File "03.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2025/Thuong-nien/CN XXIV TN C/03.htm
File size: 44.85 KiB (45930 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa-Nhật-XXIV-thường-niên-Năm-C</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Lòng-Chúa-xót-thương; Người-Cha; Niềm-vui-san-sẻ; Cây-táo; Miếng-vài-trằng; Quan-trọng; Lạc-mất; Tha-thứ; Thương-xót; thương-người; Nhân-hậu;"><style>
<!--
.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
{color:blue;
text-decoration:underline;
text-underline:single;
text-decoration:none underline;
text-line-through:none;
vertical-align:baseline}
span.st
{}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa-Nhật-XXIV-thường-niên-Năm-C">
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460">
<font size="2" color="#FF0000">Chúa Nhật XXIV thường niên - Năm C</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
THIÊN CHÚA THƯƠNG XÓT VÀ THA THỨ</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
<i><span style="font-size: 8pt">Lm Giuse Đinh lập Liễm</span></i></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">A.
DẪN NHẬP. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Chủ đề của ba bài đọc hôm nay là Thiên Chúa thương xót những
người tội lỗi. Trong bài đọc 1, chúng ta thấy ngay sau khi dân Do thái
ký Giao ước với Thiên Chúa đã quay ra phản bội, họ đã bỏ Chúa mà đi tìm
một thần tượng khác làm hộ mạng, tức là thờ lạy con bê vàng. Thiên Chúa
nổi cơn thịnh nộ định tiêu diệt dân này để lậïp một dân lớn hơn, trung
thành hơn, nhưng nhờ lời cầu xin của ông Maisen, Thiên Chúa đã nguôi
giận và tha tội cho dân. Thực ra, sứ điệp mà Thiên Chúa muốn gửi đến cho
chúng ta qua bài đọc 1 này là Thiên Chúa rộng lòng thương xót sẵn lòng
tha thứ cho những kẻ tội lỗi. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Lòng thương xót và tha thứ của Thiên Chúa được thể hiện một
cách cụ thể trong Đức Giêsu Kitô. Sự kiện Đức Giêsu đã đón tiếp và cùng
ăn với những người tội lỗi làm cho những người biệt phái phẫn nộ. Họ là
những người “<i>biệt phái</i>” tránh né mọi tiếp xúc với những người tội
lỗi. Họ cho rằng những kẻ tội lỗi là những đồ bỏ đi. Phản ứng lại những
lời chỉ trích của nhóm họ, Đức Giêsu đã chỉ ra cho họ một Thiên Chúa
giầu lòng thương xót, chậm bất bình và hết sức khoan dung, Ngài sẵn sàng
tha thứ cho mọi lỗi lầm của con người, bằng cách đưa ra ba dụ ngôn : con
chiên đi lạc, đồng tiền bị mất và đứa con hoang đàng. Cả ba dụ ngôn đều
nhấn mạnh đến việc Thiên Chúa quan tâm đến một người hư mất và niềm vui
của Ngài khi tìm lại được một người hư mất. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Theo gương Đức Giêsu, chúng ta phải thay đổi cách nhìn của
chúng ta đối với người tội lỗi. Họ không phải là những hạng người bỏ đi
như người biệt phái vẫn nghĩ thế; trái lại, họ là một con người, một con
người cao qúi trước mặt Chúa không thể để hư mất. Nếu họ hư đi thì phải
nỗ lực đi tìm kiếm như người chăn chiên bỏ 99 con mà đi tìm con chiên
lạc, đem về cùng chung vui vì một người tội lỗi đã trở lại. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">B.
TÌM HIỂU LỜI CHÚA. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
<b><i>+ <u>Bài đọc 1</u></i></b> : <i>Xh 32,7-11.13-14. </i></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Ngay sau khi Thiên Chúa ký Giao ước với dân Israel, họ đã vi
phạm Giao ước. Vì ông Maisen ở lâu trên núi, nên dân đâm ra sợ hãi và tự
tạo cho mình một thần tượng để hộ mạng. Đó là dân đã đúc con bê vàng và
thờ lạy trước tượng đó. Sự bất tín này làm Thiên Chúa nổi giận và muốn
tiêu diệt dân, đồng thời Ngài lại hứa với Maisen như xưa đã hứa với
Abraham là sẽ làm cho ông nên tổ phụ của một dân tộc lớn. Nhưng ông
Maisen đã khẩn khoản xin Chúa tha tội cho dân, và cuối cùng Thiên Chúa
nguôi giận không giữ ý định tiêu diệt Israel nữa. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Mặc dầu Thiên Chúa hứa tạo cho ông một dân tộc mới, ông đã
không lìa bỏ dân tộc mình, vẫn liên đới gắn bó với dân như trước. Chính
ông van xin Thiên Chúa tha thứ và được Ngài nhận lời vì Thiên Chúa kiên
nhẫn và trung tín. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
<b><i>+ <u>Bài đọc 2</u></i></b> : <i>1Tm 1,12-17. </i></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Trước khi nói cùng ông Timôthê yêu dấu, thánh Phaolô muốn nhắc
lại cách Thiên Chúa đối xử với loài người. Nếu không có điều ấy, ơn gọi
của chính ngài khó mà giải thích được : Thiên Chúa tha thứ. Ngài tạ ơn
Chúa vì lòng nhân từ thương xót của Chúa. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Trước kia, ngài là người bắt đạo và ngạo ngược nhưng đã được
Chúa xót thương. Sự trở lại của ngài là một thí dụ điển hình về ơn tha
thứ Thiên Chúa dành cho mọi người. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
<b><i>+ <u>Bài Tin mừng</u></i></b> : <i>Lc 15,1-32.</i> </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Thấy Đức Giêsu hay gần gũi với những người tội lỗi, nhóm biệt
phái và luật sĩ tỏ ra rất khó chịu, lẩm bẩm với Ngài. Nhân dịp này Đức
Giêsu đưa ra ba dụ ngôn nói lên lòng thương xót và tha thứ của Thiên
Chúa đối với tội nhân : con chiên bị lạc, đồng tiền bị mất và đứa con
hoang đàng. Tất cả đều nói lên Thiên Chúa là người Cha nhân hậu. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Để ý nhận xét, đồng tiền là một vật nhỏ nhất mà cũng mất công
tìm tòi kỹ lưỡng, điều này nói lên sự quan tâm rất mực của Thiên Chúa
đối với tội nhân. Dụ ngôn đứa con hoang đàng trở về càng làm nổi bật
lòng nhân hậu, thứ tha của Thiên Chúa, Ngài là người Cha không bao giờ
bỏ rơi con cái bạc bẽo. Chi tiết này càng làm cho người tội lỗi vững tâm
trở về cùng Chúa. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">C.
