File "20tinhthanhuu.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/THDC-Hai- Ngoai/Bai Viet ve Anh/20tinhthanhuu.htm
File size: 161.79 KiB (165674 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>XIN GỌI TÊN ANH LẦN CUỐI</title>
<style>
<!--
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
-->
</style>
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../_themes/glacier/glac1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="glacier 1011, default">
</head><body>
<table border="0" width="550" cellspacing="5" cellpadding="10" style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt"><tr>
	<td style="border: 2px solid #FF0000; text-decoration:none; font-family:Tahoma; font-size:12pt">
	<p align="center"><font color="#0000FF">
	<span style="font-family: Arial,sans-serif; font-weight: 700">20 NĂM MỘT 
	TÌNH THÂN HỮU</span></font></td></tr><tr>
		<td style="border: 2px solid #FF0000; text-decoration:none; font-family:Tahoma; font-size:12pt">
		<p class="MsoNormal" style="text-align: right; line-height: normal">
		<span style="font-family: Arial,sans-serif"><i>
		<font size="2" color="#CC0000">Phạm Tiến<br>
		normalpt@yahoo.com</font></i><br>
&nbsp;</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal">
		<span style="font-family: Arial,sans-serif">Cuộc đời như bóng câu qua 
		cửa, mới đó mà đã 20 năm rồi sao? Ai sống trong giòng sông tình nghĩa 
		này thì chỉ nhớ hiện tại, ai thoát ly ra khỏi và đi một ngả khác thì 
		chẳng có cảm giác gì. Mốc thời gian 20 năm dừng lại một ngày, để tìm từ 
		ngữ mà diễn tả, cho đồng cảm rung nhịp mến thương lưu luyến , cho dậy 
		sóng và trào dâng sức sống hiệp đoàn. Người đời có câu: một ngày nên 
		nghĩa chuyến đò nên quen.Quả không sai cũng không cần luận nghĩa. Ái hữu 
		một đoàn thể, hoặc một trường học đậm đà tình thân nối kết, cựu tu sinh 
		tu sĩ một dòng tu còn hơn thế nữa, các khối tình thân hữu này đậm sâu và 
		thắm thiết. Tâm tình chúng ta cũng không kém như vậy,dù tuổi tác chênh 
		lệch như cấp bố với con , dù năm tu không cùng thời khác đội. Nhưng niềm 
		tự hào Đồng Công là động lực nối kết thân tình. Tình cờ gặp nhau mà nghe 
		nói là cựu Đồng Công, tự nhiên chúng ta quí mến nhau ngay. Những tên 
		tuổi các anh cùng lớp, những anh phụ trách được nói tới. Chuỗi kỷ niệm 
		hiện về dào dạt, em biết anh này, em không biết anh kia, mỗi anh em biết 
		là một mắt xích cứ nối dài nối dài, nối cho đến khi em chưa biết anh bao 
		giờ, nhưng nay gặp anh thì em và anh là hai mắt xích tự nối tình thân . 
		Ai đã làm công việc ấy? Có phải tình người một cách tự nhiên? Thì đúng 
		rồi, niềm tự hào đồng môn phát xuất tình cảm, và trên hết là cách xưng 
		hô anh em. Nếu nhắm mắt nghe hai người nói chuyện, có lẽ là hai em nhỏ 
		hoặc hai người tầm tuổi, chuyện của họ ngọt ngào tình huynh đệ, mà lạ kỳ 
		chẳng có ai trên ai dưới, bình đẳng hòan tòan. Nhưng mở mắt ra phải giật 
		mình, dù là người đồng môn cũng vẫn ngạc nhiên đến thú vị, khi thấy hình 
		ảnh hai bố con chứ không phải là anh em thân mật như câu chuyện họ vừa 
		nói. Anh Cả là mẫu gương yêu thương, đã truyền cho đàn em sống khiêm 
		nhượng trở nên như trẻ nhỏ. Anh đề cao đức ái Đông Công : không phân 
		biệt giữa linh mục và tu sĩ, giữa người lao động tay chân và người làm 
		việc trí óc. Có đời thuở nào mà em đòi đánh anh, khi linh mục dạy giáo 
		lý cho đệ tử, lại quen xưng mình là em và muốn kỷ luật anh nếu không 
		thuộc bài?! Trước 3 tháng anh linh mục Minh Đăng qua đời, chính anh đã 
		kể cho nhóm Gia Yên nghe : Khi nhập tu Đồng Công , một buổi tối đi dạo, 
		anh nghe có tiếng gọi : anh Minh Đăng, anh Minh Đăng … quay lại, anh 
		bàng hoàng đến tê tái thần kinh nhận ra người gọi mình chỉ chừng 12 
		tuổi! Thôi rồi, cung cách một linh mục bị hạ hay bị lột xác hóa thân 
		thành trẻ nhỏ? 15 năm đầu anh sống khắc khoải trong dòng, chẳng lẽ vào 
		rồi lại ra, 15 năm sau càng đào sâu lý tưởng Đồng Công anh càng thấy 
		hăng say vui sống. Mỗi người trong chúng ta, dù chỉ ở vài tháng hay vài 
		năm, dù chỉ là đệ tử hay tu sĩ hạn thệ vĩnh thệ chuyển hướng, ai cũng có 
		đầy ắp những kỷ niệm êm đềm, kỷ niệm tình huynh đệ và kỷ niệm thánh 
		thiện, có cả những tủi buồn va vấp nữa, nhưng niềm tự hào một thời dâng 
		hiến là dấu ấn mẹ Đông Công như ghi như khắc vào tâm khảm chúng ta. Sóng 
		đời có xô ngã nhận chìm bao phen bấp bênh mất cả vốn lẫn lời, tâm trí 
		chúng ta vẫn hướng về nhà , nơi có tình yêu thương cất lên lời ca mỗi 
		buổi sáng, nơi có tình huynh đệ bình đẳng tuyệt vời đến lạ lùng. Lời 
		không tả siết, bút nào viết trọn ân và tình Đồng Công. Hãy nhìn lại 20 
		năm miền Kiệm Tân với gần 50 thành viên qui tụ dưới áo choàng của mẹ, 
		chúng ta đã sống những ngày đằm thắm nghĩa tình, lòng nhiệt thành dâng 
		cao như triều sóng. Mỗi tuần gặp nhau cầu nguyện, có anh đã đạp xe đi 
		hơn 10 km, có anh vui say với bạn nhưng không quên giờ hẹn với cựu Đông 
		Công: Em phải về với Mẹ, các anh đọc kinh xong hết rồi phải không, vậy 
		cho em đọc với anh này một chuỗi nữa đi. Có những tuần phát động tự 
		nguyện đến thăm nhau, không để nói chuyện suông mà tìm một nơi yên tình 
		cùng lần chuỗi Mân Côi. Chính Mẹ đã thúc đẩy tinh thần chúng ta vươn lên 
		tìm về nguồn ân thánh, tìm lại cảm xúc ngọt ngào yêu mến Chúa và tôn 
		vinh Mẹ, như một thời chúng ta say sưa ngây ngất và chiêm niệm, như 
		những lần ai đó ngô nghê nhắc nhớ nhau nhớ Mẹ trong lúc làm việc chung. 
		Hôm nay tìm đến với nhau sau nhiều nỗi thăng trầm, để nhiều nắm bột được 
		hòa chung với men Đông Công, cùng quậy đều cho men thấm bột nổi, cùng 
		nhào nặn thành những tấm bánh tròn vo, nuớng lên trong lò tự nguyện và 
		chia nhau sự sống thần linh, cho gia đình mình tiến đức. Mẹ Fatima kêu 
		gọi ngày 13/5/1917 : “Các con có sẵn lòng dâng mình cho Thiên Chúa để 
		chấp nhận mọi đau khổ Ngài gửi đến, như một việc đền tạ những xúc phạm 
		Ngài phải chịu mà cầu cho tội nhân ăn năn trở lại hay chăng?” Có thể 
		chúng ta không mạnh dạn lắm, nhưng cả một khối tình thân hữu cựu Đồng 
		Công sẽ làm nên sức mạnh, và truyền cho nhau nhiệt tâm đáp lời Mẹ gọi 
		mời. Sự lập thành khối tình thân hữu cựu Đồng Công miền Kiệm Tân khởi sự 
		từ Anh Lãm, anh Phạm Tiến, và anh Triêm (đã qua đời),từ con số 3 nhân 
		lên tiếp nối là các anh trưởng Dĩ, anh Trọng, anh Kiểm, anh Các, anh 
		Thành đương nhiệm; cùng các anh phó Xuân (Hóa đô),anh Hùng, anh Hướng 
		đương nhiệm . . . trong ban điều hành nhiều khóa, xin trân trọng đề cao 
		lòng nhiệt thành của quí anh . Phạm Tiến viết ngày 19/8/2010 Di Sản Đồng 
		Công của Cha Đaminh Maria Trần Đình Thủ nơi tôi Mừng Quan Thày Dòng 
		15/9/2009 Quí Mến Biệt Tặng những tâm hồn đang và đã theo đuổi Lý Tưởng 
		Thánh Đồng Công, Anh Em Tu Sĩ Đồng Công, Anh Chị Em Gia Đình Tận Hiến 
		Đồng Công và Anh Em Thân Hữu Đồng Công Tâm Phương Cao Tấn Tĩnh Sáu Di 
		Sản Đồng Công của Cha Thủ nơi tôi Không biết sau 5 năm qua đời, mộ của 
		Cha Thủ có được cải lên hay chăng, để bắt đầu tiến trình phong thánh cho 
		ngài, vì theo tin tức cho thấy thì ngài quả thực đã và đang sinh nhiều 
		hoa trái lạ lùng, cho cả trong Dòng lẫn ngoài Dòng, sau khi vĩnh viễn 
		nằm xuống như một hạt múc miến mục nát đi trong lòng đất ngày 21/6/2007? 
		Và nếu một của ngài có thực được anh em dòng cải lên, không biết những 
		gì tôi viết trong cuốn “Cha Đaminh Maria Trần Đình Thủ, CMC, Hạt Lúa 
		Miến Mục Nát… Cho Mùa Thánh Đức Việt Nam”, ở trang 26, có trở thành hiện 
		thực hay chăng: “Biết đâu, sau 5 năm được cải táng để bắt đầu tiến trình 
		phong thánh cho ngài, người ta thấy được chẳng những một thân xác không 
		hư thối, mà còn trở lại nguyên dạng, không còn dị dạng như trước khi 
		chết nữa. Chính việc biến đổi này, nếu xẩy ra, thì thực sự là dấu chứng 
		cụ thể chẳng những cho thấy dấu vết phục sinh của ngài mà còn cả thánh 
		đức của ‘Cha Thánh Thủ’ nữa vậy”. Cho dù Cha Thủ có được cải mộ lên hay 
		chăng, và thân xác của ngài có còn nguyên vẹn và trở lại nguyên dạng hay 
		chăng, và cho dù Cha Thủ có được Giáo Hội phong thánh hay chăng, và tại 
		sao ngài lại cả gan dám ôm mộng huấn thánh cho người Việt Nam, trong khi 
		chính bản thân ngài chắc gì đã là thánh, mà như ngài đã thâm tín tự nhận 
		mình là QP – Quorum Primus - “con người tội lỗi nhất” (1Tim 1:15), đối 
		với tôi, cũng không quan trọng cho bằng chính bản thân tôi nhờ ngài đã 
		được thật sự và hoàn toàn biến đổi. Đó mới là một phép lạ, một phép lạ 
		về tâm hồn, có giá trị hơn bất cứ một sự lạ bề ngoài nào. Thật ra tôi đã 
		viết về ngài liên quan tới bản thân tôi được ngài tận tình huấn thánh 
		trong tập sách dầy 174 trang nói trên khi ngài vừa nằm xuống, những cảm 
		nhận đã được chính Đức Cha Châu Ngọc Tri, Giám Mục Giáo Phận Đằng Nẵng, 
		đã thành thực cho tôi biết hai lần (1 lần ở Houston Texas 8/2007 và 1 
		lần ở Corona California 10/2008) rằng ngài đã sử dụng để giảng cho lễ an 
		táng Cha Thủ, vì ngài không hề biết về Cha Thủ. Ở đây, tôi chỉ muốn nhấn 
		mạnh đến một điểm nổi bật nhất về ngài và của ngài là những gì không thể 
		chối cãi, vì nó là một thực tại càng ngày tôi càng cảm thấy sâu xa đâm 
		rễ hơn trong tâm hồn tôi, và mỗi ngày một thể hiện rõ ràng hơn trong 
		cuộc đời tông đồ giáo dân của tôi. Đó là lòng tin tưởng hoàn toàn và 
		mãnh liệt vào Chúa - Mẹ. Bởi thế, những gì tôi viết ra đây, như tôi đã 
		minh định trong tập sách “Cha Đaminh Maria Trần Đình Thủ, CMC, Hạt Lúa 
		Miến Mục Nát… Cho Mùa Thánh Đức Việt Nam”, trang 102, “Xin hãy đọc những 
		lời chia sẻ chân tình ở những chương sau này, theo chiều hướng qui về và 
		bắt nguồn từ Cha ‘Thánh’ Đaminh Maria Trần Đình Thủ, với nhiều chi tiết 
		liên quan tới bản thân người viết, những chi tiết chỉ mang tính cách 
		chứng cớ để làm sáng tỏ một Sự Thật Rạng Ngời - Veritatis Splendor về Vị 
		Linh Hướng Thánh của tôi”. Đúng thế, nếu không có Cha Thủ, chắc chắn con 
		người mang tên Cao Tấn Tĩnh này không thể nào tồn tại cho đến nay, về cả 
		đời sống đạo lẫn đời, chứ chưa nói gì tới đời sống hôn nhân gia đình và 
		hoạt động tông đồ như hiện nay. Trong thời gian 18 năm 2 tháng tu trì, 
		từ ngày 21/6/1964 (ngày tiền định đúng 43 năm trước khi ngài qua đời), 
		cho tới ngày 20/8/1982, tôi chỉ được trực tiếp sống với ngài có 4 năm: 2 
		năm (1966-1968) ở Nhà Đá, Bình Định, Qui Nhơn, như một thử sinh, tập 
		sinh và tân khấn sinh, và 2 năm (1970-1972) ở Di Linh Lâm Đồng làm vườn 
		(trà, cà phê, bơ, mít) ở đồn điền Thiên Mẫu trong thời gian sau khấn 3 
		năm và dọn mình khấn trọn. Ngoài ra, những thời gian khác, tôi sống xa 
		ngài: 1964-1966 là thời gian đệ tử sinh; 1968-1970 phục vụ trong công 
		việc làm bếp ở Trại Gà Thiện Chí Khu Kitô Vua Thủ Đức; 1970-1972 phục vụ 
		trong việc dạy học, coi học và y tế ở Tiểu Chủng Viện Simon Hòa Đà Lạt; 
		1974-1975 phục vụ trong việc dạy học ở hai Trường Trung Học Đồng Công 
		Lương Sơn Phan Rí và Nhà Đá Qui Nhơn; và 7 năm sau cùng, 1975-1982 ở Chi 
		Dòng hải ngoại. Trong 18 năm 2 tháng được tu thân tích đức trong Dòng 
		Đồng Công, nhất là 4 năm được chính vị sáng lập này đặc biệt huấn thánh 
		cho, thú thật, khi còn ở trong Dòng, tôi không thấy thấm thía tinh thần 
		Dòng nói chung và tinh thần của Cha Thủ nói riêng, cho tới khi tôi ngồi 
		lại để viết tập sách “Cha Đaminh Maria Trần Đình Thủ, CMC, Hạt Lúa Miến 
		Mục Nát… Cho Mùa Thánh Đức Việt Nam”, khi nghe tin ngài bị bệnh trầm 
		trọng, có thể sắp sửa vĩnh viễn ra đi. Bấy giờ, phải, cho tới bấy giờ, 
		trong suốt 2 tháng trời, từ Tháng Hai tới Tháng Tư 2007, thời gian thật 
		là lắng đọng để viết về vị linh hướng duy nhất hết sức đáng yêu kính và 
		mãi mãi tri ân cảm tạ của tôi này, thậm chí cho tới cả bây giờ nữa, tôi 
		thấy mình quả thực đã chịu ảnh hưởng của Dòng Đông Công nói chung và của 
		riêng Cha Thủ rất nhiều và hết sức sâu đậm, ít là 6 điều không thể chối 
		cãi sau đây: 1) lòng tôn sùng Mẹ Maria, liên quan tới Fatima; 2) lòng 
		tôn sùng Đức Thánh Cha, hoàn toàn gắn bó với Giáo Hội; 3) lòng tin tưởng 
		vào Chúa - Mẹ, liên quan tới tinh thần Tận Hiến; 4) tinh thần bình dân, 
		liên quan tới việc phục vụ không hưởng thụ; 5) việc suy gẫm Lời Chúa 
		hằng ngày; và 6) việc lần hạt Mân Côi hằng ngày. 1- Di Sản về lòng tôn 
		sùng Mẹ Maria liên quan tới Fatima của Cha Thủ nơi tôi Trước hết, về 
		lòng tôn sùng Mẹ Maria liên quan tới Fatima, tôi đã không ngờ được phục 
		vụ Phong Trào Thiếu Nhi Fatima ở Tổng Giáo Phận Los Angeles từ năm 1991. 
		Sở dĩ tôi nói “không ngờ”, là vì sau khi ra khỏi dòng, trở về với cuộc 
		sống trần tục, tôi chỉ muốn âm thầm sống với vợ con của mình thôi, không 
		còn muốn hoạt động gì nữa. Thế mà cho tới nay vẫn tiếp tục ở với các em 
		Thiếu Nhi Fatima, cho dù tuổi đời bằng hay hơn tuổi cha ông của các em, 
		lại còn có dự tính phát triển phong trào này ở Việt Nam khi đất nước 
		thanh bình. Chưa hết, từ năm 2007, sau khi trao lại vai trò điều hành 
		Phong Trào Thiếu Nhi Fatima cho chính giới trẻ vào cuối năm 2005, sau 14 
		năm 3 tháng hết lòng dẫn dắt các em và đào luyện thành phần lãnh đạo cho 
		các em, tôi lại được tuyển chọn phục vụ Phong Trào Tông Đồ Fatima Thế 
		Giới Việt Nam ở Hoa Kỳ. Vấn đề ở đây là, chỉ sau khi bắt đầu phục vụ 
		Phong Trào Tông Đồ Fatima Thế Giới Việt Nam ở Hoa Kỳ, và trong thời gian 
		nghiên cứu biên soạn Thủ Bản cho phong trào trước năm 1985 vẫn được gọi 
		là Phong Trào Đạo Binh Xanh này, tôi mới khám phá ra Cha Thủ chính là vị 
		linh mục đầu tiên ở Việt Nam, (còn trước cả Cha Trinh Cát trong thập 
		niên 1950 ở ngoài Bắc là vị linh mục khởi xướng phong trào tôn nữ vương 
		gia đình), đã phát động việc tôn sùng Mẹ Fatima từ đầu thập niên 1940, 
		qua việc ngài tận hiến cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria ngày 
		3/4/1941, trước cả biến cố Đức Thánh Cha Piô XII hiến dâng cả loài người 
		cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ ngày 31/10/1942, và là thời điểm vị 
		giáo hoàng tương lai Gioan Phaolô II mới đang thấm nhuần tinh thần tận 
		hiến của Thánh Long Mộng Phố với khẩu hiệu “Totus Tuus – Tất Cả của con 
		là của Mẹ”. Chính Cha Thủ đã truyền bá lòng tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm 
		Nguyên Tội Mẹ Fatima, như ngài cảm nhận trong cuốn Lý Tưởng Đồng Công 2, 
		trang 138-139 như sau: &quot;Nếu con không lầm thì ba Mệnh lệnh Fatima đã 
		được các chiến sĩ Đồng Công tiên khởi truyền bá và hoạt động tại xứ 
		Dương A, rồi đến xứ Liên thủy, dần dần sang xứ Trung lao, Thủy nhai, Cát 
		phú…sau lan tràn nhiều nơi trong địa phận Bùi chu. Chính các anh em Đồng 
		Công đã được bổ đi giúp các xứ kể trên tổ chức hoạt động truyền bá 3 
		Mệnh lệnh của Mẹ.&quot; Lòng sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria 
		của Cha Thủ còn được tỏ hiện hết sức sâu đậm và rõ ràng qua các kinh 
		nguyện của ngài. Hình như các kinh nguyện của ngài hầu như về Mẹ Maria, 
		liên quan tới Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ. Nào là Kinh Tận Hiến Cho 
		Trái Tim Mẹ, nào là Kinh Tuần Bảy hằng ngày kính các nhân đức của Trái 
		Tim Mẹ, nào là Kinh Dâng Nước Việt Nam cho Trái Tim Mẹ, nào là Kinh Cầu 
		Trái Tim Mẹ, nào là Kinh Dọn Mình và Cám Ơn Rước Lễ với Trái Tim Mẹ v.v. 
		Đấy là chưa kể một kinh chính yếu của dòng ngài và cho dòng của ngài, đó 
		là Kinh Dâng Đoàn, hay kinh anh em dòng hằng ngày dâng nhau cho Trái Tim 
		Mẹ và kinh dâng quyền thủ lãnh cho Mẹ nữa. Lòng sùng kính Trái Tim Vô 
		Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria của Cha Thủ nơi tôi đã âm thầm đâm rễ nơi tôi 
		và rõ ràng trổ bông kết trái qua các hoạt động tông đồ giáo dân liên 
		quan tới Mẹ Fatima, như Phong Trào Thiếu Nhi Fatima ở TGP/LA và Phong 
		Trào Tông Đồ Fatima Thế Giới Việt Nam ở Hoa Kỳ. Riêng nơi Phong Trào 
		Thiếu Nhi Fatima, một phong trào đã được thành lập từ năm 1984, năm Đức 
		Thánh Cha Gioan Phaolô II hiệp cùng các vị giám mục trên thế giới hiến 
		dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria, nhưng mãi cho 
		đến năm 1992 mới bắt đầu “đâm rễ vươn cao” theo thời điểm thiên định của 
		nó. Không ngờ, như Ông Nguyễn Hữu Toại và Nguyễn Văn Hoạt, hai đoàn viên 
		Đạo Binh Xanh thuộc Tổng Giáo Phận Los Angeles, đã được Chúa Mẹ dùng để 
		phát động phong trào giới trẻ này thế nào, tôi là người cũng được các 
		Ngài sai đến sau đó để hoàn thành tất cả những gì cần thiết theo ý của 
		các Ngài nơi phong trào này và cho phong trào này (như tôi sẽ chia sẻ 
		thêm nữa trong bài này ở các đoạn 3.1 và 4.2 dưới đây). Ở đây tôi chỉ 
		muốn nói là chính nhờ mầm mống Di Sản Đồng Công về Lòng Tôn Sùng Đức Mẹ 
		mà tôi đã có duyên nợ đặc biệt với phong trào giới trẻ Fatima này. Trước 
		hết, tôi đã thấy rõ và không thể nào phủ nhận được ý Chúa muốn tôi phục 
		vụ phong trào này từ ngày tôi mừng sinh nhật 42 tuổi của tôi. Bởi thế, 
		tôi đã gắn bó và dấn thân hết mình cho phong trào này, với bất cứ giá 
		nào, như một phần đời bất khả thiếu của tôi. Có lần tôi đã nói với vợ 
		của tôi rằng, “phải chăng vì anh dấn thân phục vụ giới trẻ của Chúa mà 
		Chúa đã bù lại cho gia đình chúng ta 3 đứa con thật là tốt lành, ngoài 
		lòng mong ước của chúng ta”. Tôi đã thực sự lấy tất cả vốn liếng sẵn có 
		từ Đồng Công ra trang điểm cho phong trào giới trẻ đặc biệt này của Chúa 
		Mẹ. Chính tôi đã thiết lập Ngày Thứ Bảy Đầu Tháng từ năm 1992, trước khi 
		có cả Khóa Tĩnh Huấn đầu tiên. Tôi cũng là người đặt tên cho các Đoàn 
		bằng những ngày Lễ của Đức Mẹ. Tôi đã sử dụng câu hô “Trái Tim Mẹ Toàn 
		Thắng” như trong Dòng sau khi chơi bóng chuyền để các em hô trước khi 
		kết thúc một sinh hoạt. Tôi đã lập lệ than thở câu về Mẹ để kết thúc các 
		buổi đọc kinh chung, đó là câu: “Hỡi Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ 
		Maria là nơi con nương náu và là đường đưa con đến với Thiên Chúa”. Các 
		em cũng đã có thói quen hát bài Dâng Ngày và Dâng Đêm cho Mẹ trong các 
		tổ chức qua đêm, như Trại Hè Fatima, Trại Huấn Luyện và Khóa Tĩnh Huấn. 
