File "08.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2026/Mua-Thuong/CN XXIII TN A/08.htm
File size: 19.62 KiB (20093 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật XXIII thường niên - Năm A</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật XXIII thường niên - Năm A; Sửa lối cho anh em; Lợi được người anh em; Nhân danh Thầy; Vẽ chân dung; Sửa lỗi nhau; nhắc bảo."><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
	{color:blue;
	text-decoration:underline;
	text-underline:single;
	text-decoration:none underline;
	text-line-through:none;
	vertical-align:baseline}
span.apple-converted-space
	{}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật XXIII thường niên - Năm A"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">Chúa Nhật XXIII thường niên - Năm A</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
	CÓ TRÁCH NHIỆM VỚI NHAU</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
		<a name="_Toc302419573">
		<span style="font-size: 8pt; font-style:italic; font-weight:400">Chú giải theo Fiches Dominicales</span></a></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">1. Giáo Hội, một cộng đoàn huynh đệ.</span></i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Sau lần thứ nhất loan báo cuộc khổ nạn, 
		Đức Giêsu cùng các môn đệ rời miền &quot;Cêsarée Phiìipphê&quot; đi lên 
		Giêrusalem. Sau cuộc biến hình trên núi, giờ đây Ngài tới Capharnaum, 
		tại đó, theo Matthêô Ngài đã loan báo diễn từ thứ tư trong Phúc âm 
		Matthêu &quot;diễn từ về đời sống Giáo Hội&quot;. Những hướng dẫn, giúp cho cộng 
		đoàn mà Ngài sáng lập phản ảnh được hình ảnh của &quot;Cha trên trời&quot;.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">J. Potin báo trước: &quot;Trong chương 13 
		này, Matthêu đã tập họp lại những lời nói khác nhau của Đức Giêsu về đề 
		tài cộng đoàn. Rất nhiều lời đã được Đức Giêsu nói với các môn đệ trong 
		tình thân mật, nhất là trong những tháng ngày Ngài bỏ Galilê để chuẩn bị 
		lên Giêrusalem. Đức Giêsu chuẩn bị cho các môn đệ sống trong một bầu khí 
		yêu thương huynh đệ, khi phải xa lìa Ngài sau cuộc khổ nạn. Bất kể tương 
		lai có ra sao, tinh thần quan tâm tới những kẻ bé nhỏ, yếu ớt tinh thần 
		tha thứ lẫn cho nhau này phải tràn ngập cộng đoàn. Bốn mươi năm sau, lúc 
		Matthêô viết Phúc âm, những lời mời gọi của Đức Giêsu vẫn còn hiện thực. 
		Cộng đoàn mà Ngài nhắn nhủ gồm các Kitô hữu gốc Do Thái lẫn gốc dân 
		ngoại, thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác nhau. Đời sống cộng đoàn giữa 
		anh chị em đôi lúc có khó khăn. Tới những lời Đức Giêsu nói với nhóm các 
		môn đệ vẫn còn là thực tế. Chính vì thế, tác giả Phúc âm đã gom chúng 
		vào trong một diễn từ, quảng diễn một chút cho phù hợp với Giáo Hội &quot;của 
		ông&quot;, nghĩa là cộng đoàn của ông. Trước tiên, Đức Giêsu miêu tả cộng 
		đoàn các môn đệ của Ngài như một cộng đoàn đặc biệt quan tâm tới những 
		kẻ &quot;bé nhỏ&quot; tin vào Chúa, những Kitô hữu mà đức tin còn rất mỏng manh 
		(18,1-10) và lo lắng cho những &quot;con chiên lạc, người Kitô hữu tránh xa 
		cộng đoàn và liều mình hư mất (18,12-14). Ngài trình bày một cộng đoàn 
		sống động thực hành sự nâng đỡ và tha thứ lẫn cho nhau. Đó là thái độ 
		phải có đối với một người &quot;anh em&quot; đã &quot;phạm tội&quot;.. Đó là thái độ phải có 
		khi anh chị em bất hoà, xung khắc.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">2….Thực hành sự tương trợ và tha thứ lẫn 
		cho nhau.</span></i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Sửa đổi anh em: một việc làm có tính 
		chất Tin Mừng. Chỉ có sự âu yếm của Người Mục Tử tốt lành mới làm ta 
		hiểu được hết chiều sâu của đoạn Phúc âm nói về người &quot;anh em&quot; đã &quot;phạm 
		tội&quot; này. Bản văn không nói về tính chất của tội, nhưng lời Đức Giêsu 
