File "09.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2026/Mua-Chay & Phuc-Sinh/CN III PS/09.htm
File size: 19.13 KiB (19586 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật III Phục Sinh</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật III Phục Sinh; Mời ông ở lại; Đường hy vong; trên đường Emmau; Người bạn đồng hành; Dừng chân; Chúa sống lại; Sau mộng mơ đến than khóc; emmau; Emmau; Emmau;"><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
	{color:blue;
	text-decoration:underline;
	text-underline:single;
	text-decoration:none underline;
	text-line-through:none;
	vertical-align:baseline}
span.apple-converted-space
	{}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật III Phục Sinh"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">Chúa Nhật 
	III Phục Sinh</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
		<b>CÁC MÔN ĐỆ EMMAUS</b> 
		(24,13-35)</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
		<a name="_Toc292137729">
		<span style="font-size: 8pt; font-style:italic; font-weight:400">Chú giải mục 
		vụ của Hugues Cousin</span></a></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Luca chỉ kể có hai lần Chúa Kitô hiện ra 
		và nhắc một cách rất ngắn tới lần thứ ba (xc.34). Lần thứ nhất mà hai 
		môn đệ được hưởng, hai vị này không có một vai trò nào khác trong Luca 
		và Công vụ, lại được kể dài hơn lần thứ hai, dành cho những nhân chứng 
		chính thức của sự Phục Sinh là <i>nhóm Mười Một và những kẻ ở với họ.</i> 
		Cuối cùng đối với Phêrô, Luca chỉ nhắc đến cuộc hiện ra mà không mô tả 
		gì…</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Trình thuật các môn đệ trên đường Emmaus 
		có mục đích chứng minh rằng, sau khi trò chuyện với Ngài trên đường đi 
		(cc. 23-27), họ nhận ra Chúa Giêsu khi ăn bữa tối (cc. 28-35). Nếu Luca 
		đã làm cho nó quan trọng đến thế là vì nó có liên hệ lớn với độc giả, do 
		tính cách thời sự và giá trị lâu dài của nó. Đời sống Giáo Hội với các 
		cuộc hội họp phụng tự trong đó có giải nghĩa Kinh Thánh và bẻ bánh, là 
		nơi mà người tín hữu có thể nhận ra vào ngày hôm nay sự hiện diện của 
		Chúa Phục Sinh. “Người đồng hành không được nêu tên của Clêôpa, mang tên 
		của từng người tín hữu” (Ch. Perrot), là tên của bất cứ Kitô hữu nam hay 
		nữ nào sẽ đọc hay nghe trang Tin Mừng thời danh này.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<i><span style="font-size: 14.0pt">Những gì xảy ra dọc đường</span></i><span style="font-size: 14.0pt"> 
		(xc.35a) mở ra qua việc gặp gỡ của hai đệ tử đang đi dọc đường 
		(cc.13-14) với một người lữ hành thứ ba mà họ không nhận ra và không ai 
		khác hơn là Chúa Giêsu (cc. 15-16). Chính trong một cuộc lên đường nữa, 
		nhưng trong miền xung quanh Giêrusalem, mà Chúa Giêsu sẽ dạy dỗ những kẻ 
		thuộc về Ngài. Lý do của cuộc hành trình được khám phá ra một cách kín 
		đáo qua cuộc đối thoại sắp diễn ra: hai người đã rời bỏ những kẻ đã quy 
		tụ với nhóm Mười Một (xc.9), bỏ lại nơi mà Thầy họ đã bị hành hình và 
		chính việc này đã là hồi chuông báo tử cho niềm hy vọng của họ. Họ trở 
		về nhà trong một thôn xóm hẻo lánh, <i>cách Giêrusalem sáu mươi dặm</i> 
		(mười một kilômét).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Lý lịch Chúa Giêsu lập tức được cung cấp 
		cho độc giả, trong khi dưới cái nhìn của các môn đệ, Ngài chỉ là một 
		khách hành hương như họ, đã đến Giêrusalem mừng lễ Vượt qua: <i>mắt họ 
		còn bị ngăn cản không nhận ra Ngài</i>, chứ không phải là không thấy. 
		Khi gợi lên hoạt động thần linh, động từ ở thể thụ động cách cho chúng 
		ta biết rằng sự <i>tối dạ chậm tin</i> của hai người (xc. 25), không 
		phải là những điều duy nhất được nói tới. Con mắt xác thịt không thể 
		nhận ra Đấng Phục Sinh, bởi vì qua việc sống lại, Ngài đã đi vào một 
		tình trạng hoàn toàn mới mẻ. Như trong vụ Biến hình, <i>dung mạo</i> 
		Ngài hoàn toàn đổi khác (x. 9,29; Mc 16,12), Ngài đã <i>vào trong vinh 
		quang </i>(xc. 26; 9,32). Ngay cả nhân tính của Chúa Giêsu từ nay đã 
		thuộc về “thế giới” của Thiên Chúa, chỉ có thể được nhận biết bằng con 
		mắt đức tin. Chính Chúa <i>mở mắt</i> (c.31), <i>trí khôn</i> (x. 
