File "Hon-nhan-va-tinh-yeu.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/THIENCHUA/Con Duong Ve Troi/Hon-nhan-va-tinh-yeu.htm
File size: 50.8 KiB (52017 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">
<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<LINK rel="stylesheet" href="../Suyniemmoingay/_common/colours.css" type="text/css">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<title>Con Duong Ve Troi</title>
<style>
<!--
div.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-top:0cm;
margin-right:0cm;
margin-bottom:10.0pt;
margin-left:0cm;
line-height:115%;
font-size:12.0pt;
font-family:"Arial","sans-serif";
}
-->
</style>
<meta name="keywords" content="Con duong ve troi, Duc Maria, Hoi thanh, Giêsu Kitô; tinmung.net; dongcong.net, suy niệm mỗi ngày, tinh yeu, thanh y, tuan phuc,tieng goi, ve troi, lua chon, on thanh, nguoi tin huu, hon nhan, tinh yeu">
<meta name="description" content="Con duong ve troi, Duc Maria, Hoi thanh, Giêsu Kitô; tinmung.net; dongcong.net, suy niệm mỗi ngày, tinh yeu, thanh y, tuan phuc,tieng goi, ve troi, lua chon, on thanh, nguoi tin huu, hon nhan, tinh yeu">
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../_themes/network/netw1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="network 1011">
</head>
<body>
<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="10" bgcolor="#FFFFF2" cellpadding="10">
<tr>
<td style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 12pt; font-weight: bold; border-left-style:solid; border-left-width:1px; border-right-style:solid; border-right-width:1px; border-top-style:solid; border-top-width:1px">
<p align="center">
<font face="Arial"><b>Chương 6: HÔN NHÂN VÀ TÌNH YÊU</b></font></td>
</tr>
<tr>
<td style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 12pt">
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<font face="Arial">Về căn bản, tình yêu phát xuất từ lòng muốn
chứ không phải cảm xúc hay các bộ phận thân thể. Lòng muốn là
tiếng nói, cảm xúc là tiếng vang. Khoái lạc ngày nay gọi là tính
dục, liên kết với tình yêu như lớp kem trên chiếc bánh ngọt. Mục
tiêu của lớp kem là quyến rũ chúng ta nhớ đến cái bánh, chứ
không quên nó. Ảo tưởng lớn nhất của các đôi uyên ương là cứ ngỡ
cường độ hấp dẫn nhau, bảo đảm cho tính bền vững của hôn nhân.
Bởi vì thiên hạ thất bại không phân biệt được sự khác nhau giữa
tính dục mà chúng ta cùng chung với súc vật, và tình yêu tinh
thần mà chúng ta chia sẻ với Thiên Chúa. Cho nên hôn nhân có
nhiều rắc rối. Điều mà nhiều người yêu thích không phải là nhân
vật, mà là kinh nghiệm yêu đương. Tình yêu không thay thế được.
Nhưng tính dục có thể thay thế. Như đàn ông nhiều vợ, đàn bà
nhiều chồng. Đối với tín hữu, tính dục không tách rời khỏi người
yêu và nếu giảm thiểu một người thành tính dục, thì cũng ngớ
ngẩn như giảm thiểu nhân cách vào buồng phổi hay cái ngực. Thời
luân lý Victoria nhiều người chối phắt tính dục như một yếu tố
của nhân cách. Ngược lại, bây giờ người ta lại chối bỏ nhân cách
và biến tính dục thành ông thần. Trong giới súc vật, con đực bị
lôi cuốn đến với con cái một cách máy móc. Nhưng con người, nhân
cách nọ hấp dẫn nhân cách kia. Sự hấp dẫn của giới động vật chủ
yếu là vật chất. Nhưng sự lôi kéo nơi con người là vật chất, tâm
lý và tinh thần.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Tính dục tách rời khỏi con người thì không tồn tại! Một cánh tay
sống và cử động độc lập với thân thể là điều không có được.
Người ta không thể cử động các cơ năng mà không có linh hồn.
Toàn thể nhân cách sinh hoạt chứ không riêng một cơ quan nào.
Không chỉ tâm lý trộn lẫn với xác thịt hơn là sự kết hợp hai vợ
chồng nên một. Chẳng chi đổi thay trí khôn lòng muốn nên tốt
hoặc xấu hơn là hôn nhân. Sự phân rẽ linh hồn và thân xác là sự
chết, cho nên những ai chủ trương phân tách tính dục và tinh
thần thì đang sửa soạn cho sự chết. Vui hưởng nhân cách người
khác thông qua nhân cách của mình gọi là yêu. Sự thỏa mãn của
súc vật qua cơ quan thân xác là tính dục không phải là tình yêu.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Cho nên khi tách tính dục ra khỏi tình yêu, người ta sẽ có cảm
giác như mình chỉ đứng ở tiền đường của lâu đài khoái lạc, hoặc
như trái tim vượt cầu rồi mà không được vào thành phố. Buồn
phiền và sầu muộn nảy sinh từ sự kiện như vậy, tức không đạt mục
đích. Bởi lẽ bản chất con người ta là sầu buồn khi bị lôi kéo
khỏi bản ngã gọi là vong thân, khỏi cái tôi cố hữu, mà không gần
được mục tiêu. Có sự liên quan sâu sắc giữa tính chao đảo của
tinh thần và cái nhìn vật chất của tính dục hơn là người ta
thường nghĩ.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Những ai tiêu hao sức lực của mình vào những hoạt động bên ngoài
mà không hiểu thấu màu nhiệm bên trong của nó thì sẽ cảm thấy
không hạnh phúc, cho đến độ sầu muộn, xót xa. Nhiều lúc ăn xong
mà vẫn cảm thấy đói, hoặc chán chường thức ăn. Bởi lẽ thức ăn
lúc ấy không tiêu hoá để nuôi dưỡng cơ thể. Kinh nghiệm này xẩy
ra nơi chính mình, thân xác người khác hay trong hôn nhân. Nơi
phụ nữ, u sầu là vì nhục nhã nhận ra rằng hôn nhân chẳng qua để
thỏa mãn tính dục. Và vai trò của bà có thể được người khác thay
thế, chẳng có chút chi cá nhân, không truyền thông được linh
hồn, và do đó không xứng hợp nhân vị. Do ơn gọi Thiên Chúa ban
người phụ nữ luôn có nhu cầu tiến sâu vào màu nhiệm sự sống, bắt
nguồn từ Tạo hoá, cho nên lúc này bà cảm nghiệm mình chỉ là dụng
cụ cho khoái lạc giới tính chứ không phải là bạn đường của tình
yêu. Hai chiếc ly rỗng không thể làm đầy cho nhau, phải cần đến
nguồn nước ở bên ngoài, để chúng có thể thông hiệp với nhau.
