File "Chua-Giesu-tro-giup-tri-long-chung-ta.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/THIENCHUA/Con Duong Ve Troi/Chua-Giesu-tro-giup-tri-long-chung-ta.htm
File size: 84.79 KiB (86821 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">
<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<LINK rel="stylesheet" href="../Suyniemmoingay/_common/colours.css" type="text/css">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<title>Con Duong Ve Troi</title>
<style>
<!--
div.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-top:0cm;
margin-right:0cm;
margin-bottom:10.0pt;
margin-left:0cm;
line-height:115%;
font-size:12.0pt;
font-family:"Arial","sans-serif";
}
-->
</style>
<meta name="keywords" content="Con duong ve troi, Duc Maria, Hoi thanh, Giêsu Kitô; tinmung.net; dongcong.net, suy niệm mỗi ngày, tinh yeu, thanh y, tuan phuc,tieng goi, ve troi, lua chon, on thanh, nguoi tin huu, hon nhan, tinh yeu">
<meta name="description" content="Con duong ve troi, Duc Maria, Hoi thanh, Giêsu Kitô; tinmung.net; dongcong.net, suy niệm mỗi ngày, tinh yeu, thanh y, tuan phuc,tieng goi, ve troi, lua chon, on thanh, nguoi tin huu, hon nhan, tinh yeu">
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../_themes/network/netw1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="network 1011">
</head>
<body>
<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="10" bgcolor="#FFFFF2" cellpadding="10">
<tr>
<td style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 12pt; font-weight: bold; border-left-style:solid; border-left-width:1px; border-right-style:solid; border-right-width:1px; border-top-style:solid; border-top-width:1px">
<p align="center">
<font face="Arial"><b>Chương 2: CHÚA GIÊSU TRỢ GIÚP<br>
TRÍ LÒNG CHÚNG TA</b></font></td>
</tr>
<tr>
<td style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 12pt">
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<font face="Arial">Đời sống của con người tân thời là một cuộc
vật lộn liên lỷ. Nguyên nhân của nó không phải là hoàn cảnh. Bởi
lẽ hàm thiếc bằng vàng không làm cho con ngựa chạy tốt hơn.
Người có hoàn cảnh tốt nhất trong lịch sử là tông đồ Giuđa.
Nhưng ông đã chết nhục nhã và xấu hổ. Cuộc vật lộn cũng không
nằm ở chỗ người ta ngu dốt. Chẳng vậy, những người có học vị
tiến sĩ là thánh hết. Thực tế đâu được như thế. Cuộc vật lộn
cũng không nằm ở cá nhân mà thôi. Dĩ nhiên tội của mỗi người
tăng cường mặc cảm của họ, nhưng một điều không chối cãi được là
tất cả nhân loại đều cảm thấy sự chiến đấu trong tâm hồn mình.
Và bởi vì sự căng thẳng không phải của riêng anh, tôi, hắn, cô
ta, bà ta, cho nên con người ta phải thừa nhận rằng sự tranh đấu
trong tâm hồn mình không có nguồn gốc cá nhân, phải nằm ở bản
tính con người nói chung. Gốc của mọi bất ổn nằm ở nơi cá nhân
và bản chất nhân loại chứ không riêng ở phía nào. Khoa tâm lý
chủ trương mọi bất ổn đều có căn nguyên là sự thác loạn ở chính
cá nhân mà thôi, sẽ thiếu sót nghiêm trọng về tính phổ quát của
các bất ổn. Hết mọi sinh linh đều cảm thấy tâm hồn lo lắng bồn
chồn thì giải thích riêng tư hay cá biệt không thể thỏa mãn đủ.
Nó đòi hỏi một lời giải thích rộng lớn hơn. Nguyên nhân cá biệt
chỉ là hậu qủa của nguyên nhân tự nhiên, cũng như tội cá nhân là
hậu qủa của bản tính hư hỏng chung của loài người. Nói cách
khác, cá nhân phạm tội vì bản tính tự nhiên của loài người đã
phạm tội.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Bởi lẽ nguồn gốc thật sự của các vật lộn trong tâm hồn con người
không nguyên chỉ ở cá nhân mà thôi, nhưng còn ở bản chất con
người nữa. Cho nên phải khảo sát cặn kẽ bản chất nhân loại, yếu
tố chung cho mọi người sinh ra trên hành tinh này. Có hai sự
kiện nổi bật.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Thứ nhất, con người ta không phải là một thiên thần và cũng
chẳng phải là quỷ sứ. Hắn là một hữu thể không hư hỏng hoàn toàn
từ bản chất (như các thần học gia bắt đầu chủ trương từ bốn trăm
năm trước) cũng không phải là thần thánh từ căn nguyên (như các
triết gia tuyên truyền từ năm mươi năm trở lại đây). Đúng hơn,
con người có một khát vọng về sự thiện; đồng thời nghiêng chiều
về điều dữ. Điều dữ luôn thôi thúc hắn rời xa các lý tưởng. Hắn
giống như một gã đàn ông lỡ chân rớt xuống giếng vì dại dột. Hắn
biết mình không nên ở đáy giếng, nhưng bất lực không làm sao tự
mình lên khỏi. Hoặc chúng ta thay đổi hình ảnh. Hắn giống như
chiếc đồng hồ đứt giây thiều, cần người thợ từ bên ngoài sửa
chữa, không thể tự điều chỉnh lấy mình. Anh ta sẽ phạm sai lầm
nếu quá lạc quan bảo rằng thuyết tiến hóa cung cấp cho hắn sợi
dây thiều khác. Mặt khác cũng sai lầm không kém khi quá bi quan
cho rằng thế là toi đời, không sao sửa chữa được nữa. Thực tế
con người là một tạo vật có thể phục hồi tiến trình sống tốt,
nếu Thợ chế tạo đồng hồ thương tình sửa chữa. </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Thứ hai, nỗi khắc khoải này có bộ mặt méo mó là vì người ta đã
lạm dụng tự do. Giống như gã say rượu, gã say là vì hành động
lựa chọn uống nhiều rượu của hắn. Cũng vậy bản tính nhân loại
xem ra đã mất tính tốt lành nguyên thủy mà Thiên Chúa nhân hậu
đã khấng ban cho, qua một hành động lựa chọn. Thánh Augustino
viết: "Hiện trạng chúng ta là thể nào đi nữa, thì cũng không
phải là vị trí mình phải có". Các thần học gia cổ điển cũng như
tân thời hay so sánh nguồn gốc của các vận lộn này trong tâm
linh người ta với âm nhạc. Xin tưởng tượng một ban nhạc giao
hưởng trên sân khấu với một ông nhạc trưởng tài ba. Các nhạc
công tự do chơi nhạc do ông nhạc trưởng sáng tác và điều khiển,
bản giao hưởng rất hay, nhưng một nhạc công nổi loạn, cố tình
chơi sai một nốt, rồi dụ dỗ các bạn cũng chơi sai như mình. Bản
nhạc lúc này là một hỗn hợp các âm thanh chói tai, không êm đềm
như trước nữa. Thấy vậy, ông nhạc trưởng có thể lựa chọn: Cho
ban nhạc chơi lại trường canh, hoặc không lưu tâm đến nốt nghịch
âm sai. Thế nào đi nữa thì đoạn nhạc hư đã đi vào không gian vũ
trụ với tốc độ hơn ba trăm mét một giây. Cứ thế nó đi mãi tới vô
tận, ảnh hưởng tới các hòa hợp vũ trụ dù nhỏ bé nhất, nó giống
như viên đá ném xuống ao, gây nên làn sóng rộng mãi, rộng mãi
tới bến bờ xa nhất, nốt nghịch âm này cũng lan tới các ngôi sao
xa nhất trong bầu trời. Bao lâu còn thời gian, bấy lâu nó còn
gây bất hòa trong vũ trụ của Thiên Chúa.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Làm thế nào để ngưng được nốt nghịch âm đó? Con người chẳng làm
được, vì không có khả năng đuổi kịp! Thời gian không thể trôi
ngược dòng, đã đi là mất. Con người lại dính chặt vào nơi chốn.
Tuy nhiên nốt nghịch âm trên kia vẫn có thể nắm bắt được bằng
quyền năng của Đấng tối cao, bước ra từ vô cùng đi vào thời
gian. Ngài túm lấy nốt nhạc lạc điệu ấy, bắt nó ngừng trốn chạy,
tuy nhiên nó vẫn là nghịch âm trong tay Chúa. Với quyền năng vô
biên Ngài viết một hòa âm mới, bắt đầu từ nốt nhạc hư hỏng. Nó
trở thành nốt thứ nhất và mọi sự đều lại hòa hợp êm tai.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Ngày xửa ngày xưa, trước cả khi có Oedipus và Electra, Thiên
Chúa đã viết hoà âm tạo dựng. Khoáng chất, hoa lá, cỏ cây, súc
vật đều tùng phục con người. Con người với các đam mê tùng phục
lý trí, chịu sự chỉ đạo của lẽ phải. Và con người say mê Thiên
Chúa, tức tình yêu vô biên. Thiên Chúa trao bản giao hưởng đó
cho Adam, Evà để chơi với đầy đủ hướng dẫn, tới chi tiết cuối
cùng để tránh sai lầm. Người đàn ông và vợ mình được tự do vâng
theo hay chống lại hướng dẫn của Thiên Chúa để sản xuất hòa âm
hay nghịch âm. Thằng qủi Satan gợi ý hai ông bà rằng Ông nhạc
trưởng độc tài đã chỉ định trên bản nhạc phải chơi ra sao, chỗ
được chơi, chỗ không và như vậy phá hủy tự do của hai người.