		24,45), <i>tâm hồn</i> (Cv 16,14); ở đây Ngài sẽ mở bức màn che phủ mắt 
		họ bằng việc giải thích Kinh Thánh, rồi bằng việc bẻ bánh.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Do sáng kiến của Chúa Giêsu, đã có một 
		cuộc trao đổi trên đường đi (c.17-27) mà từ vựng sẽ được gặp lại khá 
		nhiều trong các diễn từ truyền giáo của Cv 2-13; như thế, chúng ta đã 
		nghe nói rằng lời rao giảng của các Tông đồ đước nối kết trực tiếp với 
		Chúa Giêsu Phục Sinh. Sau một cuộc trao đổi ngắn (c. 17-19a) trong đó 
		Clêôpa nhấn mạnh đến tính cách công khai của việc hành quyết người 
		Nagiaret, lời lẽ của các môn đệ (cc. 19b-24) cống hiến một bản tóm lược 
		sứ vụ và cuộc hành quyết của Thầy họ (cc. 19b-21). Người ta thấy có một 
		nét hài hước: sau khi hai người “mù tịt” này trách người bạn đồng hành 
		vì chẳng hay biết gì, họ thông tin cho Chúa Giêsu như <i>một ngôn sứ 
		mạnh mẽ, đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa 
		và toàn dân</i>, chắc hẳn không làm một tuyên xưng đức tin Kitô cách rốt 
		ráo, nhưng đây là một ngôn ngữ mà Chúa Giêsu (4,24; 13,3) và các Tông đồ 
		sử dụng (Cv 2,22; 3,22-23; 10,38; cũng xem 7,22). Vấn đề là các nhà chức 
		trách Do Thái, đặc biệt là tôn giáo, đã xử Ngài như xử một ngôn sứ giả 
		hiệu: <i>“Các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta (lưu ý tính từ sở hữu) 
		đã nộp Ngài để bị kết án tử hình và đã đóng đinh Ngài vào thập giá”</i> 
		họ được giới thiệu như là chính họ đã thi hành án (23,25-26). Điều đó 
		phải chăng không có nghĩa là Thiên Chúa đã chối từ Chúa Giêsu?</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Một lời tóm lược như thế là một lời rao 
		giảng… bị cắt cụt, có cuộc thụ nạn mà không có Phục Sinh. Sứ vụ và cái 
		chết của Chúa Giêsu được trình bày theo quan điểm của các môn đệ thất 
		vọng trong niềm mơ ước duy quốc gia của mình. Như các nhân vật được đưa 
		vào hoạt cảnh trong các trình thuật thời thơ ấu (x. 1,68; 2,38) họ đã 
		trông đợi <i>sự giải thoát Israel</i> và, đối với họ, đó phải là công 
		trình của Chúa Giêsu – theo Luca, một niềm hy vọng như thế là hợp pháp, 
		ít ra không được lầm lẫn về thời hạn hay cách thức thực hiện (x. Cv 
		1,6-7). Nhưng niềm hy vọng của hai môn đệ chưa đầy đủ; đó là những người 
		thất vọng về một “vị Mêsia khiêm hạ và đau khổ” phù hợp với ý định của 
		Thiên Chúa. Thái độ của họ gián tiếp cho hiểu được phần nào động cơ thúc 
		đẩy Giuđa, mà trình thuật không nói tới (x. 22,3-4); phải chăng hai 
		người môn đệ này không là biểu trưng cho những kẻ thất vọng về niềm tin 
		Kitô giáo, những kẻ chối bỏ thập giá?</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Rồi họ kể lại những biến cố đã xảy ra 
		trong ngày (cc. 22-24) tóm tắt lại trình thuật thứ nhất của chương 24. 
		Tất cả là ở đó: hai lần viếng mộ và hai lần nhận thấy thi hài biến mất 
		(các phụ nữ, rồi một nhóm các ông: như vậy Phêrô không phải là người duy 
		nhất), thiên thần hiện ra và sứ điệp từ trời. Cả lời công bố Phục Sinh 
		nữa: <i>các thiên thần nói rằng</i> Chúa Giêsu <i>đang sống</i>. Nhưng 
		nhóm các ông đã <i>không thấy</i> Ngài: trừ các phụ nữ ra, không ai tin 
		vào lời công bố này. Rồi <i>đã ngày thứ ba</i> mà không thấy có lời công 
		bố nào về sự sống lại, nhưng chỉ có tranh cãi về chứng từ của các phụ 
		nữ!</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Lúc đó, Chúa Giêsu lên tiếng (cc. 