		Bài hát đơn sơ tôi đã sáng tác cho các em hát nhưng không ngờ làm cho 
		các em thích thú tiếp tục hát chung cho tới nay. Có em, theo tôi biết, 
		cũng sử dụng riêng cho bản thân mình hằng ngày nữa. Lời ca “Dâng Ngày 
		Cho Mẹ” như sau: “Ôi Maria Rạng Đông của Mặt Trời Công Chính là Chúa 
		Kitô. Ngày hôm nay, con xin dâng lên Mẹ: con người bé nhỏ của con, cuộc 
		đời ngắn ngủi của con, và tình yêu thơ dại của con. Xin Trái Tim Mẹ là 
		nơi con nương náu và là đường đưa con đến với Chúa muôn đời. Amen”. Lời 
		ca “Dâng Đêm Cho Mẹ” (cùng một điệu nhạc nhưng hơi khác lời nhạc) như 
		sau: “Ôi Maria Tình Thương Vô Biên của Thiên Chúa đối với nhân loại. Đêm 
		hôm nay, con xin dâng lên Mẹ linh hồn bất tử của con, thân xác tro bụi 
		của con, và sự sống mong manh của con. Xin Trái Tim Mẹ …” Chưa hết, vào 
		ngày 31/5/1998, Lễ Mẹ Thăm Viếng cũng là Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống 
		trong thời điểm Giáo Hội hoàn vũ đang sửa soạn gần long trọng mừng 2000 
		Năm Chúa Kitô Giáng Sinh, tôi đã thành lập Nhóm Hiệp Sĩ Trái Tim Mẹ 
		(HSTTM) từ Phong Trào Thiếu Nhi Fatima, và nhóm 27 tâm hồn đầu tiên này 
		đã tuyên hứa tại Đền Thánh Mẹ Dâng Con hôm đó, với cha linh hướng là 
		linh mục Barnabê Nguyễn Đức Kiên của dòng Đồng Công. Hoạt động chính 
		thức của Nhóm HSTTM này là mạng điện toán toàn cầu Thời Điểm Maria 
		www.thoidiemmaria.net từ ngày Lễ Mẹ Vô Nhiễm 8/12/2001 cho tới nay, một 
		mạng điện toán toàn cầu chuyên về Thánh Mẫu Fatima. Ngoài ra, nhờ việc 
		hoạt động cho hai phong trào về Fatima là Thiếu Nhi Fatima và Tông Đồ 
		Fatima, tôi đã viết, trong 70 tác phẩm (từ 1988-2009), 16 cuốn về 
		Fatima: 1) Trái Tim Mẹ Toàn Thắng (1992); 2) Sứ Điệp Fatima – Màng Lưới 
		Cứu Rỗi Trong Mùa Biển Động Cuối Thời (1993); 3) Hận Thù Quyết Thắng 
		(1996); 4) Tông Đồ Giới Trẻ (1996); 5) Fatima và Năm 2000 (1997); 6) Học 
		Hỏi Thiếu Nhi Fatima (1997); 7) Thời Điểm Maria - Hiệp Sĩ Trái Tim Mẹ 
		(1998); 8) Fatima - Dấu Chỉ Thời Đại (2000); 9) Fatima – Chân Trời Cứu 
		Độ (2004); 10) Sống Thánh Chứng Nhân - Đạo Binh Dàn Trận (2006); 11) 
		Thiếu Nhi Fatima – Đâm Rễ Vươn Cao (2005); 12) Fatima - Định Mệnh Nhân 
		Loại (2007); 13) Tông Đồ Fatima – Trái Tim Maria (2007); 14) Hiến Chương 
		Tnôg Đồ Fatima Thế Giới Việt Nam Ở Hoa Kỳ (2007); 15) Tôn Vinh Mẹ Fatima 
		Thánh Du Quốc Tế (2009); và 16) Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria là 
		Tất Cả Bí Mật Fatima (2009). Căn cứ vào những nghiên cứu và suy tư liên 
		tục của tôi về Fatima, nếu “Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria là Tất 
		Cả Bí Mật Fatima”, nhan đề của cuốn sách cuối cùng trong 15 cuốn về 
		Fatima, cũng là đề tài tôi đã chia sẻ và trình bày trong Ngày Thánh Mẫu 
		32, trưa Thứ Bảy 8/8/2009, thì quả thực Cha Thủ là vị linh mục hết lòng 
		biệt tôn Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria đã nắm bắt được chính cốt 
		lõi của Biến Cố Thánh Mẫu Fatima 1917, ở chỗ hoàn toàn đáp ứng ý của 
		Thiên Chúa “muốn thiết lập lòng tôn sùng Trái Tim Mẹ trên thế giới”, nhờ 
		đó, như Đức Mẹ cho biết, “nhiều linh hồn được cứu rỗi và thế giới có hòa 
		bình”. Có thể nói mà không sợ sai lầm rằng, ngoài Nguyệt San Trái Tim 
		Đức Mẹ do Dòng Đồng Công chủ trương và thực hiện từ Việt Nam, Ngày Thánh 
		Mẫu liên tục hằng năm từ năm 1978 ở trụ sở trung ương Chi Dòng Đồng Công 
		Hoa Kỳ, một biến cố đã trở thành của chung Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam 
		hải ngoại, là biến cố Thánh Mẫu tiếp tục truyền thống tôn sùng Trái Tim 
		Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria của Cha Thủ vậy. Tôi không thể nào quên 
		được những lời Kinh kết thúc Kinh Dâng Đoàn (kinh hằng ngày anh em Đồng 
		Công đọc ban sáng để dâng anh em Dòng cho Mẹ), một đoạn kinh gồm tóm 3 
		tinh thần chính của Dòng là Tận Hiến, Yêu Nhau và Bỏ Mình, 3 tinh thần 
		làm nên linh đạo thánh của Dòng Đồng Công, nhưng lại liên kết với Trái 
		Tim Mẹ - &quot;cho Trái Tim Mẹ toàn thắng&quot;, như sau: &quot;Ôi Mẹ yêu dấu! Anh em 
		chúng con đây hết thảy là thật Giá Máu Chúa Giêsu, là tinh hoa bởi lòng 
		Mẹ, là kết quả những đau khổ lớn lao của Trái Tim Mẹ. Xin Mẹ dìu dắt giữ 
		gìn bênh vực xin Mẹ âu yếm yêu dấu chúng con trong Trái Tim Mẹ, cũng như 
		xưa Mẹ đã yêu dấu và âu yếm Chúa Giêsu trong lòng Mẹ vậy. Lạy Mẹ yêu dấu 
		! Nhân danh phép tắc và lượng từ bi của Trái Tim Mẹ, con nài xin Mẹ làm 
		cho hết mọi anh em chúng con được nên thánh, biết sống theo tinh thần 
		Mẹ, hằng noi giữ Đức Vâng Lời trọn lành thánh thiện, hợp ý hợp lòng với 
		Đấng thay mặt Chúa, với các anh em, thành một cơ binh dũng cảm, cương 
		qua chiến đấu với hỏa ngục, phá nước Satan cho Trái Tim Mẹ toàn thắng. 
		Xin Mẹ hãy làm cho mọi anh em con được tiêm nhiễm và hấp thụ lòng thương 
		yêu cả thể lạ lùng của Trái Tim Mẹ, để anh em hết thảy đều hiểu biết và 
		giữ Đức Yêu Nhau cho trọn vẹn, biết trọng Đức Yêu Nhau hơn mọi tư lợi, 
		hằng thiết tha yêu mến nhau trong ý tưởng, lời nói, việc làm, để lôi kéo 
		nhiều linh hồn về nhìn biết và yêu mến Mẹ, để Trái Tim Mẹ toàn thắng. 
		Xin Mẹ chỉ vẽ soi sáng và dạy dỗ cho anh em con hết thảy biết sống theo 
		Đức Tin và sự chân thật, nhìn biết mình hèn hạ khốn nạn, tội lỗi, vui 
		chịu khinh chê, dày đạp, chịu dể đuôi bắt bớ, hoàn toàn phó thác và cậy 
		trông ở Trái Tim Mẹ hằng giây phút, để chúng con được ơn bền vững đến 
		cùng, cho Trái Tim Mẹ toàn thắng. Vì công nghiệp Chúa đã chịu chết vì 
		chúng con. Amen&quot;. 2- Di Sản về lòng tôn sùng Đức Thánh Cha và gắn bó với 
		Giáo Hội của Cha Thủ nơi tôi Sau nữa, về lòng tôn sùng Đức Thánh Cha, 
		hoàn toàn gắn bó với Giáo Hội, một lòng tôn sùng được thể hiện rõ ràng 
		nơi hai hoạt động tông đồ truyền thông của tôi, đó là chương trình Phát 
		Thanh Tin Mừng Sự Sống (www.tinmungsusong.org) từ ngày 17/9/2000 cho tới 
		nay, và mạng điện toán toàn cầu Thời Điểm Maria (www.thoidiemmaria.net) 
		từ ngày 8/12/2001 cho tới nay. Thành ngữ “Giáo Hội Hiện Thế” là do tôi 
		đặt ra cho một trong những mục chính của cả hai hoạt động này. Tôi vẫn 
		chủ trương và chia sẻ với nhiều người rằng một trong những yếu tố trước 
		hết và trên hết chứng tỏ thành phần Kitô hữu “Công Giáo”, đó là lòng tôn 
		sùng Đức Thánh Cha và gắn bó với Giáo Hội. Lòng sùng kính Mẹ Maria và 
		Thánh Thể thì bên Giáo Hội Chính Thống cũng có, nhưng vẫn chưa đi đến 
		chỗ hiệp nhất Kitô giáo là mối hiệp nhất được thể hiện rõ ràng nhất nơi 
		việc công nhận quyền bính Giáo Hoàng Rôma là vị thừa kế Thánh Phêrô và 
		đại diện Chúa Kitô trên trần gian. Từ đầu cho tới giữa năm 2008, chương 
		trình phát thanh Tin Mừng Sự Sống có hẳn 1 mục Giáo Hội Hiện Thế ở phần 
		2 trong ba phần: phần đầu về Phụng Vụ Lời Chúa cho Chúa Nhật hằng tuần, 
		phần 2 về Giáo Hội Hiện Thế và phần 3 về Sống Thánh Chứng Nhân. Từ giữa 
		năm 2008 tới nay, tuy theo chủ đề cho mỗi buổi phát thanh hằng tuần, Tin 
		Mừng Sự Sống vẫn tiếp tục trích dẫn và căn cứ vào các giáo huấn của Giáo 
		Hội và các Đức Thánh Cha cho các chủ đề. Mạng điện toán toàn cầu Thời 
		Điểm Maria cũng thế. Nội dung ngay từ đầu cho tới nay đã rõ ràng có 3 
		phần, mà phần đầu tiên là “Tin Tưởng Giáo Hội”, rồi mới tới “Cậy Nhờ 
		Thánh Mẫu” và “Mến Yêu Thánh Thể” (cũng như “Yêu Thương Tha Nhân” là 
		phần mới được thêm vào từ 9/2008). Phần “Tin Tưởng Giáo Hội” bao gồm 
		chính yếu các văn kiện của Giáo Hội và Đức Thánh Cha, cùng với mục Giáo 
		Hội Hiện Thế liên quan tới tình hình sinh hoạt hằng ngày của Tòa Thánh 
		và Đức Thánh Cha. Nếu không có lòng tôn sùng Đức Thánh Cha của Dòng Đồng 
		Công và Cha Thủ tôi đã không chuyên nghiên cứu và chuyển dịch các tài 
		liệu của Tòa Thánh và Đức Thánh Cha, nhờ đó càng hiểu biết và gắn bó với 
		Giáo Hội hơn bao giờ hết. Tôi đã bắt đầu đọc và nghiên cứu về Giáo Hội 
		từ năm 1973, khi tôi đang phục vụ ở Tiểu Chủng Viện Simon Hòa Đà Lạt 
		được một năm, thời điểm cuốn Thánh Công Đồng Chung Vaticanô II do Giáo 
		Hoàng Học Viện Piô X ở Đà Lạt (gần Tiểu Chủng Viện Simon Hòa) chuyển 
		dịch và phát hành. Tôi đã say mê đọc cuốn văn kiện này của Giáo Hội hai 
		lần liền sau khi có được trong tay. Nhờ đó, về tâm thức của mình, tôi đã 
		từ đó có được một cái nhìn bao rộng hơn về Giáo Hội và thế giới, theo 
		chiều hướng của chính Giáo Hội, và về khả năng viết lách của mình, tôi 
		phải công nhận là tôi thật sự hoàn toàn chịu ảnh hưởng lối viết văn của 
		Công Đồng, một lối viết văn với các câu cú vừa dài giòng vừa chất chứa 
		đầy những trích dẫn Thánh Kinh, nhưng không phải vì thế mà lại trở thành 
		tối tăm, rối ý, trái lại, rất sâu xa và súc tích ý nghĩa, phải đọc đi 
		đọc lại mới thấm. Tiện nói đến vấn đề đọc sách thiêng liêng, tôi cũng 
		được giống Cha Thủ ở chỗ có hai cuốn sách ngài thích đọc, (tất nhiên 
		ngoài cuốn Phúc Âm), tôi cũng thích đọc nữa. Đó là cuốn Thần Đô Huyền 
		Nhiệm và cuốn Thông Điệp Tình Yêu Nhân Hậu Chúa Giêsu Gửi Các Hồn Nhỏ. 
		Ngài đọc hai cuốn này bằng tiếng Pháp, còn tôi đọc bằng tiếng Việt. 
		Chính ngài đã nói đến 2 cuốn sách này trong tập Lý Tưởng Thánh Đồng Công 
		1 và 2, như sau: &quot;Nhờ giảng tuần phòng (10 ngày trong năm 1942) cho các 
		bà dòng kín Bùi chu mà Mẹ đã ban cho con một bộ sách Truyện Mẹ… Bà mẹ 
		Dòng kín cho con dại của Mẹ mượn bộ sách Truyện Mẹ mà nay con còn đang 
		dùng. Bà mẹ nói: Cho cha mượn đến khi nào cha không muốn dùng nữa thì 
		cha trả. Mẹ có biết con khó nhọc vất vả tìm sách Truyện Mẹ mà chẳng gặp 
		sách nào ra hồn. Trong năm sáu năm, con đã nài xin Mẹ cho con biết 
		Truyện Mẹ thật đúng cơ, truyện thường thường con không đọc đâu Mẹ ạ. Thế 
		mà mãi đến năm thứ sáu, mẹ mới ban cho con&quot;. “Má ơi, sao Má khôn ngoan 
		kín đáo thế! Má để con trong một tình trạng chết giở, hấp hối chết, con 
		quên hết mọi điều Má hứa. (Con vào tù với một sách Phúc âm, bộ Tân ước 
		và một quyển Thông Điệp Tình Yêu Nhân Hậu gửi các hồn nhỏ, Phúc âm bằng 
		la ngữ, Thông điệp Tình yêu v v bằng pháp ngữ, là 2 thứ chữ các cán bộ 
		làm việc với con đều không đọc được, nên họ cho con mang đi theo suốt 
		thời kỳ giam giữ, cho đến nay con cũng còn đang giữ, dùng hằng ngày). Về 
		cuốn Thần Đô Huyền Nhiệm, một ấn bản rất cổ, tôi bắt đầu đọc từ năm 1967 
		ở Mỹ Chánh Qui Nhơn, khi mượn của Anh Tuyên Đội Ba. Tôi đã đọc hết cuốn 
		này 2 lần và cảm thấy tôi có khiêm nhượng đến đâu cũng vẫn là kiêu ngạo 
		so với Mẹ Maria trong tác phẩm này. Còn cuốn Thông Điệp Tình Yêu Nhân 
		Hậu Chúa Giêsu Gửi Các Hồn Nhỏ tôi đã bắt đầu đọc từ năm 1981, trước khi 
		xuất dòng một năm. Sau này, tôi đã đọc lại một lần nữa bằng tiếng Anh, 
		càng đọc càng thấm, vì chẳng những thấy được linh đạo thơ ấu thiêng 
		liêng Chúa dạy mà còn muốn hưởng ứng và đáp ứng ý định Người muốn thành 
		lập một Đạo Binh Hồn Nhỏ cho thời đại Tình Yêu Nhân Hậu của Người, và 
		cũng đã chuyển dịch những câu mà tôi cảm thấy thấm thía nhất để cho vào 
		bộ sách 2 cuốn dày 918 trang, tựa đề “Tội Tràn Lan… Phúc Ngập Lụt” 
		(1995). Ở Fatima, hình ảnh vị Chủ Chiên Tối Cao của Giáo Hội là Đức 
		Thánh Cha đã xuất hiện ở phần thứ hai và nhất là phần ba của Bí Mật 
		Fatima Thiếu Nhi Fatima, và đã được 3 em Thiếu Nhi Fatima là Lucia, 
		Phanxicô và Gianxinta luôn cầu nguyện cho thế nào, hằng ngày, ngoài Kinh 
		Tuần Bảy Kính Trái Tim Mẹ, tôi cũng vẫn tiếp tục đọc kinh Cầu Cho Đức 
		Thánh Cha như vậy, một kinh theo tục lệ dòng được anh em tu sĩ Đồng Công 
		đọc sau Kinh Tuần Bảy ở giờ kinh trưa. Tôi cũng áp dụng lòng tôn sùng 
		Đức Thánh Cha nói riêng và gắn bó với Giáo Hội nói chung cho cả Phong 
		Trào Thiếu Nhi Fatima trong thời gian tôi phục vụ nữa. Điển hình nhất là 
		học hỏi vào các ngày Thứ Bảy Đầu Tháng 3 trong Mùa Chay Sứ Điệp Mùa Chay 
		của ĐTC gửi chung Giáo Hội hằng năm, và nhất là học hỏi cho các Khóa 
		Tĩnh Huấn hằng năm của TNF Sứ Điệp ĐTC gửi cho giới trẻ mỗi năm. Tôi vẫn 
		nói với các em TNF rằng: “Theo Vị Chủ Chăn Tối Cao là Đức Giáo Hoàng, 
		chúng ta là con chiên sẽ không bao giờ phải sợ lầm đường lạc hướng. 
