File "Tieng-goi-ve-troi.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/THIENCHUA/Con Duong Ve Troi/Tieng-goi-ve-troi.htm
File size: 81.92 KiB (83883 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<LINK rel="stylesheet" href="../Suyniemmoingay/_common/colours.css" type="text/css">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">

<title>Con Duong Ve Troi</title>
<style>
<!--
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Arial","sans-serif";
	}
-->
</style>
<meta name="keywords" content="Con duong ve troi, Duc Maria, Hoi thanh, Giêsu Kitô; tinmung.net; dongcong.net, suy niệm mỗi ngày, tinh yeu, thanh y, tuan phuc,tieng goi, ve troi">
<meta name="description" content="Con duong ve troi, Duc Maria, Hoi thanh, Giêsu Kitô; tinmung.net; dongcong.net, suy niệm mỗi ngày, tinh yeu, thanh y, tuan phuc,tieng goi, ve troi">
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../_themes/network/netw1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="network 1011">
</head>

<body>

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="10" bgcolor="#FFFFF2" cellpadding="10">
	<tr>
		<td style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 12pt; font-weight: bold; border-left-style:solid; border-left-width:1px; border-right-style:solid; border-right-width:1px; border-top-style:solid; border-top-width:1px">
		<p align="center">
				<font face="Arial"><b>Chương 1: TIẾNG GỌI VỀ TRỜI</b></font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 12pt">
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial">Các thế hệ khác, người ta tìm về thiên đàng 
				nhờ trật tự vũ trụ. Ngày nay nhờ những bất ổn trong linh hồn 
				mình. Người tân thời không xem thấy Thiên Chúa trong thiên nhiên 
				nữa. Các thời điểm khác người ta nhìn ngắm trăng sao bạt ngàn, 
				vũ trụ mênh mông, vẻ đẹp huy hoàng của bầu trời, trật tự lạ lùng 
				của các vì sao mà gẫm ra được quyền năng, và khôn ngoan của 
				Thiên Chúa. Đấng tác tạo muôn loài và duy trì thế giới. Nhưng 
				bất hạnh thay, con người tân thời đã cắt đứt với kiểu tiếp cận 
				này, bởi vài trở ngại: Người ta không còn nhiều ấn tượng về trật 
				tự thiên nhiên nữa mà quay về với các rối loại trong tâm hồn 
				mình. Bom nguyên tử đã phá hủy lòng khiếp sợ thiên nhiên, và 
				cuối cùng khoa học tự nhiên đã mang tính khách quan quá đáng đối 
				với con người kiêu căng ngày nay. Chính cá nhân chứ không phải 
				bản chất người, mà ngày nay khoa tâm lý thực sự quan tâm tới và 
				làm con người bất an.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Sự thay đỗi này không có ý nghĩa các linh hồn tân thời thôi tìm 
				kiếm Thiên Chúa, nhưng chỉ cho thấy rằng nhân loại đã từ chối 
				con đường hợp lý hơn và do đó bình thường hơn, trong việc kiếm 
				tìm Ngài. Không phải trật tự của vũ hoàn, nhưng mất trật tự 
				trong chính con người mình. Không phải vật hữu hình của thế 
				giới, nhưng những mặc cảm, những lo âu vô hình của chính bản 
				thân. Đây là những khởi đầu của các người tân thời khi họ quay 
				tìm về với tôn giáo. Trong những ngày xưa cũ, các triết gia 
				tranh luận về những vấn đề của con người. Ngày nay họ bàn tán 
				con người là một vấn đề. Ngày xưa người ta sống trong không gian 
				ba chiều: Từ nơi họ ở với bạn bè thân thích họ nhìn lên trăng 
				sao trên bầu trời và hỏa ngục dưới đất. Ngày nay vì lãng quên 
				Thượng Đế, cái nhìn của họ bị thu hẹp vào một chiều mà thôi, đó 
				là vào tâm hồn mình. </p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Linh hồn tân thời bây giờ sẽ đi về đâu? Tất cả các cột mốc chỉ 
				đường đã bị nhổ lên lấp đầy vào các lối thoát ra ngoài? Giống 
				như một thành phố, các tường thành bảo vệ đã bị quân địch chiếm 
				giữ, con người phải rút lui vào bản thân mình. Giống như một 
				dòng suối bị chận đứng, sẽ chảy ngược lại bản thân, tích lũy mọi 
				thứ nhơ bẩn, cặn bã, rác rến, linh hồn tân thời ngày nay cũng 
				vậy (không có những mục tiêu hay lối thoát của người tín hữu) sẽ 
				cuộn trở lại chính mình và trong tình trạng ấy thâu gom tất cả 
				những yếu tố hạ đẳng, bản năng súc vật, đam mê dục vọng, tối 
				tăm, tiềm thức vô tính mà lẽ ra không đáng có nếu như người ta 
				chăm lo cho có lối thoát bình thường. Con người tân thời cảm 
				thấy bế tắc, khóa chặt vào nội tâm, làm tù nhân của chính bản 
				thân. Bị nhốt tù như vậy rồi, bây giờ con người cố gắng bù đắp, 
				cho những mất mát thế giới ba chiều của đức tin, bằng cách phân 
				tích trí khôn mình.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Những mặc cảm, những lo âu, những sợ hãi của linh hồn tân thời 
				không hiện hữu quá quắt trong các thế hệ trước, bởi lẽ chúng 
				luôn được rũ bỏ, và hòa nhập vào trong cơ cấu vĩ đại của văn 
				minh Kitô giáo. Tuy những nỗi bất hạnh trên là thành phần không 
				thể tách rời khỏi linh hồn tân thời đến nỗi chúng ta nghĩ rằng 
				chúng khắc ghi vào da thịt họ. Dầu sao người tân thời phải được 
				đưa về cùng Thiên Chúa và hạnh phúc, bất chấp tình trạng linh 
				hồn họ ra sao. Nếu như người thời nay muốn trở về với Thiên Chúa 
				từ quỉ dữ, thì tại sao chúng ta không khởi sự từ quỷ dữ ? nghĩa 
				là từ chỗ mà Chúa chúng ta bắt đầu với cô Maria Macđala. Chúa 
				nói với các kẻ theo ngài rằng họ cũng có thể khởi sự công cuộc 
				rao giảng tin mừng từ chỗ đó với ăn chay và cầu nguyện .</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Thực tế không có sự khác nhau, ngoại trừ ngôn ngữ, giữa linh hồn 
				khốn khổ trong phúc âm và những linh hồn bất ổn thời nay. Các 
				người tân thời có ba sự vong thân làm đặc tính: Thứ nhất hắn 
				thường xuyên bị phân liệt khỏi chính bản thân, thứ hai khỏi tha 
				nhân và thứ ba khỏi Thiên Chúa. Đây cũng là hiện tượng của chàng 
				thanh niên ở miền đất Giêsasênê.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Cấp bậc vong thân thứ nhất là phân liệt khỏi chính bản thân. Con 
				người tân thời bây giờ không còn thống nhất nữa, mà là một khối 
				phân hoá thành nhiều mảng lộn xộn và bất ổn: Những mặc cảm, kiêu 
				căng, thác loạn thần kinh, căng thẳng tâm lý. Hắn là khách lạ 
				của chính hắn vì tháo rời từng mảng linh hồn, tự mâu thuẫn, hay 
				đổi thay thái độ, thiếu nhất quán. Hắn không còn nhìn mình như 
				một đơn vị duy nhất, mà là một bãi chiến trường của các khuynh 
				hướng đối chọi nhau, không có mục tiêu thống nhất cho cuộc sống. 
				Chúng ta có thể so sánh linh hồn tân thời với một chuồng chứa 
				súc vật, trong đó đủ mọi thú dữ cắn xé lẫn nhau, mạnh được, yếu 
				thua, hoặc so sánh với một chiếc máy thâu thanh, cùng lúc tiếp 
				nhận nhiều tần số của các đài phát khác nhau. Thay vì một tần số 
				rõ ràng, thì là hổ đốn tiếng ồn ào nhức óc.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Nếu như người ta có chút học thức, thì tình trạng lại còn khốn 
				đốn hơn. Trí tuệ của họ là một hỗn hợp các tin tức lộn xộn, 
				không có một triết lý chủ đạo nào. Lúc ấy linh hồn có thể chế 
				diễu mình &quot;trong tôi có hai ngôi vị. Một là linh hồn tôi sống 
				động, hai là một tiến sĩ triết học, kiến thức uyên thâm. &quot;Những 
				con người như thế ngày nay đầy rẫy trong xă hội. Họ phản chiếu 
				ra bên ngoài nhiều ý kiến khó nghe. Chứng tỏ trí tuệ họ là một 
				khối lộn xộn chưa kịp tiêu hóa. Họ kết luận với mọi người rằng: 
				Bởi tôi không biết sự thật, cho nên chẳng ai biết. Quan điểm yếm 
				thế của họ phát triển thành triết lý sống cho mọi người. Nhưng 
				buồn thay, nó ném hắn vào trong tối tăm, ngu dốt, vào trong hang 
				hôi thối của vô thức, tiềm thức. Hậu quả là họ thay đổi triết lý 
				sống như thay áo. Ngày thứ hai, họ phác họa vài nét duy vật. 
