File "44.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2026/Mua-Chay & Phuc-Sinh/CN III MC A/44.htm
File size: 98.85 KiB (101220 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật III Mùa Chay - Năm A</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật III Mùa Chay - Năm A; Bên bờ giếng Giacob; Nhịp cầu thiêng liêng; Cho xin chút nước; Nước hằng sống; trong tinh thần chân lý; Đổi thay; Gặp gỡ; Nguồn nước;"><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
	{color:blue;
	text-decoration:underline;
	text-underline:single;
	text-decoration:none underline;
	text-line-through:none;
	vertical-align:baseline}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật III Mùa Chay - Năm A"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">Chúa Nhật 
	III Mùa Chay - Năm A</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">TRỞ NÊN MẠCH NƯỚC BAN ƠN 
		CỨU ĐỘ ĐỜI ĐỜI </span></b></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
		<span style="font-size: 8pt; font-family: Tahoma,sans-serif; font-style: italic">
		LM ĐAN VINH -&nbsp;&nbsp;HHTM</span></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">I. HỌC LỜI CHÚA</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">1. TIN MỪNG : Ga 4,5-42</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">(5) Vậy Người đến 
		một thành xứ Sa-ma-ri, tên là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cóp 
		đã cho con là ông Giu-se. (6) Ở đấy, có giếng của ông Gia-cóp. 
		Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó 
		vào khoảng mười hai giờ trưa. (7) Có một người phụ nữ Sa-ma-ri 
		đến lấy nước. Đức Giê-su nói với người ấy : “Chị cho tôi xin 
		chút nước uống !”. (8) Quả thế, các môn đệ của Người đã vào 
		thành mua thức ăn. (9) Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói : “Ông là 
		người Do thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước 
		uống sao ?” Quả thế, người Do thái không được giao thiệp với 
		người Sa-ma-ri. (10) Đức Giê-su trả lời : “Nếu chị nhận ra ân 
		huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị : Cho tôi chút 
		nước uống, thì hẳn chị đã xin, và người ấy ban cho chị Nước 
		Hằng Sống”. (11) Chị ấy nói : “Thưa ông, ông không có gầu, mà 
		giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra Nước Hằng Sống ? (12) Chẳng 
		lẽ ông lớn hơn tổ phụ Gia-cóp chúng tôi, là người đã cho chúng 
		tôi giếng này ? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con 
		cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy”. (13) Đức Giê-su trả 
		lời : “Ai uống nước này, sẽ lại khát. (14) Còn ai uống nước 
		tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở 
		thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời 
		đời”. (15) Người phụ nữ nói với Đức Giê-su : “Thưa ông, xin ông 
		cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy 
		nước”. (16) Người bảo chị ấy : “Chị hãy gọi chồng chị, rồi 
		trở lại đây”. (17) Người phụ nữ đáp : “Tôi không có chồng”. Đức 
		Giê-su bảo : “Chị nói : Tôi không có chồng là phải, (18) vì chị 
		đã năm đời chồng rồi, và hiện người đang sống với chị không 
		phải là chồng chị. Chị đã nói đúng”. (19) Người phụ nữ nói 
		với Người : “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một Ngôn sứ… (20) Cha 
		ông chúng tôi đã phờ phượng Thiên Chúa trên núi này. Còn các 
		ông lại bảo: Giê-ru-sa-lem mới chính là nơi phải thờ phượng 
		Thiên Chúa”. (21) Đức Giê-su phán : “Này chị, hãy tin tôi : đã 
		đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi 
		này hay tại Giê-ru-sa-lem. (22) Các người thờ Đấng các người 
		không biết; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu 
		độ phát xuất từ dân Do thái. (23) Nhưng giờ đã đến và chính 
		là lúc này đây, giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ 
		phượng Chúa Cha trong Thần Khí và Sự Thật, vì Chúa Cha tìm 
		kiếm những ai thờ phượng Người như thế. (24) Thiên Chúa là Thần 
		Khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong Thần 
		Khí và Sự Thật”. (25) Người phụ nữ thưa : “Tôi biết Đấng 
		Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô sẽ đến. Khi Người đến, người sẽ loan 
		báo cho chúng tôi mọi sự”. (26) Đức Giê-su nói : “Đấng ấy chính 
		là tôi, người đang nói với chị đây”. (27) Vừa lúc đó, các môn 
		đệ trở về. Các ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với 
		một phụ nữ. Tuy thế, không ai dám hỏi : “Thầy cần gì vậy ?” 
		Hoặc “Thầy nói gì với chị ấy ?”.(28) Người phụ nữ để vò 
		nước lại, vào thành và nói với người ta : (29) “Đến mà xem : 
		có một người đã nói với tôi về tất cả những gì tôi đã làm. 
		Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao ?” (30) Họ ra khỏi thành và 
		đến gặp Người. (31) Trong khi đó, các môn đệ thưa với Người 
		rằng : “Ráp-bi, xin mời Thầy dùng bữa”. (32) Người nói với các 
		ông : “Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết”. 
		(33) Các môn đệ hỏi nhau : “Đã có ai mang thức ăn cho Thầy rồi 
		chăng ?”. (34) Đức Giê-su nói với các ông : “Lương thực của Thầy 
		là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công 
		trình của Người”. (35) Nào anh em chẳng nói : Còn bốn tháng 
		nữa mới đến mùa gặt ? Nhưng này, Thầy bảo anh em : Ngước mắt 
		lên mà xem : đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái 
		!”.(36) Ai gặt thì lãnh tiền công và thu hoa lợi để được sống 
		muôn đời. Và như thế, cả người gieo lẫn kẻ gặt đều hớn hở vui 
		mừng. (37) Thật vậy, câu tục ngữ “Kẻ này gieo, người kia gặt” 
		quả là đúng ! (38) Thầy sai anh em đi gặt những gì chính anh em 
		đã không vất vả làm ra. Người khác đã làm lụng vất vả. Còn 
		anh em, anh em được vào hưởng kết quả công lao của họ”. (39) Có 
		nhiều người Sa-ma-ri trong thành đó đã tin vào Đức Giê-su, vì 
		lời người phụ nữ làm chứng : &quot;Ông ấy nói với tôi mọi việc tôi 
		đã làm&quot;. (40) Vậy, khi đến gặp Người, dân Sa-ma-ri xin người ở 
		lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày. (41) Số người tin 
		vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa. (42) Họ bảo người phụ 
		nữ : “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả 
		thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng : Người thật là 
		Đấng Cứu Độ trần gian”.</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">2. Ý CHÍNH :</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Bài Tin Mừng hôm nay 
		thuật lại cuộc đối thoại của Đức Giê-su với một phụ nữ 
		Sa-ma-ri. Người đã từng bước đưa chị ta đón nhận mặc khải quan 
		trọng : Người chính là Đấng Thiên Sai, ban Nước Hằng Sống cho 
		những ai tin vào Người và họ cũng sẽ biến thành mạch nước giúp người 
		khác đón nhận sự sống đời đời.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">3. CHÚ THÍCH :</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- C 5-9 :<i>&nbsp;+ Đến một 
		thành xứ Sa-ma-ri :</i></span></b><i><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">&nbsp;</span></i><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Từ 
		Giê-ru-sa-lem về Ga-li-lê ngang qua xứ Sa-ma-ri, Đức Giê-su đã tới 
		giếng Gia-cóp gần thành Sy-kha (hay Si-khem) tại đất Ca-na-an (x. 
		St 33,18; 48,22). Đây là đất mà tổ phụ Gia-cóp đã cho Giu-se và 
		con cháu làm gia nghiệp (x. Gs 24,32).&nbsp;<b><i>+ Khoảng giờ thứ sáu 
		:</i></b>&nbsp;Tức khoảng mười hai giờ trưa. Người Do thái tính thời 
		gian như sau : ban ngày có 12 giờ và ban đêm có 4 canh giờ. Ngày 
		bắt đầu từ giờ Thứ Nhất (6g sáng) lúc mặt trời mọc, và kết 
		thúc vào giờ Thứ Mười Hai (18g00) lúc mặt trời lặn.&nbsp;<b><i>+ 
		“Chị cho tôi xin chút nước uống !”:</i></b>&nbsp;Đức Giê-su chủ động 
		xin nước uống để có cơ hội bắt chuyện, giúp người phụ nữ dần 
		dần nhận ra Người là Đấng ban Nước Hằng Sống, đem lại ơn cứu 
		độ cho loài người.&nbsp;<b>+ “Ông là người Do thái, mà lại xin tôi, 
		một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao ?”:</b>&nbsp;Từ sau khi đi 
		lưu đày trở về, dân Do thái xây dựng lại Đền Thờ mà không cho 
		người Sa-ma-ri cộng tác, nên họ đã xúi vua Ba-tư cản trở công 
		cuộc tái thiết này (x. Er 4,1-16). Từ đó hai dòng giống Do thái 
		và Sa-ma-ri tuy cùng một tổ tiên, sống sát bên nhau, nhưng lại 
		có ác cảm và không giao tiếp với nhau. Ở đây, người phụ nữ 
		này nhận ra Đức Giê-su là người Do thái qua giọng nói và cách 
		ăn mặc nên đã tỏ ra ngạc nhiên và từ chối như vậy.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- C 10-15 :<i>&nbsp;+ “Nếu 
		chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị 
		:</i></span></b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">&nbsp;Cho tôi 
		chút nước uống, thì hẳn chị đã xin, và người ấy ban cho chị 
		Nước Hằng Sống”…: Nhân dịp này, Đức Giê-su cho người phụ nữ kia 
		biết Người là Đấng ban Nước Hằng Sống.&nbsp;<b><i>+ “Thưa ông, ông 
		không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra Nước Hằng 
		Sống ?...:&nbsp;</i></b>Người phụ nữ này chỉ hiểu lời nói của Đức 
		Giê-su theo nghĩa thông thường là nước giếng tự nhiên, đang khi 
		Đức Giê-su lại có ý nói đến Nước Hằng Sống là Ơn Cứu Độ.&nbsp;<b><i>+ 
		“Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ 
		không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người 
		ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời” :</i></b>&nbsp;Đức 
		Giê-su so sánh nước giếng tự nhiên chỉ làm đã khát nhất thời, 
		với Nước Hằng Sống mang lại sự sống đời đời mà Người sẽ ban, 
		để khơi dậy sự khao khát nơi người này.&nbsp;<b><i>+ “Thưa ông, xin ông 
		cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy 
		nước” :&nbsp;</i></b>Đức Giê-su dẫn dắt người phụ nữ từ thái độ 
		thù nghịch đến chỗ thân thiện. Từ vai một người xin nước đến 
		chỗ là Đấng ban Nước Hằng Sống và chị ta đã xin Người ban thứ 
		Nước ấy.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- C 16-22 :<i>&nbsp;+ “Chị 
		hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây” :</i></span></b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">&nbsp;Đức 
		Giê-su tỏ ra là người lịch sự khi muốn nói chuyện với người 
		phụ nữ trước mặt chồng chị ta, đồng thời Người cũng muốn chị 
		ta ý thức về thân phận tội nhân của mình.&nbsp;<b><i>+ “Chị nói : 
		&nbsp;Tôi không có chồng là phải, vì chị đã năm đời chồng rồi, và 
		hiện người đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã 
		nói đúng” :</i></b>&nbsp;Đức Giê-su cho người phụ nữ ý thức tình 
		trạng hôn nhân bất hợp pháp của mình. Một số nhà chú giải 
		còn nhìn thấy 5 đời chồng là hình ảnh tượng trưng dân Sa-ma-ri 
		vừa kính sợ Đức Chúa, lại vừa phụng thờ 5 vị thần khác (x. 
