File "44.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2026/Mua-Chay & Phuc-Sinh/CN III MC A/44.htm
File size: 98.85 KiB (101220 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật III Mùa Chay - Năm A</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật III Mùa Chay - Năm A; Bên bờ giếng Giacob; Nhịp cầu thiêng liêng; Cho xin chút nước; Nước hằng sống; trong tinh thần chân lý; Đổi thay; Gặp gỡ; Nguồn nước;"><style>
<!--
.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
{color:blue;
text-decoration:underline;
text-underline:single;
text-decoration:none underline;
text-line-through:none;
vertical-align:baseline}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật III Mùa Chay - Năm A"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">Chúa Nhật
III Mùa Chay - Năm A</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">TRỞ NÊN MẠCH NƯỚC BAN ƠN
CỨU ĐỘ ĐỜI ĐỜI </span></b></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
<span style="font-size: 8pt; font-family: Tahoma,sans-serif; font-style: italic">
LM ĐAN VINH - HHTM</span></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">I. HỌC LỜI CHÚA</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">1. TIN MỪNG : Ga 4,5-42</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">(5) Vậy Người đến
một thành xứ Sa-ma-ri, tên là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cóp
đã cho con là ông Giu-se. (6) Ở đấy, có giếng của ông Gia-cóp.
Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó
vào khoảng mười hai giờ trưa. (7) Có một người phụ nữ Sa-ma-ri
đến lấy nước. Đức Giê-su nói với người ấy : “Chị cho tôi xin
chút nước uống !”. (8) Quả thế, các môn đệ của Người đã vào
thành mua thức ăn. (9) Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói : “Ông là
người Do thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước
uống sao ?” Quả thế, người Do thái không được giao thiệp với
người Sa-ma-ri. (10) Đức Giê-su trả lời : “Nếu chị nhận ra ân
huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị : Cho tôi chút
nước uống, thì hẳn chị đã xin, và người ấy ban cho chị Nước
Hằng Sống”. (11) Chị ấy nói : “Thưa ông, ông không có gầu, mà
giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra Nước Hằng Sống ? (12) Chẳng
lẽ ông lớn hơn tổ phụ Gia-cóp chúng tôi, là người đã cho chúng
tôi giếng này ? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con
cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy”. (13) Đức Giê-su trả
lời : “Ai uống nước này, sẽ lại khát. (14) Còn ai uống nước
tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở
thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời
đời”. (15) Người phụ nữ nói với Đức Giê-su : “Thưa ông, xin ông
cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy
nước”. (16) Người bảo chị ấy : “Chị hãy gọi chồng chị, rồi
trở lại đây”. (17) Người phụ nữ đáp : “Tôi không có chồng”. Đức
Giê-su bảo : “Chị nói : Tôi không có chồng là phải, (18) vì chị
đã năm đời chồng rồi, và hiện người đang sống với chị không
phải là chồng chị. Chị đã nói đúng”. (19) Người phụ nữ nói
với Người : “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một Ngôn sứ… (20) Cha
ông chúng tôi đã phờ phượng Thiên Chúa trên núi này. Còn các
ông lại bảo: Giê-ru-sa-lem mới chính là nơi phải thờ phượng
Thiên Chúa”. (21) Đức Giê-su phán : “Này chị, hãy tin tôi : đã
đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi
này hay tại Giê-ru-sa-lem. (22) Các người thờ Đấng các người
không biết; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu
độ phát xuất từ dân Do thái. (23) Nhưng giờ đã đến và chính
là lúc này đây, giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ
phượng Chúa Cha trong Thần Khí và Sự Thật, vì Chúa Cha tìm
kiếm những ai thờ phượng Người như thế. (24) Thiên Chúa là Thần
Khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong Thần
Khí và Sự Thật”. (25) Người phụ nữ thưa : “Tôi biết Đấng
Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô sẽ đến. Khi Người đến, người sẽ loan
báo cho chúng tôi mọi sự”. (26) Đức Giê-su nói : “Đấng ấy chính
là tôi, người đang nói với chị đây”. (27) Vừa lúc đó, các môn
đệ trở về. Các ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với
một phụ nữ. Tuy thế, không ai dám hỏi : “Thầy cần gì vậy ?”
Hoặc “Thầy nói gì với chị ấy ?”.(28) Người phụ nữ để vò
nước lại, vào thành và nói với người ta : (29) “Đến mà xem :
có một người đã nói với tôi về tất cả những gì tôi đã làm.
Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao ?” (30) Họ ra khỏi thành và
đến gặp Người. (31) Trong khi đó, các môn đệ thưa với Người
rằng : “Ráp-bi, xin mời Thầy dùng bữa”. (32) Người nói với các
ông : “Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết”.
(33) Các môn đệ hỏi nhau : “Đã có ai mang thức ăn cho Thầy rồi
chăng ?”. (34) Đức Giê-su nói với các ông : “Lương thực của Thầy
là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công
trình của Người”. (35) Nào anh em chẳng nói : Còn bốn tháng
nữa mới đến mùa gặt ? Nhưng này, Thầy bảo anh em : Ngước mắt
lên mà xem : đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái
!”.(36) Ai gặt thì lãnh tiền công và thu hoa lợi để được sống
muôn đời. Và như thế, cả người gieo lẫn kẻ gặt đều hớn hở vui
mừng. (37) Thật vậy, câu tục ngữ “Kẻ này gieo, người kia gặt”
quả là đúng ! (38) Thầy sai anh em đi gặt những gì chính anh em
đã không vất vả làm ra. Người khác đã làm lụng vất vả. Còn
anh em, anh em được vào hưởng kết quả công lao của họ”. (39) Có
nhiều người Sa-ma-ri trong thành đó đã tin vào Đức Giê-su, vì
lời người phụ nữ làm chứng : "Ông ấy nói với tôi mọi việc tôi
đã làm". (40) Vậy, khi đến gặp Người, dân Sa-ma-ri xin người ở
lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày. (41) Số người tin
vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa. (42) Họ bảo người phụ
nữ : “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả
thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng : Người thật là
Đấng Cứu Độ trần gian”.</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">2. Ý CHÍNH :</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Bài Tin Mừng hôm nay
thuật lại cuộc đối thoại của Đức Giê-su với một phụ nữ
Sa-ma-ri. Người đã từng bước đưa chị ta đón nhận mặc khải quan
trọng : Người chính là Đấng Thiên Sai, ban Nước Hằng Sống cho
những ai tin vào Người và họ cũng sẽ biến thành mạch nước giúp người
khác đón nhận sự sống đời đời.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">3. CHÚ THÍCH :</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- C 5-9 :<i> + Đến một
thành xứ Sa-ma-ri :</i></span></b><i><span style="font-family: Tahoma,sans-serif"> </span></i><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Từ
Giê-ru-sa-lem về Ga-li-lê ngang qua xứ Sa-ma-ri, Đức Giê-su đã tới
giếng Gia-cóp gần thành Sy-kha (hay Si-khem) tại đất Ca-na-an (x.
St 33,18; 48,22). Đây là đất mà tổ phụ Gia-cóp đã cho Giu-se và
con cháu làm gia nghiệp (x. Gs 24,32). <b><i>+ Khoảng giờ thứ sáu
:</i></b> Tức khoảng mười hai giờ trưa. Người Do thái tính thời
gian như sau : ban ngày có 12 giờ và ban đêm có 4 canh giờ. Ngày
bắt đầu từ giờ Thứ Nhất (6g sáng) lúc mặt trời mọc, và kết
thúc vào giờ Thứ Mười Hai (18g00) lúc mặt trời lặn. <b><i>+
“Chị cho tôi xin chút nước uống !”:</i></b> Đức Giê-su chủ động
xin nước uống để có cơ hội bắt chuyện, giúp người phụ nữ dần
dần nhận ra Người là Đấng ban Nước Hằng Sống, đem lại ơn cứu
độ cho loài người. <b>+ “Ông là người Do thái, mà lại xin tôi,
một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao ?”:</b> Từ sau khi đi
lưu đày trở về, dân Do thái xây dựng lại Đền Thờ mà không cho
người Sa-ma-ri cộng tác, nên họ đã xúi vua Ba-tư cản trở công
cuộc tái thiết này (x. Er 4,1-16). Từ đó hai dòng giống Do thái
và Sa-ma-ri tuy cùng một tổ tiên, sống sát bên nhau, nhưng lại
có ác cảm và không giao tiếp với nhau. Ở đây, người phụ nữ
này nhận ra Đức Giê-su là người Do thái qua giọng nói và cách
ăn mặc nên đã tỏ ra ngạc nhiên và từ chối như vậy.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- C 10-15 :<i> + “Nếu
chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị
:</i></span></b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif"> Cho tôi
chút nước uống, thì hẳn chị đã xin, và người ấy ban cho chị
Nước Hằng Sống”…: Nhân dịp này, Đức Giê-su cho người phụ nữ kia
biết Người là Đấng ban Nước Hằng Sống. <b><i>+ “Thưa ông, ông
không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra Nước Hằng
Sống ?...: </i></b>Người phụ nữ này chỉ hiểu lời nói của Đức
Giê-su theo nghĩa thông thường là nước giếng tự nhiên, đang khi
Đức Giê-su lại có ý nói đến Nước Hằng Sống là Ơn Cứu Độ. <b><i>+
“Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ
không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người
ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời” :</i></b> Đức
Giê-su so sánh nước giếng tự nhiên chỉ làm đã khát nhất thời,
với Nước Hằng Sống mang lại sự sống đời đời mà Người sẽ ban,
để khơi dậy sự khao khát nơi người này. <b><i>+ “Thưa ông, xin ông
cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy
nước” : </i></b>Đức Giê-su dẫn dắt người phụ nữ từ thái độ
thù nghịch đến chỗ thân thiện. Từ vai một người xin nước đến
chỗ là Đấng ban Nước Hằng Sống và chị ta đã xin Người ban thứ
Nước ấy.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- C 16-22 :<i> + “Chị
hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây” :</i></span></b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif"> Đức
Giê-su tỏ ra là người lịch sự khi muốn nói chuyện với người
phụ nữ trước mặt chồng chị ta, đồng thời Người cũng muốn chị
ta ý thức về thân phận tội nhân của mình. <b><i>+ “Chị nói :
Tôi không có chồng là phải, vì chị đã năm đời chồng rồi, và
hiện người đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã
nói đúng” :</i></b> Đức Giê-su cho người phụ nữ ý thức tình
trạng hôn nhân bất hợp pháp của mình. Một số nhà chú giải
còn nhìn thấy 5 đời chồng là hình ảnh tượng trưng dân Sa-ma-ri
vừa kính sợ Đức Chúa, lại vừa phụng thờ 5 vị thần khác (x.