				Ngày thứ ba họ đọc một cuốn sách bán chạy nhất tuần, rồi vất vả 
				bỏ chủ thuyết cũ vẽ ra chủ thuyết mới, chủ thuyết duy tâm. Ngày 
				tứ tư, chủ thuyết quốc xã điên khùng. Ngày thứ năm, căn bản mới 
				của bến bờ tự do. Ngày thứ sáu, thay đổi ý kiến, sau khi nghe 
				phát thanh một chương trình tâm lý, họ quyết định chọn ông Freud 
				làm thày dạy. Ngày thứ bảy, họ uống rượu thật nhiều để quên đi 
				mọi hướng đi đã phác họa. Và ngày chủ nhật, họ lấy làm ngạc 
				nhiên và suy nghĩ tại sao lại còn có những con người ngu xuẩn rủ 
				nhau tới nhà thờ? Mỗi ngày họ có một ngẫu tượng mới. Mỗi tuần 
				một tính khí mới. Thẩm quyền của họ là ý kiến công cộng. Ý kiến 
				ấy đổi chiều, thì họ cũng đổi theo, không có lý tưởng cố định, 
				không có đam mê lớn, chỉ có thờ ơ, lãnh đạm với hết mọi sự trên 
				thế gian. Sống trong tình trạng đặt mình làm tâm điểm cách quá 
				đáng cho nên câu truyện hàng ngày của họ toàn cái &quot;tôi&quot;, hậu quả 
				là nếu hàng xóm láng giềng không đề cao cái tôi của họ trong câu 
				truyện, thì họ cảm thấy nhạt nhẽo, vô duyên. </p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Đặc điểm thứ hai của con người tân thời là xa lánh tha nhân. Đặc 
				điểm này được giãi bày không những bằng hai cuộc thế chiến trong 
				vòng hai mươi mốt năm và mối đe dọa thế chiến thứ ba, không 
				những bằng gia tăng đấu tranh giai cấp và ích kỷ lan tràn, mỗi 
				nước, mỗi quốc gia, mỗi xã hội, mỗi cá nhân tìm kiếm lợi ích 
				riêng của mình. Mà còn bằng các truyền thống, các gia sản lâu 
				đời bị bẻ gãy không nuối tiếc. Bất cứ lòng trọng kính đối với 
				truyền thống đều được gán khẩu hiệu &quot;phản động&quot;. Và như vậy kết 
				quả là con người thời đại mới phát triển thành kẻ xét đoán bừa 
				bãi. Họ lấy tiêu chuẩn hôm qua xét đoán ngày hôm nay và hôm nay 
				đoán xét ngày mai. Chẳng có chi buồn chán hơn một con người đã 
				từng khôn ngoan mà lại mất trí nhớ. Chẳng có chi khốc liệt hơn 
				một nền văn minh làm mai một truyền thống. Con người tân thời 
				không thể bằng lòng với chính mình, thì làm thế nào bằng lòng 
				với thiên hạ? Một người không sống được với bản thân, cũng chẳng 
				sống được với ai! Các trận thế chiến giết hại nhiều triệu mạng 
				người, chẳng qua là sự thể hiện rộng lớn hơn trận chiến tâm lý 
				trong từng linh hồn. Giả như không có chiến tranh trong nội tâm 
				hàng triệu trái tim, thì đã không có đánh nhau ở diện rộng trên 
				toàn cầu. Người ta gây chiến trong tâm hồn mình trước, rồi sẽ 
				đánh nhau ở xã hội.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Tình trạng hỗn loạn, vô luật pháp chỉ là hậu quả của những tâm 
				hồn tha hoá trong các xã hội. Một người đấm đá nhau trong tâm 
				hồn, sớm muộn sẽ đấm đá với hàng xóm chung quanh mình. Khi họ 
				thôi phục vụ tha nhân là lúc họ trở nên gánh nặng cho chính mình 
				và là một bước để họ từ chối sống với người khác. Khi Ađam phạm 
				tội, ông ta đổ lỗi cho Evà. Khi Cain giết Abel, Cain đặt câu hỏi 
				&quot;Tôi đâu phải là kẻ canh giữ em?&quot; (St 4,9). Khi Phêrô chối Chúa, 
				ông đi ra ngoài một mình khóc lóc cay đắng. Tội kiêu căng của 
				những người xây tháp Babel kết thúc trong sự lộn xộn ngôn ngữ. 
				Nó làm cho việc hòa thuận trong loài người không thể duy trì 
				nổi.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Cuối cùng, con người tân thời xa lánh Thiên Chúa. Xa lạ với 
				mình, với tha nhân, có nguồn gốc là xa lạ với Thiên Chúa. Một 
				khi cái đùm bánh xe bị bể, thì các căm xe rã rời mỗi nơi một 
				chi?c. Khi người ta lãng quên Thiên Chúa, người ta xa lạ lẫn 
				nhau. Ngày nay Thiên Chúa xem ra chẳng còn ai màng tới. Lý do là 
				vì người ta cư xử như thể không có Thiên Chúa hiện hữu trong đời 
				mình. Điều tốt trở nên yếu tố trách móc đối với những ai sống 
				độc ác và vì thế họ tàn nhẫn tức giận và bách hại những ai làm 
				điều thiện. Hiếm mà không thấy một linh hồn chán nản, không thỏa 
				lòng lại không ghen ghét hàng xóm láng giềng mình. Họ ước muốn 
				mọi người phải vô tôn giáo như mình.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Cho nên tổ chức vô đạo nào trong thời đại ngày nay cũng đều là 
				phản ánh của tình trạng tự ghét mình. Chẳng ai ghét bỏ Thiên 
				Chúa mà không ghét bỏ mình trước đã. Bách hại tôn giáo chỉ là 
				dấu chỉ của tình trạng ghét Thiên Chúa. Bởi lẽ người ta hy vọng 
				nhờ bạo lực của ghen ghét mà thoát khỏi tính vô lý của linh hồn 
				mình. Hình thức cuối cùng của lòng ghét tôn giáo là khinh dể 
				Thiên Chúa, chống đối Ngài, và bảo lưu nếp sống ác độc của mình 
				trước mặt quyền năng và lòng tốt của Thiên Chúa. Nổi loạn chống 
				lại toàn bộ hiện hữu, những linh hồn như thế nghĩ rằng mình đã 
				xóa bỏ được nó. Họ không thích ai nói về tôn giáo, kẻo nữa sự 
				yên ổn của mình trở thành án phạt trầm luân cho chính tính kêu 
				ngạo. Ngược lại, họ khinh thường tôn giáo. Không khi nào tạo nên 
				được một ý nghĩa cho cuộc đời mình, các linh hồn phản loạn phổ 
				quát hóa những bất ổn trong lương tâm và nhìn thế giới như một 
				khối lộn xộn. Do đó họ khai triển một triết lý mới gọi là &quot;sống 
				hiện sinh&quot;.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Liệu chúng ta có tìm thấy một linh hồn nản chí như vậy không 
				trong Phúc âm? Liệu khoa phân tâm học ngày nay có gặp được kiểu 
				mẫu con người như Chúa Giêsu đã gặp trong Tin Mừng và cứu chuộc 
				anh ta? Nếu lần giở sách Phúc âm theo Thánh Marcô, chắc hẳn 
				chúng ta sẽ thấy một thanh niên trong miền đất Giêrasênê có 
				những đặc tính y hệt với những linh hồn mô tả ở trên. Tức anh ta 
				ở trong tình trạng vong thân ba chiều như các người tân thời.
				</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Anh ta xa lạ với chính mình. Khi Chúa Giêsu hỏi: &quot;Tên ngươi là 
				gì? &quot; Người thanh niên thưa: Tên tôi là một đạo binh, vì chúng 
				tôi đông lắm.&quot; (Mc 5,9). Xin để ý đến ngôi vị anh ta xưng hô nó 
				lộn xộn giữa &quot;tôi&quot; và &quot;chúng tôi đông lắm&quot;. Rõ ràng có sự vật 
				lộn giữa ngôi vị. Anh ta chính là một vấn đề cho chính mình. Anh 
				ta là dòng nước cuộn lại của ngàn lẻ một nỗi lo âu, vì thế anh 
				ta gọi mình là một đạo binh. Kinh nghiệm thường thức cho hay 
				chẳng con người phân liệt nào có hạnh phúc. Vì vậy Phúc âm mô tả 
				người thanh niên đất Gierasênê là: Tru tréo và lấy đá đập vào 
				mình (Mc 5,5). Con người thất vọng luôn luôn buồn rầu, chính 
				mình lại là kẻ thù tệ hại nhất của mình, vì hắn lạm dụng thiên 
				nhiên để hủy hoại bản thân. </p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Thứ hai, người thanh niên xa lạ với tha nhân: Phúc âm tả tiếp 
				như sau: &quot;Anh ta đêm ngày cứ ở trong đám mồ mả và trên núi đồi… 
				anh ta là mối đe dọa cho người khác. Người ta nhiều lần đã gông 
				cùm, và xiềng xích anh lại, nhưng anh đã bẻ gãy xiềng xích và 
				đập tan gông cùm và không ai có thể kiềm chế anh được.&quot; (Mc 
				5,4). Cô đơn, cách ly với mọi người là tính chất đặc thù của 
				những linh hồn xa lìa Thiên Chúa. Thói quen tự nhiên của họ là 
				tránh xa đồng loại, sống giữa các mồ mả của miền đất tử thần. 
				Trong tội lỗi không có chất kết dính. Bản tính của nó là phân 
				tán, chia rẽ và gián đoạn.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Người thanh niên xa lìa Thiên Chúa, khi nhìn thấy Đức Kitô, đấng 
				cứu chuộc mình, liền la to: &quot;Lạy ông Giêsu, Con Thiên Chúa tối 
				cao, chuyện tôi can gì đến ông? Nhân danh Thiên Chúa, tôi van 
				ông đừng hành hạ tôi.&quot; (Mc 5,7). Có nghĩa là &quot;giữa tôi và ông có 
				chi chung đụng đâu? Ông có mặt là tôi bị hủy diệt&quot;. Do đó chúng 
				ta được chứng kiến một khía cạnh tâm lý là những linh hồn thất 
				vọng chán ghét sự thánh thiện và ước mong tách rời nó mãi mãi, 
				tội nhân nào cũng muốn ẩn mình khỏi tôn nhan Đức Chúa Trời. 
				Cain, kẻ giết người đầu tiên trong lịch sử đã than: &quot;Và tôi sẽ 
				tránh khỏi mặt Ngài, tôi sẽ đi lang thang và trở thành kẻ trốn 
				chạy trên mặt đất&quot; (St 4,14).</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Như vậy vấn đề không phải là chúng ta sẽ ra thế nào, mà là chúng 
				ta sẽ là chi? Bom nguyên tử, khinh khí đã làm chúng ta bớt sợ 
				hãi về mục tiêu và sự tồn tại trên đời này. Nhưng vẫn còn đó sự 
				quan trọng là chúng ta sẽ sống đời vĩnh cửu ra sao chứ không 
				phải chết thế nào. Quả bom nguyên tử trong tay thánh Phanxicô 
				khó khăn đâu có nguy hiểm bằng khẩu súng ngắn trong tay một gã 
				ăn cướp! Điều làm cho qủa bom nguy hiểm không phải là thuốc nổ 
				bên trong nó, nhưng là người sử dụng. Vì vậy, linh hồn tân thời 
				phải cải tạo, chứ không phải cải tạo hoàn cảnh. Trừ phi hắn 
				ngưng ngay sự bùng nổ trong tâm hồn mình, bằng không có thể hắn 
				dùng bom để phá hủy cả hành tinh. Đó là điều Đức Giáo Hoàng Pio 
				XII đã cảnh cáo nhân loại. Người tân thời tự nhốt mình trong 
				khối óc của mình. Chỉ Thiên Chúa mới có thể giải phóng hắn. 
