File "NeuthiendangcoaBaVuLy.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/THIENCHUA/THANGTHANHTAM/NeuthiendangcoaBaVuLy.htm
File size: 30.22 KiB (30945 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html>

<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<meta name="keywords" content="Thánh kính Thánh Tâm Chúa Giêsu">
<meta name="GENERATOR" content="Microsoft FrontPage 6.0">
<meta name="ProgId" content="FrontPage.Editor.Document">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<title>Thánh kính Thánh Tâm Chúa Giêsu</title>
</head>

<body>

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="5" style="text-decoration: none" bgcolor="#FFFFE6">
	<tr>
		<td bgcolor="#FFFFF0">
		<p align="center"><b><font face="Arial" size="4" color="#800080">NẾU 
		TRẦN THẾ CÓ MA...ẮT THIÊN ĐÀNG CÓ QUỶ</font></b></td>
	</tr>
	<tr>
		<td style="text-align: right" bgcolor="#FFFFF0"><font color="#FF0000">
		<b>
		<span style="font-size: 8pt; font-family: Arial,sans-serif; font-style: italic">
		Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL</span></b></font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td style="text-align: center" bgcolor="#FFFFF0">&nbsp;</td>
	</tr>
	<tr>
		<td bgcolor="#FFFFF0">
		<p class="MsoNormal" style="line-height: normal"><i>
		<span style="font-size: 10pt; font-family: Arial,sans-serif">Mừng Lễ 
		Thánh Tâm Chúa</span></i></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: normal" align="justify">
		<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial,sans-serif">Có một 
		người bạn, khi đọc thấy mấy lời đầu tiên ở ngay trang thứ nhất của tác 
		phẩm “Cơn Khát Núi Sọ” do tôi tặng, xuất bản 5/2005, đã đặt vấn đề với 
		tôi. Mấy lời đó là: “Thánh nhân và tội nhân đều gặp nhau nơi Lòng Thương 
		Xót Chúa”. Vấn đề được người bạn của tôi đặt ra ở đây là:</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: normal" align="justify">
		<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial,sans-serif">- Ở đây, 
		qua câu này, phải chăng anh có ý nói rằng thánh nhân và tội nhân đều 
		bằng nhau và như nhau?</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: normal" align="justify">
		<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial,sans-serif">- Đúng 
		thế, tôi thâm tín và tuyên xưng rằng “thánh nhân và tội nhân” đều bằng 
		nhau và như nhau “nơi Lòng Thương Xót Chúa”. Đó là lý do, trước khi viết 
		câu ấy, tôi đã viết ở ngay câu trên là: “Chỉ khi nào con người cảm 
		nghiệm được Lòng Thương Xót Chúa, bấy giờ họ mới có thể thực sự hiệp 
		thông với nhau”.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: normal" align="justify">
		<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial,sans-serif">- Theo 
		tôi như vậy là không “fair”, là bất công. Vì trong khi thánh nhân suốt 
		một đời hy sinh cố gắng lắm mới nên thánh được. Nên thánh đâu phải là 
		chuyện dễ. Đó là lý do, chắc anh còn nhớ Lời Chúa Giêsu khẳng định là kể 
		từ Gioan Tẩy Giả phải có sức mạnh mới chiếm được Nước Trời hay sao (xem 
		Mathêu 11:12)? Còn tội nhân sống theo đam mê nhục dục, theo ý riêng, 
		hưởng thụ v.v. không thể nào làm đẹp lòng Thiên Chúa (xem Rôma 8:5-8), 
		tức không thể nào chiếm được Thiên Đàng như các vị thánh. Bằng không, 
		thiên đàng không phải là và không còn là thiên đàng nữa. </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: normal" align="justify">
		<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial,sans-serif">- Theo 
		tôi, anh nói thế cũng hơi quá. Vẫn biết thiên đàng được giành cho thành 
		phần được rỗi, thành phần thần lành và thánh nhân. Điều này là một sự 
		thật hiển nhiên, theo nguyên tắc công bằng không ai có thể chối cãi 
		được. Cả thần lành lẫn thánh nhân, loài có tự do, đều phải trả qua thử 
		thách mới được vào đó, mới được hưởng vinh phúc trường sinh, đời đời 
		hiệp thông thần linh với Thiên Chúa duy nhất là Cha và Con và Thánh 
		Thần. Khi mới được dựng nên, không phải các thiên thần đã được hưởng 
		phước thiên đàng ngay, mà chỉ sau khi bị thử thách (xem Khải Huyền 
		12:1-9 đối chiếu với Khởi Nguyên 1:4). Tuy nhiên, trên thực tế, xét về 
		quyền sở hữu, thì chắc anh cũng công nhận thiên đàng là của Chúa chứ 
		không phải của con người, nên Chúa muốn ban cho ai thì người ấy được. 
