File "11.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2026/Mua-Thuong/CN XI TN A/11.htm
File size: 19.15 KiB (19613 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật XII thường niên - Năm A - MÌNH VÀ MÁU THÁNH CHÚA KITÔ</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật XII thường niên - Năm A - MÌNH VÀ MÁU THÁNH CHÚA KITÔ; Thánh Thể; Tấm Bánh; Bí Tích Thánh Thể; Tình yêu; Sức Sống; Sự Sống đời đời."><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
	{color:blue;
	text-decoration:underline;
	text-underline:single;
	text-decoration:none underline;
	text-line-through:none;
	vertical-align:baseline}
span.apple-converted-space
	{}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật XII thường niên - Năm A - MÌNH VÀ MÁU THÁNH CHÚA KITÔ"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">Chúa Nhật XI thường niên - Năm A</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
		SỨ MỆNH CỦA NHÓM MƯỜI HAI</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
		<span style="font-size: 8pt; font-style: italic">Chú giải của Giáo Hoàng học viện Đà Lạt</span></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 120%; margin-bottom: .0001pt; background: white; text-indent:48px">
		<b><i>CHÚ GIẢI CHI TIẾT</i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 120%; margin-bottom: .0001pt; background: white; text-indent:48px">
		<b><i>“Thấy dân chúng, Người chạnh lòng thương họ&quot;</i></b>: khởi điểm sứ 
		mệnh tạm thời của nhóm 12 và khởi điểm toàn thể sứ mệnh của Giáo Hội là 
		lòng trắc ẩn của Chúa Giêsu... Đây là một thứ tình cảm sâu đậm (chữ Hy 
		lạp gợi lên hình ảnh tâm thần xao xuyến) mà Cựu Ước đã gán cho chính 
		Thiên Chúa (Xh 34, 6; Tv 103, 8-13; Hs 2, 2-3; Gr 31, 20; Is 54, 7) và 
		các Tin Mừng dành riêng cho Chúa Giêsu (Mt 14, 14; 15, 32; 20, 34; Mc 6, 
		34; 8, 2; 9, 22; Lc 7, 13) hay cho các nhân vật dụ ngôn tượng trưng 
		Người hay Thiên Chúa (Lc 15, 20; Mt 18, 27; x. Lc 10, 35).</p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 120%; margin-bottom: .0001pt; background: white; text-indent:48px">
		<b><i>&quot;Vì họ bơ phờ vất vưởng như chiên không người chăn giữ”</i></b>&nbsp;ở 
		đây điều làm Chúa Giêsu âu yếm xót thương là tình cảnh quẫn bách của 
		những đoàn lũ &quot;bơ phờ&quot;, &quot;yếu liệt&quot;, &quot;nằm sòng sãi&quot;, như một đàn chiên 
		không có chủ chăn. Hình ảnh thôn dã này mượn từ Cựu Ước, mà bản văn gần 
		giống nhất là Ds 27, 16-17: “Môisen thưa với Giavê rằng: Lạy Giavê, xin 
		Ngài đặt một ai đó trên cộng đoàn, để ra trước chúng và vào trước chúng 
		để đem chúng ra và đem chúng vào, hầu cộng đoàn của Giavê khỏi như chiên 
		không người chăn giữ&quot;. Đàn chiên của Thiên Chúa, trong suốt giòng lịch 
		sử, đã từng bị những tên lái buôn &quot;bóc lột và phân tán” (Dcr 11, 7. 11; 
		x. 1V 22, 17; Gr 23, 1-2; 50, 6; Ed 34, 1-10; Is 56, 11); và bây giờ vẫn 
