sẵn sàng hiện ra từ Hừng Đông 
		trinh khiết nhất là Đức Trinh Mẫu Maria. Chúa Hài Đồng nằm trong cánh 
		tay Mẹ, sắp sửa xuất hiện rõ ràng giữa thế gian. Đức Nữ Vương thiên 
		đàng, đã chuẩn bị sẵn đôi chim gáy và hai cây nến, bọc Chúa Hài Đồng 
		trong khăn, đi cùng với thánh Giuse tới đền thờ. Các thiên thần tháp 
		tùng Thánh Gia, lần nữa đạo binh thiên quốc hiện ra rõ ràng, sóng hàng 
		rất đẹp như trong hành trình từ Nazareth tới Bethlehem. Trong dịp này 
		các thiên thần thêm nhiều ca khúc du dương tuyệt vời chúc tụng Chúa Hài 
		Đồng. Không kể muôn ngàn thiên thần tạo thành đoàn diễn hành, vô số 
		thiên thần khác từ trời xuống cùng với các thiên thần mang khiên có khắc 
		Tên Cực Thánh GIÊSU hợp thành đoàn quân danh dự hộ vệ Ngôi Lời nhập thể 
		trong dịp dâng hiến trong đền thờ. Tới cổng đền thờ, Mẹ Maria lại ngút 
		lửa yêu mến tận hiến nồng nàn. Cùng với các phụ nữ khác, Mẹ quì gối cúi 
		đầu thờ lạy Thiên Chúa trong tinh thần và chân lý. Mẹ Maria, cùng với 
		Con cực thánh trong tay, trình diện trước Thiên Chúa Uy Nghi cao cả 
		(Gioan 4:23). Lập tức Mẹ Maria ngây ngất trong thị kiến và nghe tiếng 
		Thiên Chúa Cha phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hết sức hài lòng vì 
		Con” (Mt 27:20). Thánh Giuse, người được hạnh phúc nhất trong mọi nam 
		nhân, cùng lúc đó cũng cảm nghiệm sự ngọt ngào mới, niềm hân hoan và ơn 
		soi sáng Chúa Thánh Thần đổ đầy tâm hồn ngài.<br>
		Thầy cả thượng phẩm thánh thiện Simeon, được Chúa Thánh Thần soi dẫn, 
		lúc đó cũng đi vào đền thờ (Lc 2:7). Ngài thấy Mẹ Maria và Chúa Hài Đồng 
		trong hào quang rực rỡ. Nữ tiên tri Anna cũng tới; bà thấy Mẹ Maria và 
		Chúa Hài Đồng được bao phủ trong ánh sáng lạ lùng. Hết sức vui mừng, 
		thầy cả thượng phẩm đón Chúa Hài Đồng từ tay Mẹ Maria. Nhìn lên trời, 
		ngài dâng Chúa Hài Đồng lên Thiên Chúa Cha hằng hữu, đồng thời nói lên 
		lời huyền nhiệm: “Lạy Chúa, bây giờ xin cho tôi tớ Chúa ra đi bằng an 
		theo lời Chúa hứa. Chính mắt con đã nhìn thấy Ơn Cứu Độ đã được Chúa 
		chuẩn bị trước mặt muôn dân: ánh sáng cứu độ các dân ngoại và vinh quang 
		Israel dân Chúa” (Lc 2:29). Nghe những lời ca tụng này, Đức Hiền Mẫu 
		Maria và thánh Giuse bỡ ngỡ vì mạc khải cao siêu chứa đựng trong đó. 
		Thánh Sử nói Cha Mẹ của Hài Nhi bỡ ngỡ vì những lời đó nói ra trước mặt 
		mọi người hiện diện tại biến cố này. Tiên tri Simeon nói tiếp: “Con Trẻ 
		Này được đặt làm cớ để nhiều người vấp phạm và cho việc phục sinh của 
		nhiều người trong dân Israel, và là dấu bị chống báng. Một lưỡi gươm bén 
		sẽ xuyên thấu tâm hồn bà, để những tư tưởng thầm kín của nhiều con tim 
		sẽ bị phơi bày ra ánh sáng” (Lc 2:33-35). Thánh Simeon, vì là thầy cả, 
		đã chúc lành cho Cha Mẹ hạnh phúc của Chúa Hài Đồng. Khi đó nữ tiên tri 
		Anna, được ơn Chúa Thánh Thần, cũng nhìn nhận Ngôi Lời nhập thể và nói 
		về các mầu nhiệm Chúa Cứu Thế với nhiều người, những người đang trông 
		chờ ơn cứu độ dân Israel (Lc 2:36-38). Hai tiên tri lão thành Simeon và 
		Anna đã công khai làm chứng về Chúa Cứu Thế trước thế giới.<br>
		Chúa Hài Đồng gật đầu khi tiên tri Simeon nói đến lưỡi gươm và dấu chỉ 
		của sự chống báng: những lời tiên tri về khổ hình và cái chết của Chúa 
		Cứu Thế (Lc 2:35). Do việc đó và nhiều hành động vâng lời thầm kín, Chúa 
		Giêsu đã phê chuẩn lời tiên tri của thượng tế Simeon, chấp nhận đó như 
		là lời Thiên Chúa Cha phán được thừa sứ của Ngài loan báo. Mẹ Maria ghi 
		nhận và hiểu mọi điều này (Lc 3:51b). Ngay lúc này Mẹ Maria cảm thấy bị 
		thương tích do lưỡi gươm được tiên báo. Như trong một tấm gương, linh 
		hồn Mẹ Maria thấy mọi mầu nhiệm gồm trong lời tiên tri này: Con cực 
		thánh của Mẹ sẽ là nguyên cớ khiến nhiều người vấp phạm như thế nào, sự 
		trầm luân của những kẻ không tin, Ơn Cứu Độ cho những người tín trung, 
		việc thiết lập Giáo Hội giữa các dân ngoại. Mẹ Maria nhìn thấy trước 
		cuộc khải hoàn vinh thắng chống lại ma quỉ và sự chết, nhưng Mẹ cũng 
		thấy trước giá phải trả cho cuộc khải hoàn đó, như sự phiền sầu khủng 
		khiếp và chết trên thập giá (Col 2:15). Mẹ Maria nhìn thấy trước những 
		chống đối thù nghịch Chúa Giêsu sẽ phải chịu nơi bản thân Chúa và Giáo 
		Hội (Gioan 15:20). Đồng thời Mẹ Maria cũng thấy sự vinh quang tuyệt vời 
		của các linh hồn được tiền định. Mẹ biết tất cả những điều này và, được 
		khơi dậy do những lời ông Simeon tiên tri cùng các mầu nhiệm tiềm ẩn, Mẹ 
		đã thực thi nhiều hành động nhân đức anh hùng trong niềm vui nỗi buồn 
		của linh hồn cực trinh khiết. Tất cả mọi lời nói và các sự việc xảy ra 
		đều được ghi khắc trong trí nhớ Mẹ Maria không khi nào phai (Lc 2:51b). 
		Mẹ Maria luôn nhìn Con cực thánh với lòng ưu phiền sinh động, mà chúng 
		ta, những con người với trái tim vong ân bội nghĩa, sẽ không bao giờ có 
		thể cảm hiểu được. Thánh phu quân Giuse cũng được những lời tiên tri này 
		làm cho hiểu nhiều trong số các mầu nhiệm Ơn Cứu Chuộc và những vất vả 
		thống khổ Chúa Giêsu sẽ phải chịu. Nhưng Thiên Chúa không tiết lộ các 
		mầu nhiệm này cho thánh Giuse tường tận, vì đối với ngài các mạc khải 
		này phục vụ mục đích khác, hơn nữa, thánh nhân không được là chứng nhân 
		các mầu nhiệm này khi còn ở trần thế.<br>
		Nghi lễ hiến dâng đã hoàn tất, Đức Maria hôn tay thầy thượng tế và xin 
		ngài chúc lành. Mẹ Maria cũng thi hành như thế đối với tiên tri Anna, 
		thầy cũ của Mẹ. Địa vị Mẹ Thiên Chúa, địa vị tột đỉnh đối với các thiên 
		thần và cả loài người, không cản trở Mẹ thực thi các hành động khiêm tốn 
		này. Rồi cùng với thánh phu quân và đạo binh thiên quốc sóng hàng hộ vệ, 
		Mẹ Maria và Chúa Hài Đồng trở lại nơi tạm trú. Mẹ Maria và thánh Giuse 
		quyết định nán lại Jerusalem chín ngày để có thể mỗi ngày viếng đền thờ 
		hầu lặp lại lời hiến dâng Nạn Nhân Thánh, Con Thiên Chúa của Mẹ, để như 
		thế, dâng lên lời cảm tạ xứng đáng vì hồng ân bao la mà nhờ đó Mẹ và 
		thánh phu quân đã được tách rời khỏi loài người. Đức Hiền Mẫu Maria đặc 
		biệt quí con số chín này, vì trong chín ngày Mẹ Maria đã được Thiên Chúa 
		chuẩn bị trang điểm cho việc nhập thể của Ngôi Lời, và cũng ghi nhớ chín 
		tháng cưu mang Chúa Giêsu nơi lòng dạ trinh khiết Mẹ. Chúa Giêsu, Mẹ 
		Maria và thánh Giuse khởi sự việc tận hiến tuần chín ngày, mỗi ngày từ 
		trước giờ thứ ba (khoảng sáu giờ sáng), cầu nguyện trong đền thờ cho tới 
		khi trời tối. Thánh Gia chọn một nơi khuất yên tĩnh nhất, như thế xứng 
		đáng với lời mời của vị chủ tiệc trong Phúc Âm: “Hỡi bạn, hãy lên ngồi 
		ghế cao hơn” (Lc 14:10b).<br>
		Để đáp lời cầu xin của Đức Maria, Thiên Chúa ban cho Mẹ nhiều đặc ân vĩ 
		đại mới, trong đó có đặc ân, bao lâu thế giới này còn tồn tại, Mẹ Maria 
		sẽ được tất cả mọi điều Mẹ xin cho những ai nhờ (xin) Mẹ cầu bầu cho. 