				Tương tự như Ngài đã giải phóng Phêrô khỏi nhà tù tôn giáo thủơ 
				xưa. Tất cả những điều con người phải làm là ước ao ra khỏi đó. 
				Chẳng bao giờ Thiên Chúa thất bại, chỉ phiền rằng ý chí người ta 
				yếu ớt. Và cũng không có lý do để ai phải nhát đảm. Con chiên 
				lạc lõng bị kẹt trong bụi gai làm trái tim Chúa lưu tâm, chứ 
				không phải cả đàn cừu bình an trong đồng cỏ. Ngài đã giơ tay cứu 
				vớt con chiên đó! Nhưng sự phục hồi bình an qua ơn thánh bao gồm 
				sự hiểu biết về bồn chồn lo âu, tức sự thống hối than phiền của 
				con người tân thời mắc vòng tù tội luân lý. </p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Nỗi lo lắng tân thời khác với những khắc khoải của thời trước 
				trong hai điểm. Trong các ngày xa xưa người ta âu lo về phần 
				linh hồn mình. Ngày nay quan tâm chính yếu của con người là về 
				phần xác. Mối nhọc lòng lớn nhất của ngày hôm nay là kinh tế, an 
				ninh, sức khỏe, sắc đẹp, giàu có, tiếng tăm và tính dục. Đọc 
				quảng cáo thời nay cho người ta ấn tượng là cái tai ương lớn 
				nhất có thể ập xuống thân phận một người là bàn tay nhơ bẩn vì 
				nhọ nồi, nước rửa chén hay ho khan ở ngực. Lo lắng quá đáng về 
				an toàn thân xác là một chứng bệnh hoạn. Nó đã sản sinh ra một 
				thế hệ ẻo lả õng ẹo, chú ý nhiều về chiếc phao cấp cứu trên một 
				chuyến du lịch đại dương, hơn là chiếc phòng nhỏ mình ở và ngắm 
				biển.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Đặc tính thứ hai của âu lo tân thời là chủ quan hơn khách quan. 
				Không phải những tai họa thiên nhiên như đói khát, thú dữ hay 
				sấm sét mà là những nỗi sợ hãi vô định hình mà người ta lo lắng 
				xẩy ra cho bản thân, gia đình, bạn bè. Các nhà tâm lý học than 
				phiền ngày nay rất khó đối phó với những người mắc bệnh thần 
				kinh, tâm lý. Họ âu lo về những nỗi sợ hãi không tên. Nói với họ 
				rằng bên ngoài chẳng có chi nguy hiểm là điều vô ích, họ không 
				bao giờ tin như vậy. Bởi lẽ sự sợ hãi là ở bên trong con người 
				họ, và vì thế nó có thật một cách dị thường đối với họ. </p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Để chữa trị căn bệnh này, chúng ta phải nhìn vào nguyên nhân căn 
				bản của nó, và những nền tảng phát sinh ra bệnh, tuỳ theo điều 
				kiện lý lịch hiện tại của con bệnh. Tâm lý trị liệu chỉ nửa vời, 
				chưa vào được tận căn nguyên. Các biểu hiện tâm lý chỉ có tính 
				hời hợt bên ngoài mà thôi. Triết lý thật của lo lắng tân thời 
				nằm ở điểm con người là một hữu thể sa ngã, hư hỏng gồm có cả 
				linh hồn lẫn thân xác, thiêng liêng và vật chất. Hắn đứng giữa 
				súc vật và thiên thần, sống trong một thế giới hữu hạn, khao 
				khát những điều vô hạn, di động trong thời gian, tìm kiếm vĩnh 
				hằng. Lúc này hắn bị lôi cuốn vào vui thú nhục dục, lúc khác vào 
				niềm vui tinh thần. Hắn liên tục ở trong tình trạng bị treo lơ 
				lửng giữa tinh thần và vật chất. Chúng ta có thể so sánh với một 
				chàng leo núi. Anh ta ước ao được ở trên đỉnh núi cao, nhưng khi 
				nhìn xuống địa điểm của mình, hắn lại sợ rơi vào vực thẳm bên 
				dưới. Trạng thái lơ lửng chưa xác định, sự căng thẳng giữa lý 
				tưởng và thực tế, sự lôi kéo giữa khả năng hưởng thụ và sự thể 
				hiện tầm thường của nó, ý thức khoảng cách giữa khao khát tình 
				yêu bền vững và sự thất bại, giữa chán chường và đam mê, giữa 
				lưỡng lự từ bỏ các giá trị thấp để đạt tới lý tưởng cao hơn, 
				hoặc khước từ hẳn lý tưởng. Sự lôi kéo giữa dục vọng Ađam cũ và 
				lực hấp dẫn đẹp đẽ của Ađam mới, sự lựa chọn cần thiết giữa hai 
				con đường, một dẫn lên thiên đàng, một rơi xuống địa ngục. Tất 
				cả những điều giằng co đó làm cho con người lo lắng về định mệnh 
				của mình bên kia các vì sao và sợ hãi mình sẽ rơi xuống vực thẳm 
				trầm luân. </p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Cho nên trong mỗi con người, có hai lực hấp dẫn, một kéo hắn 
				xuống đất ở đó hắn phải chịu thử thách, và hai kéo hắn về cùng 
				Thiên Chúa, ở đấy hắn được hạnh phúc thật. Cái lo âu chủ yếu, 
				nằm dưới mọi lo âu của con người tân thời, nẩy sinh từ kiêu căng 
				là chính mình mà không cần Thiên Chúa hoặc từ tự lực vượt qua 
				chính mình bất cần đến Thượng đế. Thực ra, ví dụ người leo núi 
				không chính xác về phần thiêng liêng. Anh chàng leo núi tuyệt 
				nhiên không có ai từ trên đỉnh núi giúp đỡ, ngõ hầu anh ta có 
				thể đạt tới đỉnh cao. Ngược lại con đường siêu nhiên luôn nhận 
				được trợ giúp. Thiên Chúa từ trời cao, từ ngọn núi vĩnh cửu luôn 
				giơ tay giúp đỡ. Bàn tay toàn năng của Ngài với ra nâng hắn lên 
				thiên cung, ngay cả trước khi hắn mở miệng kêu cứu. Có một điều 
				rõ ràng rằng, tuy chúng ta có thể thoát khỏi mọi lo âu của đời 
				sống kinh tế, xã hội thời nay, ngay cả khi chúng ta tránh được 
				những căng thẳng mà khoa tâm lý học gọi là ý thức hay vô thức, 
				chúng ta vẫn phải chịu đựng một lo lắng căn bản, nẩy sinh từ 
				tính thụ tạo của mình. Lo lắng phát xuất một cách cốt yếu từ các 
				khát vọng không điều hòa được, từ loài thụ tạo lại ước muốn cái 
				gì đó không cần thiết, hoặc ngược với thiên nhiên, hoặc có hại 
				tích cực cho linh hồn mình. Các lo âu gia tăng tỷ lệ thuận và 
				tương xứng với việc con người lìa xa Thiên Chúa. Bất cứ người 
				nào sinh ra trên thế gian cũng có mặc cảm lo âu, bởi vì khả năng 
				nên thánh hoặc trở thành kẻ tội lỗi.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Khi chúng ta trông thấy một con khỉ hành động ngu xuẩn, chúng ta 
				không nói với nó &quot;đừng làm như đứa điên khùng&quot;. Nhưng khi gặp 
				một người ăn ở thiếu khôn ngoan, chúng ta nói: &quot;Đừng hành xử như 
				con khỉ&quot;. Bởi lẽ người ta có trí khôn và thân xác. Hắn có thể 
				rớt xuống hàng thú vật (mặc dầu hình ảnh của Thiên Chúa trong 
				linh hồn hắn không bị phá hủy hòan toàn). Đây là khả năng làm 
				nên những bi kịch đặc thù nơi con người. Con bò không có bệnh 
				tâm thần. Heo không trở thành điên và gà qué không khi nào chán 
				nản (trừ khi con người tập luyện cho chúng để làm trò). Và nếu 
				như Thiên Chúa dựng nên con người như các thú vật để hưởng thế 
				gian này mà thôi, thì chúng ta cũng không bao giờ cảm nghiệm 
				buồn lòng thất vọng .</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Nhưng bởi vì nguyên nhân căn bản của các lo âu con người phải 
				gánh chịu, là hắn có thể trở thành thánh nhân hay tội lỗi, cho 
				nên chỉ còn hai lựa chọn cho hắn mà thôi. Hoặc là hắn leo cao 
				đến đỉnh trọn lành, đến cuộc sống đời đời. Hay rớt xuống vực 
				thẳm tuyệt vọng và chán nản. Tuy nhiên cũng có người nghĩ rằng 
				còn đường lối thứ ba đó là con đường của thờ ơ lãnh đạm. Họ chủ 
				trương rằng những con gấu nằm ngủ suốt mùa đông, ngưng mọi sinh 
				hoạt thân xác, thì con người cũng vậy, có thể ngủ suốt cuộc đời 
				mà không cần lựa chọn sống cho Thiên Chúa hoặc chống lại Ngài. 
				Nhưng khốn nạn, giấc ngủ mùa đông không giải quyết được khó 
				khăn, mùa đông sẽ hết và người ta lại buộc phải làm quyết định. 