		Theo tôi đó là ý nghĩa câu nói của Thánh Phaolô Tông Đồ, một vị thánh đã 
		nhận mình là tỗi lỗi nhất trong các tội nhân (xem 1Timothêu 1:15), xác 
		tín và khẳng định: “Thiên Chúa thương ai thì thương” (Roma 9:18 và 15; 
		Xuất Hành 33:19).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: normal" align="justify">
		<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial,sans-serif">- Anh nói 
		vậy có nghĩa là nơi Thiên Chúa chỉ có tình thương mà không có đức công 
		minh. Cả tội nhân Ngài cũng có thể và có quyền cho vào thiên đàng với 
		các thần lành và thánh nhân hay sao?</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: normal" align="justify">
		<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial,sans-serif">- Theo 
		tôi, nếu chúng ta chưa thấu triệt được tình yêu vô cùng nhân hậu của 
		Thiên Chúa, thì dù công chính và thánh thiện mấy đi nữa, chúng ta cũng 
		vẫn vô tình rơi vào trường hợp bất hạnh của người con cả trong dụ ngôn 
		người cha nhân lành, tức là người con không phung phá như đứa em của 
		mình, nhưng lại là đứa con hoang đàng, vì ở gần cha mà chẳng hiểu cha 
		gì, mà xa cha hơn cả đứa em phung phá nữa (xem Luca 15:11-32). Nếu anh 
		đọc bài “Xa Cha Phung Phá – Gần Cha Hoang Đàng…” ở chương hai cuốn sách 
		tôi tặng anh, anh sẽ hiểu rõ vấn đề. Bằng không, tôi sợ rằng, thành phần 
		chống cộng trên thế gian này vừa vào thiên đàng, mà chẳng may trông thấy 
		Marx, Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Pol Pot v.v. , hay ít 
		nhất một trong thành phần trùm cộng sản này, tươi cười ra đón mừng họ, 
		họ liền dội lại, cho rằng đây không phải là thiên đàng. Hay thành phần 
		Công Giáo, vừa vào thiên đàng, chợt trông thấy Giuđa Íchca, Luthêrô, 
		Hitler v.v. liền choáng váng ngất xỉu, vì trước mắt họ là cả một hỏa 
		ngục chứ không phải thiên đàng mà họ mơ ước… Chẳng cần nói đâu xa, ngay 
		trên trần gian này, tôi đã thấy nhiều người rất tốt lành đạo đức, thậm 
		chí thánh thiện nữa là đằng khác, thế mà cuộc đời họ vẫn cảm thấy lo âu 
		sợ hãi trước những bóng ma chập chờn. Họ lên rước lễ mỗi khi tham dự 
		Thánh Lễ, rước lấy vị “Thiên Chúa là tình yêu” (1Gioan 4:8,16) đấy, 
		nhưng họ vẫn tránh né thành phần họ không thích, vẫn sợ gặp những ai 
		chống đối họ. Nếu trên trần gian này chúng ta còn sống trong tâm trạng 
		sợ ma như thế, còn sống không đội trời chung với thành phần chúng ta 
		không thích hay mộ phạm đến chúng ta như thế, thì quả thực thiên đàng 
		chẳng khác gì hỏa ngục: có họ sẽ không có chúng ta - họ được vào thiên 
		đàng thì chúng ta thà ở hỏa ngục còn hơn….</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: normal" align="justify">
		<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial,sans-serif">- Những 
		điều anh nói không phải là không có lý. Thậm chí khó có thể bẻ lại được. 