Cũng vậy phải cần tới ba nhân vật để phối hiệp tình yêu.<br>
Tự bản tính tình yêu hướng đến tha nhân để người khác được hoàn
thiện. Còn tính dục hướng về chính mình để thỏa mãn bản thân.
Tính dục vuốt ve đối tượng không phải vì nó xứng đáng, nhưng vì
nài nỉ cho mình thỏa mãn đòi hỏi của thân xác. Bản ngã trong
tính dục bày tỏ rằng nó yêu người khác phái, nhưng thực chất nó
tìm thỏa mãn cho chính nó. Nơi người khác chỉ cần thiết để nó
trở lại bản ngã của mình. Trái lại, tình yêu khi nhấn mạnh đối
tượng, thì tìm ra mình trong đối tượng, nghĩa là tương quan phát
triển không ngừng. Tình yêu mạnh mẽ đến độ vượt qua tất cả mọi
nhỏ nhen, bằng tận tâm và quên mình. </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Tính dục bị tác động bởi khao khát thỏa mãn trong giây lát giữa
có và không. Nó là một kinh nghiệm tựa như ngắm mặt trời lặn hay
búng ngón tay để giết thời gian. Nó an nghỉ sau một kinh nghiệm.
Nó no thoả trong giây phút rồi lại chờ đợi kinh nghiệm khác và
thỏa mãn với đối tượng khác. Tình yêu gớm ghét thái độ này, bởi
nó biết rằng như vậy là giết chết người yêu về tình cảm, để đổi
lấy thỏa mãn cho riêng mình. Tính dục thả rông con heo lòng hay
để chim bay mà không có tổ. Nó khiến trái tim thổn thức mà không
có gia đình, ném cả thế giới xuống biển mà không có bến đậu.
Thay vì theo đuổi vĩnh hằng có tính cố định. Nó theo đuổi vĩnh
hằng giả tạo mà chẳng bao giờ no thỏa. Điều vĩnh hằng lúc này là
sự theo đuổi tình yêu viển vông, không có thực chứ không phải
chiếm hữu tình yêu đích thực. Đó là nguyên nhân chính gây nên
các bệnh tâm lý, thần kinh. Nơi nhiều người nam nữ thời nay, ước
ao hạnh phúc vững bền trở nên tâm thần bồn chồn, lo lắng giống
như chiếc bánh xe lãng tử luôn quay tròn đến chóng mặt. Trái
lại, tình yêu chân thật cũng có những nhu cầu, khao khát, đam
mê, thôi thúc. Nhưng nó chỉ chấp nhận thỏa mãn có tính bền bỉ,
gắn bó với giá trị siêu việt khỏi thời gian và không gian. Tình
yêu gắn liền với tồn tại và như vậy có tính hoàn hảo. Tính dục
liên kết với phù vân, cho nên luôn lo âu, khắc khoải. Trong yêu
mến, nghèo khó đưa đến giàu sang, nhu cầu đưa đến tròn đầy, khao
khát đưa đến niềm vui, khiết tịnh đưa đến ngất ngây. Trái lại,
tính dục vắng bóng niềm hoan hỷ của việc hiến dâng. Con chó sói
chẳng dâng hiến chi cả khi nó giết con cừu để ăn, niềm vui hy
sinh không có. Bởi lẽ tính ích kỷ tìm kiếm phồng to chính mình.
Tình yêu cho đi để nhận lại. Tính dục nhận lại mà không cho đi.
Tình yêu là linh hồn tiếp xúc với linh hồn ngõ hầu cả hai nên
hoàn thiện. Tính dục là thân xác cọ sát thân xác để được khoái
lạc cực độ.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Thượng Đế khi dựng nên con người, không có ý định kéo dài sức
mạnh nơi đàn ông và sắc đẹp nơi phụ nữ mãi mãi. Nó phải được
truyền sang con cháu, tái xuất hiện nơi chúng. Ở điểm này chúng
ta được chứng kiến rõ ràng sự quan phòng của Thiên Chúa. Đúng
vào lúc sức mạnh và vẻ xinh đẹp xem ra phai nhạt nơi cha mẹ, thì
Thiên Chúa cho chúng xuất hiện nơi con cái, làm sống lại vẻ
cường tráng và yêu kiều vĩnh cửu nơi nhân loại. Khi đứa con trai
đầu lòng sinh ra, sức mạnh của người cha ẩn hiện trong nó. Thi
hào Virgil đã viết: "Từ trời cao, một giống người xứng đáng hơn
đã xuống trần". Khi một bé gái chào đời, bao nhiêu vẻ đẹp, vẻ
yêu kiều của bà mẹ lại tái xuất nơi bé. Ngay cả khi đứa bé bập
bẹ thì toàn thể vẻ vui tươi của thế gian lại khởi sự một lần
nữa. Người chồng lúc ấy có ý nghĩ vợ mình là nguồn mạch duy nhất
tạo ra dáng yêu kiều của con gái. Một đứa bé hạ sinh, là một hạt
ngọc trong tràng chuỗi Mân Côi của tình yêu ra đời. Em cột chặt
cha mẹ hơn nữa trong tràng hoa hồng của tình yêu tận tụy và ngọt
ngào!</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Tình yêu ấy không hề bị xáo trộn, sợ hãi. No thỏa hay tràn đầy
vì họ không hề hái quả chưa chín, hoặc đập bể đàn làm hỏng âm
nhạc. Tình yêu bay bổng từ bình diện giác quan qua sự kiện nhập
thể thân xác, lên bình diện thần linh trở về với Thiên Chúa, khi
cha mẹ giáo dục con cái về những sự quê hương trên trời, về
Thiên Chúa Ba Ngôi. Từ Ngài họ nhận được lửa thiêng và lòng mến.
