File "Su-lua-chon-cuoi-cung.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/THIENCHUA/Con Duong Ve Troi/Su-lua-chon-cuoi-cung.htm
File size: 66.68 KiB (68281 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<LINK rel="stylesheet" href="../Suyniemmoingay/_common/colours.css" type="text/css">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">

<title>Con Duong Ve Troi</title>
<style>
<!--
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Arial","sans-serif";
	}
-->
</style>
<meta name="keywords" content="Con duong ve troi, Duc Maria, Hoi thanh, Giêsu Kitô; tinmung.net; dongcong.net, suy niệm mỗi ngày, tinh yeu, thanh y, tuan phuc,tieng goi, ve troi, lua chon">
<meta name="description" content="Con duong ve troi, Duc Maria, Hoi thanh, Giêsu Kitô; tinmung.net; dongcong.net, suy niệm mỗi ngày, tinh yeu, thanh y, tuan phuc,tieng goi, ve troi, lua chon">
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../_themes/network/netw1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="network 1011">
</head>

<body>

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="10" bgcolor="#FFFFF2" cellpadding="10">
	<tr>
		<td style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 12pt; font-weight: bold; border-left-style:solid; border-left-width:1px; border-right-style:solid; border-right-width:1px; border-top-style:solid; border-top-width:1px">
				<p align="center">
				<font face="Arial"><b>Chương 11: SỰ CHỌN LỰA CUỐI CÙNG</b></font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 12pt">
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial">Rồi sẽ đến thời điểm thảm khốc tột cùng của 
				cái chết, lúc ấy thân nhân, bạn bè hỏi: &quot;Hắn để lại bao nhiêu?&quot;. 
				Còn Thiên Chúa chất vấn: &quot;Ngươi mang những gì theo?&quot; Cũng trong 
				khoảng khắc thời gian ấy. Nhưng chỉ câu hỏi thứ hai là quan 
				trọng. Bởi lẽ chúng ta mang theo công nghiệp của mình. Lịch sử 
				cuộc đời mỗi người rất ngắn: &quot;Đã ấn định cho mọi người đều phải 
				chết một lần, sau đó là phán xét&quot; vì &quot;Con người sẽ ngự đến trong 
				vinh quang của Cha Ngài với các thiên thần và Ngài sẽ thưởng 
				công cho mỗi người xứng đáng tùy theo việc họ làm&quot;. Trong bầu 
				không khí hay quên lãng của Kitô Giáo truyền lại cho văn minh 
				tây phương, giống như làn sương khói độc hại, thì chân lý trên 
				về phán xét sau khi chết, thường bị làm ngơ nhất, trong tầm nhìn 
				luân lý của quảng đại quần chúng. Nhưng linh hồn chúng ta sẽ 
				được lợi ích nhiều nếu suy gẫm tốt về sự thật ấy. Có hai đề tài 
				cần phải bàn: Bản chất và sự cần thiết của phán xét.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Tất cả thiên nhiên làm chứng về sự cần thiết của phán xét. Khắp 
				mọi nơi trong vũ trụ bao la, những tạo vật bên dưới con người 
				đều trừng phạt những kẻ xâm phạm luật thiên nhiên. Chẳng cần đâu 
				xa, xin cứ nhìn quanh chúng ta, trong các bệnh viện, khám đường, 
				viện tâm thần, để hiểu ra định luật này. Giống như việc những 
				quan tòa, nó trừng phạt nghiêm minh những kẻ phá hoại luật lệ 
				của nó. Nếu thân thể con người bị lạm dụng qúa độ, thiên nhiên 
				sẽ trả thù bằng các bệnh tật, yếu đuối, nó tuyên án cho kẻ vi 
				phạm. Nếu một mảnh đất đá ương ngạnh tách ra khỏi toàn khối ngôi 
				sao, thiên nhiên tuyên án cho nó cháy tan tành trong vũ trụ.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Thiên nhiên thực sự đối phó với các tạo vật ngay trên mặt bằng 
				nơi chốn và thời gian. Nhưng về phần luân lý thì chưa như vậy. 
				Nó chưa &quot;tính sổ&quot; với từng người trước cái chết. Vì vậy còn qúa 
				nhiều người vô tội chịu thống khổ, quá nhiều tội nhân chưa phải 
				phạt, qúa nhiều người lành chưa được thưởng, qúa nhiều phát 
				triển của cái ác, qúa nhiều đau khổ cho những linh hồn vâng lời 
				Chúa, qúa nhiều sung sướng cho kẻ không vâng lời, quá nhiều vinh 
				dự cho các tội nhân giả hình, quá nhiều bất công cho kẻ kêu xin 
				khiêm nhường, quá nhiều vị thánh còn mai danh ẩn tích, quá nhiều 
				kẻ độc ác được ca tụng, quá nhiều con cái Chúa bị đóng đinh, quá 
				nhiều kẻ vô lại kiêu căng, tâm đắc: &quot;Ta từng phạm tội mà có thấy 
				hình phạt đâu?&quot;.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Nhưng ngày phân xử đương nhiên phải đến, giống như một nhà kinh 
				doanh hàng năm phải tính toán lời lỗi ra sao! Mỗi linh hồn ngày 
				nào đó phải ra trước tòa Thiên Chúa mà trả lẽ cuộc đời. Cuộc 
				sống mỗi người giống như một kế toán viên, phải ghi sổ từng món 
				chi tiêu, thu nhập, từng ý nghĩ, từng việc làm, từng món nợ, hết 
				mọi chi tiết để giám đốc xem xét, kiểm tra, cân đối. Khi mọi 
				dịch vụ đời sống đã đến hồi kết thúc, Thiên Chúa sẽ lôi ra tất 
				cả điều nhớ, điều quên, việc lành việc dữ, công nghiệp hình 
				phạt, nhân đức, nết xấu mà phán quyết cho chúng ta thiên đàng 
				hay hỏa ngục, sự sống hay cái chết đời đời. Chúng ta có khả năng 
				gian dối ở đời này, bởi vì Thiên Chúa cho phép cỏ lùng và lúa 
				miến mọc chung trong thửa ruộng, nhưng đến ngày thế mạt không 
				như vậy được. Chúa sẽ bảo các thiên thần thợ gặt: &quot;Thu lượm cỏ 
				lùng lại mà đốt đi, còn lúa thì chứa vào kho lẫm cho ta&quot;.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Nhưng bản tính của việc phán xét là gì? Trong việc trả lời câu 
				hỏi này, chúng tôi nghiêng về phán xét riêng sau khi chết hơn là 
				phán xét chung, khi mọi dân mọi nước phải ra trước tòa án Thiên 
				Chúa. Phán xét công nhận tội phúc về phía Thiên Chúa và về phía 
				nhân loại. Trước hết, công nhận tội phúc về phía Thiên Chúa: Xin 
				tưởng tượng. Có hai linh hồn đứng trước ngai Thiên Chúa. Một 
				trong tình trạng đầy ơn thánh, kẻ khác đầy tội lỗi. Ơn thánh là 
				sự tham dự vào bản tính và đời sống của Đức Chúa Trời. Giống như 
				người phàm tham dự vào đời sống của cha mẹ mình, vì cha mẹ đã 
				sinh ra mình. Vậy một linh hồn được chịu phép rửa tội cũng sinh 
				ra bởi Thần Khí của Thiên Chúa, chia sẻ đời sống và bản tính 
				Thiên Chúa. Sự sống của Thiên Chúa tuôn chảy trong linh hồn họ, 
				như máu lưu thông trong thân xác, nhựa trong thân cây, in dấu vô 
				hình nhưng chân thật chân dung của Đức Chúa Trời, làm cho linh 
				hồn ấy nên giống Thiên Chúa. Vậy khi Chúa nhìn vào linh hồn ấy 
				thì nhận ra nó giống mình, vì nó ở trong tình trạng ơn thánh. 
				Bản tính của nó với bản tính Đức Chúa Trời là một. Giống như 
				người cha nhân loại nhìn vào các con cái mình, ông nhận ra chúng 
				và yêu mến chúng. Đức Kitô cũng nhận ra và yêu mến các linh hồn 
				đầy ơn thánh, Ngài nói với họ: &quot;Hỡi những kẻ được Cha ta chúc 
				phúc, là con tự nhiên của Ngài. Các bạn là con vì ơn thánh. Hãy 
				vào mà hưởng nước trời, đã dọn sẵn cho các bạn từ thủơ đời đời&quot;.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Mặt khác Chúa nhìn vào linh hồn tội lỗi và thấy họ khác mình, 
				thối tha, ghê gớm không giống mình chút nào, như người cha phàm 
				tục nhìn vào con hàng xóm nhơ bẩn. Ông nhận ra ngay nó không 
				phải là con mình đẻ ra. Thiên Chúa cũng không nhận ra những linh 
				hồn tội lỗi có điều chi giống mình, bởi họ là con cái ma qủi. 