		Nghe anh nói tôi cảm thấy anh như là một nhà luật sư thiên tài có khả 
		năng hùng hồn biện hộ cho thành phần tội nhân trước tòa án, một luật sư 
		khéo léo biến đen ra trắng, biến dữ thành lành. Như thế, theo tôi cái 
		“hư hư thật thật” này cũng là những gì dường như phản ảnh một thứ chủ 
		nghĩa tương đối theo ý hệ duy nhân hiện nay, một chủ nghĩa bị Đức Thánh 
		Cha Biển Đức XVI liên lỉ và kịch liệt chống đối bài bác. Nhất là, tôi 
		chỉ sợ rằng nghe thấy lập luận của anh, một lập luận hầu như tất cả mọi 
		thành phần ma đầu gian manh độc hại nhất trên trần gian này đều có thể 
		được cứu rỗi. Để rồi, từ đó, những kẻ vốn đang sống như không có Thiên 
		Chúa, hay như Thiên Chúa đã chết trong thế giới hiện sinh ngày nay, lại 
		càng vui mừng vì thấy rằng dường như không có hỏa ngục mà chỉ có thiên 
		đàng thôi. Nghĩa là, cứ phạm tội, dù là tội gì, tội trọng đến đâu và tội 
		nhiều đến đâu, rồi cuối cùng cũng được cứu rỗi theo Lòng Thương Xót 
		Chúa, phải không?</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: normal" align="justify">
		<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial,sans-serif">- Tôi 
		không phủ nhận thực tại hỏa ngục. Chúa Giêsu nói không ít về thực tại 
		này, và diễn tả tình trạng của thành phần ở trong thực tại ấy bằng thành 
		ngữ “khóc lóc nghiến răng” (Mathêu 8:12; 13:42,50; 22:13; 24:51; 25:30). 
		Sau cuộc chung thẩm, Người còn nói rõ về số phận của thành phần dê rằng: 
		“những người này sẽ bị trừng phạt đời đời” (Mathêu 25:46). Trong dụ ngôn 
		về người phú hộ và Lazarô, Người còn nói rõ về khoảng cách vô cùng bất 
		khả lấp giữa thiên đàng và hỏa ngục là “từ đó không thể qua đây và từ 
		đây không thể qua đó” (Luca 16:26). Sách Khải Huyền cũng nói tới thực 
		tại ấy, và gọi đó là “cái chết thứ hai” (20:6,14). Tuy nhiên, về số phận 
		đời đời của bất cứ ai, ngoại trừ thành phần thần dữ là thành phần đã bị 
		hư đi, được Thánh Kinh ghi nhận theo mạc khải thần linh (xem Khải Huyền 
		12:8; Gioan 8:44), thì không ai trong chúng ta biết được chắc chắn và 
		quyết đoán, kể cả số phận đời đời của những tên tuổi lừng danh khét 
		tiếng trong lịch sử thế giới được tôi kể tới. Thậm chí, thân phận của 
		Giuđa Íchca là nhân vật, theo chúng ta, có thể nói là đứng đầu trong 
		danh sách của các kẻ đáng bị hư đi, cũng không ai biết rõ ra sao. Không 
		biết anh có đọc cuốn “Vượt Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng” của Đức Gioan Phaolô 
		II hay chưa, (ấn bản Anh ngữ, xuất bản năm 1994), vị Giáo Hoàng của Lòng 
		Thương Xót Chúa này, vị chết vào thời điểm áp lễ Chúa Tình Thương 