		Những người tội lỗi nặng nề nhất sẽ tìm được Ơn Cứu Độ, nếu họ xứng đáng 
		với lời Mẹ cầu bầu. Trong Giáo Hội mới và Luật Phúc Âm, Mẹ Maria sẽ là 
		Đấng Đồng Công, là Thầy dạy về Ơn Cứu Chuộc cùng với Chúa Kitô Con cực 
		thánh Mẹ. Đây sẽ là đặc ân dành cho Mẹ Maria đặc biệt là sau khi Chúa về 
		trời. Khi còn ở lại trần gian, Mẹ Maria là Nữ Vương vũ trụ, Đại Diện, 
		Máng Chuyên mọi quyền năng Thiên Chúa nơi trần thế.<br>
		Ngày thứ năm của tuần chín ngày, khi Mẹ Maria ở trong đền thờ, ẵm Chúa 
		Hài Đồng trong tay, Thiên Chúa hiện ra với Mẹ, mặc dầu không phải trực 
		diện, Mẹ Maria được nâng lên và đầy ơn Chúa Thánh Thần. Trong thị kiến 
		không trực diện này, Đấng Tối Cao thăm viếng, chuẩn bị Mẹ Maria chịu 
		đựng những gian khổ cực nhọc đang chờ đợi. Thiên Chúa nói: “Người Yêu 
		Dấu và Chim Bồ Câu của Ta, các ước nguyện và ý muốn của Người đẹp ý Ta, 
		Ta luôn hài lòng vì những điều đó. Nhưng Người không thể hoàn tất chín 
		ngày tận hiến đã bắt đầu, vì Ta có sẵn những việc khác cho tình yêu của 
		Người. Để bảo vệ mạng sống và nuôi dưỡng Thánh Nhi trưởng thành, Người 
		phải rời khỏi nhà và quê hương, cùng với Thánh Nhi và phu quân Giuse 
		chạy trốn sang Ai Cập và ở đó cho tới khi Ta chỉ dạy cách khác vì Herode 
		đang tìm giết Thánh Nhi (Mt 1:13-14) Cuộc hành trình lâu ngày vất vả mệt 
		nhọc nhất, Người hãy chịu những thứ đó vì Ta. Ta luôn ở với Người.”<br>
		Bất cứ đức tin và lòng can đảm nào chắc chắn cũng đã bị làm cho bối rối 
		xáo trộn khi thấy Thiên Chúa toàn năng chạy trốn một thụ tạo bằng đất 
		khốn nạn, mà Thiên Chúa phải làm như thế để cứu mạng sống mình, chẳng 
		khác gì Chúa, Đấng vừa là Thiên Chúa vừa là người, có thể sợ chết. Nhưng 
		Đức Maria đã vâng phục không chút chống đối hoặc hoài nghi. Không chút 
		bối rối nao núng vì lệnh truyền bất ngờ này, Mẹ đáp: “Lạy Thiên Chúa và 
		Chúa của con, xin hãy nhìn nữ tì của Chúa với trái tim được chuẩn bị sẵn 
		sàng chết vì yêu Chúa. Xin hãy phân định cho con theo thánh ý Chúa. Con 
		chỉ xin Chúa vì lòng nhân từ vô cùng mà bỏ qua sự không xứng đáng và bạc 
		bẽo của con. Xin Chúa đừng để cho Con và Chúa của con phải đau khổ. Xin 
		Chúa trút mọi đau đớn vất vả lên con.” Thiên Chúa nói với Mẹ Maria về 
		thánh Giuse, truyền cho Người nghe theo các chỉ dẫn của thánh nhân trong 
		mọi sự liên quan đến cuộc hành trình. Tới đây Mẹ Maria ra khỏi thị kiến 
		mà không mất đi việc sử dụng các giác quan ngoại tại trong khi vẫn ẵm 
		Chúa Hài Đồng. Chỉ có phần thượng của linh hồn Mẹ Maria được đưa lên 
		trong thị kiến này. Nhưng từ đó chảy tràn đầy ân sủng thánh hóa các quan 
		năng và cho biết linh hồn Mẹ sống nhiều trong tình yêu hơn là nơi thân 
		xác.<br>
		Do tình yêu khôn sánh Mẹ Maria dành cho Con cực thánh, trái tim hiền mẫu 
		hết sức đau đớn vì nghĩ đến những vất vả nhìn thấy trước trong thị kiến 
		đang đe dọa Chúa Hài Đồng. Nước mắt chan hoà, Mẹ Maria rời khỏi đền thờ 
		trở về nơi tạm trú mà không nói cho thánh phu quân biết lý do sự đau 
		buồn. Thánh Giuse nghĩ Mẹ Maria đau buồn vì lời ông Simêon tiên tri. Vì 
		thánh Giuse trung tín yêu thương, hết lòng lo lắng cho Mẹ Maria, ngài 
		bối rối khi thấy Mẹ nước mắt chan hòa quá sức đau buồn nhưng lại không 
		nói cho ngài biết nguyên cớ. Sự bối rối của linh hồn thánh Giuse là một 
		trong những lý do để các thiên thần nói với ngài đang khi ngủ, tương tự 
		khi nói về việc thai nghén của Đức Nữ Vương thiên đàng. Cũng đêm đó, khi 
		thánh Giuse đang ngủ, thiên thần Chúa hiện ra nói với ngài như thánh 
		Mátthêu ghi lại: “Hãy chỗi dậy, đưa Con Trẻ và Mẹ Ngài trốn sang Ai Cập, 
		và ở lại đó cho tới khi tôi trở lại cho biết lời chỉ dạy khác; vì Herode 
		đang tìm giết Con Trẻ” (Mt 1:13-14).<br>
		Thánh Giuse lập tức chỗi dậy trong lo âu buồn rầu, ngài cũng đoán được 
		sự đau khổ lo âu của hiền thê hết sức yêu quí. Đi vào phòng Mẹ Maria, 
		thánh Giuse nói: “Thưa Bà Chủ của tôi, Chúa muốn chúng ta chịu đau khổ. 
		Thiên thần Chúa báo cho tôi biết sự vui lòng và quyết định của Đấng Toàn 
		Năng muốn chúng ta chỗi dậy đem Chúa Hài Đồng trốn sang Ai Cập vì Herode 
		đang tìm giết Chúa. Bà Chủ của tôi, xin Người can đảm chịu đựng những 
		gian khổ trong cuộc hành trình này, xin cho tôi biết tôi có thể làm gì 
		để Người bớt cực khổ, vì tôi chỉ sống để phục vụ Con của Người và chính 
		Người.”<br>
		Mẹ Maria đáp: “Thưa phu quân và chủ nhân của thiếp, chúng ta đã nhận 
		được từ tay Đấng Tối Cao các ân sủng cao cả, và điều chính đáng là chúng 
		ta vui vẻ chấp nhận những đau khổ tạm bợ (Gióp 2:13) Chúa gởi cho. Chúng 
		ta đưa đi với chúng ta Đấng tạo thành trời đất, nếu Chúa để chúng ta ở 
		sát bên Ngài thì quyền lực nào có thể làm hại chúng ta, cho dù là quyền 
		lực của Herode?<br>
		<br>
		Chúng ta đưa đi với chúng ta tới bất cứ nơi nào Đấng cực tốt lành, Đấng 
		là kho tàng thiên đàng tối cao, Chúa chúng ta, là Người Dẫn Đường và Ánh 
		Sáng của chúng ta thì không nơi nào có thể là hoang địa được. Chúa chính 
		là nơi chúng ta nghỉ ngơi, phần phúc và quê hương chúng ta. Chúng ta có 
		mọi sự tốt lành khi có Chúa đồng hành, chúng ta hãy tiến hành để chu 
		toàn thánh ý Chúa.” Mẹ Maria và thánh Giuse đến bên nôi Chúa Hài Đồng. 