		Thiếu Nhi Fatima cần phải đâm rễ vươn cao, đâm rễ vào ơn gọi (sống hy tế 
		đền tạ và cứu độ) và vươn cao về sứ vụ (hơn là về nhân số và địa dư), 
		thế nhưng TNF chỉ có thể vươn cao về sứ vụ ‘Chúa Giêsu muốn dùng con’ 
		nếu trước hết và trên hết TNF biết đâm rễ sâu vào lòng Giáo Hội”. Có thể 
		nói rằng, chính cái đà phục vụ giới trẻ “đâm rễ” vào lòng Giáo Hội này, 
		và kinh nghiệm phục vụ giới trẻ đã được tôi chia sẻ trong cuốn “Tông Đồ 
		Giới Trẻ” năm 1996, lòng tôn sùng Đức Thánh Cha của tôi có được từ Dòng 
		Đồng Công đã sinh hoa kết trái nơi 16 tác phẩm (trong 70 tác phẩm từ 
		1988-2009) liên quan tới chung Giáo Hội và đặc biệt là Đức Thánh Cha 
		Gioan Phaolo II, thứ tự như sau: 1) Giới Trẻ Vượt Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng 
		- 1996 (liên quan tới Tông Thư Ngàn Năm Thứ Ba Đang Đến của ĐTCGPII); 2) 
		Tiến Đến Ngàn Năm Thứ Ba – 1996 (bao gồm 4 văn kiện của ĐTCGPII về 3 năm 
		thuộc giai đoạn sửa soạn gần liên quan tới từng Ngôi trong 3 Ngôi); 3) 
		Mạch Nước Vọt Lên Sự Sống Đời Đời – 1998 (33 bài Giáo Lý của ĐTC GPII về 
		Chúa Thánh Thần là Ngôi được Giáo Hội biệt kính trong năm 1998); 4) Là 
		Tất Cả Trong Mọi Sự – 1998 (36 bài Giáo Lý của ĐTCGPII về Đức Chúa Cha 
		là Ngôi được Giáo Hội biệt kính trong năm 1999); 5) Giới Trẻ Của Ngàn 
		Năm Thứ Ba - 1999 (ĐTCGPII với Giới Trẻ: 1 Tông Thư năm 1985, 6 Huấn Dụ 
		1986-1995, 5 Sứ Điệp 1996-2000, 13 Vấn Đáp); 6) Mùa Xuân Gieo Tin Mừng 
		Cứu Độ – 1999 (2 văn kiện về Truyền Giáo: Tông Huấn Truyền Bá Phúc Âm 
		Evangelii Nuntiandi của ĐTC Phaolô VI và Thông Điệp Sứ Vụ của Đấng Cứu 
		Chuộc Redemptoris Missio của ĐTC GPII); 7) Giáo Lý Chỉ Nam – 1999 
		(Chuyển Dịch và Phân Tích Học Hỏi Tông Huấn Catechesi Tradendae của 
		ĐTCGPII về Giáo Lý Trong Thời Đại Chúng Ta); 8) Thời Điểm Hồng Ân - 2000 
		(Giáo Lý Mừng Đại Năm Thánh 2000 của ĐTCGPII); 9) Di Sản Hồng Ân – 2001 
		(33 bài Giáo Lý về Vinh Quang Chúa Ba Ngôi trong Đại Năm Thánh 2000 của 
		ĐTCGPII); 10-11) Ý Thức Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo – 2002 (tập 1 và 2 
		học hỏi cuốn Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo 1992); 12) Đức Giáo Hoàng Gioan 
		Phaolô II: Sống Là Chúa Kitô … Chết Là Vinh Thắng – 2005; 13) Giáo Hoàng 
		Biển Đức XVI, Vị Giáo Hoàng Của … Cho… - 2005; 14) Nguồn Sống Thần Linh 
		– 2005 (học hỏi Thông Điệp Thánh Thể của ĐTCGPII cho Năm Thánh Thể 
		2004-2005); 15) Mặt Trời Khổ Ải… Vinh Quang Oliu – 2006 (về hai vị Giáo 
		Hoàng GPII và Biển Đức XVI); 16) Tuyển Tập Học Hỏi Thánh Phaolô Tông Đồ 
		(28 bài giáo huấn của ĐTCBĐXVI về Thánh Phaolô trong Năm Thánh Phaolô 
		2008-2009). Sau đây là kinh cầu cho Đức Thánh Cha được Cha Thủ soạn cho 
		anh em dòng ngài đọc trong giờ kinh trưa, một kinh nguyện tôi vẫn hằng 
		ngày tiếp tục hiệp nguyện với anh em dòng. Trong kinh nguyện này, có một 
		tước hiệu về Mẹ là tước hiệu &quot;Mẹ là &#39;Mẹ Giáo Hội&#39;&quot;, được Cha Thủ tuyên 
		xưng về Mẹ, cho thấy ngài đã được Thánh Linh tác động ngay trước cả thời 
		điểm Giáo Hội chính thức công bố về tước hiệu ấy. Vì khi tôi vào tu ngày 
		21/6/1964, cả Đệ Tử Viện lẫn chung Dòng đã đọc kinh nguyện này hằng ngày 
		từ lâu lắm rồi. Trong khi đó, mãi cho đến ngày 21/11/1964, Lễ Mẹ Dâng 
		Mình, khi ban hành Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội là &quot;Lumen Gentium - Ánh 
		Sáng Muôn Dân&quot;, trước sự hiện diện của 2156 Nghị Phụ tham dự kỳ họp 3 
		khóa V của Công Đồng Chung Vaticanô II , Đức Thánh Cha Phaolô VI mới 
		chính thức tuyên xưng và công bố &quot;Rất Thánh Maria là Mẹ Giáo Hội&quot;. &quot;Hỡi 
		Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, là Vua Giáo Hội, là Chúa Chiên nhất cả! Chúa 
		đã đặt Đức Thánh Cha để tiếp tục việc cứu thế, để cầm quyền cai trị Giáo 
		Hội, để chăn giữ đoàn chiên Chúa; con nài xin Chúa làm cho Đức Thánh Cha 
		chúng con được nên thánh, để Người lấy gương lời nói việc làm, mà sinh 
		ích cứu rỗi đoàn chiên Chúa đã trao phó cho Người. Hỡi Chúa Thánh Thần 
		là Đấng cai trị gìn giữ bênh vực Giáo Hội bề trong! Con nài xin Chúa ban 
		cho Đức Thánh Cha chúng con được đầy đủ sự khôn ngoan sáng suốt, để cai 
		trị Giáo Hội bề ngoài, xin Chúa ban sự mạnh bạo can đảm, để Người được 
		sức mạnh, mà bênh vực gìn giữ sự chân thật, và quyền lợi của Giáo Hội, 
		để sinh ích cứu rỗi đoàn chiên Chúa đã phó thác cho Người. Hỡi Mẹ Đồng 
		Trinh Vô Nhiễm Nguyên Tội, Mẹ là Nữ Vương trời đất, là Mẹ Giáo Hội, là 
		Mẹ Chúa Giêsu! Con nài xin Mẹ lấy quyền phép cao cả Mẹ đã cài đạp hỏa 
		ngục, mà bênh vực Đức Thánh Cha. Xin Mẹ lấy lòng thương xót Giáo Hội, mà 
		giúp đỡ an ủi Đức Thánh Cha đang cai trị Giáo Hội. Xin Mẹ coi sóc gìn 
		giữ và âu yếm, yêu dấu Đức Chúa Giêsu đang sống động trong Đức Thánh Cha 
		chúng con, để Giáo Hội được vinh hiển, và sinh ích cứu rỗi đoàn chiên 
		giáo hữu khắp hoàn cầu. Hỡi Thánh Giuse là Thủ lãnh cai quản Thánh Gia, 
		Đấng Bảo hộ Hội Thánh! Con nài xin Thánh Cả dìu dắt, phù hộ cách riêng 
		vị Thủ Lãnh Giáo Hội là Đức Giáo Hoàng, Cha yêu dấu của chúng con. Vì 
		công nghiệp Chúa đã chịu chết vì chúng con. Amen&quot;. 3- Di Sản về lòng tin 
		tưởng vào Chúa-Mẹ với tinh thần Tận Hiến của Cha Thủ nơi tôi Sau hết, về 
		lòng tin tưởng vào Chúa và Đức Mẹ, liên quan tới tinh thần Tận Hiến, tôi 
		phải thú nhận rằng tôi đã chịu ảnh hưởng của cá nhân Cha Thủ, qua những 
		hành động hết sức táo bạo, đến liều lĩnh của ngài, chẳng hạn việc ngài 
		đưa anh em dòng ra truyền giáo ở Nhà Đá Dốc Truông Bình Định Qui Nhơn là 
		nơi đầy những nguy hiểm cho tính mạng, nơi không có một vị linh mục dòng 
		hay triều nào dám bén mảng tới, nơi dân chúng phải sống đêm với “nẩu” 
		ngày với lính, nơi học sinh đi tập kích thỉnh thoảng vác súng về thăm 
		bạn bè và các thày dạy thuộc Dòng Đồng Công. Chính tôi cũng tí nữa bị 
		chính lính quốc gia bắn chết (vì nhầm tưởng tôi và mấy anh em cùng lớp 
		khấn bấy giờ là cộng sản) vào ngay trưa 9/9/1966, sau ngày vào nhà tập 
		Lễ Sinh Nhật Mẹ 8/9/1966, ở trên đầu nhà thời Nhà Đá. Biến cố này cũng 
		đã được Cha Thủ thuật lại trong cuốn Lý Tưởng Thánh Đồng Công trang 
		63-65. Nhưng có lẽ cái bí mật nhất liên quan tới lòng tin tưởng vào Chúa 
		– Mẹ của Cha Thủ, cho tới nay nhiều người vẫn còn thắc mắc, kể cả tôi, 
		đó là vấn đề sinh sống và hoạt động đầy tốn kém của cả mấy trăm anh em 
		dòng của ngài. Ngài lấy tiền đâu ra để nuôi sống anh em và hoạt động 
		tông đồ. Những cơ sở kinh doanh theo chủ trương tự lực mưu sinh của dòng 
		ngài, bấy giờ, ở Việt Nam, chỉ có Trường Trung Học (cả nội trú) Đồng 
		Công Thủ Đức, Trại Gà Thiện Chí Thủ Đức, Nguyệt San Trái Tim Đức Mẹ tòa 
		soạn ở Thủ Đức, Đồn Điền Thiên Mẫu Di Linh Lâm Đồng. Thế thôi. Nhưng thu 
		nhập chẳng bao nhiêu, dù chính mình lấy công làm lời. Hai nơi được gọi 
		là kinh doanh đúng nghĩa nhất là Trại Gà Thiện Chí và Đồn Điền Thiên 
		Mẫu, tôi đều có mặt và góp phần, nhưng phải nói là chẳng thu nhập được 
		là mấy, cùng lắm chỉ đủ chi tiêu cho anh em trong Dòng vậy thôi, nếu 
		tính cả việc kinh doanh thực sự đầu tiên là Ao Cá, cũng ở Thủ Đức, trong 
		cùng khu với Tòa Soạn Nguyệt San Trái Tim Đức Mẹ. Còn hai cơ sở kia, 
		Nguyệt San Trái Tim Đức Mẹ và Trung Học Đồng Công Thủ Đức, có tính cách 
		tông đồ nhiều hơn kinh doanh, lại càng thu nhập ít hơn nữa. Vậy thì Cha 
		Thủ lấy tiền ở đâu ra để thực hiện các hoạt động tông đồ truyền giáo 
		khác, hoàn toàn miễn phí, chẳng hạn như trường Toàn Mỹ ở khu vực truyền 
		giáo Mỹ Chánh Qui Nhơn nghèo khổ, trường Đồng Công ở Lương Sơn Phan Rí, 
		trường Đồng Công ở Nhà Đá Phù Mỹ Bình Định, Cư Xá Rạng Đông cho sinh 
		viên đại học Thụ Nhân ở Đà Lạt, Nhà Hưu Dưỡng cho các cha già ở Thủ Đức 
		v.v. Thế mà ngài vẫn làm được, chỉ hoàn toàn nhờ lòng tin tưởng vào Chúa 
		và Đức Mẹ. Về hiện tượng Chi Dòng Đồng Công ở Hoa Kỳ, là một nhân chứng 
		trong cuộc, tôi có thể nói rằng đó là hoa trái của lòng tin tưởng của 
		Cha Thủ vào Chúa và Đức Mẹ. Thật vậy, Dòng Đồng Công là một hội dòng (có 
		thể nói duy nhất ở Việt Nam) đã “xuất hành - exodus“ hay “lên đường”, 
		(hơn là chỉ “chạy loạn” thoát thân như mọi người), nhân cơ hội quốc biến 
		vào cuối Thánh Tư Đen 1975, với mục đích rõ ràng là “để giữ lấy dòng và 
		để truyền giáo”, như chính nhóm anh em dòng xuất ngoại bấy giờ ở nhà 
		nghỉ mát của Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm được vị sáng lập truyền lệnh 
		theo lời khấn phải làm. (Xin xem cùng tập sách, phần hai: “Sứ Mệnh Vượt 
		Thoát Truyền Giáo”, trang 59-96). Bằng chứng hiển nhiên nhất cho chủ 
		trương “lên đường” hay “xuất hành” hơn là “chạy loạn” này của anh em 
		dòng Đồng Công là ở chỗ: họ “lên đường” hay “xuất hành” từ đầu Tháng Tư 
		1975, chứ không phải cuối tháng, tuy bị kẹt cho tới cuối tháng mới đi 
		được, và số anh em dòng của họ hay “xuất hành” không phải là lẻ tẻ hay 
		ít oi mà là đồng loạt với con số lên tới 170 cha thày cùng cộng sự viên, 
		đông đến độ, không một gia đình nào hay giáo xứ Mỹ nào dám đứng ra bảo 
		trợ, ngoại trừ, theo ý Đấng Quan Phòng Thần Linh hằng được Cha Thủ tin 
		tưởng ký thác, một nhân vật lạ lùng đã dám cả gan “liều mình” đứng ra 
		bảo trợ là Đức Cha Bernard Law, một vị giám mục trẻ đang cai quản một 
		giáo phận nghèo bấy giờ. Riêng bản thân tôi, lòng tin tưởng nơi Cha Thủ 
		và của Cha Thủ đã tác động tôi mạnh mẽ nhất và sâu xa nhất, không thể 
		nào quên được và không bao giờ quên được, phải kể đến việc ngài dám tôi 
		đi “mang chuông đánh nước người”, đó là đến phục vụ Tiểu Chủng Viện 
		Simon Hòa Đà Lạt (1972-1974), khi Đức Cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền, 
		giám mục giáo phận Đà Lạt Lâm Đồng bấy giờ ngỏ ý xin Cha Thủ sai người 
		đến giúp, như dòng đã làm như thế vào năm 1968-1970. Trong khi đó, tôi 
		đang ở trong tình trạng lo cho mình còn chưa xong, ở chỗ, tôi cần phải 
		“đáp công chuộc tội” với ngài, những tội ngài vì muốn kỹ lưỡng huấn 
		thánh cho tôi, đã muốn tôi dứt khoát cải thiện, để tiếp tục theo đuổi Lý 
		Tưởng Thánh của ngài và với ngài, (như tôi đã thuật lại trong tập sách 
		trên đây, trang 136-148, chương “Cha Thủ – Linh Hướng Thánh”). Trong đời 
		tu của mình, tôi chưa bao giờ từ chối ngài một điều gì, trái lại, còn 
		xung phong làm bất cứ những gì ngài muốn, nhất là những việc ngài không 
		tìm ra người, như việc làm bếp, làm vườn v.v. Thậm chí về việc làm bếp 
		của tôi ở Trại Già Thiện Chí Thủ Đức (1968-1970), có lần ngài đã nói với 
		một số anh em dòng của tôi rằng “Tâm Phương làm bếp quỉ cũng không ăn 
		được”, tôi vẫn hoàn toàn tuân phục ngài, khi ngài cần đến tôi, lại bảo 
		tôi làm bếp vào những tháng cuối cùng ở Nhà Đá Qui Nhơn 1-3/1975, khi 
		tôi đang dạy Việt Văn đệ nhị cấp và được học sinh khen là “thày dạy 
		siêu”. Thậm chí trong cuộc hải hành xuất ngoại, tôi vẫn còn được cắt cử 
		phụ giúp vấn đề phục vụ ăn uống cho anh em dòng. Thế mà, khi được ngài 
		cho biết rằng ngài muốn tôi đi phục vụ tiểu chủng viện Simon Hòa Đà Lạt, 
		tôi đã mạnh bạo và chân thành xin ngài xét lại, vì tôi chẳng những không 
		có khả năng là bằng cấp như một số anh em khác (nhất là một số anh em 
		đang học ở Đại Học Thụ Nhân Đà Lạt gần ngay Tiểu Chủng Viện này), mà còn 
		thiếu cả tư cách nữa, với những lầm lỗi đang cần phải cải sửa, chỉ sợ 
		làm hư chuyện lớn của dòng thôi, mang tiếng cho ngài. Chính ngài cũng 
		cho tôi biết rằng “nhiều anh em đã can anh đừng cho em đi”, nhưng ngài 
		đã trấn an tôi ngay rằng: “Nhưng em cứ đi. Chúa Mẹ sẽ giúp em. Cứ trông 
		cậy vào các Ngài!” Tuy nhiên, lợi dụng được ngài tin tưởng, và để sửa 
		soạn cho một cuộc mạo hiểm, một sứ vụ đặc biệt chưa từng có trong đời tu 
		này của mình, tôi đã xin ngài viết tất cả những gì liên quan tới đời 
		sống bé nhỏ thơ ấu thiêng liêng mà ngài đã biết tôi vẫn thích và theo 
		đuổi ngay từ khi còn ở đệ tử viện Đồng Công, với biệt hiệu bằng Pháp ngữ 
		của tôi bấy giờ là “Bébé de Marie”. Quả nhiên, vì lợi ích thiêng liêng 
		của tôi, ngài đã đáp ứng lời chân thành nài xin rất chính đáng của tôi 
		và khẩn thiết cho tôi. Nguyên văn bản viết tay của ngài, được kết bằng 
		hàng chữ “Di Linh ngày 8/7/1972” kèm theo chữ ký Đaminh Thủ của ngài, 
		tôi đã để lại tất cả bút ký về linh đạo quí báu này của ngài cho Chi 
		Dòng Đồng Công khi tôi trở lại trần gian năm 1982. Nhưng nội dung của 
		những gì ngài viết đã được tôi sao chép lại cẩn thận và cũng đã tôi đích 
		thân phổ biến ở hai tác phẩm: Trở Nên Như Trẻ Nhỏ” (năm 1994, trang 
		219-224) và “Cha Đaminh Maria Trần Đình Thủ, CMC, Hạt Lúa Miến Mục Nát… 
		Cho Mùa Thánh Đức Việt Nam” (năm 2007, trang 171-174). Ngoài ra, với vai 
		trò là người soạn dọn của, với và cho Văn Phòng Trung Ương Đạo Binh Hồn 
		Nhỏ Việt Nam Hải Ngoại, tôi còn phổ biến những gì đáng gọi là “Luật Sống 
		Bé Nhỏ” quí hóa này cả trong cuốn “Thủ Bản Đạo Binh Hồn Nhỏ Việt Nam Hải 
		Ngoại” (năm 1999, trang 111-114). “Luật Sống Bé Nhỏ” Cha Thủ viết cho 
		tôi ấy, đối với tôi, như là một lời nhắc nhở rằng muốn tin tưởng vào 
		Chúa - Mẹ thì phải sống đơn sơ bé nhỏ “như trẻ thơ” (Mt 18:3). Sau này, 
		khi sang Mỹ, bắt đầu tiếp tục sáng tác nhạc vào năm 1976, (bắt đầu sáng 
		tác từ năm 1972 ở Tiểu Chủng Viện Simon Hòa Đà Lạt), nhất là bộ nhạc chủ 
		đề Tình Ca Đời Tận Hiến 18 bài năm 1981, một loại nhạc chủ đề độc đáo đã 
		được tác giả Bá Vũ Ly sáng tác và được thâu vào băng cassette, với tiếng 
		hát đơn ca của Tâm Phương, (cùng với việc hợp tác của 4 em trai chơi các 
		thứ nhạc cụ căn bản như một ban nhạc trong ca đoàn ở Oklahoma được tôi 
		đặc trách vào mùa hè giúp xứ năm 1978 của tôi), một băng thánh ca đầu 
		tiên chưa từng có xuất hiện ở hải ngoại không hát bởi ca đoàn hay bởi 
		một nhóm hợp ca như từ trước tới bấy giờ, đã từng làm rung động nhiều 
		tâm hồn giáo dân và tu trì thời bấy giờ. (Băng thánh ca chủ đề Tình Ca 
		Đời Tận Hiến này vẫn đang được lưu giữ trên mạng điện toán toàn cầu 
		www.tinmungsusong.org, hay trong CD “Cha Đaminh Maria Trần Đình Thủ - Lý 
		Tưởng Thánh Đồng Công” đã được phổ biến vào Tháng 7/2007 cùng với tập 
		sách “Cha Đaminh Maria Trần Đình Thủ, CMC, Hạt Lúa Miến Mục Nát… Cho Mùa 
		Thánh Đức Việt Nam”). Và tôi đã bắt đầu chính thức thêm 3 mẫu tự “BVL” 
		vào sau tên của tôi, “Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL”, từ tác phẩm thứ 
		12, “Trở Nên Như Trẻ Nhỏ” năm 1994. Với nhiều tác phẩm sau đó và các bài 
		viết sau đó, trên báo chí cũng như trên mạng điện toán toàn cầu, nhiều 
		độc giả, trong đó có cả các vị linh mục và tu sĩ, rất thắc mắc về chung 
		bản thân tác giả và riêng 3 mẫu tự “BVL” bí mật này và đều muốn biết 
		chân tướng của tác giả và ý nghĩa của 3 mẫu tự mật mã ấy. Điển hình gần 
		đây nhất là dịp Ngày Thánh Mẫu 2009, có 2 vị linh mục ở Việt Nam sang 
		Hoa Kỳ, một thuộc địa phận Nha Trang là Cha Nguyễn Thanh Vân, và một địa 
		phận Phú Cường là Cha Trần Văn Phúc, trạc tuổi ngũ tuần, khi tôi trả lời 
		cho các ngài (vào lần đầu gặp Cha Vân ở San Gabriel TGP/LA trong Tháng 
		7/2009 và Cha Phúc ở Đền Thánh Mẹ Dâng Con Corona California đầu Tháng 
		8/2009) về tên của tôi, các ngài hết sức ngỡ ngàng nhìn tôi, rồi tự 
		nhiên hô lên cùng một câu giống y như nhau: “Cao Tấn Tĩnh đây à…!”. 