		cho thấy đó là một xúc phạm đến Thiên Chúa và xúc phạm đến một người anh 
		em, đó cũng là một việc liên quan đến Giáo Hội, cộng đoàn Kitô hữu. Qua 
		những luật lệ và các thực hành ít nhiều phịu ảnh hưởng của Do Thái giáo, 
		việc xoá lỗi anh em vừa giúp duy trì sự hài hoà trong Giáo Hội vốn bị đe 
		doạ vì lỗi của một thành viên trong cộng đoàn, vừa giúp che chở tội nhân 
		khỏi những biện pháp khắc nghiệt, vội vã. Vì thế tác giả Phúc âm nhấn 
		mạnh trên yếu tố xem ra nền tảng nhất đối với Ngài: đòi hỏi của Phúc âm 
		về việc nâng đỡ, lòng thương xót và sự tha thứ lẫn cho nhau. Chính tinh 
		thần ấy đã làm phát sinh ra những cuộc vận động tiệm tiến nhiều đợt nhằm 
		chinh phục người anh em lầm lạc mà nếp sống làm tổn tưởng sự duy nhất và 
		chứng tá của toàn thể cộng đoàn Kitô hữu. Mục đích không phải để hoà 
		giải với một anh em như trong Luca 17,3, nhưng là để &quot;chinh phục&quot;người 
		anh em này, để đưa người ấy về với Chúa, đồng thời cũng về với cộng đoàn 
		mà anh đã xa lìa vì tội lỗi. Sửa lỗi anh em: một cuộc vận động tiệm 
		tiến. Bước 1, nói chuyện riêng, kín đáo giữa một người anh em với một 
		người anh em mà anh có quyền mong đợi sự giúp đỡ ngược lại trong trường 
		hợp chính anh ta lầm lỗi. Đó không phải là hạ nhục người tội lỗi, nhưng 
		là giúp anh nhận ra lầm lỗi. Bước 2: nếu bước 1 không đem lại kết quả 
		mong đợi sẽ đến bước 2: gặp gỡ có 2 hoặc 3 chứng nhân, theo đề nghị của 
		sách Đệ Nhị luật 19, 1 như đã từng dược thực hành, dưới sự chứng giám 
		của Phaolô, trong cộng đoàn tín hữu tại Côrintô (2Cr 13,l). Sự hiện diện 
		của các chứng nhân báo đảm cho tính khách quan, đồng thời đưa vào đó 1 
		yếu tố cộng đoàn, dù luôn luôn kín đáo. Bước 3: nếu vẫn không có kết 
		quả, ta còn một phương thế cuối cùng: đưa ra trước Giáo Hội: &quot;trình bày 
		sự việc trước cộng đoàn Giáo Hội&quot;. Nếu tội nhân từ chối nghe Giáo Hội, 
		thì, theo như bài Phúc âm, &quot;ta hãy coi họ như người ngoại và người thu 
		thuế&quot;. Một công thức dứt khoát không phải là một khinh miệt hoặc kết án: 
		Đức Giêsu đã trở nên &quot;bạn bè với những người thu thuế kia mà. Công thức 
		ấy chỉ tuyên bố rằng người tội lỗi tự loại trừ mình ra khỏi cộng đoàn và 
		Giáo Hội chỉ chứng nhận sự tách lìa này và sẵn sàng đón nhận lại người 
		mà một ngày nào đó, hy vọng thế, sẽ được ơn thánh thay đổi, giải phóng 
		sửa lỗi anh em: một cuộc vận động từ đầu đến cuối đều nhờ lời cầu nguyện 
		của cộng đoàn. Lời cầu nguyện theo dõi và yểm trợ tiến trình này từ đầu 
		đến cuối. Lời cầu nguyện vẫn tiếp tục cả khi tội nhân đã lìa xa Giáo 
		Hội, van nài cho người anh em lầm lạc được ơn hối cải. Đó là một lời cầu 
		nguyện có sức nặng của sự hiện diện của Đấng đã hứa: &quot;Khi có 2, 3 người 
		tụ họp lại nhân danh Ta, Ta ở giữa họ”? C. Tassin bình luận: &quot;Vì chính 
		danh thánh Đức Giêsu đã qui tụ các tín hữu lại, nếu họ thực sự tụ họp 
		lại chỉ để hành động nhân danh Ngài trong những vấn đề khó, họ chắc chắn 
		họ sẽ có sự hiện diện chủ động và hiệu quả của Ngài. Vậy một coi sự thực 
		hành việc &quot;sửa lỗi anh em&quot; là một bổn phận của các cộng đoàn tín hữu 
		Ngài nhấn mạnh đến bầu khí cầu nguyện và ý chí hành động &quot;nhân danh&quot; Đức 
		Kitô. Chính Đức Kitô sẽ nối kết mọi người đã tham dư cuộc vận động này&quot;.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">BÀI ĐỌC THÊM:</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">1) Việc sửa lỗi anh em</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		(Mgr. L. Daloz, Le Règne des cieux s’est approché, DDB )</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Đoạn Phúc âm này đưa ra một tiến trình 
		hoà giải một trường hợp tế nhị trong đời sống các cộng đoàn: &quot;Phải lành 
		gì khi anh em ngươi phạm tội”. Câu trả lời không dễ Đức Giêsu nói gì? 
