File "Vai-tro-cua-Duc-Maria-trong-hoi-thanh.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/THIENCHUA/Con Duong Ve Troi/Vai-tro-cua-Duc-Maria-trong-hoi-thanh.htm
File size: 23.67 KiB (24243 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">
<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<LINK rel="stylesheet" href="../Suyniemmoingay/_common/colours.css" type="text/css">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<title>Con Duong Ve Troi</title>
<style>
<!--
div.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-top:0cm;
margin-right:0cm;
margin-bottom:10.0pt;
margin-left:0cm;
line-height:115%;
font-size:12.0pt;
font-family:"Arial","sans-serif";
}
-->
</style>
<meta name="keywords" content="Con duong ve troi, Duc Maria, Hoi thanh, Giêsu Kitô; tinmung.net; dongcong.net, suy niệm mỗi ngày">
<meta name="description" content="Con duong ve troi, Duc Maria, Hoi thanh, Giêsu Kitô; tinmung.net; dongcong.net, suy niệm mỗi ngày">
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../_themes/network/netw1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="network 1011">
</head>
<body>
<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="10" bgcolor="#FFFFF2" cellpadding="10">
<tr>
<td style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 12pt; font-weight: bold; border-left-style:solid; border-left-width:1px; border-right-style:solid; border-right-width:1px; border-top-style:solid; border-top-width:1px">
<p align="center">
<font face="Arial"><b><font size="3">Chương 9: VAI TRÒ CỦA ĐỨC
MARIA TRONG HỘI THÁNH</font></b></td>
</tr>
<tr>
<td style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 12pt">
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Người ta chẳng thể tiến tới pho tượng mẹ bồng con, rồi phá huỷ
người mẹ mà trông đợi vẫn giữ được người con. Xúc phạm Đức Mẹ
thì cũng làm cho Chúa Giêsu Hài Đồng thành ô uế. Mọi tôn giáo
trên thế giới đều rơi vào huyền thoại và hoang đường trừ Kitô
giáo. Đức Kitô tách biệt khỏi các thần linh dân ngoại, vì Ngài
liên kết hữu cơ với một phụ nữ và với lịch sử nhân loại. "Sinh
bởi trinh nữ Maria và chịu khổ nạn dưới thời Phongxio Philatô".
Coventry Patmore có lý khi gọi Đức Maria là "Vị cứu tinh độc
nhất của chúng ta, ngoài Chúa Kitô". Nhờ Đức Mẹ mà chúng ta thấu
hiểu dễ dàng hơn Trái Tim hiền hậu và khiêm nhường của Chúa
Giêsu. Đức Mẹ liên kết tất cả chân lý lớn của Kitô Giáo lại với
nhau, tựa như miếng gỗ nhỏ nắm giữ con diều trên không trung.
Các trẻ chơi diều thường buộc sợi dây vào cái que rồi thả sợi
dây cho con diều bay lên. Đức Mẹ giống như miếng gỗ dùng làm que
đó. Chung quanh Ngài chúng ta buộc tất cả mọi sợi dây quý báu
chân lý đức tin: Thí dụ màu nhiệm Nhập Thể, màu nhiệm Cứu Chuộc,
bí tích Thánh Thể, Giáo Hội... Bất chấp chúng ta bay cao đến đâu
trong đức tin như cánh diều khỏi mặt đất, thì chúng ta vẫn có