		Đức Hiền Mẫu mở mền đắp cho Chúa ra mà không làm Chúa thức giấc; rồi Mẹ 
		Maria, quì gối, đánh thức và ẵm Chúa lên. Chúa Hài Đồng, để làm cho Mẹ 
		Maria tiến tới tình yêu vĩ đại hơn nữa và để tỏ ra Chúa là người thực, 
		đã khóc lên một chút (Kỳ diệu thay Đấng Tối Cao trong những điều mà đối 
		với sự suy xét của chúng ta cho là qúa nhỏ bé)! Nhưng Chúa Hài Đồng đã 
		sớm nín khóc, khi Đức Hiền Mẫu rất thánh và thánh Giuse xin Chúa chúc 
		lành, Chúa đã cho Hai Đấng thấy cử chỉ rõ ràng. Sau khi gom hết các hành 
		trang nghèo nàn vào một cái giỏ và chất lên lưng con lừa được đem theo 
		từ Nazareth, Thánh Gia ra đi lúc sau nửa đêm một chút.<br>
		LỜI MẸ MARIA<br>
		<br>
		Con của Mẹ, điều đặc biệt con phải học trong chương này là làm quen với 
		việc khiêm nhượng tạ ân về các hồng ân con nhận được. Trong nhiều thế 
		hệ, con được ưu ái quá sức đặc biệt bằng những ân sủng dồi dào do việc 
		Con của Mẹ và Mẹ đến thăm mà không vì một chút xứng đáng nào của con. Mẹ 
		đã thường lặp lại nhiều lần lời vua David: “Con sẽ dâng gì lên Chúa để 
		đền đáp tất cả những ơn Chúa đã ban cho con?” (Tv 15:12). Với những ý 
		nghĩ như thế Mẹ đã hạ mình thành bụi đất, coi mình hoàn toàn vô dụng 
		giữa mọi tạo vật. Nếu con biết Mẹ đã làm những gì với tư cách là Mẹ 
		Thiên Chúa, con hãy suy xét xem con phải làm gì và với hết lòng chân 
		thành con thú nhận rằng con không xứng đáng với những ơn đã được, con đã 
		dâng những lời cảm tạ đền đáp quá sức nghèo nàn. Con phải bù đắp sự bất 
		toàn nghèo nàn của con bằng việc dâng lên Thiên Chúa Cha hằng hữu bánh 
		hằng sống là Con Một yêu dấu của Ngài, nhất là khi con rước Chúa Giêsu 
		trong Phép Thánh Thể và Chúa ở trong con. Trong trường hợp này, con phải 
		bắt chước lời thánh David, sau khi ông hỏi Chúa ông phải dâng lại gì để 
		đền đáp các hồng ân Chúa ban: “Con sẽ uống chén cứu độ, và con sẽ kêu 
		thánh danh Chúa” (Tv 115:13). Con phải nhận ơn cứu độ, làm cho nở sinh 
		hoa trái bằng sự trọn lành của các việc con làm, kêu cầu Thánh Danh 
		Chúa, dâng lên Chúa Cha Con Một yêu dấu của Ngài. Vì Chúa Cứu Thế chính 
		là Đấng ban ơn cứu độ, Đấng giành được ơn đó, Đấng mà chỉ một mình Ngài 
		có thể là sự dâng trả lại xứng đáng đối với những ân sủng được ban cho 
		loài người, đặc biệt là cho con. Mẹ đã cho Chúa thân xác để có thể đối 
		thoại với loài người, trở nên tài sản riêng của từng người. Chúa Giêsu 
		ẩn mình dưới hình bánh và rượu để thích hợp với nhu cầu từng người, để 
		mọi người có thể coi Chúa là của riêng mình, thích hợp để dâng lên Thiên 
		Chúa Cha hằng hữu. Theo cách này, Chúa Giêsu ban cho từng người lễ vật 
		dâng hiến mà không một ai có thể dâng thứ khác được, và Đấng Tối Cao hài 
		lòng với của lễ hiến dâng đó, vì không thứ gì đáng được chấp nhận hơn, 
		cũng không thứ gì quí giá hơn mà nhân loại có thể có được.<br>
		Thêm vào với hiến lễ này là sự hoàn toàn ký thác và nhẫn nại bình tĩnh 
		chịu đựng những vất vả khó khăn trong cuộc sống đời này. Con chí thánh 
		Mẹ và Mẹ là những Thầy vĩ đại dạy việc thi hành giáo lý này. Con của Mẹ 
		bắt đầu giảng dạy giáo lý: ký thác chịu đựng vất vả đau khổ từ khi bẩm 
		thai trong lòng Mẹ. Ngay từ ngày đó, Chúa bắt đầu chịu đau khổ. Khi sinh 
		xuống trần gian, Chúa Giêsu và Mẹ đã bị Herode xua đuổi chạy vào sa mạc, 
		và Chúa cứ tiếp tục chịu mọi đau khổ cho tới khi chết trên thánh giá. Mẹ 
		cũng đã vất vả cho tới ngày cuối đời, như con sẽ được cho biết ngày càng 
		nhiều khi viết lịch sử này. Chúa Giêsu và Mẹ đã chịu đau khổ quá sức vì 
		loài người để cứu độ họ. Mẹ muốn con bắt chước Chúa Giêsu và Mẹ thi hành 
		thánh ý Chúa với tư cách người yêu dấu của Ngài và là con gái Mẹ. Con 
		hãy chịu đau khổ với trái tim đại lượng để đem về cho Chúa và Phu Quân 
		của con các linh hồn vô cùng quí báu, được chuộc bằng chính máu Chúa. 
		Con không bao giờ được trốn chạy những vất vả, khó khăn, cay đắng và đau 
		khổ, nếu nhờ đó con giành được một linh hồn cho Chúa, hoặc nếu có thể 
		khuyên được linh hồ đó từ bỏ đường tội lỗi mà đi vào con đường sự sống. 
		Đừng để cho con bị quá vô dụng nghèo nàn, hoặc các ước vọng và vất vả 
		của con đem lại ích lợi quá ít ỏi khiến con nản lòng. Con không thể biết 
		Chúa sẽ chấp nhận những việc đó như thế nào và Chúa cho rằng Người được 
		phục vụ chừng nào. Ít nhất con hãy ước ao làm việc chuyên cần và không 
		ăn bánh mà không xứng công ở trong nhà Chúa (Cn 31:27).</span></p>
		<p style="margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 12pt; margin-bottom: 0" align="center">
		<span style="font-family: Arial,sans-serif; color: #333333"><br>
		<b><a name="CHƯƠNG_8">CHƯƠNG 8</a></b></span></p>
		<p style="margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 12pt; margin-bottom: 0">
		<span style="font-family: Arial,sans-serif; color: #333333"><b>HÀNH 
		TRÌNH TRỐN SANG AI CẬP<br>
		<br>
		</b>Giữa đêm khuya, các Vị Lữ Khách thiên quốc rời khỏi Jerusalem dấn 
		(rấn) bước lưu vong trong âm thầm tăm tối. Mẹ Maria và thánh Giuse lo 
		lắng ngập lòng vì các Ngài đưa Kho Tàng thiên quốc đi vào miền đất lạ. 
		Chính Chúa cho Mẹ và thánh dưỡng phụ cơ hội lo lắng để củng cố sức mạnh 
		cho các ngài bằng đức tin và trông cậy. Mẹ Maria và thánh dưỡng phụ 
		không biết những gì sẽ xảy ra suốt hành trình, cũng không biết khi nào 
		chấm dứt. Các ngài cũng không biết làm cách nào sinh sống tại Ai Cập, 
		nơi hoàn toàn xa lạ, cũng không biết có thể tìm được những tiện nghi gì 
		tại đó để dưỡng nuôi Chúa Hài Đồng. Cấp thời nhất là Mẹ Maria và thánh 
		Giuse không biết làm cách nào tránh cho Chúa Sơ Sinh những khổ cực tột 
		độ dọc đường. Trái tim Mẹ và thánh dưỡng phụ đầy lo âu khắc khoải khi 
		Thánh Gia từ nơi tạm trú vội vã ra đi. Nhưng nỗi đau buồn của Mẹ Maria 
		và thánh Giuse được giảm nhẹ nhiều khi các thiên thần hộ vệ lại hiện ra 
		với muôn vẻ rạng rỡ oai hùng biến bóng đêm thành ngày rực rỡ nhất cho 
		các Vị Lữ Khách. Khi Thánh Gia rời khỏi cổng thành, các thiên thần sấp 
		mình thờ lạy Ngôi Lời nhập thể trên cánh tay Đức Trinh Mẫu. Các thiên 
		thần cũng khuyến khích Đức Hiền Mẫu, và cho biết thánh ý Thiên Chúa muốn 
		các ngài hướng dẫn và hộ vệ Mẹ suốt hành trình.<br>
		Thánh Gia lưu lại thị trấn Gaza hai ngày; thánh Giuse và con lừa đỡ chân 
		Mẹ đều mệt nhoài. Từ đây Mẹ Maria và thánh Giuse để người nô bộc của 
		thánh Elisabeth trở về, căn dặn anh ta không được nói cho bất cứ ai biết 
		Thánh Gia ở đâu. Nhưng Thiên Chúa còn dự liệu cẩn thận hơn chống lại mối 
		nguy hiểm này, đã làm cho anh ta không nhớ chút gì về những điều thánh 
		Giuse căn dặn phải giữ kín, do đó anh ta chỉ còn nhớ lời Mẹ Maria nhắn 
		gởi bà Elisabeth. Đức Maria phân phát cho người nghèo khó các quà tặng 
		do bà Elisabeth gởi tới. Mẹ dùng vải bà Elisabeth tặng để may áo choàng 
		mặc ấm cho Chúa và thánh Giuse chống những rét lạnh của thời tiết khắc 
		nghiệt trong cuộc hành trình. Mẹ cũng dùng những thứ khác thuộc sở hữu 
		của Thánh Gia để làm cho Chúa Hài Đồng và thánh dưỡng phụ bớt cơ cực. 