		Hãy đi tìm nó và trách móc! Đó không phải là cách hành động. Ta thường 
		cho rằng đó là việc cá nhân của người đó &quot;vấn đề của nó&quot; và rằng nó có 
		tự do! Can thiệp, tìm gặp và trách móc, chẳng phải là tôi đã pha mình 
		vào những việc không có liên hệ đến tôi, xen vào đời tư cá nhân; không 
		kín đáo, không khoan nhượng, và liều mình gây gổ với anh ta sao? Ngay 
		trong mối tương quan giữa tín hữu với nhau, ta vẫn thường hành xử như 
		người đời quen làm trong xã hội. Ta không muốn pha mình vào công việc 
		của người khác, ta né tránh. Dĩ nhiên trước khi can thiệp ta phải kiểm 
		chứng xem có nên trách móc không, làm cách nào cho có kết quả. Hơn nữa 
		xã hội ta đang sống khác với xã hội thời Đức Giêsu. Ta ít cảm thấy liên 
		đới hơn. Tự do cá nhân là một cuộc chinh phục tương đối mới, và tuyên 
		ngôn Nhân quyền là một hiến chương phần lớn dựa trên những tự do cá nhân 
		này. Ta không muốn phá huỷ nó vì người khác và ta cũng không muốn người 
		khác can thiệp vào đời sống, tư cách của ta. Ta khó chịu khi có ai đến 
		cho ta một bài học luân lý! Còn nữa, thường thường điều mà ta không muốn 
		nói trước mặt người khác, ta lại ít tế nhị khi nói sau lưng họ...</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Đức Giêsu đã nêu lên thái độ phải giữ 
		trong cộng đoàn môn đệ của Ngài. Ta không thể rập khuôn cách làm của ta 
		theo những gì diên ra chung quanh. Cảm thấy có liên hệ đến những hành vi 
		của anh em, đó là chuyện bình thường. Chính vì thế mà Đức Giêsu nói: Nếu 
		anh em ngươi phạm tội... Anh em ngươi, đâu phải là người xa lạ, ngươi 
		không thể nói rằng tội lỗi của nó không liên hệ gì tới ngươi. Vì sự sống 
		của anh em ngươi, sự sống vĩnh cửu của anh ta, liên đới ngươi lắm chứ. 
		Khi yêu ai, ta đâu dửng dưng để mặc người ấy lún sâu vào sự dữ. Ta sẽ 
		tìm dịp cảnh tỉnh, giúp đỡ không làm anh ta phật lòng, không la mắng 
		anh. Lỗi khuyên dạy của Đức Giêsu giả thiết ta phải có mối liên lạc 
		huynh đệ. Phải chăng đó là vấn đề cần đặt ra cho đời sống cộng đoàn 
		chúng ta? Có tình thân rồi, ta có thể nói với nhau nhiều chuyện, giúp đỡ 
		nhau nhiều việc. Trách móc không có nghĩa là nói nặng lời, hung hăng, dữ 
		tợn. Trái lại lời khuyên của Đức Giêsu kêu gọi ta hành động với sự tế 
		nhị: &quot;Nếu anh em ngươi phạm tội, hãy đi gặp và trách móc nó giữa hai 
		người với nhau. Sự kín đáo của cuộc vận động tránh đưa tội lỗi ra công 
		khai. Điều này hoàn toàn phù hợp với một mối liên lạc cá nhân, huynh đệ. 