		2/4/2005, với lời di chúc cho toàn thể Giáo Hội về Lòng Thương Xót Chúa 
		qua bài huấn từ truyền tin được ngài dọn sẵn cho Chúa Nhật Lễ Chúa Tình 
		Thương hôm sau, ngày 3-4, đã viết gì về số phận đời đời của Giuđa ở 
		trang 186, nếu không phải những lời sau đây: “Thậm chí kể cả lời Chúa 
		Giêsu nói về Giuđa là kẻ phản bội rằng ‘thà con người ấy đừng sinh ra 
		thì hơn’ (Mt 16:24), thì những lời của Người cũng không ám chỉ một cách 
		chắc chắn về tình trạng muôn đời trầm luân”.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: normal" align="justify">
		<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial,sans-serif">- Như thế 
		thì theo anh vấn đề “phải chăng có ít kẻ được cứu rỗi?” (Luca 13:23), 
		một vấn nạn được một người đặt ra cho Chúa Giêsu này là sai. Vì theo 
		chiều hướng biện hộ của anh, nhiều người, nếu không muốn nói là đa số, 
		thậm chí là hầu hết, được cứu rỗi phải không?</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: normal" align="justify">
		<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial,sans-serif">- Đúng 
		vậy, trong chương 11 của tác phẩm “Cơn Khát Núi Sọ” tôi tặng anh, chương 
		có nhan đề “Hỏa Ngục Chỉ Lượm Được Cặn Bã Thế Gian”, ở trang 131, tôi đã 
		cảm nhận thế này: “Nếu là người, làm gì chúng ta cũng phải làm sao để 
		mang lại lợi ích nhất cho mình, và càng khôn ngoan và quyền năng, chúng 
		ta càng đạt được ý muốn mưu lợi của mình thế nào, thì vô cùng khôn ngoan 
		và toàn năng như Thiên Chúa, chẳng lẽ một việc cứu chuộc con người vô 
		cùng quan trọng, đến nỗi Người đã phải nhập thể vô cùng hèn hạ và tử giá 
		vô cùng nhục nhã như thế, lại chỉ mang về được một thiểu số linh hồn vô 
		giá bất tử, thua quyền lực của Satan là tạo vật của Người?!? Đó cũng là 
		lý do, Chúa Giêsu đã khẳng định với người nữ sứ giả giáo dân (Magarita 
		người Bỉ), như sau:</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: normal" align="justify"><i>
		<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial,sans-serif">‘Khi Cha 
		bị đóng đanh trên Thánh Giá như một tội nhân chỉ vì yêu, lẽ nào Cha lại 
		chỉ được ôm lấy khoảng không trống rỗng’ (Thông Điệp Tình Yêu Nhân Hậu 
		ngày 15/10/1966); ‘Hỏa ngục chỉ thu nhặt được những cặn bã xấu nhất của 
		nhân loại. Con hãy tin rằng trước khi đành bỏ cho hỏa ngục một linh hồn, 
		Cha đã thử dùng mọi phương thế theo lòng thương xót của Cha, để cứu rỗi 
		linh hồn ấy. Ai là người muốn được cứu rỗi? Người công chính và tội nhân 
		thống hối. Ai từ chối không muốn được cứu rỗi? Kẻ tội lỗi cứng lòng. Ai 
		sẽ được cứu rỗi? Người ao ước được cứu rỗi với lòng tin tưởng và cậy 