2V 17,29-34.41). <b><i>+ Thưa ông, tôi thấy ông thật là một Ngôn Sứ
: </i></b>Người phụ nữ sửng sốt khi thấy Đức Giê-su thấu suốt
đời tư của mình, và tôn xưng Người là một Ngôn sứ. Đồng thời,
chị ta xin Đức Giê-su chỉ dẫn phải tôn thờ Thiên Chúa trên núi
Ga-ra-dim như người Sa-ma-ri, hay thờ Chúa tại Đền Thánh
Giê-ru-sa-lem như người Do Thái ? <b><i>+ Đã đến giờ :</i></b> Đức
Giê-su dạy chị phụ nữ với tư cách vị Ngôn sứ : Đã đến giờ
Người xuất hiện để thực hiện chương trình cứu độ. Người cho
biết : việc thờ phượng tại núi này hay tại Giê-ru-sa-lem chỉ
là hình bóng và đã qua rồi. Bây giờ là thời Thiên Sai, phải
chấm dứt việc thờ phượng cũ để bắt đầu cách thờ phượng mới
nơi bản thân Người. <b><i>+ Thờ Đấng mà các người không biết :</i></b> Người
Sa-ma-ri chỉ công nhận bộ sách Ngũ Kinh và không biết đến các
sách khác, nhất là các Ngôn Sứ mặc khải về Thiên Chúa. <b><i>+
Còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết :</i></b> Người Do thái
tuân giữ toàn bộ các sách Thánh Kinh. Sau này, Tông đồ Phao-lô
cũng nhấn mạnh về đặc ân đó của người Do thái (x. Rm 9,4).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- C 23-29 :<i> + Thờ
phượng Chúa Cha trong Thần Khí :</i></span></b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif"> là
tôn thờ Thiên Chúa dưới sự soi sáng và sức mạnh của Chúa
Thánh Thần. <b><i>+ Trong Sự Thật :</i></b> Thờ Thiên Chúa trong
Đức Giê-su, Đấng là “đường, sự thật và sự sống” (Ga 14,6). Tóm
lại, từ nay Đức Giê-su trở nên Đền Thờ mới sẽ thay Đền Thờ cũ
trên núi Ga-ra-dim hay tại Giê-ru-sa-lem. <b><i>+ Thiên Chúa là
Thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong
Thần Khí và Sự Thật” :</i></b> Đức Giê-su đã nêu ra một điều
được cả người Do thái và người Sa-ma-ri chấp nhận là lời quả
quyết: “Thiên Chúa là Thần Khí, và người ta phải thờ Người ở
khắp mọi nơi, thờ chính Thiên Chúa chứ không phải thờ hình
bóng của Người. Thiên Chúa là Đấng vô hình, nên Người đòi
người ta phải thờ phượng Người trong tâm hồn. Một số người dựa
vào câu này để từ chối thờ Chúa bằng những hình thức lễ nghi
bên ngoài. Thực ra Đức Giê-su vẫn thường xuyên lên Đền thờ (x. Ga
2,13; 7,14; 11,55) và đến hội đường Do thái (x. Mt 1,21; Mt 13,54)
để tham dự các nghi lễ thờ phượng Thiên Chúa. Người chỉ chống
lại những nghi lễ vụ hình thức mà thôi (x. Mt 15,7-9; 21,12-13). <b><i>+
Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô sẽ đến :</i></b> Dù chưa hiểu
được ý nghĩa về lời giải thích trên đây, người đàn bà này
cũng quan tâm đến tôn giáo. Bà hy vọng Đấng Ki-tô sẽ đến loan
báo mọi sự. <b><i>+ Đấng ấy chính là tôi :</i></b> Bình thường,
Đức Giê-su không muốn tỏ ra là Đấng Thiên Sai vì sợ dân Do thái
hiểu vai trò Thiên Sai theo nghĩa chính trị. Còn ở đây nói với
người phụ nữ Sa-ma-ri, Người không sợ bị hiểu lầm nên đã tỏ
mình chính là Đấng Thiên Sai. <b><i>+ Các ông ngạc nhiên vì thấy
Người nói chuyện với một phụ nữ : </i></b>Phong tục Do thái
không cho phép đàn ông nói chuyện với phụ nữ nơi công cộng. Làm
như vậy, Đức Giê-su đã bãi bỏ tục lệ này vì sứ mệnh rao
giảng Tin Mừng quan trọng hơn thói tục của người đời. Người
đến với tha nhân, bất kể họ là ai hay thuộc phái tính, dân tộc
nào, để đem Tin Mừng cứu rỗi cho họ. <b><i>+ Đến mà xem : có
một người đã nói với tôi về tất cả những gì tôi đã làm :</i></b> Thực
ra Đức Giê-su mới chỉ nói về những người chồng của người phụ
nữ này chứ chưa nói về tất cả những gì chị đã làm. Nhưng khi
nói với dân chúng, chị ta đã phóng đại lên để cho người ta dễ
tin theo mà thôi.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- C 30-38 : <i>+ “Thầy
phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết” :</i></span></b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif"> Đức
Giê-su muốn dựa vào của ăn phần xác mà các môn đệ mời Người
để nói về của ăn thiêng liêng mà các ông chưa biết. <b><i>+ Lương
thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy :</i></b> Đức
Giê-su coi việc làm theo thánh ý Chúa Cha chính là lương thực của
Người. <b><i>+ Đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái !:</i></b> Đức
Giê-su dựa vào câu tục ngữ người nông dân hay nói : “Bốn tháng
có qua, mùa gặt có tới”. Qua đó Người nói đến mùa gặt thiêng
thiêng là cánh đồng truyền giáo đã chín vàng, vì dân Sa-ma-ri
sắp kéo tới để gặp Người. Đây là hoa trái đầu mùa của mùa gặt
Thiên Sai. <b><i>+ Đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái
! :</i></b> Trong Cựu Ước, mùa gặt tượng trưng sự phán xét của
Thiên Chúa, hoặc niềm vui ơn cứu độ (x. Is 9,2; Am 9,13, Tv 126,5).
Trong Tân Ước, mùa gặt tượng trưng cho hoa quả của việc truyền
giáo (x. Mt 9,37). Đức Giê-su gợi lên niềm vui và phần thưởng
của thợ gặt là các tông đồ, khi các ông giúp nhiều người tin
để được hưởng hạnh phúc Nước Trời. <b><i>+ Câu tục ngữ “Kẻ này
gieo, người kia gặt” quả là đúng !:</i></b> Câu tục ngữ này
được hiểu như sau : Người gieo chính là Đức Giê-su và hạt giống
là Tin Mừng (x. Lc 8,11); Thợ gặt là các môn đệ. Mặc dù các
ông chưa được sai đi, nhưng Đức Giê-su đã thấy trước viễn ảnh
tốt đẹp là hoa quả do việc truyền giáo mang lại. Việc Người
sắp chịu chết trên thập giá giống như hạt giống, phải chết đi
mới sinh ra nhiều hoa trái (x. Ga 12,24). Công việc truyền giáo
là một việc tập thể mỗi người một nhiệm vụ: “Người gieo kẻ gặt”.
Do đó khi việc tông đồ mang lại nhiều kết quả thì đừng nghĩ
rằng đó là thành quả do công sức của riêng mình.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- C 39-42 :<i> + Ông ấy
nói với tôi mọi việc tôi đã làm :</i></span></b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif"> Lời
chứng của người phụ nữ được coi là dấu chỉ, là giai đoạn đầu
dẫn dân thành đến niềm tin vào Đức Giê-su. <b><i>+ Dân Sa-ma-ri xin
người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày. Số
người tin vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa :</i></b> Đức
tin sẽ được tiếp tục triển nở nhờ lời giảng dạy của Đức
Giê-su. <b><i>+ “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin.
Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng : Người thật
là Đấng Cứu Độ trần gian” :</i></b> Qua lời của dân thành
Sa-ma-ri, chúng ta thấy một đức tin trưởng thành thì không được dựa
vào người khác như cha mẹ, vợ chồng, người thân hay theo số
đông, mà phải do sự lắng nghe và thực hành lời Chúa.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">3. CÂU HỎI :</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">1) Cách tính giờ của
người Do thái thế nào ? 2) Đức Giê-su chủ động xin nước uống
với người phụ nữ Sa-ma-ri nhằm mục đích gì ? 3) Nước Hằng
Sống mà Đức Giê-su hứa ban là thứ nước gì ? 4) Lời Đức Giê-su
dạy thờ Thiên Chúa vô hình trong Thần Khí và Sự Thật phải
chăng là Người bãi bỏ tất cả các lễ nghi thờ phương bề ngoài ?