		“Vâng thưa cha, con đây!” Cha Phúc đã đột xuất thân tình kéo ngay tôi ra 
		chụp hình lưu niệm với ngài. Còn Cha Vân, tôi đã trả lời cha về 3 mẫu tự 
		“BVL” để giải tỏa thắc mắc của ngài như sau: BVL không phải là 3 chữ tắt 
		đã được một số cha (dịp Đại Hội Mục Vụ ở Houston Texas năm 1997) tán là 
		“Bị Vợ La - Bỏ Vợ Lẽ “, mà là Bá Vũ Ly, và Bá Vũ Ly là âm của tiếng 
		Latinh “Parvuli”, trong câu Chúa Giêsu vừa khuyên dụ vừa cảnh giác các 
		tông đồ rằng: “Các con sẽ không được vào vương quốc của Thiên Chúa nếu 
		các con không hoán cải và trở nên như trẻ nhỏ - sicut parvuli”. Quả 
		thực, sau hai năm phục vụ ở Tiểu Chủng Viện Simon Hòa Đà Lạt này, cái 
		thành công của tôi không phải là được các tiểu chủng sinh đệ nhất cấp 
		yêu kính và quyến luyến đến ngượng ngùng với các cha ở đó bấy giờ, nhờ 
		tinh thần bình dân và phục vụ của Đồng Công nơi tôi. Cái thành công 
		chính yếu nhất đối với tôi bấy giờ đó là lòng tin tưởng vào Chúa và Đức 
		Mẹ hơn bao giờ hết nơi tôi. Vì trước đó các Ngài đã cho tôi thấy rành 
		rành là tôi không thể nào làm được việc này, vậy thì những gì tôi làm 
		được là do các Ngài làm nơi tôi và qua tôi, nhờ đức vâng lời của tôi đối 
		với bề trên là Cha Thủ, và nhất là nhờ lòng tin tưởng của Cha Thủ nơi 
		Chúa và Đức Mẹ trong trường hợp của tôi. Như thế là tôi được trực tiếp 
		thừa hưởng lòng tin tưởng của Cha Thủ, hay nói cách khác, Cha Thủ đã 
		sinh ra tôi nơi lòng tin tưởng vào Chúa Mẹ của ngài từ bấy giờ. Đúng 
		thế, tôi đã được Cha Thủ tái sinh vào Ơn Gọi Nên Thánh nói chung và Lý 
		Tưởng Thánh Đồng Công nói riêng từ đó. Để rồi, nhờ lòng tin này, cho dù 
		tôi không còn tiếp tục theo đuổi Lý Tưởng Thánh Đồng Công nữa, không còn 
		là một Tâm Phương tu sĩ Đồng Công ngày nào nữa, tôi vẫn tiếp tục Sống 
		Thánh Chứng Nhân qua các hoạt động tông đồ giáo dân của tôi ở ngoài đời, 
		bằng chính lòng tin tưởng vào Chúa và Đức Mẹ liên quan tới tinh thần Tận 
		Hiến Đồng Công mà tôi được trực tiếp hấp thụ từ Cha Thủ, điển hình nhất 
		là nơi việc phục vụ Phong Trào Thiếu Nhi Fatima và chương trình phát 
		thanh Tin Mừng Sự Sống là những hoạt động tôi cảm thấy được kêu gọi tới 
		thực hiện. Phải thú thực là nhờ lòng tin tưởng vào Chúa và Mẹ Maria, tôi 
		đã làm được những gì ngoài sức tự nhiên của tôi, nhờ đó tôi lại càng tin 
		tưởng vào các Ngài hơn, càng được lớn lên trong đời sống thiêng liêng, 
		càng được dồi dào sinh lực thần linh cho các hoạt động tông đồ. Đó là lý 
		do tôi hay nói với các đồng nghiệp tông đồ của mình rằng “làm việc cho 
		Chúa không sợ lỗ, vì chính khi làm việc của Ngài chúng ta được Ngài 
		thánh hóa vậy!” 3.1- Lòng tin vào Chúa và Mẹ Maria nơi tôi qua Phong 
		Trào Thiếu Nhi Fatima Trước hết, đối với Phong Trào Thiếu Nhi Fatima, 
		quả thực nhờ lòng tin tưởng vào Chúa, liên quan tới tinh thần Tận Hiến, 
		mà tôi đã tồn tại với các em qua một thời gian 14 năm 3 tháng 
		(8/9/1991-8/12/2005) trực tiếp phục vụ các em. Bằng không, tự tôi đã 
		dừng bước trong những tháng ngày đầu hết sức cực nhọc để tái thiết một 
		phong trào được lập nên từ năm 1984 bởi một con người khác có những cái 
		không hợp với tôi, trong số những người đi trước tôi tỏ ra muốn cản bước 
		tiến có vẻ qua mặt họ của tôi, hay chính giới trẻ không chấp nhận tôi 
		nữa vì tôi không hợp với họ. Thế mà sau thời gian dài như thế, các em 
		vẫn còn muốn bầu chọn tôi để tiếp tục dìu dắt các em, cho dù các em đã 
		đủ sức để tự lãnh đạo lấy phong trào giới trẻ của mình. Tôi còn nhớ việc 
		đầu tiên tôi được dịp tỏ ra tin tưởng vào Chúa và Đức Mẹ, đó là việc tổ 
		chức Khóa Tĩnh Huấn Fatima đầu tiên cho các em. Vấn đề ở đây là, theo 
		Thủ Bản và Nội Qui mới được Đại Hội biểu quyết chấp thuận vào Tháng 
		10/1992, nếu ai không đi khóa tĩnh huấn hằng năm này sẽ không được tuyên 
		hứa làm huynh trưởng, dù là các huynh trưởng đã đeo khăn trước đó. Tức 
		là tất cả mọi huynh trưởng sinh hoạt trong phong trào cho tới lúc bấy 
		giờ đều bị “lột khăn” và phải đeo khăn lại sau khi tham dự khóa tĩnh 
		huấn căn bản này. Mà Khóa Tĩnh Huấn Fatima là khóa học hỏi 15 đề tài về 
		3 Mệnh Lệnh Fatima, mỗi mệnh lệnh 5 đề tài, rất khô khan, đến nỗi Cha 
		Tuyên Úy Liên Đoàn của Thiếu Nhi Fatima bấy giờ đã phải lắc đầu, nhưng 
		cuối cùng, qua những trình bày hết sức chân tình đầy hữu lý của tôi, 
		ngài đã chẳng những bằng lòng mà còn cương quyết cùng tôi chủ trương 
		“quí hồ tinh bất quí hồ đa”. Đến độ ngài bỏ tiền túi ra mua vé máy bay 
		cho một Sơ Dòng Mến Thánh Giá ở New Orleans sang giảng cho các em. Thế 
		mà, cho dù các em đã được thông báo cho biết điều kiện phải dự khóa mới 
		được làm huynh trưởng và phải ngồi nghe 15 bài huấn đức khô khan như 
		vậy, một khóa tĩnh huấn lại được tổ chức vào cuối tuần lễ Thanksgiving 
		là thời gian cần nghỉ ngơi và học thi, các em vẫn tự động nộp đơn tham 
		dự, chẳng những đợt nhất vào cuối tuần Lễ Tạ Ơn này mà còn đợt hai vào 
		sau Giáng Sinh cùng năm 1992 nữa, với con số tham dự cả hai khóa liền 
		này lên đến 52 em. Thú thật, thời gian hơn 1 tháng, từ giữa tháng 10 đến 
		cuối tháng 11/1992, tôi cảm thấy Phong Trào Thiếu Nhi Fatima như đang bị 
		treo lơ lửng trên không trung bằng một sợi chỉ. Vì bấy giờ các huynh 
		trưởng có thể tỏ ra bất mãn và rủ nhau bỏ phong trào thì sao. Mà nếu 
		không có huynh trưởng thì kể như tiêu tan luôn phong trào mới được nhen 
		nhúm thành hình 8 năm. Trong khi đó, nhiều trưởng xuất sắc lại gọi đến 
		tôi tỏ ra ngần ngại tham dự, nhưng tôi không hề năn nỉ, hoàn toàn nín 
		thở nhiều khi đến đứng tim, vì đã qua cả 10 ngày mà chẳng thấy một ai 
		nộp đơn tham dự với tôi. Tuy nhiên, tôi vẫn tin tưởng vào Chúa và Đức 
		Mẹ, vì việc quyết định về Khóa Tĩnh Huấn này không phải bởi cá nhân tôi 
		mà là của chung Đại Hội, và là biến cố này cũng đã được chính Cha Tuyên 
		Úy Liên Đoàn là vị đại diện Chúa chấp nhận cùng hết mình ủng hộ nữa. Bởi 
		thế, theo tôi, đã là việc của Chúa, Chúa sẽ làm, miễn là mình tin tưởng 
		vào Ngài, một cách hoàn toàn và mãnh liệt. Quả vậy, Thiên Chúa đã tỏ 
		mình ra hết sức “hiển linh” nơi hai Khóa Tĩnh Huấn đầu tiên này của 
		Thiếu Nhi Fatima (TNF). Không phải chỉ ở chỗ con số các em tham dự, mà 
		còn cả ở chỗ các em hào hứng nghe giảng những đề tài khô khan với tuổi 
		trẻ của các em nữa. Đến độ, không phải chỉ người giảng không đủ giờ nói 
		mà cả người nghe cũng không đủ giờ nghe. Nếu Khóa Tĩnh Huấn đợt nhất 
		không hào hứng thì chắc chẳng bao giờ có đợt thứ hai ngay sau đó, vì các 
		em về thúc giục nhau đi tham dự. Mà đợt thứ hai này do một mình tôi phụ 
		trách cả 15 bài. Chưa hết, trong 8 năm đầu TNF chỉ có 1 ơn gọi nữ duy 
		nhất, nhưng sau hai Khóa Tĩnh Huấn cuối năm 1992 này, các em đã có 3 ơn 
		gọi liền, trong đó có Thày Nguyễn Tri Kỷ ở Dòng Đồng Công hiện nay. 
		Ngoài ra, song song với Ngày Thứ Bảy Đầu Tháng do Liên Đoàn tổ chức từ 
		năm 1992, sau hai Khóa Tĩnh Huấn đầu tiên này, chính các Đoàn đã tự động 
		bắt đầu tổ chức gặp nhau vào các ngày Thứ Bảy cuối tuần để cầu nguyện và 
		bàn soạn sinh hoạt cuối tuần trong Đoàn. Chưa đầy 25 năm sau 
		(1984-2008), TNF nhỏ bé và ít ỏi duy nhất ở Tổng Giáo Phận Los Angeles 
		đã được Chúa ban cho 3 linh mục. Lòng tin tưởng vào Chúa và Mẹ Maria của 
		tôi đã trở lên mãnh liệt hơn và sâu đậm hơn bao giờ hết qua biến cố Tĩnh 
		Huấn cuối năm 1992 này của TNF. Thế nhưng, cuộc hành trình đức tin không 
		phải đã lên tới tột đỉnh. Bởi thế, Thiên Chúa vẫn tiếp tục tỏ mình ra 
		cho tôi vào những lần khác sau đó nữa, điển hình nhất là qua các lần 
		Thiếu Nhi Fatima sang Ngày Thánh Mẫu trình diễn. TNF đã sang tham dự 
		Ngày Thánh Mẫu (NTM) lần đầu tiên vào năm 1992, trước khi có hai Khóa 
		Tĩnh Huấn trên đây, để mừng kỷ niệm 75 năm Biến Cố Thánh Mẫu Fatima, và 
		trong NTM này, TNF đã trình diễn hoạt cảnh Fatima trên sân khấu của Hội 
		Trường Nhà Ba Lầu, được mở đầu bằng vũ khúc Trái Tim Mẹ Toàn Thắng. Sau 
		này, vào những năm 2003, 2005, 2007 và 2009, sở dĩ TNF sang lại, là vì, 
		vào năm 2002, khi tôi đi gây quĩ cho chương trình phát thanh Tin Mừng Sự 
		Sống, tôi thấy giới trẻ đến với NTM rất sớm và rất đông, nhưng hầu như 
		họ bị lạc loài sao ấy, không phải vì không có chương trình sinh hoạt cho 
		họ, mà vì họ đến để tìm kiếm một cái gì khác theo ý họ. Tôi cảm thấy TNF 
		cần phải sang NTM để làm một cái gì đó cho giới trẻ này, làm tông đồ 
		giới trẻ. Năm đầu tiên, 2003, vào ngay chiều Thứ Năm, TNF đã tổ chức một 
		cuộc gặp gỡ chung giới trẻ ở Hội Trường Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, để 
		chia sẻ và sinh hoạt chung với họ, rất vui và bổ ích. Tuy nhiên, hoạt 
		động chính của TNF trong các NTM đó là trình diễn hoạt cảnh Đường Thánh 
		Giá (2003 và 2005), hay “Cuộc Vượt Qua Của Chúa Kitô” (2007), hoặc “Thập 
		Giá Đẫm Máu Trên Đất Việt”. Năm 2003 và 2005, TNF thực hiện từ 2 tới 3 
		giờ chiều, từ Lễ Đài sang Đồi Canvê. Năm 2007 và 2009 tại nguyên chính 
		Lễ Đài, từ 4 giờ 30 tới 6 giờ chiều, trước Lễ Đại Trào Kính Các Thánh Tử 
		Đạo vào lúc 7 giờ. Qua những cuộc diễn xuất này, tôi cũng đã phải vận 
		dụng đến lòng tin tưởng vào Chúa và Đức Mẹ, và nhờ đó, lòng tin tưởng 
		nơi các Ngài lại được gia tăng hơn nữa nơi tôi. Tôi đã chia sẻ kinh 
		nghiệm hoạt động tông đồ của tôi với thành phần lãnh đạo TNF rằng: 1) Để 
		làm điều gì, trước hết và trên hết, đừng nghĩ đến tiền bạc và phương 
		tiện, mà là đến Thánh Ý Chúa, xem Ngài có muốn chúng ta làm điều đó hay 
		việc đó hay chăng? 2) Nếu quả thực Thiên Chúa muốn chúng ta làm gì, (dấu 
		hiệu rõ ràng nhất là đồng biểu quyết với sự chấp thuận của Cha Tuyên 
		Úy), chính Ngài sẽ làm việc của Ngài trong chúng ta và qua chúng ta, với 
		những phương cách của Ngài, miễn là chúng ta cố gắng hết sức mình cộng 
		tác với Ngài trong khả năng và thiện chí của mình! 3) Mục đích của mọi 
		việc chúng ta làm là chu toàn Thánh Ý Chúa, bởi thế, thành công trong 
		việc chúng ta làm là ở chỗ chúng ta có chu toàn Thánh Ý Ngài, hơn là ở 
		chỗ được khen tặng, bởi thế chúng ta không lo gì khi bị che bai thất bại 
		cách nào khi đã làm hết sức mình, và chúng ta cũng không tỏ ra vênh vang 
		khi được khen tặng. Tôi đã triệt để áp dụng 3 nguyên tắc tu đức trên đây 
		cho chính mình và nhắc nhở các em TNF trong những lần tổ chức sang NTM 
		này. Kết quả là lần nào TNF cũng thấy rõ có những trục trặc xẩy ra, hồi 
		hộp tới nỗi không biết có qua khỏi hay chăng, nhưng cuối cùng đã xẩy ra 
		ngoài lòng mong ước. Chẳng hạn năm 2003, tới lúc Chúa Giêsu gần vác thập 
		giá rồi thì thập giá bấy giờ mới đóng xong và mang từ lều ra lễ đài. Hay 
		năm 2005, hai chặng cuối cùng ở trên Đồi Canvê bị trục trặc máy phát 
		thanh của ban phát thanh Nhà Dòng, thế mà một vị phó tế cũng đã đến trao 
		cho TNF 500 Mỹ kim. Năm 2007, trong cuộc tổng dượt từ 10 giờ đêm Thứ Năm 
		tới 2 giờ sáng Thứ Sáu tại chính Lễ Đài, vì cái thang dùng để tháo xác 
		Chúa cũng là thang cho Giuđa trèo lên cây thắt cổ tự tử bị gẫy ở màn 
		Giuđa tập, không còn thang tập cho màn hạ xác, thế mà hôm sau màn hạ xác 
		vẫn xẩy ra trôi chảy và vừa vặn với thời lượng trong CD. Năm 2009, thành 
		phần lãnh đạo hầu như chia rẽ nhau về nhiều sự, nhất là về cách thức Đức 
		Mẹ Lavang hiện ra liên quan tới Cây Đa Lá Vằng. Cho đến ngay trước khi 
		bắt đầu giờ trình diễn, vấn đề phun khói mịt mờ cho màn Đức Mẹ hiện ra 
		vẫn bị trục trặc vì chẳng những không đủ khói bao che chỗ Đức Mẹ hiện ra 
		mà khói lại còn bị gió tạt sang một bên nữa. Ấy thế mà mấy phút sau đó, 
		khi diễn thật, mọi sự xẩy ra như mộït phép lạ. Thành phần được mời cộng 
		tác không phải TNF trước đó cũng có lời ra tiếng vào, đến độ trong cuộc 
		tổng dượt từ 10 giờ đêm Thứ Năm đến 4 giờ 30 sáng Thứ Sáu, có vị nản chí 
		bỏ về, nhưng ngay sau cuộc diễn xuất kết thúc tốt đẹp, đã đến ngỏ lời 
		khen tặng TNF hết mình. Tôi đã trấn an các vị đến góp ý với tôi trong 
		các buổi tập dượt về những gì họ cho là tập dượt lủng củng, rằng: “TNF 
		là thế đó. Nhưng cuối cùng mọi sự cũng sẽ đâu vào đó”. Phải, tôi vẫn 
		thấy Chúa và Đức Mẹ tỏ mình ra nơi các em TNF nhỏ bé, thiếu thốn và ít 
		ỏi, nhưng đầy thiện chí, đoàn kết và hy sinh này. 3.2- Lòng tin vào Chúa 
		và Mẹ Maria nơi tôi qua chương trình phát thanh Tin Mừng Sự Sống Lòng 
		tin vào Chúa và Mẹ Maria nơi tôi được thể hiện và gia tăng qua những 
		hoạt động với các em TNF là thế. Còn đối với chương trình phát thanh Tin 
		Mừng Sự Sống (TMSS) thì thế nào? Nếu với TNF, nguyên tắc chính yếu để tỏ 
		lòng tin tưởng vào Chúa là tìm hiểu Thánh Ý Chúa và thực hiện Thánh Ý 
		Chúa bất cứ giá nào nếu quả thực là Thánh Ý Chúa, thì với TMSS, nguyên 
		tắc tôi dùng để kêu gọi 6 anh chị em vào lúc ban đầu (cuối Tháng 
		8/2000), đó là làm sao để cho Chúa ở giữa thì Chúa sẽ làm việc của Ngài, 
		tức là hãy yêu thương đoàn kết với nhau, thì Đấng đã khẳng định “ở đâu 
		có hai hay ba người hợp lại vì danh Thày, Thày sẽ ở giữa họ” (Mt 18:20). 
		Vấn đề tin tưởng vào Chúa với TMSS chính yếu liên quan đến việc gây quĩ. 
		Bởi vì, hết tiền thì tất nhiên TMSS sẽ bị chấm dứt thôi. Trong những lần 
		gây quĩ được ít, tôi đã trấn an nhóm rằng, mình kiếm được ít thì Chúa sẽ 
		bù lại nhiều. Miễn là chúng ta đã làm hết sức mình. Thật vậy, có những 
		năm gây quĩ bằng Quán Kỷ Vật ở NTM, theo kinh nghiệm, chúng tôi biết 
		trước rằng cũng chẳng được bao nhiêu, mà lại rất vất vả mệt mã lẫn tốn 
		kém cho mình. Tuy nhiên, chúng tôi không chọn đường lối kiếm tiền một 
		cách dễ dàng là mỗi gia đình trong Nhóm bỏ tiền ra tương đương với số 
		tiền tốn kém cho việc gây quĩ liên quan tới chuyên chở, ăn uống, nghỉ 
		ngơi, lệ phí v.v. để đỡ vất vả mà lại có được số tiền như đi gây quĩ 
		vậy. Cả bên TNF lẫn TMSS, nguyên tắc căn bản để tỏ ra thực sự tin vào 
		Chúa đó là làm hết sức những gì có thể trong tầm tay xoay sở của mình. 
		Tuy nhiên, ngay cả trong vấn đề xoay sở, cũng phải chân thật và bác ái. 
		Nếu thực sự làm việc vì Chúa và của Chúa thì không có vấn đề quanh quéo 
		giấu đút, chẳng hạn Ban Tổ Chức NTM không cho bán gì thì đừng bán cái 
		ấy. Và nếu làm việc vì Chúa và của Chúa cũng không có vấn đề cạnh tranh 
		hay ghen tị. Ai gây quĩ được nhiều thì mừng cho họ. Chỗ gây quĩ ngon hay 
		không ngon cũng chẳng sao. Bán được nhiều hay ít cũng không thành vấn 
		đề. Miễn là đã hết sức cố gắng bằng tất cả thiện chí ngay lành và phục 
		vụ vô tư của mình. Việc của Chúa thì Ngài sẽ lo. Mà việc Chúa lo trên 
		hết và trước hết là việc thánh hóa chúng ta. Tôi đã cố gắng sống đúng 
		nguyên tắc và đường lối tu đức liên quan tới lòng chân thành và đức bác 
		ái này. Ngoài ra, đức bác ái để Chúa có thể ở giữa còn đòi hỏi tôi phải 
		tỏ ra rất trân trọng với các vị ân nhân của TMSS nữa. Ở chỗ, tôi coi họ 
		là bàn tay của Chúa chìa ra trao cho tôi một số tiền nào đó, dù lớn hay 
		nhỏ. Tôi đã bỏ giờ ra để đốt CD về các buổi phát thanh có lời tri ân cảm 
		tạ họ, với label CD mầu sắc đẹp đẽ, ghi tên của họ đàng hoàng, kèm theo 
		Thư (với letterhead mầu trang trọng), ghi nhận số tiền nhận được từ họ, 
		để họ có thể khấu trừ thuế má. Và tôi tin rằng, với đức ái như thế, 
		Thiên Chúa vẫn tiếp tục ở với TMSS cho tới nay, đúng 9 năm trời, với 
		chương trình phát thanh hằng tuần vào giờ đắt tiền, (tối Thứ Sáu, trước 
		10 giờ đêm), 300 Mỹ kim nửa tiếng. Nhóm Vào Đời chủ trương và thực hiện 
		chương trình phát thanh TMSS chúng tôi, sau gần 2 năm còn 5 và gần 6 năm 
		còn 4 người, đã trải qua những lúc tưởng rằng mình đã hết thời. Chẳng 
		hạn năm 2002, với hai lần gây quĩ, chứ không phải là một, một vào Tháng 
		Hai ở Hội Chợ Xuân khu Tiểu Sài Gòn, Nam California, và một vào Tháng 
		Tám ở NTM, chỉ kiếm được chưa đầy 2 ngàn Mỹ kim. Hay Năm 2006 và 2008, 
		là hai năm chỉ có Quán Kỷ Vật, do vị niên trưởng một mình đứng bán, với 
		số tiền thu về cũng chưa đầy 2 ngàn Mỹ kim mỗi năm. Năm 2007, trong quĩ 
		chỉ còn hơn 2 Mỹ kim ngay trước khi đi gây quĩ ở NTM năm đó. Năm 2009 
		cũng tưởng rằng sẽ đi đến chỗ nghỉ tạm một năm phát thanh, và 3 gia đình 
		trong Nhóm lại còn mất toi mỗi gia đình 1 ngàn Mỹ kim ứng trước để đặt 
		cọc cho chuyến xe du khách liên bang hành hương NTM gây quĩ lần đầu tiên 
		này nữa. Thiên Chúa đã quả thực nhúng tay vào làm việc của Ngài khi đến 
		thời điểm của nó, nhất là vào những lúc chúng ta tưởng chừng hoàn toàn 
		thất bại theo sức tự nhiên loài người. Tôi không thể nào kể ra từng chi 
		tiết và tất cả những gì tôi đã thực sự thấy được tác động thần linh của 
		Đấng Quan Phòng vô cùng khôn ngoan và thiện hảo này, một khi Ngài được 
		chúng ta tin tưởng và theo lòng tin tưởng của chúng ta. Tôi chỉ biết 
		rằng, qua hai hoạt động tông đồ giáo dân, Thiếu Nhi Fatima và Tin Mừng 
		Sự Sống, tôi càng ngày càng cảm nghiệm được sự hiện diện thần linh của 
		Ngài và tác động thần linh vô cùng huyền nhiệm nhưng cũng hết sức tỏ 
		tường của Ngài, như chính sự hiện diện âm thầm và bất động nhưng đầy 
		sinh động và quyền năng của Thánh Thể vậy. 4- Di Sản tinh thần bình dân 
		liên quan tới việc phục vụ của Đồng Công nơi tôi Có thể nói và phải công 
		nhận rằng, diện mạo của Dòng Đồng Công là tính cách bình dân phục vụ và 
		con tim hay cốt lõi của Dòng Đồng Công là Tinh Thần Tận Hiến. Và cả diện 
		mạo lẫn tâm can này của Dòng Đồng Công đều hết sức ăn khớp với nhau. 
		Trước hết, tính cách bình dân phục vụ nơi vị sáng lập Dòng là Cha Đaminh 
		Maria Trần Đình Thủ đã được thể hiện rất rõ ràng, qua cách sinh hoạt 
		hằng ngày có tính cách khắc khổ của ngài: suốt đời nằm ngủ trên sàn nhà, 
		ăn uống hết sức thanh đạm, đến nỗi không ai biết ngài thích món gì, quần 
		áo cũng thô sơ nghèo khó. Ngài tự giặt quần áo lấy, không cho ai làm 
		việc này của ngài và thay ngài. Ngài sống xuề xòa với hết mọi anh em, 
		già trẻ, lớn bé, mới cũ. Thậm chí ngài còn được anh em đùa bỡn trêu 
		chọc, miễn là đừng khen ngài trước mặt, bằng không sẽ bị ngài cho là 
		“lộng ngôn phạm thượng”. Ai đến gần ngài cũng được, chẳng những không sợ 
		hãi mà còn thích đến với ngài, muốn gặp ngài, muốn tỏ bày tâm hồn cùng 
		chia sẻ tâm sự với ngài, dù có phải chờ đợi lâu mới tới phiên. Tính cách 
		bình dân còn được thể hiện nơi những lời ngài huấn đức và giảng dạy, tuy 
		hết sức đơn sơ chân thành nhưng lại sâu sắc và sống động, khiến người 
		nghe cảm thấy thấm thía, không thể không suy nghĩ và nhúc nhích cuộc 
		đời. Về tinh thần phục vụ, không ai có thể chối cãi được tấm lòng của 
		ngài lo cho tất cả mọi anh em và từng em của ngài, chẳng những về vật 
		chất, nhất là phần thiêng liêng của họ, chẳng những thành phần còn tu mà 
		cả thành phần xuất tu. Việc phục vụ của ngài còn được thể hiện qua các 
		hoạt động tông đồ và truyền giáo của Dòng, nơi người nghèo qua các trạm 
		phát thuốc ở các trụ sở truyền giáo, như Mỹ Chánh và Nhà Đá ở Qui Nhơn, 
		nơi giới trẻ qua các trường Đồng Công các nơi cũng như qua Cư Xá Rạng 
		Đông Đà Lạt, nơi các vị giáo sĩ qua Nhà Hưu Dưỡng Đồng Công Thủ Đức. Hầu 
		hết là miễn phí. Sau nữa, tính cách bình dân của chung Dòng ngài được tỏ 
		lộ qua chủ trương “tự lực mưu sinh”, tự làm lấy cho mình, cả về vấn đề 
		nội trợ lẫn kinh doanh, không thuê mướn ai với tư cách là chủ nhân ông. 