		2V 17,29-34.41).&nbsp;<b><i>+ Thưa ông, tôi thấy ông thật là một Ngôn Sứ 
		:&nbsp;</i></b>Người phụ nữ sửng sốt khi thấy Đức Giê-su thấu suốt 
		đời tư của mình, và tôn xưng Người là một Ngôn sứ. Đồng thời, 
		chị ta xin Đức Giê-su chỉ dẫn phải tôn thờ Thiên Chúa trên núi 
		Ga-ra-dim như người Sa-ma-ri, hay thờ Chúa tại Đền Thánh 
		Giê-ru-sa-lem như người Do Thái ?&nbsp;<b><i>+ Đã đến giờ :</i></b>&nbsp;Đức 
		Giê-su dạy chị phụ nữ với tư cách vị Ngôn sứ : Đã đến giờ 
		Người xuất hiện để thực hiện chương trình cứu độ. Người cho 
		biết : việc thờ phượng tại núi này hay tại Giê-ru-sa-lem chỉ 
		là hình bóng và đã qua rồi. Bây giờ là thời Thiên Sai, phải 
		chấm dứt việc thờ phượng cũ để bắt đầu cách thờ phượng mới 
		nơi bản thân Người.&nbsp;<b><i>+ Thờ Đấng mà các người không biết :</i></b>&nbsp;Người 
		Sa-ma-ri chỉ công nhận bộ sách Ngũ Kinh và không biết đến các 
		sách khác, nhất là các Ngôn Sứ mặc khải về Thiên Chúa.&nbsp;<b><i>+ 
		Còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết :</i></b>&nbsp;Người Do thái 
		tuân giữ toàn bộ các sách Thánh Kinh. Sau này, Tông đồ Phao-lô 
		cũng nhấn mạnh về đặc ân đó của người Do thái (x. Rm 9,4).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- C 23-29 :<i>&nbsp;+ Thờ 
		phượng Chúa Cha trong Thần Khí :</i></span></b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">&nbsp;là 
		tôn thờ Thiên Chúa dưới sự soi sáng và sức mạnh của Chúa 
		Thánh Thần.&nbsp;<b><i>+ Trong Sự Thật :</i></b>&nbsp;Thờ Thiên Chúa trong 
		Đức Giê-su, Đấng là “đường, sự thật và sự sống” (Ga 14,6). Tóm 
		lại, từ nay Đức Giê-su trở nên Đền Thờ mới sẽ thay Đền Thờ cũ 
		trên núi Ga-ra-dim hay tại Giê-ru-sa-lem.&nbsp;<b><i>+ Thiên Chúa là 
		Thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong 
		Thần Khí và Sự Thật” :</i></b>&nbsp;Đức Giê-su đã nêu ra một điều 
		được cả người Do thái và người Sa-ma-ri chấp nhận là lời quả 
		quyết: “Thiên Chúa là Thần Khí, và người ta phải thờ Người ở 
		khắp mọi nơi, thờ chính Thiên Chúa chứ không phải thờ hình 
		bóng của Người. Thiên Chúa là Đấng vô hình, nên Người đòi 
		người ta phải thờ phượng Người trong tâm hồn. Một số người dựa 
		vào câu này để từ chối thờ Chúa bằng những hình thức lễ nghi 
		bên ngoài. Thực ra Đức Giê-su vẫn thường xuyên lên Đền thờ (x. Ga 
		2,13; 7,14; 11,55) và đến hội đường Do thái (x. Mt 1,21; Mt 13,54) 
		để tham dự các nghi lễ thờ phượng Thiên Chúa. Người chỉ chống 
		lại những nghi lễ vụ hình thức mà thôi (x. Mt 15,7-9; 21,12-13).&nbsp;<b><i>+ 
		Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô sẽ đến :</i></b>&nbsp;Dù chưa hiểu 
		được ý nghĩa về lời giải thích trên đây, người đàn bà này 
		cũng quan tâm đến tôn giáo. Bà hy vọng Đấng Ki-tô sẽ đến loan 
		báo mọi sự.&nbsp;<b><i>+ Đấng ấy chính là tôi :</i></b>&nbsp;Bình thường, 
		Đức Giê-su không muốn tỏ ra là Đấng Thiên Sai vì sợ dân Do thái 
		hiểu vai trò Thiên Sai theo nghĩa chính trị. Còn ở đây nói với 
		người phụ nữ Sa-ma-ri, Người không sợ bị hiểu lầm nên đã tỏ 
		mình chính là Đấng Thiên Sai.&nbsp;<b><i>+ Các ông ngạc nhiên vì thấy 
		Người nói chuyện với một phụ nữ :&nbsp;</i></b>Phong tục Do thái 
		không cho phép đàn ông nói chuyện với phụ nữ nơi công cộng. Làm 
		như vậy, Đức Giê-su đã bãi bỏ tục lệ này vì sứ mệnh rao 
		giảng Tin Mừng quan trọng hơn thói tục của người đời. Người 
		đến với tha nhân, bất kể họ là ai hay thuộc phái tính, dân tộc 
		nào, để đem Tin Mừng cứu rỗi cho họ.&nbsp;<b><i>+ Đến mà xem : có 
		một người đã nói với tôi về tất cả những gì tôi đã làm :</i></b>&nbsp;Thực 
		ra Đức Giê-su mới chỉ nói về những người chồng của người phụ 
		nữ này chứ chưa nói về tất cả những gì chị đã làm. Nhưng khi 
		nói với dân chúng, chị ta đã phóng đại lên để cho người ta dễ 
		tin theo mà thôi.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- C 30-38 :&nbsp;<i>+ “Thầy 
		phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết” :</i></span></b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">&nbsp;Đức 
		Giê-su muốn dựa vào của ăn phần xác mà các môn đệ mời Người 
		để nói về của ăn thiêng liêng mà các ông chưa biết.&nbsp;<b><i>+ Lương 
		thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy :</i></b>&nbsp;Đức 
		Giê-su coi việc làm theo thánh ý Chúa Cha chính là lương thực của 
		Người.&nbsp;<b><i>+ Đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái &nbsp;!:</i></b>&nbsp;Đức 
		Giê-su dựa vào câu tục ngữ người nông dân hay nói : “Bốn tháng 
		có qua, mùa gặt có tới”. Qua đó Người nói đến mùa gặt thiêng 
		thiêng là cánh đồng truyền giáo đã chín vàng, vì dân Sa-ma-ri 
		sắp kéo tới để gặp Người. Đây là hoa trái đầu mùa của mùa gặt 
		Thiên Sai.&nbsp;<b><i>+ Đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái 
		! :</i></b>&nbsp;Trong Cựu Ước, mùa gặt tượng trưng sự phán xét của 
		Thiên Chúa, hoặc niềm vui ơn cứu độ (x. Is 9,2; Am 9,13, Tv 126,5). 
		Trong Tân Ước, mùa gặt tượng trưng cho hoa quả của việc truyền 
		giáo (x. Mt 9,37). Đức Giê-su gợi lên niềm vui và phần thưởng 
		của thợ gặt là các tông đồ, khi các ông giúp nhiều người tin 
		để được hưởng hạnh phúc Nước Trời.&nbsp;<b><i>+ Câu tục ngữ “Kẻ này 
		gieo, người kia gặt” quả là đúng &nbsp;!:</i></b>&nbsp;Câu tục ngữ này 
		được hiểu như sau : Người gieo chính là Đức Giê-su và hạt giống 
		là Tin Mừng (x. Lc 8,11); Thợ gặt là các môn đệ. Mặc dù các 
		ông chưa được sai đi, nhưng Đức Giê-su đã thấy trước viễn ảnh 
		tốt đẹp là hoa quả do việc truyền giáo mang lại. Việc Người 
		sắp chịu chết trên thập giá giống như hạt giống, phải chết đi 
		mới sinh ra nhiều hoa trái (x. Ga 12,24). Công việc truyền giáo 
		là một việc tập thể mỗi người một nhiệm vụ: “Người gieo kẻ gặt”. 
		Do đó khi việc tông đồ mang lại nhiều kết quả thì đừng nghĩ 
		rằng đó là thành quả do công sức của riêng mình.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- C 39-42 :<i>&nbsp;+ Ông ấy 
		nói với tôi mọi việc tôi đã làm :</i></span></b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">&nbsp;Lời 
		chứng của người phụ nữ được coi là dấu chỉ, là giai đoạn đầu 
		dẫn dân thành đến niềm tin vào Đức Giê-su.&nbsp;<b><i>+ Dân Sa-ma-ri xin 
		người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày. Số 
		người tin vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa :</i></b>&nbsp;Đức 
		tin sẽ được tiếp tục triển nở nhờ lời giảng dạy của Đức 
		Giê-su.&nbsp;<b><i>+ “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. 
		Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng : Người thật 
		là Đấng Cứu Độ trần gian” :</i></b>&nbsp;&nbsp;Qua lời của dân thành 
		Sa-ma-ri, chúng ta thấy một đức tin trưởng thành thì không được dựa 
		vào người khác như cha mẹ, vợ chồng, người thân hay theo số 
		đông, mà phải do sự lắng nghe và thực hành lời Chúa.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">3. CÂU HỎI :</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">1) Cách tính giờ của 
		người Do thái thế nào ? 2) Đức Giê-su chủ động xin nước uống 
		với người phụ nữ Sa-ma-ri nhằm mục đích gì ? 3) Nước Hằng 
		Sống mà Đức Giê-su hứa ban là thứ nước gì ? 4) Lời Đức Giê-su 
		dạy thờ Thiên Chúa vô hình trong Thần Khí và Sự Thật phải 
		chăng là Người bãi bỏ tất cả các lễ nghi thờ phương bề ngoài ? 