		Và Đức Giêsu nhấn mạnh đến mục đích của cuộc vận động: đó là cứu lấy anh 
		em, chinh phục anh em, để nó đừng hư mất: nếu nó nghe ngươi, ngươi đã 
		lợi được một người anh em. Đó không phải là lời nói gắt gỏng, của thói 
		phê bình chỉ trích, hay đối nghịch. Đó không phải là từ ngữ hạ nhục, là 
		sự dò xét chế tài của kẻ bề trên. Ai tiến hành cuộc vận động ấy cũng 
		phải sẵn sàng đón nhận sự trách móc ngược lại.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">2) Mô hình của mọi cuộc hoà giải trong 
		Giáo Hội.</span></i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Trong chương 18 mà ta quen gọi là &quot;diễn 
		từ về cộng đoàn các môn đệ&quot;, là sự miêu tả một tiến trình hoà giải trong 
		Giáo Hội tạo nên, một cách nào đó, mô hình căn bản cho mọi hoà giải 
		trong Giáo Hội. Đó là một tiến trình bao gồm cả gặp gỡ của cá nhân lẫn 
		vận động của cộng đoàn. “Nếu anh em ngươi phạm tội, hãy đến nói với 
		nó...&quot; (Mt 18,15). Một cuộc hoà giải thực sự luôn luôn đòi có một tiếp 
		xúc cá nhân bằng cách nào đó. Giáo Hội luôn ý thức về tầm quan trọng của 
		tiếp xúc này. Chính vì thế, ở mọi thời, dù phép cáo giải có mặc hình 
		thức nào đi nữa, vẫn luôn luôn dành chỗ cho một đối thoại cá nhân. Một 
		đối thoại như thế thường rất khó khăn - Chính Đức Giêsu đã có kinh 
		nghiệm đau đớn về điều đó - nhưng không phải vì thế bỏ cuộc: &quot;nếu nó 
		không nghe ngươi, hãy nhờ 1 hoặc 2 ngươi khác đi với ngươi... nếu nó từ 
		chối nghe họ, hãy đưa ra cộng đoàn Giáo Hội...&quot; (Mt 18,16-18). Hãy ghi 
		nhận sự tiệm tiến của những phương thế được sử dụng để thoát ra khỏi 
		tình trạng gãy dỗ: đó là phối hợp những cố gắng để nối lại đối thoại, 
		nói lên sự thực và tìm lại được sự hiệp thông. Chính nhờ cộng đoàn mà 
		quyết định được thi hành, trước mặt cộng đoàn mà sự hoà giải phải được 
		ký kết. Trong trường hợp sự hoà giải thất bại, Phúc âm nói tiếp: nếu nó 
		từ chối nghe Giáo hội, hãy coi nó như người ngoại hoặc như người thu 
		thuế.... Rất nhiều nhà bình luận đã chú giải lời nói như kết án, loại 
		trừ này: nhưng ta có thể hiểu một cách hoàn toàn khác hẳn, dưới ánh sáng 
		của Phúc âm: vào thời Đức Giêsu, từ ngữ &quot;ngoại đạo&quot; chỉ những người, tuy 
		theo một đạo (thời đó ai mà không có đạo?) nhưng vẫn chưa quay trở về 
		với Thiên Chúa Hằng Sống và Chân thật còn về &quot;những người thu thuế vào 
		thời chiếm đóng của đế quốc La-mã, họ khép mình trong một hệ thống bất 
		công. Tuy nhiên, trong Phúc âm ta thấy Đức Giêsu, dù người Do Thái đạo 
		đức lấy làm vấp phạm, vẫn ăn uống với những người thu thuế, dưới ánh 
		sáng của thái độ của Đức Giêsu, đối xử ai như &quot;kẻ ngoại đạo và người thu 
		thuế là một lời mời gọi hãy có thái độ đồng hành với những người, mà vì 
		lý do nào đó, vẫn chưa có đức tin hoặc đóng kín trong sự bất công và 
		không thể tự mình thoát ra. Họ chưa đón nhận được Tin Mừng của một Thiên 
		Chúa &quot;không muốn kẻ tội lỗi phải chết, nhưng muốn nó ăn năn ám hối và 
		được sông (Ez 18, 23). Chính trong bối cảnh cầu nguyện cộng đoàn mà sự 
		hoà giải có thể được thực hiện. Điểm cốt yếu trong cuộc vận động không 
		gì khác hơn là ơn tha thứ của Thiên Chúa. Ở đây ta gặp lại lời tuyên bố 
		long trọng: &quot;Thật, Ta bảo thật các người, điều gì các con cầm buộc dưới 
		đất, trên trời cũng cầm buộc và điều gì các còn cởi mở dưới đất, trên 
		trời cũng cởi mở (Mt 18,18). Lời nói đó được sử dụng để nói lên uy quyền 
		của Phêrô là đầu Giáo Hội (Mt 15,19). Nhưng Đức Giêsu nói thêm: &quot;... Ta 
		lại bảo các ngươi: nếu hai người dưới đất hiệp ý với nhau&quot; và xin sự gì, 
		Cha Ta trên trời sẽ ban cho họ (Mt 18,19-20). Đây không đơn thuần là một 
		giải quyết giữa anh em loài người, nhưng là cùng nhau đến trước tình yêu 
		Thiên Chúa, chỉ mình Ngài có quyền Trong một bối cảnh như thế, người thi 
		hành tác vụ hoà giải phải cư xử không phải như chủ nhân của sự tha thứ 
		nhưng phải như tôi tớ của sự tha thứ của Thiên Chúa mà chính đương sự là 
		kẻ đầu tiên được thụ hưởng. Trong lịch sử, mô hình Phúc âm này có lẽ đã 
		được ứng dụng nhiều cách khác nhau mà chúng ta đã phần nào được thừa kế.</span></td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/SuyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">&nbsp;</p>

PHP File Manager