				Chính việc lựa chọn thái độ thờ ơ đã là một quyết định rồi. Hàng 
				rào màu trắng không mãi mãi giữ được màu trắng, nó sẽ trở thành 
				đen nếu không có thợ sơn duy trì cho nó ở màu trắng. Trong con 
				người chúng ta, có cái khuynh hướng mạnh mẽ kéo chúng ta xuống 
				hàng súc vật, cho nên nguyên việc chúng ta không chống lại nó, 
				là yếu tố khủng khiếp đưa ta đến hủy hoại chính mình. Xét cho 
				đúng lý, sự sống là tổng hợp các lực lượng chống lại sự chết, 
				cho nên ý chí con người phải là tập hợp các sức mạnh chống lại 
				tuyệt vọng. Một người uống thuốc độc vào tâm can, có thể hoặc 
				quên đi thuốc giải độc hoặc ném nó ra ngoài cửa sổ. Cả hai việc 
				đều vô ích, bởi thần chết đã gần kề bên hắn, chẳng mấy phút sẽ 
				mang hắn sang bên kia thế giới. Thánh Phao-lô đã cảnh cáo: 
				&quot;Chúng ta sẽ tránh thoát thế nào được, nếu chúng ta quên lãng&quot; 
				(Dt 2,3). Chèo thuyền ngược dòng sông, nếu không tiến tới thì đã 
				thụt lùi. Không có những cánh đồng bằng trong đời sống thiêng 
				liêng, toàn đồi núi, cho nên hoặc là chúng ta lên dốc, hay xuống 
				dốc. Hơn nữa thái độ thờ ơ chỉ có trong tưởng tượng, lòng muốn 
				bắt buộc phải lựa chọn. Và ngay cả khi linh hồn lănh đạm không 
				khước từ vĩnh cửu một cách tích cực, thì vĩnh cửu đã từ chối nó 
				rồi. Nén bạc phải được làm lợi, nếu không sẽ bị lấy đi và Kinh 
				thánh đã nói với chúng ta: &quot;Mà bởi vì người hâm hâm không nóng, 
				không lạnh, ta sẽ mửa ngươi ra khỏi miệng&quot; (Kh 3,16). Thực ra, 
				người tín hữu luôn có lợi điểm hơn người dân ngoại tân thời thờ 
				ơ. Đơn giản là họ biết mình đang đi về đâu, trong khi người dân 
				ngoại chẳng có ý niệm chi cả. Người không có đạo xét theo ý 
				nghĩa thiêng liêng là người yếm thế, vì lẽ họ luôn cảm thây đời 
				này quá ngắn để cho một người có cơ hội, ngược lại tín hữu luôn 
				là kẻ lạc quan, bởi lẽ họ biết cuộc đời này dài đủ để cho có cơ 
				hội lên thiên đàng. Cho nên người có đức tin chính đáng luôn 
				được vui mừng. Ngược lại kẻ không có đức tin phải buồn rầu và 
				thất vọng .</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Những não trạng tân thời chán ghét nếp sống đơn điệu của người 
				có đức tin dâng hiến cho một mục tiêu nhất định, một kết thúc 
				cuối cùng. Để tránh thoát lối sống đó, người tân thời thường rũ 
				bỏ các phiền toái của cuộc sống nhờ chính bàn tay mình. Thái độ 
				tích cực chán đơn điệu của cuộc đời là tính chất đặc sắc của 
				thời đại chúng ta, đến độ làø lý do duy nhất giải thích tại sao 
				người ta tìm kiếm liên tục những cảm giác mới mẻ, những đê mê, 
				những thích thú mới, những tâm trạng mới, những tôn giáo mới, 
				thần tượng mới, luân lý mới, hay bất cứ thứ gì kích thích cảm 
				giác mà năm tháng đã làm cho lạnh lẽo, linh hồn nặng trĩu vì thế 
				giới buồn chán. Thực tế, thay vì nói rằng những ai đầy sức sống 
				chán ghét đơn điệu, thì phải nói rằng họ hồi hộp trong đó. Để 
				chứng minh điều này, chúng ta hãy chỉ ra những người đầy sức 
				sống cách căn bản không ai nghi ngờ được và như thế họ hưởng sự 
				ly kỳ của nếp sống ấy. Đó là một em bé, Thiên Chúa và Người Con 
				duy nhất của ngài, Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Cho nên bắt 
				buộc phải nhận rằng có một sự thích thú tuyệt vời khi hoạt động 
				vì mục tiêu, vì cái đích đã xác định, trong đó người ta tìm thấy 
				lý do chính yếu của sự liên tục nhắc lại các hành động. Thật là 
				một cuộc hành hương lãng mạn về đích điểm. Cũng chính ở tư duy 
				này mà người ta tìm ra ranh giới khác biệt giữa Kitô giáo và chủ 
				nghĩa vô đạo. Thế giới Công giáo được hưởng cảm giác đê mê, hồi 
				hộp trong các sinh hoạt lặp lại bởi vì họ có một mục tiêu cố 
				định. Những người ngoại đạo tân thời không được hưởng nếp sống 
				vui thích đó, ngược lại họ chỉ thấy chán chường vì họ chưa bao 
				giờ quyết định cho mình một chủ đích để sống.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Người tín hữu có một mục đích cố định: Mỗi ngày một trở nên 
				giống Chúa Kitô hơn. Bản chất của họ giống như khối đá hoa 
				cương, ý chí của họ là dụng cụ đục đẽo. Họ ngắm nhìn Chúa Kitô 
				như gương mẫu và với những điểm sắc bén của dụng cụ là ăn chay, 
				hãm mình, thực hành khổ chế, họ phá bỏ đi những mảng đá thừa của 
				ích kỷ, tham lam, kiêu ngạo. Rồi với những gọt rũa tế nhị, đẹp 
				đẽ hơn của sự tập tành các nhân đức, bức tượng huy hoàng của 
				Chúa Giêsu Kitô thành hình trước mặt mọi người. Với bàn tay khéo 
				léo của các nhân đức lớn tin cậy, mến, bức tượng được chau chuốt 
				lần cuối và hoàn thành mỹ mãn khi linh hồn bay về thiên cung. 
				Chẳng người tín hữu nào sống cuộc đời như vậy, lại tin rằng các 
				động tác lặp đi lặp lại của tin, cậy, mến, hy vọng, bác ái, 
				thanh sạch, can đảm, khôn ngoan, công bình, yêu mến lại nhuốm 
				màu chán nản của tư duy tân thời, gọi là đơn điệu. Đối với tín 
				hữu, mỗi lần chinh phục được bản thân là một lần hoan hỷ ngất 
				ngây. Bởi lẽ, mỗi khi lặp lại một nhân đức người ta tiến dần đến 
				tình yêu mà mình vẫn khát khao. Đó là kết hợp thắm thiết với Đức 
				Kitô, là Chúa và là Đấng cứu độ linh hồn mình.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Dĩ nhiên thấy được mình tiến bộ bao nhiêu là chuyện không dễ, 
				nhiều khi chẳng thấy nhúc nhích chút nào, gần như dậm chân tại 
				chỗ, nhưng không vì thế mà nhát đảm, cứ nhắm đi về phía trước, 
				mục tiêu huy hoàng vẫn rạng rỡ chào đón. Xin tưởng tượng tới 
				người thợ dệt thảm, hàng ngày kiên nhẫn làm việc. Không phải từ 
				phía trước, mà từ cạnh ngang tấm thảm, mắt cứ ngó nhìn mẫu mực 
				mà làm việc. Từng sợi, từng sợi chỉ đan kết với nhau trong việc 
				nhất điệu, nhưng đầy nét thích thú, chẳng bao giờ được xem công 
				trình cho đến khi kết thúc tác phẩm. Lúc sợi chỉ cuối cùng được 
				đưa vào vị trí, và tấm thảm trưng bày cho thiên hạ ngắm. Đúng là 
				một kỳ quan của các ngón tay khéo léo. Đường nét tinh vi, hoa 
				văn tuyệt đẹp, người thợ đã thực sự lao động. Người tín hữu cũng 
				sống trong phong cách đó. Họ chẳng rõ đời mình ra sao, nhưng 
				kiên nhẫn noi theo mẫu mực là Đức Kitô. Cuối cùng Chúa sẽ cho 
				xem công trình hoàn tất. </p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Xin đổi sang hình ảnh khác. Đứa trẻ với một trái banh. Giả dụ 
				người ta nói với nó đó là trái banh duy nhất nó được phép chơi 
				trong cuộc đời mình. Phản ứng tự nhiên của nó là rất thận trọng 
				kẻo làm bể trái banh. Nó chơi với trái banh hết sức ý tứ, không 
				dám đập phá nhiều sợ trái banh chóng hư, hoặc bị đinh nhọn làm 
				xì hơi, vì nó không còn trái nào khác. Nhưng giả dụ có người nói 
				với nó rằng chút nữa, ngày mai, tuần tới, tháng tới nó sẽ có 
				nhiều trái banh mới, tốt hơn, bền hơn với nhiều thích thú khi 
				chơi với. Phản ứng của nó sẽ khác hẳn. Nó sẽ được tự do chơi 
				đùa, đập phá với trái banh cũ. Nó sẽ có nhiều vui cười, khoái 
				trá hơn. Nếu như vướng phải đinh rách nát, nó cũng không nuối 
				tiếc quá đáng. Vì nó còn trái banh khác lâu bền cho đến muôn 
				thuở.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Đứa trẻ với một trái banh duy nhất là con người xác thịt đời 
				này. Họ chỉ có trái đất này mà thôi. Một thế giới, một cuộc 
				sống, một hành tinh. Họ không thể bừa bãi, vì chỉ hưởng có một 
				cuộc đời, một địa cầu, một nhân gian. Họ luôn sợ hãi trái đất sẽ 
				bị lấy đi. Họ không thể chịu đựng được ai đó sẽ mang đau khổ, hư 
				hoại đến địa cầu nhỏ bé của mình, bởi vì họ chỉ có một quả banh 
				để chơi đùa. Thật là hạn chế, mất tự do và mất vui. Ngược với 
				các tín hữu, có nhiều quả banh để vui chơi, nhiều cuộc đời để 
				sống và nhân gian để làm bạn. Họ không quá nghiêm khắc với địa 
				cầu này. Vì chút nữa, ngày mai, tháng tới, năm tới, Chúa sẽ ban 
				cho họ quả banh khác để vui hưởng. Họ có thể khởi sự vui đùa 
				trên địa cầu, an hưởng tính nhất điệu của nó và ngay cả bằng 
				lòng với mưa sa, bão táp, thiên tai, dịch bệnh. Bởi lẽ, biết sẽ 
				có ngày mai tươi sáng hơn. Chẳng bao lâu nữa họ sẽ có quả banh 
				mới, một cuộc sống khác không bao giờ cũ kỹ, hư hỏng, buồn chán, 
				bởi lẽ nó là cuộc sống vĩnh viễn nơi Thiên Chúa, khởi nguyên và 
				kết thúc của mọi hiện hữu.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Vì vậy, khi đã bị lý tưởng Kitô giáo nắm bắt và tràn ngập linh 