5) Câu chuyện người phụ nữ Sa-ma-ri hôm nay dạy ta bài học gì
về sứ mệnh loan báo Tin Mừng ? 6) Câu nói của dân làng cho thấy
hiệu quả của Lời Chúa tác động thế nào nơi những người tin ?</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">II. SỐNG LỜI CHÚA</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">1. LỜI CHÚA : “Ai
uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không
bao giờ khát nữa” (Ga 4,13-14a).</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">2. CÂU CHUYỆN :</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">1) ĐỨC GIÊ-SU - “NƯỚC
HẰNG SỐNG” MANG LẠI HẠNH PHÚC ĐỜI ĐỜI :</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Cách đây ít lâu, một số
chị em người Bỉ khi suy niệm đoạn Tin mừng này, đã cùng nhau
lập một tu hội tên là “Ô Vi” (Eau Vive) dịch là “Nước Hằng
Sống”. Ngoài việc cầu nguyện trước Chúa Thánh Thần mỗi ngày,
chị em còn mở quán ăn phục vụ khách. Trong quán, các chiêu đãi
viên chính là các nữ tu. Châm ngôn của tu hội là “Phục vụ Chúa
trong các thực khách”. Mỗi buổi tối vào giờ đóng cửa, chị em
biến quán ăn trở thành nhà nguyện. Các thực khách được mời ở
lại tham dự giờ chia sẻ Lời Chúa. Mọi người sẽ được nghe Lời
Mặc Khải là Nước Hằng Sống như Đức Giê-su đã hứa ban cho người
phụ nữ Sa-ma-ri xưa.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">2) SỨC MẠNH LÔI CUỐN CỦA
LÒNG BÁC ÁI ĐÍCH THỰC :</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Có một người đàn ông
nọ mới xin theo đạo. Một hôm có người muốn thử đức tin của ông
ta liền lên tiếng hỏi : “Ông theo đạo Công giáo, nhưng ông có biết
Đức Giê-su là ai không?” Người tân tòng trả lời : “Dĩ nhiên là
tôi biết chứ”. Người kia hỏi tiếp : “Thế Đức Giê-su sinh ra tại
đâu ?” Người tân tòng im lặng không trả lời được. Người kia hỏi
tiếp : “Đức Giê-su chết năm bao nhiêu tuổi ?” Một lần nữa, người
tân tòng lại không thể trả lời. Người kia liền kết luận : “Ông
chẳng hiểu biết gì về đạo. Vậy tại sao ông lại gia nhập đạo ?”
Bấy giờ người tân tòng mới nói : “Thú thật với ông : tôi biết
rất ít về giáo lý. Nhưng điều tôi biết rất rõ là : Cách đây
hai năm, do nợ ngân hàng không thanh toán được đúng hạn, nên gia
đình tôi bị đuổi ra khỏi nhà mình và phải lang thang nay đây mai
đó. Trong thời gian ấy, tôi trở nên nghiện rượu và hay la mắng
vợ con. Vợ tôi lúc nào cũng buồn sầu khóc lóc. Các con tôi
thì luôn sợ nhìn thấy bộ mặt ba của chúng. Nhưng sau đó một năm,
tôi may mắn đã gặp được một linh mục tốt bụng. Ông đã tận tình
giúp đỡ gia đình tôi vượt qua khó khăn : Ông giúp tôi có việc
làm ổn định, và giúp gia đình tôi trở nên con cái Chúa, còn
giúp tôi sống tiết độ hơn. Hiện nay tôi đã lấy lại được căn nhà
cũ. Vợ chồng tôi sống rất hòa hợp hạnh phúc. Các con tôi đều
khỏe mạnh, học hành tiến bộ và ngoan ngoãn hiếu thảo. Tôi xác
tín rằng : Chính Đức Giê-su đã biến đổi gia đình tôi từ khi tôi
gặp được Người qua con người của một vị linh mục !”</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Quả thật, đúng như lời
Đức Giê-su đã phán trong Tin Mừng hôm nay : “Ai uống nước tôi cho
sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên đem lại sự
sống đời đời” (Ga 4,14).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">3) LÒNG MẾN CHÚA PHẢI
THỂ HIỆN QUA ĐỨC YÊU NGƯỜI :</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Vào một đêm trăng sáng, khi
nhìn qua cửa sổ, vị tu sĩ già nhìn thấy một thiên thần đang ngồi trên
một tảng đá trong khu vườn phía sau tu viện. Thiên thần cầm bút viết vào
quyển sổ vàng để trước mặt. Lòng tràn ngập niềm vui, vị tu sĩ tiến lại
gần thiên thần và lên tiếng hỏi : “Ngài đang viết gì vào sổ vàng thế ?”
Thiên thần trả lời : “Ta đang ghi tên những tín hữu đủ điều kiện để được
lên thiên đàng”. Vừa hồi hộp và lo lắng, vị tu sĩ liền hỏi thiên thần
xem trong sổ vàng có tên của mình không ? Thiên thần liền lần giở từng
trang sách ra dò, nhưng tìm mãi mà vẫn không thấy tên của vị tu sĩ.
Thiên thần cho biết sở dĩ ông chưa được ghi tên vào sổ vàng, vì ông còn
thiếu lòng mến Chúa. Bấy giờ vị tu sĩ lên tiếng hỏi thiên thần : “Tuy
tôi chưa mến Chúa đủ, nhưng nếu tôi có tình thương tha nhân thì tôi có
được ghi tên trong sổ vàng không?”. Nghe vậy, thiên thần liền gật đầu
đồng ý. Thế là từ hôm đó, vị tu sĩ nhiệt tình thực hành bác ái bằng việc
hăng say phục vụ những người bệnh tật, đui mù và nghèo khổ bất hạnh.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Sau khi vị tu sĩ qua đời,
anh em trong dòng đã tìm thấy cuốn nhật ký của vị tu sĩ. Trong đó, ông
đã viết ở trang đầu tiên như sau : ”Nếu ai nói mình yêu mến Chúa mà lại
ghét anh em mình thì đó là kẻ nói dối, vì kẻ không yêu mến người anh em
nó thấy đó, tất không thể yêu mến Thiên Chúa mà nó không thấy” (1 Ga
4,20). Tiếp theo là lời tâm tình của vị tu sĩ : ”Lúc đầu tôi đi tìm
Thiên Chúa, nhưng tôi chẳng thể gặp được vì Ngài là Đấng thiêng liêng;
tiếp đến, tôi đi tìm linh hồn tôi, nhưng tôi không tìm được, vì linh hồn
có đặc tính vô hình; Rồi sau cùng, khi tôi quyết tâm tìm kiếm tha nhân
và yêu thương họ, bằng việc chia sẻ và âm thầm phục vụ họ như phục vụ
Chúa, thì tôi đã gặp cả Thiên Chúa và linh hồn mình” (Trích “Mỗi ngày
một tin vui”).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">4) LÒNG THAM SẼ DẪN ĐƯA
NGƯỜI TA LẠC XA CHÚA :</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Có một anh thợ đào vàng mới
chết và đến cổng Thiên Đàng xin thánh Phê-rô mở cửa cho vào. Thánh nhân
hỏi : “Ở trần gian anh làm nghề gì ?” Anh thưa : “Con làm thợ đào vàng”.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Thánh Phê-rô liền nói :
“Trên thiên đàng hiện đã có quá nhiều thợ đào vàng rồi”. Nhưng anh ta
vẫn nài nỉ : “Xin ngài cứ cho con vô, để con sẽ cầm đầu bọn nó, không để
chúng do lòng tham mà tranh giành nhau làm mất an toàn trật tự trên
thiên đàng”.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Sau đó anh chàng đã được
thánh Phê-rô cho vào thiên đàng. Trước tiên anh ta đi tham quan một vòng
quanh thiên đàng và đã gặp nhiều bạn bè đào vàng trước kia. Bấy giờ anh
liền rỉ tai một người bạn và nói như sau : “Tớ nghe đồn là dưới hoả ngục
có một mỏ vàng cực lớn. Chú mày hãy mau đi rủ bạn bè xuống dưới đó mà
đào”. Thế là chỉ sau một thời gian ngắn, các tay thợ đào vàng liền bỏ
thiên đàng, mang theo cuốc xẻng nhảy xuống hoả ngục đi tìm vàng.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Còn lại một mình, anh thợ
đào vàng đứng ngồi không yên. Anh liền xin thánh Phê-rô cho xuống hoả
ngục để xem tình hình ra sao. Biết đâu ở đó thực sự có mỏ vàng thì sao ?
Vì anh thấy bọn bạn cũ của anh đã vào hoả ngục lâu rồi mà vẫn chưa quay
lại” Thánh Phê-rô liền khuyên anh : “Con đừng có ảo tưởng ! Dưới hỏa
ngục làm sao có mỏ vàng được, trái lại, chỉ có đau khổ nước mắt và thói
xấu ganh ghét mà thôi. Nhưng anh chàng kia không nghe lời khuyên, cứ
quyết định leo rào ra ngoài để tìm đường đi xuống hỏa ngục.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Than ôi ! Thế là chính vì
lòng tham không đáy mà cả bọn thợ đào vàng đều bị mất hạnh phúc thiên
đàng. Ngày nay trên trần gian, do lòng tham không đáy, mà nhiều người
cũng hứa sẽ sẵn sàng hy sinh hạnh phúc riêng mình để chạy theo lòng tham
vàng bạc vật chất, nhắm mắt phạm các tội ác nghiêm trọng như : cướp của,
giết người… để rồi phải vào tù chịu hình phạt đau khổ đời này và còn
chịu bất hạnh hỏa ngục đời sau.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">3. SUY NIỆM :</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">1) ĐỨC GIÊ-SU LÀ “NƯỚC
HẰNG SỐNG” CỦA NHÂN LOẠI :</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Tin Mừng CN hôm nay tường
thuật cuộc đối thoại tại bờ giếng Gia-cóp, giữa Đức Giê-su với
người phụ nữ Sa-ma-ri đại diện cho dân ngoại. Qua đó, Người đã từng
bước mặc khải cho chị ta về ơn cứu độ. Đức Giê-su đã chủ động xin
chị ta nước uống vật chất, để sau đó hứa ban cho chị “Nước Hằng
Sống”. Tiến trình đức tin nơi chị phụ nữ Sa-ma-ri trong Tin Mừng như
sau :</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- Đầu tiên Đức Giê-su đi
bước trước mở lời : “Cho tôi chút nước uống” (c. 7). Xin nước không
phải cần nước uống, nhưng nhằm bắc một nhịp cầu vượt qua hố ngăn
cách giữa hai dân tộc Do thái và Sa-ma-ri. Tuy cùng là con cháu của
tổ phụ Gia-cóp, nhưng do hoàn cảnh lịch sử đã phân thành hai dân tộc
nghi kỵ nhau và không giao tiếp với nhau, như lời chị phụ nữ Sa-ma-ri
nói với Đức Giê-su : “Ông là người Do thái mà lại xin tôi, một
phụ nữ Sa-ma-ri cho ông nước uống hay sao ?” (c. 9). Sau đó, từ nước
giếng vật chất, Đức Giê-su đã từng bước mặc khải cho chị ta về “Nước
Hằng Sống” (c. 10).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- Chính do hiểu lầm hiềm
khích mà hai dân tộc Do thái và Sa-ma-ri đã chia rẽ nhau về đức tin :
Người Do thái chỉ thờ Đức Chúa tại Đền Thánh Giê-ru-sa-lem, đang
khi người Sa-ma-ri lại muốn phải thờ Đức Chúa tại núi Ga-ri-dim !