Từ khi đứa trẻ làm dấu thánh trên mình và kêu tên cực trọng
Giêsu, đi học giáo lý, môn học cao trọng hơn mọi khôn ngoan thế
gian, cho tới lúc chết, chúng lại khởi sự tiến trình hành hương
theo ơn gọi thiêng liêng mới, thì cha mẹ đã tàn tạ cảm nhận được
ý thức về công khó trước mặt Đức Chúa Trời.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Cho nên đức trong sạch là lòng kính trọng phải có đối với màu
nhiệm tính dục, mỗi màu nhiệm thường gồm hai phần: Phần trông
thấy và phần không trông thấy. Ví dụ ở Bí tích rửa tội, phần
trông thấy là nước lã, phần không trông thấy là ơn tái sinh của
Chúa Giêsu. Cũng thế, nơi tính dục là màu nhiệm, bởi nó cũng gồm
hai đặc tính: Đặc tính mọi người đều biết và đặc tính ẩn dấu
không ai biết được, cái biết được thật rõ ràng, tức đàn ông hay
đàn bà. Cái không biết được là khả năng tạo dựng, yếu tố đến
muôn đời ẩn dấu. Nó là yếu tố loài người được chia sẻ quyền năng
với Tạo Hóa. Quyền năng Ngài tác tạo vũ trụ và muôn loài trong
đó. Giống như tình yêu của Thiên Chúa là nguyên lý tạo dựng vũ
trụ, thì Ngài cũng muốn rằng tình yêu giữa người nam và người nữ
là nguyên lý tác tạo gia đình. Cái quyền năng loài người để sản
sinh ra hình ảnh và họa ảnh của mình, tương tự như quyền năng
tác tạo đất trời của Thiên Chúa, là ở tính cách tự do. Hành động
tạo dựng của Ngài là hoàn toàn tự do.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Việc chúng ta thở không khí, tiêu hóa thức ăn, lưu thông máu
huyết là hoàn toàn vô ý thức, lòng muốn không dự phần vào. Những
tiến trình đó có tính máy móc, vô tư. Nhưng quyền năng sáng tạo
dù là một bài thơ, một pho tượng hay một đứa bé, thì tuyệt nhiên
tự do. Trong giây phút tự do được sinh ra, Thiên Chúa nói: "Hỡi
tạo vật hãy tác tạo chính mình". Và uỷ thác "hãy lớn lên và sinh
sản ra nhiều" qua tình yêu thực chất là chia sẻ quyền năng tạo
dựng muôn loài của Thiên Chúa. Do đó, loài người là cộng tác
viên của Thiên Chúa trong việc tạo dựng sự sống mới. Sự sống tự
do.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Cho nên, màu nhiệm tác tạo luôn được bao quanh bằng kính sợ. Một
lòng kính sợ đặc biệt bao quanh quyền năng cộng tác với Thiên
Chúa. Các yếu tố ẩn dấu này thuộc riêng về Thiên Chúa như ơn
thánh của Ngài trong các bí tích. Những ai nói về tính dục mà
thôi, không kể các yếu tố khác, nghĩa là chỉ tập trung vào khía
cạnh vật lý thấy được, thì đã quên hẳn tính dục còn là một màu
nhiệm của quyền năng tạo dựng. Trong các bí tích, loài người
cung cấp phần trông thấy, bánh, rượu, nước, hành động, Thiên
Chúa cung cấp ơn thánh và sự nhiệm màu. Trong việc tạo dựng sự
sống mới, đàn ông và đàn bà cung cấp chất liệu vật lý. Thiên
Chúa ban linh hồn và màu nhiệm sự sống. Đó là bản chất của tính
dục.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Trong tuổi thanh xuân, lòng khiếp sợ trước màu nhiệm giới tính
được biểu lộ qua sự e thẹn của cô gái. Nó làm cho cô rút lui
khỏi những tỏ lộ quá sớm bí mật của mình. Trong người con trai,
màu nhiệm diễn tả bằng lòng hào hiệp đối với con gái, đàn bà.
Không phải rằng anh ta tin thật nữ giới là phái yếu hơn, nhưng
vì anh ta cảm thấy kính sợ trước hiện diện của một nhiệm màu. Và
cũng bởi lòng tôn kính bao quanh quyền năng bí nhiệm đến từ
Thiên Chúa, cho nên nhân loại luôn cảm thấy tính dục chỉ được sử
dụng khi Thiên Chúa cho phép một cách đặc biệt và dưới những
điều kiện nào đó. Đó là lý do, theo truyền thống, hôn nhân luôn
liên kết với lễ nghi tôn giáo, để tỏ ra dấu chỉ rằng khả năng
tính dục đến từ Thiên Chúa, được sử dụng thích hợp và Thiên Chúa
chấp nhận. Mục tiêu của nó là làm tròn dự tính tạo dựng của
Ngài. </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Do vậy, sự thanh sạch không chỉ là nguyên vẹn phần xác. Nơi phụ
nữ, nó là quyết tâm vững chắc không sử dụng tính dục cho đến khi
Thiên Chúa ban người chồng. Nơi người nam, nó là ước ao bền vững
chờ đợi cho tới lúc Chúa muốn ban cho một hiền thê, để hai người
chu toàn chương trình của Ngài. Trong sạch không khởi sự ở thân
xác mà ở ý chí. Từ ý chí, thanh sạch chảy ra bên ngoài, tẩy rửa
trí khôn, óc tưởng tượng rồi đến thân xác. Đồng trinh thân xác
phản ánh tiếng vọng của linh hồn. Cuộc sống nhơ bẩn là vì ý chí
nhơ bẩn trước.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Thanh sạch trên hết là tâm lý, rồi đến thể lý. Nó bắt nguồn từ
trí khôn và trái tim, rồi tràn ra thân xác. Nó khác với vệ sinh.