Nhạc công phụ nữ là kẻ đầu tiên mắc mưu, gục ngã dưới ý nghĩ
rằng tự do bị lề luật của ông nhạc trưởng hạn chế, cho nên bà đã
vạch cung lạc điệu thứ nhất để khẳng định "tự do" của mình. Tư
cách của nhạc công này chẳng đàn bà chút nào. Vì thói tục xưa
nay phụ nữ vốn hay vâng lời. Sau đó bà ta quyến rũ chồng làm như
vậy. Ông ta vì yêu vợ đã hành động không hợp với lý trí, vốn là
đặc tính của đàn ông. Cứ như vậy cặp nọ bảo cặp kia làm cho
nghịch âm nguyên thủy lan tràn khắp mặt đất. Bất cứ nơi đâu có
đàn ông, đàn bà hợp tác với nhau, y như rằng có tội nguyên tổ,
bởi mỗi bên đều thừa hưởng hậu quả của nghịch âm, trừ ra một
người sẽ được sinh ra sau này theo lời hứa. Hậu quả của nghịch
âm thậm chí còn ảnh hưởng đến cả vũ trụ vật chất. Gai góc mọc
đầy đồng, muôn thú trở nên hoang dã. Giống như dòng suối bị ô
nhiễm từ nguồn mạch, sẽ hôi thối suốt cả chiều dài của nó, thì
tội lỗi của hai ông bà lan tràn khắp nhân loại. </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Nốt nghịch âm nguyên thủy này, loài người tự thân không chặn lại
được, nó vượt quá khả năng mình, bởi họ đã súc phạm đến nhạc
trưởng có đặc tính vô biên. Họ đã mắc một món nợ không thể trả
nổi. Chỉ có thể trả được bởi Đấng Vĩnh Hằng bước ra khỏi cõi đời
đời mà vào thế gian. Nhưng giữa việc ông bà nổi loạn với việc
bắt lấy nốt nhạc lạc loài có sự khác biệt rất lớn. Nốt nhạc
chẳng có tự do, hai ông bà đều được Thiên Chúa ban cho tự do và
Thiên Chúa luôn tôn trọng tự do của họ. Ngài luôn từ chối là một
nhà độc tài phá hủy tự do của con người, để bãi bỏ sự dữ. Thiên
Chúa có toàn quyền ngăn chặn nốt nhạc, nhưng Ngài không muốn ép
buộc con người. Thay vì cưỡng bách, Ngài lại hỏi ý kiến loài
người xem họ bằng lòng đăng ký làm nhạc công cho ban nhạc thiên
cung lần nữa không? </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Một thiên thần sáng láng bay khỏi thiên cung huy hoàng, xuống
trần gian qua một cánh đồng miền Palestin gọi là Esdralon, tới
một làng nhỏ Nazareth, vào nhà một trinh nữ tên là Maria. Bởi lẽ
một phụ nữ đã không vâng lời, gảy cung nhạc sai, thì một phụ nữ
khác có bổn phận sửa chữa, phụ nữ này không lây nhiễm tội lỗi
nguyên tổ nhờ vào công nghiệp con bà sau này. Bà tham dự trước
vào công nghiệp của con bà sẽ lập được trước tòa Thiên Chúa Ba
Ngôi. Thật xứng đáng Đấng là sự vô tội giáng trần qua một cửa
ngõ xác thân tinh tuyền không ô nhiễm bởi tội lỗi chung. Đặc ân
này của người trinh nữ được Giáo Hội gọi là Đầu thai vô nhiễm
nguyên tội. Bởi lẽ một thiên thần sa ngã đã dụ dỗ người phụ nữ
đầu tiên nổi loạn, thì nay Thiên Chúa gởi một thiên thần khác
không sa ngã, Gabriel, đến dạm hỏi người đàn bà mới Maria xem bà
có đồng ý cho Ngài một con trẻ không? Tức một nốt nhạc mới của
nhân loại để Ngài viết bản hòa tấu mới. Con trẻ này phải thuộc
nam giới, bằng không, Thiên Chúa không thể hành động nhân danh
loài người. Điểm khác, trẻ ấy phải đứng ngoài dòng ô nhiễm của
nhân loại. Sinh bởi một phụ nữ, ông ta thực sự là người sinh bởi
một trinh nữ tinh tuyền, không hề lây nhiễm tội lỗi. Thiên thần
cất tiếng hỏi trinh nữ xem cô có đồng ý làm một người mẹ. Bởi vì
bất cứ sự sinh nở nào cũng đòi hỏi tình yêu, cho nên trong
trường hợp của trinh nữ, ngọn lửa và đam mê của tình yêu là Đức
Thánh Linh rợp bóng trên cô và người con mà cô sinh ra, chính là
con Thiên Chúa, đồng thời là loài người. Tên của ngài là Giêsu,
bởi vì ngài sẽ cứa thế giới loài người khỏi tội lỗi. </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Đầu thai vô nhiễm và sinh nở khiết trinh là khởi đầu của dòng
giống nhân loại mới, giống như cầu khoá trên một dòng kênh,
nhưng cách đặc biệt hơn. Nếu con thuyền muốn vượt hai mực nước
thì cần đến cầu khóa. Nó đang chạy ở mực nước thấp ô nhiễm và
muốn vượt lên mực nước cao trong sạch, người ta phải cho nó đi
vào một cầu khóa trên con kênh, có cửa đóng lại, sau đó cho nước
cao chảy vào cầu khóa và nâng con thuyền lên, rồi lại mở cánh
cửa phía trên để con thuyền tự do chạy trên mức nước mới, trong
sạch, không hề mang theo một chút nước ô nhiễm của đoạn phía
dưới. Sự kiện đầu thai vô nhiễm nguyên tội của Đức Maria giống
như đoạn kênh khóa đó, trong ý nghĩa qua mẹ nhân loại mới thoát
được mức nước ô nhiễm của con cháu Adam, Evà mà bước lên chức vị
làm con cái Thiên Chúa.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Khi đồ án này được trình lên cho Đức Maria trong một kế hoạch
lớn nhất của tự do mà thế giới từng nghe biết đến, thì Đức Mẹ
trả lời: Này tôi là tôi tớ Thiên Chúa, xin làm cho tôi như lời
Ngài nói. Lập tức Thiên Chúa thực hiện chương trình. Ngài sai
Ngôi Hai mặc lấy thân hình người phàm trong cung lòng thanh
khiết của Đức Maria. Chín tháng sau Đấng đời đời thiết lập đầu
cầu chiến đấu tại Bethlehem. Đấng Vĩnh Hằng xuất hiện trong thời
gian, con chim xây tổ lại được ấp nở trong cái tổ mình xây, Đấng
dựng lên thế giới lại sinh ra trong thế giới mà mình làm nên,
nhưng thế giới đã không chấp nhận Ngài. Bởi vì là nhân loại,
Ngài hành động như nhân loại, chiu trách nhiệm như một người. Vì
là Thiên Chúa, mọi việc của Ngài với bản tính nhân loại, có giá
trị vô cùng. Qua bản tính nhân loại vô tì tích của Ngài, Ngài
chịu trách nhiệm về hết mọi tội lỗi của thế giới, đến mức độ mà
lời lẽ mạnh mẽ của thánh Phao-lô gọi là "làm thành tội nhân".
Giống như người anh cả giàu có gánh lấy nợ nần của người em phá
sản, Chúa chúng ta cũng mang lấy những bất ổn, bất hòa, phạm
thượng, kiêu căng, phản loạn và muôn vàn hình thức tội lỗi khác
mà trở thành phạm nhân. Tựa như thỏi vàng bị ném vào lửa để gột
rửa hết các vết nhơ, Ngôi Hai Thiên Chúa mặc lấy xác phàm và
chịu lửa tội lỗi thiêu đốt để tội lỗi chúng ta được tẩy sạch.
Xin lại lần nữa thay đổi hình ảnh. Tại vì tội thì ở trong máu
cho nên Ngài phải đổ hết máu ra để cứu chuộc loài người. Bởi vì
không có đổ máu thì chẳng bao giờ được tha tội. </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Lịch sử đầy rẫy những người tự xưng mình từ Thiên Chúa mà đến,
thậm chí tự nhận là ông trời con hoặc giả sử, là thần của Thượng
Đế như Đức Phật, Ma-Hô-Met, Khổng Tử, Lão Tử, Đức Kitô và hàng
ngàn người khác, kể luôn các vị sáng lập tôn giáo mới cho đến
hôm nay. Mỗi vị đều đòi quyền được thiên hạ lắng nghe và công
nhận. Giống như cái thước đo đạc phải ở ngoài vật thể được đo,
thì cũng cần có một vài tiêu chuẩn vững chắc để, mọi nền văn
minh mọi thời đại xác định xem những kẻ đòi hỏi như trên có
chính đáng hay không? Có hai loại tiêu chuẩn để kiểm tra: Lý trí
và lịch sử. Lý trí bởi bất luận ai cũng có, ngay cả những người
vô tín ngưỡng. Lịch sử bởi mọi người đều sống trong đó và có
chút hiểu biết về nó. </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Lý trí bảo rằng bất cứ ai trong những người này thực sự từ Thiên
Chúa mà đến, thì điều tối thiểu Thiên Chúa làm, để ủng hộ đòi
hỏi của ông ta là báo trước việc ông xuất hiện. Các xí nghiệp
chế tạo xe hơi đều quảng cáo trước với khách hàng mẫu mã mới của
chiếc xe. Nếu Thiên Chúa gởi ai đến trần gian hay chính Ngài
thân hành đến với một thông điệp quan trọng cho thế gian, thì
Ngài phải sai sứ giả đến trước để báo tin quan trọng đó, mới hợp
lý. Sứ giả phải nói rõ thời gian và nơi chốn Ngài ngự giá, tiếp
theo là nơi ở, giáo thuyết Ngài sẽ dạy, các thù địch chống đối,
các dự kiến cho tương lai, và cách thức ngài khuất đi. Người ta
sẽ căn cứ vào các sự kiện đó mà xét đoán đòi hỏi của ông ta xác
thực hay không.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Lý trí còn bảo đảm rằng nếu Thiên Chúa không làm như vậy, thì
chẳng lấy chi ngăn cản thiên hạ giả dạng Ngài mà tuyên bố bừa
bãi trong lịch sử rằng "tôi đến từ Thiên Chúa" hoặc "một thiên
sứ" xuất hiện với tôi trong sa mạc và ban cho tôi thông điệp
này. Trong những tình huống như vậy, chẳng có cách nào khách
quan, lịch sử để xác nghiệm người sứ giả đó. Chúng ta chỉ có
bằng cứ duy nhất là lời ông ta. Và dĩ nhiên ông ta có thể nói
không đúng sự thật.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Giả dụ có một vị khách đến thủ đô nước ta từ một quốc gia khác
trên thế giới và ông cho biết mình là một nhà ngoại giao, đại sứ
chẳng hạn, dĩ nhiên nước ta phải hỏi giấy tờ bằng chứng như
thông hành, uỷ nhiệm thư v…v… để bảo đảm ông ta đại diện cho
chính phủ nước đó. Các giấy tờ phải được ký trước ngày ông ta
đến. Những chứng cứ như vậy là điều kiện cần thiết cho một phái
bộ nước ngoài, thì nhất định phải có đối với nhửng sứ giả tuyên
bố mình đến từ Đức Chúa Trời. Lý trí sẽ hỏi mỗi vị sứ giả "quí
vị có những giấy tờ nào trước khi quí vị hạ sinh và đến đây?".</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Với trắc nghiệm như vậy, chúng ta có thể đánh giá mỗi ứng cử
viên (và ở bước đầu này, Chúa Giêsu không trổi vượt hơn các
người khác). Triết gia Hy lạp Socrates, không có ai báo trước
việc ông ta sinh ra. Đức Phật Thích Ca cũng không, ngay cả đối
với sứ điệp của ngài cũng vậy. Chẳng ai biết trước khi nào ngài
ngồi đắc đạo dưới cây bồ đề. Khổng Tử không có tên mẹ và ngày
sinh tháng đẻ, không quê hương, không nơi chốn ghi sẵn ở sổ sách
trước. Cũng không ai cho biết trước các tiểu vương quốc ông sẽ
chu du để rằng người ta có thể đón ông như sứ giả của nhà trời.