Đức Mẹ giữ gìn chân lý vẹn toàn. Nếu chúng ta ném miếng gỗ đi,
chúng ta chẳng còn con diều. Nếu chúng ta từ bỏ Đức Mẹ, chúng ta
cũng không còn Chúa Giêsu, Ngài sẽ lẩn vào mây xanh như cánh
diều đứt dây. Lúc ấy quả khủng khiếp cho chúng ta còn nơi dương
thế!</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Trái với nhiều ý kiến, Đức Maria không hề ngăn cản tôn thờ Chúa
Giêsu. Chẳng có chi độc địa hơn nói rằng Đức Mẹ tước đoạt linh
hồn khỏi tay Chúa Kitô. Tuyên bố như thế chẳng khác nào nói Chúa
đã chọn lầm một người Mẹ ích kỷ. Chính Chúa là tình yêu. Nếu Đức
Mẹ cách ly chúng ta khỏi Chúa Giêsu, thì chúng ta chẳng còn sở
hữu Đức Mẹ nữa. Lúc ấy làm sao Mẹ Chúa Giêsu là nơi nương ẩn cho
các tội nhân? Nếu Thiên Chúa không chọn Đức Mẹ Maria, thì chúng
ta cũng chẳng có Chúa Giêsu hiện diện giữa Hội Thánh.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Khi đọc kinh Lạy Cha, chúng ta cầu xin với Cha trên trời: "Xin
cho chúng con bánh ăn hàng ngày". Chúng ta xin Chúa bánh, dĩ
nhiên không thể ghét bỏ nông dân làm ra lúa và thợ sản xuất
bánh. Cũng vậy, các bà mẹ phân phát bánh cho các con không thể
quên Thượng Đế cung cấp lương thực cho chúng ta. Nếu đến ngày
thẩm phán mà Chúa Giêsu hạch tội chỉ nguyên vì chúng ta yêu mến
mẹ Ngài, thì xin hãy yên tâm mà vui hưởng hạnh phúc.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Bởi lẽ tình yêu của chúng ta không khởi sự nơi Đức Mẹ, thì cũng
không kết thúc nơi Ngài. Đức Mẹ là cánh cửa sổ, nhân loại đã sử
dụng mà chiêm ngắm thần tính khi còn ở trần gian này. Vì có thể
so sánh Đức Mẹ như một kính phóng đại làm rộng lớn tình yêu của
chúng ta đối với con Ngài và làm những lời cầu nguyện của mọi
người thêm sốt sắng, nóng bỏng hơn.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Thiên Chúa, Đấng tạo dựng mặt trời, thì cũng làm nên mặt trăng.
Mặt trăng không có khả năng chiếm đoạt vẻ sáng chói của mặt
trời. Mặt trăng phải nhờ mặt trời mà trôi dạt trên khoảng không
bao la của vũ trụ, đồng thời phản chiếu ánh sáng của mặt trời.
Cũng một thể cách, Đức Mẹ phản chiếu Người Con thần linh của
Ngài. Không có Người Con đó, Đức Mẹ chẳng là gì. Với Chúa Giêsu,
Đức Maria là Mẹ của nhân loại. Trong những đêm tối đen, chúng ta
biết ơn mặt trăng. Khi nhìn thấy nó chiếu sáng trên bầu trời mây
xanh, chúng ta vững bụng biết còn mặt trời. Vậy trong sự tăm tối
của thế gian này, khi người ta từ chối Chúa Giêsu, ánh sáng thật
của thế giới, thì chúng ta nhìn lên Đức Mẹ xin dẫn lối cho họ
trong khi chúng ta trông đợi bình minh tới.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Mọi người đều mang trong tim ấn bản của người mình yêu. Cái mà
người ta gọi là cú sét ái tình, thực ra là sự thể hiện của ấn
bản đó, tức sự ứng nghiệm của một giấc mơ.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Triết gia Platon cảm nhận tâm lý này, nên đã chủ trương: Kiến
thức của chúng ta hiện thời là phản ánh kiến thức tồn tại từ