Vệ sinh là một hành động tẩy rửa bên ngoài. Đồng trinh là thái
độ phải có đối với tính dục. Chúa Giêsu phán: "Nhưng ta nói cho
các ngươi hay kẻ nào nhìn phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã
ngoại tình với người ấy rồi" (Mt 5, 28). Chúa chúng ta không đợi
cho đến khi ý tưởng trở thành hành động mới kết án. Ngài kết án
ngay từ trong lương tâm, gán cho những ý nghĩ dâm ô là phạm tội
rồi. Những con sông sạch chảy ra biển sẽ làm cho biển sạch, biển
bẩn là vì các con sông bẩn. Nếu làm việc nào đó là sai, thì
trong ý nghĩ đã sai rồi. Trong sạch là do ý tưởng lành thánh,
thành kính tự bên trong, chứ không phải nguyên vẹn thể xác. Nó
không phải chuyện cá nhân, nhưng là chuyện bí mật, không được
tiết lộ cho đến lúc Chúa muốn. Thanh sạch là một ý thức rằng mỗi
người đều có một món quà quý báu, chỉ nhận được một lần và cho
đi cũng một lần. Trong việc hiệp nhất thân xác, người nam biến
cô gái thành đàn bà và cô gái biến người nam thành đàn ông. Họ
có thể lặp đi lặp lại ân huệ nghìn lần. Nhưng khi đã cho đi rồi,
thì không bao giờ lấy lại được nữa, cả hai bên phụ nữ và đàn
ông. Nó không nguyên là kinh nghiệm sinh dục, nó là màu nhiệm
không tháo gỡ được. Ở thời điểm nào đó chúng ta đi từ ngu dốt
đến kiến thức qua kinh nghiệm học hành, thì cũng ở lúc nào đó
chúng ta phá ngu trong kinh nghiệm giới tính đi từ vụng dại đến
đầy đủ kiến thức về mình mà người phối ngẫu dạy bảo. Từ lúc vượt
ranh giới về sau, không ai còn là chủ nhân toàn vẹn thân xác
mình nữa. Sự hỗ tương đã dựng nên tính lệ thuộc, câu đố của
thiên nhiên đã được giải mã. Bí mật đã được vén màn. Hai thân
xác đã được hợp nhất hoặc là thuận theo ý Thiên Chúa hoặc là
chống lại ý Ngài. </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Thiên Chúa không dựng nên địa cầu và muôn vật mà không có tình
yêu. Đức Maria không thể mang thai phi tình yêu, Ngài đã thụ
thai không cần tình yêu loài người, nhưng cần tình yêu thần
linh. Mặc dầu thiếu tình yêu nhân loại, nhưng đầy tràn tình yêu
thần linh. Thiên thần đã nói với bà: "Thần khí Thiên Chúa sẽ ngự
trên cô, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên cô" (Lc:
1,35). Và bởi vì đức thanh khiết là lòng thành kính màu nhiệm
tạo dựng. Vậy ai thanh sạch hơn Đức Mẹ? Ai cưu mang Đấng tạo
thành hơn Ngài? Ai ngất ngây trong tình yêu hơn Ngài? Đấng có
thể mượn lời G.K.Chesterton mà nói với thế giới: "Trong nhà
ngươi, dục vọng không tình yêu sẽ chết. Nơi nhà của ta, tình yêu
không dục vọng sẽ sống mãi mãi." </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Bởi lẽ, đức thanh tịnh là lòng thành kính màu nhiệm tạo dựng,
cho nên chiều rộng của nó từ tuổi thơ cho đến thanh niên, từ bàn
thờ cho đến tổ ấm, từ góa bụa cho đến thánh hiến, khác nhau về
mức độ, chứ không về ý thức tính cao siêu. Do vậy cần có phép
Thiên Chúa để mở tấm màn bí mật của nó, và bởi vì đức trong sạch
bảo vệ tình yêu, cho nên Giáo hội thường kêu gọi con cái mình
nhìn lên Đức Maria như mẫu mực và quan thày. Đức Mẹ là bản sao
của tình yêu Thiên Chúa, hào quang dịu hiền của Chúa Giêsu,
trung tâm lò lửa mến của Ngài, là hòm bia Đa-vít. Bởi vì Đức Mẹ
đã dấu kín bí mật của Ngài, cho đến thời viên mãn, khi thiên
thần truyền tin cho Ngài, nên Ngài đã là niềm hy vọng của những
ai bị cám dỗ khai thác sớm quá màu nhiệm tạo dựng. Chẳng có lớp
người nào, hoàn cảnh nào, điều kiện nào, của tín hữu mà Mẹ không
dạy dỗ rằng thanh sạch phần xác là tiếng vọng của khiết tịnh
linh hồn. Tác giả Francis Thompson viết như sau:<br>
<i>Bởi vì Mẹ, Đấng biết điều bí ẩn<br>
mà dạy con ca hát<br>
xin chỉ cho con đường trở nên một người đồng trinh mới.</i></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<i>Với bàn tay bao bọc<br>
xin che chở ngọn lửa mà hơi Mẹ thổi lên<br>
xin cho trái tim con bừng cháy ánh lửa hồng<br>
như mặt trời làm thẹn mặt tuyết sương.</i></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<i>Và nếu người ta nói tuyết sương giá lạnh<br>
Ôi! Lạy Đấng thanh khiết, xin cho họ biết<br>
rằng tay dù vương sương tuyết<br>
thì cũng nóng gấp đôi.</i></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<i>Rằng sương tuyết dù bốc cao như hơi nóng<br>
Thì xin kéo con đến gần trái tim Mẹ<br>
con sẽ cảm thấy dâng lên<br>
lòng khiết trinh như tuyết.</i></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<i>Hỡi Mẹ, lạy bà chúa khiết trinh ngọt ngào<br>
xin đem hết tình yêu <br>
nâng đỡ con trên gối Mẹ<br>
và con sẽ ngủ yên. <br>
</i>(phỏng dịch thơ)</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Thời kỳ thai nghén là thời kỳ được thắp sáng với màu nhiệm, khi
người mẹ trẻ nghe hát bài ca phụng vụ: "Non horruisti virginis
uterum: Ngài đã không khinh chê tấc dạ đàn bà". Mỗi đứa trẻ