		Đức Trinh Mẫu không ỷ vào trợ giúp phép lạ khi nào Người có thể chu tất 
		các nhu cầu hàng ngày bằng sự cần cù lao động, vì trong những vấn đề này 
		Người muốn tuân theo trật tự tự nhiên và nỗ lực của chính mình. Trong 
		hai ngày lưu lại thị trấn Gaza, Mẹ Maria đã thực hiện một vài việc kỳ 
		diệu để ban muôn ơn phước cho thị trấn này. Mẹ cứu hai người khỏi chết, 
		chữa nhiều người khỏi bệnh tật đau đớn. Mẹ làm cho một phụ nữ tứ chi bất 
		toại sử dụng được tay chân như bình thường. Mẹ ban ơn siêu nhiên nhận 
		biết Thiên Chúa, ơn thay đổi cuộc sống cho nhiều người gặp và nói chuyện 
		với Mẹ. Tất cả những người này cảm thấy họ được thúc đẩy chúc tụng Đấng 
		Tạo Hoá.<br>
		Đến ngày thứ ba, các Vị Lữ Khách của chúng ta rời khỏi thị trấn Gaza đi 
		Ai Cập. Ngay sau khi rời khỏi xứ Palestine, Thánh Gia vượt qua sáu mươi 
		dặm trên sa mạc Bersabe để tới ngụ cư tại Heliopolis, ngày nay là Cairo, 
		Ai Cập. Hành trình băng sa mạc mất nhiều ngày, vì mỗi ngày Thánh Gia chỉ 
		đi được một đoạn đường rất ngắn, không những chỉ vì bước đi cực khổ trên 
		bãi cát lún sâu, mà cũng vì khổ cực do thời tiết khắc nghiệt mà không có 
		chỗ trú ẩn. Để hiểu Mẹ Maria thánh Giuse và Chúa Hài Đồng chịu khổ cực 
		chừng nào trong chuyến đi này, cần phải nhớ rằng Đấng Toàn Năng để cho 
		Con Một vô cùng yêu dấu, cùng với Đức Hiền Mẫu và thánh dưỡng phụ phải 
		chịu mọi thiếu thốn gian khổ đương nhiên xảy ra khi đi qua sa mạc. Suốt 
		hành trình qua sa mạc, Thánh Gia chỉ có vòm trời, gió lộng, làm nơi trú 
		qua đêm; hơn nữa, lúc đó là giữa mùa đông. Trong đêm thứ nhất nơi sa mạc 
		toàn cát này, Thánh Gia nghỉ dưới chân một đồi cát nhỏ, nơi trú ẩn duy 
		nhất Thánh Gia có thể tìm được. Đức Hiền Mẫu bồng Chúa Hài Đồng ngồi 
		ngay trên bãi cát, ăn chút thực phẩm cùng với thánh phu quân. Mẹ Maria 
		cũng cho Chúa Hài Đồng bú. Chúa Hài Đồng đã làm cho Đức Hiền Mẫu và 
		thánh dưỡng phụ hoan hỉ bằng việc tỏ ra sự hài lòng của Chúa. Để cung 
		cấp cho Chúa Hài Đồng và Đức Hiền Mẫu Maria thứ gì che sương gió, dù nhỏ 
		bé khiêm tốn, thánh Giuse làm cái lều bằng chính áo choàng của ngài và 
		vài cái que (gậy nhỏ, ngài đem theo) chống làm khung. Trong đêm đó, muôn 
		ngàn thiên thần đã tạo thành hàng rào bảo vệ chung quanh Đức Vua và Đức 
		Nữ Vương. Mẹ Maria thấy Con Thiên Chúa của Mẹ dâng lên Thiên Chúa Cha 
		hằng hữu những khổ cực vất vả của chính Chúa, của Mẹ và thánh Giuse. Gần 
		suốt đêm đó Mẹ Maria kết hợp trong lời cầu nguyện và các hành động khác 
		của linh hồn cực thánh Chúa. Chúa Hài Đồng ngủ một chút trong cánh tay 
		Mẹ, nhưng Mẹ Maria vẫn thức nói chuyện với Đấng Tối Cao và các thiên 
		thần. Thánh Giuse ngồi ngủ trên cát, đầu gục xuống ngực, trước ngực ngài 
		đeo túi y trang và các vật dụng khác.<br>
		Thánh Gia giong ruổi hành trình. Số trái cây, bánh và nước dự trữ ít ỏi 
		đã sớm hết; Thánh Gia phải chịu thiếu thốn đói khát cùng cực. Cả Mẹ 
		Maria và thánh Giuse đều cảm thấy tình trạng thiếu thốn này rất trầm 
		trọng. Một trong những ngày đầu hành trình, các ngài không ăn uống chút 
		gì cho tới khuya. Ít ngày sau, những thực phẩm sơ sài thanh đạm nhất 
		cũng không còn. Bản chất tự nhiên đòi phải có chút gì giải khát sau 
		những gian khổ mỏi mệt của chuyến đi. Vì không có cách nào tiếp tế nhu 
		cầu của Thánh Gia bằng phương tiện tự nhiên, Đức Nữ Vương thiên đàng cầu 
		cứu Đấng Tối Cao: “Lạy Thiên Chúa hằng hữu, cao cả và uy quyền, con cảm 
		tạ chúc tụng Chúa vì lòng nhân từ đại lượng vô biên của Chúa. Không vì 
		con xứng công gì mà chỉ nhờ lòng Chúa thương đoái nhìn, Chúa cho con 
		mạng sống thân xác con, mặc dù con chỉ là bụi đất và thụ tạo vô dụng, 
		con chưa đền đáp được xứng đáng vì các đặc ân này; làm sao con dám xin 
		điều con không thể đền đáp? Nhưng, lạy Chúa và Cha của con, xin nhìn đến 
		Con Một vô cùng yêu dấu Chúa mà ban cho con thứ cần thiết giữ mạng sống 
		tự nhiên của con và phu quân con, để con có thể phụng sự Ngôi Lời làm 
		người cứu độ nhân loại.”<br>
		Để những lời kêu nài của Đức Hiền Mẫu cực dịu hiền có thể thốt ra từ 
		những đau khổ lớn lao hơn, thêm vào với đau khổ do vất vả cơ cực đói 
		khát, Đấng Tối Cao còn để cho Thánh Gia chịu đau khổ hơn vào những dịp 
		khác. Trận mưa bão nổi lên làm cho Thánh Gia khổ cực và mịt mù. Gian khổ 
		này còn làm cho trái tim đầy yêu thương của Đức Hiền Mẫu sầu phiền hơn 
		nữa vì thương Chúa Hài Đồng mới chưa được năm mươi ngày. Mặc dầu Mẹ 
		Maria ủ bọc Chúa bằng hết khả năng, Mẹ đã không thể giữ cho Chúa không 
		cảm thấy sự khắc nghiệt của thời tiết. Chúa khóc lệ đầm đìa run rẩy vì 
		lạnh y như các trẻ nhỏ khác. Khi đó Đức Hiền Mẫu dùng quyền là Nữ Vương 
		mọi tạo vật truyền cho mưa bão không được làm đau đớn Đấng Tạo Hoá của 
		chúng, mà phải dâng lên Chúa nơi ở yên tĩnh, và trút mọi ác độc của 
		chúng trên một mình Mẹ. Cũng như trong dịp Chúa giáng sinh và hành trình 
		lên Jerusalem, lần nữa gió lập tức giảm cường độ, trận bão dịu đi, không 
		dám tới gần Thánh Gia nữa. Để đáp lại lòng lo lắng yêu thương này, Chúa 
		Hài Đồng Giêsu truyền cho các thiên thần giúp đỡ Đức Hiền Mẫu cực nhân 
		từ và che Thánh Gia khỏi sự nghiệt ngã của thời tiết. Các thiên thần lập 
		tức tuân lệnh tạo thành một bầu tròn đẹp rực rỡ bao quanh Thánh Gia. 
		Việc này diễn ra nhiều lần suốt hành trình vượt sa mạc.<br>
		Thánh Gia cơ cực vì thiếu thốn lương thực và những thứ khác không thể 
		nào có được theo khả năng loài người. Thiên Chúa để cho Thánh Gia rơi 
		vào hoàn cảnh thiếu thốn này để khi nghe những lời cầu nguyện đáng chấp 
		nhận của Người Yêu Dấu, Chúa có thể ban lương thực qua tay các thiên 
		thần. Các thiên thần đem tới bánh ngon và trái cây đúng mùa, mà hơn cả 
		là nước uống hết sức ngọt ngào do chính các thiên thần làm ra và dâng 
		lên. Kế đó tất cả các thiên thần hát ca chúc tụng cảm tạ Chúa, Đấng ban 
		lương thực cho muôn loài vào đúng thời điểm, để những người nghèo khó 
		được no thoả (Tv 135:25) những người mà mắt và lòng trông cậy gắn chặt 
		vào sự Quan Phòng và lòng đại lượng của Chúa. Đó là lương thực mỹ vị 
		Chúa thiết đãi ba Vị Khách Lưu Vong trong sa mạc Bersabe (3 Vua 19:3), 
		đây cũng là sa mạc mà khi chạy trốn Jezabel, tiên tri Elias được bổ 
		dưỡng bằng bánh do thiên thần đem tới để ngài có thể đi tới núi Horeb.<br>
		Cuộc hành trình gian khổ kéo dài cho tới khi Thánh Gia tới thị trấn có 
		người cư ngụ ở Ai Cập. Khi đi vào các thị trấn, Chúa Hài Đồng, ở trên 
		tay Đức Hiền Mẫu, ngước nhìn và đưa hai tay lên Thiên Chúa Cha xin ơn 
		cứu độ cho cư dân trong các thành đó bị Satan khống chế. Chúa Hài Đồng 
		dùng quyền năng vô cùng xua đuổi quỉ ra khỏi các tượng thần và liệng 
		chúng xuống hoả ngục. Cùng lúc đó các tượng thần nhào xuống đất vỡ nát, 
		các bàn thờ vỡ ra từng mảnh, các đền thờ tà thần sụp đổ. Mẹ Maria biết 
		rõ nguyên do những hiệu lực kỳ diệu này, vì Mẹ liên kết lời cầu nguyện 
		của Mẹ với lời cầu nguyện của Con cực thánh trong tư cách là Đấng đồng 
		công cứu chuộc nhân loại. Thánh Giuse cũng biết đây là việc Ngôi Lời 
		nhập thể làm; ngài dâng lời chúc tụng tôn vinh Chúa. Nhưng lũ quỉ, mặc 
		dầu chúng cảm thấy quyền lực Thiên Chúa, không biết quyền lực này phát 
		xuất từ đâu.<br>
		Dân chúng Ai Cập, cả những người uyên bác, sửng sốt trước những việc xảy 
		ra mà không thể giải thích. Từ ngày tiên tri Jeremia lưu trú ở Ai Cập 
		tới nay vẫn còn lời truyền tụng rằng một Vị Vua người Do Thái sẽ tới và 
		các đền thờ ngẫu thần sẽ bị hủy diệt. Mặc dầu có lời truyền tụng này, 
		những người bình dân không biết chút gì, cả những học giả cũng không 
		biết lời truyền tụng đó được thực hiện cách nào. Vì thế sự kinh hoàng 
		lan tràn khắp nơi, như tiên tri Isaias đã báo trước (Is. 9:1). Giữa sự 
		hỗn loạn sợ hãi này, một số người, suy nghĩ về các biến cố này, đã đến 
		với những Vị Khách Lạ mới tới, họ cũng nói với các ngài về sự sụp đổ các 
		đền thờ và tượng thần của họ. Nhân cơ hội này Đức Hiền Mẫu giải phóng 
		những người này khỏi sự lừa dối; nói với họ về Thiên Chúa đích thực; dạy 
		họ biết Thiên Chúa là Đấng Tạo Hoá duy nhất của cả trời đất, chỉ một 
		mình Thiên Chúa phải được tôn thờ và nhìn nhận là Thiên Chúa. Các thần 
		khác chỉ là tà thần dối trá, chỉ là gỗ, hoặc đất, hoặc kim loại được 
		người ta làm ra, không có mắt nhìn, không tai nghe, cũng chẳng có quyền 
		hành gì. Chính những người đã làm ra các tượng thần, hoặc bất cứ người 
		nào khác, có thể tùy ý phá hủy các tượng đó. Những lời các tượng thần đó 
		nói ra chỉ là những câu đối đáp ma quỉ dối trá lừa lọc nói qua các tượng 
		đó; và cả ma quỉ cũng không có quyền năng gì, vì chỉ có một Thiên Chúa 
		đích thực mà thôi.<br>
		Lời Mẹ Maria dịu dàng nhân từ, đồng thời cũng tràn đầy sức sống và uy 
		lực. Gương mặt Mẹ Maria hết sức yêu kiều, các lời Mẹ nói được kèm theo 
		những hiệu lực hết sức tốt lành. Tin tức loan truyền về việc hiện diện 
		của các Vị Lữ Khách lạ lùng này mau chóng loan truyền khắp nhiều thị 
		trấn. Nhiều người tụ lại để xem và nghe lời Mẹ Maria và thánh Giuse. 