		trông’ “</span></i><span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial,sans-serif"> 
		(cùng nguồn, ngày 4/10/1967).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: normal" align="justify">
		<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial,sans-serif">Thực tế 
		cho thấy, về phương diện tâm linh, con người tội lỗi trên đời này là một 
		con người sống trong sự chết, một sự chết, đối với Lời Nhập Thể là Chúa 
		Giêsu Kitô thì chẳng khác gì như là một giấc ngủ (xem Mathêu 9:24; Gioan 
		11:11), Người cần phải gọi họ dạy, lay tỉnh họ dậy, bằng hiện sủng, thậm 
		chí bằng cả thánh giá đau khổ. Vì là một giấc ngủ, dù có ngủ say, ngủ mê 
		ngủ mệt đến mấy, đến độ “xông mùi” (Gioan 11:39) đi nữa, như trường hợp 
		của Lazarô, nhưng bởi “lời Chúa là những gì sống động và tác hiệu, sắc 
		hơn gươm hai lưỡi. Thấu nhập và chia cắt hồn thiêng, xương tủy; phán 
		quyết tâm tưởng của cõi lòng” (Do Thái 4:12), mà con người tội lỗi vẫn 
		còn khả năng nghe được tiếng “Thiên Chúa là Thần Linh” (Gioan 4:24): “Kẻ 
		chết sẽ nghe thấy tiếng của Con Thiên Chúa và những ai nghe theo tiếng 
		ấy sẽ được sống” (Gioan 5:25).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: normal" align="justify">
		<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial,sans-serif">Đó là lý 
		do, theo tôi, chỉ có kẻ nào muốn đời đời hư đi mới bị hư đi mà thôi, chỉ 
		có kẻ nào nhất định chọn Satan và ma quỉ làm bạn, chọn hỏa ngục làm 
		thiên đường mới vĩnh viễn mất Chúa là cùng đích của mình mà thôi. Nếu 
		anh hiểu được sâu xa câu Chúa Giêsu nói trên cây thập giá, “Lạy Cha, xin 
		tha cho họ, vì họ lầm, không biết việc họ làm” (Luca 23:34), anh sẽ cảm 
		thấy tin tưởng vào Lòng Thương Xót Chúa hơn.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: normal" align="justify">
		<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial,sans-serif">Theo tôi 
		hiểu, lời Chúa Giêsu nói ở đây ám chỉ chung thành phần loài người tội 
		nhân chúng ta, (vì nếu loài người không sa ngã phạm tội thì Người đã 
		không cần phải chết), cách riêng những ai trực tiếp can dự vào cuộc khổ 
		nạn và tử giá vô cùng đau thương nhục nhã của Người. Thế nhưng, dù sao 
		việc họ làm cũng là vì lầm lẫn, như vị lãnh đạo tông đồ đoàn Phêrô đã 
		lên tiếng trong những Bài Giảng Tiên Khởi (xem Tông Vụ 3:17). Bởi họ 
		nghĩ rằng họ sát hại một tên lộng ngôn phạm thượng, “chỉ là người mà dám 
		cho mình ngang hàng với Thiên Chúa” (Gioan 10:33), chứ không nghĩ là sát 
		hại một vị Thiên Chúa Làm Người, bằng không, như Thánh Phaolô quả quyết 
		“họ sẽ không bao giờ đóng đanh vị Chúa hiển vinh này” (1Corintô 2:8). 