thành hình trong bụng mẹ chỉ có thể sống nhờ linh hồn Chúa ban,
do hành động sáng tạo của Ngài. Đứa trẻ không phải là ngôi vị
của Thiên Chúa, như ngôi vị Đức Giêsu trong lòng Trinh Nữ, nhưng
dẫu sao vẫn là kết quả hành động của Thiên Chúa, hành động này
có mặt khi bà mẹ thụ thai. Chẳng nơi nào trong vũ trụ, Thiên
Chúa cộng tác mật thiết đến thế khi tạo dựng một thai nhi trong
lòng người phụ nữ, phụng vụ khi nói về sự thụ thai của đức Trinh
nữ, đã viết rằng: "Đấng mà cả đất trời không chứa nổi, đã thụ
thai trong lòng Đức Mẹ". Như vậy mỗi người mẹ, mẫu gương là Đức
Maria Mẹ Thiên Chúa, đã nhìn mình như mang hành động tạo tác của
Thiên Chúa, Đấng cả vũ trụ không chứa nổi.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Vì vậy, khi cô dâu chú rể tiến lên bàn thờ trong thánh đường,
Giáo Hội đã nói với họ: "Hai chúng con sẽ trở thành một thân
xác". Cô dâu sẽ nhìn vào màu nhiệm nhập thể và thoáng thấy ý
nghĩa tư tưởng của Đức Mẹ khi thưa vâng làm mẹ Ngôi Lời xuống
thế. Đức Mẹ và Chúa Giêsu thực sự cùng xương thịt trong cung
lòng trinh khiết. Đây là biểu tượng sáng ngời của hôn nhân Công
giáo. Trong Đức Mẹ, các giới tính hoà lẫn với nhau, đàn ông, đàn
bà trở nên một. Như vậy mang thai con, người mẹ nhận ra thế nào
là sự hợp nhất của hai người nên một xác thịt. Sự hiệp nhất này
khi trước tồn tại riêng rẽ nơi bà và chồng bà. Nhưng bây giờ
truyền sang đứa con, hai nên một tạo vật mới, có sinh khí và
linh hồn, bà mẹ và đứa con chưa sinh chỉ là một xác thịt.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Các bà mẹ thế gian, dốt nát về thiêng liêng trong tính dục chỉ
có thể nhìn mình như đang chứa đựng một sinh vật cao cấp, một
đứa bé mới. Nhưng Hội Thánh Công giáo dạy rằng các bà có mẫu
gương mang thai là Đức Trinh Nữ, Mẹ đã mang Thiên Chúa đến cho
nhân loại. Do vậy, các thử thách thể lý lúc mang thai có cơ may
giảm nhẹ khi ý thức mình cộng tác với Thượng Đế trong việc tạo
dựng sự sống mới. Ở một miền quê nước Pháp, một tín hữu hấp hối,
không còn khả năng rước lễ, ông đã xin người ta mang đến bên ông
một người nghèo khổ, để rằng ít ra ông được tiếp xúc với Chúa
Giêsu cách bất toàn. Một phụ nữ với một đứa bé trong bụng, có
lúc không thể tiến lên bàn thánh rước lễ được, cũng có thể dùng
đức tin, xem thấy mình đang cưu mang bánh thánh kém chất lượng
hơn trong lều tạm là xác thịt mình. </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Trong Thánh kinh, không có nơi nào nói về hôn nhân hoàn toàn
tính dục. Ngược lại, khi nói về nó Thánh kinh dùng ngôn ngữ kiến
thức, Ađam biết vợ mình. Eva thụ thai, sinh con trai là Cain, bà
nói: "Nhờ Đức Chúa tôi đã được một người" (St 4,1) và khi thiên
sứ báo tin cho Đức Mẹ: "Ngài đã được Thiên Chúa kén chọn làm mẹ
Đức Chúa Trời". Đức Mẹ hỏi: "Việc ấy xảy ra thế nào được, vì tôi
không biết đến người nam" (Lc 1,35). Vậy thì ở đây không có
chuyện thụ thai ngu dốt, mà là màu nhiệm sâu xa hơn. Theo Kinh
Thánh, hôn nhân có liên hệ đến kiến thức, tương quan chặt chẽ
nhất giữa con người và vũ trụ là qua kiến thức. Khi trí khôn
hiểu biết bông hoa, cây cối là lúc có hình ảnh chúng trong trí
khôn. Nó không đồng hóa với trí khôn, nhưng phân biệt khỏi trí
khôn. Những đối tượng này tồn tại trong trí khôn như một thể
thức hiện diện mới. Như vậy một vật ngoài trí khôn có thể tồn
tại trong trí khôn mà không cần tự hủy. Sự kết hợp giữa ngoại
vật và trí khôn, là kết hợp khăng khít nhất trong thiên nhiên:
vật được biết và người biết nên một.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Kinh Thánh khi nói về hôn nhân, luôn luôn là một kiến thức, bởi
lẽ nó biểu trưng một sự kết hợp sâu xa, bền vững hơn thực tế bên
ngoài, khăng khít hơn kiến trúc tâm lý, hay sinh lý xảy ra giữa
hai con vật phối hiệp. Mà bởi vì nó là kiến thức cho nên sự hiệp
nhất của nó đòi hỏi trung tín. Giả dụ một sinh viên dốt nát, cho
đến khi đi học, hắn học những vần thơ độc thoại của Hamlet. Khi
đã thuộc rồi, mà trước kia hắn chưa hề "biết". Hắn luôn lệ thuộc
vào nhà trường cho hắn kiến thức ấy. Và như vậy hắn gọi trường
hắn là "mẹ yêu" (Alma mater). Bởi nhà trường đã xây dựng kiến
thức cho hắn, việc này là độc nhất. Anh ta có thể thưởng thức
văn thơ độc thoại suốt đời mình, không cần học lại bao giờ nữa.
Cũng vậy khi người đàn ông, đàn bà có "kiến thức" về nhau, khi
đã như thụ tạo có trí khôn, biết về nhau theo xác thịt, nên một
với nhau theo tính dục, mà trước đây họ chưa từng được biết, thì
họ tiếp tục hưởng thụ kiến thức ấy mà không cần học lại. Và bao
lâu thời gian còn kéo dài, người chồng tặng cho vợ hiểu biết về
đàn ông và người vợ cho người chồng hiểu biết về đàn bà. Như vậy
họ cho nhau kiến thức tính dục, kiến thức về hợp một, không
giống như trí khôn và đối tượng, nhưng xác thịt với xác thịt.