trước. Thực tế không đúng như ông ta nói. Nhưng đúng, nếu chúng
ta hiểu nó như thể mình đã có một hình ảnh nào đó trong trí
khôn. Hình ảnh mà trí khôn, tập quán, kinh nghiệm và khao khát
của chúng ta làm ra. Nếu chẳng vậy, thì làm thế nào có thể nhận
ra ngay nhân vật hay đồ vật mà chúng ta yêu thích? Trước khi gặp
người nào đó chúng ta đã có sẵn cái mẫu hay khuôn trong đầu óc
về những gì mình ưa và không ưa. Một sốù đối tượng am hợp với
khuôn mẫu đó, số khác không.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Cho nên, lần đầu tiên nghe một điệu nhạc, chúng ta ưa thích hoặc
không ưa thích ngay. Chúng ta phán đoán nhờ vào khuôn mẫu đã nằm
sẵn trong trái tim mình. Những trí khôn ưa giật gân, chẳng thể ở
yên trên một đối tượng tư tưởng, hoặc vững bền trên một lý
tưởng, thì yêu thích nhạc kích động, nhảy nhót, ồn ào. Những tâm
hồn phẳng lặng yêu thích nhạc nhẹ nhàng êm dịu. Cho nên khi nghe
đúng giai điệu mình yêu thích, chúng ta nói: Đúng rồi, vậy mới
hay. Trái tim có lý lẽ riêng, điệu nhạc riêng của nó không ai
giải thích được. Đối với tình yêu cũng vậy. Có một kỹ sư nhỏ xíu
làm việc trong mỗi trái tim. Ông phác họa những mẫu tình yêu lý
tưởng từ những nhân vật bên ngoài mà ông từng trông thấy, từ
những sách vở mà ông từng đọc, từ những hy vọng, khát khao, mơ
ước, để rồi hy vọng một ngày nào đó ta sẽ bắt gặp các đối tượng
như vậy. Lòng ta sẽ thỏa mãn lúc xem thấy đối tượng cụ thể đang
đi đứng, và lúc đó, lý tưởng nhập thể hoàn toàn vào người ta yêu
thích. Như vậy là một cảm tính tức thời. Bởi vì nó đã nằm sẵn ở
đấy, chờ đợi từ lâu rồi. Một số người đi qua cả cuộc đời mà
không gặp được lý tưởng của mình cụ thể hóa. Quả là một điều bất
hạnh nếu trọn đời không gặp được lý tưởng! Tuy nhiên lý tưởng
tuyệt đối của mỗi trái tim luôn tồn tại. Và đó là Thiên Chúa.
Tất cả tình yêu loài người chỉ là bước khởi đầu vào cõi vĩnh
hằng. Một số linh hồn có diễm phúc tìm thấy lý tưởng chân thật
ngay, mà không trải qua bóng mờ của nó.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Đức Chúa Trời cũng có bản vẽ mẫu của mọi tạo vật trong trí óc
Ngài. Như một kỹ sư cưu mang bản vẽ của ngôi nhà, trước khi nó
được xây dựng, thì Thiên Chúa cũng có bản mẫu của hết mọi sự:
Bông hoa, cây cối, chim chóc, điệu nhạc, tứ thời bát tiết. Chẳng
khi nào cây cọ đụng vào tấm vải, hay chiếc đục đụng vào tảng hoa
cương, mà không có khuôn mẫu tồn tại sẵn trong trí óc người nghệ
sĩ. Cũng vậy từng nguyên tử, từng bông hoa hồng thực tế là sự cụ
thể hóa, hiện thực hoá của một hình ảnh tồn tại trước trong tâm
trí Thiên Chúa từ thuở đời đời. Tất cả những thụ tạo dưới con
người đều đáp ứng đầy đủ bản vẽ mà Thiên Chúa có trong trí óc
Ngài. Một thân cây đúng là thân cây vì nó am hợp chính xác ý
muốn của Thiên Chúa. Một bông hoa hồng đúng là bông hồng như ý
Chúa muốn vậy. Tuy nhiên tạo vật "người" thì không chính xác như
Thiên Chúa muốn, nên Ngài phải có tới hai bản vẽ về con người.