		Tính cách bình dân này còn được thể hiện qua cách xưng hô “anh em” với 
		nhau, cho dù là bề trên hay linh mục. Anh em tu sĩ Đồng Công còn sống 
		bình dân nơi nhà cửa và việc làm chân tay, qua cách ăn mặc và dáng vẻ, 
		kể cả về kiến thức và nhất là về kiến thức, đến nỗi, họ đã từng “được” 
		tiếng là “quê mùa dốt nát” trước con mắt của thành phần đấng bậc, thế 
		giá hay học thức. Về tinh thần phục vụ, tu sĩ Đồng Công đã đem tất cả 
		những gì mình có ra chia sẻ, như thừa tác vụ linh mục là để “quản trị” 
		trong dòng cũng như để chăm lo mục vụ cho giáo dân, hay bằng cấp là để 
		dạy học và giáo dục giới trẻ là tương lai của Giáo Hội và xã hội. Chính 
		vì tinh thần và chiều hướng phục vụ không hưởng thụ này mà danh xưng Hội 
		Đồng Tổng Quản đã được đổi thành Tổng Phục Vụ. Tình thần phục vụ này đã 
		lan cả sang tổ chức Gia Đình Tận Hiến Đồng Công, điển hình là tại Hoa Kỳ 
		mới có (từ năm 2008) Ban Phục Vụ Trung Ương Miền Tây/Đông Hoa Kỳ. Chính 
		vì danh xưng mới này mà mỗi lần họp bầu hay được cắt cử, những ai được 
		tuyển chọn hay tín nhiệm cũng đều cảm thấy trách nhiệm dấn thân phục vụ 
		hơn là danh thế quyền uy, nên cũng khó lòng từ chối. Bản thân tôi, tuy 
		mới gia nhập Gia Đình Tận Hiến Đồng Công (2007), tôi cũng được Anh Tân 
		Đặc Trách GĐTHĐC Louis Vũ Minh Nhiên mời điều hành Ban Phục Vụ Trung 
		Ương Miền Tây Hoa Kỳ, một cơ cấu mới toanh ở Hoa Kỳ, và tuyên hứa dấn 
		thân phục vụ từ ngày 14/9/2008. Trong việc dấn thân mới này, động lực 
		sâu xa chi phối và thúc đẩy tôi chấp nhận cũng chỉ vì chính tinh thần 
		phục vụ. Ở chỗ, “nếu chị nhận biết những ơn Thiên Chúa ban và Đấng đang 
		xin chị … đây là ai, thì đáng lẽ chị phải xin Người mới đúng” (Jn 4:10). 
		Thật thế, đó là tất cả ý thức tôi đã từng chia sẻ với một số anh chị em 
		cùng phục vụ rằng “không phải là chúng ta làm việc ‘cho’ Chúa, mà là 
		được Chúa chọn để làm việc ‘của’ Ngài, việc của một Vị Thiên Chúa. Chúng 
		ta chỉ trả về Chúa những gì Ngài ban tặng cho chúng ta mà thôi (xem Ps 
		116:12; Mt 25:20-23)”. Đó là lý do tôi cũng chủ trương: “Đừng nghĩ rằng 
		mình phải có giờ Chúa mới chọn, mà một khi Chúa chọn là mình có giờ”. 
		Trong biến cố Truyền Tin Lời Nhập Thể, theo chiều hướng và nguyên tắc 
		của Lời Chúa nói với người phụ nữ Samaritanô trên đây (Jn 4:10), khi 
		biết được ý Thiên Chúa muốn mình làm Mẹ sinh ra “Con Đấng Tối Cao” (Lk 
		1:32), Mẹ Maria cũng không hề lấy lý bất xứng hay bất lực, như thường 
		được loài người viện lý, để từ chối ý định vô cùng trọn hảo của Thiên 
		Chúa Thượng Trí và Toàn Năng, mà Mẹ chỉ muốn biết cách thức để làm sao 
		hoàn trọn ý của Ngài: “Việc ấy xẩy ra thế nào được, vì tôi không biết 
		đến nam nhân” (Lk 1:34). Và khi biết được cách thức Chúa làm qua Thánh 
		Thần là “Quyến Phép Đấng Tối Cao” (Lk 1:35) nơi mình, như nơi chị họ 
		mình là Isave, Mẹ đã tuyệt đối tin tưởng và khiêm hạ thưa: “Này tôi là 
		đầy tớ của Chúa, xin hãy thực hiện nơi tôi như lời ngài nói (hay) tôi 
		xin vâng như lời ngài truyền” (Lk 1:38). Đó là lý do, trong lời tuyên 
		hứa nhận chức của thành phần lãnh đạo Thiếu Nhi Fatima cũng như của Ban 
		Phục Vụ GĐTHĐC Miền Tây Hoa Kỳ, tôi đã sử dụng từ ngữ “tôi tớ xin vâng” 
		(Thiếu Nhi Fatima Cẩm Nang, trang 69). Tính cách bình dân và tinh thần 
		phục vụ của Đồng Công được tóm gọn trong câu tâm niệm (motto) của Dòng 
		là “Non Ministrari Sed Ministrarae” (Mt 20:28), một câu tâm niệm được 
		biểu hiệu (logo) qua hình ảnh rửa chân (x Jn 13:5). Câu tâm niệm này 
		chất chứa cả 3 tinh thần chính yếu của Dòng Đồng Công là Bỏ Mình, Yêu 
		Nhau và Tận Hiến, những tinh thần làm nên Linh Đạo Đồng Công cho những 
		ai theo đuổi Lý Tưởng Thánh Đồng Công. Thật vậy, tinh thần đầu tiên là 
		Tinh Thần Bỏ Mình (xin lưu ý, ở đây chữ được sử dụng là Bỏ Mình, bỏ Cái 
		Tôi, chứ không phải chữ Từ Bỏ chung chung vậy thôi), một tinh thần được 
		thể hiện ngay phần đầu của câu tâm niệm “Non Ministrari – không phải để 
		được phục vụ”, như được chứng thực nơi chủ trương &quot;tự lực mưu sinh&quot; của 
		mình.. Tinh thần tiếp theo là Tinh Thần Yêu Nhau (cả ở đây nữa, từ ngữ 
		cố ý được sử dụng là Yêu Nhau, tức yêu anh em Dòng để làm như một dấu 
		chứng tông đồ trung thực, như lời Chúa ở Phúc Âm Thánh Gioan 13:35, chứ 
		không phải Yêu Thương chung chung vậy thôi), một tinh thần được thể hiện 
		ở phần hai của câu tâm niệm “Sed Ministrarae – nhưng để phục vụ”. Chính 
		việc anh em Dòng yêu thương nhau cũng là và chính là một việc phục vụ 
		trên hết và trước hết, bằng không, tất cả các việc phục vụ khác của 
		Dòng, như dạy học, phát thuốc, chăm sóc sinh viên, chăm dưỡng các cha 
		già, tổ chức Ngày Thánh Mẫu, coi xứ v.v., theo chiều hướng so sánh của 
		Thánh Phaolô, sẽ chỉ là “hư không” hay “phèng la não bạt ầm ĩ” vậy thôi 
		(xem 1Cor. 13:1-3). Tinh thần thứ ba của Đồng Công cũng được bao gồm nơi 
		câu tiệm niệm “Non Ministrare Sed Ministrarae”. Ở chỗ nào? Thật ra 4 chữ 
		Latinh trong câu tâm niệm này chỉ là một thành ngữ vắn gọn của cả câu 
		Chúa Giêsu nói về bản thân Người, để làm gương cho thành phần môn đệ của 
		Người đang tranh giành nhau ngôi thứ: “Con Người đến không phải để được 
		phục vụ mà là phục vụ và hiến mạng sống mình làm gia chuộc cho nhiều 
		người”. Đúng thế, Tinh Thần Tận Hiến của Dòng Đồng Công là tinh thần 
		được chất chứa nơi phần cuối cùng của câu Chúa nói: “hiến mạng sống mình 
		làm giá chuộc cho nhiều người”. Câu này bề ngoài và thoạt tiên có vẻ 
		liên quan tới Tinh Thần Yêu Nhau hơn là Tinh Thần Tận Hiến, nhưng sâu xa 
		nó lại liên quan tới Tinh Thần Tận Hiến hơn là Tinh Thần Yêu Nhau. Ở 
		chỗ, tác động “hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho nhiều người” này đã 
		cũng được chính Chúa Giêsu minh định trong Lời Cầu Hiến Tế cuối Bữa Tiệc 
		Ly là tác động “tự hiến cho họ để họ được thánh hóa trong chân lý” (Jn 
		17:19). Tức là tác động Chúa Kitô “tự hiến” cho Cha của Người vì phần 
		rỗi của chung “nhiều người” và để Giáo Hội “được thánh hóa” (Eph 5:25). 
		Chính tác động “tự hiến” hay “tận hiến”, tức hiến thân “cho đến cùng” 
		(Jn 13:2) này của Người, “cho đến chết trên thập giá” (Phil 2:8) vì vâng 
		lời Cha của Người mà nhân loại đã được cứu độ và Giáo Hội được tái sinh. 
		Như thế, việc “tự hiến” hay “tận hiến” này của Chúa Kitô cho Cha của 
		Người bao gồm cả việc “bỏ mình” của Người và việc “yêu nhau” của Người 
		là Giáo Hội Nhiệm Thể Người. Theo chiều hướng “tận hiến” bao gồm “bỏ 
		mình” và “yêu nhau” này của Chúa Kitô và nơi Chúa Kitô, quả thực Tinh 
		Thần Tận Hiến là chính căn tính của Dòng Đồng Công, đến nỗi, sống Lý 
		Tưởng Thánh Đồng Công là sống Tinh Thần Tận Hiến, hay ngược lại. Ai theo 
		đuổi Lý Tưởng Thánh Đồng Công, nhất là thành phần tu sĩ, mà không sống 
		hay chưa sống trọn Tinh Thần Tận Hiến này thì có thể nói và phải nói 
		rằng họ chưa thực sự là Con Người Đồng Công, như Đấng Sáng Lập mong muốn 
		và theo đặc sủng chuyên biệt của Hội Dòng mình. Hiến Pháp ấn bản 2007, 
		khoản 3 đã minh định rằng: &quot;Mục đích riêng của Dòng ĐC là truyền bá Tin 
		Mừng Chúa Kitô cho những người ngoài Công giáo, nhất là tại Việt Nam. Để 
		đạt mục đích đó, Dòng chủ trương huấn luyện các linh mục, tu sĩ Dòng 
		theo linh đạo Đồng Công thể hiện qua việc tận hiến cho Chúa Giêsu nhờ Mẹ 
		Maria”. Có thể nói, đối với Con Người Đồng Công gương mẫu như Cha Thủ và 
		những ai xưng mình là đàn em chân truyền của ngài thì Nên Thánh là Sống 
		Đời Tận Hiến và càng Sống Đời Tận Hiến càng Nên Thánh vậy. Tinh Thần Tận 
		Hiến theo Lý Tưởng Thánh Đồng Công không phải chỉ ở chỗ thực hiện các 
		nghi thức tận hiến cho Đức Mẹ khi bắt đầu nhập Tập Viện hay cùng nhau 
		Dâng Đoàn/Dòng cho Mẹ mỗi buổi sáng, mà còn thực sự được thể hiện rõ 
		ràng nhất và thường xuyên nhất ở việc trọn hảo tuân phục Thánh ý Chúa 
		qua các vị bề trên thẩm quyền. Thật thế, Tinh Thần Tận Hiến Đồng Công là 
		ở chỗ hoàn toàn sống phó thác mọi sự cho Thiên Chúa, không lo một sự gì 
		khác, ngoài “một điều cần duy nhất” (Lk 10:42), đó là “tìm Nước Chúa và 
		sự công chính của Ngài trước” (Mt 6:33), còn “mọi sự khác”, kể cả thiên 
		chức linh mục lành thánh, hay bằng cấp học lực cần thiết, hoặc khả năng 
		hoạt động hữu hiệu, đều tùy Ngài quyết định theo sự quan phòng vô cùng 
		khôn ngoan của Ngài cho lợi ích thiêng liêng tối đa nhất của những ai 
		thuộc về Ngài qua ba lời khấn dòng. Sống Đời Tận Hiến như thế là tu sĩ 
		Đồng Công nên giống Mẹ Maria nhất, Đấng mà họ đã tận hiến khi bắt đầu 
		nhập Tập Viện và hằng ngày cùng nhau Dâng Đoàn cho Mẹ, vì Mẹ là người 
		Tôi Tớ Xin Vâng của Chúa như lời vị đại diện Chúa là sứ thần truyền (x 
		Lk 1:38). Tuy nhiên, Tinh Thần Tận Hiến không thể nào thể hiện nếu chủ 
		thể tận hiến không có lòng tin tưởng. Để có thể thưa “Fiat”, một tác 
		động tận hiến phó thác trọn hảo, Mẹ Maria đã phải tin tưởng vào “Đấng 
		toàn năng đã làm cho tôi những điều cao trọng” (Lk 1:49), và chính vì 
		thế tình trạng “đầy ơn phúc” của Mẹ chẳng những là do Mẹ được “Chúa ở 
		cùng” (Lk 1:28) mà còn nhờ Mẹ “được ơn nghĩa với Chúa” (Lk 1:31) nữa, 
		qua việc Mẹ “tin vào những lời Chúa phán sẽ được thực hiện” (Lk 1:45). 
		Tinh Thần Tận Hiến Đồng Công cũng được thể hiện trọn hảo nơi lòng tin 
		tưởng vào Chúa - Mẹ của Cha Thủ. Trong cuốn Tục Lệ Đồng Công, điều 108, 
		Cha Thủ đã khuyên dụ tu sĩ Đồng Công của mình theo kinh nghiệm sống đời 
		tận hiến bằng lòng tin tưởng của ngài nơi Chúa qua Mẹ như sau: &quot;Hết mọi 
		tu sĩ Đồng Công phải luôn cầu xin Chúa cho mình có một đức tin mạnh mẽ, 
		vững chắc không lay chuyển. Để đạt mục đích đó, anh em phải tập cho quen 
		đời sống hoàn toàn phó thác và cậy trông vào Chúa theo lời Chúa phán: 
		‘Hết mọi sợi tóc trên đầu cáccon đã được đếm cả’ (Mt 10,30; Lc 12,7). 
		Trong mọi công việc lớn hay nhỏ, hồn hay xác, anh em hãy hết lòng tin 
		cậy Chúa - nhất là những anh em có nhiệm vụ chỉ huy đoàn thể hay phụ 
		trách công việc chung - dù thành công, chớ tự phụ, cậy tài trí khôn 
		ngoan riêng mình, kẻo mất công phúc trước mặt Chúa. Nhưng loài hèn yếu 
		đầy khuyết điểm, luôn bị kẻ thù là Satan quấy nhiễu xúi giục từ bỏ Chúa, 
		chúng ta sẽ đứng vững trong đường trọn lành thế nào được? Hạnh phúc 
		thay, Thiên Chúa là Cha đầy tình thương yêu đã ban cho loài người một 
		phương thế chiến thắng Satan, một đường lối chắc chắn, dễ dàng và vắn 
		tắt để đến với Chúa, tức là qua Mẹ Maria (ad Jesum per Mariam). Vì thế, 
		Dòng Đồng Công chủ trương tận hiến toàn thân cho Đức Mẹ”. 4.1- Tinh thần 
		bình dân phục vụ của tôi nơi Chủng Viện Simon Hòa Đà Lạt Đúng thế, tôi 
		đã được Cha Thủ sinh ra bằng lòng tin tưởng vào Chúa-Mẹ liên quan tới 
		Tinh Thần Tận Hiến Đồng Công. Và vì là đứa con thiêng liêng của ngài, 
		tôi đã được hân hạnh &quot;không giống lông thì giống cánh&quot;, một đôi cánh bao 
		gồm hai lòng sùng kính chân truyền đích thực của người Kitô hữu Công 
		Giáo, đó là lòng tôn sùng Mẹ Maria liên quan tới Fatima và lòng tôn sùng 
		Đức Thánh Cha liên quan tới việc gắn bó với Giáo Hội. Phải công nhận là 
		Di Sản Đồng Công chính yếu nhất và quan trọng nhất của Cha Thủ nơi tôi 
		đó là lòng tin tưởng của ngài nơi Chúa - Mẹ, một di sản quí báu cũng đã 
		được tôi thực sự mang đầu tư sinh lợi vô vàn, cho chính bản thân tôi 
		cũng như cho các tâm hồn được tôi phục vụ hay làm việc với tôi, nơi hai 
		hoạt động tông đồ giáo dân của tôi là Phong Trào Thiếu Nhi Fatima và 
		chương trình Phát Thanh Tin Mừng Sự Sống, như những gì tôi đã chia sẻ 
		trên đây. Nếu nói theo ngôn ngữ của Phim Tầu thì Cha Thủ chẳng những đã 
		đả thông kinh mạch cho tôi, mà còn truyền thêm nội công thâm hậu của 
		chính bản thân ngài cho tôi. Bởi thế, chính nhờ được một đệ nhất cao thủ 
		về thánh đức đối với tôi bấy giờ đả thông những khuynh hướng và vướng 
		mắc kiêu căng tự ái cố hữu nơi mình là những gì tự tôi bất khả thắng 
		vượt, và lại nhận được nội công thâm hậu là lòng tin tưởng vào Chúa - Mẹ 
		của tay cao thủ này cấp tốc truyền cho, tôi đã bình tĩnh hạ sơn hành 
		hiệp và quả thực đã không làm cho ngài bị bẽ mặt và không hổ danh là một 
		trong thành phần môn sinh chân truyền của ngài. Tuy nhiên, lòng tin 
		tưởng Chúa - Mẹ là Di Sản Đồng Công nguyên tuyền của Cha Thủ này nơi tôi 
		sẽ không thể nào càng ngày càng &quot;đâm rễ vươn cao&quot;, &quot;đâm rễ&quot; nơi tôi và 
		&quot;vươn cao&quot; trong đời, nếu thiếu tinh thần bình dân và phục vụ của Dòng 
		Đồng Công. Quả vậy, theo kinh nghiệm hoạt động của mình, chính nhờ tinh 
		thần bình dân hòa đồng với thành phần được trao phó và tinh thần phục vụ 
		hoàn toàn vô vị lợi, theo gương Chúa Kitô và lời Chúa Kitô &quot;Non 
		Ministrari Sed Ministrare&quot; (Mt 20:28), tôi đã gắt hái được hoa trái 
		ngoài lòng mong ước, đầu tiên ở Tiểu Chủng Viện Simon Hòa Đà Lạt 
		(1972-1974), sau đó ở giới trẻ Thiếu Nhi Fatima TGP/LA và chương trình 
		phát thanh Tin Mừng Sự Sống. Ở Tiểu Chủng Viện Simon Hòa, tôi chẳng 
		những được Cha Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Nhượng và Cha Giám Học Vương Văn 
		Điền trao trách nhiệm dạy học 10 tiếng một tuần cho 3 lớp nhỏ hai môn 
		Việt Văn và Sử Địa, và Cha Giám Thị Nguyễn Hữu Duyên ủy thác việc coi 
		học vào buổi chiều cũng cho 3 lớp nhỏ đệ nhất cấp này, mà còn được Cha 
		Quản Lý Nguyễn Văn Tính nhờ phục vụ các tiểu chủng sinh trong việc mua 
		bán các thứ đồ cần dùng cho các em, nhất là sau cơm trưa. Ngoài ra, tôi 
		còn được Cha Giám Đốc Trần Đức Huân mời kiêm nhiệm vai trò Trưởng Ban 
		Cứu Thương, chuyên lo phát thuốc và chích thuốc cho các em sau điểm tâm 
		sáng, đi kiếm thuốc và mua thuốc cho chủng sinh, nếu cần thì chở các em 
		đi nhà thương trong ngày, kể cả việc thường xuyên bưng cơm bưng cháo cho 
		các em bị đau yếu ở phòng bệnh hay tại bàn ăn v.v. Ở môi trường giáo dục 
		đầu tiên tôi được phục vụ này, tôi đã có được một kinh nghiệm thật là 
		quí báu về việc phục vụ liên quan tới tác dụng hết sức tích cực trong 
		lãnh vực giáo dục, đó là nghệ thuật &quot;pro active&quot;, tức biết trước thành 
		phần được mình phục vụ cần những gì để gợi ý và sẵn sàng đáp ứng, chứ 
		không cần phải đợi đến khi họ chạy đến với mình, xin mình giúp đỡ. Nghệ 
		thuật “pro active” này thật ra cũng được bắt nguồn từ tinh thần phục vụ 
		của Đấng đã “tự” hứa cứu độ loài người sau nguyên tội (cf. Gen 3:15), 
		“tự“ thiết lập giao ước với Dân Do Thái và “tự“ trung thành với giao ước 
		của mình cho tới cùng cho dù có bị dân này quá sức là bất trung với 
		mình, “tự” hóa thành nhục thể (cf. Jn 1:14), “tự bỏ mạng sống mình đi” 
		(Jn 10:18), “tự hiến” (Jn 17:19), mà thôi. Tại môi trường đào luyện linh 
		mục này của một giáo phận trong các giáo phận, thành phần sẽ sống đời 
		độc thân như dấu hiệu “không để được phục vụ mà là phục vụ” theo như câu 
		được Dòng Đồng Công nhận làm tâm niệm, tinh thần bình dân và phục vụ của 
		Đồng Công thật là nổi bật và hấp dẫn đối với một cơ cấu tổ chức vốn 
		thiên về cấp trật và hướng đến “phẩm trật”. Bởi thế, dù tôi có tỏ ra khá 
		ngặt nghèo với các em về vấn đề kỷ luật, nhưng các em vẫn kính nể tôi, 
		và thích chơi với tôi, nhất là sau giờ cơm tối. Vừa đọc xong kinh cám ơn 
		cuối bữa ăn tối, một số em đã ùa lên bàn ăn chính của các cha ở giữa nhà 
		cơm để kéo tôi đi với các em, làm tôi rất ngượng với các cha, và phải 
		nói nhỏ với các em về chỗ hẹn hò (trước các lớp học của các em ở mặt 
		tiền của chủng viện, gần phòng ngủ của tôi) sau bữa tối để cứ đến đó gặp 
		nhau sau. Thời gian hoạt động ở Tiểu Chủng Viện Simon Hòa, tuy hết sức 
		vất vả, không còn giờ giấc gì cho mình, hoàn toàn sống cho các em tiểu 
		chủng sinh, các vị linh mục tương lai của Giáo Hội, tôi lại thấy mình 
		chẳng những gần gũi với Chúa hơn bao giờ hết, ở chỗ càng thành công càng 
		thấy việc Chúa làm, mà còn ở chỗ sống gần gũi với tha nhân hơn bao giờ 
		hết, khi hết mình phục vụ họ và được họ hết sức quí mến. 4.2- Tinh thần 
		bình dân phục vụ của tôi nơi Phong Trào Thiếu Nhi Fatima Với các em 
		Thiếu Nhi Fatima, tuy bằng tuổi cha anh (thậm chí có trường hợp bằng 
		tuổi “cha ông”) của các em, tiền bối của các em, tôi cũng sống hòa đồng 
		với các em. Các em nói chung gọi tôi là “anh” (và gọi nhà tôi không sinh 
		hoạt với các em là “cô“). Tôi cố gắng &quot;biết&quot; (Jn 10:27) được thành phần 
		chiên của mình, mình từng huynh trưởng, ít nhất là cách chung chung, 
		theo chiều hướng &quot;đi trước chiên&quot; (Jn 10:4), kiểu &quot;pro choice&quot; trên đây. 