Còn theo Đức Giê-su : Người ta không được giới hạn Thiên Chúa tại đền
thờ vật chất tại Giê-ru-sa-lem hay trên núi Ga-ri-dim. Thiên Chúa là
Đấng vô hình như “Gió” và “Thần Khí”, sự thờ phượng đúng đắn nhất
là thờ Thiên Chúa trong “Thần Khí” và “Sự Thật” (c. 20-24).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">2) PHẢI THỜ CHÚA TRONG
THẦN KHÍ VÀ SỰ THẬT :</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Đức Giê-su dạy phải thờ
phượng Thiên Chúa như sau : “Nhưng giờ đã đến, và chính lúc này đây,
giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần
khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế”
(Ga 4, 23).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><i><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- Phải thờ Thiên Chúa
trong Thần Khí :</span></i></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Ðức Giê-su nói : “Thiên
Chúa là Thần Khí, và những kẻ thờ phượng Ngài phải thờ phượng trong Thần
Khí và Sự Thật”. Ngày nay nhiều người cũng đồng quan điểm khi chủ trương
: “Đạo tại tâm”. Thánh Phao-lô cũng nói : “Nào anh em chẳng biết rằng
anh em là Ðền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh
em sao” (1 Cr 3,17). Mỗi người tín hữu chúng ta hôm nay cũng cần xin ơn
Chúa Thánh Thần giúp ta thực thi đức tin bằng đức cậy là cầu nguyện dâng
lễ; và bằng đức mến là phục vụ tha nhân. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><i><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- Phải thờ Thiên Chúa
trong Sự Thật :</span></i></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Sự thật là chính Đức Giê-su
như Người đã tuyên bố : “Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống”
(Ga 14,6). Ma quỷ là cha của sự dối trá và các môn đệ của Đức Giê-su
phải tránh dối trá như các đầu mục dân Do thái đã bị Đức Giê-su quở
trách : “Cha các ông là ma quỷ, và các ông muốn làm những gì cha các ông
ham thích. Ngay từ đầu, nó đã là tên sát nhân. Nó đã không đứng về phía
sự thật, vì sự thật không ở trong nó. Khi nó nói dối là nó nói theo bản
tính của nó, bởi vì nó là kẻ nói dối, và là cha sự gian dối” (Ga 8,44).
Còn Thiên Chúa của chúng ta thờ là Thiên Chúa của sự thật, vì thế, những
kẻ gian dối, sẽ không thể gặp được Ngài là Sự Thật. Do đó mỗi người
chúng ta cần có một lương tâm ngay thẳng: “Có thì nói có, không thì nói
không” (Mt 5,36), không quanh co, lươn lẹo, gian dối, nói một đàng làm
một nẻo… thì mới có thể gặp gỡ Ngài.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">3) SỨ MẠNG TRỞ THÀNH
MẠCH “NƯỚC HẰNG SỐNG” CHO THA NHÂN :</span></b></p>
<p style="text-align: justify; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0cm; margin-bottom: 6.0pt; background: white">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Trong Tin Mừng hôm nay Đức
Giê-su nói về sứ vụ của người tín hữu như sau : “Ai uống nước này,
sẽ lại khát.<b> </b>Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát
nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước
vọt lên, đem lại sự sống đời đời” ? (Ga 4,13-14). Cũng như ông
Phi-lip-phê sau khi đã gặp và tin Đức Giê-su, liền đi tìm bạn mình là
Na-tha-na-en để chia sẻ niềm tin (x. Ga 1,45); Ma-ri-a Ma-đa-lê-na sau
khi gặp Chúa Phục Sinh cũng vội đi tìm các môn đệ để loan báo Tin vui
gặp Chúa Phục Sinh (x. Ga 20,18); Người phụ nữ Sa-ma-ri-a trong Tin Mừng
hôm nay sau khi gặp gỡ và tin Đức Giê-su, cũng đã chạy vội về làng loan
báo cho mọi người : “Đến mà xem : có một người đã nói với tôi tất cả
những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao ?” (Ga 4,29).
Mọi người nghe lời chị nói đã kéo nhau đến gặp Đức Giê-su và mời Người
vào ở trọ trong làng của họ. Sau khi nghe giảng và tin Người là Đấng
Thiên Sai, họ đã khẳng định niềm tin qua câu nói : “Không còn phải vì
lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết
Người thật là Đấng cứu độ trần gian” (Ga 4,42).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt; background: white">
<b>
<span style="font-size: 11.0pt; font-family: Verdana,sans-serif; background: white">
4) LÀM GÌ ĐỂ SỐNG VÀ TRUYỀN BÁ ĐỨC TIN HÔM NAY ? :</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-size: 11.0pt; font-family: Verdana,sans-serif">- <b><i>Trong
những ngày Mùa Chay này,</i></b> <b><i>chúng ta cần dành</i></b> <b><i>nhiều
thời gian để đến gặp gỡ Chúa Giê-su </i></b>trong thánh lễ, qua
các buổi tĩnh tâm Mùa Chay, các giờ kinh tối gia đình… Nhờ đó
chúng ta sẽ có một nguồn suối làm thỏa mãn cơn khát nội tâm, và
làm cho lòng chúng ta trở thành một mạch nước mới dẫn đến ơn
cứu độ. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><i><span style="font-size: 11.0pt; font-family: Verdana,sans-serif">-
Cần hãm mình ăn chay để có điều kiện làm nhiều việc bác ái yêu thương
như phương thế truyền giáo hữu hiệu trong hoàn cảnh xã hội hôm nay :</span></i></b><span style="font-size: 11.0pt; font-family: Verdana,sans-serif"> <span style="background: white">Đức
Thánh Cha Phao-lô VI đã khẳng định : “Trong thế giới hôm nay người ta
cần những chứng nhân hơn là thầy dạy và nếu họ có nghe thầy dạy thì thầy
dạy đó cũng là chứng nhân”. </span>Câu chuyện sau đây chứng minh điều
này: </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-size: 11.0pt; font-family: Verdana,sans-serif">“Có
một người đàn ông nọ mới theo đạo. Một hôm có người muốn thử
đức tin của ông liền hỏi : “Anh theo đạo nhưng có biết Đức
Giê-su là ai không ?” Người tân tòng trả lời : “Dĩ nhiên là biết
chứ”. Người kia hỏi tiếp : “Thế Đức Giê-su sinh ra tại đâu ?”
Người tân tòng im lặng không trả lời được. Người kia hỏi tiếp :
“Thế Đức Giê-su chết khi được bao nhiêu tuổi ?” Một lần nữa,
người tân tòng lại không biết. Người kia liền nói : “Anh chẳng
biết gì về đạo. Vậy tại sao anh lại theo đạo ?” Bấy giờ người
tân tòng mới nói : “Thú thật với anh : tôi biết rất ít về
giáo lý. Nhưng điều tôi biết rất rõ là : Cách đây hai năm, do
nợ ngân hàng mất khả năng chi trả, nên gia đình tôi lâm vào hoàn cảnh
khốn cùng bị đuổi ra khỏi nhà để sống lang thang nay đây mai đó.
Trong thời gian ấy, tôi buồn chán đi uống rượu và trở thành một kẻ
luôn say xỉn và khi về đến nhà là lại la mắng vợ con. Vợ tôi lúc nào
cũng buồn rầu khóc lóc. Các con tôi thì luôn sợ phải nhìn thấy
mặt ba của chúng. Nhưng sau đó. tôi rất may đã gặp được một linh
mục tốt bụng. Ông đã tận tình giúp đỡ gia đình tôi vượt qua
cơn khó khăn: Ông giúp tôi có được một công việc thu nhập ổn
định, và giúp gia đình tôi trở thành con Thiên Chúa. Ông còn
giúp bản thân tôi trở thành một con người sống tiết độ và có trách
nhiệm hơn đối với gia đình của mình. Hiện nay tôi đã đòi lại được
căn nhà cũ trước kia. Vợ chồng tôi sống với nhau rất hòa hợp
hạnh phúc. Các con tôi đều khỏe mạnh, học hành tiến bộ và
luôn ngoan ngoãn hiếu thảo. Tôi xác tín rằng : <b><i>“Chính Đức
Giê-su đã biến đổi gia đình tôi từ khi tôi gặp được Người qua
trung gian một vị linh mục </i>!”</b> Quả thật đúng như lời Đức
Giê-su đã phán trong Tin Mừng hôm nay : “Ai uống nước tôi cho sẽ
trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên đem lại sự sống
đời đời” (Ga 4,14b).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">4. THẢO LUẬN : Bạn sẽ
làm gì để đức tin vào Đức Giê-su trở thành nguồn Nước Hằng Sống cho
bạn bè và người thân ?</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">5. NGUYỆN CẦU :</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin hãy
biến đổi chúng con trong Mùa Chay này. Xin cho chúng con gặp được
Chúa trong thánh lễ, những buổi tĩnh tâm và qua những người
nghèo khó … Xin cho chúng con được uống Nước Hằng Sống là Lời
Chúa. Nhờ đó, cuộc đời của chúng con sẽ vui tươi hạnh phúc hơn.