Nhưng đối với Chúa Giêsu thì mọi sự khác hẳn. Bởi lẽ Cựu ước đã
tiên báo trước, cho nên việc Ngài đến thế gian không phải là bất
ngờ, không trông đợi. Trong lịch sử chẳng có lời báo trước về
Đức Phật, về Khổng Tử, Lão Tử, Ma-Hô-Mét hoặc bất cứ ai sinh ra.
Nhưng về Đức Kitô thì vô số. Những người khác đến thế gian rồi
mới nói: "Ta đây, hãy tin Ta". Cho nên quí vị đó chỉ là phàm
nhân, giữa muôn vàn phàm nhân và không phải là thần linh trong
nhân loại. Chỉ một mình Chúa Giêsu đấng ra khỏi hàng ngũ đó mà
nói: "Hãy lục lọi sách vở của người Do thái và lịch sử liên hệ
của các đế quốc Babylon, Ba tư, Hy Lạp, Rôma", thì sẽ biết (lúc
ấy, các sách vở dân ngoại và ngay cả Cựu Ước cũng chưa được coi
như linh hứng, mà chỉ là tài liệu lịch sử mà thôi). </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Đúng vậy các lời sấm trong Cựu ước chỉ được hiểu tốt nhất, dưới
ánh sáng của các ứng nghiệm. Ngôn ngữ các tiên báo không có tính
chính xác như toán học. Tuy nhiên khi chúng ta tìm hiểu vài đoạn
văn Thiên sai trong Cựu ước và so sánh kết qủa với sứ vụ và đời
sống Chúa Kitô, chúng ta chẳng thể khước từ tính chân thực của
các tiên báo ấy về Chúa Giêsu và vương quốc Nước trời, Ngài sẽ
thiết lập. Lời hứa của Thiên Chúa với các tổ phụ Do Thái rằng
qua họ mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc. Lời sấm về
chi tộc Giuđa sẽ trổi vượt hơn các chi tộc Do Thái khác cho đến
khi Đấng Cứu thế xuất hiện. Đấng muôn dân muôn nước qui phục.
Một điều khác lạ nhưng không phủ nhận được nơi Kinh thánh bảy
mươi. Các kỳ lão Do Thái dịch từ tiếng Do Thái cổ sang tiếng Hy
Lạp tại thành phố Alexandria, Ai Cập đã tiên tri rõ ràng sự sinh
nở đồng trinh của đấng Mêssia (Bản dịch viết là người nữ sẽ đạp
dập đầu con rắn, chứ không phải dòng dõi người nữ, như các bản
dịch bây giờ). Lời sấm Isaia chương 33 về người tôi tớ chịu đau
khổ dữ dằn, người tôi trung của Đức Chúa, người sẽ hy sinh mạng
sống mình như một kẻ có lỗi, để đền thay các xúc phạm của dân.
Lời sấm về vương triều nhà David vững bền, hiển hách, vinh quang
mà chẳng ai ứng nghiệm nổi ngoài Chúa Giêsu. Xin chỉ nhìn về
khía cạnh lịch sử, thì đây là điểm duy nhất mà Chúa Kitô đứng ra
ngoài hàng các vị sáng lập tôn giáo trên thế giới. Và một khi
các lời tiên báo này đã được ứng nghiệm trong ngôi vị Đức Giêsu
Kitô, thì không những mọi lời tiên tri trong dân Do Thái chấm
dứt mà cả lễ nghi hy tế phụng thờ cũng không còn nữa, lúc Con
Chiên vượt qua đích thực bị sát tế trên đồi Calvario.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Một sự kiện nổi bật khác nữa, là lúc Ngài xuất hiện trên mặt
đất, Ngài đã tác động mạnh mẽ vào lịch sử, chia nó ra làm đôi.
Một, trước khi Ngài đến và hai, sau khi Ngài đến. Năm nay là
2005 năm sau khi Ngài đến. Đức phật Thích ca không làm được điều
này, mặc dầu Đức phật sinh ra trước. Các triết gia lớn của Aán
độ, Trung Hoa cũng vậy, Ngay cả những kẻ vô thần, từ chối Thiên
Chúa cũng phải dùng ngày, tháng, năm, để ghi dấu các phát biểu
tấn công Ngài. Thí dụ ngày x tháng y năm z hay bao năm sau Thiên
Chúa Giáng sinh.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Bất cứ người nào đến thế gian này là đến để sống. Còn riêng
Ngài, đến để mà chết. Chết là đá tảng vấp ngã đối với triết gia
Socrates. Nó chấm dựt việc dạy dỗ của ông ta. Tuy nhiên, với
Chúa Giêsu, chết là mục tiêu, là hoàn thành cuộc sống trần gian,
là viên ngọc mà Ngài tìm kiếm. Chẳng có lời nói, việc làm của
Ngài mang ý nghĩa nếu không liên hệ với thánh giá. Ngài bày tỏ
mình như Đấng Cứu Thế hơn là thày dạy đơn giản. Dạy bảo người ta
nên tốt chẳng ích lợi chi nếu không ban cho người ta khả năng để
nên tốt, sau khi đã vạch rõ cho họ sự vô vọng của tội lỗi.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Câu truyện của đời người khởi sự lúc sinh ra và chấm dứt khi
chết. Nhưng trong con người của đức Kitô ý nghĩ đầu tiên là cái
chết và cuộc sống là cuối cùng. Kinh thánh mô tả Ngài là "Con
chiên bị sát tế từ nguyên thủy của thế giới." Ngài đã bị giết
trong ý định khi loài người phạm tội nổi loạn chống lại Đức Chúa
Trời. Như vậy chương trình của Thiên Chúa không nhấn mạnh vào
việc Ngài sinh ra, giãi bóng trên dương gian, sau đó là cái
chết. Nhưng ở sự kiện thánh giá trước và nó giãi bóng lui lại
đến hang Belem. Ngài là người duy nhất trên thế giới sống ngược
tiến trình tự nhiên của con người. Kiểu như loài hoa dại leo
trên bức tường loang lỗ vẽ lên thiên nhiên cho các thi nhân mặc
khách, hay một nguyên tử giải thích cho các khoa học gia hệ
thống mặt trời. Sự kiện Ngài sinh ra giải nghĩa cây khổ hình.
Ngài đi từ sự đã rồi đến sự đã rồi, từ lý do Ngài đến thế gian
tỏ lộ trong ý nghĩa tên Giêsu hay Đấng Cứu thế, cho đến ứng
nghiệm trọn vẹn của tên đó, bằng cái chết thập tự.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Thánh sử Gioan cho chúng ta biết lý lịch đời đời của Ngài trước
khi xuống thế. Thánh Matthêu lý lịch thời gian qua các tổ phụ,
tức bản gia phả cho đến Abraham. Xét trong bản gia phả này có
rất nhiều nhân vật ngoại bang và tội lỗi, điều này có ý nghĩa
đặc biệt, bởi những vết nhơ đó nói lên lòng thương xót của Ngài
đối với tội nhân và dân ngoại, họ cũng được hưởng phúc lành của
giao ước. Sau này cả khía cạnh đó cũng được người ta dùng để tố
cáo Ngài: "Hắn làm bạn với kẻ tội lỗi". "Hắn là một tên
Samaritanô". Nhưng cái bóng của một qúa khứ nhơ bẩn tiên báo
Ngài sẽ yêu mến những kẻ bất hạnh vì tội lỗi. Sinh ra bởi một
người đàn bà, Ngài là một nam nhi và chung phần với mọi người
trong nhân loại. Sinh ra bởi một trinh nữ, được Thánh Thần rợp
bóng và đầy tràn ân phúc. Ngài đứng riêng ra khỏi dòng giống lỗi
lầm mà các người khác phải lây nhiễm. </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Sự sống thần linh từ đâu mà đến? Dĩ nhiên từ Thiên Chúa trong
con người đức Giêsu Kitô, Con Đức Chúa Trời và là người thật. Sự
thật xẩy ra như thế này. Trong đêm giá lạnh, bốn bề im phăng
phắc, gió đông thổi vù vù qua đồi núi lọt xuống thung lũng làng
Belem, lay động các bụi cây khô cằn, một trẻ sơ sinh cất tiếng
khóc trong hang bò lừa để hoang, tiếng khóc lẻ loi và yếu ớt:
"Ngôi lời đã trở thành xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta". Trái
đất không nghe thấy tiếng khóc, bởi nó đang ngủ say. Nhân loại
cũng không nghe thấy tiếng khóc, bởi nó chẳng biết rằng con trẻ
đó sẽ vĩ đại hơn tất cả những ai sinh ra trên hành tinh này, đại
dương cũng không nghe, bởi đã đầy tiếng gầm thét của riêng mình,
vua chúa không nghe bởi họ chẳng ngờ rằng vua các vua lại sinh
ra trong hang bò lừa, đế quốc không nghe bởi đế quốc chẳng biết
rằng một bé thơ có thể cầm cương điều khiển vũ trụ trăng sao
trong các vòng xoay vần của chúng. Nhưng mấy chú mục đồng, mấy
nhà đạo sĩ nghe được tiếng kêu khóc, bởi chỉ những ai tâm hồn
đơn sơ, những ai khôn ngoan, hiền triết mới biết rằng trái tim
của một Đấng thần linh đang kêu gào trong tiếng khóc của một con
trẻ. Họ đến với lễ vật tôn thờ Đấng uy nghiêm khôn sánh dưới
hình hài một bé thơ yếu đuối trước mặt họ. Họ đến tôn kính Đấng
quyền năng tuyệt đối đang nằm khóc oa oa như một bé sơ sinh. Họ
đến bái lạy Đấng là ánh sáng chiếu soi vũ trụ, các tầng trời. Họ
không thể cầm lòng, nhưng tung hô lớn tiếng "Emmanuel" Thượng Đế
ở cùng nhân loại. Thiên Chúa mạc khải mình cho chúng ta lần nữa.