Người ta có thể nhắc lại kinh nghiệm nhiều lần, ngay cả vô luân,
nhưng luôn luôn có ai đó đầu tiên vén màn màu nhiệm sự sống.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Như vậy sự liên kết giữa vợ chồng là kinh nghiệm không thể quên
được. Nó là kiến thức vĩnh viễn, nói cách khác, là một dấu ấn
mãi mãi, không xóa nhoà được. Họ là hai nên một xác thịt. Trên
quan điểm này, khi đàn bà kinh nghiệm đàn ông thì đàn ông cũng
kinh nghiệm đàn bà. Những "tai nạn" của sự kết hợp là biểu tượng
của thay đổi thực sự nơi hai người. Chẳng người nào trong hai
sống mà không nhớ đến sự kiện đã xẩy ra. Có một mối dây sinh học
nào đó nối kết hai người liên hệ, nhưng khác với sự liên hệ giữa
mẹ và con. Do bản tính của hành động, chỉ một người có thể mang
kinh nghiệm này cho người kia và nó là kinh nghiệm hiệp nhất cá
nhân hơn kinh nghiệm xác thịt. Điều này quá rõ ràng, không ai
khinh chê việc ăn uống nơi công cộng bởi lẽ không phải là kết
hợp cá nhân giữa thức ăn và dạ dày. Nhưng làm tình công khai thì
quả là xấu hổ, vô luân, bởi vì do bản tính, làm tình có tính
chất hoàn toàn cá nhân. Nó là việc của hai người và chỉ do hai
người. Và vì vậy công khai là lố bịch. Tình yêu của họ trở nên
hư hỏng, bởi lẽ người ngoài biết đến. Như vậy hôn nhân không còn
ý nghĩa khi có phần tử thứ ba biết được bí mật. </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Sự hiệp nhất giữa hai thân xác vợ chồng là một trong những lý do
tại sao Chúa chúng ta ngăn cấm bẻ gẫy mối dây hôn phối. Cả hai
người nam nữ trong khoảnh khắc biết nhau đã nhận được ơn huệ mà
họ không hề biết trước, và cũng chẳng hay lần nữa, trừ phi nhắc
lại. Hậu quả của sự thay đổi tâm lý cũng lớn như thân xác. Người
đàn bà chẳng trở lại thời con gái được nữa. Người đàn ông cũng
chẳng thể trở lại thời ngu dốt. Có điều chi xảy ra làm cho cả
hai nên một, và từ sự nên một ấy đòi hỏi tính trung thành, bao
lâu họ còn thân xác.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Cho nên việc sinh sản của nhân loại không phải là sự đẩy lên cao
của súc vật. Nó là món quà từ Ba Ngôi ban xuống. Sinh sản con
cái không phải là bắt chước súc vật, nhưng là phản ánh mờ nhạt
của việc Chúa Cha sinh ra Chúa Con trên thiên đàng. Việc này đưa
chúng ta đến định luật thứ nhất của tình yêu. Định luật đó phát
biểu như sau: Mọi tình yêu kết thúc ở nhập thể, kể cả tình yêu
của Thiên Chúa. Tình yêu chỉ đúng nghĩa khi vượt khỏi giới hạn
cá nhân để tồn tại vĩnh viễn. Nó cũng chỉ đúng nghĩa khi đạt tới
tính đời đời trong việc truyền sinh. Nơi đó sự sống đánh bại
thần chết. Đằng sau sự thúc đẩy truyền sinh là khao khát thầm
kín của mọi cá nhân dự phần vào tính vĩnh hằng. Và bởi vì cá
nhân không có khả năng làm điều này, cho nên hắn bù trừ trong
cuộc sống của thế hệ sau. Sự bất lực vĩnh hằng của cá nhân có
thể vượt được nhờ Chúa ban ơn vĩnh cửu cho toàn thể nhân loại.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Vậy thì hành động sinh sản, khi nhìn như là quà tặng Chúa ban,
và thực hiện trong ơn thánh, thì có khả năng thăng tiến ơn thánh
và trợ giúp cho đôi vợ chồng. Họ cứu vớt linh hồn mình bằng hành
động đó. Thánh Thomas viết như sau: "Hành động gia đình sẽ đầy
công nghiệp nếu người ta thực hiện hoặc vì công bằng trả nợ cho
người phối ngẫu, hoặc vì lý do tôn giáo, sinh sản con cái để có
người tiếp tục thờ phượng Thiên Chúa". Tuy nhiên, sinh sản con
cái là dấu hiệu rằng trái tim người ta tràn đầy hạnh phúc và
tình yêu, đến độ nó sẽ chết yểu nếu không được bày tỏ ra bên
ngoài. Một dòng sông tù túng hay bị chặn lại sẽ thu tích cặn bã,
rác rến, nhưng sẽ thanh sạch khi có những dòng suối từ các núi
đồi chảy siết qua các tảng đá ngầm đổ vào, rồi các cánh đồng
được nó tưới tiêu xanh tốt. Thượng Đế dựng nên con người có tính
xã hội, không đơn độc và cũng không vì tính tập thể, Ngài dựng
nên họ để sống thành nhóm, thành gia đình, thành cộng đồng, quốc
gia và Giáo Hội. Tuy nhiên để sống trong các tập thể đó, người
ta phải góp phần vào đời sống chung. Người có gia đình sinh sản
và dạy dỗ con cái. Người độc thân như tu sĩ, giáo sĩ lo lắng về
phần thiêng liêng, xã hội và hối cải. Như vậy sinh sản phần xác
hay phần hồn là điều kiện để được toàn vẹn nhân phẩm, khỏe mạnh,
trật tự xã hội. Người linh mục sa đọa không sinh sản đời sống
mới cho Chúa Kitô bằng giảng dạy, hy sinh, hãm mình thì giống
như vợ chồng cằn cỗi vô sinh. Họ chịu hình phạt của thiên nhiên,
vì chống lại định luật của sự sống. </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Đời sống phong nhiêu không gặp chán chường bao giờ. Nó là màu
nhiệm. Thời gian càng trôi đi, con sông hạnh phúc càng mở rộng.