				Ngài không thấy nơi chúng vẻ đáng yêu của bản tính mình, cho nên 
				đã nói như trong dụ ngôn cô dâu, chàng rể: &quot;Ta không biết các 
				ngươi từ đâu đến&quot;. Lúc này chẳng có chi khủng khiếp hơn. Không 
				được Đức Chúa Trời nhận diện.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Thứ hai, công nhận tội phúc về phía con người. Giả dụ bạn đang 
				rửa xe, hay thu dọn nhà cửa, thì một người khách sang trọng đến 
				chơi, ông ta đứng đợi ngoài cửa. Lúc ấy bạn phản ứng lúng túng 
				không như khi ăn vận sạch sẽ, sẵn sàng để tiếp đón ông ta. Nhưng 
				trong trường hợp nhơ bẩn này, bạn phải xin lỗi người khách lạ. 
				Nói với ông mình chưa sẵn sàng xuất hiện trước vị khách sang 
				trọng như vậy. Linh hồn tội lỗi đứng trước tôn nhan Thiên Chúa 
				cũng sẽ hành xử tương tự. Nó không dám minh oan, không dám phản 
				đối, không dám khẩn khoản van nài, không dám đòi hỏi xét xử lại, 
				không dám chống bản án; bởi lẽ nó đã nhìn ra hình ảnh thật sự 
				của mình, có thể nói nó phán xét chính mình. Thiên Chúa oai 
				nghiêm chỉ đứng đấy chuẩn nhận. Nếu như nó thấy mình trong trắng 
				và sống động trong ơn nghĩa Chúa, nó sẽ ngã mình vào vòng tay 
				dấu yêu của Ngài, nói khác đi, vào thiên đàng. Tương tự như con 
				chim được thả ra khỏi lồng bay bổng lên bầu trời. Nếu nó thấy 
				mình còn chút vướng mắc và tấm áo trắng của bí tích thanh tẩy 
				còn lấm chút bợn nhơ, linh hồn không dám bay thẳng vào thiên 
				đàng, nơi hoàn toàn trong sạch, mà tự nguyện ném mình vào lửa 
				luyện tội mà tẩy sạch mọi tội khiên. Nhưng nếu như thấy mình 
				không hy vọng hạnh phúc đời đời, bởi mắc nhiều tội lỗi, chẳng có 
				chút nào giống hình ảnh Đức Chúa Trời trong sạch và thánh thiện. 
				Nó đã mất hết cảm tính sống đời tinh thần, lúc ấy nó phải trốn 
				xa nhan thánh Chúa, không chịu đựng nổi sự nghiêm khắc của Ngài. 
				Họ giống như người khiếp sợ âm nhạc, nghệ thuật, thơ phú… Vì lý 
				do nào thiên đàng trở thành hỏa ngục cho những linh hồn như vậy? 
				Nhan thánh ngọt ngào trở thành cay đắng? Bởi lẽ nó cảm thấy lạc 
				lõng giữa sự thánh thiện như cá mang ra khỏi nước. Bởi nó nhận 
				ra tình trạng không thánh thiện, không xứng đáng, không giống 
				Thiên Chúa của mình, nên chán ghét sự thanh sạch nơi Thiên Chúa. 
				Nó tự gieo mình xuống hoả ngục như viên đá rời khỏi tay rơi 
				xuống mặt đất. Như vậy linh hồn chỉ có ba trạng thái sau cái 
				chết thân xác: Thiên đàng, Luyện ngục và Hỏa ngục. Thiên đàng là 
				tình yêu không đau khổ, luyện ngục đau khổ với tình yêu và hỏa 
				ngục đau đớn không yêu mến.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Có một từ xem ra nghịch nghĩ, không có thật và đầy tưởng tượng 
				đối với thính giả tân thời. Đó là từ luyện ngục. Mặc dù người 
				tín hữu đã tin vào đó hàng ngàn năm. Ba trăm năm gần đây bên 
				ngoài Hội Thánh Rôma, người ta không tin vào ý niệm này nữa. 
				Người ta cho là sản phẩm của tưởng tượng, không có thật, hơn là 
				hoa qủa của linh hướng và trí khôn lành mạnh. Sự thật, gần đây 
				niềm tin vào luyện ngục giảm bớt, những thể hiện nền văn minh 
				hiện thời bỏ qua hai điều căn bản của thế giới luân lý: Sự tinh 
				tuyền của Thiên Chúa và Tính ghê tởm của tội lỗi. Một khi hai 
				điều này được tin theo thì vấn đề luyện ngục phải được đặt ra. 
				Bởi lẽ luyện ngục là chi? Nếu không phải là tình trạng tạm thời 
				người ta phải đền tội khi ra khỏi đời này trong ơn thánh, nhưng 
				chưa hoàn toàn trong trắng, còn vướng mắc những lỗi lầm nho nhỏ 
				hoặc chưa đền tội đủ ở đời này. Như vậy luyện ngục là nơi phép 
				công thẳng của Thiên Chúa đang được cân bằng với tình yêu của 
				Ngài và tình yêu của con người tinh luyện những xúc phạm của 
				mình. Chúng ta sẽ bàn kỹ lưỡng hơn. </p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Trước hết, luyện ngục là nơi tình yêu Thiên Chúa cân bằng phép 
				công thẳng của Ngài. Sự cần thiết của học thuyết luyện ngục được 
				xây dựng trên nền tảng đức tinh tuyền tuyệt đối của Thiên Chúa. 
				Trong sách Khải Huyền thánh Gioan mô tả vẻ tuyệt vời của thành 
				thánh Thiên Chúa, bằng vàng ròng, tường bằng ngọc trai, ngọc 
				bích, ánh sáng tinh khiết, không do mặt trời mặt trăng phát ra; 
				nhưng Con Thiên Chúa là đèn soi thành. Con Chiên đã bị giết từ 
				khởi đầu thế giới. Chúng ta cũng được biết điều kiện để đựơc vào 
				các cửa thành thánh Giêrusalem trên trời: Tất cả những gì ô uế 
				cũng như bất cứ những ai ghê tởm và ăn gian nói dối, đều không 
				được vào thành, mà chỉ có những người có tên ghi trong sổ trường 
				sinh của Con Chiên mới được vào&quot; (Kh 21,27). Công bằng của Đức 
				Chúa Trời đòi hỏi không một ô uế nào, mà chỉ những tâm hồn thanh 
				sạch mới được đứng trước tôn nhan đấng thánh thiện vô cùng. Nếu 
				không có luyện tội thì sự công bằng của Đức Chúa Trời là điều vô 
				cùng khiếp sợ. Bởi lẽ chẳng ai dám tự xưng là trong sạch và tinh 
				tuyền đủ để ra trước tôn nhan Con Chiên vô tý tích! Các thánh tử 
				đạo đã đổ máu mình trên bãi cát của đấu trường Coloseum để làm 
				chứng cho đức tin của mình chăng? Dĩ nhiên rồi, các nhà truyền 
				giáo như thánh Phaolô đang tiêu hao mình và còn tiếp tục tiêu 
				hao để gieo vãi đức tin chăng? Khá tất nhiên! Các thánh hiển tu 
				trong các đan viện tự hy sinh trên ngọn đồi Calvario vô hình để 
				trở nên các vị tử đạo vô danh chăng? Khá đúng! Nhưng đây là 
				những vị vinh hiển theo luật trừ. Còn hàng triệu triệu linh hồn 
				chết với một chút bợn nhơ trong linh hồn, như đã phạm tội nhưng 
				ăn năn thống hối, nhưng còn một chút yếu đuối cũ đè nặng trên 
				lương tâm? </p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Ngày mà chúng ta được rửa tội, Hội Thánh đặt trên mình tấm áo 
				trắng và nói: &quot;Con hãy nhận lấy chiếc áo trắng này, là dấu chỉ 
				tước vị của con. Hãy mang nó tinh tuyền cho đến cõi trường 
				sinh&quot;. Vậy thì suốt cuộc sống, bao nhiêu người trong chúng ta 