		Chính vì họ chỉ bị “nhầm lạc” trước nhân tính của Chúa Kitô, chứ không 
		phải phạm đến “thần tính” của Người, phạm đến “Thánh Linh”, mà tội lỗi 
		của họ vẫn được thứ tha, như Người khẳng định: “Ai nói phạm đến Con 
		Người sẽ được thứ tha, còn ai nói phạm đến Thánh Linh sẽ không được tha 
		thứ, dù ở đời này hay ở đời sau” (Mathêu 12:32).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: normal" align="justify">
		<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial,sans-serif">Đó là lý 
		do, tiến trình tu đức Kitô giáo là tiến trình “vượt qua sự chết mà vào 
		sự sống” (Gioan 5:24), “từ tối tăm ra ánh sáng lạ lùng” (1Phêrô 2:9), từ 
		tình trạng không nhận biết tới chỗ nhận biết, một nhận biết làm cho con 
		người được sống đời đời (xem Gioan 17:3). Tuy nhiên, để chúng ta có thể 
		nhận biết mình, rồi từ đó nhận biết Ngài, Ngài bao giờ cũng thanh tẩy 
		những xấu xa và bất xứng của chúng ta, bằng chính những gì của chúng ta 
		và nơi chúng ta, như tuyệt chiêu “gậy ông đập lưng ông” hay phương pháp 
		trị liệu “của độc giải độc”.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: normal" align="justify">
		<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial,sans-serif">Thật vậy, 
		nếu Thiên Chúa vô cùng khôn ngoan và toàn năng song Ngài vẫn không dùng 
		cách nào khác ngoài thập giá, là biểu hiệu cho nguyền rủa và sự chết đối 
		với loài người, để cứu chuộc chúng ta thì Ngài cũng dùng sự dữ, thậm chí 
		kể cả tội lỗi của chúng ta là những gì phạm đến Ngài, để thánh hóa chúng 
		ta, để làm cho chúng ta biết mình, nhờ đó, nhận biết Ngài. Đó là cảm 
		nghiệm tôi chia sẻ trong cuốn sách tôi tặng anh, ở chương 9, với tựa đề 
		“Thiên Chúa Trừng Phạt là Người Cha Tội Nghiệp”.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: normal" align="justify">
		<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial,sans-serif">- Anh nói 
		làm chính bản thân tôi cũng cảm thấy hết sức an ủi và vững tâm hơn. Thế 
		nhưng, như anh quá rõ, chúng ta đang sống ở giữa một xã hội toàn cầu hóa 
		văn minh hầu như tuyệt đỉnh ngày nay, thời điểm con người đã hầu như mất 
		hết ý thức tội lỗi, không còn biết tội là gì, nhất là lại cho thiện là 
		ác và ác là thiện, nếu không muốn nói rằng con người theo khuynh hướng 
		“pro-choice” đã đi đến chỗ ngông cuồng mù quáng tự định đoạt lấy thiện 
		ác, ở chỗ, tất cả những gì họ nghĩ đều là chân, và tất cả những gì họ 
		muốn đều là thiện. Bởi thế, đời sống đạo, đời sống tu đức ngày nay, vấn 
		đề giữ mình trong sạch và sạch tội đã là những gì hết sức khó khăn, nếu 
		không muốn nói là bất khả đối với không ít người, chưa nói gì đến vấn đề 
		nên thánh và làm chứng nhân. Anh có nghĩ rằng chúng ta có thể giữ mình 
		sạch tội, nên thánh và làm chứng nhân được trong thời buổi mà tôi cảm 
		thấy hình như ứng nghiệm lời Chúa Giêsu tiên báo về thời tận thế: “Vì sự 
		dữ gia tăng mà lòng mến trở nên nguội lạnh nơi nhiều người” (Mathêu 
		24:12), đến nỗi, “không biết khi Con Người tới, liệu Người có còn thấy 
		đức tin trên thế gian này hay chăng?” (Luca 18:8), vì &quot;có những thiên 
		sai giả và tiên tri giả xuất hiện, làm được những dấu kỳ cùng sự lạ vĩ 
		đại tới độ lừa đươc cả thành phần được tuyển chọn nữa&quot; (Mathêu 24:24)?