		còn những kẻ hướng đạo đui mù (Mt 15, 14; 23, 16.24) dùng môn học thuyết 
		sai lạc của họ (16,12) làm lạc hướng đàn chiên, vẫn còn những hạng chăn 
		thuê vô liêm sỉ làm chiên tan tác (Ga 10, 12tt). Vì thế Chúa Giêsu, chủ 
		chăn vương giả mà Êdêkien loan báo (34, 23tt), mục tử tuẫn nạn mà 
		Dacaria đã thoáng thấy mơ hồ (13, 7 = Mt 26, 31), sắp ủy thác cho nhóm 
		12 trách vụ quy tụ đàn chiên từ mọi chuồng chiên khác (Ga 10, 16) như 
		ngày xưa Môisen đã ủy thác dân cho môn đồ mình là Giosuê chăm nom (Ds 
		27,17). Đây thật là một vinh dự lớn lao và cũng là một trách nhiệm nặng 
		nề cho nhóm 12 môn đồ của Môisen mới…</p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 120%; margin-bottom: .0001pt; background: white; text-indent:48px">
		<b><i>&quot;Mùa màng nhiều, thợ gặt ít”</i></b>: Mùa gặt là một hình ảnh cổ 
		điển Cựu Ước thường dùng để chỉ cuộc Chung thẩm của Thiên Chúa (Is 27, 
		12; Ge 4, 13 v.v...). Trong Tân Ước mùa gặt này thường phân làm hai, gồm 
		giai đoạn đầu được đánh dấu bởi thời gian của Chúa Giêsu và của Giáo Hội 
		và giai đoạn hay lịch sử chấm dứt, lúc Con Người sẽ thu lúa vào lẫm (Mt 
		13, 30) và đốt cỏ lùng (13, 30. 41tt): đó sẽ là mùa gặt sau hết (Mc 4, 
		29; Kh 14, 14tt), là “ngày tận thế&quot; (Mt 13, 39), ngày chung thẩm (25, 
		31-46) và bấy giờ thợ gặt sẽ là chính Chúa Kitô với các thiên thần của 
		Người (13, 39; x. Kh 14, 14-19). Nhưng trong khi chờ đợi ngày tận cùng 
		đó, thì kể từ cuộc giáng lâm lần thứ nhất của Chúa Kitô, rõ ràng phải 
		cần một vụ gặt qua sự kiện là đã có sự phân biệt giữa hạt giống tốt và 
		xấu, khi Tin Mừng đòi buộc con người phải tuyên bố theo hay chống Chúa 
		Kitô (Mt 10, 13-16. 40; Ga 3, 18tt). Đấy là công việc chuẩn bị trong đó 
		Chúa Giêsu đã đóng vai trò gieo giống (Mt 13, 1-8ss; 13, 37; Ga 4, 
		36tt), còn nhóm 12 sẽ là những người thu hoạch.</p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 120%; margin-bottom: .0001pt; background: white; text-indent:48px">
		Chính mùa gặt tiên trưng này là mùa mà nhóm 12, khi thụ hưởng các thành 
		công đầu tiên của Chúa Giêsu, thấy mình được Người ủy thác cho tại 
		Galilê, và chính về nó mà ta có thể áp dụng trước tiên câu nói của Chúa 
		Giêsu trong Gioan: &quot;Thầy đã sai các con đi gặt nơi các con đã không vất 
		vả làm ra: có những kẻ khác đã vất vả rồi, còn các con chỉ đến thừa 
		hưởng công lao của họ&quot; (Ga 4, 38). Tuy nhiên sứ vụ ở Galilê chỉ là mào 
		đầu và là hình ảnh của những mùa lúa chín vàng (Ga 4, 35) và phì nhiêu 
		(Mt 9, 37) mà các sứ đồ cùng bao thợ khác của Tin Mừng, thừa hưởng công 
		lao khó nhọc và hoa quả của hy tế Chúa Giêsu (x. Ga 4, 6; 12, 24), sẽ 
		thu vào lẫm (so sánh Ga 4, 37tt và Cv 8, 15tt) từ ngày Hiện xuống.</p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 120%; margin-bottom: .0001pt; background: white; text-indent:48px">