Các dục vọng có thể bớt cường độ nhưng dòng chảy không bao giờ
ngưng. Tình bạn trong ngất ngây thể xác lúc này trải rộng vào
lãnh vực chia sẻ cuộc sống tình cảm và tinh thần, trái tim và
lòng muốn, khi họ vui hưởng sự ngọt ngào bên nhau. Tình yêu lúc
này thực chất là tính nên một hơn là tính hấp dẫn lẫn nhau của
tuổi trẻ. Vẻ hào nhoáng bên ngoài dần dần tàn tạ, nhưng bí mật
hôn nhân trở nên sâu sắc hơn, cho tới khi họ hoàn toàn nên một,
do chia sẻ ý nghĩa của cuộc đời trong màu nhiệm tình yêu vĩnh
cửu. Tình yêu cho đi để nhận lại.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Nếu như tình yêu nhân loại không luôn luôn ngây ngất, là vì
Thiên Chúa còn giữ lại yếu tố căn bản, chính là Ngài, Đấng ngự
trong vĩnh hằng. Ngài cho phép chúng ta đôi khi gặp khó khăn như
húc đầu vào tường đá. Lúc ấy chúng ta cảm thấy khủng hoảng nhất
thời và bị áp đảo bởi cảm thức đơn côi, hư không, trống rỗng,
ngõ hầu họ hiểu ra đời này không phải là thành phố kiên cố mà là
chiếc cầu bắc tới vĩnh cửu. Cuộc khủng hoảng hư không này gây
nên do lý tưởng viển vông và thực tế, do tình yêu chân thật gặp
lòng ích kỷ mình là cái chi chi.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Suốt trong khủng hoảng này những điều mà trái tim phàn nàn và
phiền muộn không phải là định mệnh, cũng chẳng phải bản chất mà
là giới hạn, yếu đuối, và thiếu sót của mình khát khao yêu
thương. Trái tim không thể nhầm khi khát khao yêu đương. Nhưng
nghĩ rằng vật chất có thể hoàn toàn thỏa mãn nó. Điều mà linh
hồn người ta ước mong trong lúc tuổi già là ánh sáng cho tình
yêu, tức Thiên Chúa, chứ không phải bóng mờ mà thôi. Cảm giác hư
vô là lời kêu gọi yếu ớt trở về nguồn gốc mọi sự là Đức Chúa
Trời. Vực thẳm của con người kêu gào vực thẳm của tình yêu Thiên
Chúa, thay vì nghĩ rằng người phối ngẫu có lỗi vì sự trống rỗng
của mình, người ta cần nhìn sâu vào thâm tâm mình. Người ta muốn
uống cả đại dương, trong khi chỉ có một ly. Nếu như thân xác
luôn có một cái gai của cuộc đời, như Chúa đã ban cho Phaolô để
thanh luyện ông, thì cái gai đó là lời mời gọi chúng ta trèo lên
ngọn lửa tình yêu là Thiên Chúa.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Nếu trong kinh nghiệm đời sống trọn lành tới lúc nào đó người ta
cảm thấy như đi trong đêm tối, thì cuộc sống hôn nhân cũng có
đêm đen của xác thịt. Cả hai loại thử thách đều không vĩnh viễn.
Cả hai đều là cơ hội thanh luyện cho con người nhìn vào tình yêu
cách mới mẻ hơn. Nếu cây vả của tình yêu muốn ra hoa quả thì
người ta phải đào hố bón phân. Sự khô khan trong đời thiêng
liêng cũng như trong hôn phối thực chất là thiếu ơn thánh Chúa.
Ngón tay của Ngài khuấy động mặt nước của linh hồn, tạo ra những
bất mãn, ngõ hầu phát sinh những cố gắng mới. Phượng hoàng mẹ
phải hất con ra khỏi tổ để chúng có thể bay. Thiên Chúa cũng tạo
cơ hội, tạo cánh cho tình yêu, thay vì đôi chân bằng đất sét.
Trong những ngày đầu say đắm, Thiên Chúa nhấn mạnh về tính bền
vững của hai trái tim trong tình yêu. Trong những buổi chiều của
trống vắng yếu tố then chốt là Thiên Chúa, chứ không phải là bản
ngã. Bây giờ tình yêu nói: "Anh yêu em luôn mãi, bởi lẽ em đáng
yêu muôn đời qua Thiên Chúa." Đấng bày tỏ và hứa hẹn tình yêu
muôn thuở, thực chất gán cho mình thiên chức Thiên Chúa. Cho
nên, suốt trong đêm tối của hôn nhân, Ngài sắp đặt chính xác
tính đời đời vào vị trí của nó, tức Thiên Chúa. </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Một khi đã được thanh luyện, vượt qua mọi thử thách. Tình yêu
chân thật sẽ trở về với hai người. Đôi phối ngẫu yêu mến nhau
vượt trên các cảm giác khao khát và dục vọng trước kia. Người
chồng yêu đương vì lợi ích bản thân, thì bây giờ vì ích lợi của
vợ và của Thiên Chúa. Xưa kia anh ta đụng đến chiều sâu của thân
xác vợ, nhưng bây giờ anh ta khám phá linh hồn của vợ. Đây là sự
vô biên thay vì thân xác. Đây là cái "luôn luôn" mới mẻ, gần cận
hơn với vĩnh hằng chân thật, bởi lẽ linh hồn luôn là tinh thần
và vĩnh cửu. Trong khi thân xác không phải như vậy. Người phối
ngẫu không còn là bức tượng dầy đặc mà bắt đầu trong suốt, là
tấm kính qua đó Thiên Chúa và mục tiêu của Ngài tỏ hiện. Vì
không còn nhiều ý thức về khả năng phát sinh tình yêu trong
người khác, anh ta nhìn ra sự nghèo nàn của mình và khởi sự lệ
thuộc vào Thiên Chúa để bù đắp sự nghèo nàn đó. Thứ sáu tuần
thánh đã tiến sang Chúa Nhật phục sinh với sự sống lại của tình
yêu.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Tình yêu xưa kia là thỏa mãn và vui sướng, lúc này đổi sang yêu
đương vì Thiên Chúa. Người phối ngẫu không còn là nhu cầu cho
đam mê nữa, mà là người bạn của linh hồn. Chúa Cứu Thế đã nói
rằng trừ phi hạt lúa rơi xuống đất thối đi, thì mới sinh ra
nhiều sự sống mới. Chẳng có chi tái sinh cho bậc sống cao hơn,
mà không phải chết đi cho sự sống thấp hơn. Trái tim người ta có
những vòng tròn và cũng có những vệ tinh. Nhưng hoạt động của nó
lại hướng thượng như vòng xoắn ốc, chứ không phải như vòng tròn
quay lại điểm phát xuất, các vòng xoáy của vệ tinh xoay mãi, đổi
dời rồi trở về khởi điểm.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Nhưng nếu như người chồng rơi vào hoàn cảnh nghiện ngập, hoặc
bất trung, hoặc hành hạ vợ con? Và nếu như người vợ cằn nhằn, vô
luân và bỏ bê con cái thì làm thế nào? Giả dụ lời thề hôn phối
"nên tốt hay nên xấu" mà nay trở nên "nên xấu" thì làm sao? Hoặc
giả dụ chồng hay vợ bại liệt hoặc không thích giao tiếp xã hội?