Lần này Ngài chiếu sáng qua lăng kính nhập thể và mang sự sống
thần linh xuống cho nhân loại. Đấng được sinh ra không mẹ trên
trời nay sinh làm người không bố dưới trần gian. Đấng dựng nên
đàn bà lại sinh ra bởi đàn bà, dựng nên xác thịt lại sinh hạ bởi
xác thịt. "Con chim xây tổ lại được ấp nở trong tổ mình" Đấng
dựng nên trăng sao lại sống dưới trăng sao. Đấng nặn nên trái
đất lại sống trên địa cầu. Đấng khôn ngoan khôn dò khôn thấu lại
là một em bé. Đấng làm đầy trời đất lại nằm trong máng cỏ. Đấng
điều khiển các tinh cầu, lại nằm bú sữa mẹ. Đấng là nguồn vui
thiên đàng lại oe oe khóc. Thiên Chúa trở thành tạo vật. Tạo hóa
trở thành thụ tạo. Đấng giàu có vô cùng trở thành nghèo khổ.
Thần Linh lại nhập thể, uy nghiêm khôn sánh trở thánh bề tôi, tự
do trở nên nô lệ. Vĩnh hằng sống trong thời gian, thí chủ trở
thành nô tỳ, sự thật trở thành bị cáo, thẩm phán bị xét xử, công
lý bị dây thừng trói buộc, thượng vị đội triều thiên gai nhọn.
Đấng Cứu Chuộc bị thương tích đầy mình, sự sống nằm chết cứng,
"Ngôi Lời muôn thuở trở nên kẻ câm nín". Ôi, lạ lùng trên hết
mọi lạ lùng, kỳ quan trên hết mọi kỳ quan, tổng hợp trên hết mọi
tổng hợp. Ba mầu nhiệm liên kết thành một: Thần Linh và nhân
loại, Trinh khiết và phong nhiêu, Đức tin và trái tim con người.
Và mặc dù chúng ta sẽ sống kiếp vĩnh hằng, nhưng vĩnh hằng sẽ
không dài đủ để chúng ta thấu hiểu màu nhiệm "một con trẻ lại là
Cha, một bà mẹ lại là bé thơ".</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Lần đầu tiên trong lịch sử cứu đôï, bản tính thần linh kết hợp
với bản tính nhân loại trong một ngôi vị mà các nhà thần học gọi
là Ngôi hiệp. Chính đời sống Thiên Chúa từ ngôi Cha truyền sang
ngôi Con từ đời đời gọi là sinh sản vĩnh hằng trong ba ngôi
Thiên Chúa, bây giờ giáng sinh xuống gian trần và mặc lấy một
bản tính nhân loại giống như chúng ta, trao cho nó tràn đầy thần
tính và khơi dậy nơi nhân loại tín thư vĩ đại của hy vọng: "Ta
đến để cho anh em được sống, và sống viên mãn". Không phải sống
đời thể lý vì nó sẽ chết, nhưng đời siêu nhiên, tồn tại mãi đến
muôn đời. Chúa Kitô không thuộc về phạm trù tốt lành các thầy
dạy khác của thế giới. Họ là những nhà mô phạm tốt, những hiền
nhân quân tử. Người tốt lành không giả dối. Nhưng nếu Chúa Giêsu
không đúng là những gì Ngài tự nhận về mình, tức là Con Thiên
Chúa Hằng Sống, là Ngôi Lời Nhập Thể, thì Ngài không phải là
người tốt mà là một kẻ ngây ngô, một tên nói dối, một thằng hợm
hĩnh và là kẻ lừa đảo gian manh đã từng sống trên hành tinh. Nếu
Ngài không phải là những gì như Ngài nói là Đấng Kitô, Con Đức
Chúa Trời, thì Ngài chính là tên phản kitô. Nếu Ngài chỉ là phàm
nhân, thì Ngài chẳng xứng đáng mang danh một nhân vật tốt lành .</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Nhưng thực tế, Ngài không đơn giản là một người. Ngài đòi hỏi
chúng ta phải thờ phượng hoặc khinh rẻ mình. Khinh rẻ vì chỉ là
phàm nhân, thờ phượng vì vừa là Thiên Chúa thật vừa là người
thật. Đó là sự lựa chọn Ngài đưa ra cho nhân loại. Chúng ta còn
phải xét đến những lời khẳng định Ngài nói về thần tính nữa, như
đòi hỏi mọi người phải yêu mến Ngài trên hết mọi sự, trên cả cha
mẹ ruột. Tin tưởng vào Ngài bất chấp thiệt hại, sẵn sàng hy sinh
tính mạng để liên kết với Ngài mà cứu lấy linh hồn mình, thì gọi
Ngài là phàm nhân tốt lành chưa đủ. Bởi bỏ qua các sự kiện kể
trên. Hơn nữa chẳng người nào tốt lành nếu không ăn ở khiêm tốn.
Khiêm tốn là nhận thật về mình, không thêm, không bớt. Một linh
hồn tự phụ quá đáng, coi mình lớn hơn tất cả thực tế thì không
thể là khiêm nhường được, nhưng là một người điên khoác lác và
phù phiếm. Làm thế nào một người tự nhận có đặc quyền tuyệt đối
trên lương tâm, trên lịch sử, trên xã hội và cả trên thế giới,
lại còn nói: "Hãy học cùng ta, vì ta hiền lành và khiêm nhường
trong lòng?" Nhưng nếu ngài là Thượng Đế làm người, thì ngôn ngữ
của Ngài là chính xác, và mọi sự Ngài nói đều dễ hiểu. Nếu Ngài
không phải như Ngài nói, thì một số lời tuyên bố của Ngài chỉ là
huênh hoang của một kẻ mang đầy ảo tưởng, không có giá trị nào,
nó tương tự như từ miệng ma quỷ, chứ không phải từ thần trí của
người tốt lành. Được ích chi nếu Ngài giảng dạy qui luật khổ
chế, từ bỏ mình, rồi lại khước từ sự thật mà xưng mình là Thiên
Chúa? Ngay cả sự hy sinh của Ngài trên thập giá sẽ trở nên biến
cố đáng nghi ngờ, một sự kiện đã rồi khi nó đi song hành với ảo
tưởng về sự vĩ đại và lừa lọc kinh khủng? Người ta sẽ chẳng thể
gọi Ngài là một thầy giáo chân thành, bởi lẽ một nhà mô phạm
thành thật chẳng khi nào cho phép thiên hạ lầm tưởng mình ngang
hàng với Thượng Đế, đồng bản tính với Đấng Tối Cao ở trên trời.
</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Sự lựa chọn cho con người là giả thuyết: Ngài là một kẻ lừa đảo
nguy hiểm hoặc những điều Ngài nói chân thật đến tận chữ đen, và
như vậy, thiên hạ phải tin theo. Thật dễ mà tin rằng Thiên Chúa
đã đạt tới mục tiêu trong những công việc kỳ lạ của Ngài, trong
lòng thương xót của Ngài đối với người con yêu dấu, sống trên
trái đất, hơn là nhắm mắt linh hồn lại không chấp nhận Chúa
Giêsu trong lịch sử, để rồi rơi vào thất vọng ê chề. Này chẳng
ai có thể tốt nếu bản chất hắn kiêu căng, tuyên bố những xác
nhận phạm thượng về mình. Khi ấy hắn thay vì trổi vượt hơn các
đồ đệ của mình, thiên hạ gọi là tín hữu, thì lại đứng xuống hàng
chót, xa hơn cả kẻ tồi tệ nhất trong những tín hữu. Cho nên,
người ta dễ hành xử khi tin vào những điều Ngài mạc khải về
mình, Ta là Thiên Chúa, hơn là giải nghĩa làm thế nào thế giới
lại có thể nhận một người khoác lác đáng khinh, một kẻ dối trá
vô độ làm mẫu mực ? Lý do duy nhất giải thích hành tung loài
người của Chúa Giêsu được bày tỏ nơi thần tính: Ngài là Đức Chúa
Trời. </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Chúng ta hoặc phải than phiền về sự điên rồ của Ngài hoặc thờ
lạy Ngài hết lòng mà thôi, chứ không thể đứng trên quan điểm
Ngài chỉ là một tôn sư dạy dỗ luân lý. Hay nói như tác giả
Chesterton: "Bạn hãy trông đợi hoa cỏ héo tàn, chim trời đang
bay rơi xuống chết tươi, khi một bác thợ mộc học nghề nhìn qua
vai, mỏi mệt lặng lẽ và bất cần nhất: Trước khi Abraham hiện hữu
đã có ta". Một sĩ quan La mã, kẻ đã từng trải sống chết nơi
chiến trận và có thần linh riêng của mình trong buổi chiều thứ 6
chịu nạn phải bật thốt lên câu trả lời cho chân lý dưới chân
thập giá: "Đúng thật, người này là con Thiên Chúa". Khi trí tuệ
và lương tâm ông không thể từ chối lời khẳng định.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Điều mà người ta gọi là Nhập Thể thì chỉ là sự kết hợp giữa hai
bản tính. Bản tính thần linh và bản tính nhân loại trong một
ngôi vị duy nhất. Ngôi vị này điều hành cả hai bản tính. Điều
này không khó hiểu lắm. Bởi lẽ con người là gì? Nó là một kiểu
mẫu (ở mức độ thấp nhất) hợp nhất giữa linh hồn và xác thịt, vật
chất và tinh thần, thân thể và tâm linh dưới sự chỉ huy duy nhất
của nhân cách. Chẳng có sự gì xa cách nhau bằng khả năng và
quyền lực của xác thịt, của tinh thần. Trước khi kết hợp nên
một, khó mà quan niệm chúng lại có thể hòa hợp với nhau, nhất là
ở giây phút linh hồn và thân xác làm thành một ngôi vị độc nhất.