		<b><i>“Chữa mọi tật nguyền bệnh hoạn&quot;</i></b>: Ở đây Matthêu dùng lại 
		cùng những hạn từ đã sử dụng để nói lên quyền năng tràn đầy mà chính 
		Chúa Giêsu đã được trao ban (9, 35); qua cách đó ông cho thấy các sứ đồ 
		hoàn toàn in hệt Người và họ phải trở nên như cánh tay nối dài của Người 
		vậy. Họ sẽ hoàn tất các công việc và thành quả giống như của Người và 
		Ngài củng cố lời rao giảng của họ bằng cách làm phép lạ. Uy quyền của 
		Chúa Giêsu được chuyển qua cho môn đồ của Người.</p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 120%; margin-bottom: .0001pt; background: white; text-indent:48px">
		<b><i>&quot;Mười hai sứ đồ &quot;</i></b>: Đây là lần duy nhất Matthêu dùng thành 
		ngữ này; nơi khác, ngoài thành ngữ &quot;Nhóm mười hai&quot; (10, 5; 20, 17; 26, 
		14. 20. 47), ông viết &quot;Mười hai môn đồ&quot; (10, 1; 11, 1; x. 28, 16) hay 
		“các môn đồ&quot; (13, 10; 14, 15; 26, 8. 56 v.v...), vì hơn Maccô và Luca, 
		Tin Mừng thứ nhất ưa lẫn lộn môn đồ và sứ đồ với nhau. Kiểu nói bất 
		thường của đoạn văn chúng ta sử dụng chữ &quot;sứ đồ&quot; theo chính xác được 
		dùng trong Giáo Hội sơ khai để chỉ nhóm Mười Hai và một vài nhân chứng 
		chính thức khác của việc Chúa phục sinh.</p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 120%; margin-bottom: .0001pt; background: white; text-indent:48px">
		<b><i>“Đừng lên đường đến các dân ngoại&quot;</i></b>: Mấy chữ này rõ ràng là 
		kiểu nói cổ xưa (như kiểu nói &quot;thành của người Samari&quot; để chỉ tỉnh 
		Samari), có căn ngữ Aram (kết quả nghiên cứu Schurmann, Cerfàux) cũng 
		chắc chắn phát xuất từ một nguồn trước Matthêu; và bởi thế ta hiểu được 
		rằng Maccô và Luca đã dùng đến vì nể các độc giả lương dân của họ. May 
		thay còn lại các chữ đó, vì chúng là bằng chứng cho thấy các Kitô hữu 
		đầu tiên đã xem việc truyền giáo ở Galilê là một sự kiện lịch sử, đáng 
		ghi nhớ. Ông không xem đó như là lời phát biểu một nguyên tắc ngàn đời 
		của việc truyền giáo, vì như vậy mâu thuẫn với mệnh lệnh sau cùng mà ông 
		có ghi lại: “các con hãy đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân&quot; (28, 19), 
		nhưng xem như là lời diễn tả một kế hoạch tạm thời, mà tất cả thái độ 
		của Chúa Giêsu đã làm chứng cho thấy, một kế hoạch mà theo đó Tin Mừng 
		phải được dành riêng cho &quot;con cái của Vương quốc” (8, 12) Trong một thời 
		gian đầu, nghĩa là cho đến cuộc chiến thắng phục sinh, cái biến cố sẽ 
		tạo nên khí cụ cứu rỗi cho tất cả mọi người, tạo nên chủ đề chính yếu 
		của lời rao giảng và khởi điểm của việc rao giảng khắp vũ hoàn. Matthêu 
		đã nghĩ rằng độc giả của ông đủ thông minh để phân biệt, trong mớ tài 
		liệu sưu tập của chương 10, cái gì đã chỉ có giá trị đối với việc truyền 
		giáo ở Galilê và cái gì áp dụng được cho mọi thời đại của Giáo Hội.</p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 120%; margin-bottom: .0001pt; background: white; text-indent:48px">