Trong các trường hợp ấy tình yêu thể xác chẳng cứu vãn nổi. Ngay
cả khi người phối ngẫu sa đọa đến độ không xứng đáng nữa, thì
xác thịt khó mà chịu đựng. Lúc ấy cần đến tình yêu siêu nhiên.
Tôn giáo phải bước vào để người phối ngẫu được coi như món quà
từ Thiên Chúa. Đa phần quà của Ngài là ngọt ngào. Nhưng lúc này
nó lại cay đắng. Nhưng dù đắng hay ngọt, mạnh khoẻ hay đau yếu,
trẻ hay già, đàn ông hay đàn bà, vẫn là quà Chúa ban cho, thì
người phối ngẫu kia vẫn phải hy sinh chấp nhận. Tình yêu ích kỷ
sẽ tìm cách loại bỏ gánh nặng. Nhưng tình yêu Công giáo không hề
nhàm chán và ôm lấy trách nhiệm, để chu toàn lời Chúa: "Anh em
hãy mang lấy gánh nặng cho nhau. Như vậy anh em đã chu toàn luật
Chúa Kitô" (Gl 6, 2). Nếu có vấn nạn rằng Chúa chẳng bao giờ xếp
đặt như vậy, chẳng ai phải ghé vai gánh lấy khó khăn quá sức như
vậy. Câu trả lời là "Ai muốn theo Thày, phải từ bỏ chính mình,
vác thập giá mình mà theo. Quả vậy ai muốn cứu mạng sống mình
thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì Thày, thì sẽ được
mạng sống ấy" (Mt 16,24). Bệnh tật xảy ra cho từng cá nhân thế
nào, thì bất hạnh cũng thưởng xẩy đến cho hôn nhân như vậy.
Nghĩa là Chúa gởi cho họ thử thách để kiện toàn cả hai người về
đàng thiêng liêng. Không có những thử thách ấy, nhiều khả năng
thiêng liêng của chúng ta không được phát triển. Như lời Kinh
Thánh nói với chúng ta: "Chúng ta vẫn tự tin ngay cả khi gặp
gian truân, vì biết rằng, ai gặp gian truân thì quen chịu đựng.
Ai quen chịu đựng thì được kể là người trung kiên, ai được công
nhận là trung kiên thì có quyền trông cậy, trông cậy như thế,
chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu
của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà người đã ban cho
chúng ta" (Rm 5,3-5). Tình yêu tín hữu, về phía người phối ngẫu
này, sẽ giúp đỡ cứu chuộc người phối ngẫu kia. Nếu như người cha
sẵn lòng trả nợ cho con trai để cứu hắn khỏi vào tù. Nếu người
ta vui vẻ truyền máu của mình để cứu bạn hữu sống còn, thì đối
với hôn nhân cũng vậy. Họ cứu độ lẫn nhau.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Kinh Thánh còn nói: "Người chồng ngoại đạo được thánh hóa nhờ vợ
có đạo, và người vợ ngoại đạo được thánh hóa nhờ chồng có đạo"
(1 Cor 7,14). Đây là bản văn Thánh kinh thường bị lãng quên nhất
về vấn đề hôn nhân. Nó áp dụng vào lãnh vực siêu nhiên. Những
kinh nghiệm của thế giới vật lý, nếu người chồng đau ốm người vợ
có bổn phận nuôi nấng cho lành. Ở lãnh vực tinh thần cũng vậy.
Người có đức tin và tình yêu Thiên Chúa, sẽ mang lấy gánh nặng
của kẻ không tin, như say sưa, bất trung, bạo tàn, vì lợi ích
của linh hồn hắn. Ý nghĩa của việc truyền máu đối với thân xác
thế nào, thì sự bồi hoàn tội lỗi của người khác, về phần thiêng
liêng cũng vậy. Thay vì chia lìa nhau khi gặp khó khăn, thử
thách, giải pháp của hôn nhân Công giáo là mang lấy thánh giá,
vì sự thánh hóa của linh hồn phối ngẫu. Như vậy chồng cứu độ vợ,
và vợ cứu độ chồng, với sự trợ giúp của ơn Thiên Chúa. </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Sự chuyển hóa của ơn thánh hóa từ người vợ tốt sang người chồng
xấu hay từ người chồng tốt sang vợ xấu, là hậu quả của sự kiện
cả hai đã trở nên một xác thịt. Giống như da mặt có thể ghép từ
da đùi. Cũng vậy công nghiệp có thể áp dụng cho đôi vợ chồng. Sự
truyền thông thiêng liêng này có thể không đạt tới mức độ lý
tưởng như kết hiệp thân xác. Nhưng dầu sao nó có giá trị vĩnh
cửu. Nhiều đôi vợ chồng, sau những lần bất trung và phản bội, ăn
năn thống hối, sẽ ngộ ra rằng cả hai đều được cứu chuộc trong
ngày phán xét chung, khi bên trung tín không ngừng tuôn đổ lời
cầu nguyện cho phần rỗi của chồng hay vợ bất trung.</font></td>
</tr>
<tr>
<td style="border-left-style: solid; border-left-width: 1px; border-right-style: solid; border-right-width: 1px; border-bottom-style: solid; border-bottom-width: 1px">
<p align="center">
<img border="0" src="../Suyniemmoingay/Nam2011/thanggieng/02.gif" align="right" width="200" height="200"></p>
<p align="center">
</p>
<p align="center">
<br>
</p> </td>
</tr>
</table>
</body>
</html>