Nhưng sự sự hòa hợp của hai yếu tố đó là kinh nghiệm chẳng ai
không biết tới. Tuy nhiên vì tính phổ thông của nó, chúng ta ít
thấy kinh nghiệm đó là một kỳ quan. </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Thiên Chúa Đấng làm cho thân xác, linh hồn kết hợp với nhau
thành một nhận vật mà không để mất sự khác biệt của chúng, lại
không thể kết hợp một linh hồn và xác với bản tính Thiên Chúa
của mình dưới ngôi vị thần linh sao? Đó là điều Thánh Gioan
viết: "Và Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể và cư ngụ giữa chúng
tôi" (Ga,14).</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Ngôi vị đảm nhận nhân tính không phải là ngôi vị thụ tạo như
chúng ta, ngôi vị ấy đã hiện hữu từ đời đời, gọi là Logos hay
Ngôi Lời. Nhưng bản tính nhân loại của Ngài lấy từ cung lòng Đức
Trinh Nữ Maria trong biến cố thụ thai lạ lùng do Chúa Thánh Thần
rợp bóng và Đức Maria thưa lên lời xin vâng, nói cách khác sự
đồng ý của một phụ nữ. Như vậy hai sự kiện pha trộn với nhau một
cách diệu kỳ. Đây là khởi đầu của nhân loại mới, lập nên từ chất
liệu của dòng giống hư hỏng. Khi Ngôi Lời mặc lấy xác phàm,
không có nghĩa là đã có sự gì đổi thay trong Ngôi Lời. Ngôi Hai
Thiên Chúa giáng thế nhưng chẳng bao giờ lìa bỏ Thiên Chúa Cha.
Điều xảy ra là Ngài đã đảm nhận một người phàm vào sự sống Thiên
Chúa chứ không phải biến đổi Thiên Chúa thành người phàm.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Dòng giống sa ngã vẫn liên tục trong con người Đức Kitô lấy từ
cung lòng Đức Trinh Nữ Maria, nhưng ngôi vị Đức Kitô, Logos,
hiện hữu từ muôn thuở bị gián đoạn trong biến cố "làm người". Do
đó Đức Kitô thật là Ađam mới, qua Ngài nhân loại mới khởi sự
hiện hữu. Lý thuyết của Ngài đặt trọng tâm vào ý tưởng nhân loại
cũ phải tháp nhập vào thân thể của Ngài kiểu cách bản tính Ngài
đã lấy từ cung lòng trinh nữ Maria được kết hiệp với Ngôi Hai
Thiên Chúa.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Thật khó cho chúng ta hiểu được đức khiêm tốn của Ngôi Hai xuống
thế làm người. Nó vô cùng cao cả và thẳm sâu. Xin tưởng tượng,
nếu như có thể được, một người nào đó lột bỏ thân xác, rồi nhập
vào một con rắn, bây giờ xác của ông ta là rắn, còn linh hồn là
"người" với đầy đủ tài năng của một đơn vị người. Ông ta sẽ hành
xử ra sao? Trí tuệ là của người, thân xác là con rắn với các
giới hạn của loài mãng xà. Lúc này lòng khiêm nhường lớn gấp
đôi. Thứ nhất chấp nhận các giới hạn của thân thể họ hàng nhà
rắn, nhưng đồng thời trí khôn lại trội vượt hơn nhiều. Làm thế
nào mấy cái răng nanh của loài rắn có thể diễn tả cân xứng những
tư tưởng mà nhà rắn không có? Thật khốn đốn cho anh ta muốn nói
một lời yêu thương với vợ con mà không được. Thứ hai, anh ta bắt
buộc phải sống với bạn bè loài rắn, bởi đã bằng lòng trút bỏ
vinh quang loài người mà mặc lấy thân xác loài mãng xà. Nhưng so
sánh như thế chẳng thấm thía vào đâu với Ngôi Hai Thiên Chúa
xuống thế làm người. Ngài đã trút bỏ vinh quang Thiên Chúa vô
biên để mặc lấy thân hình tội nhân, chấp nhập tất cả những giới
hạn của nhân loại, như đói khát, nhục nhã, nhọc nhằn, bách hại.
Chẳng phải là điều vặt vĩnh khi sự khôn ngoan vô biên của Thiên
Chúa tự kết án mình làm bạn với những ngư nhân ngu dốt ở bờ biển
hồ Giênêsaret. Tuy nhiên, lòng khiêm tốn này đã khởi sự từ
Nazareth khi ngài thụ thai trong lòng trinh nữ Maria, chỉ một
trong muôn vàn phản ứng chống lại tính kiêu căng của con người.
Vậy, nếu không có thánh giá, thì chẳng có hang đá, nếu không có
đanh sắt, cũng không có rơm khô sưởi ấm. Và nếu Ngài không dạy
dỗ bài học thập tự như cái giá phải trả để đền bù tội lỗi, thì
Ngài phải chuốc lấy nó. Thiên Chúa đã yêu thương nhân loại đến
nỗi đã không tha cho chính Con Một của mình. Đó là điều bí mật
gói trong chiếc tã ở hang chiên lừa.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Một trong các đường lối tạo nên kẻ thù và người chống đối, là
thách thức tinh thần của thế gian. Mỗi thời đại đều có một tinh
thần. Tinh thần đó như sau: Người ta chấp nhận giả định chung,
não trạng chung không cần xét đoán. Giả định hay não trạng chung
này điều khiển xã hội, điều khiển mỗi người. Nếu ai đó thách
thức các châm ngôn của nó. Lập tức gặp chống đối, loại trừ. Bởi
những châm ngôn đó nói lên một điều người ta trân trọng, yêu
mến. Thí dụ "bạn chỉ sống có một lần, không ăn cũng thiệt, không
chơi cũng hoài, chơi xuân kẻo hết xuân đi, cái già sồng sộc nó
thì theo sau. Bạn đã chiêm nghiệm điều đó chưa? Tính dục để làm
chi nếu không là để thỏa mãn thân xác?".</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Chúa chúng ta khi ra giảng đạo, lời đầu tiên của Ngài là tám mối
phúc thật. Ngài tóm lấy tám khẩu hiệu viển vông của thế giới: An
toàn, trả đũa, cười cợt, nổi tiếng, tính dục, cân đối, vũ lực và
êm ái dễ chịu, lật ngược lại mà thách thức thế gian. Với những
ai nói: "Bạn chẳng thể hạnh phúc nếu không gắng sức trở nên giàu
có". Chúa bảo: "Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó". Với
những ai nói: "Đừng để xổng, hắn phải trả đũa cho bằng được".
Chúa bảo: "Phúc cho những kẻ hiền lành". Với những ai tuyên bố:
"Cười đi, thiên hạ sẽ cười với anh". Chúa trả lời: "Phúc cho
những ai bây giờ khóc lóc". Với những ai chủ trương "thiên nhiên
ban tặng tính dục, tại sao người ta không sử dụng tự do? Kiềm
chế sẽ làm bạn điên khùng?" Chúa bảo: "Phúc cho những ai có lòng
thanh sạch". Với những kẻ tìm kiếm danh vọng, tiếng tăm Chúa
khuyên nhủ: "Phúc cho anh em, khi người ta bắt bớ, hành hạ anh
em, vu khống cho anh em đủ điều xấu xa vì danh thầy". Với những
ai tuyên bố: "Trong lúc yên ổn hãy chuẩn bị chiến tranh". Ngài
nói: "Phúc cho những tấm lòng xây dựng hòa bình".</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Những chất liệu sáo rỗng, rẻ tiền mà người ta đưa vào tiểu
thuyết, phim ảnh, Ngài kinh tởm. Ngài đề nghị đốt sạch những thứ
thiên hạ sùng bái, Ngài đề nghị chiến thắng bản năng dâm ô thay
vì để nó nô lệ con người, Ngài khuyến khích thuần hóa con vật
tinh tế đừng để nó lừa dối thiên hạ chạy theo hạnh phúc vật
chất, tiền tài danh vọng những thứ lạ lẫm với linh hồn. Tất cả
những hạnh phúc giả hiệu đặt kỳ vọng vào cái tôi ích kỉ, vào
khẳng định kiêu căng, vào buông thả hoang đàng, vào vui thú xác
thịt, vào ăn uống, làm tình, vì ngày mai bạn sẽ chết. Ngài đều
khinh vì nó làm cho tâm trí con người hỗn loạn, lo lắng, bất
hạnh, hy vọng hão.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Then chốt của bài giảng trên núi nằm ở hai lối diễn tả: Một là:
"Các ngươi đã từng nghe". Lời thứ hai ngắn hơn "Nhưng" mạnh mẽ
và đầy uy quyền: "Các người từng nghe lề luật dạy ….Nhưng Ta bảo
các ngươi". "Ta" ở trên lề luật, "Ta" vươn tới từng hàng nhiều
thế kỷ trước lúc con người biết "nghe" và mãi mãi về sau. Khi
con người sẽ còn nghe từ các nhà cải cách luân lý, tính cả các
luật lệ, các lệnh truyền, các giới răn, các pháp lệnh, các tục
lệ, truyền thống, bản năng, nửa lẽ phải, nửa thói quen, nửa lý
tưởng. Khi Ngài nói: "Các ngươi từng nghe", Ngài gồm luôn lề
luật Môisen, Phật Thích Ca với bát quái của ông. Khổng Tử với
học thuyết quân thần, Aristote với hạnh phúc tự nhiên. Đường
thênh thang của đạo Hin Đu, và hết thảy các nhóm nhân bản ngày
nay. Nhóm triết gia khai thác vài tư tưởng cũ rích trong ngôn
ngữ riêng của họ, rồi gọi là lối sống văn minh tân thời để lòe
thiên hạ. Về tất cả mớ bòng bong các thỏa hiệp này, Ngài nói:
"Các ngươi đã từng nghe".</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Các ngươi đã từng nghe dạy rằng: "Không được ngoại tình." Môi
Sen nói thế, các bộ lạc man rợ đề nghị như vậy, các người trong
xã hội mông muội tôn trọng điều dạy đó. Rồi đến lối diễn tả
"nhưng" dễ sợ và uy quyền: Nhưng ta bảo các ngươi: "Hễ ai nhìn