				giữ được tấm áo đó tinh tuyền? Giữ được nó vô tỳ tích để rằng có 
				thể vào thiên đàng lập tức khi chết? Và nhập đoàn với đạo binh 
				áo trắng trước Vua Trời? Bao nhiêu linh hồn khi rời khỏi đời này 
				có can đảm nói rằng họ đã giữ được tấm áo đó không vướng mùi tục 
				lụy? Họ chẳng bao giờ tham lam, phí uổng tài năng, vô nhân, 
				thiếu bác ái, xao lãng bổn phận, không nghe Thánh Thần thúc giục 
				hoặc dùng hư từ mà ai ai cũng phải trả lẽ? Liệu có bao nhiêu 
				linh hồn được thứ tha tội lỗi khi gần chết tựa hoa nở cuối mùa, 
				nhưng vẫn còn mắc nợ tiền khiên? Vết thương đã được chữa lành, 
				nhưng vết sẹo vẫn còn. Xin kể ra những anh hùng quốc gia, tên 
				vẫn còn lưu truyền, việc vẫn còn ghi nhớ, mà đến giờ chết được 
				thanh thản khỏi những thiếu sót nhỏ của cuộc đời mà vào thẳng 
				trước tôn nhan Thiên Chúa? Thử hỏi những ai tin rằng họ được cứu 
				rỗi ngay, mặc dầu họ được yêu mến và kính trọng rất mực? Thí dụ 
				một ai đó giống như George Washington hay Nelson danh tiếng vì 
				chủ nghĩa quốc gia, anh hùng dân tộc, tướng lãnh mặt trận, lại 
				không bị nghi ngờ bất xứng, liền sau cái chết, với chủ nghĩa yêu 
				mến Nước Trời? Nơi mà Hy Lạp hay Do Thái, nô lệ hay tự do, man 
				rợ hay văn minh đều nên một trong Đức Kitô Chúa chúng ta?</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Tất cả những linh hồn này, chết trong tình yêu Thiên Chúa, đều 
				tốt đẹp cả. Nhưng nếu không có luyện ngục, thì làm sao các thiếu 
				sót nhỏ của họ được tẩy rửa? Chẳng lẽ phép công thẳng của Thiên 
				Chúa ném tất cả xuống địa ngục, chung kiếp với tội nhân nặng nề 
				khác? Xóa bỏ luyện ngục đi và Thiên Chúa sẽ không dễ dàng tha 
				thứ. Bởi lẽ, liệu môït hành động ăn năn trước khi chết, có đền 
				đáp thỏa đáng 30 năm ăn ở hoang đàng? Xóa bỏ luyện ngục đi và 
				phép công thẳng vô cùng của Thiên Chúa sẽ khước từ thiên đàng 
				cho những linh hồn quyết tâm đền tội, nhưng chưa kịp trả hết 
				đồng xu cuối cùng! Luyện ngục là nơi tình yêu bao la của Thiên 
				Chúa chế ngự công lý của Ngài, bởi vì, ở đấy Ngài tha thứ, Ngài 
				làm sạch những linh hồn bằng công nghiệp thập giá của mình, đẽo 
				gọt họ với cái đục khổ đau, để họ trở nên xứng hợp với thành 
				thánh Gierusalem trên trời. Như vậy,Thiên Chúa nhận chìm họ vào 
				nơi thanh luyện để họ giặt trắng lại chiếc áo rửa tội, ngõ hầu 
				xứng hợp với Thiên Cung trong sạch và sáng láng, phục sinh họ 
				như con chim phượng hoàng của cổ tích ngày xưa, trỗi dậy từ đống 
				tro tàn đau khổ và sau khi các vết thương đã được lành mạnh, thì 
				phóng thẳng lên không trung tới thành thánh tinh tuyền, nơi Đức 
				Kitô là vua, đức Maria là hoàng hậu. Bởi lẽ, dù chỉ mắc một lỗi 
				nhỏ thôi, Thiên Chúa cũng không thể tha thứ, mà không có xót xa, 
				không có nước mắt. Nhưng khi đã vào Thiên đàng thì chỉ còn yêu 
				thương!</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Đa phần nhân loại, dù đàn ông hay đàn bà, ít khi ý thức về bất 
				công, vô ơn, bội bạc trong cuộc sống cho tới khi lưỡi hái lạnh 
				lùng của tử thần chạm tới người họ thương yêu. Chỉ lúc ấy họ mới 
				tỉnh ngộ và hối hận nhận ra mình đã qúa thiếu sót tình yêu và tử 
				tế đối với người qúa cố. Vì vậy một trong những lý do người ta 
				cảm thấy cay đắng và xót xa cho thân phận người đã chết, vì 
				những lời yêu thương chưa được nói, những việc tử tế chưa được 
				làm: &quot; Đứa trẻ đó chẳng bao giờ biết tôi yêu mến nó biết bao!&quot; 
				&quot;Nó chẳng khi nào biết tôi đã yêu qúi nó!&quot; Tôi không nhận ra nó 
				quý báu tôi, cho đến khi nó qua đời&quot;. Những lời tương tự tựa như 
				mũi tên tẩm thuốc độc thần chết cắm thẳng vào tim chúng ta khi 
				đối diện với cái chết của người thân yêu. Ôi, nếu như người qúa 
				cố trở về, chúng ta sẽ hành động khác đi biết mấy, đầy yêu 
				thương và nhân ái! Giờ đây nước mắt có chảy ra cũng vô ích trước 
				đôi mắt không thể nhìn được nữa! Cử chỉ yêu thương cũng bằng 
				không, trước đôi tay chẳng thể ôm ấp. Lời thở than đi vào mây 
				gió, trước trái tim chết cứng, đôi tai không nghe! Ôi! Nỗi thống 
				khổ vì đã không tặng hoa khi còn sống. Không dâng hương khi còn 
				ngửi được! Không nói lời yêu thương khi còn nghe. Bây giờ bốn 
				bên im lặng như tờ, một thân nằm đó trơ trơ như đồng! Ôi! Đau 
				đớn dâng cao khi nghĩ không còn cách nào đền bù những sai lỗi 
				đối với người chết, những âu yếm giả dối đối với họ, những khinh 
				thường khi họ nài nỉ, những hỗn xược khi họ chăm lo, những bất 
				kính khi họ yêu thương. Họ là những người dấu yêu nhất trong 
				cuộc đời mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta! Thiên địa ơi, trễ 
				qúa rồi, trễ qúa rồi! Những kỷ niệm xót xa, vô ích, những giọt 
				nước mắt muộn màng. Nó giống như hạt sương mỏng cho mùa màng năm 
				trước, cái bẫy cho con chim đã bay xa, hay thu lượm hoa hồng đã 
				héo!</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Luyện tội là nơi tình yêu Thiên Chúa chế ngự phép công thẳng của 
				Ngài. Nhưng cũng là nơi tình yêu con người đền bù bất công con 
				người gây nên. Bởi vì, nó đem khả năng cho những trái tim còn 
				sống bẻ gẫy rào cản thời gian và sự chết để đổi những lời chưa 
				kịp nói thành cầu nguyện, nén hương chưa kịp đốt thành hy sinh, 
				bó hoa chưa kịp dâng thành của bố thí, hành động tử tế chưa kịp 
				thi hành trở nên nguồn trợ giúp đời đời cho các linh hồn đã 
				khuất. Xóa bỏ luyện ngục đi, bạn sẽ cảm nghiệm xót xa vì hà tiện 
				những lời tử tế của mình khi họ còn sống, bạn sẽ cảm thấy cay 
				đắng vì lãng quên họ khi họ còn ở trên dương gian. Xóa bỏ luyện 
				tội đi và những bia kỷ niệm, lễ cầu hồn chẳng còn ý nghĩa nào 
				khi chúng ta viếng thăm nghĩa trang hay xin lễ nhớ đến họ! Xóa 
				bỏ luyện ngục đi và chúng ta sẽ thấy vòng hoa kính viếng, nén 
				nhang cúi đầu và những phút yên lặng tưởng niệm rỗng tuếch. 