		</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: normal" align="justify">
		<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial,sans-serif">- Theo 
		tôi thì được, nhất định là được. Tại sao? Nếu anh để ý sẽ thấy, ngay sau 
		mấy câu Phúc Âm Chúa Giêsu nói về thời tận thế anh vừa trưng dẫn, Người 
		mở ra cho chúng ta thấy một chân trời đầy hy vọng như sau: “Ai bền đỗ 
		đến cùng sẽ được cứu độ. Tin mừng về nước trời sẽ được rao giảng khắp 
		thế giới như một chứng từ cho tất cả mọi dân nước. Chỉ sau đó mới tới 
		ngày cùng tháng tận” (Mathêu 24:13-14). Đó, anh thấy không, ngay chính 
		lúc thế giới đang đâm đầu xuống hố diệt vong thì ơn cứu độ xuất hiện qua 
		việc truyền bá phúc âm hóa khắp nơi, điển hình nhất từ Công Đồng Chung 
		Vaticanô II (11/10/1962-8/12/1965) tới nay. Ngoài ra, chính Đức Thánh 
		Cha Gioan Phaolô II đã khẳng định điều này với thành phần giới trẻ trong 
		Sứ Điệp gửi cho họ vào thời điểm Đại Năm Thánh 2000 như sau:</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: normal" align="justify"><i>
		<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial,sans-serif">“Các con 
		sẽ hỏi Cha: thế nhưng ngày nay còn có thể làm thánh được sao? Nếu chúng 
		ta chỉ cậy dựa vào sức mạnh loài người thì thực sự là không thể làm được 
		việc này. Thật vậy, các con đã quá rõ về những thành quả cũng như thất 
		bại của mình; các con cũng biết được những gánh nặng đè trên con người, 
		nhiều nguy hiểm đe dọa họ và những hậu quả do tội lỗi của họ gây ra. Có 
		những lúc chúng ta bị chán nản kềm giữ, đến nỗi nghĩ rằng không thể nào 
		thay đổi được gì hết, cả ở nơi thế gian cũng như nơi bản thân mình. Cho 
		dù cuộc hành trình khó khăn, chúng ta cũng có thể làm được mọi sự trong 
		Vị là Đấng Cứu Chuộc của chúng ta. Vậy các con đừng hướng về một ai khác 
		ngoài Chúa Giêsu. Các con đừng nhìn đâu khác ngoài nơi mà chỉ có Người 
		mới có thể ban cho các con, vì ‘trong tất cả mọi danh hiệu trên thế gian 
		được ban cho loài người thì chúng ta được cứu độ chỉ do nơi danh hiệu 
		duy nhất này mà thôi’ (Acts 4:12). Với Chúa Kitô thì sự thánh thiện 
		Thiên Chúa muốn nơi mọi người lãnh nhận bí tích rửa tội vẫn có thể đạt 
		thành. Các con hãy cậy dựa nơi Người; các con hãy tin tưởng vào quyền 
		năng vô địch của Phúc Âm và hãy lấy đức tin làm nền tảng cho niềm hy 
		vọng của mình. Chúa Giêsu bước đi với các con, Người canh tân tâm hồn 
		các con và kiên cường các con bằng sức mạnh của Thần Linh Người. Hỡi 
		giới trẻ của mọi địa lục, các con đừng sợ là những vị thánh của thiên 
		niên mới! … Chúa muốn các con là những tông đồ gan dạ cho Phúc Âm của 
		Người và là những nhà xây dựng cho một nhân loại mới. Thật vậy, các con 
		làm sao có thể tin vào vị Thiên Chúa làm người mà lại không đứng vững 
		trước tất cả những gì hủy hoại bản vị con người và gia đình con người? 
		Nếu các con tin rằng Chúa Kitô đã tỏ cho thấy tình yêu của Chúa Cha đối 
		với mọi người thì các con không thể không nỗ lực đóng góp vào việc xây 
		dựng một thế giới mới, được xây dựng trên quyền năng của yêu thương và 
		tha thứ, chống lại với bất công và tất cả mọi thảm cảnh về thể lý, luân 
		lý và tinh thần, qui hướng chính trị, kinh tế, văn hóa và kỹ thuật vào 
		việc phục vụ con người và việc phát triển toàn vẹn của con người”.</span></i></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: normal" align="justify">
		<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial,sans-serif">Có một em 