		<b><i>“Hãy loan báo... hãy chữa lành”</i></b>: Việc rao giảng của Chúa 
		Giêsu và của các sứ đồ ở Galilê đã quy hướng cái nhìn của Israel về sự 
		can thiệp dứt khoát cận kề của Thiên Chúa, được hứa thực hiện trong thời 
		sau hết (Is 52, 7; Dcr 14, 9; Đn 2, 44 v.v...). Và các phép lạ cùng các 
		việc trừ quỷ của Chúa Giêsu, đi đôi với lời người rao giảng (Mt 4, 23; 
		9, 35; Lc 9, 11...) làm nên khởi nguyên (Mt 12, 28; Lc 17, 20) cũng như 
		dấu chỉ của Vương quyền cứu độ này của Thiên Chúa. Đó cũng là vai trò 
		của các phép lạ và việc trừ quỷ do nhóm 12 thực hiện. Ngoài ra Matthêu 
		còn ghi thêm lệnh phục sinh kẻ chết và tẩy sạch người phung hủi; như thế 
		ông đã đưa ra được bản liệt kê các dấu chỉ Thiên sai, cảm hứng từ Isaia, 
		gần giống với bản liệt kê trong câu Chúa Giêsu trả lời cho Gioan Tẩy giả 
		(11, 4).</p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 120%; margin-bottom: .0001pt; background: white; text-indent:48px">
		Sau này, các sứ đồ sẽ tiếp tục rao giảng Nước Trời (Cv 19, 8; 20, 25; 
		28, 23. 31), nhưng sẽ thêm vào đó (Cv 8, 12) tên của Đấng đã chết để 
		giải thoát ta khỏi ách kìm kẹp của satan, tội lỗi và sự chết, đã được 
		tôn phong làm Chúa trên trời (Cv 2, 30-36; Pl 2, 11; Kh 19, 16) và sẽ 
		trở lại hoàn thành Vương quốc (1Cr 15, 20-28. 50; Cv 3, 21…). Để củng cố 
		lời rao giảng Tin Mừng (Mc 16, 15-18; Cv 4, 29tt), họ sẽ tiếp tục chữa 
		lành bệnh tật (Cv 3, 1-10; 5, 15tt; 8, 7; 9, 32-35; 19, 12), phục sinh 
		kẻ chết (Cv 9, 36-42; 20, 7-12), xua trừ ma quỷ (Cv 8, 7; 16, 16) và tỏ 
		ra bất vụ lợi hoàn toàn (1Tx 2, 2-12; Cv 8, 19tt). Tiếp tục trách vụ của 
		họ, Giáo Hội truyền giáo sẽ không thể tách rời việc rao giảng Tin Mừng 
		với các hoạt động bác ái vô vụ lợi, vì cả hai đều ban phát cho mọi người 
		ơn cứu độ hoàn toàn Chúa Giêsu đã đạt được.</p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 120%; margin-bottom: .0001pt; background: white; text-indent:48px">
		<b><i>KẾT LUẬN</i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 120%; margin-bottom: .0001pt; background: white; text-indent:48px">
		Chúa Giêsu đã động lòng xót thương đàn chiên bơ vơ lạc lõng trước mặt 
		Người, cũng như các con chiên bơ vơ Người thoáng thấy trong muôn thế hệ 
		về sau. Trước khi hiến thân để chỉ còn &quot;một đàn chiên, một chủ chiên&quot; 
		(Ga 10, 16), Người đã chọn và sai nhóm Mười Hai, thủ lãnh của một dòng 
		dõi những kẻ phục vụ Tin Mừng, để họ rao giảng Tin Mừng, xua đuổi tà 
		thần, chữa lành bệnh tật, nghĩa là ban phát cho toàn thể con người ơn 
		cứu độ mà Người đã tạo được nhờ lao nhọc gieo vãi và cứu chuộc. Giáo 
		Hội, thành thánh đặt cơ sở trên 12 móng, mỗi móng mang tên của một trong 
		12 sứ đồ của Con Chiên (Kh 21,14), có trách vụ tiếp tục cho đến tận thế 
		sứ mệnh rao giảng Tin Mừng và ân cần chăm sóc hết những ai đau khổ. 