		Hằng tuần tôi đến sinh hoạt với từng đoàn, và hằng tháng trung thành 
		sinh hoạt chung Liên Đoàn vào các Ngày Thứ Bảy không bao giờ bỏ, trừ phi 
		bất khả kháng vài lần từ năm 1992. Các em hay nghe tôi thú với các em 
		rằng “tôi cám ơn các em luôn hân hoan đón nhận tôi, cho tôi được ở giữa 
		các em như người bạn của các em. Tôi đến không phải chỉ để cho các em 
		những gì tôi có mà còn để nhận nơi các em nữa, qua việc hiện diện hết 
		sức sống động và tích cực tham gia của các em vào các sinh hoạt đạo đức 
		khô khan, hoàn toàn trái với tuổi ham vui chơi của các em, mà tôi, ở vào 
		lứa tuổi của các em khi còn ở Việt Nam hồi thập niên 1960 đã không được 
		như các em bây giờ ở một đất nước Hoa Kỳ tối tân đầy tiện nghi hưởng thụ 
		này”. Trong các khóa tĩnh huấn hằng năm 3 ngày cuối tuần bao giờ cũng 
		vào dịp Lễ Tạ Ơn Hoa Kỳ, tôi chẳng những lo điều hành tổng quát mà còn 
		nhào vô thu dọn sau từng bữa ăn cho các em và với các em, kể cả việc rửa 
		bát. Tôi là người bao giờ cũng đến trước nhất và về cuối cùng sau những 
		cuộc tổ chức chung. Tuy nhiên, nếu không được hấp thụ tinh thần bình dân 
		phục vụ không hưởng thụ của Đồng Công trước đây, so với một số em, tôi 
		cảm thấy hoàn toàn và thật sự xấu hổ và thua xa, ở vào lứa tuổi của các 
		em, trong việc hết mình và vô tư dấn thân phục vụ. Các em rất dễ thương, 
		bảo gì làm nấy, hết sức cộng tác với tôi và với nhau, đúng khẩu hiệu 
		“Thiếu Nhi Fatima – Yêu Thương” của các em, và theo 10 Điều Tâm Niệm của 
		Thiếu Nhi Fatima mà tôi đã đặt ra cho các em từ năm 1992, và được các em 
		hằng tuần lập lại đến thuộc lòng và hay nhắc nhở nhau căn cứ vào đó mà 
		sống, đó là câu tâm niệm 6- “hiền lành và khiêm nhượng trong Lòng” 
		(Mathêu 11:29); 7- “Vâng lời trọng hơn của lễ”(Isamuel 15:22); 8- “khôn 
		ngoan như rắn và chân thật như bồ câu” (Mathêu 10:16). Sống với các em 
		và làm việc với các em tôi cảm thấy hết sức trẻ trung và thoải mái. Các 
		em không tỏ ra những thái độ phê bình, chỉ trích, đả phá, chống đối, bè 
		đảng v.v. như vẫn thường xẩy ra ở các hội đoàn người lớn. Trong Cộng 
		Đồng Công Giáo Việt Nam có 14 Cộng Đoàn ở Tổng Giáo Phận Los Angeles, 
		trước tình trạng từ 6 Đoàn vào năm 1990, xuống còn 5 Đoàn vào năm 1994 
		và 4 Đoàn vào năm 2003, các em nói chung và thành phần lãnh đạo của các 
		em nói riêng vẫn không tỏ ra chống đối, trái lại, đã cố gắng sống thân 
		phận của một cành nho bị cắt tỉa cho càng sai trái hơn (xem Jn 15:2). 
		Bởi thế, với con số 4 đoàn (khoảng 500 em) chẳng là bao nhiêu (so với 
		Thiếu Nhi Thánh Thể), ở duy một nơi trên trái đất này là TGP/LA, chưa 
		đầy 25 năm thành lập (1984-2009), TNF đã được Chúa ban cho 3 vị linh mục 
		(1 vào năm 2006 và 2 vào năm 2008), những vị linh mục trẻ thật hăng say 
		phục vụ Giáo Hội. Sau đây là tất cả kinh nghiệm làm việc với giới trẻ 
		tôi đã chia sẻ trong cuốn &quot;Tông Đồ Giới Trẻ&quot; (1996), nhất là về vấn đề 
		làm sao để có thể chẳng những đến với giới trẻ là thành phần theo bản 
		tính tự nhiên ham vui chơi hơn là sống đạo mà còn phục vụ giới trẻ một 
		cách hữu hiệu tối đa nữa: &quot;Càng giao tiếp với giới trẻ, càng phục vụ 
		giới trẻ, đời tôi như càng được hồi xuân. Ở chỗ, giới trẻ của thập niên 
		1990 tại Mỹ Quốc chẳng những không sợ tôi, tránh xa tôi, một thanh niên 
		vào bán thập niên 1960 ở Việt Nam, trái lại, họ còn nồng hậu tiếp nhận 
		tôi, kêu mời một &#39;lão nhi&#39; như tôi đến với họ. Họ đã tự mở lòng mình ra 
		cho tôi được &#39;nhập bọn&#39;. Phần tôi, tôi đâu có gì khác để chia sẻ với họ, 
		ngoài chút thiện chí được phát xuất từ niềm xác tín về ơn gọi làm Tông 
		Đồ Giới Trẻ&quot; (trang 4). &quot;Sở dĩ giới trẻ tìm kiếm những vui thú mau qua, 
		nhiều khi tội lỗi, là vì chúng đói khát chân thiện mỹ mà chưa thỏa hay 
		không được thỏa, bởi không có mà ăn hay không ai cho ăn. Trái lại, sở dĩ 
		giới trẻ ngang tàng, phá phách, ngông cuồng, phạm pháp, đọa đầy, là vì 
		chúng chẳng những không được mớm cho những chất sinh dưỡng bổ béo như 
		tâm hồn chân chất của chúng vốn khao khát, mà còn lại bị đầu độc bởi 
		những thứ &#39;mật ngọt chết ruồi&#39;, hoặc những thứ ăn vào chỉ làm cho đau 
		bụng hay buồn nôn mà thôi. Bởi đó, nếu giới trẻ được giáo dục đàng 
		hoàng, được hướng dẫn đích đáng, được nâng đỡ đến cùng, chúng chẳng 
		những làm người mà còn làm thánh nữa&quot; (trang 39-40). &quot;Xã hội loài người 
		ngày nay nói chung, và giới trẻ nói riêng, sở dĩ đang băng hoại, đang bị 
		&#39;bankrupcy&#39; (khánh kiệt), mất vốn, mất gốc, là vì, như các đoạn Phúc Âm 
		theo Mathêu 12:29, Marcô 3:27 và Luca 11:21-22 nói đến, con người của họ 
		đã bị kẻ gian đột nhập, tự do của họ đã bị trói buộc, và tâm hồn của họ 
		đã bị cướp bóp, bởi &#39;đối phương là ma qủi vây hãm như sư tử gầm gừ rình 
		chực nuốt mồi&#39; (2Pt.5:8). Trước một thực trạng thảm bại như vậy, làm sao 
		có thể đánh động được giới trẻ, để chúng đang hoang đàng trở thành ngoan 
		đạo, đang băng đảng trở thành một lực lượng làm tông đồ cho chính giới 
		trẻ của mình?&quot; (trang 41). &quot;Giới trẻ đang băng hoại hiện nay là một 
		&#39;hiện tượng&#39; mà thôi, chứ không phải là một &#39;thực tại&#39;. Đã là một &#39;hiện 
		tượng&#39;, tất nhiên, theo bản chất của mình, nó sẽ qua đi, chứ không thể 
		nào vĩnh tồn và vĩnh hằng như chính cái được gọi là &#39;thực tại&#39;. Sở dĩ có 
		&#39;hiện tượng&#39; giới trẻ băng hoại ngày nay, là vì mầm mống Chân Thiện, 
		khát vọng Chân Thiện, tận đáy lòng của con người chúng, như cũng đã được 
		nhận định trên, chưa được thỏa hay không được thỏa, trái lại, nhiều khi 
		mầm mống và khát vọng Chân Thiện này còn bị bóp nghẹt, dập tắt, bởi 
		những gian ác của cuộc đời đầu độc. Bởi vậy, muốn cứu vãn giới trẻ, cần 
		phải chiếu sáng Chân Thiện là &#39;thực tại&#39; đời đời mới có thể xua tan 
		&#39;hiện tượng&#39; đêm tối huyền hoặc đang chập chúng bao trùm và vồ vập đám 
		giới trẻ vô tội đáng thương. Vì chỉ có &#39;chân lý&#39;, chứ không phải bất cứ 
		một thần tượng hay chủ thuyết trần gian nào, dù là khuynh hướng hiện 
		sinh, khoa học thực nghiệm hay kỹ thuật tân kỳ, mới có khả năng chiếu 
		sáng để hoàn toàn &#39;giải cứu&#39; (Jn.8:32) con người một cách dứt khoát và 
		toàn vẹn mà thôi. &quot;Đúng thế, cái &#39;giải cứu&#39; con người, &#39;giải cứu&#39; giới 
		trẻ là &#39;chân lý&#39;, là Chúa Kitô, chứ không phải chính chúng ta, thành 
		phần Tông Đồ Giới Trẻ đang quan tâm đến giới trẻ, đang lo cho giới trẻ, 
		đang hết mình phục vụ giới trẻ, mà chúng ta không nên sợ rằng, tự chúng 
		ta không thể nào chinh phục được giới trẻ, không thu hút được giới trẻ, 
		không hiểu được giới trẻ, và không đối thoại được với giới trẻ. Chúa 
		Kitô chính là &#39;đường lối&#39; (Jn.14:6) để thành phần Tông Đồ Giới Trẻ chúng 
		ta đến gặp gỡ giới trẻ, và cũng để giới trẻ có thể đến gặp gỡ chúng ta, 
		cũng như Người luôn là &#39;đường lối&#39; để &#39;Thiên Chúa là Đấng vô hình&#39; 
		(Col.1:15) tỏ mình cho con người, đồng thời để con người &#39;đến cùng Cha&#39; 
		(Jn.14:6). &quot;Chúa Kitô chẳng những là &#39;đường lối&#39; mà còn là chính &#39;chân 
		lý&#39;, là đối tượng khát khao của lòng con người. Do đó, nếu chung con 
		người và riêng giới trẻ không tìm đâu ra &#39;chân lý&#39; ngoài Chúa Kitô, để 
		&#39;được sống viên trọn&#39; (Jn.10:10), thì những người có trách nhiệm giáo 
		dục giới trẻ nói chung, nhất là thành phần phục vụ giới trẻ trong các 
		phong trào Công Giáo Tiến Hành nói riêng, không còn cách nào hơn là &#39;mặc 
		lấy Chúa Giêsu Kitô&#39; (Rm.13:14) mà đến với giới trẻ, để giới thiệu Chúa 
		Kitô cho họ. Bảo đảm giới trẻ sẽ nhận ra Chúa Kitô nơi bạn, và sẽ hết 
		sức &#39;welcome&#39; (tiếp nhận) bạn, cần đến bạn và thích gần gũi với bạn. Bởi 
		vì, &#39;chiên của Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta&#39; 
		(Jn.10:27). Thế nhưng, làm sao để cho giới trẻ nhận ra Chúa Kitô nơi 
		tôi, nghe thấy tiếng Chúa Kitô qua tôi, nhờ đó, họ có thể ngoan ngoãn đi 
		theo Người?&quot; (trang 42-43). &quot;Nếu chúng ta phục vụ giới trẻ với tư cách 
		là một &#39;tôi tớ xin vâng&#39; (Lc.1:38), chắc chắn chúng ta sẽ trở thành nơi 
		gặp gỡ giữa Chúa Kitô và giới trẻ, như Mẹ Maria đã là điểm hội ngộ đất 
		trời, giữa Thiên Chúa và loài người, khi &#39;Lời đã hóa thành nhục thể&#39; 
		(Jn.1:14) trong cung lòng trinh nguyên của Mẹ vậy. Một khi, nhờ và qua 
		thành phần Tông Đồ Giới Trẻ chúng ta, giới trẻ gặp được Chúa Kitô, thì 
		bấy giờ chính Chúa Kitô sẽ trực tiếp làm việc nơi mỗi một tâm hồn người 
		trẻ. Như thánh Gioan Tiền Hô giới thiệu Chúa Kitô cho các môn đệ của 
		ngài thế nào, phận sự của thành phần Tông Đồ Giới Trẻ chúng ta cũng là 
		việc chỉ cho giới trẻ mà mình có trách nhiệm biết đâu là Chúa Kitô đích 
		thực, để chúng an tâm theo Người mà không sợ đi theo &#39;những tên phản 
		Kitô&#39; (1Jn.2:18). Còn về phần giới trẻ, sau khi nhận ra Chúa Kitô do 
		thành phần Tông Đồ Giới Trẻ chúng ta làm tiền hô giới thiệu, họ tự nhiên 
		sẽ nghe thấy tiếng Chúa Kitô mời gọi &#39;hãy đến mà xem&#39; (Jn.1:39), để mạnh 
		dạn đến ở với Người (x.Jn.1:39), rồi về tìm nhau và rủ nhau cùng đến với 
		Người nữa (x.Jn.1:40-51).&quot; (trang 44-45). Thật vậy, giới trẻ đã rủ nhau 
		đến với Chúa như 2 trường hợp điển hình sau đây. Trường hợp thứ nhất đó 
		là ngay sau 2 Khóa Tĩnh Huấn 1 và 2 liền cuối năm 1992, các em ở từng 
		Đoàn, bắt đầu từ Đoàn Đức Mẹ Carmêlô Los Angeles (1993), rồi tới Đoàn 
		Đức Mẹ Mân Côi Pomona (1994), sau đó là Đoàn Đức Mẹ Thăm Viếng El Monte 
		(1995) và cuối cùng là Đoàn Đức Mẹ Sầu Bi San Gabriel (1997) , những 
		đoàn sinh hoạt vào chiều Chúa Nhật, trước Lễ hằng tuần của Cộng Đoàn, 
		(trừ Đoàn Đức Mẹ Truyền Tin Torrance có lễ của cộng đoàn vào tối Thứ Bảy 
		hằng tuần), đã tự động rủ nhau tập họp lại vào mỗi tối Thứ Bảy trong 
		tháng để cầu kinh Mân Côi và chia sẻ sống đạo. Vì Liên Đoàn đã tổ chức 
		Thứ Bảy Đầu Tháng rồi, nên không dám thúc đẩy các em làm thêm vào các 
		Thứ Bảy hằng tuần tại đoàn, không ngờ chính các em, sau 2 khóa tĩnh huấn 
		này, dường như đã “bị thấm đòn” linh thao Fatima, đã tự nghĩ ra, tự khởi 
		xướng và tự rủ nhau đến với Chúa Kitô. Tôi cảm thấy càng phấn khởi và 
		càng cảm phục các em hơn nữa. Để rồi, tôi đã “nhào vô“ với các em, đồng 
		hành với các em trong các cuộc “đi đêm” sống đức tin này của các em. 
		Trường hợp thứ nhất đó là hôm Thứ Bảy Đầu Tháng 5/9/2009, Cha Antôn Lê 
		Ngọc Đức Phúc, SVD, vị linh mục đầu tiên xuất than từ TNF, tuyên hứa làm 
		huynh trưởng TNF ngày 29/11/1992, được thụ phong ngày 27/5/2006, và đã 
		xung phong tình nguyện sang Thái Lan phục vụ anh chị em bị nhiễm chứng 
		liệt kháng AIDS hay HIV ở một nơi hẻo lánh nghèo nàn, nhân dịp về thăm 
		gia đình ở Costa Mesa California sau 3 năm 1 lần, đã chia sẻ trong bài 
		giảng với 45 em TNF tham dự Thánh Lễ ngài dâng hôm ấy tại Cộng Đoàn Đức 
		Mẹ Mân Côi Claremont-Pomona về ảnh hưởng của TNF nơi ngài. Ngài cho biết 
		khi vừa về nhận địa sở mới, ngài đã phải tìm kiếm và sử dụng giới trẻ để 
		giúp ngài trong mọi sự; ngài đã tổ chức Thứ Bảy Đầu Tháng, với Tượng Mẹ 
		Fatima, cùng giới trẻ tới các gia đình cầu kinh Mân Côi; ngài đã thành 
		lập nhóm giới trẻ, chính thức từ 8/2009, và tìm những câu tâm niệm cho 
		nhóm này, đa số lấy từ 10 Điều Tâm Niệm của TNF; ngài tổ chức trại cho 
		giới trẻ, bề ngoài cũng ao thun đồng phục như TNF, nhưng bề trong phải 
		có thánh lễ và học hỏi đạo đức nữa chứ không phải chỉ nguyên vui chơi; 
		trong nhóm giới trẻ khoảng từ 15 đến 20 em này, có 3 em mới trở lại 1 
		năm rưỡi, 2 em lớp 11 và 1 em nhiễm HIV, lên xe đi đâu cũng nhắc cha lần 
		hạt Mân Côi. 4.3- Tinh thần bình dân phục vụ của tôi nơi Chương Trình 
		Phát Thanh Tin Mừng Sự Sống Tinh thần bình dân liên quan tới việc phục 
		vụ không hưởng thụ là Di Sản Đồng Công nơi tôi chẳng những được thể hiện 
		và gặt hái được dồi dào hoa trái qua thời gian tôi giúp việc ở Chủng 
		Viện Simon Hòa Đà Lạt và dẫn dắt giới trẻ Thiếu Nhi Fatima ở TGP/LA, mà 
		còn nơi cả chương trình phát thanh Tin Mừng Sự Sống nữa. Phải thú thực 
		rằng riêng bản thân tôi (trong nhóm anh chị em Thân Hữu Đồng Công từ 6 
		người từ đầu còn 4 người cho tới nay) mất rất nhiều giờ cho hoạt động 
		tông đồ truyền thông này, với mọi thứ kiêm nhiệm chính yếu, bao gồm cả 
		việc tự động lo tất cả mọi thể lệ hành chánh liên quan tới cả Tiểu Bang 
		lẫn Liên Bang để thành một tổ chức bất vụ lợi - non-profit, mang tên gọi 
		là Hiệp Hội Tin Mừng Sự Sống - Good News of Life Association, nhờ đó có 
		thể gây quĩ sau này. Để liên tục thực hiện việc loan truyền Tin Mừng Sự 
		Sống qua các buổi phát thanh nửa tiếng hằng tuần vào giờ đắt đỏ - 
		primary time, tôi phải kiêm nhiệm đủ mọi thứ việc, như việc dọn bài phát 
		thanh chủ đề, việc thâu phát thanh chung nhóm, việc edit phát thanh từng 
		bài, (có những lần bị trục trặc về máy móc đến gần như bị nhỡ giờ phát 
		thanh), và việc liên lạc với đài phát thanh (Sài Gòn Radio Hải Ngoại ở 
		Orange County California). Để có đủ phương tiện vật chất cho việc phát 
		thanh đắt đỏ, tôi còn phải lo tự mình thảo thư và gửi thư quyên tiền một 
		năm hai lần, một vào dịp kỷ niệm khai trương (17/9/2000) và một vào ngày 
		quan thày Mẹ Thai Lời 25/3, và cùng với nhóm lo gây quĩ hằng năm ở Ngày 
		Thánh Mẫu Missouri của Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ. Chưa hết, sau khi nhận 
		được số tiền ủng hộ đóng góp lớn nhỏ của bất cứ ai, tôi lại phải lo đốt 
		CD về buổi phát thanh có lời tri ân cảm tạ họ, với label CD mầu in tên 
		của từng người, kèm theo Bức Thư &quot;Acknowledgement of the Contribution&quot;, 
		bằng một tờ letterhead trang trọng mầu sắc, để họ được miễn trừ thuế lợi 
		tức hằng năm. Thấy tôi vất vả quá với việc trân trọng thành phần ân nhân 
		này, tôi đã được khuyên nên làm vừa phải thôi, thậm chí cũng chẳng cần 
		làm như vậy vì người cho cũng chẳng cần biết đến và ghi ơn v.v. Nghe 
		thấy những lời khuyên đầy thông cảm ấy, tôi đã thành thật bày tỏ cảm 
		nghĩ của tôi rằng tại sao chúng ta tha thiết kêu gọi người ta đóng góp 
		cho mình, để rồi sau đó coi thường họ như vậy, nếu ở vào trường hợp mình 
		là ân nhân thì sao? Cho dù thành phần ân nhân làm ơn kiểu tay phải không 
		cho tay trái biết, về phần kẻ nhận ơn, vẫn cần phải bày tỏ lòng trân quí 
		của mình đối với những gì họ cho và đối với người cho. Phần tôi, sở dĩ 
		cần phải làm việc ấy một cách kỹ lưỡng như thế, không phải chỉ vì lòng 
		biết ơn, mà còn để sáng tỏ vấn đề vẫn thường và vẫn dễ “lem nhem” này. 
		Thế nhưng, đối với tôi, lý do chính yếu thúc đẩy tôi sẵn sàng bỏ giờ ra 
		thực hiện việc bày tỏ lòng trân quí của mình mỗi khi nhận được quà tặng 
		là vì các vị ân nhân quả thực là bàn tay của Đấng Quan Phòng Thần Linh 
		giơ ra trao cho tôi những gì cần thiết, vào thời điểm của Ngài, để những 
		gì Ngài muốn chúng tôi làm được tiếp tục theo như ý muốn huyền diệu của 
		Ngài. Rồi, với tư cách là Thủ Quĩ của tổ chức bất vụ lợi chính thức này, 
		tôi còn phải hằng năm tường trình lợi tức cho chính quyền Liên Bang, 
		cách riêng cho Tiểu Bang Missouri sau mỗi lần gây quĩ ở Ngày Thánh Mẫu, 
		và phải tường trình những gì thay đổi về cơ cấu tổ chức cho chính quyền 
		Tiểu Bang nữa. Có những lần tôi mất cả ngày để hoàn tất chỉ một mẫu giấy 
		được chính quyền đòi hỏi mà thôi, vì tôi cần phải lục lại tất cả hồ sơ 
		giấy tờ từ đầu để hoàn tất làm sao cho hết sức chính xác chỉ duy một con 
		số sau bao nhiêu là đợt cộng trừ nhân chia nhức cả đầu. Thú thật, nếu 
		không có tinh thần phục vụ không hưởng thụ, nhất là lòng tin tưởng vào 
		Chúa - Mẹ theo gương Cha Thủ, tôi không thể nào tiếp tục với việc tông 
		đồ giáo dân &quot;quá&quot; ư là vất vả này. Đó là chưa kể đến mấy lần tưởng đã 
		không còn trên thế gian này nữa, vì xẩy ra tai nạn xe chết bất đắc kỳ 
		tử, ở chỗ, sau một ngày làm việc mệt mã rồi ghé thâu phát thanh ở Orange 
		County đến khuya, trên đường về xa cả tiếng đồng hồ, vì khua khắt và quá 
		buồn ngủ, bị lạc cả đường về nhà, mở mắt ra đã sang freeway khác hay đã 
		quá mấy exit rồi... Có những lúc tôi phải tự nhủ và trấn an cả bản thân 
		mình lẫn anh chị em trong nhóm là &quot;hãy nhìn lên Chúa để có thể làm việc 
		của Ngài, chứ đừng nhìn chung quanh mình&quot;, &quot;anh chị em mình chỉ làm được 
		tới đó thôi, Chúa chỉ ban cho họ bằng ấy nén thôi, họ chỉ có thiện chí 
		như thế thôi, phần còn lại mình cố gắng kiêm nhiệm bao nhiêu có thể, rồi 
		phó hết mọi sự cho Chúa, việc của Ngài thì Ngài sẽ lo&quot;; &quot;nếu Chúa không 
		ban cho nhóm mình đầy đủ nhân số và dồi dào tài năng thì Ngài sẽ ban cho 
		mình tinh thần phục vụ”, “làm việc cho Chúa cần phải có máu tử đạo&quot;... 