				Nhưng nếu có luyện ngục, lập tức, cúi đầu kính viếng nhường chỗ 
				cho bái gối cầu nguyện, giây phút yên lặng trở thành khẩn khoản 
				nài xin và vòng hoa đang héo cho rực rỡ hy sinh dâng lên vị anh 
				hùng trên hết mọi anh hùng, Chúa Giêsu Kitô.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Như vậy, luyện ngục cho chúng ta khả năng đền mọi thứ tội, mọi 
				thứ vô ơn. Bởi lẽ qua cầu nguyện hy sinh, hãm mình chúng ta mang 
				niềm vui, an ủi đến cho các linh hồn. Người ta thường nói: Tình 
				yêu mạnh hơn sự chết. Cho nên chúng ta phải có tình yêu mãnh 
				liệt cho những linh hồn ra đi trước. Chúng ta là con cháu của 
				họ, phát sinh từ sự sống họ, hoa qủa của khó nhọc họ, là âu lo 
				của trái tim họ. Vậy thì thần chết có thể cắt đứt lòng biết ơn 
				của chúng ta? Liệu nấm mồ có khả năng chấm dứt lòng chúng ta yêu 
				mến họ không? Liệu mô đất lạnh lùng có phép tắc ngăn cản chúng 
				ta sửa chữa những vô ơn? Hội Thánh luôn bảo đảm với các tín hữu 
				rằng, mặc dù đời này không có khả năng đền đáp, bởi lẽ họ không 
				ở đời này nữa, nhưng chúng ta vẫn có thể xuyên qua thế giới này 
				mà đến với họ, trợ giúp họ khỏi bàn tay công lý của Thiên Chúa 
				bằng tình yêu bền vững, cầu nguyện và hy sinh cho họ, mua sắm 
				cho họ ơn cứu độ muôn đời bằng cái giá lòng thương xót Thiên 
				Chúa.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Chúng ta so sánh một người đàn ông mắc nợ mà chết. Chủ nợ chúc 
				dữ ông ta cho đến bên kia nấm mồ. Nhưng nếu con ông ta lao động 
				khó nhọc trừ hết nợ cho ông đến đồng xu cuối cùng thì tên ông 
				được phục hồi, danh dự ông được kính trọng như cũ. Cũng vậy các 
				linh hồn bạn hữu chúng ta chết mà còn mắc nợ đền tội với Thiên 
				Chúa sẽ được thứ tha, nếu chúng ta giúp đỡ họ bằng những hy sinh 
				hàng ngày, giống như những đồng vàng đồng bạc trần thế mà mua 
				lấy nước Thiên đàng cho họ. Họ đi vào những đau đớn Chúa định, 
				giống như vàng còn bẩn phải chịu ngọn lửa tình yêu Chúa tẩy rửa 
				hết mọi bợn nhơ. Những linh hồn qua đời trong ơn nghĩa Chúa, 
				nhưng còn bị thương tích trong trận chiến với ma qủi để được 
				sống đời đời, lúc này không thể tự băng bó vết thương mình được 
				nữa, thì bổn phận của chúng ta, những người khoẻ mạnh và lành 
				lặn, vận y phục chiến đấu để giành thắng lợi cho Đức Kitô, phải 
				chữa lành các vết thương cho họ, để họ được khỏe mạnh mà họp 
				đoàn với những kẻ chiến thắng, diễu hành với các anh hùng khác 
				mà mừng Vua Kitô khải hoàn. Chúng ta chắc chắn rằng một xu nhỏ 
				bánh ăn cung cấp cho kẻ đói nghèo, có khả năng cứu thoát một 
				linh hồn về bàn tiệc thiên cung, thì linh hồn ấy chẳng quên 
				chúng ta khi vào nước trời.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Tuy rằng đang bị cầm hãm trong lửa đền tội, nhưng các linh hồn 
				hằng nghe thấy tiếng kêu gọi của các thiên thần, các thánh mời 
				họ về quê trời. Nhưng họ bất lực không bẻ gẫy được xiềng xích 
				tội khiên, bởi thời gian lập công đã hết. Cho nên, Thiên Chúa 
				không thể quên những công nghiệp của người vợ trung thành, đền 
				thay cho chồng qúi yêu đang bị giam hãm trong luyện ngục. Chắc 
				hẳn lòng thương xót của Thiên Chúa không để Ngài quên lãng công 
				nghiệp của người mẹ dâng hiến cho con yêu dấu của mình để giải 
				phóng nó khỏi vết nhơ tội lỗi trần gian. Chắc chắn rằng Thiên 
				Chúa không cấm đoán tín điều các thánh cùng thông công. Người 
				sống cầu nguyện cho kẻ qua đời. Bởi lẽ hành động vĩ đại của việc 
				cứu chuộc được xây dựng trên tính phổ cập của công nghiệp. Nhờ 
				đó chúng ta đáp trả lời cầu cứu, không những của thân nhân, bạn 
				bè mà tất cả mọi thành phần trong Giáo hội. Một đạo binh đông 
				đảo các linh hồn còn đang mắc nợ cuộc sống, nhưng đã sẵn sàng 
				vận hoàng bào, xếp hàng đợi vào nước trời, kêu to lên chúng ta 
				xin cầu nguyện và công nghiệp đền bù, &quot;xin thương xót tôi, xin 
				thương xót tôi, hỡi các bạn, vì tay Thiên Chúa còn đè nặng trên 
				linh hồn tôi&quot;. </p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Nếu có vấn đề nào hóc búa, khó nghe nhất cho con người tân thời 
				ngày nay, thì phải là sự hiện hữu của hỏa ngục. Thế hệ chúng ta 
				to tiếng đòi hỏi điều mà một thi sĩ đã gọi: &quot;Người thày dạy dịu 
				dàng, chẳng bao giờ nhắc đến hỏa ngục cho những người lịch sự&quot;. 
				Thời đại duy vật muốn một Kitô Giáo mền yếu hơn, ngõ hầu rao 
				giảng Phúc âm Chúa Giêsu Kitô mà chỉ còn là học thuyết dịu dàng 
				của thiện chí, một chương trình xã hội tiến bộ của khoa học, 
				kinh tế, chính trị và nhân bản.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Có nhiều lý do gây nên não trạng này, não trạng không tin vào 
				hỏa ngục nữa. Một trong những lý do đó là tâm lý. Nếu một người 
				ăn ở trác táng, hắn không muốn ai khuấy động cuộc sống xấu xa 
				của mình bằng những từ ngữ như công bằng, chính trực, thiên 
				đàng, hỏa ngục... Hắn ước mong chẳng có hình phạt nào cho các 
				hành động gian ác của mình. Vì vậy hỏa ngục là từ nghịch nghĩ, 
				khó nghe. Từ đó họ muốn hỏa ngục không tồn tại, hoặc chỉ là ý 
				niệm hồ đồ tưởng tượng. Ngược lại, các linh hồn đạo đức không 
				khi nào chối bỏ nó, nhưng chỉ sợ hãi mà thôi. Lý do thứ hai, một 
				số người lẫn lộn các hình ảnh của thi sĩ, văn sĩ, họa sĩ với 
				thực tế thô kệch của học thuyết luân lý. Sự thật vĩnh cửu không 
				luôn dễ diễn tả bằng biểu tượng, bằng văn hóa không gian và thời 
				gian. Nhưng đó không phải là lý do để từ chối hỏa ngục, cũng như 
				chúng ta không có lý do để xóa bỏ nước Mỹ bởi vì nó được tượng 
				trưng bằng một phụ nữ cầøm lá cờ đỏ, trắng và xanh.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Lý do cuối cùng, là vì học thuyết hỏa ngục thường được tách khỏi 
				toàn khối sự thật của Thiên Chúa giáo. Khi tách ra khỏi những 
				quan niệm về tội lỗi, tự do, nhân đức, công bình, cứu chuộc, tức 
				thời nó trở nên vô lý. Tương tự như con mắt lấy khỏi thân thể. 
				Tính lý luận của não trạng này nằm ở sự kiện là khi không tin 
				vào sự độc ác của tội lỗi, người ta cũng không tin sự hiện hữu 
				của hoả ngục nữa, Hội Thánh không hề thay đổi một chữ trong niềm 
				tin của mình về hỏa ngục đời đời như Chúa Giêsu đã dạy. Đấng cứu 
				chuộc nhân loại và là Thiên Chúa chúng ta, chỉ bảo rằng hỏa ngục 
				là sự đòi hỏi của công lý, đồng thời là đòi hỏi của tình yêu. 
				Giáo hội luôn trung thành với mạc khải ấy.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Trước hết, khi nhận thức rằng thế giới luân lý được dựng trên 
				nền tảng công lý, thì cũng phải công nhận sự cần thiết của đền 
				trả sau nấm mồ. Những ai còn lương tri đều thừa nhận rằng không 
				thể bao dung ý tưởng tội nhân không ăn năn, kẻ giết người chưa 
				hối hận khi chết, lại có thể thoát công lý một cách vẻ vang. 