		Những lời cầu nguyện đầy uy lực của Ngôi Lời nhập thể đã làm thay đổi 
		các trái tim, việc vỡ nát các tượng thần gây ra sự chấn động khó tin 
		giữa những người này, cấy vào trí khôn họ sự hiểu biết về Thiên Chúa 
		thực và lòng hối hận tội lỗi, nhưng không cho họ biết từ ai hoặc nhờ ai 
		mà những hồng ân này đến với họ. Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse 
		giong ruổi qua nhiều thị trấn Ai Cập, làm nhiều phép lạ khác nữa, xua 
		đuổi ma quỉ không phải chỉ khỏi các tượng thần, mà còn xua đuổi chúng ra 
		khỏi nhiều người bị chúng chiếm hữu, chữa nhiều người khỏi bệnh nguy 
		kịch trầm trọng, soi sáng tâm trí người ta bằng các giáo lý về chân lý 
		và cuộc sống vĩnh cửu. Do các ơn lành nhất thời này và các ân sủng khác, 
		nhiều người tới nghe lời Mẹ Maria và thánh Giuse chỉ dạy về đời sống tốt 
		lành hữu ích.<br>
		Ở nhiều nơi tại Ai Cập vẫn còn lưu truỵền các việc kỳ lạ Ngôi Lời nhập 
		thể đã làm, gợi lên những khác biệt về ý kiến giữa các tác giả thần học 
		và sử gia liên quan đến thị trấn, nơi các Vị Lữ Khách trú ngụ khi lưu 
		vong tại Ai Cập. Một số người cho rằng Thánh Gia ngụ tại thị trấn này, 
		người khác cho rằng ở thị trấn kia. Tuy vậy có thể tất cả các người đó 
		đều đúng, vì mỗi người đó có thể nói tới một trong các giai đoạn khác 
		nhau trong thời gian Thánh Gia ngụ tại Memphis, hoặc Babylon, hoặc 
		Matarieh; vì Thánh Gia không phải chỉ ghé lại các thành phố này thôi, mà 
		còn ghé lại nhiều nơi khác nữa. Tác giả được cho biết Thánh Gia đi qua 
		các thành phố này rồi tới tạm cư tại Heliopolis, ngày nay là Cairo, thủ 
		đô Ai cập. Các thiên thần hộ vệ nói cho Mẹ Maria và thánh Giuse biết 
		Thánh Gia sẽ định cư tại Heliopolis. Ngoài những đổ nát của các đền thờ 
		và các tượng thần xảy ra khi Thánh Gia tới thành phố này, cũng như tại 
		những nơi khác, Chúa còn làm nhiều phép lạ khác nữa vì vinh quang Chúa 
		và để cứu các linh hồn. Dân chúng tại Heliopolis (sự tốt phước của thành 
		phố này đã được tiên báo trong tên của nó là “Thành phố Mặt Trời”) sẽ 
		được thấy Mặt Trời Công Chính và ân sủng mọc lên chiếu sáng trên họ. 
		Theo ý Chúa, thánh Giuse tìm mua một ngôi nhà nghèo nàn khiêm tốn làm 
		nơi cư ngụ trong khu vực không xa thành phố, tuy nhiên thuận tiện, đúng 
		như ý Mẹ Maria.<br>
		Mẹ Maria và thánh phu quân đã vui vẻ thích nghi với sự khó nghèo nơi căn 
		nhà nhỏ bé của các ngài. Nhà này có ba phòng, Mẹ Maria và thánh Giuse 
		dành một phòng làm thánh điện cho Chúa Hài Đồng dưới sự chăm sóc trìu 
		mến của Đức Hiền Mẫu cực trinh khiết; trong đó đặt nôi Chúa nằm và chiếc 
		giường mộc mạc gỗ trơn của Mẹ Maria. Mãi tới mấy ngày sau, do nỗ lực của 
		thánh Giuse và nhờ lòng hảo tâm của các phụ nữ nhiệt thành, giường của 
		Mẹ Maria mới có vải phủ. Một phòng dành làm nơi ngủ và cầu nguyện của 
		thánh Giuse. Phòng thứ ba là xưởng mộc. Nhìn thấy tình trạng nghèo khó 
		của Thánh Gia, hết sức chật vật khó kiếm đủ việc làm với nghề thợ mộc, 
		Mẹ Maria quyết định trợ giúp thánh Giuse bằng thủ công để mưu sinh. Mẹ 
		Maria tìm được việc thêu may nhờ sự giúp đỡ của các phụ nữ đạo đức.<br>
		Để có lương thực và y phục tối cần thiết, trang bị ngôi nhà dù hết sức 
		khiêm tốn, trang trải các chi phí cần thiết, dường như Mẹ Maria phải làm 
		việc suốt ngày và dành thời gian đêm cho việc cầu nguyện. Mẹ Maria quyết 
		định việc này, không phải vì lý do lợi lộc, cũng không phải vì Mẹ không 
		thể tiếp tục chiêm niệm ban ngày, vì Mẹ luôn làm việc trước sự hiện diện 
		của Chúa Hài Đồng. Mẹ thường dành một số tiếng đồng hồ vào việc cầu 
		nguyện đặc biệt. Mẹ muốn chuyển những giờ cầu nguyện đó sang ban đêm để 
		có thêm thì giờ lao động, mà không phải xin hoặc trông chờ Thiên Chúa 
		ban phép lạ trợ giúp cho bất cứ thứ gì Mẹ có thể tìm được do nỗ lực lao 
		động. Mẹ Maria xin Thiên Chúa Cha hằng hữu ban trợ giúp cho Con cực 
		thánh; nhưng đồng thời Mẹ tiếp tục lao động. Mẹ Maria liên kết lời cầu 
		nguyện với lao động, để có được những thứ cần thiết cho cuộc sống.<br>
		Vì cái nóng dữ dội ở Ai Cập và nhiều bất ổn xảy ra trong dân chúng, tình 
		trạng hỗn loạn đáng lo ngại lan tràn khắp nơi. Trong những năm Thánh Gia 
		lưu lại Ai Cập, bệnh dịch tàn phá Heliopolis và nhiều nơi khác. Vì lời 
		tường thuật về các việc lạ lùng của Thánh Gia, vô số người từ khắp Ai 
		Cập đã đến với Thánh Gia và trở về nhà được chữa lành bệnh thể chất và 
		linh hồn. Để hồng ân Chúa có thể tuôn ra dồi dào hơn nữa, để Thân Mẫu 
		nhân từ của Chúa có thể có được sự trợ giúp trong các việc bác ái, Thiên 
		Chúa đã truyền cho thánh Giuse giúp đỡ Mẹ Maria giảng dạy và chữa lành 
		những người tật nguyền. Thánh Giuse được ban cho ơn soi sáng mới và 
		quyền năng chữa lành bệnh. Mẹ Maria khởi sự dùng việc trợ lực của thánh 
		Giuse vào năm thứ ba Thánh Gia ở Ai Cập. Thánh Giuse thường xuyên chỉ 
		dạy, chữa lành bệnh cho nam giới, trong khi Mẹ Maria săn sóc các phụ nữ. 
		Kết quả do việc lao động của Mẹ Maria và thánh Giuse nơi linh hồn người 
		ta thiệt là khôn lường. Lòng nhân từ thương xót và hiệu lực bao la của 
		lời Mẹ lôi kéo mọi người đến với Mẹ.<br>
		Sự khiêm tốn và thánh thiện của Mẹ đổ tràn đầy tâm hồn người ta lòng yêu 
		mến nhiệt thành. Người ta dâng cho Mẹ Maria nhiều quà tặng và tài sản 
		lớn lao, mong mỏi thấy Mẹ dùng những thứ đó, nhưng không bao giờ Mẹ nhận 
		một thứ gì cho Mẹ, hoặc dành riêng để Mẹ sử dụng. Thánh Gia luôn tự túc 
		mọi nhu cầu do sức lao động đôi bàn tay Mẹ và thánh Giuse. Đôi khi Mẹ 
		nhận quà tặng để giúp người nghèo. Chỉ với ý niệm này mà đôi khi Mẹ 
		Maria chịu nhường trước những lời nài nỉ trìu mến sốt sắng của các người 
		nhiệt tâm. Ngay cả trường hợp đó, Mẹ Maria thường tặng lại cho họ những 
		thứ do chính tay Mẹ làm ra. Từ những điều chúng tôi vừa mới kể, chúng ta 
		có thể ước lượng được các phép lạ vĩ đại chừng nào và nhiều chừng nào đã 
		được Thánh Gia làm trong bảy năm lưu vong tại Ai Cập và riêng tại 
		Heliopolis.<br>
		Điều làm cho Mẹ Maria xúc động dâng lòng ngưỡng phục, yêu mến, chúc tụng 
		lớn lao nhất lên Đấng Tối Cao là Thiên Chúa tỏ ra vô cùng đại lượng đối 
		với các thánh Anh Hài. Mẹ biết rõ chẳng khác gì Mẹ hiện diện khi vô số 
		hài nhi bị giết. Tất cả các hài nhi này, mặc dầu một vài bé chỉ mới được 
		tám ngày, hai hoặc sáu tháng, không một hài nhi nào trên hai tuổi, đã sử 
		dụng được lý trí, được ơn hiểu biết cao độ về Thiên Chúa, yêu mến, tin 
		và trông cậy toàn hảo. Với các nhân đức này, các thánh Anh Hài thực hành 
		nhiều hành động anh hùng về đức tin, tôn thờ, yêu mến Thiên Chúa; tôn 
		kính, yêu mến cha mẹ. Các thánh Anh Hài cầu nguyện cho cha mẹ mình, xin 
		được cho họ ơn soi sáng và thăng tiến trong việc thiêng liêng. Các thánh 
		Anh Hài sẵn lòng chịu tử đạo, mặc dầu tuổi ấu thơ, làm cho những đau khổ 
		của mình trở nên hết sức vĩ đại và tăng thêm công nghiệp. Muôn vàn thiên 
		thần đưa linh hồn các thánh Anh Hài xuống lâm bô. Khi tới nơi, các thánh 
		sơ sinh này làm cho các thánh tổ hân hoan, làm cho các ngài tin tưởng 
		hơn, hy vọng ngày giải phóng mau tới. Tất cả những việc này là hiệu lực 
		của lời cầu nguyện của Chúa Hài Đồng và Đức Hiền Mẫu. Vì biết mọi việc 
		kỳ diệu này, Mẹ Maria cháy lửa yêu mến nhiệt thành đã kêu lên: “Hỡi các 
		con, hãy chúc tụng Chúa”. Hợp với các thánh Anh Hài, Mẹ chúc tụng Đấng 
		là tác giả các kỳ công này, hết sức xứng hợp với Lòng Nhân Từ và Quyền 
		Năng Vô Cùng của Chúa.<br>
		LỜI MẸ MARIA<br>
		<br>
		Con của Mẹ, trong những điều con đã viết, Mẹ ước mong con học được từ 
		chính sự lo buồn và sợ hãi mà với các điều đó con thi hành nhiệm vụ này. 