phụ nữ với ý nghĩ phạm tội với cô ta, thì đã ngoại tình ở trong
lòng rồi". Chúa Giêsu đi vào tận tâm hồn và chận lại ngay từ tư
tưởng, gán cho ước muốn phạm tội là tội lỗi rồi, không cần đợi
tới hành động, thực hiện một điều sai trái, thì dự tính trong
đầu óc về điều đó đã là sai trái rồi. Cho nên Ngài tuyên bố:
"Ích chi đôi bàn tay thanh sạch khi vừa ăn cắp? Ích chi thân thể
thơm tho khi vừa vấy nhơ với người khác?" Ngài không đợi cho cây
xấu sinh hoa kết quả xấu, Ngài ngăn chặn ngay cả việc gieo hạt
xấu. Đừng đợi cho đến khi tội lỗi thầm kín lộ ra như các bệnh
thần kinh, thác loạn, dồn ép, tâm lý. Hãy tẩy sạch chúng từ gốc
rễ. Hãy thống hối, ăn năn, gội rửa. Điều ác mà đợi thống kê,
nhốt tù, xiềng xích thì đã quá muộn .</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Chúa Kitô xác nhận rằng, khi người đàn ông kết hôn với một người
phụ nữ, hắn kết hôn với cô ta cả tâm hồn lẫn xác thịt, hắn làm
bạn với một người trọn vẹn. Nếu hắn nhàm chán thân xác cô ta,
hắn không thể ném cái thân xác ấy đi để đổi lấy người khác. Bởi
lẽ hắn còn chịu trách nhiệm về linh hồn cô ta. Cho nên Ngài đã
nói như sấm sét: "Các người đã từng nghe". Trong lời ấy Ngài tóm
lược tất cả các khẩu hiệu khó hiểu của các nền văn minh thối
nát. Các người đã từng mang nhau ra tòa ly dị, vì Thiên Chúa
chẳng ép uổng ai sống không hạnh phúc. Rồi đến từ "nhưng". Nhưng
ta bảo thật các ngươi: "Người đàn ông nào bỏ vợ thì đẩy cô ta
đến chỗ ngoại tình, và ai cưới người đàn bà bị ruồng bỏ, thì
cũng phạm tội ngoại tình nữa" (Mt5,32).</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Nếu thân xác không còn, chẳng quan trọng chi. Điều quan trọng là
linh hồn còn đó: Linh hồn đáng giá hơn thân xác bội phần, đáng
giá hơn cả những khoái lạc mà thân xác có khả năng cống hiến,
đáng giá hơn vũ trụ càn khôn. Ngài nhất quyết giữ gìn đàn ông
đàn bà tinh tuyền, không phải ô nhiễm vệ sinh thường thức, nhưng
khỏi khát khao bất chính thân thể của nhau. Thử tưởng tượng xem
còn gì ghê gớm hơn phản bội nhau tàn ác. Vì vậy Ngài tuyên bố:
"Điều chi Thiên Chúa kết hợp loài người không được phân rẽ"
(Mc10,3) không quyền bính nào, thẩm phán, quốc gia hay quốc tế
nào! </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Vì vậy bài giảng trên núi, quả mâu thuẫn với mọi giá trị mà thế
giới ấp ủ. Thế giới sẽ đóng đinh những kẻ nào nói ngược với nó.
Bởi lẽ Đức Kitô đã rao giảng bát phúc. Ngài phải chết vì bát
phúc. Ngọn đồi Calvario là cái giá mà Ngài trả cho bài giảng của
mình. chỉ những người tầm thường mới được sống, người xuất chúng
sớm muộn sẽ bị loại trừ . Những ai gọi đen là đen và trắng là
trắng sẽ bị thiên hạ kết tội bất khoan dung. Chỉ những kẻ nói
"xám" mới để cho được sống. </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Bát phúc không đứng một mình, chúng không phải là các lý tưởng
người ta ấp ủ. Chúng là những thực tại, và sự kiện, không tách
rời khỏi Thánh Giá trên ngọn đồi Canvê. Điều Ngài dạy trong bát
phúc không phải lý thuyết, nó là tự hủy diệt mình, tự đóng đinh
mình vào thập tự. Yêu kẻ ghét mình, móc mắt quăng đi, chặt bỏ
chân tay để ngăn cản phạm tội, tâm hồn trong trắng khi các dục
vọng kêu gào thoả mãn, tha thứ cho kẻ giết hại mình, lấy tốt
thắng sự dữ, chúc phúc cho những ai nguyền rủa mình, câm miệng
đòi hỏi tự do cho đến khi có công lý. Sự thật và tình yêu Chúa
trong lòng mọi người là điều kiện cốt yếu của tự do, sống giữa
thế gian bẩn thỉu mà không lây nhiễm, từ chối bản thân những vui
thỏa chính đáng để gội rửa ích kỉ, tất cả những nội dung đó là
kết án con người cũ trong chúng ta xuống mồ.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Những ai lắng nghe Ngài rao giảng tám mối phúc thật được mời gọi
căng mình trên cây gỗ, để tìm ra hạnh phúc trên bình diện cao
hơn, bằng cái chết cho trật tự thấp hèn, khinh chê mọi sự mà thế
gian tôn thờ, trân trọng những giá trị mà thiên hạ coi là viển
vông. Thiên đàng là hạnh phúc, nhưng có hai thiên đàng một lúc
thì con người làm sao trả giá cho nổi? Một thiên đàng trần thế
và một trên trời chắc chắn không ai kham nổi. Vì vậy Chúa chúng
ta lập tức thêm bốn điều khốn: Khốn cho các ngươi là những kẻ
giàu có, các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi. Khốn cho các
ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các người sẽ
phải đói khát. Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang
được vui cười, vì các ngươi sẽ phải sầu khổ khóc lóc. Khốn cho
các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã
từng được cha ông họ đối xử như thế (Lc 6, 24-26).</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Hành hình thập giá không còn xa lắm khi Tôn sư tuyên bố những
cái khốn cho những kẻ giàu sang, no thỏa, vui cười và quyền thế
tiếng tăm. Sự thật không chỉ ở trong bài giảng trên núi. Nó nổi
bật trong những ai dám sống nội dung bát phúc, từ đây cho đến
ngọn đồi Canvê. Bốn cái khốn sẽ chỉ là kết án luân lý suông, nếu
Ngài không chết nhục nhã trong mâu thuẫn với bốn cái "khốn" đó:
nghèo nàn, cô đơn, đau đớn và bị chế giễu, khinh bỉ. Ở núi bát
phúc Ngài mời gọi nhân loại xả thân trên thập giá, từ bỏ mình. Ở
đỉnh đồi Canvê, chính Ngài đã ẵm lấy thập giá đó. Cái bóng của
cây thập giá có lẽ đã không đổ trên núi sọ ba năm sau, nếu nó đã
không có mặt ở trong trái tim Ngài, hôm Ngài dạy người ta làm
thế nào để được hạnh phúc. </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Giống như tính dục là một bản năng Chúa ban để kéo dài nòi giống
loài người, thì khao khát tài sản là để kéo dài đời sống cá
nhân. Nó là quyền tự nhiên và chính đáng được luật thiên nhiên
bảo đảm. Một người được tự do bên trong khi hắn nói được linh
hồn là của mình. Tự do nội tại đặt nền tảng trên sự kiện "tôi
là". Tự do ngoại tại đặt căn bản trên sự kiện "tôi có". Nhưng
thái quá về thể xác sinh ra dâm ô, dâm ô là tính dục sai chỗ.
Bẩn thỉu là vật chất ở không đúng chỗ của nó. Cũng vậy ước ao
tài sản quá mức sẽ nẩy sinh tính nết tham lam, hà tiện, bóc lột
và xâm lược tư bản.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Để sửa chữa, đền bù, gội rửa những quá đáng về keo kiệt, ích kỷ
thì Chúa Giêsu đã ban bài học hy sinh hãm mình. Cơ hội là một
thanh niên hỏi Ngài về đàng lành. Ngài có dịp may được lợi hắn
như một bông hoa đẹp, nhưng khi Ngài nói tới thánh giá, Ngài
đành để mất anh ta. Người thanh niên muốn trả một cái giá, nhưng
Ngài đề nghị giá quá đắt đỏ, anh ta không muốn trả. Người thanh
niên là một viên chức tôn giáo giàu có. Khát vọng của anh ta
được liên kết với Chúa, tỏ lộ trong sự kiện anh ta chạy đến quì
xuống trước mặt Chúa và xét về mặt ngay thẳng, không ai dám nghi
ngờ về người thanh niên này. Câu hỏi anh đặt ra cho Chúa Giêsu
là "Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sống đời đời ?"
(Mt 19,16)". "Tại sao anh gọi tôi là nhân lành? Chẳng ai là nhân
lành, trừ một mình Thiên Chúa" (Mc10,18). </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Chúa chúng ta không phản đối anh ta gọi Ngài là nhân lành, nhưng
chưa đủ. Nhân lành mà thôi vẫn chưa đủ, vì chỉ là một người
phàm, một tôn sư tốt. Người thanh niên coi Chúa trong địa vị ấy
thật chưa xứng đáng. Anh ta công nhận sự tốt lành của Chúa,
nhưng vẫn trên bình diện loài người. Nếu Ngài chỉ là phàm nhân,
thì danh hiệu tốt lành từ bản tính chưa thuộc về Ngài. Cho nên
trong lời vặn lại của Chúa Giêsu chứa đựng một sự thật giấu ẩn.
Sự thật đó là thần tính của Ngài. Duy một mình Thiên Chúa tốt
lành mà thôi. Do đó Ngài mời gọi người thanh niên thờ lạy thần
tính mà kêu to lên rằng: "Ngài là Đức Kitô, Con Thiên Chúa Hằng
Sống." </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Khi người thanh niên hỏi: "Tôi còn thiếu gì nữa không?"