				Chẳng lẽ anh hùng tử đạo lại cùng chung số phận với các bạo chúa 
				truyền giết hại mình? Thánh Phaolô, Hoàng đế Nêro, tông đồ phản 
				bội Giuđa và Chúa Giêsu đồng hàng đồng vị hay sao? Nếu có một sự 
				thiện tuyệt đỉnh nào mà người ta phải đạt tới, bằng cố gắng can 
				đảm anh hùng, thì điều theo sau là người ta có nguy cơ làm mất 
				hạnh phúc mình do thái độ nhát đảm ươn lười. Thiên Chúa đã ban 
				cho loài người sự sống vĩnh cửu, hạnh phúc đời đời, nhưng phải 
				đoạt lấy bằng chiến thắng, thì điều theo sau cũng có nguy cơ 
				thất bại không đạt tới, do ngu xuẩn của mình.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Ngay trong thế giới tự nhiên, người ta cũng khám phá ra qui luật 
				đền bù xứng đáng, ngay cả trừng phạt những lạm dụng. Thế giới 
				vật lý có định luật rằng bất cứ hành động nào cũng có phản ứng 
				ngược lại, cân bằng với lực bỏ ra. Thí dụ: Tôi kéo căng một dây 
				cao su, nếu kéo ra năm phân nó sẽ co lại năm phân; một gang, nó 
				sẽ co lại một gang; một thước, nó sẽ đàn hồi một thước; vài ba 
				thước, lực tương đương đẩy lại cũng vài ba thước, cho đến khi 
				tới giới hạn nào đó tôi không kéo được nữa hoặc nó đứt làm đôi, 
				ba…. Vậy ở thế giới tự nhiên có luật bù trừ như vậy, quá lạm 
				dụng nó sẽ trừng phạt. Luật này có phản ánh trong thế giới luân 
				lý. Mỗi tội đều có hình phạt cho tội ấy, không có luật trừ. Tội 
				là gì? Nếu không phải là hành động vi phạm trật tự luân lý nào 
				đó? Có ba trật tự mà con người vi phạm: Trước hết, trật tự lương 
				tâm cá nhân. Thứ hai, trật tự tổng hợp các lương tâm, tức nhà 
				nước. Thứ ba nguồn gốc của các trật tự ấy: Đức Chúa Trời. Nếu 
				tôi phạm tội chống lương tâm mình, tất yếu có phản ứng chống lại 
				tôi ở hình thức lương tâm cắn rứt. Hình thức này thay đổi tùy 
				vào sự nặng nhẹ của tội. Nếu tôi hành động chống lương tâm tập 
				thể tức nhà nước. Tôi sẽ chịu hình phạt của chính phủ, cân bằng 
				với tội tôi đã phạm. Tòa án sẽ xét xử tôi và tuyên bố hình phạt 
				có thể là phạt tiền, hành chính hay bỏ tù, thậm chí tử hình, 
				theo mức độ nghiêm trọng. Xin lưu ý, hình phạt không tính theo 
				độ dài thời gian mà tính theo bản chất của tội phạm. Chỉ cần vài 
				giây đồng hồ để phạm tội giết người, và hình phạt thường thường 
				là tử hình. Cuối cùng phạm tội chống Thiên Chúa. Việc này xảy ra 
				khi tôi vi phạm trật tự lương tâm cá nhân hay tập thể tức nhà 
				nước. Tôi đã hành động trái với Đấng vô biên. Để chống lại tội 
				này, buộc có phản ứng từ Đấng công thẳng tối cao, phản ứng từ sự 
				thật vô cùng, có tính chất cũng vô biên. Tất nhiên phản ứng vô 
				biên của Thiên Chúa sẽ là chia cắt vĩnh viễn khỏi tình yêu của 
				Ngài. Sự chia cắt này nếu dùng ngôn ngữ hôn nhân là ly dị. Linh 
				hồn ly dị một cách vĩnh viễn khỏi sự thật, sự sống và tình yêu 
				cho đến đời đời. Trạng thái này gọi là hỏa ngục.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Vì vậy điều rõ ràng là sự trừng phạt đời đời không phải là hồ đồ 
				tưởng tượng của các nhà thần học, nhưng là lực phản ứng tất yếu 
				của tội lỗi. Chúng ta thường coi nó như ý nghĩ sau cùng của 
				Thiên Chúa về công lý và liên hệ nó với tội lỗi như sự đánh đòn 
				đứa trẻ vì không vâng lời bố mẹ. Không đúng vậy. Việc đánh đòn 
				đứa trẻ không có tính cách bắt buộc, và cũng không cần thiết là 
				sự trừng phạt của tội không vâng lời. Nó có thể là hậu qủa của 
				hành động không vâng lời. Nhưng cũng có thể không. Đúng hơn 
				chúng ta so sánh hỏa ngục như bệnh ù mắt nơi con người. Việc 
				chúng ta móc mắt bỏ đi liên quan tất yếu tới bệnh mù. Cũng vậy 
				đời sống tội lỗi không ăn năn tất yếu đưa tới hỏa ngục. Việc 
				trước đương nhiên đưa tới việc sau. Đời sống là thời vụ mùa 
				màng. Người ta chỉ gặt được những gì đã gieo. Nếu gieo tội lỗi, 
				sẽ gặt thối nát, nếu gieo việc lành của Thần khí, sẽ gặt đời 
				sống trên thiên đàng. </p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Giáo lý của Chúa chúng ta đòi hỏi công lý. Học thuyết của Ngài 
				không chỉ là Tin Mừng mị dân, Phúc âm của tính lãnh đạm, mà là 
				lựa chọn nghiêm khắc, giống như cuộc đời Ngài không chỉ là thái 
				độ tốt bụng tình cảm, mà là hình phạt của tội lỗi nhân gian, 
				hình phạt ấy khủng khiếp ra sao là điều rõ ràng mọi người đều 
				biết cả. Ngài đã chỉ ra nhiều cá nhân đã thực hiện công việc 
				đáng ghê tởm và Ngài cũng chẳng hề bảo đảm mọi người lắng nghe 
				giáo lý của Ngài. Ngài không thành công với hết mọi linh hồn 
				trên dương gian này. Nguyên việc Chúa đổ hết máu mình để cứu 
				chuộc chúng ta khỏi tội lỗi, đã nói lên rằng tội lỗi sẽ đưa đến 
				hậu quả ghê gớm là hỏa ngục. Xin nhớ lại Phúc âm thánh Matthêu 
				đoạn 25: &quot;Người sẽ tách biệt họ ra, như mục tử tách biệt chiên 
				khỏi dê. Người sẽ cho chiên đứng bên phải, còn dê ở bên trái. 
				Đức vua phán cùng những người ở bên phải rằng: Nào những kẻ Cha 
				Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng vương quốc Cha Ta đã dọn sẵn 
				cho các ngươi từ thuở tạo thiên lập địa, vì xưa Ta đói các ngươi 
				đã cho Ta ăn, Ta khát các ngươi đã cho Ta uống. Ta là khách lạ 
				các ngươi đã tiếp rước… Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi, 
				mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ 
				nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy. Rồi đức 
				vua phán cùng những người bên trái rằng: Quân bị nguyền rủa kia, 
				đi đi cho khuất mắt ta, mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên 
				Aùc quỉ và sứ giả của nó. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho 
				ăn, Ta khát các ngươi đã không cho uống, Ta là khách lạ, các 
				ngươi đã không tiếp rước…Ta bảo thật các ngươi, mỗi lần các 
				ngươi không làm như thế cho một trong những người bé mọn nhất 
				đây, là các ngươi đã không làm cho chính ta vậy. Thế là họ ra đi 
				để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để 
				hưởng sự sống muôn đời.&quot; Những lời trên thốt ra từ miệng Con Đức 
				Chúa Trời, là chính sự thật vĩnh cửu. Cho nên, khó mà hiểu được 
				tại sao có những người dù biết và chấp nhận sự thật, chấp nhận 
				lời Ngài nói về thiên đàng, lại khăng khăng từ chối sự hiện hữu 
				của hỏa ngục. Nếu Ngài chân thật về giáo lý thiên đàng, tại sao 
				Ngài lại không chân thật về học thuyết hỏa ngục? Cho nên thiên 
				hạ điên nhiều lắm!</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Chẳng những công lý của Thiên Chúa đòi hỏi hỏa ngục. Nó còn đòi 
				hỏi tình yêu nữa. Những ai không biết hỏa ngục liên hệ với tình 
				yêu của Đức Chúa Trời sẽ đưa ra nghi vấn như sau: &quot;Làm thế nào 
				Thiên Chúa tình thương lại dựng nên một nơi trừng phạt vĩnh cửu 
				ghê gớm đến vậy?&quot; Nghi vấn này tương đương với câu hỏi: Tại sao 
				Thiên Chúa của tình yêu lại là Thiên Chúa của công lý? Tại sao 
				mặt trời sưởi ấm nhẹ nhàng lại làm cây cỏ héo khô? Tại sao mưa 
				sương tươi tốt hoa màu lại làm cho thối rữa cỏ cây. Như vậy 
				những ai không kết hiệp được Thiên Chúa tình yêu với hỏa ngục, 
				không thể hiểu ý nghĩa của tình yêu. Không có chi ngọt ngào hơn 
				tình yêu. Nhưng cũng không có chi cay đắng hơn nó. Nó liên kết 
				linh hồn mà cũng chia rẽ linh hồn. Tình yêu đòi hỏi tính hỗ 
				tương, tìm kiếm đối tượng và khi đã gặp được đầy đủ điều kiện, 
				thì phải có hòa hợp, thâm nhập và liên kết đến mức độ tột đỉnh 
				và ngất ngây. Ở trường hợp Thiên Chúa và linh hồn thì hạnh phúc 
				là thiên đàng. Nhưng giả dụ tình yêu không tìm được đối tượng 
				hoặc giả dụ tìm được đối tượng để rồi bị phản bội, khinh thường 
				và từ khước. Liệu lúc ấy tình yêu vẫn còn khả năng tha thứ? Sự 
				thật tình yêu nhân loại sẵn sàng tha thứ những xúc phạm như hỗn 
				hào, cay độc, phản bội và tình yêu Thiên Chúa còn đi xa hơn tới 
				bẩy mươi lần bẩy. Nhưng thế giới này chỉ có một trường hợp mà 
				tình yêu nhân loại không tha thứ được nữa và trên thiên đàng 
				cũng có một hoàn cảnh không thể tha thứ được. Đó là khước từ yêu 
				mến. Khi ấy linh hồn tự do chối từ đáp trả tình yêu Chúa ban. 