		5- Di Sản về Lời Chúa của Cha Thủ nơi tôi Tuy nhiên, 4 di sản Đồng Công 
		nổi bật của riêng Cha Thủ liên quan tới đời sống hoạt động tông đồ giáo 
		dân của tôi trên đây: 1) lòng tôn sùng Mẹ Maria, liên quan tới Fatima; 
		2) lòng tôn sùng Đức Thánh Cha, hoàn toàn gắn bó với Giáo Hội; 3) lòng 
		tin tưởng vào Chúa, liên quan tới tinh thần Tận Hiến, và 4) tinh thần 
		bình dân phục vụ không hưởng thụ, có thể nói và phải nói rằng không thể 
		nào phát triển đến độ phong phú như thế trong cuộc đời &quot;tu xuất&quot; của 
		tôi, thành phần vẫn bị mang tiếng là &quot;nhất ma, nhì quỉ, thứ ba tu xuất&quot;, 
		nếu không được nuôi dưỡng bằng 2 di sản khác của Cha Thủ nơi tôi liên 
		quan tới đời sống nội tâm. Đó là việc đọc Lời Chúa hằng ngày và lần hạt 
		Mân Côi hằng ngày. Đúng thế, theo tục lệ của Dòng Đồng Công, mỗi ngày 
		hết mọi tu sĩ Đồng Công buộc phải đọc mấy câu Phúc Âm để suy niệm và 
		sống Lời Chúa, cũng như phải lần một tràng 150 kinh Mân Côi, nếu không 
		bận trở từ 5 tiếng trở lên. Sở dĩ tu sĩ Đồng Công lần hạt Mân Côi mỗi 
		ngày 1 tràng 150 kinh là để thay thế cho việc nguyện Kinh Thần Vụ, vì 
		Kinh Thần Vụ bao gồm chính yếu 150 Thánh Vịnh, một con số Thánh Vịnh 
		được thay thế bằng 150 Kinh Mân Côi là kinh được đơn giản hóa cho giới 
		bình dân để họ có thể cầu nguyện hằng ngày theo tinh thần của Kinh Thần 
		Vụ cùng với Giáo Hội. Trước hết về vấn đề đọc Lời Chúa hằng ngày, cho 
		tới nay tôi vẫn tiếp tục như thế, không hề bỏ. Nhờ đó, tôi thực sự thấm 
		nhuần Lời Chúa, càng ngày càng hiểu Lời Chúa hơn, ở chỗ, phán đoán theo 
		Lời Chúa và cố gắng tác hành cùng phản ứng làm sao cho hợp với Ý Chúa 
		một cách trọn lành theo Phúc Âm. Phải nói rằng Lời Chúa như ám ảnh tâm 
		trí tôi. Lời Chúa đúng là &quot;thần linh và sự sống&quot; (Jn 6:63) cho tôi, là 
		&quot;lương thực hằng ngày&quot; (Mt 5:11) của tôi. Tôi cảm thấy quả thực Chúa 
		Thánh Thần là Thần Chân Lý càng ngày càng dẫn tôi &quot;vào tất cả sự thật&quot; 
		(Jn 16:13) là Chúa Giêsu Kitô. Bởi thế, bất cứ những gì tôi nghĩ tưởng, 
		nói năng hay tác hành hoặc phản ứng không theo tinh thần Chúa Kitô thì 
		tôi biết ngay, và cố gắng cải tiến cho nên giống Người mỗi ngày một hơn. 
		Những bài viết của tôi và sách vở của tôi, nhất là về tu đức và giáo lý, 
		được trích dẫn Lời Chúa rất nhiều, tới độ không ít độc giả, thậm chí cả 
		các vị linh mục và tu sĩ, đã tưởng tác giả &quot;Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, 
		BVL&quot; là một vị linh mục... cho tới khi ngỡ ngàng thấy được bộ mặt &quot;bố 
		đời&quot; của tôi. Thật sự là tôi cảm thấy Lời Chúa đang từ từ khuôn đúc con 
		người của tôi và chi phối cuộc đời của tôi. Tôi không thể tồn tại với 
		hoạt động tông đồ giáo dân đa dạng và đầy gian truân thử thách lâu dài 
		cho tới nay, trái lại, nhờ hoạt động lại càng gần Chúa hơn, nếu Lời Chúa 
		không &quot;là ánh sáng sự sống&quot; (Jn 8:12) của tôi và cho tôi. Có 2 Lời Chúa 
		đã có mãnh lực làm biến đổi của đời tôi, một vào năm 1963 và một vào năm 
		1972. Đúng thế, vào đêm Vọng Giáng Sinh 24/12/1963, tại sân trường Đức 
		Minh tân Định, đang khi nghe bài giảng về Chúa Kitô giáng sinh bần cùng, 
		đến câu &quot;được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì được ích gì&quot; (Mt 
		16:26), bản thân là một giới trẻ ở tuổi dậy thì dầy những mộng mơ trần 
		thế, bấy giờ liền cảm thấy không còn thiết gì nữa, kể cả mối tình đầu 
		của mình, không còn sự gì trên thế gian này có ý nghĩa nữa, ngoài việc 
		theo Chúa trong cuộc sống tu trì, một cuộc sống tôi đã thực sự theo đuổi 
		từ ngày 21/6/1964 trong Dòng Đồng Công. Câu Lời Chúa thứ hai đã biến đổi 
		đời tôi đó là câu &quot;hãy chọn chỗ cuối rốt mà ngồi&quot; (Lk 14:10), một câu 
		tôi chỉ hiểu được thấm thía ý nghĩa và cụ thể áp dụng thực hành khi đang 
		ở trong đêm tối tăm, trong thời gian &quot;đáp công chuộc tội&quot; với Cha Thủ, 
		như tôi đã đề cập tới trên đây, nhất là trong cuốn “Cha Đaminh Maria 
		Trần Đình Thủ, CMC, Hạt Lúa Miến Mục Nát… Cho Mùa Thánh Đức Việt Nam”, 
		trang 142-143. Tuy nhiên, phải công nhận là biến cố thứ ba, sau 2 biến 
		cố trên, cũng liên quan tới Lời Chúa, biến đổi cuộc đời tôi, đó là biến 
		cố 1978. Quả vậy, sau mùa hè 1978, tức sau 2 năm học triết ở Conception 
		Seminary thuộc miền Bắc Tiểu Bang Missouri, nhất là ngay sau thời gian 
		đi giúp xứ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội ở Oklahoma City, Oklahoma, tôi cảm 
		thấy tôi chú trọng và chuyên tâm vào các phương tiện trần gian nhiều quá 
		(nhất là về vấn đề ca hát đàn địch) đối với các hoạt động tông đồ đã qua 
		và sẽ tới của mình. Thế rồi, sau khi tôi tự nhiên cảm thấy không có một 
		sự gì chân thật bằng Lời Chúa, khôn ngoan bằng Lời Chúa, quyền năng bằng 
		Lời Chúa, trọn hảo bằng Lời Chúa, tôi đã bỏ hết mọi sự, giành từng giây 
		từng phút của mình để nghiền gẫm Thánh Kinh, và sau 2 năm phục vụ với tư 
		cách là quản lý ở Trại Heo của Chi Dòng, tức cho tới năm 1980, khi tôi 
		được sai đi lập Nhà In Sao Mai ở Houston Texas rồi sau đó chuyển về làm 
		quản lý Nguyệt San Trái Tim Đức Mẹ trong cùng một năm, tôi đã đọc trọn 
		bộ Thánh Kinh Cựu Ước và Tân Ước tất cả là 7 lần. Một câu nói tôi đã 
		truyền lại cho các con của tôi vào năm tôi 57 tuổi, một câu quả thực vừa 
		là hoa trái của Lời Chúa vừa có thể tóm tắt tất cả cuộc đời sống đạo của 
		tôi, một câu nói vẫn còn làm châm ngôn sống cho tôi tới giây phút cuối 
		cùng, đó là câu: &quot;Chỉ có Con Đường dẫn đến Sự Thật mới gặp Sự Sống&quot;. Tôi 
		có ý định sẽ viết một tác phẩm với nhan đề như thế và có thể sẽ là tác 
		phẩm đúc kết cuộc đời của con người cựu tu sĩ Đồng Công này. Hình ảnh 
		một Cha Thủ lúc nào cũng cầm trong tay cuốn Thánh Kinh Tân Ước nhỏ bằng 
		tiếng Latinh mỗi khi huấn đức, và mở đầu bằng một câu Phúc Âm cho mỗi 
		lần huấn đức hay hội họp vẫn còn đậm nét bất khả xóa mờ trong tôi. Những 
		lời giáo huấn thấm đẫm Lời Chúa của ngài liên quan tới đời sống thánh, 
		nhất là về tinh thần bỏ mình, “vui chịu khinh chê giầy đạp, chịu dễ duôi 
		bắt bớ”, thực sự đã in sâu vào lòng tôi cho tới nay, vì nó hoàn toàn 
		phản ảnh đời sống đầy khổ hạnh và đau thương cho tới chết của ngài. 6- 
		Di Sản về Kinh Mân Côi của Cha Thủ nơi tôi Sau nữa, về việc lần hạt Mân 
		Côi hằng ngày, cho tới nay tôi vẫn tiếp tục thực hiện. Chẳng những với 
		số lượng như khi còn ở trong dòng mà còn hơn thế nữa. Tôi đã từng nói 
		với bạn bè thân hữu Đồng Công hay tu sĩ Đồng Công của tôi rằng &quot;sở dĩ 
		tôi lần hạt Mân Côi nhiều hơn khi còn ở trong Dòng là vì ra ngoài đời 
		lạnh lẽo hơn trong Dòng, nên cần phải mặc áo ấm hơn cho đỡ bị bệnh&quot;. 
		Thật ra, khi mới xuất vào năm 1982, tôi chỉ lần hạt tối thiểu một chuỗi 
		là 50 kinh thôi, ngoài việc đi lễ hằng ngày. Cho tới khi bắt đầu phục vụ 
		Phong Trào Thiếu Nhi Fatima vào năm 1991, tôi mới tăng lên thành 1 tràng 
		3 chuỗi mỗi ngày, và bắt đầu thực hiện việc nguyện Giờ Kinh Thần Vụ hằng 
		ngày từ năm 1992. Để mừng Đại Năm Thánh 2000 và bắt đầu từ Đại Năm Thánh 
		2000 này, số Kinh Mân Côi tôi đọc hằng ngày được tăng lên gấp hai, tức 2 
		tràng hay 6 chuỗi. Chưa hết, bắt đầu từ năm Mân Côi (2002-2003), tổng số 
		Kinh Mân Côi tôi đọc hằng ngày lại được tăng lên 4 chuỗi nữa là 10 chuỗi 
		hay 3 tràng. Tràng cuối cùng sở dĩ bao gồm 4 chuỗi thay vì 3 chuỗi trước 
		đó là vì chuỗi Kinh mới kính Mầu Nhiệm Sự Sáng đã được ĐTCGPII thêm vào, 
		khi ngài ban hành Tông Thư Kinh Mân Côi Trinh Nữ Maria của ngài, năm 
		2002, ở đoạn 19 và 21. Về Mầu Nhiệm Sự Sáng được ĐTCGPII chính thức thêm 
		vào bộ Kinh Mân Côi truyền thống này, tôi đã được diễm phúc có cùng ý 
		nghĩ với ngài, khi tôi dịch tác phẩm Bí Mật Kinh Mân Côi của Thánh Long 
		Mộng Phố (Louis Montfort) từ năm 1993, và thêm vào phần cuối sách như là 
		&quot;phụ trương 4&quot; (trang 266-270) về &quot;Năm Mầu Nhiệm Mân Côi Nhập Thế&quot;. Năm 
		mầu nhiệm tôi thêm vào để trở thành &quot;Năm Mầu Nhiệm Mân Côi Nhập Thế&quot;, 
		liên kết giữa Năm Mầu Nhiệm Vui và Thương, bao gồm 1) biến cố Chúa Giêsu 
		chịu phép rửa; 2) Chúa Giêsu chay tịnh; 3) Chúa Giêsu biến hình; 4) Chúa 
		Giêsu vào thành Giêrusalem; 5) Chúa Giêsu lập phép Thánh Thể. Trong 5 
		mầu nhiệm này chỉ có 3 là giống 5 Mầu Nhiệm Sự Sáng của ĐTCGPII, đó là 3 
		mầu nhiệm lẻ 1, 3 và 5. Đối với tôi, từ ngày nghiên cứu về Fatima từ năm 
		1991, tôi đã lưu ý thấy lời Mẹ Maria kêu gọi mỗi lần Mẹ hiện ra và trong 
		cả 6 lần ở Fatima liên quan tới Kinh Mân Côi, ở chỗ, Mẹ không kêu gọi là 
		&quot;hãy đọc (say) kinh Mân Côi hằng ngày&quot; mà là &quot;hãy cầu kinh (pray) Kinh 
		Mân Côi hằng ngày&quot;, tức là hãy lần hạt với tất cả tấm lòng của mình chứ 
		không phải chỉ bằng môi mép vậy thôi. Vì Kinh Mân Côi chính là một 
		phương thức cầu nguyện tuyệt hảo, hết sức đặc thù của Kitô hữu Công 
		Giáo, đến nỗi, theo ĐTCGPII, như ngài đã minh định trong Tông Thư Kinh 
		Mân Côi Trinh Nữ Maria, ở đoạn 3, rằng: &quot;Việc lần hạt Mân Côi không là 
		gì khác ngoài việc cùng với Mẹ Maria chiêm ngưỡng dung nhan Chúa Kitô&quot;. 
		Theo chiều hướng &quot;cùng Mẹ chiêm ngưỡng dung nhan Chúa Kitô&quot; này, tôi đã 
		bao gồm cả việc gẫm Lời Chúa hằng ngày với việc lần hạt Mân Côi làm một. 
		Ở chỗ, tôi đọc Lời Chúa theo phụng vụ lễ của ngày hôm đó, rồi vừa lần 
		hạt Mân Côi vừa suy ngắm Lời Chúa thay vì suy gẫm các mầu nhiệm Mân Côi. 
		Tôi đã chia sẻ cảm nghiệm về việc &quot;cầu kinh Mân Côi&quot; của tôi qua một số 
		tác phẩm, như cuốn &quot;Cử Hành Mầu Nhiệm Mân Côi&quot; năm 1998, &quot;Cùng Mẹ Chiêm 
		Ngưỡng Chúa Kitô&quot; năm 2003, và &quot;Bí Quyết Cầu Kinh Mân Côi&quot; năm 2005. Tôi 
		đã tổ chức việc &quot;Cử Hành Mầu Nhiệm Mân Côi&quot;, (bằng cách lần trọn 3 chuỗi 
		Vui, Thương, Mừng, và diễn từng mầu nhiệm), trong Phong Trào Thiếu Nhi 
		Fatima vào Tháng Mân Côi hằng năm trong thời điểm Giáo Hội dọn mừng Đại 
		Năm Thánh 2000 như sau: Lần 1 vào Chúa Nhật đúng ngày 13/10/1996 tại 
		Đoàn Thiếu Nhi Fatima Đức Mẹ Lộ Đức Los Angeles; lần 2 vào Thứ Bảy Đấu 
		Tháng 4/10/1997 tại Đoàn Thiếu Nhi Fatima Đức Mẹ Truyền Tin Torrance; 
		lần 3 vào Thứ Bảy (gần ngày 13) 10/10/1998 tại Đoàn Thiếu Nhi Fatima Đức 
		Mẹ Thăm Viếng El Monte; lần 4 vào Thứ Bảy (gần ngày 13) 9/10/1999 tại 
		Đoàn Thiếu Nhi Fatima Đức Mẹ Đau Thương San Gabriel; lần 5 vào Thứ Bảy 
		Đầu Tháng Lễ Mẹ Mân Côi 7/10/2000 tại Đoàn Thiếu Nhi Fatima Đức Mẹ Mân 
		Côi Pomona. Ngoài ra, để mừng Đại Năm Thánh 2000, Thiếu Nhi Fatima, cả 5 
		đoàn thuộc TGP/LA, đã sang Đền Thánh Mẹ Dâng Con của Chi Dòng Đồng Công 
		Hoa Kỳ ở Corona, để cử hành 15 Mầu Nhiệm Mân Côi vào chính ngày 13/5. 