		5) Câu chuyện người phụ nữ Sa-ma-ri hôm nay dạy ta bài học gì 
		về sứ mệnh loan báo Tin Mừng ? 6) Câu nói của dân làng cho thấy 
		hiệu quả của Lời Chúa tác động thế nào nơi những người tin ?</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">II. SỐNG LỜI CHÚA</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">1. LỜI CHÚA : “Ai 
		uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không 
		bao giờ khát nữa” (Ga 4,13-14a).</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">2. CÂU CHUYỆN :</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">1) ĐỨC GIÊ-SU - “NƯỚC 
		HẰNG SỐNG” MANG LẠI HẠNH PHÚC ĐỜI ĐỜI :</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Cách đây ít lâu, một số 
		chị em người Bỉ khi suy niệm đoạn Tin mừng này, đã cùng nhau 
		lập một tu hội tên là “Ô Vi” (Eau Vive) dịch là “Nước Hằng 
		Sống”. Ngoài việc cầu nguyện trước Chúa Thánh Thần mỗi ngày, 
		chị em còn mở quán ăn phục vụ khách. Trong quán, các chiêu đãi 
		viên chính là các nữ tu. Châm ngôn của tu hội là “Phục vụ Chúa 
		trong các thực khách”. Mỗi buổi tối vào giờ đóng cửa, chị em 
		biến quán ăn trở thành nhà nguyện. Các thực khách được mời ở 
		lại tham dự giờ chia sẻ Lời Chúa. Mọi người sẽ được nghe Lời 
		Mặc Khải là Nước Hằng Sống như Đức Giê-su đã hứa ban cho người 
		phụ nữ Sa-ma-ri xưa.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">2) SỨC MẠNH LÔI CUỐN CỦA 
		LÒNG BÁC ÁI ĐÍCH THỰC :</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Có một người đàn ông 
		nọ mới xin theo đạo. Một hôm có người muốn thử đức tin của ông 
		ta liền lên tiếng hỏi : “Ông theo đạo Công giáo, nhưng ông có biết 
		Đức Giê-su là ai không?” Người tân tòng trả lời : “Dĩ nhiên là 
		tôi biết chứ”. Người kia hỏi tiếp : “Thế Đức Giê-su sinh ra tại 
		đâu ?” Người tân tòng im lặng không trả lời được. Người kia hỏi 
		tiếp : “Đức Giê-su chết năm bao nhiêu tuổi ?” Một lần nữa, người 
		tân tòng lại không thể trả lời. Người kia liền kết luận : “Ông 
		chẳng hiểu biết gì về đạo. Vậy tại sao ông lại gia nhập đạo ?” 
		Bấy giờ người tân tòng mới nói : “Thú thật với ông : tôi biết 
		rất ít về giáo lý. Nhưng điều tôi biết rất rõ là : Cách đây 
		hai năm, do nợ ngân hàng không thanh toán được đúng hạn, nên gia 
		đình tôi bị đuổi ra khỏi nhà mình và phải lang thang nay đây mai 
		đó. Trong thời gian ấy, tôi trở nên nghiện rượu và hay la mắng 
		vợ con. Vợ tôi lúc nào cũng buồn sầu khóc lóc. Các con tôi 
		thì luôn sợ nhìn thấy bộ mặt ba của chúng. Nhưng sau đó một năm, 
		tôi may mắn đã gặp được một linh mục tốt bụng. Ông đã tận tình 
		giúp đỡ gia đình tôi vượt qua khó khăn : Ông giúp tôi có việc 
		làm ổn định, và giúp gia đình tôi trở nên con cái Chúa, còn 
		giúp tôi sống tiết độ hơn. Hiện nay tôi đã lấy lại được căn nhà 
		cũ. Vợ chồng tôi sống rất hòa hợp hạnh phúc. Các con tôi đều 
		khỏe mạnh, học hành tiến bộ và ngoan ngoãn hiếu thảo. Tôi xác 
		tín rằng : Chính Đức Giê-su đã biến đổi gia đình tôi từ khi tôi 
		gặp được Người qua con người của một vị linh mục !”</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Quả thật, đúng như lời 
		Đức Giê-su đã phán trong Tin Mừng hôm nay : “Ai uống nước tôi cho 
		sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên đem lại sự 
		sống đời đời” (Ga 4,14).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">3) LÒNG MẾN CHÚA PHẢI 
		THỂ HIỆN QUA ĐỨC YÊU NGƯỜI :</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Vào một đêm trăng sáng, khi 
		nhìn qua cửa sổ, vị tu sĩ già nhìn thấy một thiên thần đang ngồi trên 
		một tảng đá trong khu vườn phía sau tu viện. Thiên thần cầm bút viết vào 
		quyển sổ vàng để trước mặt. Lòng tràn ngập niềm vui, vị tu sĩ tiến lại 
		gần thiên thần và lên tiếng hỏi : “Ngài đang viết gì vào sổ vàng thế ?” 
		Thiên thần trả lời : “Ta đang ghi tên những tín hữu đủ điều kiện để được 
		lên thiên đàng”. Vừa hồi hộp và lo lắng, vị tu sĩ liền hỏi thiên thần 
		xem trong sổ vàng có tên của mình không ? Thiên thần liền lần giở từng 
		trang sách ra dò, nhưng tìm mãi mà vẫn không thấy tên của vị tu sĩ. 
		Thiên thần cho biết sở dĩ ông chưa được ghi tên vào sổ vàng, vì ông còn 
		thiếu lòng mến Chúa. Bấy giờ vị tu sĩ lên tiếng hỏi thiên thần : “Tuy 
		tôi chưa mến Chúa đủ, nhưng nếu tôi có tình thương tha nhân thì tôi có 
		được ghi tên trong sổ vàng không?”. Nghe vậy, thiên thần liền gật đầu 
		đồng ý. Thế là từ hôm đó, vị tu sĩ nhiệt tình thực hành bác ái bằng việc 
		hăng say phục vụ những người bệnh tật, đui mù và nghèo khổ bất hạnh.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Sau khi vị tu sĩ qua đời, 
		anh em trong dòng đã tìm thấy cuốn nhật ký của vị tu sĩ. Trong đó, ông 
		đã viết ở trang đầu tiên như sau : ”Nếu ai nói mình yêu mến Chúa mà lại 
		ghét anh em mình thì đó là kẻ nói dối, vì kẻ không yêu mến người anh em 
		nó thấy đó, tất không thể yêu mến Thiên Chúa mà nó không thấy” (1 Ga 
		4,20). Tiếp theo là lời tâm tình của vị tu sĩ : ”Lúc đầu tôi đi tìm 
		Thiên Chúa, nhưng tôi chẳng thể gặp được vì Ngài là Đấng thiêng liêng; 
		tiếp đến, tôi đi tìm linh hồn tôi, nhưng tôi không tìm được, vì linh hồn 
		có đặc tính vô hình; Rồi sau cùng, khi tôi quyết tâm tìm kiếm tha nhân 
		và yêu thương họ, bằng việc chia sẻ và âm thầm phục vụ họ như phục vụ 
		Chúa, thì tôi đã gặp cả Thiên Chúa và linh hồn mình” (Trích “Mỗi ngày 
		một tin vui”).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">4) LÒNG THAM SẼ DẪN ĐƯA 
		NGƯỜI TA LẠC XA CHÚA :</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Có một anh thợ đào vàng mới 
		chết và đến cổng Thiên Đàng xin thánh Phê-rô mở cửa cho vào. Thánh nhân 
		hỏi : “Ở trần gian anh làm nghề gì ?” Anh thưa : “Con làm thợ đào vàng”.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Thánh Phê-rô liền nói : 
		“Trên thiên đàng hiện đã có quá nhiều thợ đào vàng rồi”. Nhưng anh ta 
		vẫn nài nỉ : “Xin ngài cứ cho con vô, để con sẽ cầm đầu bọn nó, không để 
		chúng do lòng tham mà tranh giành nhau làm mất an toàn trật tự trên 
		thiên đàng”.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Sau đó anh chàng đã được 
		thánh Phê-rô cho vào thiên đàng. Trước tiên anh ta đi tham quan một vòng 
		quanh thiên đàng và đã gặp nhiều bạn bè đào vàng trước kia. Bấy giờ anh 
		liền rỉ tai một người bạn và nói như sau : “Tớ nghe đồn là dưới hoả ngục 
		có một mỏ vàng cực lớn. Chú mày hãy mau đi rủ bạn bè xuống dưới đó mà 
		đào”. Thế là chỉ sau một thời gian ngắn, các tay thợ đào vàng liền bỏ 
		thiên đàng, mang theo cuốc xẻng nhảy xuống hoả ngục đi tìm vàng.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Còn lại một mình, anh thợ 
		đào vàng đứng ngồi không yên. Anh liền xin thánh Phê-rô cho xuống hoả 
		ngục để xem tình hình ra sao. Biết đâu ở đó thực sự có mỏ vàng thì sao ? 
		Vì anh thấy bọn bạn cũ của anh đã vào hoả ngục lâu rồi mà vẫn chưa quay 
		lại” Thánh Phê-rô liền khuyên anh : “Con đừng có ảo tưởng ! Dưới hỏa 
		ngục làm sao có mỏ vàng được, trái lại, chỉ có đau khổ nước mắt và thói 
		xấu ganh ghét mà thôi. Nhưng anh chàng kia không nghe lời khuyên, cứ 
		quyết định leo rào ra ngoài để tìm đường đi xuống hỏa ngục.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Than ôi ! Thế là chính vì 
		lòng tham không đáy mà cả bọn thợ đào vàng đều bị mất hạnh phúc thiên 
		đàng. Ngày nay trên trần gian, do lòng tham không đáy, mà nhiều người 
		cũng hứa sẽ sẵn sàng hy sinh hạnh phúc riêng mình để chạy theo lòng tham 
		vàng bạc vật chất, nhắm mắt phạm các tội ác nghiêm trọng như : cướp của, 
		giết người… để rồi phải vào tù chịu hình phạt đau khổ đời này và còn 
		chịu bất hạnh hỏa ngục đời sau.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">3. SUY NIỆM :</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">1) ĐỨC GIÊ-SU LÀ “NƯỚC 
		HẰNG SỐNG” CỦA NHÂN LOẠI :</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Tin Mừng CN hôm nay tường 
		thuật cuộc đối thoại tại bờ giếng Gia-cóp, giữa Đức Giê-su với 
		người phụ nữ Sa-ma-ri đại diện cho dân ngoại. Qua đó, Người đã từng 
		bước mặc khải cho chị ta về ơn cứu độ. Đức Giê-su đã chủ động xin 
		chị ta nước uống vật chất, để sau đó hứa ban cho chị “Nước Hằng 
		Sống”. Tiến trình đức tin nơi chị phụ nữ Sa-ma-ri trong Tin Mừng như 
		sau :</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- Đầu tiên Đức Giê-su đi 
		bước trước mở lời : “Cho tôi chút nước uống” (c. 7). Xin nước không 
		phải cần nước uống, nhưng nhằm bắc một nhịp cầu vượt qua hố ngăn 
		cách giữa hai dân tộc Do thái và Sa-ma-ri. Tuy cùng là con cháu của 
		tổ phụ Gia-cóp, nhưng do hoàn cảnh lịch sử đã phân thành hai dân tộc 
		nghi kỵ nhau và không giao tiếp với nhau, như lời chị phụ nữ Sa-ma-ri 
		nói với Đức Giê-su : “Ông là người Do thái mà lại xin tôi, một 
		phụ nữ Sa-ma-ri cho ông nước uống hay sao ?” (c. 9). Sau đó, từ nước 
		giếng vật chất, Đức Giê-su đã từng bước mặc khải cho chị ta về “Nước 
		Hằng Sống” (c. 10).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- Chính do hiểu lầm hiềm 
		khích mà hai dân tộc Do thái và Sa-ma-ri đã chia rẽ nhau về đức tin : 
		Người Do thái chỉ thờ Đức Chúa tại Đền Thánh Giê-ru-sa-lem, đang 
		khi người Sa-ma-ri lại muốn phải thờ Đức Chúa tại núi Ga-ri-dim ! 