				Đức Chúa Trời để mặc linh hồn theo ích kỷ, theo sự cô đơn và côi 
				cút của riêng mình. Đúng là một hình phạt ghê sợ, không có chi 
				trên thế giới có thể so sánh với tình trạng bị Thiên Chúa bỏ 
				rơi. Không phải bị vật đáng yêu bỏ nhưng bởi chính tình yêu, là 
				Thiên Chúa. </p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Tình yêu có thể tha thứ hết mọi sự trừ một điều. Đó là từ chối 
				tình yêu. Trái tim con người luôn theo đuổi đối tượng và kiếm 
				tìm sự âu yếm của nó với tất cả sự trong sáng và nhiệt tâm. Nó 
				mưa móc trên người yêu, nào là qùa cáp, tặng phẩm làm dấu chứng 
				hy sinh của lòng mình và ăn ở xứng đáng với các cử chỉ yêu dấu 
				người yêu đáp trả, nhưng nếu sau thời gian dài, nó chỉ nhận được 
				khinh bỉ, khước từ và phản bội, trái tim con người ta ngoảnh mặt 
				đi, cay đắng buông thả những cảm xúc, theo định luật tự nhiên 
				của tình yêu mà la lên: &quot;Tình yêu đã làm hết mọi sự. Tôi có thể 
				thứ tha mọi sự trừ sự từ chối tình yêu&quot;. Trong trật tự thiêng 
				liêng cũng xảy ra hoàn cảnh như vậy. Thiên Chúa là người yêu vĩ 
				đại đang tìm kiếm đối tượng yêu mến của Ngài. Đó là linh hồn con 
				người. Ngài tưới gội nó với muôn vàn ân huệ, đoái nhận nó vào 
				gia đình vương giả của Ngài trong bí tích Thanh tẩy, vào đạo 
				binh của Ngài trong bí tích Thêm sức và kêu mời nó vào bàn tiệc 
				yêu thương tức bí tích màu nhiệm Mình Máu Ngài, Bánh Trường 
				Sinh. Suốt cuộc hành trình dương thế của con người, Ngài đã muôn 
				ngàn lần thủ thỉ với nó, lúc bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, 
				trong đau đớn cũng như vui mừng, đáp trả lời khẩn khoản của 
				Ngài, từ bỏ tội lỗi, trở về với tình yêu đắp đổi. Nhưng nếu như 
				con người với trái tim chai đá, từ chối yêu mến Ngài, mặc dù 
				Ngài kiên nhẫn đợi chờ, ngõ hầu lại được Ngài kêu gọi lần nữa, 
				nhưng lần nữa lại chối từ, làm ngơ những tiếng gõ cửa của Chúa 
				Kitô. Linh hồn vẫn khăng khăng không mở cửa. Cuối cùng, ở khoảnh 
				khắc lìa đời, không còn khả năng ăn năn trở lại, vẫn khinh dể, 
				từ khước và phản bội lòng nhân lành của Đức Chúa Trời, lúc ấy 
				Thiên Chúa của lòng thương xót luôn theo định luật yêu mến mà 
				tuyên bố với linh hồn: &quot;Tình yêu đã làm hết khả năng, Ta có thể 
				tha thứ mọi sự trừ sự từ chối yêu mến&quot;. Và như vậy chấm dứt mọi 
				yêu thương. Thật là khủng khiếp. Bởi lẽ tình yêu Thiên Chúa lúc 
				ấy rời bỏ linh hồn, và không bao giờ trở lại nữa. Linh hồn hoàn 
				toàn cô đơn cho đến muôn đời. Hỏa ngục vĩnh hằng là vậy. Nó là 
				nơi hoàn toàn vắng bóng tình yêu.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Thời gian là một yếu tố làm cản trở chúng ta hưởng hạnh phúc 
				thiết thực. Lý do đơn giản là nó không cho phép chúng ta xây 
				dựng một nhóm nhiều khoái lạc đồng thời. Do chính bản tính của 
				mình, nó cấm chúng ta hưởng nhiều vui thú cùng lúc, bằng không, 
				chúng ta chẳng có vui thú nào hết. Nguyên việc tôi tồn tại trong 
				thời gian, cho nên, tôi không thể kết hợp vui thích đi bộ với 
				các cận vệ gia của Hoàng đế Napolêon và cái thú đánh chiếm dưới 
				ngọn cờ của vua Caesar (hai vị vua này sống cách nhau hơn 2000 
				năm). Nguyên việc chúng ta sống trong thời gian, tôi không thể 
				cùng lúc vui hưởng cái thú chơi thể thao mùa đông tại dãy núi 
				Alps và tắm dòng nước mát mẻ của sông Riviera. Thời gian không 
				cho phép tôi đồng thời cảm khoái, khi nghe Demonsthenes hùng 
				biện, và giọng nói ngọt ngào của Giám Mục Bossuet trên tòa 
				giảng. Thời gian không cho phép tôi kết hợp sự khôn ngoan của 
				tuổi già và sự sôi nổi của tuổi trẻ. Cũng chính thời gian ngăn 
				cản tôi vui hưởng cùng lúc, sự thông thái từ miệng các hiền 
				triết, giải thích bí mật vũ trụ như Aristotes, Socrates, Thomas 
				Aquinô, Mercier... Nếu không vì ngăn trở của tính thời gian, thì 
				tôi đã có thể cùng lúc uống trà với Dante và Shakespeare. Homer 
				ngay lúc này có thể kể truyện anh hùng ca bằng Anh ngữ. Đúng là 
				rất thú vị khi được hưởng tiến bộ kỹ thuật, máy móc của thời 
				hiện tại. Nhưng đôi khi, tôi lại ước mơ những khoảnh khắc yên 
				tĩnh và an bình của thời trung cổ. Tuy nhiên tính thời gian 
				không cho phép. Nếu tôi sống vào thế kỷ 20, tôi phải hy sinh 
				những khoái lạc của thế kỷ 13 và nếu tôi hưởng kỷ nguyên Athens 
				của Pericles thì tôi phải bỏ thời Florentine của Dante.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Cho nên tính thời gian đã ngăn cản chúng ta tập hợp nhiều thú 
				vui trong cùng lúc. Tôi biết có mẫu quảng cáo trên báo chí về ăn 
				tối và nhảy đầm. Nhưng tôi chỉ có thể dự một trong hai họat động 
				đó thôi. Mọi điều đều tốt cả nhưng chẳng thể vui hưởng nó, nếu 
				chưa đến thời vụ. Và nó luôn luôn nhuốm màu ân hận, vì tính thời 
				gian đòi hỏi phải khước từ cái khác. Thời gian cho tôi cơ hội, 
				nhưng cũng lấy đi nhiều cơ hội khác. Khi cống hiến, nó cống hiến 
				đơn độc, và vì thế ngươì ta nói rằng cuộc đời là một chuỗi những 
				ngu xuẩn, ngu xuẩn này theo sau ngu xuẩn khác.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Tư tưởng trên gợi ý rằng nếu tính thời gian làm cho việc kết hợp 
				đồng thời các vui sướng là không thể được, thì tính vượt thời 
				gian sẽ làm cho hạnh phúc của chúng ta tăng lên gấp bội. Điều 
				này đúng cho mỗi khao khát của chúng ta. Khi khao khát, chúng ta 
				muốn nó luôn đứng ở &quot;hiện tại&quot;. Thí dụ như, con mèo muốn nằm lửa 
				mãi mãi. Tất cả mọi người đều ước ao kéo dài vui thích của mình 
				vô hạn định. Chúng ta muốn hạnh phúc vĩnh viễn, chứ không phải 
				vui thích này kế tiếp vui sướng kia.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Xin khui lại kho tàng trí nhớ, bạn sẽ tìm ra vô vàn chứng cớ 
				rằng luôn luôn trong những khoảnh khắc mà bạn ít ý thức về thời 
				gian, là những lúc bạn thưởng thức hoàn toàn nhất các khoái lạc 
				của thời gian. Thí dụ, nhiều lần xẩy ra rằng khi nghe các cuộc 
				đối thoại thú vị, hay truyện kể về kinh nghiệm của các người du 
				ngoạn nhiều, thì thời gian trôi qua nhanh chóng đến nỗi không 
				còn ý thức về nó, và chúng ta thường nói: &quot;Như hóng câu qua cửa 
				sổ&quot;. Kinh nghiệm này cũng đúng về sảng khoái của mỹ thuật nữa, 
				tôi dám khẳng định rằng rất ít người nhận biết thời giờ trôi đi, 
				khi say mê nghe ban nhạc danh tiếng chơi các bản hòa tấu của 
				Beethoven. Tùy theo mức độ vui thú mà các bản giao hưởng ấy gây 
				nên cho người ta, mà thời gian trở nên dài hay ngắn. Sự thật 
				ngược lại vẫn đúng. Nếu chúng ta càng chú ý đến thời gian, thì 
				xem ra nó càng dài và mức độ chúng ta hưởng vui thú càng kém. 