		Con phải phiền sầu khi thấy một thụ tạo cao quí như loài người, được tạo 
		dựng giống hình ảnh Chúa, được phú cho các tính chất linh thiêng cao 
		quí, được ban cho khả năng hiểu biết, yêu thương, chiêm ngưỡng và vui 
		hưởng Thiên Chúa hằng hữu, lại có thể tự để cho mình bị hạ giá, bị ô uế 
		vì những tham vọng ác độc ghê tởm đến mức làm đổ máu các hài nhi vô tội. 
		Con phải khóc vì sự suy vong của rất nhiều linh hồn, đặc biệt trong thời 
		đại con sống, khi cũng tham vọng, đã xúi giục Herode, lại gây ra lòng 
		ghen ghét thù hận lớn lao giữa con cái Giáo Hội, gây ra việc hư mất của 
		vô số linh hồn, làm hư phí máu cực châu báu Con cực thánh Mẹ đổ ra để 
		cứu chuộc nhân loại. Con hãy cay đắng phàn nàn về việc hư mất này.<br>
		Tuy nhiên con phải cảnh giác bởi những điều con đã thấy nơi người khác. 
		Con hãy cân nhắc những hiệu lực của tham vọng thấm nhập các trái tim. 
		Một khi tham vọng làm chủ trái tim, chúng sẽ đốt cháy trái tim bằng ham 
		muốn khát vọng muốn đạt được kết quả, hoặc làm cho trái tim ngút lửa hận 
		thù khi đối đầu với bất cứ chống đối nào. Con của Mẹ, con phải sợ hãi 
		điều nguy hiểm này, không phải chỉ vì các kết quả con thấy nơi cao vọng 
		của Herode, nhưng cũng vì những điều con thấy xảy ra từng giờ phút nơi 
		người khác. Con phải cẩn trọng không để con bị bất cứ thứ gì, dù nhỏ mọn 
		đến đâu, làm chủ con, vì chỉ một tia lửa nhỏ đủ để gây ra một đám cháy 
		lớn. Mẹ vẫn thường nhắc lại với con cũng lời cảnh cáo này, Mẹ sẽ năng 
		nhắc lại nữa cho con trong tương lai, vì khó khăn lớn lao nhất trong 
		việc thực hành thánh đức là chết đi đối với tất cả những thứ gì làm thỏa 
		mãn ngũ quan. Con không thể là dụng cụ thích hợp trong tay Chúa như Ngài 
		muốn nếu con không tẩy sạch mọi quan năng của con khỏi hình ảnh mọi thụ 
		tạo, để chúng không thể tìm được lối vào các ước vọng của con. Mẹ muốn 
		cho con một luật không lay chuyển là, ngoài Thiên Chúa, tất cả mọi thứ, 
		kể cả các thiên thần các thánh, phải như là không hiện hữu đối với con. 
		Chúa đã mở cho con các bí mật thiên đàng, làm vinh hạnh cho con bằng sự 
		thân mật yêu thương của Ngài, vì mục đích này Mẹ cũng làm vinh danh con 
		với lòng yêu thương thân thiết của Mẹ, để con không sống cũng không muốn 
		sống nếu không có Chúa.</span></p>
		<p style="margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 12pt; margin-bottom: 0" align="center">
		<span style="font-family: Arial,sans-serif; color: #333333">
		<a name="_CHƯƠNG_9__"><br>
		<b>CHƯƠNG 9</b></a><b><br>
&nbsp;</b></span></p>
		<p style="margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 12pt; margin-bottom: 0">
		<span style="font-family: Arial,sans-serif; color: #333333"><b>* SỰ HIỆP 
		THÔNG TUYỆT VỜI GIỮA CHÚA GIÊSU VÀ MẸ MARIA; <br>
		* HÀNH TRÌNH TỪ AI CẬP TRỞ VỀ</b><br>
		<br>
		Khi tròn một tuổi, Chúa Hài Đồng quyết định phá vỡ tình trạng câm nín và 
		nói với thánh dưỡng phụ lần đầu tiên (Chúa đã nói với Mẹ Maria ngay từ 
		khi Chúa giáng sinh). Mẹ Maria và thánh dưỡng phụ đang trao đổi về bản 
		tính vô cùng của Thiên Chúa, lòng Chúa nhân từ thương yêu vô cùng mà vì 
		đó Ngài gởi Con Một vô cùng yêu dấu đến trần gian để dạy đỗ và cứu chuộc 
		nhân loại; Ngôi Lời mặc hình hài nhân loại để có thể đối thoại với loài 
		người, gánh chịu những hình phạt vì các bản chất sa đoạ của họ. Thánh 
		Giuse ngây ngất thán phục trước các kỳ công của Chúa, ngút lửa yêu mến 
		tri ân và chúc tụng. Chúa Hài Đồng, trong vòng tay Đức Hiền Mẫu như trên 
		ngai tòa khôn ngoan, đã dùng dịp này, bằng giọng rõ ràng nói với thánh 
		Giuse: “Cha của Con, Con từ thiên đàng xuống trần gian để là ánh sáng 
		soi thế gian, để cứu thế gian khỏi bóng tối tội lỗi, để tìm kiếm các 
		chiên của Con như Mục Tử tốt lành, ban cho chúng của dinh dưỡng hằng 
		sống, dạy chúng đường về trời, mở cửa thiên đàng đã từng bị đóng lại vì 
		tội lỗi nhân loại. Con ước muốn cả cha và Mẹ là con cái của Ánh Sáng, mà 
		cha và Mẹ có sẵn bên tay.”<br>
		Những lời này của Chúa Hài Đồng Giêsu, đầy sức sống thần linh, đổ tình 
		yêu mới, lòng tôn kính và hoan lạc tràn đầy trái tim thánh dưỡng phụ. 
		Thánh Giuse quì xuống trước mặt Chúa Hài Đồng, với lòng khiêm tốn thẳm 
		sâu, ngài tạ ơn Chúa vì đã gọi ngài là “cha” trong lời đầu tiên nói với 
		ngài. Thánh Giuse mắt đẫm lệ xin Chúa soi sáng và cho ngài đủ khả năng 
		chu toàn thánh ý Chúa, xin dạy ngài biết tạ ân vì những ân sủng khôn 
		sánh do lòng nhân từ đại lượng của Chúa. Các cha mẹ thường xúc động, 
		hãnh diện khi thấy con cái tỏ ra những dấu đặc biệt khôn ngoan đức hạnh. 