		Còn theo Đức Giê-su : Người ta không được giới hạn Thiên Chúa tại đền 
		thờ vật chất tại Giê-ru-sa-lem hay trên núi Ga-ri-dim. Thiên Chúa là 
		Đấng vô hình như “Gió” và “Thần Khí”, sự thờ phượng đúng đắn nhất 
		là thờ Thiên Chúa trong “Thần Khí” và “Sự Thật” (c. 20-24).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">2) PHẢI THỜ CHÚA TRONG 
		THẦN KHÍ VÀ SỰ THẬT :</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Đức Giê-su dạy phải thờ 
		phượng Thiên Chúa như sau : “Nhưng giờ đã đến,&nbsp;&nbsp;và chính lúc này đây, 
		giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần 
		khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế” 
		(Ga 4, 23).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><i><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- Phải thờ Thiên Chúa 
		trong Thần Khí :</span></i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Ðức Giê-su nói :&nbsp;“Thiên 
		Chúa&nbsp;là Thần Khí, và những kẻ thờ phượng Ngài phải thờ phượng trong Thần 
		Khí và Sự Thật”. Ngày nay nhiều người cũng đồng quan điểm khi chủ trương 
		: “Đạo tại tâm”. Thánh Phao-lô cũng nói : “Nào anh em chẳng biết rằng 
		anh em là Ðền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh 
		em sao”&nbsp;(1 Cr 3,17). Mỗi người tín hữu chúng ta hôm nay cũng cần xin ơn 
		Chúa Thánh Thần giúp ta thực thi đức tin bằng đức cậy là cầu nguyện dâng 
		lễ; và bằng đức mến là phục vụ tha nhân.&nbsp;&nbsp;</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><i><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- Phải thờ Thiên Chúa 
		trong Sự Thật :</span></i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Sự thật là chính Đức Giê-su 
		như Người đã tuyên bố : “Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống” 
		(Ga 14,6). Ma quỷ là cha của sự dối trá và các môn đệ của Đức Giê-su 
		phải tránh dối trá như các đầu mục dân Do thái đã bị Đức Giê-su quở 
		trách : “Cha các ông là ma quỷ, và các ông muốn làm những gì cha các ông 
		ham thích. Ngay từ đầu, nó đã là tên sát nhân. Nó đã không đứng về phía 
		sự thật, vì sự thật không ở trong nó. Khi nó nói dối là nó nói theo bản 
		tính của nó, bởi vì nó là kẻ nói dối, và là cha sự gian dối” (Ga 8,44). 
		Còn Thiên Chúa của chúng ta thờ là Thiên Chúa của sự thật, vì thế, những 
		kẻ gian dối, sẽ không thể gặp được Ngài là Sự Thật. Do đó mỗi người 
		chúng ta cần có một lương tâm ngay thẳng: “Có thì nói có, không thì nói 
		không” (Mt 5,36), không quanh co, lươn lẹo, gian dối, nói một đàng làm 
		một nẻo… thì mới có thể gặp gỡ Ngài.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">3) SỨ MẠNG TRỞ THÀNH 
		MẠCH “NƯỚC HẰNG SỐNG” CHO THA NHÂN :</span></b></p>
		<p style="text-align: justify; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0cm; margin-bottom: 6.0pt; background: white">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Trong Tin Mừng hôm nay Đức 
		Giê-su nói về sứ vụ của người tín hữu như sau : “Ai uống nước này, 
		sẽ lại khát.<b>&nbsp;</b>Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát 
		nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước 
		vọt lên, đem lại sự sống đời đời” ? (Ga 4,13-14). Cũng như ông 
		Phi-lip-phê sau khi đã gặp và tin Đức Giê-su, liền đi tìm bạn mình là 
		Na-tha-na-en để chia sẻ niềm tin (x. Ga 1,45); Ma-ri-a Ma-đa-lê-na sau 
		khi gặp Chúa Phục Sinh cũng vội đi tìm các môn đệ để loan báo Tin vui 
		gặp Chúa Phục Sinh (x. Ga 20,18); Người phụ nữ Sa-ma-ri-a trong Tin Mừng 
		hôm nay sau khi gặp gỡ và tin Đức Giê-su, cũng đã chạy vội về làng loan 
		báo cho mọi người : “Đến mà xem : có một người đã nói với tôi tất cả 
		những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao ?” (Ga 4,29). 
		Mọi người nghe lời chị nói đã kéo nhau đến gặp Đức Giê-su và mời Người 
		vào ở trọ trong làng của họ. Sau khi nghe giảng và tin Người là Đấng 
		Thiên Sai, họ đã khẳng định niềm tin qua câu nói : “Không còn phải vì 
		lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết 
		Người thật là Đấng cứu độ trần gian” (Ga 4,42).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt; background: white">
		<b>
		<span style="font-size: 11.0pt; font-family: Verdana,sans-serif; background: white">
		4) LÀM GÌ ĐỂ SỐNG VÀ TRUYỀN BÁ ĐỨC TIN HÔM NAY ? :</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-size: 11.0pt; font-family: Verdana,sans-serif">-&nbsp;<b><i>Trong 
		những ngày Mùa Chay này,</i></b>&nbsp;<b><i>chúng ta cần dành</i></b>&nbsp;<b><i>nhiều 
		thời gian để đến gặp gỡ Chúa Giê-su&nbsp;</i></b>trong thánh lễ, qua 
		các buổi tĩnh tâm Mùa Chay, các giờ kinh tối gia đình… Nhờ đó 
		chúng ta sẽ có một nguồn suối làm thỏa mãn cơn khát nội tâm, và 
		làm cho lòng chúng ta trở thành một mạch nước mới dẫn đến ơn 
		cứu độ. </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><i><span style="font-size: 11.0pt; font-family: Verdana,sans-serif">- 
		Cần hãm mình ăn chay để có điều kiện làm nhiều việc bác ái yêu thương 
		như phương thế truyền giáo hữu hiệu trong hoàn cảnh xã hội hôm nay :</span></i></b><span style="font-size: 11.0pt; font-family: Verdana,sans-serif">&nbsp;<span style="background: white">Đức 
		Thánh Cha Phao-lô VI đã khẳng định : “Trong thế giới hôm nay người ta 
		cần những chứng nhân hơn là thầy dạy và nếu họ có nghe thầy dạy thì thầy 
		dạy đó cũng là chứng nhân”.&nbsp;</span>Câu chuyện sau đây chứng minh điều 
		này: </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-size: 11.0pt; font-family: Verdana,sans-serif">“Có 
		một người đàn ông nọ mới theo đạo. Một hôm có người muốn thử 
		đức tin của ông liền hỏi : “Anh theo đạo nhưng có biết Đức 
		Giê-su là ai không ?” Người tân tòng trả lời : “Dĩ nhiên là biết 
		chứ”. Người kia hỏi tiếp : “Thế Đức Giê-su sinh ra tại đâu ?” 
		Người tân tòng im lặng không trả lời được. Người kia hỏi tiếp : 
		“Thế Đức Giê-su chết khi được bao nhiêu tuổi ?” Một lần nữa, 
		người tân tòng lại không biết. Người kia liền nói : “Anh chẳng 
		biết gì về đạo. Vậy tại sao anh lại theo đạo ?” Bấy giờ người 
		tân tòng mới nói : “Thú thật với anh : tôi biết rất ít về 
		giáo lý. Nhưng điều tôi biết rất rõ là : Cách đây hai năm, do 
		nợ ngân hàng mất khả năng chi trả, nên gia đình tôi lâm vào hoàn cảnh 
		khốn cùng bị đuổi ra khỏi nhà để sống lang thang nay đây mai đó. 
		Trong thời gian ấy, tôi buồn chán đi uống rượu và trở thành một kẻ 
		luôn say xỉn và khi về đến nhà là lại la mắng vợ con. Vợ tôi lúc nào 
		cũng buồn rầu khóc lóc. Các con tôi thì luôn sợ phải nhìn thấy 
		mặt ba của chúng. Nhưng sau đó. tôi rất may đã gặp được một linh 
		mục tốt bụng. Ông đã tận tình giúp đỡ gia đình tôi vượt qua 
		cơn khó khăn: Ông giúp tôi có được một công việc thu nhập ổn 
		định, và giúp gia đình tôi trở thành con Thiên Chúa. Ông còn 
		giúp bản thân tôi trở thành một con người sống tiết độ và có trách 
		nhiệm hơn đối với gia đình của mình. Hiện nay tôi đã đòi lại được 
		căn nhà cũ trước kia. Vợ chồng tôi sống với nhau rất hòa hợp 
		hạnh phúc. Các con tôi đều khỏe mạnh, học hành tiến bộ và 
		luôn ngoan ngoãn hiếu thảo. Tôi xác tín rằng :&nbsp;<b><i>“Chính Đức 
		Giê-su đã biến đổi gia đình tôi từ khi tôi gặp được Người qua 
		trung gian một vị linh mục&nbsp;</i>!”</b>&nbsp;Quả thật đúng như lời Đức 
		Giê-su đã phán trong Tin Mừng hôm nay : “Ai uống nước tôi cho sẽ 
		trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên đem lại sự sống 
		đời đời” (Ga 4,14b).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">4. THẢO LUẬN : Bạn sẽ 
		làm gì để đức tin vào Đức Giê-su trở thành nguồn Nước Hằng Sống cho 
		bạn bè và người thân ?</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">5. NGUYỆN CẦU :</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin hãy 
		biến đổi chúng con trong Mùa Chay này. Xin cho chúng con gặp được 
		Chúa trong thánh lễ, những buổi tĩnh tâm và qua những người 
		nghèo khó … Xin cho chúng con được uống Nước Hằng Sống là Lời 
		Chúa. Nhờ đó, cuộc đời của chúng con sẽ vui tươi hạnh phúc hơn. 