				hồn để nên giống Chúa một ngày một hơn. Khi đã để ánh sáng Chúa 
				soi rọi cuộc sống mình. Khi đã theo mẫu mực cuộc sống, người tín 
				hữu bắt đầu ngày mới với kinh nguyện xin Cha trên trời ban phúc 
				lành cho mọi nẻo đường đi về trong ngày. Khi đã dọn lòng sốt 
				sáng rước lấy mình máu Chúa vào lòng, và quỳ thờ lạy bánh thánh, 
				rượu thánh dâng cao trên bàn thờ. Khi đã dâng mình cùng các việc 
				làm, các đau khổ phải chịu, các mừng vui trong ngày kết hiệp nên 
				một với công nghiệp Chúa Kitô. Khi đã thánh hóa các nhọc nhằn, 
				thử thách, kìm hãm dục vọng, lời châm chọc, nói xấu, thiếu bác 
				ái vì danh đức Giêsu, Đấng đã tha thứ cho kẻ thù mình trên thập 
				tự, khi ngày đã hết, quỳ tạ ơn và khiêm tốn xin Cha trên trời, 
				thứ tha lỗi lầm, khi đã sống như vậy, ngày qua ngày, tháng qua 
				tháng, năm qua năm, trong cố gắng liên lỷ kiến tạo đời mình nên 
				giống hình ảnh Chúa Kitô. Bạn sẽ rất đỗi ngạc nhiên về hiệu lực 
				của cuộc đời đơn điệu. Nó đem bạn ngày một gần hơn đến mục tiêu 
				vĩnh cửu, đến hạnh phúc và bình an tràn đầy. Bạn ngỡ ngàng tự 
				hỏi còn phải làm chi nữa đây để thờ phượng, yêu mến Chúa? Lúc ấy 
				bạn nhớ lại lời Chúa &quot;Hãy làm việc này để nhớ đến Ta&quot;. Và kinh 
				nghiệm sự ngất ngây của bài học đơn điệu!</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Đường lối chúng ta sống ảnh hưởng nhiều đến việc chúng ta suy 
				nghĩ. Nói vậy không có nghĩa là chúng ta từ chối những yếu tố 
				trí tuệ trong đức tin. Nhưng chỉ có ý nhấn mạnh một yếu tố hay 
				bị bỏ quên. Một số người tưởng tượng rằng mình có thể mang ai đó 
				vào đạo, vào tình yêu Thiên Chúa nguyên chỉ do trả lời thỏa mãn 
				các câu hỏi họ đặt ra. Họ cho rằng người ta vô đạo bởi lẽ họ dốt 
				nát không hiểu chi, rằng nếu người vô tôn giáo chỉ cần đọc vài 
				cuốn sách tốt, lắng nghe vài cuộc tranh luận chọn lọc, về thượng 
				giới, tức khắc họ sẽ xin trở lại đạo. Như vậy, tôn giáo xem ra 
				chỉ là điều chi phải được thông hiểu thế thôi, chứ không phải là 
				một ngôi vị được yêu mến, sống và chấp nhận. Nói như vậy thật 
				quá đáng. Chúa chúng ta, là đường, là sự thật, sự sống, vậy mà 
				đã không thuyết phục nổi các Pharisêu, thượng tế, luật sư và ký 
				lục, cũng như một số tội nhân khác. Họ bị thượng trí của Ngài 
				tấn công đến nỗi chỉ một lần gặp gỡ họ đã rút lui, không dám hỏi 
				Ngài điều chi nữa. Nhưng họ vẫn không tin mà trở lại. Chúa Kitô 
				đã nói với những ai xem thấy Lazarô sống lại rằng một số người 
				trong họ không tin mặc dù hàng ngày người ta trỗi dậy từ cõi 
				chết. Kiến thức của trí tuệ không phải là điều cần tuyệt đối. 
				Cho nên không phải bất cứ ai có bằng cấp, học vị đều là thánh và 
				những ai dốt nát đều là quỷ sứ. Thực tế có một số môn học chỉ 
				giáo dục người ta từ ích kỷ dốt nát, thành ích kỷ tinh khôn. 
				Trong cả hai loại, dốt nát có cơ hội được cứu rỗi nhiều hơn. </p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Khám phá ra sự thật không mấy khó khăn, nhưng đối mặt với sự 
				thật rất khó và chấp nhận sự thật càng khó hơn. Cho nên giáo dục 
				tân thời được &quot;lái&quot; sang cái mà người ta gọi là &quot;mở rộng biên 
				cương chân lý&quot;. Đôi khi lý tưởng này được ca ngợi và dùng làm lý 
				do để người ta khỏi phải hành động trên những sự thật đã được 
				biết. Biết khoảng cách giữa các vì sao không phát sinh một bổn 
				phận luân lý nào. Nhưng chân lý ngàn đời về bản chất và định 
				mệnh của con người có thể là lời khiển trách lối sống của chúng 
				ta. Một số tâm lý học, xã hội học đi gần đến sự thật về con 
				người nhưng họ lập tức bỏ chạy khi cánh cửa chân lý hé mở để bày 
				tỏ loài người phải lệ thuộc vào Thiên Chúa. Chỉ những người thật 
				sự đạt tới chân lý về Thiên Chúa là những kẻ khi cánh cửa mở thì 
				mau mắn chấp nhận sự thật và ghé vai gánh vác trách nhiệm nảy 
				sinh. Nó đòi hỏi nhiều can đảm hơn là trí óc học biết Thiên 
				Chúa. Thực tế, Thiên Chúa là sự kiện rõ ràng nhất cho loài người 
				kinh nghiệm. Nhưng chấp nhận Ngài lại là công việc khó khăn 
				nhất. Có hai nhân tố không thuộc trí tuệ ảnh hưởng nặng nề đến 
				đức tin: 1/ ý chí ngay lành, 2/ các thói quen của cuộc sống.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Tại sao cùng một luận chứng vững vàng về đức tin trình bày cho 
				hai người A và B. Người A chấp nhận, người B từ chối? Đúng lý, 
				nguyên nhân như nhau thì kết quả cũng như nhau. Nhưng không phải 
				vậy, vậy thì nhất định phải còn một nhân tố nào khác nữa chen 
				vào? Nó thúc đẩy một người chấp nhận và một người khước từ chân 
				lý. Nó đụng đến trí não người ta. Ánh sáng chiếu vào bức tường 
				hình như khác với ánh sáng chiếu vào tấm kính cửa sổ. Giống như 
				vậy nhân tố X khiến một người vâng theo chân lý siêu nhiên người 
				khác chạy trốn, là ý chí hay lòng muốn. Thánh Thomas diễn tả rất 
				hay: &quot;Những sự thật thần linh, được người ta nhận biết trong 
				nhiều đường lối, tùy theo thái độ của họ. Những ai có lòng ngay 
				lành sẽ chấp nhận màu nhiệm như sự thật, những ai không có lòng 
				ngay lành sẽ nhận biết nó một cách lộn xộn làm cho họ nghi ngờ 
				và cảm thấy mình lầm lẫn.&quot;</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Một người chấp nhận sự thật tùy vào bản chất của con người ấy 
				hoặc vào lý tưởng người ấy muốn theo đuổi. Ý chí thay vì đón 
				nhận chân lý thuyết phục trí khôn, thì vẫn có thể chối bỏ, gạt 
				sang một bên hay ngăn cản trí khôn đón nhận. Mục tiêu của Thiên 
				Chúa nhắm vào trí tuệ buộc phải thất bại, trừ phi ý chí cũng 
				theo đuổi sự thiện. Thông điệp các thiên sứ loan báo cho nhân 
				loại trong đêm Giáng Sinh nói rằng chỉ những linh hồn ngay lành 
				mới là bạn hữu của Thiên Chúa. Như vậy, yếu tố lòng ngay rất 
				quan trọng để đón nhận Tin Mừng. Ngược lại, có thể nói rằng 
				không có người vô thần xét về mặt trí tuệ, chỉ có người vô thần 
				xét về lòng muốn. Họ cố tình chối bỏ Thiên Chúa, khước từ sự 
				hiện diện của Ngài, mặc dầu trí khôn chấp nhận sự thật. Vì vậy 
				Thánh vịnh không đặt tính vô thần vào trí tuệ, mà vào trái tim: 
				&quot;Kẻ ngu xuẩn nói trong lòng rằng, không có Thiên Chúa.&quot; Sự đòi 
				hỏi tiên quyết về thiện tâm không những cần thiết cho những ai 
				tìm kiếm chân lý siêu nhiên, mà còn cho những ai muốn tiến triển 
				về đàng tinh thần. Ơn huệ của Thiên Chúa không bao giờ thiếu 
				vắng, nếu người ta sẵn lòng cộng tác với nó. Ý chí khát khao của 
				cải làm cho người ta nên giàu có. Lòng muốn làm môn đệ Chúa biến 
				đổi chúng ta thành tín hữu.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Một yếu tố khác ảnh hưởng đến việc đón nhận chân lý siêu nhiên 
				là các thói quen trong nếp sống. Đây là căn do thất bại của con 
				người hành động theo sự chỉ dẫn của lẽ phải luân lý mà chúng ta 
				đã biết khi chân lý siêu nhiên đến với linh hồn, nó được nhận 
				thức theo nếp sống của chúng ta, đúng như câu châm ngôn: ở bầu 
				thì tròn, ở ống thì dài. Một số người có vô số thành kiến, hành 
				động vô thức, thói quen cố hữu, ước mong vô độ, sẵn sàng gây 
				chiến với ơn thánh Chúa, xóa bỏ thúc đẩy của Chúa Thánh Linh thì 
				làm sao gọi được là thiện tâm để chấp nhận Tin Mừng? Điều trí 
				khôn tiếp thu là tiếp thu với một bối cảnh. Bối cảnh này lập nên 
				cái thói quen của nếp sống và người ta khó lòng từ bỏ mẫu mực 
				sống của mình. Bất cứ sự thay đổi nhỏ nào cũng làm người ta khó 
				chịu. Trước những sự thật siêu nhiên toàn bộ con người hạ đẳng 
				và các thói xấu của nó, nổi dậy phản kháng với động lực cao hơn, 
				nảy sinh từ trí tuệ để hướng về chân lý. Và như vậy, có người 
				nói: Tôi sợ người ta cười khi trở thành một tín hữu. Tôi sợ gia 
				đình tôi không chấp nhận. Tôi sợ bạn bè từ bỏ và trở nên kẻ thù 
				với tôi… rất nhiều chống chế tương tự vì thói quen cũ.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Những kẻ ước mong tôn giáo không có thánh giá, tự gọi mình là 
				phái vô tri, ngõ hầu trốn tránh trách nhiệm luân lý phát sinh từ 
				sự thật siêu nhiên. Chủ nghĩa yếm thế, vô tri, nghi nan trí 
				thức, không thể đưa ra phản chứng tinh thần được. Bởi lẽ ở đâu 
				có cái bóng thì ở đấy có ánh sáng. Aùnh sáng làm nên cái bóng. 