(Mt19,20) Chúa Giêsu trả lời: "Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì
hãy trở về nhà bán hết tài sản của anh và đem phân phát cho
người nghèo, anh sẽ được kho tàng trên trời. Rồi hãy đến mà theo
tôi" (Mt 19, 21). Để hiểu rõ câu này, chúng ta đừng có ý tưởng
Chúa kết án sự giàu sang ở đây. Nhưng có một trật tự hoàn hảo
hơn trật tự nhân loại. Như một người có thể rời bỏ gia đình, vợ
con, thì cũng có thể từ bỏ của cải, tài sản. Thánh giá đòi hỏi
người ta khước từ những thứ mình yêu quí nhất, và bằng lòng với
kho tàng ở trong tay Thiên Chúa. Tuy nhiên, chúng ta có thể đặt
câu hỏi: Tại sao Chúa Giêsu yêu cầu hy sinh đến như vậy? Xét
xem, Chúa cho phép ông Giakêu, người thu thuế, giữ lại nửa phần
gia tài của mình, ông Giuse thành Arimathia, sau khi Chúa chịu
đóng đinh chết trên thập giá, lại được mô tả là người giàu có.
Tài sản của vợ chồng Anania là của riêng họ. Chúa từng ăn uống,
nghỉ ngơi trong những gia đình, bạn bè giàu sang của mình ở
Betania. Nhưng ở đây vấn đề là câu hỏi của người thanh niên ước
ao nên trọn lành còn thiếu thốn gì nữa trong nếp sống đạo đức
của mình? Chúa đề nghị đường lối bình thường của ơn cứu độ,
người thanh niên không thỏa mãn. Anh ta tìm hiểu điều chi hoàn
hảo hơn. Nhưng khi Ngài đưa ra con đường từ bỏ người thanh niên
không chấp nhận, quay gót bước đi. Phúc âm kể: "Nghe lời đó,
người thanh niên buồn rầu bỏ đi, vì anh có nhiều của cải"
(Mt19,22). Như vậy có nhiều mức độ yêu mến Chúa. Một mức độ bình
thường, mức độ khác anh hùng. Mức độ anh hùng là từ bỏ, vác
thánh giá khó nghèo tự nguyện. Lòng nhiệt thành của tuổi trẻ tan
biến, anh ta giữ lại tài sản của mình, nhưng anh đã để mất Đấng
ban cho anh thánh giá quí báu. Mặc dầu anh được giữ của cải,
nhưng Phúc âm nói: anh bỏ đi "rầu rĩ". Khi người thanh niên đi
rồi, Chúa Giêsu quay lại nói với các tông đồ: "Những người giàu
có vào nước Đức Chúa Trời khó biết bao. Con lạc đà chui qua lỗ
kim còn dễ hơn người giàu vào nước trời" (Mt10,23-25).</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Thói thường nhiều cá nhân chối bỏ trách nhiệm về những lỗi lầm
và thất bại của tập thể. Thí dụ, khi xảy ra thối nát trong chính
phủ, cá nhân thường từ chối không dính líu, họ càng vô tội, càng
khước từ dính dáng tới những ai phạm tội. Họ tự nhận trách nhiệm
của mình tỷ lệ thuận với tình trạng vô tội của họ. Lý lẽ họ đưa
ra là mình không có trách nhiệm về những lầm lỗi của xã hội, do
đó mình không dính líu vào sự việc.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Nhưng thực tế, điều ngược lại mới đúng nơi những linh hồn vô tội
nhất. Càng vô tội, lại càng cảm nghiệm trách nhiệm và liên đới
với tội lỗi. Người tốt lành thực sự cảm thấy rằng sở dĩ thực
trạng thế giới như hiện thời, là vì phần nào đó mình không tốt
hơn nữa. Càng nhạy cảm về luân lý, càng thương hại những ai đang
kiệt quệ vì gánh nặng luân lý: Điều này có khả năng trở nên sâu
sắc đến độ cơn đau khổ hấp hối của kẻ khác được đương sự nhận
lấy như của mình. Trên thế giới chỉ những người nào có đôi mắt
sáng để nhìn, mới muốn thành cây gậy cho kẻ mù lòa, chỉ những
người có sức khỏe dồi dào mới tự nguyện săn sóc bệnh nhân.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Những chi đúng đối với đau đớn phần xác, thì cũng đúng đối với
những sự dữ tinh thần. Bởi lẽ, Đức Kitô vô tội cho nên Ngài đã
gánh lấy những hư hỏng của thế giới. Giống như người càng mạnh
khoẻ, càng có khả năng phục vụ các bệnh nhân. Cũng vậy càng
thanh sạch, càng có thể đền thay cho lỗi lầm của kẻ khác. Nếu có
thể được, người yêu mến sẽ lãnh lấy những đau khổ của kẻ mình
yêu. Thiên Chúa làm người đã bằng lòng gánh lấy các hư hỏng của
thế gian như thể của chính mình. Vì là người, Ngài chia sẻ lỗi
lầm nhân loại, vì là Thiên Chúa Ngài cứu chuộc thế gian khỏi tội
lỗi . </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Núi Canvê không gián đoạn nếp sinh hoạt của Ngài. Nó cũng không
phá hỏng quá sớm, quá thảm hại chương trình của Ngài. Không âm
mưu đen tối nào có thể áp đặt lên Ngài. Ngài hiến mạng sống mình
là để làm mẫu mực cho bậc tử đạo vì lẽ công chính, cho các tổ
phụ vì lẽ hiển vinh. Ngài đã từng tuyên bố mục tiêu của đời mình
là để trả giá cho nhân loại thoát vòng nô lệ tội lỗi. Đây là
"bổn phận" siêu nhiên mà Ngài đã nhận lấy khi xuống thế làm
người. Cái chết của ngài là để đền bù tội lỗi người thế gian.
Nếu như nhân loại chỉ sai lầm mà thôi, thì Ngài chỉ cần làm một
tôn sư dạy dỗ cho người ta khỏi sai lầm, Ngài có thể an hưởng
tiện nghi của thế gian và chết thoải mái trên giường êm ái,
chẳng việc chi phải vất vả, tủi nhục, chống đối với biết bao kẻ
thù tầm cỡ. Nhưng Ngài chẳng để lại thông điệp nào cho nhân loại
ngoài vài điều răn cho thiên hạ tuân giữ. Nhưng nếu nhân loại
đang mắc vòng tội lỗi, thì Ngài phải là Đấng Cứu Chuộc của họ vì
sứ điệp của Ngài là: "Hãy theo tôi", để có thể chia sẻ thành quả
của công trình cứu độ.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Tuy nhiên, không phải mọi người đều nghe theo Chúa Kitô, ánh
sáng thế gian. Cũng không phải vì thế mà nói rằng nhân loại khởi
sự ghét ánh sáng một cách ý thức. Bởi vì sự thật là nhu cầu tự
nhiên của trí tuệ, cũng như ánh sáng là cần thiết cho đôi mắt.
Nhưng khi ánh sáng chiếu soi các tâm hồn và tỏ lộ tội lỗi của họ
ra. Họ cảm thấy tức tối và ghét bỏ ánh sáng. Đúng như các tay ăn
trộm gớm ghét tia sáng của những chiếc đèn soi cảnh sát nhắm vào
họ. Chân lý mà Ngài mang đến thế gian, đáng thế gian yêu mến nó,
về phe với nó, bởi vì thế gian đã được dựng nên để tiếp nhận sự
thật. Nhưng thế gian đã làm hư hỏng bản tính bằng tội lỗi và các
hành vi xấu xa của mình. Sự thật của Chúa Giêsu khuấy động lương
tâm họ, cho nên họ chê ghét nó. Tất cả con người họ cùng với các
thói xấu, đam mê nhục dục, bản chất bất lương đồng loạt nổi dạy
chống đối ánh sáng của Chúa, bất chấp lương tâm cắn rứt. Giống
như nhiều người mang những căn bệnh nặng, nhưng từ chối đi nhờ
thầy thuốc khám, vì sợ họ nói cho hay những điều mình chẳng muốn
nghe. Ngài nói với họ mình không phải là tôn sư đi kiếm tìm vài
học trò để nhờ những người này đọc lại các giáo huấn của mình
như vẹt. Ngài là Đấng Cứu Thế trước là thức tỉnh lương tâm thế
gian, sau là thanh tẩy các lương tâm ấy. Ánh sáng không phải là
một mối lợi, trừ phi đối với những ai có thiện tâm. Ngài nói sự
có mặt của Ngài là mối đe dọa cho những kẻ yêu mến xác thịt,
tiền bạc và dâm ô. Khi một người đã sống nhiều năm trong một cái
hang tăm tối, mắt họ bị hư, không chịu nổi ánh sáng mặt trời
nữa. Cũng thế, một người sống dưới sự kìm kẹp của tội lỗi lâu
ngày, sẽ từ chối hối cải và chống lại lòng thương xót của Thiên
Chúa. Chẳng ai có khả năng bắt mặt trời thôi chiếu sáng, nhưng
bất cứ ai cũng có thể kéo cái liếp xuống, che khuất mặt trời đi.