Một bản vẽ như chúng ta đang sống, bản khác như lý tưởng chúng
ta phải sống. Ngài có một bản vẽ mẫu lý tưởng về chúng ta và
cũng có bản vẽ thực tế chúng ta đang cư xử, hay thực chất cụ thể
của mỗi người. Nói cách khác một bản vẽ ngôi nhà và ngôi nhà đã
được xây dựng, một giai điệu âm nhạc và âm thanh chúng ta chơi
giai điệu đó. Ngài phải có hai ý tưởng về chúng ta, bời lẽ giữa
thực tế và lý tưởng không hoàn toàn ăn khớp với nhau. Có sự
chênh lệch giữa thực tế và lý tưởng, chúng ta không đáp ứng hoàn
toàn những điều Chúa muốn về mình, có thiếu sót giữa bản vẽ và
cụ thể. Hình ảnh trong trí óc Ngài bị lu mờ, méo mó. Bản in bị
phai màu. Bởi lẽ, một mặt, nhân cách của chúng ta chưa hoàn
thành trong thời gian, chúng ta luôn cần thân thể đổi mới. Rồi
đến tội lỗi, luôn làm mờ nhân cách, tức sự xấu của mình nguệch
ngoạc tấm bản vẽ mà tay Đấng toàn năng đã phác hoạ. Nó giống như
qủa trứng trong tủ lạnh, một vài người từ chối sức nóng của tình
yêu siêu nhiên không cho qủa trứng thánh thiện được ấp nở. Chúng
ta liên tục có nhu cầu sửa chữa lỗi lầm, các hành vi tự do của
chúng ta không ăn khớp với lý tưởng của cuộc sống. Chúng ta luôn
thiếu sót về điều thiện Chúa muốn nơi chúng ta. Thánh Phaolô nói
rằng chúng ta được tiền định để trở thành con Thiên Chúa, trước
khi nền móng trái đất được xây dựng. Nhưng một số người không
làm tròn hy vọng đó.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Tuy nhiên, một nhân vật trong toàn thể nhân loại thực tế đã làm
được việc ấy, đến độ Thiên Chúa chỉ có một hình ảnh mà thôi,
không cần hai. Người ấy hoàn toàn đáp ứng ước vọng của Thiên
Chúa. Đó là Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu. Tất cả chúng ta là những
dấu chứng bất toàn, nghĩa là không đáp ứng đầy đủ hy vọng của
Thiên Chúa. Nhưng Đức Mẹ tương xứng trọn vẹn. Lý tưởng Chúa có
về Mẹ và thực tế Mẹ sống trong xác thịt là một, không có thiếu
sót. Bản vẽ và bản sao là một, hoàn hảo và đầy đủ. Mẹ đáp ứng
mọi chi tiết như Thiên Chúa trù định, thấy trước và mơ ước. Điệu
nhạc đời Mẹ đuợc Mẹ trình bày đúng như Thiên Chúa đã viết. Đức
Maria được quan niệm, hoạch định tương đương giữa lý tưởng và
lịch sử, giữa suy nghĩ và thực tế, giữa hy vọng và hiện thực.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Vì vậy, qua nhiều thế kỷ, phụng vụ Công giáo đã áp dụng cho Mẹ
lời lẽ sách Châm Ngôn. Bởi vì Mẹ là Đấng Thiên Chúa muốn chúng
ta noi gương nên Mẹ nói về mình như bản vẽ vĩnh hằng trong
thượng trí Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu mến Mẹ ngay cả trước khi
Mẹ được tạo dựng. Mẹ được vẽ nên như ở với Thiên Chúa không
những trong việc tạo dựng và còn trước cả việc tạo dựng. Mẹ hiện
hữu trong thượng trí Thiên Chúa như một ý tưởng vĩnh hằng trước
khi có một người Mẹ nào trên dương gian. Đức Maria là khuôn mẫu
của các bà mẹ, cho nên là tình yêu đầu tiên của vũ trụ.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Một trong những vai trò của phụ nữ là cao thượng hóa đàn ông.
Bởi lẽ họ cảm nghiệm mình không ưa bê tha thấp hèn như đàn ông.
Người ta càng thiên về cụ thể, tiền bạc, thực dụng, nhục dục,
vật chất, linh hồn kẻ ấy trở nên lạnh nhạt với những giá trị
lớn, nhất là Tình Yêu Vĩ Đại đối với linh hồn. Chẳng chi buồn
chán cho bằng đong đếm, và cái có thể đong đếm lại là vật chất.