				Nếu không có chi để phủ nhận, thì phủ nhận làm gì? Cho nên những 
				thái độ trên chỉ là luận cứ luân lý suông. Trong luận cứ này 
				người ta cố gắng bảo vệ mình khỏi chân lý siêu nhiên, làm thương 
				tổn thói quen sống của mình, bằng cách khước từ sự hiện hữu của 
				sự thật siêu nhiên, hay ít là quay lưng lại với nó, như quan 
				Philatô trong vụ án Chúa Giêsu. Không phải nghi ngờ làm nên hạnh 
				kiểm tha hóa. Ngược lại hạnh kiểm xấu gây nên nghi ngờ. Chúa 
				Giêsu vạch rõ quan điểm này khi tuyên bố: &quot;Quả thật ai làm điều 
				ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ 
				làm khỏi bị chê trách. Những kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng 
				ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ: các việc của người ấy đã được 
				thực hiện trong Thiên Chúa.&quot; (Ga3,20-23). Các ông nghiên cứu 
				Kinh Thánh, và nghĩ rằng trong đó các ông sẽ tìm được sự sống 
				đời đời. Mà chính Kinh Thánh làm chứng về tôi, các ông không 
				muốn đến cùng tôi để được sự sống.&quot; (Ga 5,39-40). Thánh Phaolô 
				nhắc lại ý kiến của Chúa mình: &quot;Họ tuyên bố là biết Thiên Chúa, 
				nhưng trong hành động họ lại chối Người. Họ là đồ ghê tởm, không 
				vâng lời và không có khả năng làm việc gì tốt.&quot; (Tt 1,16). </p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Điều quan trọng không phải là chuyện người ta nói chống lại 
				Thiên Chúa, chống lại Đấng Cứu Thế, chống lại Ngôi Hai nhập thể, 
				chống lại Hội Thánh nhưng là tại sao người ta làm như vậy. Chữ 
				&quot;tại sao&quot; chẳng qua là sự &quot;phổ thông&quot; hóa thói quen sống của 
				người ta. Người tín hữu bỏ đạo, thường lý luận như sau: &quot;Tôi 
				không thể tin vào bí tích thống hối được nữa.&quot; Thực tế anh ta 
				nói: &quot;Cuộc đời tôi tội lỗi qúa. Tôi chẳng từ bỏ nếp sống nhục 
				dục, để làm việc đền tội với Thiên Chúa.&quot; Lý trí được dùng ở đây 
				để tạo ra nghi nan giả hiệu, để che phủ động cơ thực sự chứ 
				không phải thực tế là như vậy. Vì thế chỉ một mình Thiên Chúa có 
				đủ quyền năng để phán xét chúng ta. Chúng ta có khuynh hướng tự 
				bào chữa, tự biện minh cho mình, lấp liếm sự thật, không đáng 
				tin cậy.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Có ba loại thói xấu chất chứa trong linh hồn tựa giống như bụi 
				bậm trên tấm kính cửa sổ, ngăn cản ơn thánh Chúa đến với nhân 
				loại. Bụi bậm thứ nhất là xác thịt hay lòng yêu thích vô độ các 
				sung sướng giác quan. Loại thứ hai là tiền bạc gồm cả các tiện 
				nghi, tài sản. Loại thứ ba là kiêu căng, ích kỷ, tính phù phiếm 
				khoe khoang. Tẩy rửa cửa sổ linh hồn cho thanh sạch là điều kiện 
				mời Chúa đến gần hơn: &quot;Phúc cho những ai có tâm hồn thanh sạch, 
				vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa.&quot;</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Tất cả những lời khuyên nhủ, kêu gọi, luận cứ, dụ dỗ, để thăng 
				tiến luân thường đạo lý chỉ là các yếu tố ngoại lai đối với con 
				người ta. Giống như kiểu tư vấn tâm lý, hôn nhân, học đường thời 
				nay. Sẽ không có hiệu qủa nếu không có hành động tự bên trong 
				con người cần được cải tổ. Chúng là những yếu tố bên ngoài giống 
				như việc rung chuông trước cửa. Người ta không thể bước vào 
				trong nhà nếu không có ai đáp lời từ bên trong. Kẻ nghiện rượu 
				có thể công nhận rằng các luận cứ tâm lý hay mô phạm đều đúng 
				cả. Nhưng hãy còn khoảng cách to lớn giữa tri thức phải lẽ và 
				hành động theo lẽ phải. Thực tế nhiều con nghiện biết mình sai, 
				biết ý chí của mình nếu không được nâng đỡ quyết liệt, vẫn không 
				thể thoát ra khỏi vòng kiểm tỏa của rượu chè. Và họ có thể nổi 
				sùng chống lại những ai can thiệp vào nếp sống của họ, chỉ vì 
				các lời khuyên nhủ cải thiện của những người ấy. Nhiều cuộc cải 
				cách nhân bản, pháp luật, luân lý đã từng được coi là không liên 
				hệ tới mình bởi những tính nết hư hỏng. </p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Cho nên xét về mặt khác, ơn thánh Chúa là quan trọng. Nó hoạt 
				động từ bên trong. Nó hoàn toàn có tính cá nhân, không chia sẻ 
				được với ai, đến nỗi đương sự tưởng rằng do mình làm ra. Tác 
				động của Thiên Chúa trong linh hồn không giống tác động của 
				người khuyến dụ cải đạo. Người khuyến dụ cải đạo hành động tự 
				bên ngoài, giống như trái banh trên bàn Billiard. Trái nọ va 
				chạm vào trái kia. Nhưng đối với Chúa Giêsu, mặc dầu hoạt động 
				qua các tông đồ, nhưng thấm nhập vào tận tâm can trí tuệ. Gọi là 
				hoạt động nội tại, tức hành động của các sinh vật nẩy nở và tăng 
				trưởng. Khi ơn thánh hoạt động trong linh hồn, nó giống như một 
				luồng sáng chiếu qua các cửa với muôn hồng nghìn tía mà trước 
				kia các ô kính không có, lạnh ngắt và đen xì. Thật khó mà mô tả 
				chính xác hoạt động của ơn Chúa trên các linh hồn. Bởi lẽ nó 
				hoàn toàn tinh thần và vô hình, giống như chân lý đối với trí 
				khôn. Chân lý hai nhân hai là bốn không chiếm một không gian nào 
				hoặc chiều dài rộng trong trí óc chúng ta. Vậy mà nó có ở đấy, 
				người ta hiểu được nó. Nó ảnh hưởng sâu sắc đến suy nghĩ và hành 
				động của mỗi người. Trên bình diện cao hơn, Thiên Chúa hành động 
				trong trí tuệ chúng ta như chân lý và trong lòng muốn chúng ta 
				như tình yêu mến. Đôi khi Ngài còn tác động mạnh mẽ vào linh hồn 
				bằng một lực màu nhiệm khôn tả, đòi hỏi người ta phải cắt đứt 
				hoàn toàn với ngoại vật. </p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Lúc Thiên Chúa chiếm đoạt, nhiều khi linh hồn không nhận ra. 
				Chúng ta có thể nói Thiên Chúa xâm nhập linh hồn giống như kẻ 
				trộm ban đêm. Người ta có thể đón nhận Ngài và cũng có thể khước 
				từ. Nhưng không thể ngăn cản Ngài xâm nhập, bởi lẽ chính Ngài đã 
				dựng nên nó. Giống như mặt trời mọc, đâu có phải xin phép ban 
				đêm. Cũng vậy đời sống thần linh thấm nhập linh hồn chúng ta 
				không cần hỏi ý sự tối tăm của trí khôn? Thiên Chúa thiết lập 
				đầu cầu đổ bộ vào chính lúc chúng ta bất ngờ nhất, gần như là bí 
				mật, chẳng cần chúng ta có ý thức về sự hiện diện của Ngài. Ngài 
				đến giống như một ý nghĩ, tự dưng nẩy sinh trong đầu óc chúng 
				ta, giống như ước mong mãnh liệt bất thần nổi dậy trong lòng 
				muốn. Việc Ngài đột nhập không thấy được ngay lúc đầu. Chúng ta 
				không hay biết Ngài có mặt trong linh hồn. Cũng chẳng thể cưỡng 
				lại được bởi lẽ chúng ta không cảm nghiệm sự can thiệp nào từ 
				bên ngoài. Thậm chí chúng ta còn nghĩ rằng sự hứng khởi của tinh 
				thần mình là tự phát, mà không nghi ngờ nó đến từ Thiên Chúa. 
				Giống như chúng ta nghĩ rằng đôi mắt mình tự thân xem thấy mọi 
				sự, mà không ý thức sự cần thiết của mặt trời soi sáng, chỉ sau 
				này khi đã hiểu rồi, chúng ta mới ngộ ra đó là tác động của ơn 
				thánh siêu nhiên và vĩnh cửu. </p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Các cơ hội Đạo Chích thiêng liêng chọn để lấy đi những bất hạnh 
				của chúng ta rất đa dạng. Nó có thể là giây phút chúng ta đã no 
				thỏa sung sướng xác thịt, như trường hợp của Léon Bloy hay trước 
				cảnh tượng của người qua đời, như thánh Phanxicô, hay cô đơn 
				trong sa mạc với các trăng sao quá gần, như Ernest Psichari, 
				hoặc đọc một cuốn sách hay như Jacques Maritain, hay nghe chuông 
				nhà thờ như Paul Claudel. Bất cứ hoàn cảnh ngoại lai nào cũng có 
				thể đem chúng ta về với Thiên Chúa. Chúng không quan trọng lắm. 
				Chúng chỉ là những tình huống mỗi cá nhân được gặp Chúa. Tuy 
				nhiên Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, có thể gặp Ngài bất cứ nơi đâu, 
				miễn chúng ta có lòng thành gọi là thiện tâm. Mặc dầu Thiên Chúa 
				giữ lại cho mình quyền năng hành động trong tâm hồn người ta, 
				khuyến khích họ trên đường nhân đức, xa tránh thói hư tật xấu. 