		Xin cho chúng con quảng đại tha thứ, quên mình phục vụ và luôn 
		đi bước trước đến với tha nhân, như Chúa đã đi bước trước bắt 
		chuyện với người phụ nữ Sa-ma-ri trong Tin Mừng hôm nay.- AMEN,</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">HIỆP SỐNG TIN MỪNG
		</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">CN 3 MÙA CHAY A</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Xh 17,3-7 ; Rm 5,1-2.5-8 
		; Ga 4,5-42</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">TRỞ NÊN MẠCH NƯỚC BAN ƠN 
		CỨU ĐỘ ĐỜI ĐỜI </span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">I. HỌC LỜI CHÚA</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">1. TIN MỪNG : Ga 4,5-42</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">(5) Vậy Người đến 
		một thành xứ Sa-ma-ri, tên là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cóp 
		đã cho con là ông Giu-se. (6) Ở đấy, có giếng của ông Gia-cóp. 
		Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó 
		vào khoảng mười hai giờ trưa. (7) Có một người phụ nữ Sa-ma-ri 
		đến lấy nước. Đức Giê-su nói với người ấy : “Chị cho tôi xin 
		chút nước uống !”. (8) Quả thế, các môn đệ của Người đã vào 
		thành mua thức ăn. (9) Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói : “Ông là 
		người Do thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước 
		uống sao ?” Quả thế, người Do thái không được giao thiệp với 
		người Sa-ma-ri. (10) Đức Giê-su trả lời : “Nếu chị nhận ra ân 
		huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị : Cho tôi chút 
		nước uống, thì hẳn chị đã xin, và người ấy ban cho chị Nước 
		Hằng Sống”. (11) Chị ấy nói : “Thưa ông, ông không có gầu, mà 
		giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra Nước Hằng Sống ? (12) Chẳng 
		lẽ ông lớn hơn tổ phụ Gia-cóp chúng tôi, là người đã cho chúng 
		tôi giếng này ? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con 
		cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy”. (13) Đức Giê-su trả 
		lời : “Ai uống nước này, sẽ lại khát. (14) Còn ai uống nước 
		tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở 
		thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời 
		đời”. (15) Người phụ nữ nói với Đức Giê-su : “Thưa ông, xin ông 
		cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy 
		nước”. (16) Người bảo chị ấy : “Chị hãy gọi chồng chị, rồi 
		trở lại đây”. (17) Người phụ nữ đáp : “Tôi không có chồng”. Đức 
		Giê-su bảo : “Chị nói : Tôi không có chồng là phải, (18) vì chị 
		đã năm đời chồng rồi, và hiện người đang sống với chị không 
		phải là chồng chị. Chị đã nói đúng”. (19) Người phụ nữ nói 
		với Người : “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một Ngôn sứ… (20) Cha 
		ông chúng tôi đã phờ phượng Thiên Chúa trên núi này. Còn các 
		ông lại bảo: Giê-ru-sa-lem mới chính là nơi phải thờ phượng 
		Thiên Chúa”. (21) Đức Giê-su phán : “Này chị, hãy tin tôi : đã 
		đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi 
		này hay tại Giê-ru-sa-lem. (22) Các người thờ Đấng các người 
		không biết; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu 
		độ phát xuất từ dân Do thái. (23) Nhưng giờ đã đến và chính 
		là lúc này đây, giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ 
		phượng Chúa Cha trong Thần Khí và Sự Thật, vì Chúa Cha tìm 
		kiếm những ai thờ phượng Người như thế. (24) Thiên Chúa là Thần 
		Khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong Thần 
		Khí và Sự Thật”. (25) Người phụ nữ thưa : “Tôi biết Đấng 
		Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô sẽ đến. Khi Người đến, người sẽ loan 
		báo cho chúng tôi mọi sự”. (26) Đức Giê-su nói : “Đấng ấy chính 
		là tôi, người đang nói với chị đây”. (27) Vừa lúc đó, các môn 
		đệ trở về. Các ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với 
		một phụ nữ. Tuy thế, không ai dám hỏi : “Thầy cần gì vậy ?” 
		Hoặc “Thầy nói gì với chị ấy ?”.(28) Người phụ nữ để vò 
		nước lại, vào thành và nói với người ta : (29) “Đến mà xem : 
		có một người đã nói với tôi về tất cả những gì tôi đã làm. 
		Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao ?” (30) Họ ra khỏi thành và 
		đến gặp Người. (31) Trong khi đó, các môn đệ thưa với Người 
		rằng : “Ráp-bi, xin mời Thầy dùng bữa”. (32) Người nói với các 
		ông : “Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết”. 
		(33) Các môn đệ hỏi nhau : “Đã có ai mang thức ăn cho Thầy rồi 
		chăng ?”. (34) Đức Giê-su nói với các ông : “Lương thực của Thầy 
		là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công 
		trình của Người”. (35) Nào anh em chẳng nói : Còn bốn tháng 
		nữa mới đến mùa gặt ? Nhưng này, Thầy bảo anh em : Ngước mắt 
		lên mà xem : đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái 
		!”.(36) Ai gặt thì lãnh tiền công và thu hoa lợi để được sống 
		muôn đời. Và như thế, cả người gieo lẫn kẻ gặt đều hớn hở vui 
		mừng. (37) Thật vậy, câu tục ngữ “Kẻ này gieo, người kia gặt” 
		quả là đúng ! (38) Thầy sai anh em đi gặt những gì chính anh em 
		đã không vất vả làm ra. Người khác đã làm lụng vất vả. Còn 
		anh em, anh em được vào hưởng kết quả công lao của họ”. (39) Có 
		nhiều người Sa-ma-ri trong thành đó đã tin vào Đức Giê-su, vì 
		lời người phụ nữ làm chứng : &quot;Ông ấy nói với tôi mọi việc tôi 
		đã làm&quot;. (40) Vậy, khi đến gặp Người, dân Sa-ma-ri xin người ở 
		lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày. (41) Số người tin 
		vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa. (42) Họ bảo người phụ 
		nữ : “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả 
		thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng : Người thật là 
		Đấng Cứu Độ trần gian”.</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">2. Ý CHÍNH :</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Bài Tin Mừng hôm nay 
		thuật lại cuộc đối thoại của Đức Giê-su với một phụ nữ 
		Sa-ma-ri. Người đã từng bước đưa chị ta đón nhận mặc khải quan 
		trọng : Người chính là Đấng Thiên Sai, ban Nước Hằng Sống cho 
		những ai tin vào Người và họ cũng sẽ biến thành mạch nước giúp người 
		khác đón nhận sự sống đời đời.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">3. CHÚ THÍCH :</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- C 5-9 :<i>&nbsp;+ Đến một 
		thành xứ Sa-ma-ri :</i></span></b><i><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">&nbsp;</span></i><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Từ 
		Giê-ru-sa-lem về Ga-li-lê ngang qua xứ Sa-ma-ri, Đức Giê-su đã tới 
		giếng Gia-cóp gần thành Sy-kha (hay Si-khem) tại đất Ca-na-an (x. 
		St 33,18; 48,22). Đây là đất mà tổ phụ Gia-cóp đã cho Giu-se và 
		con cháu làm gia nghiệp (x. Gs 24,32).&nbsp;<b><i>+ Khoảng giờ thứ sáu 
		:</i></b>&nbsp;Tức khoảng mười hai giờ trưa. Người Do thái tính thời 
		gian như sau : ban ngày có 12 giờ và ban đêm có 4 canh giờ. Ngày 
		bắt đầu từ giờ Thứ Nhất (6g sáng) lúc mặt trời mọc, và kết 
		thúc vào giờ Thứ Mười Hai (18g00) lúc mặt trời lặn.&nbsp;<b><i>+ 
		“Chị cho tôi xin chút nước uống !”:</i></b>&nbsp;Đức Giê-su chủ động 
		xin nước uống để có cơ hội bắt chuyện, giúp người phụ nữ dần 
		dần nhận ra Người là Đấng ban Nước Hằng Sống, đem lại ơn cứu 
		độ cho loài người.&nbsp;<b>+ “Ông là người Do thái, mà lại xin tôi, 
		một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao ?”:</b>&nbsp;Từ sau khi đi 
		lưu đày trở về, dân Do thái xây dựng lại Đền Thờ mà không cho 
		người Sa-ma-ri cộng tác, nên họ đã xúi vua Ba-tư cản trở công 
		cuộc tái thiết này (x. Er 4,1-16). Từ đó hai dòng giống Do thái 
		và Sa-ma-ri tuy cùng một tổ tiên, sống sát bên nhau, nhưng lại 
		có ác cảm và không giao tiếp với nhau. Ở đây, người phụ nữ 
		này nhận ra Đức Giê-su là người Do thái qua giọng nói và cách 
		ăn mặc nên đã tỏ ra ngạc nhiên và từ chối như vậy.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- C 10-15 :<i>&nbsp;+ “Nếu 
		chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị 
		:</i></span></b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">&nbsp;Cho tôi 
		chút nước uống, thì hẳn chị đã xin, và người ấy ban cho chị 
		Nước Hằng Sống”…: Nhân dịp này, Đức Giê-su cho người phụ nữ kia 
		biết Người là Đấng ban Nước Hằng Sống.&nbsp;<b><i>+ “Thưa ông, ông 
		không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra Nước Hằng 
		Sống ?...:&nbsp;</i></b>Người phụ nữ này chỉ hiểu lời nói của Đức 
		Giê-su theo nghĩa thông thường là nước giếng tự nhiên, đang khi 
		Đức Giê-su lại có ý nói đến Nước Hằng Sống là Ơn Cứu Độ.&nbsp;<b><i>+ 
		“Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ 
		không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người 
		ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời” :</i></b>&nbsp;Đức 
		Giê-su so sánh nước giếng tự nhiên chỉ làm đã khát nhất thời, 
		với Nước Hằng Sống mang lại sự sống đời đời mà Người sẽ ban, 
		để khơi dậy sự khao khát nơi người này.&nbsp;<b><i>+ “Thưa ông, xin ông 
		cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy 
		nước” :&nbsp;</i></b>Đức Giê-su dẫn dắt người phụ nữ từ thái độ 
		thù nghịch đến chỗ thân thiện. Từ vai một người xin nước đến 
		chỗ là Đấng ban Nước Hằng Sống và chị ta đã xin Người ban thứ 
		Nước ấy.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- C 16-22 :<i>&nbsp;+ “Chị 
		hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây” :</i></span></b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">&nbsp;Đức 
		Giê-su tỏ ra là người lịch sự khi muốn nói chuyện với người 
		phụ nữ trước mặt chồng chị ta, đồng thời Người cũng muốn chị 
		ta ý thức về thân phận tội nhân của mình.&nbsp;<b><i>+ “Chị nói : 
		&nbsp;Tôi không có chồng là phải, vì chị đã năm đời chồng rồi, và 
		hiện người đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã 
		nói đúng” :</i></b>&nbsp;Đức Giê-su cho người phụ nữ ý thức tình 
		trạng hôn nhân bất hợp pháp của mình. Một số nhà chú giải 
		còn nhìn thấy 5 đời chồng là hình ảnh tượng trưng dân Sa-ma-ri 
		vừa kính sợ Đức Chúa, lại vừa phụng thờ 5 vị thần khác (x. 