Đàn bà ôm ấp nhiều lý tưởng hơn, họ không ưa chìm đắm lâu trong
vật chất và mau tỉnh ngộ về những vui thú xác thịt. Bà ta khá
lưỡng cực hơn đàn ông, trong ý nghĩa rằng, di chuyển nhanh và dễ
dàng hơn từ vật chất đến tinh thần và ngược lại.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Ý kiến phổ thông cho rằng phụ nữ thiên về đạo đức hơn người nam,
có chút sự thật căn bản. Nhưng chỉ trong phạm vi nào đó, bản
tính của họ thiên nhiều về lý tưởng. Đàn bà có nhiều cảm tính về
vĩnh cửu, và đàn ông về thời gian tạm bợ. Nhưng cả hai đều cần
đến ơn thánh của ngôi Lời nhập thể. Trong Ngài vĩnh cửu biến
thành thời gian tại hang đá Bethlehem. Một khi thoái hóa xuống
các nết xấu, đàn bà gây nhiều gương mù hơn đàn ông. Chẳng chi
khó coi hơn phụ nữ say sưa. Bà tục hóa bậc thánh thiêng nhiều
hơn. Cái điều gọi là tiêu chuẩn "đạo đức kép", chẳng bao giờ tồn
tại và chẳng có nền tảng luân lý. Nó chẳng qua dựa trên vô thức
của đàn ông coi phụ nữ có nhiệm vụ gìn giữ luân thường đạo lý
trong khi chính bản thân đàn ông lại thường sống bê tha. </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Trong khủng hoảng, phụ nữ đứng vững vàng hơn đàn ông. Muốn chứng
minh điều ấy thì nhớ lại cuộc khổ nạn của Chúa trên đồi
Calvario, nó là cuộc khủng hoảng lớn nhất lịch sử. Linh hồn phụ
nữ vững chãi hơn, khi chúng ta suy niệm về cuộc khổ nạn này cho
công bằng, thì sự thật tỏ hiện rõ ràng: Đàn ông thất bại. Này
nhé! Giuđa ăn uống với Chúa lại giơ chân đạp Ngài, bán Ngài với
giá rẻ mạt, 30 đồng bạc, rồi giả dối ôm hôn Ngài, gợi ý rằng mọi
phản bội đời sống thánh thiêng thật khủng khiếp đến độ phải dùng
tình cảm nào đó để che giấu. Philatô, nhà chính trị tiêu biểu đã
sợ hãi liên hệ, kẻo gây nên thù ghét cho chế độ, nếu ông tha
bổng Chúa Giêsu, Người mà ông công nhận là vô tội. Ông vẫn kết
án phải chết. Anna và Caipha giả dối, dựa vào phiên toà đêm hôm
trước với chứng cớ bậy bạ, xé áo mình ra, tưởng chừng như bị xúc
phạm về tính thần thiêng của Thiên Chúa. Ba tông đồ được tuyển
chọn để chứng kiến Chúa biến hình và như vậy phải có đức tin
vững mạnh. Trong khủng hoảng này, lại ngủ vùi chẳng làm chứng
được chi. Họ vô tư và bất cần, không lo lắng chi hết. Trên đường
đi Calvario, một khách lạ tò mò nhìn vào đám đông đem Chúa Giêsu
đi hành hình, đã bị ép giúp đỡ Chúa Giêsu cho đỡ khổ. Và trên
đỉnh đồi buồn thảm chỉ còn lại một mình Gioan, các tông đồ khác
sợ hãi trốn hết. Người ta hỏi có phải ông hiện diện là vì Đức
Mẹ, người phụ nữ cần được giúp đỡ?</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Trái lại, đọc Phúc âm, người ta không thấy trường hợp nào nữ
giới phản bội Chúa. Trong phiên tòa xử án, có một tiếng nói phụ
nữ bênh vực Chúa. Bất chấp tính nghiêm khắc của các quan tòa, bà
xông vào phòng, khuyên chồng là Philatô, đừng kết án người tù. Ở
đường lên Calvario, mặc dầu đàn ông bị ép buộc vác thánh giá đỡ
Chúa Giêsu, thì những đàn bà đạo đức của Giêrusalem khóc ròng
thương hại Chúa, mặc kệ các binh lính và khách bàng quan chê
cười. Họ an ủi Chúa bằng những lời cảm thương và cử chỉ tử tế.