Xin cho chúng con quảng đại tha thứ, quên mình phục vụ và luôn
đi bước trước đến với tha nhân, như Chúa đã đi bước trước bắt
chuyện với người phụ nữ Sa-ma-ri trong Tin Mừng hôm nay.- AMEN,</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">HIỆP SỐNG TIN MỪNG
</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">CN 3 MÙA CHAY A</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Xh 17,3-7 ; Rm 5,1-2.5-8
; Ga 4,5-42</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">TRỞ NÊN MẠCH NƯỚC BAN ƠN
CỨU ĐỘ ĐỜI ĐỜI </span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">I. HỌC LỜI CHÚA</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">1. TIN MỪNG : Ga 4,5-42</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">(5) Vậy Người đến
một thành xứ Sa-ma-ri, tên là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cóp
đã cho con là ông Giu-se. (6) Ở đấy, có giếng của ông Gia-cóp.
Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó
vào khoảng mười hai giờ trưa. (7) Có một người phụ nữ Sa-ma-ri
đến lấy nước. Đức Giê-su nói với người ấy : “Chị cho tôi xin
chút nước uống !”. (8) Quả thế, các môn đệ của Người đã vào
thành mua thức ăn. (9) Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói : “Ông là
người Do thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước
uống sao ?” Quả thế, người Do thái không được giao thiệp với
người Sa-ma-ri. (10) Đức Giê-su trả lời : “Nếu chị nhận ra ân
huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị : Cho tôi chút
nước uống, thì hẳn chị đã xin, và người ấy ban cho chị Nước
Hằng Sống”. (11) Chị ấy nói : “Thưa ông, ông không có gầu, mà
giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra Nước Hằng Sống ? (12) Chẳng
lẽ ông lớn hơn tổ phụ Gia-cóp chúng tôi, là người đã cho chúng
tôi giếng này ? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con
cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy”. (13) Đức Giê-su trả
lời : “Ai uống nước này, sẽ lại khát. (14) Còn ai uống nước
tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở
thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời
đời”. (15) Người phụ nữ nói với Đức Giê-su : “Thưa ông, xin ông
cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy
nước”. (16) Người bảo chị ấy : “Chị hãy gọi chồng chị, rồi
trở lại đây”. (17) Người phụ nữ đáp : “Tôi không có chồng”. Đức
Giê-su bảo : “Chị nói : Tôi không có chồng là phải, (18) vì chị
đã năm đời chồng rồi, và hiện người đang sống với chị không
phải là chồng chị. Chị đã nói đúng”. (19) Người phụ nữ nói
với Người : “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một Ngôn sứ… (20) Cha
ông chúng tôi đã phờ phượng Thiên Chúa trên núi này. Còn các
ông lại bảo: Giê-ru-sa-lem mới chính là nơi phải thờ phượng
Thiên Chúa”. (21) Đức Giê-su phán : “Này chị, hãy tin tôi : đã
đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi
này hay tại Giê-ru-sa-lem. (22) Các người thờ Đấng các người
không biết; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu
độ phát xuất từ dân Do thái. (23) Nhưng giờ đã đến và chính
là lúc này đây, giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ
phượng Chúa Cha trong Thần Khí và Sự Thật, vì Chúa Cha tìm
kiếm những ai thờ phượng Người như thế. (24) Thiên Chúa là Thần
Khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong Thần
Khí và Sự Thật”. (25) Người phụ nữ thưa : “Tôi biết Đấng
Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô sẽ đến. Khi Người đến, người sẽ loan
báo cho chúng tôi mọi sự”. (26) Đức Giê-su nói : “Đấng ấy chính
là tôi, người đang nói với chị đây”. (27) Vừa lúc đó, các môn
đệ trở về. Các ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với
một phụ nữ. Tuy thế, không ai dám hỏi : “Thầy cần gì vậy ?”
Hoặc “Thầy nói gì với chị ấy ?”.(28) Người phụ nữ để vò
nước lại, vào thành và nói với người ta : (29) “Đến mà xem :
có một người đã nói với tôi về tất cả những gì tôi đã làm.
Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao ?” (30) Họ ra khỏi thành và
đến gặp Người. (31) Trong khi đó, các môn đệ thưa với Người
rằng : “Ráp-bi, xin mời Thầy dùng bữa”. (32) Người nói với các
ông : “Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết”.
(33) Các môn đệ hỏi nhau : “Đã có ai mang thức ăn cho Thầy rồi
chăng ?”. (34) Đức Giê-su nói với các ông : “Lương thực của Thầy
là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công
trình của Người”. (35) Nào anh em chẳng nói : Còn bốn tháng
nữa mới đến mùa gặt ? Nhưng này, Thầy bảo anh em : Ngước mắt
lên mà xem : đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái
!”.(36) Ai gặt thì lãnh tiền công và thu hoa lợi để được sống
muôn đời. Và như thế, cả người gieo lẫn kẻ gặt đều hớn hở vui
mừng. (37) Thật vậy, câu tục ngữ “Kẻ này gieo, người kia gặt”
quả là đúng ! (38) Thầy sai anh em đi gặt những gì chính anh em
đã không vất vả làm ra. Người khác đã làm lụng vất vả. Còn
anh em, anh em được vào hưởng kết quả công lao của họ”. (39) Có
nhiều người Sa-ma-ri trong thành đó đã tin vào Đức Giê-su, vì
lời người phụ nữ làm chứng : "Ông ấy nói với tôi mọi việc tôi
đã làm". (40) Vậy, khi đến gặp Người, dân Sa-ma-ri xin người ở
lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày. (41) Số người tin
vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa. (42) Họ bảo người phụ
nữ : “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả
thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng : Người thật là
Đấng Cứu Độ trần gian”.</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">2. Ý CHÍNH :</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Bài Tin Mừng hôm nay
thuật lại cuộc đối thoại của Đức Giê-su với một phụ nữ
Sa-ma-ri. Người đã từng bước đưa chị ta đón nhận mặc khải quan
trọng : Người chính là Đấng Thiên Sai, ban Nước Hằng Sống cho
những ai tin vào Người và họ cũng sẽ biến thành mạch nước giúp người
khác đón nhận sự sống đời đời.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">3. CHÚ THÍCH :</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- C 5-9 :<i> + Đến một
thành xứ Sa-ma-ri :</i></span></b><i><span style="font-family: Tahoma,sans-serif"> </span></i><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Từ
Giê-ru-sa-lem về Ga-li-lê ngang qua xứ Sa-ma-ri, Đức Giê-su đã tới
giếng Gia-cóp gần thành Sy-kha (hay Si-khem) tại đất Ca-na-an (x.
St 33,18; 48,22). Đây là đất mà tổ phụ Gia-cóp đã cho Giu-se và
con cháu làm gia nghiệp (x. Gs 24,32). <b><i>+ Khoảng giờ thứ sáu
:</i></b> Tức khoảng mười hai giờ trưa. Người Do thái tính thời
gian như sau : ban ngày có 12 giờ và ban đêm có 4 canh giờ. Ngày
bắt đầu từ giờ Thứ Nhất (6g sáng) lúc mặt trời mọc, và kết
thúc vào giờ Thứ Mười Hai (18g00) lúc mặt trời lặn. <b><i>+
“Chị cho tôi xin chút nước uống !”:</i></b> Đức Giê-su chủ động
xin nước uống để có cơ hội bắt chuyện, giúp người phụ nữ dần
dần nhận ra Người là Đấng ban Nước Hằng Sống, đem lại ơn cứu
độ cho loài người. <b>+ “Ông là người Do thái, mà lại xin tôi,
một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao ?”:</b> Từ sau khi đi
lưu đày trở về, dân Do thái xây dựng lại Đền Thờ mà không cho
người Sa-ma-ri cộng tác, nên họ đã xúi vua Ba-tư cản trở công
cuộc tái thiết này (x. Er 4,1-16). Từ đó hai dòng giống Do thái
và Sa-ma-ri tuy cùng một tổ tiên, sống sát bên nhau, nhưng lại
có ác cảm và không giao tiếp với nhau. Ở đây, người phụ nữ
này nhận ra Đức Giê-su là người Do thái qua giọng nói và cách
ăn mặc nên đã tỏ ra ngạc nhiên và từ chối như vậy.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- C 10-15 :<i> + “Nếu
chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị
:</i></span></b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif"> Cho tôi
chút nước uống, thì hẳn chị đã xin, và người ấy ban cho chị
Nước Hằng Sống”…: Nhân dịp này, Đức Giê-su cho người phụ nữ kia
biết Người là Đấng ban Nước Hằng Sống. <b><i>+ “Thưa ông, ông
không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra Nước Hằng
Sống ?...: </i></b>Người phụ nữ này chỉ hiểu lời nói của Đức
Giê-su theo nghĩa thông thường là nước giếng tự nhiên, đang khi
Đức Giê-su lại có ý nói đến Nước Hằng Sống là Ơn Cứu Độ. <b><i>+
“Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ
không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người
ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời” :</i></b> Đức
Giê-su so sánh nước giếng tự nhiên chỉ làm đã khát nhất thời,
với Nước Hằng Sống mang lại sự sống đời đời mà Người sẽ ban,
để khơi dậy sự khao khát nơi người này. <b><i>+ “Thưa ông, xin ông
cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy
nước” : </i></b>Đức Giê-su dẫn dắt người phụ nữ từ thái độ
thù nghịch đến chỗ thân thiện. Từ vai một người xin nước đến
chỗ là Đấng ban Nước Hằng Sống và chị ta đã xin Người ban thứ
Nước ấy.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- C 16-22 :<i> + “Chị
hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây” :</i></span></b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif"> Đức
Giê-su tỏ ra là người lịch sự khi muốn nói chuyện với người
phụ nữ trước mặt chồng chị ta, đồng thời Người cũng muốn chị
ta ý thức về thân phận tội nhân của mình. <b><i>+ “Chị nói :
Tôi không có chồng là phải, vì chị đã năm đời chồng rồi, và
hiện người đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã
nói đúng” :</i></b> Đức Giê-su cho người phụ nữ ý thức tình
trạng hôn nhân bất hợp pháp của mình. Một số nhà chú giải
còn nhìn thấy 5 đời chồng là hình ảnh tượng trưng dân Sa-ma-ri
vừa kính sợ Đức Chúa, lại vừa phụng thờ 5 vị thần khác (x.