				Tuy nhiên Ngài để tự do lựa chọn cho nhân loại hoặc đón nhận 
				hoặc tẩy chay Ngài. Nhưng việc đột nhập linh hồn là quyền của 
				Ngài, Ngài khuấy động lương tâm, dằn vặt, cắn rứt nó, để nó từ 
				bỏ tội lỗi, cải tạo nếp sống, ngõ hầu các đốm lửa ơn thánh bùng 
				lên và đốt cháy. Người ta được tự do tranh cãi về sự thật, sự 
				thiện, nếu như người khác viện ra. Nhưng tiếng nói bên trong mỗi 
				người thì chẳng ai dám phủ nhận. Sự lựa chọn của chúng ta không 
				phải nằm ở chỗ đồng ý hay không với mặc khải của Ngài trong tâm 
				hồn, mà là chấp nhận hay từ chối lời kêu gọi của sự thật mà 
				thôi. Sự thật mà linh hồn đã nhận biết.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Ngày nay, mọi người đều mong ước một tôn giáo, nhưng tôn giáo có 
				ít đòi hỏi. Đó là lý do Kitô giáo đã từng phải làm dịu bớt các 
				cam go của mình cho thích hợp với não trạng tân thời, nhưng chỉ 
				là chủ trương của một số thần học gia mị dân. Còn giáo lý của 
				Chúa Giêsu phải được giữ tinh tuyền qua mọi thời đại. Mục tiêu 
				của nó là thánh hóa các linh hồn. Mọi người đều muốn sức khỏe 
				tốt, nhưng ít người tin tưởng vào ăn kiêng hay vất bỏ những thứ 
				có hại cho thân thể. Hút thuốc lá là xấu, nhưng người ta cứ hút, 
				không hy sinh rứt bỏ. Giống như vậy, nhiều linh hồn có ước vọng 
				mơ hồ nên thánh, nhưng lại không chịu đựng được hy sinh hãm 
				mình. Năm vừa qua hàng trăm ngàn người hạ quyết tâm bỏ thuốc lá. 
				Nhưng chỉ 24 giờ sau mọi dốc lòng của họ tan thành mây khói. Sự 
				kiện này đủ chứng minh ý chí người ta yếu ớt biết bao. Vậy thì 
				làm thế nào trí óc người tân thời sửa soạn cho khổ chế thân xác, 
				hy sinh hãm mình thực sự? </p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Nói &quot;không&quot; cho bản thân thật khó, cho nên vô số các triết gia 
				đã dựng nên những triết lý trên nền tảng &quot;có&quot; cho mỗi thúc đẩy, 
				mỗi ước ao dù nhỏ bé đến mấy của thân xác, rồi gán cho nó từ ngữ 
				thật sang trọng gọi là &quot;khẳng định mình&quot;. Nhưng sự thật vẫn là 
				tất cả mọi tiến bộ trong lãnh vực của cuộc sống đòi hỏi hình 
				thức nào đó của tinh thần kìm hãm. Các bác sĩ, các doanh nhân 
				bắt buộc phải học từ những ngày hàn vi và coi khinh những khoái 
				lạc sớm, nếu như muốn đạt tới mơ ước thành công. Chuyên viên 
				ngôn ngữ đông phương hay khảo cổ gia không thể cùng lúc là vô 
				địch quần vợt. Trong mọi hướng đi của cuộc đời, nếu muốn đạt tới 
				mục tiêu nào thì phải hy sinh nhiều sở thích khác. Trí tuệ được 
				minh mẫn là do thân xác phải trả giá và ngược lại thân xác muốn 
				phát triển thì trí tuệ phải hy sinh.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Vậy thì tôn giáo cũng đòi hỏi hy sinh. Nó không phải là cái nạng 
				nhưng là thánh giá. Nó không phải là lối thóat mà là gánh nặng, 
				không phải là cuộc chạy trốn nhưng là lời đáp trả. Người ta dựa 
				nghỉ trên cái nạng nhưng thánh giá thì phải vác, phải mang. Kẻ 
				hèn nhát có thể dùng nạng, nhưng vị anh hùng mang lấy thập tự. 
				Hãy để cho kẻ tưởng nghĩ thánh giá dễ mang, nhận rằng mình sai 
				lầm. Hoặc kẻ bẻ gẫy quan hệ tình yêu với Thiên Chúa, rồi cố gắng 
				đền bù tội lỗi bằng ăn chay, hãm mình, phạt xác. Rồi sẽ thấy 
				phải trả giá cho những việc can đảm ấy.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Thánh giá được đặt trên vai những thói xấu của chúng ta: kiêu 
				căng, ghen tỵ, giận dữ, dâm ô và sức nặng của nó tẩy sạch chúng 
				đi. Như vậy nó sẽ đem chúng ta đến nguồn vui vô tận của cuộc 
				sống tín hữu. Giống như con chim vành khuyên. Bài hót hay nhất 
				nó học được từ trong đêm tối, ban ngày trong lồng nó chỉ học 
				được vài điều vặt vẵn. Trong đêm tối nó học được cả bài đến nỗi 
				thuộc lòng và cứ nhớ như vậy cho đến chết. Các bài nó hót làm 
				say đắm lòng người. Nước mùa xuân trong vắt cuồn cuộn chảy giữa 
				biển mặn. Hoa đẹp nhất của dãy núi Alps nở rộ trong các khe hiểm 
				trở và bài hát hay nhất được sáng tác vào những giây phút linh 
				hồn hấp hối. Chẳng ai nói rằng thỏi đá vàng tựa trên chiếc nạng 
				lửa khi được nung cháy để tôi luyện thành vàng ròng. Cũng chẳng 
				ai bảo rằng khối đá hoa cương êm ái tựa vào chiếc đục khi nghệ 
				nhân tác tạo pho tượng. Những rượu chè rõ ràng là cái nạng của 
				kẻ nghiện ngập, không sống được với lương tâm mình. Tôn giáo là 
				thập tự của những ai muốn tẩy rửa lương tâm và như vậy không cần 
				nhờ tới thuốc an thần.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Khi bà mẹ hai con ông Giêbêđê yêu cầu Chúa Giêsu cho hai con 
				ngồi bên tả bên hữu Ngài trong vinh quang, thực chất bà xin hai 
				chỗ dựa. Nhưng Chúa hỏi lại họ có uống được chén cay đắng từ bỏ 
				mình và sống anh hùng không? Tuyết trắng bản chất là lạnh lẽo, 
				nhưng làm trái đất ấm áp và tươi trẻ. Cũng vậy các cố gắng, các 
				khổ đau trong môi trường tái sinh luân lý làm cho linh hồn nên 
				hoàn thiện và tốt lành. Những kẻ ươn lười thối rữa trong nhung 
				lụa. Những người vác thập tự được ướp sống trong nước mặn. Sau 
				mỗi cuộc cháy rừng ghê sợ người ta khám phá ra các hạt của một 
				loại cây thông được sức nóng tách ra khỏi vỏ và nẩy mầm. Cũng 
				vậy, vác thánh giá là điều kiện để làm cho linh hồn trước là 
				hạnh phúc, sau nên thánh.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Những kẻ tránh né, coi tôn giáo là chỗ dựa, thì giống như người 
				mù gọi kẻ sáng mắt là hạng người xem thấy thị kiến. Một con 
				thuyền chắc chắn không phải là cái nạng cho người muốn qua sông. 
				Cái bút chì cũng không phải là cái nạng cho bàn tay muốn viết 
				chữ. Nhưng bất cứ những ai không đủ khả năng trí tuệ để viết 
				hoặc không đủ can đảm để học viết thì đúng cái viết chì chỉ là 
				cái nạng. Những người anh hùng, do đó, phải sẵn sàng chịu đựng 
				những lời chế riễu của kẻ nhát đảm. Cứ xem gương của Chúa Giêsu, 
				khi Ngài bị xô ngửa trên thập giá, các kẻ hèn hạ kêu gọi Người 
				xuống khỏi đó. Vì họ quá hiểu cử chỉ anh hùng vì yêu mến của 
				Ngài sẽ giết chết lòng ích kỷ của nhân loại. Từ lúc ấy nhân loại 
				chia làm hai phe. Phe của những kẻ gọi tôn giáo là cái nạng để 
				dựa. Bởi vì họ què cho nên nghĩ mọi người đều què cả. Phe thứ 
				hai gọi tôn giáo là thánh giá và tin vào lời dạy của Chúa Giêsu: 
				&quot;Hãy vác thập tự của mình hàng ngày và theo Ta&quot;. </p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Theo đúng lý luận, thì mỗi sự tìm kiếm khoái lạc, căn bản là cố 
				gắng đạt đến hạnh phúc đời đời. Các vui thỏa hấp dẫn chúng ta là 
				vì chúng ta hy vọng, nhờ nếm trước, đạt tới hưởng thụ điều chi 
				đó vượt xa nó về cường độ và thích thú. Nếu có thể thỏa mãn cơn 
				khát của một người, thì một cuốn sách, một bông hoa, một con 
				chim, một ngôi sao cũng đủ. Nhưng thực tế không phải vậy. Chẳng 
				có chi trên đời này làm no thỏa được khát vọng của linh hồn cả. 
				Bởi vì ước muốn của chúng là trong hết mọi sự. Nó giống như con 
				tàu lớn làm ra để chạy biển khơi. Nếu người ta bắt nó chạy trong 
				chỗ nước cạn, hẳn nó cảm thấy không an toàn. Đòi hỏi một người 
				bằng lòng với những vật hữu hạn là phá hủy bản tính của họ. 
				Thiên Chúa dựng nên họ cho những điều vô hạn. Lòng ham muốn sự 
				thiện của chúng ta lớn hơn khả năng trái đất có thể thỏa mãn. 
				Lòng yêu mến thơ phú chẳng qua chỉ là như tiếng kêu la, than 
				khóc, nỉ non. Càng thanh cao, càng chân thật lại càng đau xót. 
				Nếu như đạt được điều mình khao khát thì niềm vui cũng chỉ tràn 
				ngập trí tuệ được một khoảnh khắc. Buổi chiều nó sẽ chảy về chốn 
				bao la của ước mong chưa trọn.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Cho nên cơn khát vĩnh cửu của nhân loại không bao giờ lặng yên. 