		Chưa hết, sau năm 2000, TNF còn tiếp tục truyền thống &quot;Cử Hành Mầu Nhiệm 
		Mân Côi&quot; một lần nữa với Ngày Mẹ Mân Côi được tổ chức tại Cộng Đoàn Đức 
		Mẹ Mông Triệu El Monte, từ 10 giờ sáng đến 6 giờ chiều vào ngày Thứ Bảy 
		13/10/2001, kỷ niệm đúng ngày Mẹ hiện ra tại Fatima lần cuối cùng năm 
		1917. Chương trình tổ chức khác với các năm trước (1996-2000), không còn 
		các màn trình diễn 15 Mầu Nhiệm Mân Côi nữa, mà là học hỏi và chia sẻ về 
		Kinh Mân Côi. Cốt lõi của Ngày Mẹ Mân Côi này vẫn là lần hạt đủ 15 Mầu 
		Nhiệm, với năm màn vũ hoa dâng Mẹ của năm đoàn TNF; và Thánh Lễ kết thúc 
		có vũ phụng vụ và nghi thức dâng Thế Giới cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên 
		Tội Mẹ Maria, để Mẹ ban hòa bình cho thế giới, nhất là sau vụ khủng bố 
		tấn công Hoa Kỳ ngày 11/9/2001 mới xẩy ra bấy giờ. Tôi cảm thấy mình có 
		duyên nợ đặc biệt với Kinh Mân Côi vì 3 lý do chính sau đây. Lý do thứ 
		nhất đó là vì tôi được sinh ra vào ngày 6/10, ngay trước ngày Lễ Mẹ Mân 
		Côi - phải chăng để chúc tụng &quot;Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời&quot;, như tôi 
		quả thực đã được diễm phúc rửa tội để trở nên con cái Thiên Chúa vào 
		chính Lễ Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa 11/10/1948. Lý do thứ hai đó là vì 
		thánh quan thày rửa tội của tôi là Thánh Đaminh, vị thánh đã truyền bá 
		Kinh Mân Côi trong Giáo Hội từ thế kỷ 13. Lý do thứ ba đó là vì tên 
		thánh khấn dòng của tôi trước đây là &quot;Paro&quot;, một tên ghép giữa Thánh 
		Quan Thày khấn dòng với một tước hiệu về Mẹ - tên Thánh khấn dòng của 
		tôi 24/9/1967 là &quot;Antôn Padua&quot; và tước hiệu về Mẹ của tôi là Mẹ Mân Côi 
		&quot;Rosario&quot;. Từ 4/2009, thời điểm hình thành Nhóm Tông Đồ Chúa Tình 
		Thương, tôi chỉ còn lần 2 tràng 8 chuỗi mỗi ngày, thay vì 10 chuỗi như 
		từ Năm Mân Côi 2002-2003, nhưng thay vào đó, tôi bắt đầu lần 3 chuỗi 
		Kinh Thương Xót. Tôi dự tính khi bắt đầu chính thức về hưu, một là năm 
		62 tuổi (2010) hai là năm 66 tuổi (2014), tôi sẽ lần 3 tràng hay 12 
		chuỗi mỗi ngày. Tôi chưa chính thức đích thân hỏi Cha Thủ về số lượng 
		Kinh Mân Côi hằng ngày ngài lần hạt, mà chỉ nghe các bậc tiền bối trong 
		dòng cho biết rằng ngài lần mỗi ngày 15 chuổi, và ngài sử dụng Kinh Mân 
		Côi này để suy gẫm cũng như để dọn mình dâng Thánh Lễ và cám ơn Rước Lễ 
		sau Thánh Lễ. Trong Kinh Tuần Ba kính Đức Mẹ, được ngài soạn theo 3 Mệnh 
		Lệnh Fatima cho anh em dòng đọc trước một số Lễ Mẹ, ngày thứ nhất về 
		mệnh lệnh cải thiện đời sống, ngày thứ hai về mệnh lệnh lần hạt mân côi 
		và ngày thứ ba về mệnh lệnh tôn sùng mẫu tâm. Nguyên văn của Kinh Tuần 
		Ba cho ngày thứ hai về Kinh Mân Côi như sau: “Lạy Trái Tim Vô Nhiễm 
		Nguyên Tội Mẹ Maria! Trái Tim Mẹ đầy tình thương xót, đã ban cho thế 
		gian một phương pháp cứu rỗi loài người, cải tạo đời sống, một kinh xin 
		ơn đắc lực, giúp nên thánh dễ đàng, là phép lằn hạt Rất Thánh Văn Côi 
		Mẹ. Ôi? Kinh Văn Côi chí linh chí ứng, phép tắc hiệu lực. Bao phen nguy 
		hiểm khốn khó mà kinh Văn Côi đã đem lại cho Giáo Hội những thắng trận 
		vinh quang. Biết bao bè đảng mưu mô xảo quyệt, tay sai đắc lực của 
		Satan, đã bị tan tành thất bại trước tràng hạt Văn Côi Mẹ! Biết bao 
		người tội lỗi nhầm lạc, đã ăn năn trở về cùng Chúa! Biết bao ức triệu 
		người đạo rối, đạo lạc đã quay về cùng Đức Tin, làm con Giáo Hội, là do 
		những tràng hạt Văn Côi đã huy động chỉ đàng! Ôi ? Kinh Văn Côi là thuốc 
		chữa bệnh thời thế, cứu rỗi loài người, là thuẫn bênh vực giữ gìn Giáo 
		Hội, là búa sắt phá tan kẻ thù địch, là chìa khóa mở kho tàng Thiên 
		Chúa. Cúi xin Mẹ, vì lời Mẹ đã phán hứa, ban cho khắp thế gian đều nhìn 
		biết giá tri kinh Văn Côi, cho họ yêu mến cậy trông kinh Văn Côi luôn 
		luôn, để họ cải tạo đời sống. Xin Mẹ vì những kinh Văn Côi hằng vang 
		khắp thế giới, ban cho nước Việt Nam được hoàn toàn trở nên con yêu dấu 
		Mẹ. Xin Mẹ làm cho mọi anh em đồng bào con trở nên những tràng kinh Văn 
		Côi sống động của Mẹ, để ngượi khen yêu mến Mẹ Rất Thánh Văn Côi toàn 
		thắng đời đời chẳng cùng. Amen”. “Tất cả những gì tôi có được đều từ Cha 
		Thủ và Dòng Đồng Công” Xin tri ân cảm tạ Cha Đaminh Maria Trần Đình Thủ, 
		vị linh mục được Chúa dùng để sinh ra tôi bằng lòng tin tưởng vào Chúa 
		của cha. Giờ đây, nhờ lòng tin tưởng bất khả thiếu trong đời sống tu đức 
		và nên thánh này, tôi càng ngày càng cảm thấy gần cha hơn bao giờ hết, 
		một lòng tin tưởng đã được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa và Kinh Mân Côi, 
		cũng như được thử luyện và gia tăng nhờ các hoạt động tông đồ giáo dân 
		với Thiếu Nhi Fatima và cho Tin Mừng Sự Sống. Tôi rất hãnh diện được làm 
		môn đệ của cha. Nhất là được cha đích thân linh hướng sống thánh. Nếu 
		sau này quả thực cha được Giáo Hội tuyên phong và tôn kính trên bàn thờ 
		thì thật là vinh dự biết bao cho một con người đầy đam mê nhục dục và 
		tính mê nết xấu như tôi đây, đã không ngờ được sống với và sống gần một 
		vị thánh, một vị linh mục cả cuộc đời chỉ biết sống chết cho lý tưởng 
		thánh tận tình huấn thánh cho! Di sản Đồng Công của Cha Thủ nơi tôi, qua 
		các hoạt động tông đồ giáo dân của tôi, đã được tỏa lan khắp nơi, trước 
		hết là chính gia đình Cao-Bùi bé nhỏ 5 con người của tôi (1 người vợ 
		luôn đồng hành với mọi việc tông đồ giáo dân của tôi, và cả 3 đứa con 
		nhờ ơn Chúa thật vẹn toàn về trí đức dục), sau đó là thành phần giới trẻ 
		Thiếu Nhi Fatima, rồi tới những độc giả của 16 tác phẩm về Fatima và 16 
		tác phẩm về Giáo Hội, hay các độc giả của mạng điện toán toàn cầu Thời 
		Điểm Maria, cùng với thành phần thính giả của chương trình phát thanh 
		Tin Mừng Sự Sống. Đại diện tất cả mọi người đã được âm thầm thừa hưởng 
		các Di Sản Đồng Công của cha, gián tiếp qua đứa con thiêng liêng được 
		cha sinh ra từ lòng tin tưởng của cha nơi Chúa và Mẹ này, xin hết lòng 
		tri ân cảm tạ cha. Trước tất cả mọi lời khen tặng của bất cứ ai, trong 
		dòng hay ngoài đời, giáo sĩ hay giáo dân, về những gì tôi làm, liên quan 
		tới những hoạt động tông đồ giáo dân của tôi, như được thuật lại trong 
		bài viết này, nhất là tới một đống thật nhiều sách vở chính tôi không 
		ngờ đã viết và phổ biến, tôi đều tuyên xưng một câu duy nhất: “Tất cả 
		những gì tôi có được đều từ Cha Thủ và Dòng Đồng Công”. Cái vốn liếng 
		Đồng Công này, khi tôi còn tu, chính là kho tàng được chôn giấu trong 
		thửa ruộng đã được tôi từ bỏ mọi sự để tậu lấy, và khi không còn tu, lại 
		chính là viên ngọc quí mà tôi đã phải tiêu hao cả cuộc đời còn lại để 
		bảo trì (xem Mt 13:44-46). Từ ngày chính thức gia nhập tổ chức Gia Đình 
		Tận Hiến Đồng Công (GĐTHĐC), qua Khóa 33HK ở Riverside California, 
		5-8/7/2007, thời điểm kỷ niệm đúng 90 năm Biến Cố Thánh Mẫu Fatima, 30 
		năm GĐTHĐC được phục hồi (1987), và 1 năm được gặp Cha Thủ lần cuối cùng 
		(Thứ Sáu 7/7/2006), tôi đã chính thức &quot;trở về&quot; với Đồng Công, qua ngõ 
		&quot;dòng ba&quot; này. Cho tới đây chắc không ít người thắc mắc rằng tại sao mãi 
		cho tới gần đầy, năm 2007, tôi mới chính thức gia nhập Gia Đình Tận Hiến 
		Đồng Công, trong khi tôi đã xuất từ năm 1982, mà Gia Đình Tận Hiến Đồng 
		Công được thành lập ở Việt Nam từ năm 1978 nhưng tái sinh hoạt từ năm 
		1987, và bắt đầu ở Hoa Kỳ từ năm 1992. Xin thú thật là tôi đã có nghe 
		đến tổ chức Gia Đình Tận Hiến Đồng Công (GĐTHĐC) từ lâu, nhưng không tha 
		thiết gì cho lắm… cho đến khi. Phải, cho đến thời điểm thiên định. Đó 
		là, vào Tháng 10/2004, Đức Cha Mai Thanh Lương, tân giám mục phụ tá Giáo 
		Phận Orange mới được hơn 1 năm, kêu gọi vợ chồng tôi và anh Trần Mỹ 
		Duyệt cũng là Thân Hữu Đồng Công (cùng với người vợ thứ hai của anh), 
		đến tư gia của ngài để bàn chuyện thành lập một tổ chức mang tên “Gia 
		Đình Thánh Gia” là danh xưng tôi đề nghị. Tuy nhiên, sau cuộc gặp gỡ sơ 
		khởi này, vì những lý do rất tế nhị không thể nói ra nơi đây, những lý 
		do vô cùng sâu nhiệm của Đấng Quan Phòng Thần Linh, khiến tôi tự nhiên 
		cảm thấy “bị” thúc đẩy trở về với Đồng Công và gia nhập tổ chức Gia Đình 
		Tận Hiến Đồng Công. Bấy giờ tôi mới thấy rằng những gì tôi chủ trương 
		“Chiến Dịch Xin Mẹ Chủ Sự Gia Đình” trong cuốn “Mẫu Tâm Maria - Con Tầu 
		Cứu Rỗi Gia Đình” (năm 1995, thời điểm bế mạc Năm Gia Đình 1994-1995), 
		đều phản ảnh Tinh Thần Tận Hiến của Đồng Công mà tôi đã được thấm nhuần 
		từ khi còn ở trong Dòng, và đúng như chủ trương của Gia Đình Tận Hiến 
		Đồng Công. Sau khi gia nhập GĐTHĐC, trong các khóa tĩnh huấn sau đó, tôi 
		vẫn thường hay chia sẻ với quí anh chị em mới cũ rằng: “Gia đình hạnh 
		phúc nhất trên trần gian này là gia đình Thánh Gia. Vậy gia đình nào 
		muốn hạnh phúc thì phải sống như gia đình Thánh Gia. Tức là phải sống 
		đời sống hôn nhân thánh thiện. Không thánh thiện chắc chắn sẽ không có 
		hạnh phúc. Đó là lý do Khóa Tĩnh Huấn của GĐTHĐC hoàn toàn không chú 
		trọng đến vấn đề tâm lý trị liệu tự nhiên theo khoa học, như các chủ 
		trương thăng tiến hôn nhân gia đình khác, hơn là chuyên học hỏi về đời 
		sống thiêng liêng đạo đức. Mà đời sống thiêng liêng Thánh Thiện đối với 
		Cha Thủ là Vị Sáng lập Dòng Đồng Công, vị suốt đời theo đuổi Lý Tưởng 
		Thánh và huấn thánh cho người Việt Nam, cả tu sĩ lẫn giáo dân, đó là đời 
		sống Tận Hiến. Theo Cha Thủ thì nên thánh là sống đời tận hiến và càng 
		sống đời tận hiến thì càng nên thánh vậy… “Cha Thủ đã thiết lập GĐTHĐC 
		như để kêu mời các gia đình hãy vào Con Tầu Noe là Trái Tim Mẹ Maria. 
		Ngày xưa Tầu Noe cứu cả nguyên một gia đình (chứ không phải một cá nhân 
		nào hay một đoàn thể nào) cho khỏi đại hồng thủy thế nào, thì nay Trái 
		Tim Mẹ Maria cũng là nơi nương náu cho các gia đình trong trận lụt văn 
		hóa sự chết của một thế giới càng văn minh con người càng bạo loạn, một 
		nền văn hóa chẳng những hủy hoại sự sống con người mà còn hủy hoại cả 
		môi sinh là thiên nhiên vạn vật nữa, một hiện tượng hủy hoại mọi sự như 
		thế chẳng khác gì một trận hủy diệt kinh hoàng đang diễn ra hiện nay…”. 
		(Trong Kinh Cầu Trái Tim Vẹn Sạch Mẹ của Cha Thủ có câu: “Trái Tim Mẹ là 
		tàu cứu vớt thế gian cho khỏi lụt vô thần duy vật”). Chính vì GĐTHĐC là 
		một tổ chức âm thầm (chứ không rầm rộ quảng cáo) kêu gọi các gia đình 
		vào Con Tầu Noe là Trái Tim Mẹ Maria cho khỏi bị đắm chìm trong nền văn 
		hóa sự chết như thế mà gia đình nào vào được là cả một đặc ân. Hằng năm, 
		nguyên ở Hoa Kỳ không, với hai khóa tĩnh huấn vào đầu tháng 7, một ở trụ 
		sở trung ương Chi Dòng và một ở Riverside California, con số tham dự hết 
		sức đông đảo, lên tới cả gần 300 con người. Chính vì thế mà hai vợ chồng 
		tôi dù muốn cũng không thể nào vào được cho tới thời điểm thiên định là 
		năm 2007. Cho dù tôi đã ghi danh tham dự từ năm 2005, nhưng bị hụt, vì 
		người phối ngẫu của mình chưa thể tham dự bấy giờ. Năm 2006, thời điểm 
		Khóa Tĩnh Huấn của GĐTHĐC gia đình tôi lại đang ở Việt Nam, và chính 
		cuối tuần đang diễn ra khóa tĩnh huấn ở Hoa Kỳ lại là thời điểm bản thân 
		tôi được gặp Cha Thủ lần cuối cùng, từ 4 đến giờ 30 chiều Thứ Sáu 
		7/7/2006. Từ nay, bất cứ hoạt động tông đồ giáo dân nào của tôi, dù 
		trước đó và nhất là sau đó, tôi cũng làm với tư cách là một phần tử Đồng 
		Công chính thức, không phải ở bậc Tu Sĩ Đồng Công, hay ở cấp Thân Hữu 
		Đồng Công, mà là ở chỗ “cộng sự của Dòng” (Thủ Bản GĐTHĐC, điều 1), tức 
		với vai trò là một Cộng Sự Đồng Công, để như cánh tay nối dài “cộng tác 
		việc truyền giáo của Hội Dòng Đồng Công” (Thủ Bản GĐTHĐC, điều 3), Di 
		Sản Đồng Công nơi tôi được tiếp tục và liên tục trở thành muối đất men 
		bột cho đời (xem Thủ Bản GĐTHĐC, điều 3). Nếu mộng ước duy nhất của ngài 
		là huấn thánh cho người Việt Nam, cả giới tu trì lẫn giáo dân, thì chớ 
		gì con người bao gồm cả 2 giới này, vì đã từng là tu sĩ Đồng Công của 
		ngài và hiện là một giáo dân cộng sự Đồng Công vẫn còn ăm ắp Di Sản Đồng 
		Công bất khả xóa nhòa của ngài, được diễm phúc là một trong những hoa 
		trái thiêng liêng thánh đức của ngài, &quot;Cha Đaminh Maria Trần Đình Thủ, 
		CMC, Hạt Lúa Miến Mục Nát… Cho Mùa Thánh Đức Việt Nam”. Tâm Phương Cao 
		Tấn Tĩnh San Bernadino, California, L ễ Sinh Nhật Mẹ Maria 8/9/2009 Lễ 
		Ðức Maria Hồn Xác Lên Trời <br>
		Đức Maria hồn xác lên trời (Assumpta) Lm Hà Văn Minh Giống như sự khởi 
		đầu hiện hữu của Đức Maria trên trần thế, đoạn kết của đời sống thế trần 
		của Mẹ cũng được Thiên Chúa thánh hiến: Theo truyền thống Giáo huấn công 
		giáo thì “Đức Maria sau khi hoàn tất cuộc sống trần thế đã được đưa về 
		trời vinh quang cả hồn lẫn xác” (DH 3903). Những sinh hoạt tôn kính Đức 
		Maria vào thế kỷ thứ 6. đã nhắc đến việc thân xác Đức Maria được đưa về 
		trời. Dĩ nhiên việc khẳng định nầy đã đưa lại nhiều vấn nạn, vì nó không 
		dựa vào một chứng cứ lịch sử nào. Ở Đông phương vào thế kỷ thứ 6. và ở 
		Tây phương vào thế kỷ thứ 7. và 8. ngươì ta nói đến lễ Đức Maria ngủ 
		(koimesis / dormitio). Bên Tây phương lễ tưởng nhớ cái chết và việc quay 
		trở về quê trời của Mẹ, nối kết với việc tưởng nhớ thân xác của Mẹ không 
		bị mục nát, được coi như đánh dấu việc đưa Mẹ về trời (assumptio 
		Mariae). Điều muốn trình bày là: Cái chết của Đức Maria có một ý nghĩa 
		đức tin quan trọng, phát sinh bởi việc áp dụng về ý nghĩa (application = 
		Nói về những hoa trái của sự cứu chuộc khách quan, do Chúa Kitô thủ đắc 
		một lần là đủ trong lễ Vượt qua, rồi được thông ban cho từng người, tùy 
		theo đức tin, đức mến và các Bí tích mà họ lãnh nhận [Thomas Aquin, Sth 
		III, q. 49, a 3, ad 1] ) được trình bày cách tổng quát nơi thánh kinh về 
		số phận những người chết (1 Thess 4, 14) trên Đức Maria. Sự đồng hình 
		đồng dạng của người chịu Phép rửa với cái chết và sự Phục sinh của Đức 
		Kitô (Phil 3, 12; Eph 2, 5; Col 3,3) và sự chiên ngắm dung nhan Thiên 
		Chúa cách trọn hảo (1 Cor 13, 12; 1 Gia 3, 2) liên kết với tín điều Trọn 
		Đời Đồng Trinh và Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria trong mối tương quan sâu 
		xa với công trình cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô đưa tới nhận thức: Đức 
		Maria như là một con người ở bên Thiên Chúa một cách trọn hảo hoàn toàn, 
		và số phận của từng người được Thiên Chúa phác hoạ lại trong số phận của 
		Mẹ như là mẫu mực và điển hình (typologie). Ngay từ đầu niềm xác tín về 
		việc Đức Maria được đưa về trời cả hồn lẫn xác nối kết cách chặt chẽ với 
		việc tín thác vào lời bầu cử của Đức Maria, như tất cả các Thánh tử đạo 
		và các thánh, Mẹ ở bên Chúa Giêsu, và trong sự hoà hợp với sự trung gian 
		của Đức Kitô, Mẹ nâng đỡ Giáo hội lữ hành trên con đường tiến tới hợp 
		nhất với Đức Kitô, phu quân của mình. Vào thế kỷ thứ 7. và thứ 8. các 
		nhà Thần học có thế giá ở Đông phương đều giảng dạy việc thân xác của 
		Đức Maria được đưa về trời (Germanô thành Constantinopel, Gioan Damacus, 
		Theodor Studion). Ở Tây phương các nhà kinh viện thời hưng thịnh cũng 
		xác tín rằng, Thân xác mang Ngôi lời của Đức Maria là đền thờ Chúa Thánh 
		Thần, đã không bị hủy hoại bởi Nguyên tội (Thomas Aquin, Exp. Sal. 
		Ang.). Có hai tác phẩm nghi ngờ về số phận của Đức Maria: trước tiên là 
		“Adest nobis” (gỉa thuyết cho Ambrosiô Autpertô [† 784] biên soạn) cho 
		rằng, ngươì ta không thể biết về số phận của Đức Maria, kế đến là 
		“Cogitis me” (hình như được biên soạn bởi Paschasiô Radbertô [† 865]) 
		nghi ngờ không biết thân xác của Đức Maria có lên trời vinh hiển hay 
		không. Augustinô trong bộ biên khảo “Ad interrogata” đã xác tín niềm tin 
		về việc thân xác Đức Maria được đưa về trời dựa trên nền tảng chứng cứ 
		Kitô học. Trong khuôn khổ của vấn đề linh hồn – thân xác nơi kinh viện 
		xuất hiện câu hỏi: căn cứ vào phương thế nào mà sự chung hưởng trọn vẹn 
		với phương tiện trần thế (tức thân xác) có thể lĩnh hội được? Câu hỏi 
		hướng tới số phận của thi hài Đức Maria trong khuôn khổ nhân chủng học 
		và cánh chung học. Vấn đề được đặt ra ở đây không nhắm đến sự hợp nhất 
		thân xác trần thế và vinh hiển của Chúa Giêsu, vì nơi Chúa Giêsu nói đến 
		biến cố mạc khải trực tiếp, qua đó Thiên Chúa Cha biểu lộ sự đồng nhất 
		giữa Chúa Giêsu Phục sinh và trần thế qua “ttrạng thái thần khí” của 
		Người biểu tỏ nơi biến cố hiện ra sau khi sống lại. Trong quá trình tiến 
		tới tín điều hóa đức tin về Assumpta, một vài giáo huấn của các Đức Giáo 
		hoàng về việc xác Đức Maria được đưa về trời đóng vai trò quan trọng. 
		Như bức thư “Ex litteris tuis” được Đức Alexander III biên soạn năm 
		1169: “Đức Maria thụ thai tinh tuyền, sinh nở không đau đớn, và vì thế 
		sau khi chết Mẹ không bị hủy hoại” (“Maria concepit sine pudore, peperit 
		sine dolore, et hinc migravit sine corruptione”) (DH 748), và bản văn 
		nói về việc Đức Maria được đưa về trời cả hồn lẫn xác trong việc cải tổ 
		giờ kinh phụng vụ ghi theo lịch, danh sách các thánh đã qua đời 
		(Martyrologium) (1568) của Đức Pio V, đã có một ảnh hưởng rất lớn. Dựa 
		vào lời thỉnh cầu của các tín hữu và sự nhất trí của toàn thể các Giám 
		mục trong Giáo hội công giáo, Đức Piô XII. Đã ban hành tông sắc 
		“Munificentissimus Deus” (1950) (DH 3900 – 3904) tuyên bố tín điều: “Đây 
		là chân lý đức tin được mặc khải bởi Thiên Chúa: Đức Maria vô nhiễm 
		nguyên tội, Mẹ Thiên Chúa trọn đời đồng trinh, sau khi hoàn tất cuộc đời 
		dương thế, đã được đưa về trời vinh hiển cả hồn lẫn xác” (DH 3903). Về 
		cái chết và về thân xác không hư nát của Đức Maria cũng đưa ra vấn nạn: 
		có hay không Đức Maria là người duy nhất trong cộng đoàn các thánh nhân 
		được đặc ân là: toàn thể con người của Mẹ (xác và hồn) được dự phần vào 
		vinh quang của Đấng phục sinh, vinh quang được mặc khải trong biến cố 
		quang lâm, bởi có thể các thánh khác cũng tham dự vào biến cố đó (x. Mt 
		27, 52)? Theo một chiều kích khác, biến cố lạ thường về sự trọn hảo của 
		Đức Maria có thể không nhìn đến trong một mối tương quan giữa hồn và xác 
		của Mẹ sau khi chết, nhưng đúng hơn là nhìn đến trong mức độ kết hợp của 
		Mẹ với Đức Giêsu Kitô và với ý muốn cứu độ phổ quát của Người đối với 
		Giáo hội và với nhân loại. Qua cái chết mối tương quan cá nhân của con 
		người đối với Thiên Chúa được biểu lộ trong Đức Kitô và trong Chúa Thánh 
		Thần. Mối tương quan đó được thể hiện trong những mức độ khác nhau, cái 
		mức độ đó liên quan đến sự kết hợp thâm sâu và sự nguyên vẹn của bản 
		tính con người hiện hữu xác hồn. Công bố tín điều về Đức Maria được cả 
		hồn lẫn xác về trời: vì chỉ có Đức Maria là người duy nhất được nối kết 
		với hành vi cứu chuộc của Đức Kitô trong đức tin và trong ân sủng, Mẹ dự 
		phần vào hình thức phục sinh của Đức Kitô như là người được cứu chuộc 
		đầu tiên và được cứu chuộc cách trọn vẹn. Do đó Mẹ là nguyên mẫu (Typus) 
		của tình trạng toàn vẹn của nhân loại đối với Thiên Chúa, Đấng tạo hoá 
		và Đấng toàn hảo. Sự phân biệt giữa Mẹ và các thánh nằm ở chỗ: Đức Maria 
		là nguyên mẫu và là biểu trưng của việc cứu chuộc qua sự kiện Mẹ nối kết 
		một cách thâm sâu với chính công trình cứu chuộc và lời cầu bầu của Mẹ 
		có một ý nghĩa đặc biệt, một chiều kích rộng lớn và một mức độ sâu đậm 
		đối với sự trọn vẹn của toàn thể nhân loại trong ngày quang lâm của Đức 
		Kitô. Đức Maria là nguyên mẫu của Giáo hội và đồng thời, căn cứ vào chức 
		vụ Mẹ Thiên Chúa, là chi thể mang nhiều ý nghĩa nhất đối với Thân thể 
		Mầu Nhiệm Chúa Kitô. Bởi đó công đồng Vat. II một lần nữa lập lại xác 
		tín của Giáo hội: “sau khi hoàn tất cuộc đời dương thế, Đức Trinh Nữ Vô 
		Nhiễm đã được đưa lên trời hưởng phúc vinh quang cả hồn lẫn xác, và được 
		Thiên Ch1ua tôn vinh làm Nữ Vương vũ trụ để nên giống Con Ngài trọn vẹn 
		hơn, là Chúa các Chúa (x. Kh 19, 16), Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự 
		chết” (LG 59). Đức Maria không ngớt dấn thân trong nhiệm cục cứu chuộc, 
		ngay cả khi về trời Mẹ vẫn tiếp tục bổn phận của Mẹ trong nơi “nhiệm cục 
		ân sủng”: “Thực vậy, sau khi về trời, vai trò của Mẹ trong việc cứu độ 
		không chấm dứt, nhưng Mẹ vẫn luôn tiếp tục cầu bầu để đem lại co chúng 
		ta những ân huệ để đem lại chúng ta những ân huệ giúp chúng ta được phần 
		rỗi đời đời. Với tình mẹ hiền, Mẹ chăm sóc những anh em của Con Mẹ đang 
		lữ hành trên đường dương thế và đang gặp bao nguy hiểm thử thách, cho 
		đến khi họ đạt tới hạnh phúc quê trời. Vì thế trong Giáo hội, Đức Trinh 
		Nữ được kêu cầu qua các tước hiệu: Trạng sư, Vị Bảo trợ, Đấng Phù hộ và 
		Đấng trung gian” (LG 62).</span></td></tr></table></body></html>

PHP File Manager