				Nếu người khách cứ năng nhìn đồng hồ, đó là dấu chỉ ông ấy đang 
				chán câu chuyện của chúng ta. Một người lao động thỉnh thoảng 
				lại nhìn giờ giấc, thì nắm chắc hắn không thích công việc của 
				mình. Chúng ta càng chú ý đến thời gian, càng ít được hưởng vui 
				thích. Ngược lại, càng không để ý đến tính mau qua của thời 
				gian, càng được hưởng vui sướng nhiều hơn.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Những sự kiện tâm lý của kinh nghiệm nói lên rằng tính thời gian 
				không những cản trở khoái lạc, nó còn cho hay nếu thoát khỏi 
				thời gian, thì hạnh phúc của chúng ta to lớn hơn nhiều! Bây giờ 
				chúng ta giả dụ các kinh nghiệm tâm lý trên vượt ra ngoài thời 
				gian và các hạn chế của thời gian, sống trong một không gian 
				không có trước sau, mà chỉ có hiện tại. Giả dụ chúng ta có phép 
				tồn tại ở một thế giới không lịch sử theo thời gian mà lịch sử 
				của các khoái lạc tập hợp, nghĩa là một trật tự phẩm trật hoàn 
				hảo, giống như một kim tự tháp, mọi sự trong đó phục vụ vẻ thống 
				nhất của nhân cách chúng ta. Lại giả dụ chúng ta có thể đạt tới 
				điều kiện không thời gian. Điều kiện cho phép chúng ta gút lại 
				hạnh phúc, vui sướng, vẻ hoàn mỹ vào ba yếu tố căn bản làm nên 
				sự trọn lành của con người, là đời sống, chân lý và tình yêu. 
				Bởi vì, mọi vui sướng của con người hội tụ vào ba yếu tố này:</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Trước hết, xin giả dụ rằng tôi có khả năng thâu gom các vui thú 
				của cuộc sống vào một điểm duy nhất, đến nỗi trong hiện tại 
				không phải phiền toái đến trước và sau. Lúc ấy tôi sẽ vui hưởng 
				cuộc sống cực độ, giống như sống trong nước đại dương, mọi sự 
				đều yên tĩnh an bình. Đồng thời cuộc sống trào dâng như các dòng 
				suối lượn quanh đồi núi, rồi lững lờ chảy vào biển khơi. Cuộc 
				sống êm ả khiêu khích đất màu mỡ hai bên bờ suối trổ sinh những 
				bông lưu ly tuyệt đẹp. Cuộc sống đập nhịp nhàng trong những cánh 
				hoa mùa xuân nở rộ, như những chiếc nôi đong đưa cho quả ngọt. 
				Cuộc sống của các đài hoa mở ra như những chén rượu thơm nức mùi 
				hương dưới nắng mặt trời. Cuộc sống của những đàn chim lớn líu 
				lo báo tin vui mừng. Cuộc sống của những trẻ nít la hét chạy vào 
				vòng tay mẹ. Cuộc sống của các bậc phụ huynh sản sinh những cuộc 
				đời như mình. Cuộc sống của những trí tuệ giải thích nhiệm màu 
				vũ trụ bao la, của không gian vĩnh cửu từ đấy phát sinh mọi 
				loài...</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Thêm vào sự hội tụ đời sống trong vũ trụ chỉ trong một điểm, tôi 
				giả dụ mình cũng tập trung vào điểm khác nữa. Đó là hết mọi chân 
				lý của thế giới dồn vào một sự thật duy nhất, đến độ tôi có thể 
				thông suốt các sự kiện thiên văn của các khoa học gia khi họ 
				nhìn vào viễn vọng kính, các sự kiện sinh vật của các nhà nghiên 
				cứu sinh vật qua kính hiển vi, các chân lý về trời đất, ai đóng 
				cửa trời, ai thả mây buông gió, ai trữ mưa, tích gió. Sự thật về 
				cuộc sống thường nhật như tại sao có lửa, tại sao có vàng, tại 
				sao có đất sét, tại sao có Thần Khí, tại sao lửa bay lên trời, 
				đá rơi xuống đất? Sự thật của các triết gia dùng trí khôn mà xé 
				nát càn khôn, bánh xe định mệnh. Sự thật của các nhà thần học 
				khi họ dùng mạc khải mà khám phá các bí mật của Đức Chúa Trời, 
				Đấng vượt cả những điều Gioan nghe khi ông dựa đầu vào ngực Chúa 
				trong bữa tiệc ly.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Ngoài hai điểm hội tụ kể trên, chúng ta còn một điểm tập trung 
				của mọi vui sướng trong cuộc đời nữa, là tình yêu. Giả dụ mọi 
				hạnh phúc, sảng khoái, mỹ cảm, sướng vui của cuộc đời và của vũ 
				trụ hội tụ về một tiêu điểm duy nhất là tình yêu: Tình yêu tổ 
				quốc, tình yêu anh hùng vì chính nghĩa, tình yêu say mê khoa 
				học, tình yêu mỹ miều của hoa lá cười tươi dưới ánh mặt trời, 
				tình yêu địa cầu, muôn loài uống sữa sự sống của nó, tình yêu 
				mẫu tử, mở rộng lòng cho con hưởng ánh dương, tình yêu bầu bạn 
				kiểu Bá Nha Tử Kỳ thân thiết đến tận cùng cõi lòng, tình yêu phu 
				phụ, chồng yêu vợ, vợ yêu chồng, ngay cả tình yêu của các thiên 
				thần và thiên sứ say mến Chúa, với ngọn lửa và sức nóng đủ đốt 
				ngàn vạn trái tim tới triệu triệu lần.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Cuối cùng giả dụ tất cả những khoái lạc này của thế giới tập 
				trung về ba mối: cuộc sống, sự thật và tình yêu, tựa như những 
				tia nắng tập trung về mặt trời. Giả dụ tất cả vui sướng liên 
				tiếp của thế gian này trong thời gian có khả năng được vui hưởng 
				lập tức trong cùng một khoảnh khắc hiện tại. Lại giả dụ cả ba 
				điểm hội tụ mà trái tim, linh hồn, tâm trí chúng ta hướng về, 
				không phải là ba điểm trừu tượng như tôi giả dụ ở trên, nhưng là 
				cụ thể duy nhất, cụ thể cá vị đến nỗi chúng ta có thể gọi bằng 
				tên là Thiên Chúa Cha, từ đấy sản sinh mọi sảng khoái của sự 
				thật, cũng không trừu tượng, nhưng cụ thể cá biệt đến nỗi có một 
				tên là Ngôi Hai, hay Ngôi Lời, từ hai nguyên lý ấy tình yêu phát 
				xuất, tình yêu tâm điểm của mọi khoái cảm yêu đương, cũng không 
				trừu tượng, màø cụ thể đặc thù để chúng ta gọi bằng tên, tức 
				Ngôi Ba hay Chúa Thánh Thần. Một khi hạnh phúc trần gian được 
				nâng lên độ cao cả ngần ấy. Nó sẽ thoát khỏi mọi hạn chế, mọi 
				bất toàn mà kết hợp thành duy nhất, không phải kế tiếp nhau mà 
				là đồng thời vĩnh viễn, không phải trong thời gian mà ngoài thời 
				gian gọi là vĩnh hằng. Lúc ấy chúng ta có từ Thiên Chúa Ngôi 
				Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần. Sự Sống hoàn hảo nhất, sự Thật 
				cao siêu nhất và Tình yêu viên mãn nhất. Hạnh phúc tuyệt vời. 