		2V 17,29-34.41).&nbsp;<b><i>+ Thưa ông, tôi thấy ông thật là một Ngôn Sứ 
		:&nbsp;</i></b>Người phụ nữ sửng sốt khi thấy Đức Giê-su thấu suốt 
		đời tư của mình, và tôn xưng Người là một Ngôn sứ. Đồng thời, 
		chị ta xin Đức Giê-su chỉ dẫn phải tôn thờ Thiên Chúa trên núi 
		Ga-ra-dim như người Sa-ma-ri, hay thờ Chúa tại Đền Thánh 
		Giê-ru-sa-lem như người Do Thái ?&nbsp;<b><i>+ Đã đến giờ :</i></b>&nbsp;Đức 
		Giê-su dạy chị phụ nữ với tư cách vị Ngôn sứ : Đã đến giờ 
		Người xuất hiện để thực hiện chương trình cứu độ. Người cho 
		biết : việc thờ phượng tại núi này hay tại Giê-ru-sa-lem chỉ 
		là hình bóng và đã qua rồi. Bây giờ là thời Thiên Sai, phải 
		chấm dứt việc thờ phượng cũ để bắt đầu cách thờ phượng mới 
		nơi bản thân Người.&nbsp;<b><i>+ Thờ Đấng mà các người không biết :</i></b>&nbsp;Người 
		Sa-ma-ri chỉ công nhận bộ sách Ngũ Kinh và không biết đến các 
		sách khác, nhất là các Ngôn Sứ mặc khải về Thiên Chúa.&nbsp;<b><i>+ 
		Còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết :</i></b>&nbsp;Người Do thái 
		tuân giữ toàn bộ các sách Thánh Kinh. Sau này, Tông đồ Phao-lô 
		cũng nhấn mạnh về đặc ân đó của người Do thái (x. Rm 9,4).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- C 23-29 :<i>&nbsp;+ Thờ 
		phượng Chúa Cha trong Thần Khí :</i></span></b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">&nbsp;là 
		tôn thờ Thiên Chúa dưới sự soi sáng và sức mạnh của Chúa 
		Thánh Thần.&nbsp;<b><i>+ Trong Sự Thật :</i></b>&nbsp;Thờ Thiên Chúa trong 
		Đức Giê-su, Đấng là “đường, sự thật và sự sống” (Ga 14,6). Tóm 
		lại, từ nay Đức Giê-su trở nên Đền Thờ mới sẽ thay Đền Thờ cũ 
		trên núi Ga-ra-dim hay tại Giê-ru-sa-lem.&nbsp;<b><i>+ Thiên Chúa là 
		Thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong 
		Thần Khí và Sự Thật” :</i></b>&nbsp;Đức Giê-su đã nêu ra một điều 
		được cả người Do thái và người Sa-ma-ri chấp nhận là lời quả 
		quyết: “Thiên Chúa là Thần Khí, và người ta phải thờ Người ở 
		khắp mọi nơi, thờ chính Thiên Chúa chứ không phải thờ hình 
		bóng của Người. Thiên Chúa là Đấng vô hình, nên Người đòi 
		người ta phải thờ phượng Người trong tâm hồn. Một số người dựa 
		vào câu này để từ chối thờ Chúa bằng những hình thức lễ nghi 
		bên ngoài. Thực ra Đức Giê-su vẫn thường xuyên lên Đền thờ (x. Ga 
		2,13; 7,14; 11,55) và đến hội đường Do thái (x. Mt 1,21; Mt 13,54) 
		để tham dự các nghi lễ thờ phượng Thiên Chúa. Người chỉ chống 
		lại những nghi lễ vụ hình thức mà thôi (x. Mt 15,7-9; 21,12-13).&nbsp;<b><i>+ 
		Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô sẽ đến :</i></b>&nbsp;Dù chưa hiểu 
		được ý nghĩa về lời giải thích trên đây, người đàn bà này 
		cũng quan tâm đến tôn giáo. Bà hy vọng Đấng Ki-tô sẽ đến loan 
		báo mọi sự.&nbsp;<b><i>+ Đấng ấy chính là tôi :</i></b>&nbsp;Bình thường, 
		Đức Giê-su không muốn tỏ ra là Đấng Thiên Sai vì sợ dân Do thái 
		hiểu vai trò Thiên Sai theo nghĩa chính trị. Còn ở đây nói với 
		người phụ nữ Sa-ma-ri, Người không sợ bị hiểu lầm nên đã tỏ 
		mình chính là Đấng Thiên Sai.&nbsp;<b><i>+ Các ông ngạc nhiên vì thấy 
		Người nói chuyện với một phụ nữ :&nbsp;</i></b>Phong tục Do thái 
		không cho phép đàn ông nói chuyện với phụ nữ nơi công cộng. Làm 
		như vậy, Đức Giê-su đã bãi bỏ tục lệ này vì sứ mệnh rao 
		giảng Tin Mừng quan trọng hơn thói tục của người đời. Người 
		đến với tha nhân, bất kể họ là ai hay thuộc phái tính, dân tộc 
		nào, để đem Tin Mừng cứu rỗi cho họ.&nbsp;<b><i>+ Đến mà xem : có 
		một người đã nói với tôi về tất cả những gì tôi đã làm :</i></b>&nbsp;Thực 
		ra Đức Giê-su mới chỉ nói về những người chồng của người phụ 
		nữ này chứ chưa nói về tất cả những gì chị đã làm. Nhưng khi 
		nói với dân chúng, chị ta đã phóng đại lên để cho người ta dễ 
		tin theo mà thôi.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- C 30-38 :&nbsp;<i>+ “Thầy 
		phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết” :</i></span></b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">&nbsp;Đức 
		Giê-su muốn dựa vào của ăn phần xác mà các môn đệ mời Người 
		để nói về của ăn thiêng liêng mà các ông chưa biết.&nbsp;<b><i>+ Lương 
		thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy :</i></b>&nbsp;Đức 
		Giê-su coi việc làm theo thánh ý Chúa Cha chính là lương thực của 
		Người.&nbsp;<b><i>+ Đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái &nbsp;!:</i></b>&nbsp;Đức 
		Giê-su dựa vào câu tục ngữ người nông dân hay nói : “Bốn tháng 
		có qua, mùa gặt có tới”. Qua đó Người nói đến mùa gặt thiêng 
		thiêng là cánh đồng truyền giáo đã chín vàng, vì dân Sa-ma-ri 
		sắp kéo tới để gặp Người. Đây là hoa trái đầu mùa của mùa gặt 
		Thiên Sai.&nbsp;<b><i>+ Đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái 
		! :</i></b>&nbsp;Trong Cựu Ước, mùa gặt tượng trưng sự phán xét của 
		Thiên Chúa, hoặc niềm vui ơn cứu độ (x. Is 9,2; Am 9,13, Tv 126,5). 
		Trong Tân Ước, mùa gặt tượng trưng cho hoa quả của việc truyền 
		giáo (x. Mt 9,37). Đức Giê-su gợi lên niềm vui và phần thưởng 
		của thợ gặt là các tông đồ, khi các ông giúp nhiều người tin 
		để được hưởng hạnh phúc Nước Trời.&nbsp;<b><i>+ Câu tục ngữ “Kẻ này 
		gieo, người kia gặt” quả là đúng &nbsp;!:</i></b>&nbsp;Câu tục ngữ này 
		được hiểu như sau : Người gieo chính là Đức Giê-su và hạt giống 
		là Tin Mừng (x. Lc 8,11); Thợ gặt là các môn đệ. Mặc dù các 
		ông chưa được sai đi, nhưng Đức Giê-su đã thấy trước viễn ảnh 
		tốt đẹp là hoa quả do việc truyền giáo mang lại. Việc Người 
		sắp chịu chết trên thập giá giống như hạt giống, phải chết đi 
		mới sinh ra nhiều hoa trái (x. Ga 12,24). Công việc truyền giáo 
		là một việc tập thể mỗi người một nhiệm vụ: “Người gieo kẻ gặt”. 
		Do đó khi việc tông đồ mang lại nhiều kết quả thì đừng nghĩ 
		rằng đó là thành quả do công sức của riêng mình.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- C 39-42 :<i>&nbsp;+ Ông ấy 
		nói với tôi mọi việc tôi đã làm :</i></span></b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">&nbsp;Lời 
		chứng của người phụ nữ được coi là dấu chỉ, là giai đoạn đầu 
		dẫn dân thành đến niềm tin vào Đức Giê-su.&nbsp;<b><i>+ Dân Sa-ma-ri xin 
		người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày. Số 
		người tin vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa :</i></b>&nbsp;Đức 
		tin sẽ được tiếp tục triển nở nhờ lời giảng dạy của Đức 
		Giê-su.&nbsp;<b><i>+ “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. 
		Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng : Người thật 
		là Đấng Cứu Độ trần gian” :</i></b>&nbsp;&nbsp;Qua lời của dân thành 
		Sa-ma-ri, chúng ta thấy một đức tin trưởng thành thì không được dựa 
		vào người khác như cha mẹ, vợ chồng, người thân hay theo số 
		đông, mà phải do sự lắng nghe và thực hành lời Chúa.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">3. CÂU HỎI :</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">1) Cách tính giờ của 
		người Do thái thế nào ? 2) Đức Giê-su chủ động xin nước uống 
		với người phụ nữ Sa-ma-ri nhằm mục đích gì ? 3) Nước Hằng 
		Sống mà Đức Giê-su hứa ban là thứ nước gì ? 4) Lời Đức Giê-su 
		dạy thờ Thiên Chúa vô hình trong Thần Khí và Sự Thật phải 
		chăng là Người bãi bỏ tất cả các lễ nghi thờ phương bề ngoài ? 