		Nhưng vì thợ gặt ít, nên Chúa Giêsu xin ta cầu nguyện: Lạy Chúa, xin hãy 
		sai thợ gặt đồng lúa của Ngài!</p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 120%; margin-bottom: .0001pt; background: white; text-indent:48px">
		<b><i>Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG</i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 120%; margin-bottom: .0001pt; background: white; text-indent:48px">
		<b>1)</b>&nbsp;Khi hạn định sứ mạng của mình trước tiên cho người Do thái, 
		Chúa Giêsu đã tuân theo một trật tự, một tiến trình cứu rỗi đã được tiên 
		liệu chiếu theo quyết định của Thiên Chúa: bắt đầu từ dân Do thái đi đến 
		dân ngoại. Người đã hiểu sứ mệnh mình như thế và đã nghiêm túc tuân 
		theo. Có lẽ Người đã đau khổ vì sự hạn chế này. Sự vâng phục này nằm 
		trong sự từ bỏ sâu xa và hoàn toàn của Con Thiên Chúa, mà nhờ đó ta được 
		cứu chuộc. Giữa bao lao nhọc truyền giáo và mục vụ, ta chớ bao giờ quên 
		rằng: điều quan trọng không phải là số lượng công việc đã làm, đường xa 
		đã đi, số người đã ảnh hường, tính cách bao la của công trình, nhưng là 
		thi hành thánh ý Thiên Chúa trong các giới hạn mà thánh ý Ngài đã ấn 
		định.</p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 120%; margin-bottom: .0001pt; background: white; text-indent:48px">
		<b>2)</b>&nbsp;Thiên Chúa đã muốn cần đến con người để tiếp nối hành động 
		Ngài trong thế gian. Ngài có thể bất cần sự hợp tác đó thế nhưng Ngài đã 
		muốn cho con người tham dự vào cuộc tạo dựng thứ hai (việc rao giảng Tin 
		Mừng làm lại con người một cách khác từ cái chết do tội) sau khi đã kết 
		nạp họ vào cuộc tạo dựng thứ nhất (&quot;Hãy nên đầy dấy trên đất và hãy bá 
		chủ nó&quot;, St 1, 28).</p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 120%; margin-bottom: .0001pt; background: white; text-indent:48px">
		<b>3)</b>&nbsp;Những kẻ Thiên Chúa gọi, thì Ngài gọi cách tự do, chứ không 
		chiếu theo danh nghĩa đặc biệt nào (giai cấp xã hội, quốc tịch, chính 
		kiến, thông minh...). Tuy nhiên Ngài ưu tiên lưu tâm đến những người đơn 
		sơ chất phác, nghèo hèn, ít học... Điều Ngài đòi hỏi là sự cởi mở, quảng 
		đại, sẵn sàng. Nếu có các đức tính đó, Ngài có thể làm những việc kỳ 
		diệu, dù họ vẫn còn nhiều khuyết điểm và yếu đuối của con người.</p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 120%; margin-bottom: .0001pt; background: white; text-indent:48px">
		<b>4)</b>&nbsp;Lòng thương xót trắc ẩn của Chúa Kitô thúc bách Người lắng lo 
		cho các chiên không chủ chăn thời đó. Ngày nay phải chăng đã đổi hoàn 
		cảnh? Không! Đọc bất cứ tờ báo nào, nghe bất cứ đài phát thanh nào, ta 
		đều chứng kiến bao cảnh biểu lộ sự bối rối hay thất vọng trước nỗi khó 
		khăn, phi lý của cuộc đời. Nhìn đám đông trong thành phố, dưới vỉa hè 
		hay trên xe cộ, hình như ta cũng có cùng cảm thức như Chúa Giêsu khi 
		đứng trước đám người Do thái ở Galilê. Đôi lúc chính các Kitô hữu ngày 
		nay không còn biết tin tưởng vào ai, theo vị thầy nào. Chúa Kitô sai 
		Kitô hữu đến thế gian để tiếp nối sứ vụ chủ chiên nhân lành của Người 
		bên cạnh con người thế kỷ XXI.</p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 120%; margin-bottom: .0001pt; background: white; text-indent:48px">
		<b>5)</b>&nbsp;Vào mỗi thời kỳ khó khăn hay chuyển hướng của lịch sử Giáo 
		Hội, thì chủ mùa gặt, để đáp lại lời cầu xin của biết bao người hèn mọn, 
		yếu đuối, vô danh, đã luôn làm chỗi dậy nam nữ sứ đồ. Những kẻ này xuất 
		hiện như là những vị giảng đạo của thời đại, những chứng nhân cho một 
		Vương quốc duy nhất có thể biểu lộ sức mạnh của mình bằng nhiều cách. 
		Nhưng chỉ nhờ lời cầu nguyện mới có các chứng nhân đó.</p>
		<p style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0cm; margin-bottom: .0001pt">&nbsp;</td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; 
		<img border="0" src="../../../../tin-mung-new-logo-01.jpg" width="80" height="45">&nbsp;<img border="0" src="../../../../tin-mung-new-logo-02.jpg" width="80" height="45">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">&nbsp;</p>

PHP File Manager