		25-27), Ngài quở trách hai môn đệ, không phải vì họ không nhận ra Ngài, 
		mà vì họ không nhận ra Ngài, mà vì họ <i>chậm tin</i> vào chương trình 
		cứu độ của Chúa, (“phải”) đã được ghi chép trong sách các tiên tri. Vấn 
		đề không phải là <i>thấy Chúa Giêsu</i> (xc.24) cho bằng hiểu và chấp 
		nhận chương trình này. Hai môn đệ biết sứ vụ của Chúa Giêsu và cái chết 
		của Ngài, nhưng họ không nhớ Kinh Thánh – viên thái giám Ethiop thì ở 
		trong hoàn cảnh ngược lại, khi ông đọc Is 53, nhưng không biết đến biến 
		cố ở Calvariô (Cv 8,30-34). Trong chính thức Đấng Phục Sinh tóm lược 
		cuộc Vượt qua của Ngài (c.26), có hai điểm khác với những lời loan báo 
		trước. Chính ở đây với tư cách là <i>Đấng Kitô</i>, chứ không là Con 
		người (x.9,22) mà Chúa Giêsu đã thực hiện cuộc Vượt qua. Và thay từ ngữ 
		“sống lại”, nó là Đấng Kitô <i>đi vào vinh quang</i>: ngoài một cuộc 
		sống hoàn toàn mới mẻ, Ngài thừa kế quyền lực và vinh quang của Thiên 
		Chúa.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Để chứng minh làm thế nào sự chết và 
		Phục Sinh của Ngài đi vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa, Chúa Giêsu 
		buổi chiều một bài chú giải. Bài học này được nhắc đến một cách ngắn 
		ngủi, trong thể văn gián tiếp; Luca không cho chúng ta được hưởng dụng 
		bài học này và chúng ta phải đợi tác phẩm thứ hai của ông để nhận được 
		giáo huấn này qua trung gian các kẻ phục vụ Lời (x. Phêrô ở Cv 2,22-36; 
		Phaolô ở Cv 13,32-41). Ông chỉ gợi cho ta thấy là Chúa Kitô dùng kỹ 
		thuật “xâu chuỗi” trong khoa chú giải Do Thái, liên kết với nhau những 
		câu trích dẫn từ Lề Luật, các Ngôn sứ và Thánh vịnh (x. 24,44) để chứng 
		tỏ sự tương hợp giữa chúng, và do đó cho thấy sự thống nhất và liên đới 
		chặt chẽ của Kinh Thánh. Ở đây, sợi chỉ của xâu chuỗi là <i>điều liên 
		quan</i> đến Chúa Giêsu Kitô; một cách xuyên suốt, Thánh Kinh làm chứng 
		từ cho Đấng là trung tâm và cùng đích. Chắc hẳn không có một quy chiếu 
		Kinh Thánh nào được cung cấp cho chúng ta, nhưng cái chính yếu đã được 
		nói ra: “Sự giải thích, nói cách khác, sự nghiên cứu và trình bày về mối 
		liên kết chặt chẽ, không phải là sáng kiến của các môn đệ, thẩm quyền 
		của họ trong việc chú giải là một hồng ân, là hoa trái của một giáo huấn 
		mà chính nó lại là một trong các hoa trái của sự Phục Sinh” (J.N. 