		5) Câu chuyện người phụ nữ Sa-ma-ri hôm nay dạy ta bài học gì 
		về sứ mệnh loan báo Tin Mừng ? 6) Câu nói của dân làng cho thấy 
		hiệu quả của Lời Chúa tác động thế nào nơi những người tin ?</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">II. SỐNG LỜI CHÚA</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">1. LỜI CHÚA : “Ai 
		uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không 
		bao giờ khát nữa” (Ga 4,13-14a).</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">2. CÂU CHUYỆN :</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">1) ĐỨC GIÊ-SU - “NƯỚC 
		HẰNG SỐNG” MANG LẠI HẠNH PHÚC ĐỜI ĐỜI :</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Cách đây ít lâu, một số 
		chị em người Bỉ khi suy niệm đoạn Tin mừng này, đã cùng nhau 
		lập một tu hội tên là “Ô Vi” (Eau Vive) dịch là “Nước Hằng 
		Sống”. Ngoài việc cầu nguyện trước Chúa Thánh Thần mỗi ngày, 
		chị em còn mở quán ăn phục vụ khách. Trong quán, các chiêu đãi 
		viên chính là các nữ tu. Châm ngôn của tu hội là “Phục vụ Chúa 
		trong các thực khách”. Mỗi buổi tối vào giờ đóng cửa, chị em 
		biến quán ăn trở thành nhà nguyện. Các thực khách được mời ở 
		lại tham dự giờ chia sẻ Lời Chúa. Mọi người sẽ được nghe Lời 
		Mặc Khải là Nước Hằng Sống như Đức Giê-su đã hứa ban cho người 
		phụ nữ Sa-ma-ri xưa.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">2) SỨC MẠNH LÔI CUỐN CỦA 
		LÒNG BÁC ÁI ĐÍCH THỰC :</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Có một người đàn ông 
		nọ mới xin theo đạo. Một hôm có người muốn thử đức tin của ông 
		ta liền lên tiếng hỏi : “Ông theo đạo Công giáo, nhưng ông có biết 
		Đức Giê-su là ai không?” Người tân tòng trả lời : “Dĩ nhiên là 
		tôi biết chứ”. Người kia hỏi tiếp : “Thế Đức Giê-su sinh ra tại 
		đâu ?” Người tân tòng im lặng không trả lời được. Người kia hỏi 
		tiếp : “Đức Giê-su chết năm bao nhiêu tuổi ?” Một lần nữa, người 
		tân tòng lại không thể trả lời. Người kia liền kết luận : “Ông 
		chẳng hiểu biết gì về đạo. Vậy tại sao ông lại gia nhập đạo ?” 
		Bấy giờ người tân tòng mới nói : “Thú thật với ông : tôi biết 
		rất ít về giáo lý. Nhưng điều tôi biết rất rõ là : Cách đây 
		hai năm, do nợ ngân hàng không thanh toán được đúng hạn, nên gia 
		đình tôi bị đuổi ra khỏi nhà mình và phải lang thang nay đây mai 
		đó. Trong thời gian ấy, tôi trở nên nghiện rượu và hay la mắng 
		vợ con. Vợ tôi lúc nào cũng buồn sầu khóc lóc. Các con tôi 
		thì luôn sợ nhìn thấy bộ mặt ba của chúng. Nhưng sau đó một năm, 
		tôi may mắn đã gặp được một linh mục tốt bụng. Ông đã tận tình 
		giúp đỡ gia đình tôi vượt qua khó khăn : Ông giúp tôi có việc 
		làm ổn định, và giúp gia đình tôi trở nên con cái Chúa, còn 
		giúp tôi sống tiết độ hơn. Hiện nay tôi đã lấy lại được căn nhà 
		cũ. Vợ chồng tôi sống rất hòa hợp hạnh phúc. Các con tôi đều 
		khỏe mạnh, học hành tiến bộ và ngoan ngoãn hiếu thảo. Tôi xác 
		tín rằng : Chính Đức Giê-su đã biến đổi gia đình tôi từ khi tôi 
		gặp được Người qua con người của một vị linh mục !”</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Quả thật, đúng như lời 
		Đức Giê-su đã phán trong Tin Mừng hôm nay : “Ai uống nước tôi cho 
		sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên đem lại sự 
		sống đời đời” (Ga 4,14).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">3) LÒNG MẾN CHÚA PHẢI 
		THỂ HIỆN QUA ĐỨC YÊU NGƯỜI :</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Vào một đêm trăng sáng, khi 
		nhìn qua cửa sổ, vị tu sĩ già nhìn thấy một thiên thần đang ngồi trên 
		một tảng đá trong khu vườn phía sau tu viện. Thiên thần cầm bút viết vào 
		quyển sổ vàng để trước mặt. Lòng tràn ngập niềm vui, vị tu sĩ tiến lại 
		gần thiên thần và lên tiếng hỏi : “Ngài đang viết gì vào sổ vàng thế ?” 
		Thiên thần trả lời : “Ta đang ghi tên những tín hữu đủ điều kiện để được 
		lên thiên đàng”. Vừa hồi hộp và lo lắng, vị tu sĩ liền hỏi thiên thần 
		xem trong sổ vàng có tên của mình không ? Thiên thần liền lần giở từng 
		trang sách ra dò, nhưng tìm mãi mà vẫn không thấy tên của vị tu sĩ. 
		Thiên thần cho biết sở dĩ ông chưa được ghi tên vào sổ vàng, vì ông còn 
		thiếu lòng mến Chúa. Bấy giờ vị tu sĩ lên tiếng hỏi thiên thần : “Tuy 
		tôi chưa mến Chúa đủ, nhưng nếu tôi có tình thương tha nhân thì tôi có 
		được ghi tên trong sổ vàng không?”. Nghe vậy, thiên thần liền gật đầu 
		đồng ý. Thế là từ hôm đó, vị tu sĩ nhiệt tình thực hành bác ái bằng việc 
		hăng say phục vụ những người bệnh tật, đui mù và nghèo khổ bất hạnh.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Sau khi vị tu sĩ qua đời, 
		anh em trong dòng đã tìm thấy cuốn nhật ký của vị tu sĩ. Trong đó, ông 
		đã viết ở trang đầu tiên như sau : ”Nếu ai nói mình yêu mến Chúa mà lại 
		ghét anh em mình thì đó là kẻ nói dối, vì kẻ không yêu mến người anh em 
		nó thấy đó, tất không thể yêu mến Thiên Chúa mà nó không thấy” (1 Ga 
		4,20). Tiếp theo là lời tâm tình của vị tu sĩ : ”Lúc đầu tôi đi tìm 
		Thiên Chúa, nhưng tôi chẳng thể gặp được vì Ngài là Đấng thiêng liêng; 
		tiếp đến, tôi đi tìm linh hồn tôi, nhưng tôi không tìm được, vì linh hồn 
		có đặc tính vô hình; Rồi sau cùng, khi tôi quyết tâm tìm kiếm tha nhân 
		và yêu thương họ, bằng việc chia sẻ và âm thầm phục vụ họ như phục vụ 
		Chúa, thì tôi đã gặp cả Thiên Chúa và linh hồn mình” (Trích “Mỗi ngày 
		một tin vui”).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">4) LÒNG THAM SẼ DẪN ĐƯA 
		NGƯỜI TA LẠC XA CHÚA :</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Có một anh thợ đào vàng mới 
		chết và đến cổng Thiên Đàng xin thánh Phê-rô mở cửa cho vào. Thánh nhân 
		hỏi : “Ở trần gian anh làm nghề gì ?” Anh thưa : “Con làm thợ đào vàng”.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Thánh Phê-rô liền nói : 
		“Trên thiên đàng hiện đã có quá nhiều thợ đào vàng rồi”. Nhưng anh ta 
		vẫn nài nỉ : “Xin ngài cứ cho con vô, để con sẽ cầm đầu bọn nó, không để 
		chúng do lòng tham mà tranh giành nhau làm mất an toàn trật tự trên 
		thiên đàng”.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Sau đó anh chàng đã được 
		thánh Phê-rô cho vào thiên đàng. Trước tiên anh ta đi tham quan một vòng 
		quanh thiên đàng và đã gặp nhiều bạn bè đào vàng trước kia. Bấy giờ anh 
		liền rỉ tai một người bạn và nói như sau : “Tớ nghe đồn là dưới hoả ngục 
		có một mỏ vàng cực lớn. Chú mày hãy mau đi rủ bạn bè xuống dưới đó mà 
		đào”. Thế là chỉ sau một thời gian ngắn, các tay thợ đào vàng liền bỏ 
		thiên đàng, mang theo cuốc xẻng nhảy xuống hoả ngục đi tìm vàng.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Còn lại một mình, anh thợ 
		đào vàng đứng ngồi không yên. Anh liền xin thánh Phê-rô cho xuống hoả 
		ngục để xem tình hình ra sao. Biết đâu ở đó thực sự có mỏ vàng thì sao ? 
		Vì anh thấy bọn bạn cũ của anh đã vào hoả ngục lâu rồi mà vẫn chưa quay 
		lại” Thánh Phê-rô liền khuyên anh : “Con đừng có ảo tưởng ! Dưới hỏa 
		ngục làm sao có mỏ vàng được, trái lại, chỉ có đau khổ nước mắt và thói 
		xấu ganh ghét mà thôi. Nhưng anh chàng kia không nghe lời khuyên, cứ 
		quyết định leo rào ra ngoài để tìm đường đi xuống hỏa ngục.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Than ôi ! Thế là chính vì 
		lòng tham không đáy mà cả bọn thợ đào vàng đều bị mất hạnh phúc thiên 
		đàng. Ngày nay trên trần gian, do lòng tham không đáy, mà nhiều người 
		cũng hứa sẽ sẵn sàng hy sinh hạnh phúc riêng mình để chạy theo lòng tham 
		vàng bạc vật chất, nhắm mắt phạm các tội ác nghiêm trọng như : cướp của, 
		giết người… để rồi phải vào tù chịu hình phạt đau khổ đời này và còn 
		chịu bất hạnh hỏa ngục đời sau.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">3. SUY NIỆM :</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">1) ĐỨC GIÊ-SU LÀ “NƯỚC 
		HẰNG SỐNG” CỦA NHÂN LOẠI :</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Tin Mừng CN hôm nay tường 
		thuật cuộc đối thoại tại bờ giếng Gia-cóp, giữa Đức Giê-su với 
		người phụ nữ Sa-ma-ri đại diện cho dân ngoại. Qua đó, Người đã từng 
		bước mặc khải cho chị ta về ơn cứu độ. Đức Giê-su đã chủ động xin 
		chị ta nước uống vật chất, để sau đó hứa ban cho chị “Nước Hằng 
		Sống”. Tiến trình đức tin nơi chị phụ nữ Sa-ma-ri trong Tin Mừng như 
		sau :</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- Đầu tiên Đức Giê-su đi 
		bước trước mở lời : “Cho tôi chút nước uống” (c. 7). Xin nước không 
		phải cần nước uống, nhưng nhằm bắc một nhịp cầu vượt qua hố ngăn 
		cách giữa hai dân tộc Do thái và Sa-ma-ri. Tuy cùng là con cháu của 
		tổ phụ Gia-cóp, nhưng do hoàn cảnh lịch sử đã phân thành hai dân tộc 
		nghi kỵ nhau và không giao tiếp với nhau, như lời chị phụ nữ Sa-ma-ri 
		nói với Đức Giê-su : “Ông là người Do thái mà lại xin tôi, một 
		phụ nữ Sa-ma-ri cho ông nước uống hay sao ?” (c. 9). Sau đó, từ nước 
		giếng vật chất, Đức Giê-su đã từng bước mặc khải cho chị ta về “Nước 
		Hằng Sống” (c. 10).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- Chính do hiểu lầm hiềm 
		khích mà hai dân tộc Do thái và Sa-ma-ri đã chia rẽ nhau về đức tin : 
		Người Do thái chỉ thờ Đức Chúa tại Đền Thánh Giê-ru-sa-lem, đang 
		khi người Sa-ma-ri lại muốn phải thờ Đức Chúa tại núi Ga-ri-dim ! 