		Các cha mẹ thường có khuynh hướng tán dương, bắt chước những cử chỉ, lời 
		nói ngây thơ của con cái. Tất cả những việc này đều do lòng trìu mến yêu 
		thương con cái thơ ngây của họ. Mặc dầu thánh Giuse không phải là thân 
		phụ, mà chỉ là dưỡng phụ của Chúa Giêsu, tình ngài yêu Chúa vượt xa mọi 
		tình yêu của tất cả mọi người cha yêu con cái họ. Lòng ưu ái, ngay cả 
		tình yêu tự nhiên nơi thánh Giuse cũng mãnh liệt hơn nơi mọi người khác, 
		hơn tất cả mọi cha mẹ cộng lại. Trong khi lắng nghe sự khôn ngoan và sự 
		hiểu biết đáng ca tụng vô cùng nơi Chúa Hài Đồng, thánh Giuse nghe mình 
		được gọi là “cha của Con Thiên Chúa Cha hằng hữu”, thấy mình được hết 
		sức đẹp đẽ trong thánh sủng. Do đó niềm vui trong linh hồn ngài phải 
		được đo bằng tình yêu và ý thức sâu sắc của ngài trong địa vị “dưỡng phụ 
		của Chúa Hài Đồng Giêsu”.<br>
		Từ khi Chúa giáng sinh cho tới nay, Đức Hiền Mẫu Maria bọc Chúa Hài Đồng 
		trong khăn tã thường dùng cho các trẻ thơ, vì Chúa muốn, trong trường 
		hợp này, giống như mọi hài nhi khác. Vì muốn chứng minh nhân tính đích 
		thực và tình yêu đối với loài người, Chúa chịu đựng điều bất tiện mặc 
		dầu không đòi hỏi Chúa phải chịu. Tình yêu vô biên của Chúa cho nhân 
		loại làm cháy lên trong Mẹ Maria lòng cảm tạ đầy yêu thương đối với 
		Chúa, tạo ra trong Mẹ nhiều hành động anh hùng thánh đức. Vì thấy Chúa 
		Hài Đồng Giêsu không muốn mang giày dép và chỉ cần một tấm áo, Mẹ Maria 
		nói với Chúa: “Con và Chúa của mẹ, mẹ của Con không lòng nào để Con đi 
		chân trần lúc tuổi non nớt. Con yêu dấu của mẹ, hãy cho phép mẹ làm thứ 
		gì để bọc chân Con. Mẹ cũng sợ rằng thứ vải thô cứng, mà Con xin mẹ may, 
		sẽ làm đau thân xác non nớt của Con, nếu Con không cho phép mặc cho Con 
		áo lót mềm bên trong.” Chúa nói với Mẹ Maria: “Thưa Mẹ của Con, Con xin 
		vui lòng để thứ vật liệu nhẹ thông thường lót chân Con cho tới ngày Con 
		rao giảng công khai, vì Con phải đi chân trần trong giai đoạn đó. Nhưng 
		Con không muốn mặc đồ lót mỏng, vì nó khích thích khoái lạc thân xác, và 
		là nguyên nhân nhiều tật xấu xa nơi nhân loại. Con muốn, bằng gương sáng 
		của Con, dạy mọi người từ bỏ khoái lạc xác thịt vì yêu mến bắt chước 
		Con.”<br>
		Từ khi Chúa Hài Đồng Giêsu đứng đi được, Chúa khởi sự rút về ẩn dật, sử 
		dụng một số giờ ban ngày trong phòng cầu nguyện của Thánh Mẫu Maria yêu 
		dấu. Vì Đức Hiền Mẫu cực khôn ngoan lo lắng tìm biết những điều Chúa 
		muốn Mẹ đối xử với Chúa, Chúa đáp lời cầu khẩn âm thầm của Mẹ: “Thưa Mẹ 
		của Con, Mẹ hãy vào và ở lại với Con luôn để Mẹ có thể bắt chước Con 
		trong các việc Con làm, vì Con muốn khuôn đúc và trưng bày trong Mẹ sự 
		trọn lành cao vời mà Con muốn thấy được hoàn thành nơi các linh hồn. Nếu 
		các linh hồn không chống lại những ý định đầu tiên của Con (1 Tim. 2:4), 
		các linh hồn đã được ban cho những hồng ân dồi dào nhất. Nhưng vì nhân 
		loại cản trở việc này, Con đã chọn Mẹ làm biển chứa mọi sự trọn lành và 
		mọi kho tàng quyền năng của Con mà các người khác trong nhân loại đã sỉ 
		nhục mà bị mất. Vì thế, Mẹ hãy quan sát theo dõi mọi hành động của Con 
		để bắt chước Con.”<br>
		Mẹ Maria đã được canh tân làm Môn Đệ của Con cực thánh. Từ ngày đó trở 
		đi những mầu nhiệm vĩ đại được trao đổi giữa Chúa Hài Đồng và Mẹ Maria, 
		mà chỉ tới tận thế các mầu nhiệm đó mới được tỏ lộ. Nhiều lần Chúa Hài 
		Đồng phủ phục trên đất, những lần khác Chúa đứng như hình thánh giá, tha 
		thiết khẩn nài xin Thiên Chúa Cha cho việc cứu chuộc nhân loại. Đức Hiền 
		Mẫu rất yêu dấu bắt chước Chúa trong các việc này, vì mọi việc làm của 
		linh hồn cực thánh Chúa đều tỏ rõ cho Mẹ Maria, y như mọi cử chỉ bên 
		ngoài của thánh thể Chúa. Tác giả đã nói về sự hiểu biết này của Mẹ ở 
		nhiều phần khác trong sách này và cần phải năng được nhắc lại, vì đó là 
		nguồn ánh sáng hướng dẫn Mẹ trong suốt cuộc đời rất thánh Mẹ. Đây là ân 
		sủng đặc biệt mà toàn thể mọi thụ tạo chung lại cũng không thể nào hiểu 
		được hoặc mô tả về hồng ân đó bằng tất cả khả năng của họ chung lại. Mẹ 
		Maria không luôn được vui hưởng thị kiến Thiên Chúa, nhưng Mẹ được thấy 
		nhân tính và linh hồn cực thánh cùng với tất cả mọi hoạt động của nhân 
		tính và linh hồn Chúa Giêsu. Mẹ Maria đặc biệt chứng kiến các hiệu lực 
		của việc hợp nhất nhân tính với thiên tính. Mẹ thấy các hành động nhân 
		tính của Chúa âm thầm tôn thờ yêu mến, tôn vinh thiên tính mà nhân tính 
		được kết hợp với; đặc quyền này chỉ được dành riêng cho Mẹ Maria.<br>
		Vào các dịp này Chúa Hài Đồng thường khóc toát mồ hôi máu trước sự hiện 
		diện của Mẹ Maria, và xảy ra nhiều lần trước cuộc đau đớn quằn quại 
		trong vườn Cây Dầu. Những dịp này Mẹ Maria lau mặt cho Chúa và Mẹ biết 
		nguyên nhân của sự sầu phiền này. Nguyên do đó là sự hư mất của những kẻ 
		bị biết trước sẽ trầm luân vì vong ân bội bạc đối với ân sủng của Đấng 
		Tạo Hoá và Cứu Độ họ; nơi những người đó các công trình của quyền năng, 
		lòng nhân từ vô cùng của Chúa bị lãng phí. Có những lần khác Mẹ thấy 
		Chúa rực rỡ trong ánh sáng thiên đàng và các thiên thần vây quanh hát ca 
		chúc tụng. Mẹ Maria cũng được biết Thiên Chúa Cha hài lòng nơi Con Một 
		vô cùng yêu dấu (Mt. 17:5). Các việc lạ lùng này khởi đầu từ ngày Chúa 
		tròn một tuổi và bắt đầu đi đứng, chỉ một mình Mẹ Maria được chứng kiến 
		và trái tim Mẹ là kho tàng bao la tích chứa các kỳ công của Chúa.<br>
		Nhiều thiếu nhi ở Heliopolis tụ tập quanh Chúa Hài Đồng Giêsu, điều đó 
		tự nhiên đối với các trẻ nhỏ cùng lứa tuổi và hoàn cảnh. Các trẻ nhỏ 
		không có lòng ác độc quyết liệt, không thắc mắc tìm biết Chúa Hài Đồng 
		có phải là siêu nhân hay không, chúng tự do tiếp nhận ánh sáng thiên 
		đàng; Thầy dạy chân lý đã hoan hỉ đón tiếp các trẻ nhỏ này cách thích 
		nghi. Chúa đổ vào lòng các thiếu nhi này sự hiểu biết Thiên Chúa và mọi 
		thánh đức. Chúa dạy và giáo huấn chúng theo đường lối hằng sống, dồi dào 
		hơn cho người lớn. Lời Chúa nói đầy sức sống mãnh liệt, chiếm trái tim 
		chúng, ghi khắc các chân lý sâu xa vào lòng chúng, tất cả những trẻ nào 
		được diễm phúc này, về sau đều trở thành vĩ nhân thánh thiện, vì theo 
		thời gian các trẻ này làm cho mình thành trái chín mùi của hạt giống 
		thiên đàng được gieo rất sớm vào linh hồn chúng.<br>
		Chúa Giêsu đã tròn bảy tuổi, mà đây cũng là kỳ hạn được Đấng Khôn Ngoan 
		hằng hữu ấn định cho cuộc lưu đày huyền nhiệm của Chúa ở Ai cập. Để các 
		lời tiên tri được hoàn tất, Chúa Cứu Thế cần phải trở lại Nazareth. 