		Thiếu Nhi Fatima ở TGP/LA một lần đã email hỏi tôi một vấn đề sống đạo 
		rất thực tế là xưng tội và giữ mình sạch tội, nhưng vẫn cứ sa ngã phạm 
		tội thì, theo em, hình như ân sủng thua sự dữ nơi con người của chúng 
		ta. Sau khi đã lấy lời Chúa và gương sống thánh của một số vị để chứng 
		min h cho em thấy rằng nên thánh được, tức ân sủng thắng sự dữ, tôi đã 
		khuyến khích em như thế này: “nên thánh ở đây còn là và chính là biết 
		mình vô cùng yếu đuối bất lực và hoàn toàn tin tưởng vào lòng thương xót 
		Chúa, nhờ đó, con người tội nhân chúng ta chẳng những không dám khinh 
		thường bất cứ một tội nhân nào (xem Luke 18:9-14), trái lại, còn biết 
		cảm thông với những ai sa ngã phạm tội, để hy sinh cầu nguyện cho họ như 
		Thiếu Nhi Fatima Giaxinta, nhất là biết tha thứ cho cả những người làm 
		khốn mình, phạm đến mình, thì không phải mình đã nên giống Chúa Kitô 
		(xem Luke 23:34), đã nên trọn lành như Cha trên trời (xem Matthew 
		5:43-48; Lk 6:35-36) rồi hay sao?</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: normal" align="justify">
		<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial,sans-serif">Tóm lại, 
		việc nên thánh là do Chúa hơn là do con người. Chúa muốn chúng ta nên 
		thánh thế nào thì chúng ta nên thánh như vậy. Nếu chúng ta không thể nên 
		thánh như Mẹ Têrêsa Calcutta hay như Đức Gioan Phaolô II, chúng ta vẫn 
		có thể nên thánh short cut - đốt giai đoạn như người trộm lành, bằng 
		cách không thôi khao khát nhân đức trọn lành, một lòng khao khát được tỏ 
		ra bằng nhận thức con người vô cùng yêu đuối bất lực của mình để hoàn 
		toàn tin tưởng vào Lòng Thương Xót Chúa. Dù nên thánh cách nào đi nữa, 
		Kitô hữu chúng ta cũng gặp nhau ở chỗ lòng thương xót Chúa: Nếu con 
		người nên thánh ‘lớn’ là con người đã được lòng thương xót Chúa chiếm 
		đoạt để trở thành dụng cụ ban phát lòng thương xót Chúa cho tội nhân, 
		như Mẹ Têrêsa Calcutta và Đức Gioan Phaolô II, thì con người nên thánh 
		‘nhỏ’ là con người cần đến lòng thương xót Chúa hơn, để càng ngày họ 
		càng nhật biết mình yếu đuối bất lực mà tin tưởng vào Lòng Thương Xót 
		Chúa”.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: normal" align="justify">
		<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial,sans-serif">- Qua 
		những gì anh chia sẻ, tôi quả thực cảm nhận được rằng “chỉ khi nào con 
		người cảm nghiệm được Lòng Thương Xót Chúa, bấy giờ họ mới có thể thực 
		sự hiệp thông với nhau. Thánh nhân và tội nhân đều gặp nhau nơi Lòng 
		Thương Xót Chúa”. Đã vào thiên đàng ai cũng là thánh, và đều cùng với đệ 
		nhất tạo vật về ân sủng “đầy ơn phúc” (Luca 1:28) muôn đời tri ân cảm tạ 
		rằng: “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, và thần trí tôi hớn hở mừng rỡ trong 
		Thiên Chúa Đấng cứu chuộc tôi. Ngài đã thương đến phận thấp hèn tôi tớ 
		của Ngài. Vậy từ nay muôn đời sẽ khen tôi diễm phúc. Thiên Chúa là Đấng 
		toàn năng đã làm cho tôi những sự trọng đại, danh Ngài là Thánh. Lòng 
		thương xót Ngài trải qua đời nọ đến đời kia, hằng bao bọc những người 
		kính sợ Chúa” (Luca 1:46-50). Bằng không, nếu trần thế có ma ắt thiên 
		đàng có quỉ vậy!</span></td>
	</tr>
	<tr>
		<td bgcolor="#FFFFF0">
		<p style="text-align: center"><a target="_top" href="../../index.htm">
		<img border="0" src="../../tinmungLOGO/trangnha.gif" width="85" height="30"></a></td>
	</tr>
</table>

</body>

</html>

PHP File Manager