Một trong các phụ nữ ấy còn dám tiến ra lấy khăn lau mặt Chúa.
Sau này, đời đời người ta còn nhớ đến bà với cái tên Veronica,
nghĩa là "gương mặt chân thật". Bởi lẽ gương mặt Chúa đã in rõ
ràng trên tấm khăn của bà. Rồi chính lúc trên ngọn đồi cay đắng
Calvario, có ba người phụ nữ hiện diện. Tên các bà là: Maria
Macđala vĩnh viễn quỳ dưới chân Chúa, và người đầu tiên gặp Chúa
Phục Sinh, Maria Cleophas, Mẹ của Giacôbê và Gioan; Maria trinh
nữ, mẹ Chúa Giêsu. Ba người đàn bà đại diện cho 3 loại linh hồn,
người ta luôn tìm thấy dưới chân thánh giá: linh hồn ăn năn,
linh hồn làm mẹ, và linh hồn trinh tuyết. </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Ngày nay vì phụ nữ thất bại trong vai trò kìm chế đàn ông, chúng
ta nhìn lên Đức Mẹ để phục hồi sự trinh khiết cho thế giới. Hội
thánh đã công bố hai học thuyết tinh tuyền về Đức mẹ. Một, tinh
tuyền trong linh hồn, đó là tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội. Hai,
học thuyết tinh tuyền về thể xác, đó là tín điều Hồn Xác Lên
Trời. Tinh tuyền không có nghĩa ngu dốt. Bởi lẽ khi được truyền
tin, sinh hạ Chúa Giêsu, Đức Mẹ nói: "Tôi không biết đến người
nam". Nghĩa cụ thể là Ngài chẳng hề hưởng sự vui thú xác thịt,
nhưng đồng trinh thân xác, không biết đến đàn ông và còn đồng
trinh vì sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong linh hồn mình.
Chẳng có cảm hứng nào lên bậc đồng trinh cho bằng gương sáng của
Đức Mẹ, đời sống của Đức Mẹ quá tinh tuyền đến độ Thiên Chúa
chọn Ngài làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Tuy nhiên, Mẹ cũng thấu hiểu tính
mỏng dòn của nhân loại, nên đã sẵn sàng lôi kéo họ ra khỏi vũng
lầy bùn nhơ, đó là lý do Mẹ chọn Maria Macđala, một tội nhân hối
cải, để đứng chung với Mẹ dưới chân thập tự. Qua các thế hệ,
những ai kết hôn để được yêu thương thì Mẹ dậy rằng họ nên kết
hôn để thương yêu. Những ai chưa kết hôn thì được Mẹ dạy rằng
nên giữ bí mật của trinh trong cho đến khi Thiên Chúa ban cho
một người bạn. Những ai ưa thích nhục dục, để cho thân xác nuốt
chửng linh hồn, thì Đức Mẹ chỉ bảo, hãy để linh hồn bao bọc thân
xác. Thế kỷ 20 với học thuyết của Freud về tính dục, Đức Mẹ
khuyên nhủ con người phải nên giống hình ảnh Thiên Chúa qua
gương Ngài. Người là phụ nữ khéo léo và trung tín trao nộp chúng
ta cho Chúa Giêsu. Để đến lượt mình, Chúa Giêsu trao phó chúng
ta về tay Đức Chúa Cha, Đấng là tất cả cho mọi người. </font>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="border-left-style: solid; border-left-width: 1px; border-right-style: solid; border-right-width: 1px; border-bottom-style: solid; border-bottom-width: 1px">
<p align="center">
<img border="0" src="../Suyniemmoingay/Nam2011/thanggieng/02.gif" align="right" width="200" height="200"></p>
<p align="center">
</p>
<p align="center">
<br>
</p> </td>
</tr>
</table>
</body>
</html>