		Thiên Chúa Cha thông báo cho Con cực thánh vào một ngày có Đức Thánh Mẫu 
		hiện diện cầu nguyện chung với Chúa. Mẹ Maria thấy quyết định của Thiên 
		Chúa Cha phản chiếu trong linh hồn cực thánh Chúa, Mẹ thấy Chúa vâng 
		lệnh Thiên Chúa Cha. Trong trường hợp này Mẹ kết hợp với thánh ý Chúa, 
		mặc dầu Chúa và Mẹ đã quen với nơi cư ngụ hiện tại hơn là tại thị trấn 
		quê nhà Nazareth. Cả Mẹ Maria và Chúa đều không nói cho thánh Giuse biết 
		quyết định mới này của Thiên Chúa Cha. Nhưng trong chính đêm đó thiên 
		thần Chúa nói với thánh dưỡng phụ khi ngài đang ngủ, như thánh Mátthêu 
		kể lại, truyền cho ngài đem Chúa Giêsu và Đức Hiền Mẫu trở lại đất Do 
		Thái, vì Herode và đồng bọn, những người từng tìm giết Chúa, đều chết cả 
		rồi (Mt 2:19). Đấng Toàn Năng ban giá trị hết sức lớn lao trên trật tự 
		chính đáng của các thụ tạo. Vì thế, cho dù Chúa Giêsu là Thiên Chúa thực 
		và Mẹ Maria có địa vị hết sức cao vượt trên thánh Giuse về sự thánh 
		thiện, Thiên Chúa không để Chúa Con hoặc Đức Hiền Mẫu đưa ra những sắp 
		đặt cho hành trình này, mà chính thánh Giuse đảm trách vì ngài là gia 
		trưởng. Thiên Chúa muốn dạy nhân loại biết Chúa muốn mọi thứ được quản 
		trị theo trật tự tự nhiên mà Sự Quan Phòng của Chúa sắp đặt, các người 
		bề dưới, những người trong nhiệm thể Giáo Hội có bổn phận phải tuân 
		phục, vâng lời bề trên và các vị chủ chăn theo trật tự hữu hình, cho dù 
		những người đó có thể trội vượt hơn các bề trên về nhân đức và trong một 
		số lãnh vực khác.<br>
		Thánh Gia lên đường trở về Palestine có các thiên thần hộ vệ như ngày 
		trốn đi. Mẹ Maria ngồi trên lưng lừa bồng Chúa Con trên gối, thánh Giuse 
		đi bộ kề bên Thiên Chúa Con và Đức Hiền Mẫu. Những người quen biết và 
		bằng hữu của Thánh Gia rất buồn trước tin Thánh Gia lên đường hồi hương 
		vì họ mất đi các Vị Đại Ân Nhân. Nếu quyền năng Thiên Chúa không can 
		thiệp, Thánh Gia hẳn đã khó lòng rời khỏi Heliopolis, vì dân chúng tại 
		đây bắt đầu cảm thấy bóng đêm thống khổ âm thầm trùm lên trái tim họ khi 
		Mặt Trời đã đánh tan bóng tối của màn đêm (Gioan 1:9) ra đi. Khi đi qua 
		các thị trấn Ai Cập, Thánh Gia ban phát muôn ân sủng cho mọi người tại 
		các vùng có dân cư. Tin tức về Thánh Gia lên đường hồi hương được loan 
		truyền khắp nơi, những người đau ốm, tật nguyền bất hạnh tụ tập đón 
		Thánh Gia đi ngang qua. Nhiều người bệnh tật được chữa lành, ma quỉ bị 
		xua trừ ra khỏi người ta nhưng không biết Ai đã liệng chúng trở lại hoả 
		ngục mặc dầu chúng cảm thấy quyền lực Thiên Chúa khống chế chúng và ban 
		muôn ơn lành cho người ta.<br>
		Thánh Gia về tới quê nhà Nazareth, vì Chúa Cứu Thế phải được gọi là 
		Người Nazareth. Thánh Gia thấy ngôi nhà khiêm tốn cũ được người bà con 
		phía thánh Giuse coi sóc cẩn thận, người bà con này đã giúp đỡ thánh 
		Giuse trong khi Mẹ Maria ở lại nhà bà Elisabeth. Người bà con giữ nhà 
		hết sức vui mừng chào đón Thánh Gia; bà rất yêu mến Mẹ Maria, mặc dầu 
		lúc đó bà không biết chút gì về địa vị Mẹ. Mẹ Maria dắt Chúa Hài Đồng đi 
		vào trong nhà cùng với thánh Giuse. Lập tức Mẹ Maria quì phục xuống đất 
		thờ lạy cảm tạ Chúa đã hướng dẫn Thánh Gia an toàn thoát khỏi lòng ác 
		độc của Herode và an toàn trở lại ngôi nhà này, đã gìn giữ Thánh Gia 
		thoát khỏi mọi nguy hiểm trong cuộc lưu vong và suốt các hành trình dài 
		gian khổ. Hơn hết tất cả là Mẹ cảm tạ Chúa vì đã được trở về cùng với 
		Con cực thánh, lúc này trưởng thành cả về tuổi tác, về ân sủng và thánh 
		đức (Lc. 2:40).<br>
		Theo lời cố vấn của Chúa Con, Mẹ Maria đặt ra qui luật cho cuộc sống, 
		sắp đặt các việc thực hành đạo đức của Mẹ. Mẹ đã luôn giữ kỷ luật tột 
		đỉnh trọn hảo tùy theo mọi hoàn cảnh để bắt chước Con cực thánh. Lúc này 
		yên lành ổn cư, Mẹ Maria muốn làm nhiều việc thực hành tu đức mà đã 
		không thể nào thực hiện được trong cuộc hành trình. Lòng khao khát lớn 
		lao nhất của Mẹ là luôn kết hợp với Con cực thánh trong việc cứu vớt các 
		linh hồn; việc này đã được Thiên Chúa Cha hằng hữu truyền cho Mẹ cách 
		cực kỳ khẩn cấp. Nhắm mục đích tối thượng này, Mẹ kết hiệp tất cả mọi 
		thực hành của Mẹ với Chúa Cứu Thế, đây là việc làm không khi nào ngưng 
		của Chúa và Mẹ Maria. Thánh Giuse tận tụy làm mọi việc và nghề nghiệp 
		của ngài. Những điều mà các con cháu khác của Adong cho là hình phạt và 
		khổ cực lại là niềm hạnh phúc cao cả đối với thánh Giuse. Thánh Giuse 
		được chọn để bằng sức cần lao và mồ hôi nuôi dưỡng chính Thiên Chúa làm 
		người và Đức Hiền Mẫu, Đấng mà cả trời đất và mọi sự trong trời đất đều 
		thuộc sở hữu (Est. 13:10).<br>
		Mẹ Maria đích thân thi hành việc đền đáp công ơn thánh Giuse vì những 
		vất vả lo lắng của ngài. Mẹ lo lắng bữa ăn, chăm sóc an ủi ngài với lòng 
		quan tâm ân cần, biết ơn và yêu thương chí tình. Mẹ Maria vâng phục 
		thánh Giuse trong mọi sự, khiêm tốn đối với ngài chẳng khác gì Mẹ là nữ 
		tì chứ không phải hiền thê, hoặc, hơn nữa, Mẹ tự coi không phải là Mẹ 
		Đấng Tạo Thành và Chúa muôn loài. Mẹ Maria coi mình không xứng đáng hiện 
		hữu và bị đau khổ phải bước đi trên đất. Mẹ nghĩ Mẹ phải được để cho 
		thiếu thốn mọi thứ. Mẹ xây đắp trong Mẹ lòng khiêm tốn lạ lùng, tự coi 
		mình hèn kém và không xứng đáng hòa lẫn với bụi đất. Mẹ Maria dâng lên 
		Chúa lời tạ ân chân thành vì những ơn dù nhỏ nhặt nhất, vì Chúa là 
		nguyên nhân chính và nguồn gốc mọi ân sủng. Mẹ cũng cám ơn toàn thể thụ 
		tạo vì chúng là dụng cụ của lượng từ bi hải hà. Mẹ Maria cám ơn những 
		người đã làm ơn cho Mẹ. Mẹ cám ơn những người đã từ chối giúp đỡ Mẹ. Mẹ 
		cũng cám ơn những người kiên nhẫn chịu đựng Mẹ. Mẹ Maria nhìn nhận Mẹ 
		mắc nợ tất cả mọi người, mặc dầu Mẹ ban cho họ muôn ân sủng, và Mẹ tự 
		đặt mình dưới chân mọi người. Mẹ tìm các phương cách khôn ngoan giữ 
		không để mất một giây phút hoặc cơ hội nào thực hành sự trọn lành tột 
		đỉnh và các thánh đức cao cả trước sự thán phục của các thiên thần và 
		làm hài lòng Đấng Tối Cao.<br>
		LỜI MẸ MARIA<br>
		<br>
		Con của Mẹ, trong khi Mẹ phải lưu vong từ nước này tới nước khác và 
		trong mọi việc Mẹ làm, trái tim Mẹ không bao giờ bối rối, tinh thần Mẹ 
		không bao giờ sa sút, Mẹ luôn sẵn sàng chu toàn mọi thánh ý Thiên Chúa. 
		Chúa cho Mẹ biết các mục đích cao cả của Ngài, tuy nhiên việc này không 
		phải luôn được thực hiện ngay từ lúc khởi đầu vì Chúa muốn Mẹ chịu đựng 
		nhiều đau khổ lớn lao hơn nữa; và vì trong việc vâng lời Chúa, không lý 
		do nào cần thiết hơn là chính Chúa Đấng Tạo Thành an bài mọi sự. Các 
		linh hồn phải tập cho quen việc chỉ tìm kiếm nguyên do duy nhất này, chỉ 
		tìm làm vui lòng Chúa, mà không phân biệt cơ hội may mắn hoặc rủi ro, 
		cũng không để ý tới ý thích riêng của mình. Mẹ muốn con tiến tới trong 
		việc khôn ngoan này. Trong việc bắt chước Mẹ chu toàn mọi bổn phận đối 
		với Con cực thánh Mẹ, con hãy đón nhận sự sung túc hoặc bất hạnh trong 
		cuộc sống trần thế này cách bình tĩnh, với sự điềm đạm và bình an trong 
		trí khôn. Con đừng để người này làm cho con đau lòng, cũng đừng để người 
		khác làm cho con vui mừng cách vô ích; nhưng chỉ chăm chú làm những điều 
		Chúa muốn và vui lòng Chúa.<br>
		Đời sống nhân loại trộn lẫn muôn thứ khác nhau thuộc cả hai trường hợp; 
		họ ưa thứ này, nhưng ghét thứ kia; họ ghê tởm thứ này, lại ước ao thứ 
		khác. Trái tim nhân loại hữu hạn hẹp hòi hướng về các cực đoan cách thái 
		quá, tham lam vô bờ điều nó ưa thích, trái lại họ kêu ca khó chịu trước 
		những thứ trái tim không ưa. Những tâm trạng hay thay đổi, dao động bất 
		thường này tạo ra những nguy hiểm đối với tất cả hoặc nhiều nhân đức. 
		Tình yêu không chính đáng đối với một tạo vật mà không đạt tới lập tức 
		hướng linh hồn ước ao thứ khác, trông chờ niềm an ủi bù đắp nỗi thất 
		vọng nơi ước mơ trước. Nếu thành công, linh hồn bị dính líu và bối rối 
		vì khát vọng duy trì được thứ nó sở hữu, do đó những khát vọng mới chớm 
		này đẩy linh hồn vào những xáo trộn và đam mê còn lớn lao hơn nữa.<br>
		Con yêu dấu của Mẹ, con hãy đề phòng mối nguy hiểm này, hãy tấn công tận 
		gốc rễ của nó bằng việc giữ trái tim con độc lập, chỉ bám chặt vào Ơn 
		Chúa Quan Phòng, không khi nào để cho trái tim con hướng về thứ gì nó 
		ước muốn hoặc khát vọng, hoặc để nó ghê tởm điều làm đau đớn trái tim. 
		Con hãy để cho thánh ý Chúa là nguồn hoan lạc và vui sướng duy nhất của 
		con. Đừng để các ước vọng lôi kéo con, cũng đừng để cho những sợ hãi làm 
		con nản lòng. Đừng để cho những việc làm bề ngoài của con và sự chú ý 
		tới tạo vật cản trở con, hoặc làm con xao nhãng việc thi hành các nhân 
		đức. Con hãy luôn noi gương Mẹ, yêu mến và chuyên cần dõi theo gót Mẹ.</span></td>
	</tr>
	<tr>
		<td style="border-left-style: solid; border-left-width: 1px; border-right-style: solid; border-right-width: 1px; border-bottom-style: solid; border-bottom-width: 1px">
		<p align="center">
		<img border="0" src="../Suyniemmoingay/Nam2011/thanggieng/02.gif" align="right" width="200" height="200"></p>
		<p align="center">
		&nbsp;</p>
		<p align="center">
		<br>
		&nbsp;</p>&nbsp;</td>
	</tr>
</table>

</body>

</html>

PHP File Manager