</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Đức Kitô tuyên bố không ai có thể thờ ơ đối với Ngài. Vì mỗi
người đều có một chút tiếp xúc cùng Ngài. Sau đó thì được tự do
chấp nhận hay khước từ ảnh hưởng của Ngài. Nhưng sự khước từ đó
sẽ trở nên viên đá vấp phạm, nghiền nát họ. Khi đã gặp Ngài
không ai còn có thể giữ thái độ lãnh đạm. Ngài sẽ mãi mãi là một
nhân tố trong hạnh kiểm của các thính giả đã nghe Ngài rao
giảng. Chẳng thầy giáo nào trên thế giới dám tuyên bố, kẻ nào
chối từ mình, sẽ làm cho trái tim thành chai đá và trở nên con
người xấu xa hơn. Nhưng ở đây có một Tôn sư chỉ trong ba ngày
nữa sẽ chết, mà dám nói những ai khước từ mình thì tâm hồn sẽ
thối nát. Tin Ngài hoặc không tin sẽ thay đổi từ gốc rễ, không
còn như trước nữa. Ngài đã cương quyết tuyên bố: Hoặc Ngài là
viên đá, trên nó người ta xây dựng nền tảng cho cuộc sống mình,
hoặc là đá vấp ngã, nghiền nát họ ra từng mảnh. Người ta chẳng
thể vô tình đi ngang qua Ngài. Bởi Ngài luôn luôn hiện diện trên
thế giới. Không linh hồn nào tránh nổi cái nhìn của Ngài. Một số
linh hồn tưởng rằng họ cho phép Ngài đi qua mà không cần tiếp
rước Ngài. Ngài gọi thái độ đó là sao lãng tai hại. Một cuộc
nghiền nát chí tử không những dành cho những ai chống đối Ngài
ra mặt, nhưng mà còn cho những kẻ thờ ơ, thiếu sót nữa. Chẳng
nhà mô phạm nào trên thế giới dám công bố, những ai nghe mình
rao giảng mà lại từ chối không tin theo sẽ gánh lấy án phạt đời
đời. Ngay cả những ai tin rằng Đức Kitô chỉ là một tôn sư đơn
thuần cũng sẽ tan tành dưới sức nặng của cuộc luận án vì từ chối
sứ điệp của Ngài. Nhưng trước tiên, nếu hiểu chức vụ của Ngài là
cứu thế, thì mọi sự thật rõ ràng cho nhân loại. Loại bỏ đấng cứu
thế đồng nghĩa với loại bỏ ơn cứu độ, như Ngài đã nói trong nhà
ông Giakêu. Những người chất vấn thẩm quyền của Chúa Giêsu không
nghi ngờ chi về ý nghĩa tôn giáo của toàn bộ dụ ngôn. Nó có liên
quan đến họ. Động lực của họ như thế đã được phơi bày và họ càng
trở nên tức giận. Khi cái ác được đưa ra ánh sáng, thì không
phải lúc nào cũng có hiệu qủa ăn năn. Ngược lại, thường khi là
tồi tệ hơn. Người tốt khi biết lỗi mình thì thống hối, kẻ dữ lại
trở nên hung hãn hơn lúc tội của họ chưa được khám phá. Triết
gia Platon chủ trương rằng dốt nát không phải là nguyên nhân của
sự dữ. Giáo dục cũng không phải là phương thuốc tẩy trừ cái ác.
Người ta có cả hai, trí khôn và lòng muốn, kiến thức và ý định.
Chân lý có thể được nhận biết rồi ghét bỏ cũng như Sự Thiện được
khám phá và đóng đinh.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Thần khí của Đức Kitô trong linh hồn người ta tố giác họ về tội
lỗi. Xét cho cùng, chẳng có chi ngoài Thần khí có khả năng
thuyết phục nhân loại về tội lỗi. Người ta nói là lương tâm,
nhưng lương tâm không làm được, bởi lẽ đôi khi nó bị ru ngủ. Ý
kiến công cộng cũng không làm được, vì nhiều khi nó biện minh
cho tội lỗi, hoặc hợp pháp hóa tội lỗi. Và tội nặng nề nhất mà
Thần khí tố giác là không tin vào Đức Kitô chứ không phải hà
tiện, dâm dục, vô độ. Chính Thần khí Thiên Chúa làm cho tội nhân
không những ý thức về tình trạng linh hồn mình, mà còn thúc đẩy
người ta ăn năn, thống hối khi họ bằng lòng chấp nhận ơn cứu độ.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Khước từ ơn Chúa cứu chuộc là ưa chuộng điều dữ hơn sự lành. Cây
thập tự là bản lý lịch, mỗi người đọc ở đấy câu truyện đời mình,
hoặc là được cứu độ, hoặc là bị trầm luân đời đời. Nếu như tội
chỉ được nhìn theo quan điểm tâm lý học, thì thánh giá và cái
chết của Chúa Kitô là sự phóng đại quá đáng. Nếu cát trong sa
mạc, máu súc vật hoặc nước lã có thể tẩy sạch tội lỗi, cần gì
phải sử dụng thập giá? Nhưng khi tội lỗi đặt dưới nhãn quan của
sự Thánh Thiện vô biên, thì thập giá của Chúa Kitô là phương
tiện duy nhất đền bù đầy đủ và thỏa đáng vở kịch kinh khủng của
tội lỗi nhân loại.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Một khi con người đã nhận biết tình trạng tội lỗi của linh hồn
mình, nó cũng thấy rõ mình không thể tự thân đạt đến nền công
chính. Thì nó phải công nhận Chúa Kitô đã chịu khổ hình và chết
để cứu con người khỏi tội lỗi. Tiếp theo nó phải chấp nhận Chúa
Giêsu Kitô chính là sự công chính của mỗi người trên thế gian.
Nhưng công nhận Chúa Kitô như nền công chính của mình và tin
theo Ngài, không bảo đảm cho chúng ta tránh khỏi thử thách và
đau khổ. Chúa Cứu Thế chẳng bao giờ tuyên bố với các tông đồ
"Hãy trở nên hoàn thiện, rồi các con không phải đau khổ". Nhưng
trong thực tế Ngài nói: "Trong thế gian này các con sẽ phải chịu
đựng nhiều gian nan". Ngài cũng nói với họ: Đừng sợ những kẻ chỉ
giết được thân xác nhưng tốt hơn hãy sợ Đấng có thể giết được
linh hồn. Ngài nói với các tông đồ đời sống của Ngài là mẫu mực
cho mọi kẻ theo mình và họ được khuyến khích đối phó với các khó
khăn tệ hại nhất của thế gian với lòng can đảm và thanh thản.
Ngài tuyên bố các khổ đau chỉ là cái bóng "bàn tay yêu thương
của Ngài". Ngài không phải là phù thuỷ ban bùa phép chống lại
các khó khăn. Ngược lại Ngài là một vị chỉ huy, xông ra mặt
trận, để khuyến khích nhân loại biến đổi những đớn đau ghê gớm
của cuộc đời thành mối lợi tuyệt vời cho cuộc sống thiêng liêng.
Như thi sĩ Edward Shillito đã viết: "Chẳng ngẫu tượng giả hiệu
nào, được miễn nhiễm khỏi đớn đau và buồn rầu thế gian, lại có
khả năng an ủi chúng ta ngày nay". </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: center; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="center">
<b>Chúa Giêsu của các thương tích</b></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Nếu chưa bao giờ tìm kiếm, hôm nay chúng con tìm kiếm Chúa đây.<br>
Đôi mắt Ngài rực cháy trong tối tăm, là ngôi sao duy nhất của
chúng con.<br>
Nhất định chúng con phải xem thấy Ngài đội triều thiên gai nhọn.<br>
Chúng con lựa chọn Ngài, ôi Chúa Giêsu thương tích. <br>
Bầu trời làm chúng con khiếp sợ. Nó quá lặng yên.<br>
Trên khắp dương gian này, chúng con chẳng có chỗ nghỉ ngơi.<br>
Các vết thương chúng con đang đau đớn, tìm đâu được thuốc chữa?<br>
Ôi Chúa Giêsu, thương tích của Ngài là hy vọng.<br>
Nếu như các cửa đều đóng cả, Ngài lại tới gần.<br>
Chỉ một mình Ngài tỏ lộ hai bàn tay, cạnh sườn. <br>
Và ngày nay chúng con biết rõ các vết thương đó, chúng con không
còn phải khiếp sợ.<br>
Xin tỏ ra cho chúng con các thương tích của Ngài, và chúng con
hiểu được mật hiệu: <br>
Các thần khác uy dũng còn Ngài yếu ớt<br>
Họ cưỡi ngựa tiến bước, còn Ngài lao đao vấp ngã bước lên ngôi.<br>
Nhưng chỉ thương tích Chúa nói được với khổ đau của chúng con.<br>
Rằng chẳng thần thánh nào có vết thương ngoại trừ Ngài. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: right; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="right">
<i>Edward Shillito (1872-1948)</i>.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Danh hiệu: "Con Người" của Chúa Kitô có nghĩa Ngài là đại diện
không những của dân tộc Do thái, dân tộc Samaria, nhưng của toàn
thể nhân loại. Như chúng tôi nói ở trên. Quan hệ của Ngài với
nhân loại giống như của Ađam. Ngài đã xuống thế làm người và
mang lấy thân phận, bản tính nhân loại. Ngài đi vào thực tại
loài người như chúng ta. Ngài đã đảm nhận bản thể nhân loại vào
ngôi vị thần linh của mình. Triết gia Aristote nói: "Giả như
thần linh mà yêu thích dính líu vào công việc của nhân loại, thì
điều họ lấy làm thỏa mãn nhất, là nhìn thấy những gì giống hệt
bản tính của họ". Như vậy hàm ý các thần thánh vẫn có chút kỳ
thị, chê ghét loài người trong thâm tâm họ. Do đó dân tộc Hy lạp
chủ trương rằng các biểu hiện của thần linh mang tính: quá cao
sang để mà tôn thờ, quá siêu việt để mà yêu mến. Nhưng con người
Đức Kitô không phải vậy, mà là ngược lại: "Ngài đến nhà của
Ngài" Đấng thánh hóa phải nên một với các kẻ được thánh hóa. Sự
cách biệt về tính chất giữa hai bên đòi hỏi phải hợp nhất trong
một khía cạnh nào đó. </p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Phải có điểm tiếp xúc chung của bên này với bên kia và ngược
lại. Người giống anh em mình sẽ có quyền lực trên anh em hơn là
không giống. Do đó, để có thể trở nên Đấng thánh hóa, Chúa chúng
ta đã là một người giống anh em nhân loại của mình. Ngài sẽ biến
đổi họ thành thánh thiện bằng cách thiết lập trong đời mình cái
mẫu hình lý tưởng mà loài người đã làm mất, rồi in nó vào tâm
trí họ.</font></td>
</tr>
<tr>
<td style="border-left-style: solid; border-left-width: 1px; border-right-style: solid; border-right-width: 1px; border-bottom-style: solid; border-bottom-width: 1px">
<p align="center">
<img border="0" src="../Suyniemmoingay/Nam2011/thanggieng/02.gif" align="right" width="200" height="200"></p>
<p align="center">
</p>
<p align="center">
<br>
</p> </td>
</tr>
</table>
</body>
</html>