				Thiên đàng cực lạc.</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Liệu chúng ta có thể so sánh các thú vui trần gian với hạnh phúc 
				Ba Ngôi là sự sống, chân lý và tình yêu muôn thuở không? Liệu có 
				ai ở dương thế này có khả năng nói cho tôi hay về thiên đàng? 
				Chắc là không. Nhưng có ba cơ quan có thể nói cho tôi hay chút 
				ít về hạnh phúc ấy. Ba yếu tố đó là những gì chúng ta xem, những 
				gì nghe được và tưởng tượng. Tức là con mắt, lỗ tai và trí khôn. 
				Liệu thiên đàng có vượt qua tất cả các vui thú của con mắt? Vượt 
				qua mọi êm ái của lỗ tai? Và vượt trên các tưởng tượng? Trước 
				tiên, liệu thiên đàng có tuyệt xinh đẹp như tất cả những điều đã 
				được con mắt xem thấy? Trong đời tôi đã từng được xem lâu đài 
				quốc gia ở Rôma. Nó đẹp tuyệt trần, với lối đi hành lang và hàng 
				nguyệt quế huy hoàng, với các đại lộ tùng bách xinh tươi. Tất cả 
				đều toát lên một sức sống của bầu khí yên lặng thanh thản. Tôi 
				đã từng được ngắm hoàng hôn trên địa trung hải, khi hai cột mây 
				hợp thành một cầu vồng cho vầng kim ô ngự giữa, sáng chói và rựa 
				rỡ muôn hồng nghìn tía, như chiếc bánh lễ to lớn bằng vàng. Từ 
				bến cảng, tôi đã từng ngắm các tháp canh của thành 
				Constantinople với những ngón tay nhọn hoắt chỉ lên trời, xuyên 
				qua sương trắng bao phủ chung quanh như tấm màn mỏng bằng lụa 
				che khắp mọi nơi…Tôi đã từng xem thấy các pháo đài, dinh thự cổ 
				khắp nước Pháp, những nhà thờ chính tòa mái dốc cao vút lên trời 
				xanh như lời cầu nguyện, khẩn xin. Tôi đã từng ngắm xem vẻ yêu 
				kiều của các lâu đài miền sông Rhine và tổng hợp của tất cả 
				những vẻ đẹp này làm tôi ngỡ mình đang ở cửa đền nữ Thần Diana. 
				Người gác cửa hô lớn: &quot;Coi chừng đôi mắt qúi vị&quot;. Đẹp đến cỡ đó. 
				Nó có thể làm choáng mắt người xem. Đến đây tôi không hiểu cảnh 
				vật đời đời có đẹp đẽ huy hoàng như tổng hợp các vẻ đẹp mà tôi 
				đã từng được ngắm? </p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Vậy mà tôi vẫn chưa xem hết vẻ đẹp của thiên nhiên. Tôi còn được 
				nghe người ta kể về các vẻ đẹp khác nữa. Tôi từng được nghe về 
				vườn treo Babylone, lạ lùng không lời mô tả. Về các dinh thự của 
				Doges, xa hoa nghiêm nghị, về Forum La Mã lấp lánh như kim 
				cương, dưới chân là các đạo binh vô địch của Roma đang lầm lũi 
				tuần tra. Tôi đã từng nghe về vẻ sáng ngời của Đền thờ 
				Giêrusalem khi chiếu sáng như viên ngọc dưới ánh nắng ban mai. 
				Tôi đã từng nghe về vườn địa đàng có 4 con sông lượn quanh với 
				biết bao nhiêu vàng bạc, châu báu dưới mặt đất màu mỡ. Tôi còn 
				được nghe nhiều điều kỳ lạ hơn nữa, mà người ta không có khả 
				năng mô tả. Chúng đều đẹp đẽ làm say mê lòng người, hoặc chẳng 
				có bút nào vẽ tả nổi. Tôi ngạc nhiên không hiểu vẻ đẹp của thiên 
				đàng với các thú vui nảy sinh có so sánh được với tổng thể các 
				nét rực rỡ của các công trình thế gian mà tôi đã được nghe đồn?
				</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Ngoài những điều tôi xem thấy, nghe thấy còn vô số những hình 
				ảnh mà tôi có thể tưởng tượng ra. Tôi có khả năng hình dung ra 
				một thế giới không có bệnh tật, đau đớn, khổ sầu, cay đắng, khắc 
				khoải. Tôi có thể vẽ ra một thế giới mọi người đều sống trong 
				các lâu đài. Và trong xã hội thịnh vượng ấy, trật tự thật hoàn 
				hảo, công lý được thi hành triệt để, không có lo lắng, than 
				phiền, tôi có thể tưởng tượng một địa cầu không có mùa đông rét 
				buốt, mùa hè oi bức, hoa nở không bao giờ tàn. Mặt trời không 
				bao giờ lặn. Tôi có khả năng hình dung một trái đất luôn luôn có 
				hòa bình và yên tĩnh mà không hề có ai ươn lười, mọi người đều 
				có kiến thức uyên thâm về vạn vật mà không cần khảo sát tìm tòi, 
				một thế giới vui sướng liên tục mà không nhàm chán. Tôi có khả 
				năng tưởng tượng ra một hành tinh loại trừ mọi điều xấu xa, lo 
				âu, bệnh hoạn của cuộc đời, một thế giới tập hợp toàn những niềm 
				vui hoàn hảo nhất, hạnh phúc nhất và tôi tự hỏi Thiên đàng có 
				được như vậy không? Tổng hợp các vui sướng thiên đàng có so sánh 
				được với những điều tôi tưởng tượng ra?</p>
				<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Thực tế, cuộc sống đời đời có so sánh với những gì tôi từng được 
				xem, nghe được và tưởng tượng ra không? Xin thưa: Không, cuộc 
				sống muôn đời không hề giống như vậy. Hãy lắng nghe lời Thiên 
				Chúa phán: &quot;Mắt chưa từng được xem, tai chưa từng được nghe, 
				lòng trí chưa hề hiểu biết những điều Thượng đế dọn sẵn cho 
				những kẻ yêu mến Ngài&quot;. Nếu hạnh phúc đời đời vượt xa vui sướng 
				thế gian, thì chẳng còn chi có thể so sánh được với nó. Do vậy, 
				tôi bắt đầu hiểu được màu nhiệm của hình dáng trái tim con 
				người. Trái tim con người không tròn chịa như trái tim của ngày 
				valentine. Nó có hình dáng hơi bất thường, như thể một mảnh vỡ 
				nào còn thiếu. Mảnh vỡ đó có lẽ giống như lưỡi đòng đâm thâu qua 
				trái tim chung của nhân loại trên thập giá. Nhưng có lẽ nó còn 
				đứng làm biểu tượng cho cao siêu hơn nữa. Nó mang ý nghĩa khi 
				Thiên Chúa dựng nên mỗi trái tim con người. Ngài giữ một mẫu nhỏ 
				của nó ở trên trời và gởi phần còn lại xuống trái đất. Nơi đây 
				mỗi ngày nó phải học biết rằng nó chẳng bao giờ được hạnh phúc 
				đầy đủ, chẳng bao giờ yêu thương trọn vẹn, chẳûng bao giờ hoàn 
				toàn dấn thân, cho đến khi trở về cõi vĩnh hằng, để tìm ra mẫu 
				nguyên thuỷ mà Thiên Chúa còn lưu trữ cho đến muôn đời sau. 
				Amen./.</font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td style="border-left-style: solid; border-left-width: 1px; border-right-style: solid; border-right-width: 1px; border-bottom-style: solid; border-bottom-width: 1px">
		<p align="center">
		<img border="0" src="../Suyniemmoingay/Nam2011/thanggieng/02.gif" align="right" width="200" height="200"></p>
		<p align="center">
		&nbsp;</p>
		<p align="center">
		<br>
		&nbsp;</p>&nbsp;</td>
	</tr>
</table>

</body>

</html>

PHP File Manager