				Ngay cả những kẻ vỡ mộng vì khoái lạc quá độ, cũng luôn luôn 
				nuôi trong trí khôn hy vọng tìm được ở đâu đó nguồn sung sướng 
				thật hơn là những điều họ đã nếm thử. Sự kiếm tìm nguồn tình yêu 
				vô hạn chẳng bao giờ có cùng, chẳng ai thực sự yêu mến cái chi 
				trừ phi hắn nghĩ nó là vĩnh viễn. Không phải mọi người đều gọi 
				tên được điều vĩnh hằng này, mặc dù họ luôn khao khát, luôn 
				hướng tới. Nhưng người có tín ngưỡng như chúng ta gọi là Thiên 
				Chúa.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Như vậy lòng theo đuổi khoái lạc là dấu chứng bản chất cao hơn 
				của con người, là triệu chứng của tính cô đơn người ta phải chịu 
				đựng trên thế gian. Bị giằng co giữa vật chất ở đời này (thường 
				khi là lừa dối) và sự siêu việt xa xôi lôi kéo lòng trí hướng 
				về, con người luôn ở vào vị trí nguy hiểm tự ghét mình và thất 
				vọng cho đến khi tìm được Thiên Chúa, đấng thỏa mãn khát vọng vô 
				biên của mình. Như triết gia Pascal viết: &quot;Kiến thức về thân 
				phận cùng khổ mà không nhận biết Thiên Chúa, gây nên tuyệt vọng. 
				Kiến thức về Chúa Giêsu, chúng ta tìm thấy Thiên Chúa và sự khốn 
				cùng của mình.&quot;</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Vậy thì chúng ta không thể gạt Chúa ra khỏi cuộc đời mình được. 
				Ngài có con đường riêng để xâm lược linh hồn mọi người. Có hai 
				lỗ hổng trong các bức tường nơi con người, có hai vết rách nơi 
				áo giáp, hai lối vào bí mật trong bản chất con người qua đó 
				Thiên Chúa xâm nhập vào mỗi linh hồn. Chúng là thành phần của 
				bản tính và chúng ta không thể thay đổi được. Khi Thiên Chúa 
				dựng nên loài người. Ngài đã thiết lập nó nơi chúng ta, giống 
				như hai nơi thoát hiểm cuả ngôi nhà cao tầng. Ngay cả khi trí 
				tuệ con người ngăn cản lối vào của Thiên Chúa bằng những vật cản 
				giả hiệu, để tin rằng các suy nghĩ xấu xa ngăn cản đã được dựng 
				nên, thì Ngài vẫn còn khả năng xâm nhập linh hồn qua những cánh 
				cửa bí mật chúng ta không làm thế nào gài lại được. </p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Cánh cửa bí mật thứ nhất là lòng yêu mến sự thiện. Khi chúng ta 
				đuổi theo mỗi mẫu vật chất tốt lành quyến rũ mình, thì thực ra 
				linh hồn theo đuổi toàn thể sự lành vô biên của Thiên Chúa. Mỗi 
				sự kiếm tìm vui thú, tình yêu bạn bè, vỗ tay tán thưởng đứa bé 
				ngoan, so sánh điều hay lẽ phải là ám chỉ chúng ta vươn tới điều 
				thiện vượt xa những sự vật đó. Bởi lẽ không sự kiện nào hoàn 
				toàn làm thỏa lòng mình. Mỗi sự thiện hạ cấp mà chúng ta tán 
				dương nói lên lòng chúng ta khát khao sự thiện tuyệt đối tức 
				Thiên Chúa. Nói rằng mình ước muốn vật tốt lành, chứ không phải 
				điều tốt lành là Thiên Chúa, thì cũng giống như tuyên bố chúng 
				tôi yêu mến tia nắng mặt trời chứ không phải chính mặt trời, 
				chúng tôi yêu thích ánh trăng và chê ghét mặt trăng. Bản chất 
				của mặt trời không vào tới phòng chúng ta cùng với tia nắng, 
				nhưng là dự phần của nó. Giống như vậy. Không có nguyên tố nào 
				của Thiên Chúa trong qủa táo ngon, trong người bạn tốt. Nhưng dự 
				phần của sự thiện luôn có mặt. Chẳng ai có thể yêu mến vẻ tốt 
				lành mà không ám chỉ yêu mến sự tốt lành. Trong ý nghĩa ấy Thiên 
				Chúa lẩn vào linh hồn người ta ở mỗi khát khao, mỗi niềm vui 
				sướng của nó.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Bởi vì lòng ưa chuộng của con người đối vơiù những chi là thiện 
				hảo, là tốt lành, cho nên chẳng cuộc sống nào lại gồm toàn những 
				hành động xấu tự bản chất. Kẻ sát nhân đánh hơi trước sự tốt 
				lành của một bữa ăn ngon. Ông đạo chích đáp ứng nhu cầu của đứa 
				trẻ đói khát. Tay giang hồ phân phát lương thực cho dân nghèo 
				đường phố một cách hào phóng. Cho nên ở đời việc tốt xấu lẫn 
				lộn. Chẳng người nào muốn đời tội lỗi, phạm thượng, bách hại. 
				Nhiều khi người chai đá cũng biết trồng hoa hồng, chăm sóc bệnh 
				nhân, giúp đỡ hàng xóm. Trong mỗi sinh linh đều có nhiều khả 
				năng ăn ở tốt tự nhiên. Họ sống một cách ương ngạch trong các 
				đam mê nổi bật của mình. Ngay cả khi những đam mê ấy hướng về 
				đàng xấu. Nhưng trong mỗi người có yếu tố không thể lây nhiễm sự 
				dữ, cho nên không ai hoàn toàn là hư hỏng, không thể cải tạo, là 
				bất trị. Những ai chứng kiến những việc tốt của chúng ta, khâm 
				phục chúng ta. Những ai chỉ nhìn thấy các việc xấu, khinh miệt 
				chúng ta. Đó là lý do tại sao lại có nhiều ý kiến đến vậy chung 
				quanh một người. Cho nên, ngay cả khi lòng muốn quá sa đọa, ngay 
				cả khi tạo vật bị mê hoặc, bị thôi miên bởi một say đắm tội lỗi 
				lớn, làm cho nó ngày đêm trốn chạy Thiên Chúa mà gắn bó với tình 
				dục hoặc quyền bính. Ngay cả khi, trái lại có một vài thái độ 
				tốt, đáng khen ngược với tính nết chung, thì Thiên Chúa cũng có 
				quyền năng dùng những điểm tốt này để nâng linh hồn tới bình an, 
				giống như người ta dùng cái quai sách của một chiếc thùng nhơ 
				bẩn mà nhắc nó lên vậy.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Chiếc cửa bí mật thứ hai để Thiên Chúa đột nhập một linh hồn là 
				tính chán chường khoái lạc, chán ngán cuộc đời, no thỏa khát 
				vọng chóng qua, cô đơn hiện tại, âu sầu vô cớ và tuyệt vọng 
				tương lai. Dầu ngụp lặn trong sung sướng xác thịt đến mấy đi 
				nữa, người ta cũng không thể đi hết điều ác. Loài người vẫn còn 
				tự do và lựa chọn mênh mông, không cạn kiệt được. Mỗi khoái lạc, 
				mỗi đam mê, mỗi khao khát xác thịt xét cho cùng đều có hạn. Nhục 
				dục dầu đòi hỏi thế nào đi nữa thì khi thỏa mãn vẫn không làm 
				chúng ta hài lòng. Trong cuộc sống rã rời của các kẻ vui chơi 
				thâu đêm suốt sáng vẫn còn một lựa chọn, vẫn còn một dây đàn hờ 
				hững chưa ai gẩy tới. Đó là khoái lạc đời đời mà người ta chưa 
				từng được hưởng. Những câu tuyên bố như: &quot;Tôi đã từng đi qua 
				cuộc đời, đã được xem mọi sự, được nếm mọi vui thú&quot; không bao 
				giờ hoàn toàn đúng. Những người nói như vậy chứng tỏ trí óc còn 
				non dại, bởi họ chưa khám phá ra một cuộc mạo hiểm lớn lao nhất 
				trên thế gian. Xin nhớ người giàu có trong phúc âm còn phải hỏi: 
				&quot;Tôi còn thiếu chi nữa để mình được hạnh phúc?&quot; Ông ta biết và 
				mọi người yêu thích nhục dục đều biết dù thỏa mãn đến đâu đi nữa 
				thì vẫn còn chỗ cho các khao khát khác. Người ta luôn còn cái 
				chi đó để ao ước, còn nhu cầu nào đó phải chăm lo. Chúng ta biết 
				nhưng không biết hết mọi sự. Chúng ta yêu nhưng chưa yêu cùng 
				tận. Chúng ta ăn nhưng vẫn còn đói. Chúng ta uống nhưng vẫn còn 
				khát: &quot;Con mắt có nhìn bao nhiêu cũng chẳng no thỏa, tai có nghe 
				đến mấy cũng chưa đầy&quot; (Cv 1,8). </p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Chúng ta hoàn toàn thất bại trong các nỗ lực tìm kiếm thỏa lòng 
				trong các sự vật chóng qua. Bởi vì giống như con cá cần nước, 
				đôi mắt cần ánh sáng, chim trời cần không khí, cây cỏ cần đất 
				cát, thì linh hồn thiêng liêng cần Đức Chúa Trời vô biên. Cho 
				nên linh hồn sẽ cảm thấy trống rỗng, chán nản, cô quạnh với 
				những gì mình chiếm hữu và khát khao những gì mình chưa có. Bởi 
				lẽ Thiên Chúa đã bị gạt ra khỏi ý nghĩ con người, Thiên Chúa mà 
				con người đã được tạo dựng nên cho Ngài. Sự buồn chán là hậu quả 
				của việc vắng mặt Thiên Chúa trong linh hồn. Giống như bệnh hoạn 
				là sự thiếu thốn sức khỏe nơi thể xác, đói khát là sự không có 
				thức ăn trong dạ dày. Sự thiếu thốn trong chúng ta chỉ ra tính 
				hiện hữu của vật nào đó có khả năng làm đầy khoảng trống. Thiên 
				Chúa sẽ đi vào linh hồn xuyên qua cánh cửa bí mật của sự trống 
				rỗng này. Nếu đầu tiên linh hồn không chấp nhận, Ngài sẽ tăng 
				cường sự bất an và cô đơn cho đến khi linh hồn đón nhận Ngài như 
				vị khách thân thiết và vĩnh viễn. </font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td style="border-left-style: solid; border-left-width: 1px; border-right-style: solid; border-right-width: 1px; border-bottom-style: solid; border-bottom-width: 1px">
		<p align="center">
		<img border="0" src="../Suyniemmoingay/Nam2011/thanggieng/02.gif" align="right" width="200" height="200"></p>
		<p align="center">
		&nbsp;</p>
		<p align="center">
		<br>
		&nbsp;</p>&nbsp;</td>
	</tr>
</table>

</body>

</html>

PHP File Manager