		Aletti).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Điểm mở nút của hoạt cảnh (cc. 28-35) là 
		buổi ăn tối ở Emmaus (cc. 28-32). Việc nhận biết Đấng Phục Sinh đã được 
		khởi đầu một cách sâu sắc (x. <i>lòng bừng bừng cháy</i> ở câu 32) bằng 
		việc giải thích Kinh Thánh cho thấy ý nghĩa cái chết của Chúa Kitô và 
		bày tỏ mối tương quan của cái chết ấy với vinh quang, nhưng việc nhận 
		biết đó chỉ hoàn tất khi bẻ bánh. Trong Giáo Hội, phải làm lại cử chỉ 
		của bữa ăn tối cuối cùng, gắn liền với cái chết của Chúa Giêsu, để nhận 
		ra Đấng Phục Sinh.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Khi <i>làm như</i> muốn từ giã họ, Chúa 
		Giêsu hướng dẫn để hai môn đệ có sáng kiến; trong khi <i>ngày bắt đầu 
		tàn</i> (x. 9,12), họ mời ở lại Đấng mà trước mặt họ vẫn là một người 
		khách lạ. Nhưng khách mời lại giữ vai trò của người chủ nhà và chủ toạ 
		bàn ăn. Điều Ngài làm được diễn tả bằng bốn động từ (c. 30bc), cũng 
		những động từ này đã được dùng khi làm cho hoá bánh ra nhiều (9,16), và, 
		với một dị biệt, trong bữa ăn đến cuối cùng (22,19); người ta cũng sẽ 
		nói về việc <i>bẻ bánh</i> (c.35), một thuật ngữ riêng của Luca để chỉ 
		Bí tích Thánh Thể (x. Cv 2,42; 20,7-11). Nhưng đồng thời, chủ toạ bữa 
		ăn, làm phép bánh và bẻ bánh là những cử chỉ quen thuộc của Chúa Giêsu, 
		chúng làm cho người ta nhận ra Ngài. Chúng nhắc nhớ đến những bữa ăn 
		trước đây Ngài dùng với các đệ tử, tới bữa ăn cuối cùng trong đó tấm 
		bánh được bẻ ra đã mang một nghĩa mới; chúng cũng báo trước những bữa ăn 
		của các cộng đoàn, trong đó Chúa Giêsu tuy vô hình, nhưng vẫn hiện diện. 
		Thế là xuất hiện một thế đảo ngược: <i>mắt </i>của hai đệ tử <i>liền mở 
		ra</i>… và Chúa Giêsu cho đến lúc đó tuy được trông thấy nhưng lại không 
		trông thấy được nữa! Mong các tín hữu phải biết điều này: “Dù ta không 
		thấy được Ngài bằng con mắt thịt, Đấng Phục Sinh vẫn hiện diện: sự không 
		thấy được không có nghĩa là vắng mặt”. Lúc ấy, các môn đệ có thể ý thức 
		được sự biến đổi trong thâm tâm họ trước đó (c.32), trong câu chuyện 
		trên đường đi và nhờ việc nghe giải thích Kinh Thánh. “Như vẫy lời, khi 
		đi đường, đã giải thích Kinh Thánh” và “trong đó việc nối kết giữa sự 
		sống của họ với sự sống của Chúa Giêsu… đươc công bố chỉ dứt khoát được 
		thấu hiểu một khi việc nhận ra được thực hiện, một khi niềm hy vọng được 
		thoả mãn” (J.N. Aletti).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Cuộc hành trình lại đảo ngược, hai người 
		trở về Giêrusalem và thấy <i>nhóm Mười Một và các bạn hữu đang ở cùng 
		với họ </i>(cc. 33-35). Điều đáng chú ý là việc nhận ra Chúa Giêsu Phục 
		Sinh và việc sai đi truyền giáo sau đó cũng liên quan tới các môn đệ 
		đang ở với nhóm Mười Một. Như vậy, Luca kéo dài những gì ông đã nói về 
		sứ vụ của nhóm Bảy mươi hai (10,1tt) và nói trước về vai trò, trong Công 
		vụ, của các vị truyền giáo không thuộc vào nhóm Mười Hai, đặc biệt là 
		Phaolô. Một mở rộng như thế về kinh nghiệm vượt qua được đặt nền tảng 
		trên các dữ kiện rất cổ (x. <i>năm trăm anh em</i> trong 1Cr 15,6). Tuy 
		nhiên phần cuối của trình thuật cho thấy rằng chứng từ chỉ có thể bắt 
		đầu với nhóm Mười Một (rồi nhóm Mười Hai ở Cv 1,12-26) và kinh nghiệm 
		của Phêrô. Việc nhắc đến lần hiện ra này của Chúa Kitô (c.34) cho thấy 
		rằng “kinh nghiệm vượt qua” này đã thuyết phục các môn đệ khác về sự 
		thật trong chứng từ của các phụ nữ (“thật rồi”) và rằng Simon bắt đầu 
		thực hiện <i>sứ mạng củng cố anh em</i> mà ông đã nhận lãnh từ Chúa (x. 
		22,32). Câu 34 cũng xác nhận rằng “Cộng đoàn hiện hữu và công bố Chúa 
		mình ngay cả trước báo cáo của hai môn đệ Emmaus” (Ch. Perrot). Sau khi 
		nhắc đến việc hiện ra với Phêrô, các môn đệ ấy có thể cung cấp bản tóm 
		lược về kinh nghiệm riêng của họ, nó nói lên tầm quan trọng không kém 
		của Con Chúa trên đường đi và của việc nhận ra Chúa gắn liền với việc bẻ 
		bánh.</span></p>
		</td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/SuyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">&nbsp;</p>

PHP File Manager