		Còn theo Đức Giê-su : Người ta không được giới hạn Thiên Chúa tại đền 
		thờ vật chất tại Giê-ru-sa-lem hay trên núi Ga-ri-dim. Thiên Chúa là 
		Đấng vô hình như “Gió” và “Thần Khí”, sự thờ phượng đúng đắn nhất 
		là thờ Thiên Chúa trong “Thần Khí” và “Sự Thật” (c. 20-24).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">2) PHẢI THỜ CHÚA TRONG 
		THẦN KHÍ VÀ SỰ THẬT :</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Đức Giê-su dạy phải thờ 
		phượng Thiên Chúa như sau : “Nhưng giờ đã đến,&nbsp;&nbsp;và chính lúc này đây, 
		giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần 
		khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế” 
		(Ga 4, 23).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><i><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- Phải thờ Thiên Chúa 
		trong Thần Khí :</span></i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Ðức Giê-su nói :&nbsp;“Thiên 
		Chúa&nbsp;là Thần Khí, và những kẻ thờ phượng Ngài phải thờ phượng trong Thần 
		Khí và Sự Thật”. Ngày nay nhiều người cũng đồng quan điểm khi chủ trương 
		: “Đạo tại tâm”. Thánh Phao-lô cũng nói : “Nào anh em chẳng biết rằng 
		anh em là Ðền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh 
		em sao”&nbsp;(1 Cr 3,17). Mỗi người tín hữu chúng ta hôm nay cũng cần xin ơn 
		Chúa Thánh Thần giúp ta thực thi đức tin bằng đức cậy là cầu nguyện dâng 
		lễ; và bằng đức mến là phục vụ tha nhân.&nbsp;&nbsp;</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><i><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">- Phải thờ Thiên Chúa 
		trong Sự Thật :</span></i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Sự thật là chính Đức Giê-su 
		như Người đã tuyên bố : “Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống” 
		(Ga 14,6). Ma quỷ là cha của sự dối trá và các môn đệ của Đức Giê-su 
		phải tránh dối trá như các đầu mục dân Do thái đã bị Đức Giê-su quở 
		trách : “Cha các ông là ma quỷ, và các ông muốn làm những gì cha các ông 
		ham thích. Ngay từ đầu, nó đã là tên sát nhân. Nó đã không đứng về phía 
		sự thật, vì sự thật không ở trong nó. Khi nó nói dối là nó nói theo bản 
		tính của nó, bởi vì nó là kẻ nói dối, và là cha sự gian dối” (Ga 8,44). 
		Còn Thiên Chúa của chúng ta thờ là Thiên Chúa của sự thật, vì thế, những 
		kẻ gian dối, sẽ không thể gặp được Ngài là Sự Thật. Do đó mỗi người 
		chúng ta cần có một lương tâm ngay thẳng: “Có thì nói có, không thì nói 
		không” (Mt 5,36), không quanh co, lươn lẹo, gian dối, nói một đàng làm 
		một nẻo… thì mới có thể gặp gỡ Ngài.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">3) SỨ MẠNG TRỞ THÀNH 
		MẠCH “NƯỚC HẰNG SỐNG” CHO THA NHÂN :</span></b></p>
		<p style="text-align: justify; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0cm; margin-bottom: 6.0pt; background: white">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">Trong Tin Mừng hôm nay Đức 
		Giê-su nói về sứ vụ của người tín hữu như sau : “Ai uống nước này, 
		sẽ lại khát.<b>&nbsp;</b>Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát 
		nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước 
		vọt lên, đem lại sự sống đời đời” ? (Ga 4,13-14). Cũng như ông 
		Phi-lip-phê sau khi đã gặp và tin Đức Giê-su, liền đi tìm bạn mình là 
		Na-tha-na-en để chia sẻ niềm tin (x. Ga 1,45); Ma-ri-a Ma-đa-lê-na sau 
		khi gặp Chúa Phục Sinh cũng vội đi tìm các môn đệ để loan báo Tin vui 
		gặp Chúa Phục Sinh (x. Ga 20,18); Người phụ nữ Sa-ma-ri-a trong Tin Mừng 
		hôm nay sau khi gặp gỡ và tin Đức Giê-su, cũng đã chạy vội về làng loan 
		báo cho mọi người : “Đến mà xem : có một người đã nói với tôi tất cả 
		những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao ?” (Ga 4,29). 
		Mọi người nghe lời chị nói đã kéo nhau đến gặp Đức Giê-su và mời Người 
		vào ở trọ trong làng của họ. Sau khi nghe giảng và tin Người là Đấng 
		Thiên Sai, họ đã khẳng định niềm tin qua câu nói : “Không còn phải vì 
		lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết 
		Người thật là Đấng cứu độ trần gian” (Ga 4,42).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt; background: white">
		<b>
		<span style="font-size: 11.0pt; font-family: Verdana,sans-serif; background: white">
		4) LÀM GÌ ĐỂ SỐNG VÀ TRUYỀN BÁ ĐỨC TIN HÔM NAY ? :</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-size: 11.0pt; font-family: Verdana,sans-serif">-&nbsp;<b><i>Trong 
		những ngày Mùa Chay này,</i></b>&nbsp;<b><i>chúng ta cần dành</i></b>&nbsp;<b><i>nhiều 
		thời gian để đến gặp gỡ Chúa Giê-su&nbsp;</i></b>trong thánh lễ, qua 
		các buổi tĩnh tâm Mùa Chay, các giờ kinh tối gia đình… Nhờ đó 
		chúng ta sẽ có một nguồn suối làm thỏa mãn cơn khát nội tâm, và 
		làm cho lòng chúng ta trở thành một mạch nước mới dẫn đến ơn 
		cứu độ. </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><i><span style="font-size: 11.0pt; font-family: Verdana,sans-serif">- 
		Cần hãm mình ăn chay để có điều kiện làm nhiều việc bác ái yêu thương 
		như phương thế truyền giáo hữu hiệu trong hoàn cảnh xã hội hôm nay :</span></i></b><span style="font-size: 11.0pt; font-family: Verdana,sans-serif">&nbsp;<span style="background: white">Đức 
		Thánh Cha Phao-lô VI đã khẳng định : “Trong thế giới hôm nay người ta 
		cần những chứng nhân hơn là thầy dạy và nếu họ có nghe thầy dạy thì thầy 
		dạy đó cũng là chứng nhân”.&nbsp;</span>Câu chuyện sau đây chứng minh điều 
		này: </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-size: 11.0pt; font-family: Verdana,sans-serif">“Có 
		một người đàn ông nọ mới theo đạo. Một hôm có người muốn thử 
		đức tin của ông liền hỏi : “Anh theo đạo nhưng có biết Đức 
		Giê-su là ai không ?” Người tân tòng trả lời : “Dĩ nhiên là biết 
		chứ”. Người kia hỏi tiếp : “Thế Đức Giê-su sinh ra tại đâu ?” 
		Người tân tòng im lặng không trả lời được. Người kia hỏi tiếp : 
		“Thế Đức Giê-su chết khi được bao nhiêu tuổi ?” Một lần nữa, 
		người tân tòng lại không biết. Người kia liền nói : “Anh chẳng 
		biết gì về đạo. Vậy tại sao anh lại theo đạo ?” Bấy giờ người 
		tân tòng mới nói : “Thú thật với anh : tôi biết rất ít về 
		giáo lý. Nhưng điều tôi biết rất rõ là : Cách đây hai năm, do 
		nợ ngân hàng mất khả năng chi trả, nên gia đình tôi lâm vào hoàn cảnh 
		khốn cùng bị đuổi ra khỏi nhà để sống lang thang nay đây mai đó. 
		Trong thời gian ấy, tôi buồn chán đi uống rượu và trở thành một kẻ 
		luôn say xỉn và khi về đến nhà là lại la mắng vợ con. Vợ tôi lúc nào 
		cũng buồn rầu khóc lóc. Các con tôi thì luôn sợ phải nhìn thấy 
		mặt ba của chúng. Nhưng sau đó. tôi rất may đã gặp được một linh 
		mục tốt bụng. Ông đã tận tình giúp đỡ gia đình tôi vượt qua 
		cơn khó khăn: Ông giúp tôi có được một công việc thu nhập ổn 
		định, và giúp gia đình tôi trở thành con Thiên Chúa. Ông còn 
		giúp bản thân tôi trở thành một con người sống tiết độ và có trách 
		nhiệm hơn đối với gia đình của mình. Hiện nay tôi đã đòi lại được 
		căn nhà cũ trước kia. Vợ chồng tôi sống với nhau rất hòa hợp 
		hạnh phúc. Các con tôi đều khỏe mạnh, học hành tiến bộ và 
		luôn ngoan ngoãn hiếu thảo. Tôi xác tín rằng :&nbsp;<b><i>“Chính Đức 
		Giê-su đã biến đổi gia đình tôi từ khi tôi gặp được Người qua 
		trung gian một vị linh mục&nbsp;</i>!”</b>&nbsp;Quả thật đúng như lời Đức 
		Giê-su đã phán trong Tin Mừng hôm nay : “Ai uống nước tôi cho sẽ 
		trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên đem lại sự sống 
		đời đời” (Ga 4,14b).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">4. THẢO LUẬN : Bạn sẽ 
		làm gì để đức tin vào Đức Giê-su trở thành nguồn Nước Hằng Sống cho 
		bạn bè và người thân ?</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<b><span style="font-family: Tahoma,sans-serif">5. NGUYỆN CẦU :</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">
		<span style="font-family: Tahoma,sans-serif">LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin hãy 
		biến đổi chúng con trong Mùa Chay này. Xin cho chúng con gặp được 
		Chúa trong thánh lễ, những buổi tĩnh tâm và qua những người 
		nghèo khó … Xin cho chúng con được uống Nước Hằng Sống là Lời 
		Chúa. Nhờ đó, cuộc đời của chúng con sẽ vui tươi hạnh phúc hơn. 
		Xin cho chúng con quảng đại tha thứ, quên mình phục vụ và luôn 
		đi bước trước đến với tha nhân, như Chúa đã đi bước trước bắt 
		chuyện với người phụ nữ Sa-ma-ri trong Tin Mừng hôm nay.- AMEN,</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-bottom: 6.0pt">&nbsp;</td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; 
	<img border="0" src="../../../../tin-mung-new-logo-01.jpg" width="80" height="45">&nbsp;<img border="0" src="../../../../tin-mung-new-logo-02.jpg" width="80" height="45">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">&nbsp;</p>

PHP File Manager