2V 17,29-34.41). <b><i>+ Thưa ông, tôi thấy ông thật là một Ngôn Sứ
: </i></b>Người phụ nữ sửng sốt khi thấy Đức Giê-su thấu suốt
đời tư của mình, và tôn xưng Người là một Ngôn sứ. Đồng thời,
chị ta xin Đức Giê-su chỉ dẫn phải tôn thờ Thiên Chúa trên núi
Ga-ra-dim như người Sa-ma-ri, hay thờ Chúa tại Đền Thánh
Giê-ru-sa-lem như người Do Thái ? <b><i>+ Đã đến giờ :</i></b> Đức
Giê-su dạy chị phụ nữ với tư cách vị Ngôn sứ : Đã đến giờ
Người xuất hiện để thực hiện chương trình cứu độ. Người cho
biết : việc thờ phượng tại núi này hay tại Giê-ru-sa-lem chỉ
là hình bóng và đã qua rồi. Bây giờ là thời Thiên Sai, phải
chấm dứt việc thờ phượng cũ để bắt đầu cách thờ phượng mới
nơi bản thân Người. <b><i>+ Thờ Đấng mà các người không biết :</i></b> Người
Sa-ma-ri chỉ công nhận bộ sách Ngũ Kinh và không biết đến các
sách khác, nhất là các Ngôn Sứ mặc khải về Thiên Chúa. <b><i>+
Còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết :</i></b> Người Do thái
tuân giữ toàn bộ các sách Thánh Kinh. Sau này, Tông đồ Phao-lô
cũng nhấn mạnh về đặc ân đó của người Do thái (x. Rm 9,4).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- C 23-29 :<i> + Thờ
phượng Chúa Cha trong Thần Khí :</i></span></b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif"> là
tôn thờ Thiên Chúa dưới sự soi sáng và sức mạnh của Chúa
Thánh Thần. <b><i>+ Trong Sự Thật :</i></b> Thờ Thiên Chúa trong
Đức Giê-su, Đấng là “đường, sự thật và sự sống” (Ga 14,6). Tóm
lại, từ nay Đức Giê-su trở nên Đền Thờ mới sẽ thay Đền Thờ cũ
trên núi Ga-ra-dim hay tại Giê-ru-sa-lem. <b><i>+ Thiên Chúa là
Thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong
Thần Khí và Sự Thật” :</i></b> Đức Giê-su đã nêu ra một điều
được cả người Do thái và người Sa-ma-ri chấp nhận là lời quả
quyết: “Thiên Chúa là Thần Khí, và người ta phải thờ Người ở
khắp mọi nơi, thờ chính Thiên Chúa chứ không phải thờ hình
bóng của Người. Thiên Chúa là Đấng vô hình, nên Người đòi
người ta phải thờ phượng Người trong tâm hồn. Một số người dựa
vào câu này để từ chối thờ Chúa bằng những hình thức lễ nghi
bên ngoài. Thực ra Đức Giê-su vẫn thường xuyên lên Đền thờ (x. Ga
2,13; 7,14; 11,55) và đến hội đường Do thái (x. Mt 1,21; Mt 13,54)
để tham dự các nghi lễ thờ phượng Thiên Chúa. Người chỉ chống
lại những nghi lễ vụ hình thức mà thôi (x. Mt 15,7-9; 21,12-13). <b><i>+
Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô sẽ đến :</i></b> Dù chưa hiểu
được ý nghĩa về lời giải thích trên đây, người đàn bà này
cũng quan tâm đến tôn giáo. Bà hy vọng Đấng Ki-tô sẽ đến loan
báo mọi sự. <b><i>+ Đấng ấy chính là tôi :</i></b> Bình thường,
Đức Giê-su không muốn tỏ ra là Đấng Thiên Sai vì sợ dân Do thái
hiểu vai trò Thiên Sai theo nghĩa chính trị. Còn ở đây nói với
người phụ nữ Sa-ma-ri, Người không sợ bị hiểu lầm nên đã tỏ
mình chính là Đấng Thiên Sai. <b><i>+ Các ông ngạc nhiên vì thấy
Người nói chuyện với một phụ nữ : </i></b>Phong tục Do thái
không cho phép đàn ông nói chuyện với phụ nữ nơi công cộng. Làm
như vậy, Đức Giê-su đã bãi bỏ tục lệ này vì sứ mệnh rao
giảng Tin Mừng quan trọng hơn thói tục của người đời. Người
đến với tha nhân, bất kể họ là ai hay thuộc phái tính, dân tộc
nào, để đem Tin Mừng cứu rỗi cho họ. <b><i>+ Đến mà xem : có
một người đã nói với tôi về tất cả những gì tôi đã làm :</i></b> Thực
ra Đức Giê-su mới chỉ nói về những người chồng của người phụ
nữ này chứ chưa nói về tất cả những gì chị đã làm. Nhưng khi
nói với dân chúng, chị ta đã phóng đại lên để cho người ta dễ
tin theo mà thôi.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- C 30-38 : <i>+ “Thầy
phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết” :</i></span></b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif"> Đức
Giê-su muốn dựa vào của ăn phần xác mà các môn đệ mời Người
để nói về của ăn thiêng liêng mà các ông chưa biết. <b><i>+ Lương
thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy :</i></b> Đức
Giê-su coi việc làm theo thánh ý Chúa Cha chính là lương thực của
Người. <b><i>+ Đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái !:</i></b> Đức
Giê-su dựa vào câu tục ngữ người nông dân hay nói : “Bốn tháng
có qua, mùa gặt có tới”. Qua đó Người nói đến mùa gặt thiêng
thiêng là cánh đồng truyền giáo đã chín vàng, vì dân Sa-ma-ri
sắp kéo tới để gặp Người. Đây là hoa trái đầu mùa của mùa gặt
Thiên Sai. <b><i>+ Đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái
! :</i></b> Trong Cựu Ước, mùa gặt tượng trưng sự phán xét của
Thiên Chúa, hoặc niềm vui ơn cứu độ (x. Is 9,2; Am 9,13, Tv 126,5).
Trong Tân Ước, mùa gặt tượng trưng cho hoa quả của việc truyền
giáo (x. Mt 9,37). Đức Giê-su gợi lên niềm vui và phần thưởng
của thợ gặt là các tông đồ, khi các ông giúp nhiều người tin
để được hưởng hạnh phúc Nước Trời. <b><i>+ Câu tục ngữ “Kẻ này
gieo, người kia gặt” quả là đúng !:</i></b> Câu tục ngữ này
được hiểu như sau : Người gieo chính là Đức Giê-su và hạt giống
là Tin Mừng (x. Lc 8,11); Thợ gặt là các môn đệ. Mặc dù các
ông chưa được sai đi, nhưng Đức Giê-su đã thấy trước viễn ảnh
tốt đẹp là hoa quả do việc truyền giáo mang lại. Việc Người
sắp chịu chết trên thập giá giống như hạt giống, phải chết đi
mới sinh ra nhiều hoa trái (x. Ga 12,24). Công việc truyền giáo
là một việc tập thể mỗi người một nhiệm vụ: “Người gieo kẻ gặt”.
Do đó khi việc tông đồ mang lại nhiều kết quả thì đừng nghĩ
rằng đó là thành quả do công sức của riêng mình.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- C 39-42 :<i> + Ông ấy
nói với tôi mọi việc tôi đã làm :</i></span></b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif"> Lời
chứng của người phụ nữ được coi là dấu chỉ, là giai đoạn đầu
dẫn dân thành đến niềm tin vào Đức Giê-su. <b><i>+ Dân Sa-ma-ri xin
người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày. Số
người tin vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa :</i></b> Đức
tin sẽ được tiếp tục triển nở nhờ lời giảng dạy của Đức
Giê-su. <b><i>+ “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin.
Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng : Người thật
là Đấng Cứu Độ trần gian” :</i></b> Qua lời của dân thành
Sa-ma-ri, chúng ta thấy một đức tin trưởng thành thì không được dựa
vào người khác như cha mẹ, vợ chồng, người thân hay theo số
đông, mà phải do sự lắng nghe và thực hành lời Chúa.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">3. CÂU HỎI :</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">1) Cách tính giờ của
người Do thái thế nào ? 2) Đức Giê-su chủ động xin nước uống
với người phụ nữ Sa-ma-ri nhằm mục đích gì ? 3) Nước Hằng
Sống mà Đức Giê-su hứa ban là thứ nước gì ? 4) Lời Đức Giê-su
dạy thờ Thiên Chúa vô hình trong Thần Khí và Sự Thật phải
chăng là Người bãi bỏ tất cả các lễ nghi thờ phương bề ngoài ?
5) Câu chuyện người phụ nữ Sa-ma-ri hôm nay dạy ta bài học gì
về sứ mệnh loan báo Tin Mừng ? 6) Câu nói của dân làng cho thấy
hiệu quả của Lời Chúa tác động thế nào nơi những người tin ?</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">II. SỐNG LỜI CHÚA</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">1. LỜI CHÚA : “Ai
uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không
bao giờ khát nữa” (Ga 4,13-14a).</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">2. CÂU CHUYỆN :</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">1) ĐỨC GIÊ-SU - “NƯỚC
HẰNG SỐNG” MANG LẠI HẠNH PHÚC ĐỜI ĐỜI :</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Cách đây ít lâu, một số
chị em người Bỉ khi suy niệm đoạn Tin mừng này, đã cùng nhau
lập một tu hội tên là “Ô Vi” (Eau Vive) dịch là “Nước Hằng
Sống”. Ngoài việc cầu nguyện trước Chúa Thánh Thần mỗi ngày,
chị em còn mở quán ăn phục vụ khách. Trong quán, các chiêu đãi
viên chính là các nữ tu. Châm ngôn của tu hội là “Phục vụ Chúa
trong các thực khách”. Mỗi buổi tối vào giờ đóng cửa, chị em
biến quán ăn trở thành nhà nguyện. Các thực khách được mời ở
lại tham dự giờ chia sẻ Lời Chúa. Mọi người sẽ được nghe Lời
Mặc Khải là Nước Hằng Sống như Đức Giê-su đã hứa ban cho người
phụ nữ Sa-ma-ri xưa.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">2) SỨC MẠNH LÔI CUỐN CỦA
LÒNG BÁC ÁI ĐÍCH THỰC :</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Có một người đàn ông
nọ mới xin theo đạo. Một hôm có người muốn thử đức tin của ông
ta liền lên tiếng hỏi : “Ông theo đạo Công giáo, nhưng ông có biết
Đức Giê-su là ai không?” Người tân tòng trả lời : “Dĩ nhiên là
tôi biết chứ”. Người kia hỏi tiếp : “Thế Đức Giê-su sinh ra tại
đâu ?” Người tân tòng im lặng không trả lời được. Người kia hỏi
tiếp : “Đức Giê-su chết năm bao nhiêu tuổi ?” Một lần nữa, người
tân tòng lại không thể trả lời. Người kia liền kết luận : “Ông
chẳng hiểu biết gì về đạo. Vậy tại sao ông lại gia nhập đạo ?”
Bấy giờ người tân tòng mới nói : “Thú thật với ông : tôi biết
rất ít về giáo lý. Nhưng điều tôi biết rất rõ là : Cách đây
hai năm, do nợ ngân hàng không thanh toán được đúng hạn, nên gia
đình tôi bị đuổi ra khỏi nhà mình và phải lang thang nay đây mai
đó. Trong thời gian ấy, tôi trở nên nghiện rượu và hay la mắng
vợ con. Vợ tôi lúc nào cũng buồn sầu khóc lóc. Các con tôi
thì luôn sợ nhìn thấy bộ mặt ba của chúng. Nhưng sau đó một năm,
tôi may mắn đã gặp được một linh mục tốt bụng. Ông đã tận tình
giúp đỡ gia đình tôi vượt qua khó khăn : Ông giúp tôi có việc
làm ổn định, và giúp gia đình tôi trở nên con cái Chúa, còn
giúp tôi sống tiết độ hơn. Hiện nay tôi đã lấy lại được căn nhà
cũ. Vợ chồng tôi sống rất hòa hợp hạnh phúc. Các con tôi đều
khỏe mạnh, học hành tiến bộ và ngoan ngoãn hiếu thảo. Tôi xác
tín rằng : Chính Đức Giê-su đã biến đổi gia đình tôi từ khi tôi
gặp được Người qua con người của một vị linh mục !”</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Quả thật, đúng như lời
Đức Giê-su đã phán trong Tin Mừng hôm nay : “Ai uống nước tôi cho
sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên đem lại sự
sống đời đời” (Ga 4,14).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">3) LÒNG MẾN CHÚA PHẢI
THỂ HIỆN QUA ĐỨC YÊU NGƯỜI :</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Vào một đêm trăng sáng, khi
nhìn qua cửa sổ, vị tu sĩ già nhìn thấy một thiên thần đang ngồi trên
một tảng đá trong khu vườn phía sau tu viện. Thiên thần cầm bút viết vào
quyển sổ vàng để trước mặt. Lòng tràn ngập niềm vui, vị tu sĩ tiến lại
gần thiên thần và lên tiếng hỏi : “Ngài đang viết gì vào sổ vàng thế ?”
Thiên thần trả lời : “Ta đang ghi tên những tín hữu đủ điều kiện để được
lên thiên đàng”. Vừa hồi hộp và lo lắng, vị tu sĩ liền hỏi thiên thần
xem trong sổ vàng có tên của mình không ? Thiên thần liền lần giở từng
trang sách ra dò, nhưng tìm mãi mà vẫn không thấy tên của vị tu sĩ.
Thiên thần cho biết sở dĩ ông chưa được ghi tên vào sổ vàng, vì ông còn
thiếu lòng mến Chúa. Bấy giờ vị tu sĩ lên tiếng hỏi thiên thần : “Tuy
tôi chưa mến Chúa đủ, nhưng nếu tôi có tình thương tha nhân thì tôi có
được ghi tên trong sổ vàng không?”. Nghe vậy, thiên thần liền gật đầu
đồng ý. Thế là từ hôm đó, vị tu sĩ nhiệt tình thực hành bác ái bằng việc
hăng say phục vụ những người bệnh tật, đui mù và nghèo khổ bất hạnh.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Sau khi vị tu sĩ qua đời,
anh em trong dòng đã tìm thấy cuốn nhật ký của vị tu sĩ. Trong đó, ông
đã viết ở trang đầu tiên như sau : ”Nếu ai nói mình yêu mến Chúa mà lại
ghét anh em mình thì đó là kẻ nói dối, vì kẻ không yêu mến người anh em
nó thấy đó, tất không thể yêu mến Thiên Chúa mà nó không thấy” (1 Ga
4,20). Tiếp theo là lời tâm tình của vị tu sĩ : ”Lúc đầu tôi đi tìm
Thiên Chúa, nhưng tôi chẳng thể gặp được vì Ngài là Đấng thiêng liêng;
tiếp đến, tôi đi tìm linh hồn tôi, nhưng tôi không tìm được, vì linh hồn
có đặc tính vô hình; Rồi sau cùng, khi tôi quyết tâm tìm kiếm tha nhân
và yêu thương họ, bằng việc chia sẻ và âm thầm phục vụ họ như phục vụ
Chúa, thì tôi đã gặp cả Thiên Chúa và linh hồn mình” (Trích “Mỗi ngày
một tin vui”).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">4) LÒNG THAM SẼ DẪN ĐƯA
NGƯỜI TA LẠC XA CHÚA :</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Có một anh thợ đào vàng mới
chết và đến cổng Thiên Đàng xin thánh Phê-rô mở cửa cho vào. Thánh nhân
hỏi : “Ở trần gian anh làm nghề gì ?” Anh thưa : “Con làm thợ đào vàng”.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Thánh Phê-rô liền nói :
“Trên thiên đàng hiện đã có quá nhiều thợ đào vàng rồi”. Nhưng anh ta
vẫn nài nỉ : “Xin ngài cứ cho con vô, để con sẽ cầm đầu bọn nó, không để
chúng do lòng tham mà tranh giành nhau làm mất an toàn trật tự trên
thiên đàng”.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Sau đó anh chàng đã được
thánh Phê-rô cho vào thiên đàng. Trước tiên anh ta đi tham quan một vòng
quanh thiên đàng và đã gặp nhiều bạn bè đào vàng trước kia. Bấy giờ anh
liền rỉ tai một người bạn và nói như sau : “Tớ nghe đồn là dưới hoả ngục
có một mỏ vàng cực lớn. Chú mày hãy mau đi rủ bạn bè xuống dưới đó mà
đào”. Thế là chỉ sau một thời gian ngắn, các tay thợ đào vàng liền bỏ
thiên đàng, mang theo cuốc xẻng nhảy xuống hoả ngục đi tìm vàng.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Còn lại một mình, anh thợ
đào vàng đứng ngồi không yên. Anh liền xin thánh Phê-rô cho xuống hoả
ngục để xem tình hình ra sao. Biết đâu ở đó thực sự có mỏ vàng thì sao ?
Vì anh thấy bọn bạn cũ của anh đã vào hoả ngục lâu rồi mà vẫn chưa quay
lại” Thánh Phê-rô liền khuyên anh : “Con đừng có ảo tưởng ! Dưới hỏa
ngục làm sao có mỏ vàng được, trái lại, chỉ có đau khổ nước mắt và thói
xấu ganh ghét mà thôi. Nhưng anh chàng kia không nghe lời khuyên, cứ
quyết định leo rào ra ngoài để tìm đường đi xuống hỏa ngục.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Than ôi ! Thế là chính vì
lòng tham không đáy mà cả bọn thợ đào vàng đều bị mất hạnh phúc thiên
đàng. Ngày nay trên trần gian, do lòng tham không đáy, mà nhiều người
cũng hứa sẽ sẵn sàng hy sinh hạnh phúc riêng mình để chạy theo lòng tham
vàng bạc vật chất, nhắm mắt phạm các tội ác nghiêm trọng như : cướp của,
giết người… để rồi phải vào tù chịu hình phạt đau khổ đời này và còn
chịu bất hạnh hỏa ngục đời sau.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">3. SUY NIỆM :</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">1) ĐỨC GIÊ-SU LÀ “NƯỚC
HẰNG SỐNG” CỦA NHÂN LOẠI :</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Tin Mừng CN hôm nay tường
thuật cuộc đối thoại tại bờ giếng Gia-cóp, giữa Đức Giê-su với
người phụ nữ Sa-ma-ri đại diện cho dân ngoại. Qua đó, Người đã từng
bước mặc khải cho chị ta về ơn cứu độ. Đức Giê-su đã chủ động xin
chị ta nước uống vật chất, để sau đó hứa ban cho chị “Nước Hằng
Sống”. Tiến trình đức tin nơi chị phụ nữ Sa-ma-ri trong Tin Mừng như
sau :</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- Đầu tiên Đức Giê-su đi
bước trước mở lời : “Cho tôi chút nước uống” (c. 7). Xin nước không
phải cần nước uống, nhưng nhằm bắc một nhịp cầu vượt qua hố ngăn
cách giữa hai dân tộc Do thái và Sa-ma-ri. Tuy cùng là con cháu của
tổ phụ Gia-cóp, nhưng do hoàn cảnh lịch sử đã phân thành hai dân tộc
nghi kỵ nhau và không giao tiếp với nhau, như lời chị phụ nữ Sa-ma-ri
nói với Đức Giê-su : “Ông là người Do thái mà lại xin tôi, một
phụ nữ Sa-ma-ri cho ông nước uống hay sao ?” (c. 9). Sau đó, từ nước
giếng vật chất, Đức Giê-su đã từng bước mặc khải cho chị ta về “Nước
Hằng Sống” (c. 10).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- Chính do hiểu lầm hiềm
khích mà hai dân tộc Do thái và Sa-ma-ri đã chia rẽ nhau về đức tin :
Người Do thái chỉ thờ Đức Chúa tại Đền Thánh Giê-ru-sa-lem, đang
khi người Sa-ma-ri lại muốn phải thờ Đức Chúa tại núi Ga-ri-dim !
Còn theo Đức Giê-su : Người ta không được giới hạn Thiên Chúa tại đền
thờ vật chất tại Giê-ru-sa-lem hay trên núi Ga-ri-dim. Thiên Chúa là
Đấng vô hình như “Gió” và “Thần Khí”, sự thờ phượng đúng đắn nhất
là thờ Thiên Chúa trong “Thần Khí” và “Sự Thật” (c. 20-24).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">2) PHẢI THỜ CHÚA TRONG
THẦN KHÍ VÀ SỰ THẬT :</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Đức Giê-su dạy phải thờ
phượng Thiên Chúa như sau : “Nhưng giờ đã đến, và chính lúc này đây,
giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần
khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế”
(Ga 4, 23).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><i><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- Phải thờ Thiên Chúa
trong Thần Khí :</span></i></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Ðức Giê-su nói : “Thiên
Chúa là Thần Khí, và những kẻ thờ phượng Ngài phải thờ phượng trong Thần
Khí và Sự Thật”. Ngày nay nhiều người cũng đồng quan điểm khi chủ trương
: “Đạo tại tâm”. Thánh Phao-lô cũng nói : “Nào anh em chẳng biết rằng
anh em là Ðền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh
em sao” (1 Cr 3,17). Mỗi người tín hữu chúng ta hôm nay cũng cần xin ơn
Chúa Thánh Thần giúp ta thực thi đức tin bằng đức cậy là cầu nguyện dâng
lễ; và bằng đức mến là phục vụ tha nhân. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><i><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- Phải thờ Thiên Chúa
trong Sự Thật :</span></i></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Sự thật là chính Đức Giê-su
như Người đã tuyên bố : “Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống”
(Ga 14,6). Ma quỷ là cha của sự dối trá và các môn đệ của Đức Giê-su
phải tránh dối trá như các đầu mục dân Do thái đã bị Đức Giê-su quở
trách : “Cha các ông là ma quỷ, và các ông muốn làm những gì cha các ông
ham thích. Ngay từ đầu, nó đã là tên sát nhân. Nó đã không đứng về phía
sự thật, vì sự thật không ở trong nó. Khi nó nói dối là nó nói theo bản
tính của nó, bởi vì nó là kẻ nói dối, và là cha sự gian dối” (Ga 8,44).
Còn Thiên Chúa của chúng ta thờ là Thiên Chúa của sự thật, vì thế, những
kẻ gian dối, sẽ không thể gặp được Ngài là Sự Thật. Do đó mỗi người
chúng ta cần có một lương tâm ngay thẳng: “Có thì nói có, không thì nói
không” (Mt 5,36), không quanh co, lươn lẹo, gian dối, nói một đàng làm
một nẻo… thì mới có thể gặp gỡ Ngài.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">3) SỨ MẠNG TRỞ THÀNH
MẠCH “NƯỚC HẰNG SỐNG” CHO THA NHÂN :</span></b></p>
<p style="text-align: justify; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0cm; margin-bottom: 6.0pt; background: white">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Trong Tin Mừng hôm nay Đức
Giê-su nói về sứ vụ của người tín hữu như sau : “Ai uống nước này,
sẽ lại khát.<b> </b>Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát
nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước
vọt lên, đem lại sự sống đời đời” ? (Ga 4,13-14). Cũng như ông
Phi-lip-phê sau khi đã gặp và tin Đức Giê-su, liền đi tìm bạn mình là
Na-tha-na-en để chia sẻ niềm tin (x. Ga 1,45); Ma-ri-a Ma-đa-lê-na sau
khi gặp Chúa Phục Sinh cũng vội đi tìm các môn đệ để loan báo Tin vui
gặp Chúa Phục Sinh (x. Ga 20,18); Người phụ nữ Sa-ma-ri-a trong Tin Mừng
hôm nay sau khi gặp gỡ và tin Đức Giê-su, cũng đã chạy vội về làng loan
báo cho mọi người : “Đến mà xem : có một người đã nói với tôi tất cả
những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao ?” (Ga 4,29).
Mọi người nghe lời chị nói đã kéo nhau đến gặp Đức Giê-su và mời Người
vào ở trọ trong làng của họ. Sau khi nghe giảng và tin Người là Đấng
Thiên Sai, họ đã khẳng định niềm tin qua câu nói : “Không còn phải vì
lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết
Người thật là Đấng cứu độ trần gian” (Ga 4,42).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt; background: white">
<b>
<span style="font-size: 11.0pt; font-family: Verdana,sans-serif; background: white">
4) LÀM GÌ ĐỂ SỐNG VÀ TRUYỀN BÁ ĐỨC TIN HÔM NAY ? :</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-size: 11.0pt; font-family: Verdana,sans-serif">- <b><i>Trong
những ngày Mùa Chay này,</i></b> <b><i>chúng ta cần dành</i></b> <b><i>nhiều
thời gian để đến gặp gỡ Chúa Giê-su </i></b>trong thánh lễ, qua
các buổi tĩnh tâm Mùa Chay, các giờ kinh tối gia đình… Nhờ đó
chúng ta sẽ có một nguồn suối làm thỏa mãn cơn khát nội tâm, và
làm cho lòng chúng ta trở thành một mạch nước mới dẫn đến ơn
cứu độ. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><i><span style="font-size: 11.0pt; font-family: Verdana,sans-serif">-
Cần hãm mình ăn chay để có điều kiện làm nhiều việc bác ái yêu thương
như phương thế truyền giáo hữu hiệu trong hoàn cảnh xã hội hôm nay :</span></i></b><span style="font-size: 11.0pt; font-family: Verdana,sans-serif"> <span style="background: white">Đức
Thánh Cha Phao-lô VI đã khẳng định : “Trong thế giới hôm nay người ta
cần những chứng nhân hơn là thầy dạy và nếu họ có nghe thầy dạy thì thầy
dạy đó cũng là chứng nhân”. </span>Câu chuyện sau đây chứng minh điều
này: </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-size: 11.0pt; font-family: Verdana,sans-serif">“Có
một người đàn ông nọ mới theo đạo. Một hôm có người muốn thử
đức tin của ông liền hỏi : “Anh theo đạo nhưng có biết Đức
Giê-su là ai không ?” Người tân tòng trả lời : “Dĩ nhiên là biết
chứ”. Người kia hỏi tiếp : “Thế Đức Giê-su sinh ra tại đâu ?”
Người tân tòng im lặng không trả lời được. Người kia hỏi tiếp :
“Thế Đức Giê-su chết khi được bao nhiêu tuổi ?” Một lần nữa,
người tân tòng lại không biết. Người kia liền nói : “Anh chẳng
biết gì về đạo. Vậy tại sao anh lại theo đạo ?” Bấy giờ người
tân tòng mới nói : “Thú thật với anh : tôi biết rất ít về
giáo lý. Nhưng điều tôi biết rất rõ là : Cách đây hai năm, do
nợ ngân hàng mất khả năng chi trả, nên gia đình tôi lâm vào hoàn cảnh
khốn cùng bị đuổi ra khỏi nhà để sống lang thang nay đây mai đó.
Trong thời gian ấy, tôi buồn chán đi uống rượu và trở thành một kẻ
luôn say xỉn và khi về đến nhà là lại la mắng vợ con. Vợ tôi lúc nào
cũng buồn rầu khóc lóc. Các con tôi thì luôn sợ phải nhìn thấy
mặt ba của chúng. Nhưng sau đó. tôi rất may đã gặp được một linh
mục tốt bụng. Ông đã tận tình giúp đỡ gia đình tôi vượt qua
cơn khó khăn: Ông giúp tôi có được một công việc thu nhập ổn
định, và giúp gia đình tôi trở thành con Thiên Chúa. Ông còn
giúp bản thân tôi trở thành một con người sống tiết độ và có trách
nhiệm hơn đối với gia đình của mình. Hiện nay tôi đã đòi lại được
căn nhà cũ trước kia. Vợ chồng tôi sống với nhau rất hòa hợp
hạnh phúc. Các con tôi đều khỏe mạnh, học hành tiến bộ và
luôn ngoan ngoãn hiếu thảo. Tôi xác tín rằng : <b><i>“Chính Đức
Giê-su đã biến đổi gia đình tôi từ khi tôi gặp được Người qua
trung gian một vị linh mục </i>!”</b> Quả thật đúng như lời Đức
Giê-su đã phán trong Tin Mừng hôm nay : “Ai uống nước tôi cho sẽ
trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên đem lại sự sống
đời đời” (Ga 4,14b).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">4. THẢO LUẬN : Bạn sẽ
làm gì để đức tin vào Đức Giê-su trở thành nguồn Nước Hằng Sống cho
bạn bè và người thân ?</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">5. NGUYỆN CẦU :</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin hãy
biến đổi chúng con trong Mùa Chay này. Xin cho chúng con gặp được
Chúa trong thánh lễ, những buổi tĩnh tâm và qua những người
nghèo khó … Xin cho chúng con được uống Nước Hằng Sống là Lời
Chúa. Nhờ đó, cuộc đời của chúng con sẽ vui tươi hạnh phúc hơn.
Xin cho chúng con quảng đại tha thứ, quên mình phục vụ và luôn
đi bước trước đến với tha nhân, như Chúa đã đi bước trước bắt
chuyện với người phụ nữ Sa-ma-ri trong Tin Mừng hôm nay.- AMEN,</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt"> </td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center">
<img border="0" src="../../../../tin-mung-new-logo-01.jpg" width="80" height="45"> <img border="0" src="../../../../tin-mung-new-logo-02.jpg" width="80" height="45"> </td></tr></table><p style="text-align: center"> </p>