THỰC HÀNH LỜI CHÚA.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Tấm lòng nhân hậu của người Cha.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm"><b>
<i>I. THIÊN CHÚA KÊU GỌI NGƯỜI TỘI LỖI </i></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
<b><i>1. <u>Hòan cảnh đưa đến dụ ngôn</u>. </i></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Đối với Đức Giêsu, người ta có hai thái độ trái ngược nhau :
đối với những người biệt phái và luật sĩ, họ cho mình là người công
chính nên khinh thường và tẩy chay Ngài. Còn những người tội lỗi thì lại
đến gần Ngài, nghe Ngài giảng và sửa đổi con người của mình. Người Do
thái rất khó chịu khi thấy Đức Giêsu giao du với những người tội lỗi và
lại còn đồng bàn với họ nữa. Người ta khó chịu với Đức Giêsu vì họ thấy
Ngài cư xử ngược với quan niệm của họ. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Đạo sĩ Do thái đã xếp tất cả những ai không tuân giữ lưật pháp
vào chung một hạng, họ gọi những người đó là “<i>Dân của đất</i>”. Có
một hàng rào ngăn cách dứt khoát giữa những đạo sĩ Do thái và người
“Dân của đất”. Gả con gái cho một người dân của đất thì chẳng khác gì
trói cô gái ấy nộp cho sư tử. Luật của đạo sĩ Do thái dạy rằng : Khi có
một người là dân của đất, thì đừng trao tiền cho nó, đừng lấy chứng của
nó, đừng nói điều bí mật cho nó, đừng đặït nó coi kẻ mồ côi, đừng để nó
giữ của bố thí, đừng đi đường với nó”. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Có luật cấm đạo sĩ Do thái không được mời một người dân của
đất đến dùng bữa, cũng không được nhận lời mời của ai trong hạng người
đó. Luật cấm đạo sĩ Do thái không được giao dịch thông thường với họ,
không được mua gì của họ hoặc bán gì cho họ. Các đạo sĩ Do thái quyết
tâm tránh hẳn mọi liên hệ với đám dân của đất, tức là những người không
giữ đủ các chi tiết tỉ mỉ trong luật pháp. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Trước thái độ kỳ thị ra mặt của các đạo sĩ Do thái đối với
người bị coi là tội lỗi, Đức Giêsu mới kể cho họ ba dụ ngôn để nói về
lòng nhân từ thương xót của Thiên Chúa, Ngài muốn tìm kiếm và cứu vớt
những gì đã lạc mất. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
<b><i>2. <u>Ba dụ ngôn của Đức Giêsu</u>.</i></b> </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
<b>a) Dụ ngôn con chiên đi lạc.</b> </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Trước tiên ta cần lưu ý là hình ảnh người chăn chiên và bầy
chiên là chủ đề cổ điển trong Cựu ước nói lên tương quan giữa Thiên Chúa
và dân Ngài (St 48,15 : Lc 12.32). Dụ ngôn này cũng có trong Tin mừng
Matthêu, nhưng trong lúc Matthêu áp dụng vào trách nhiệm những vị lãnh
đạo Giáo hội, còn Luca nói lên việc Thiên Chúa tìm kiếm người tội lỗi. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Trong dụ ngôn này, người mục tử đã bỏ 99 con kia, dĩ nhiên là
được canh giữ cẩn thận, để đi tìm con chiên lạc. Con chiên lạc này mất
vì lý do nào đó không được nêu ra trong dụ ngôn. Nhưng có một đều chắc
chắn là nó đang sống những giây phút khốn cực, cần sự giúp đỡ của chủ
chăn. Chủ chăn đã phải bỏ 99 con trong hoang địa mà đi tìm con chiên lạc.
Một con sánh với 99 còn lại thì chỉ như số không, không đáng gì, đâu có
làm cho ông nghèo đi chút nào. Việc làm của ông chứng tỏ hùng hồn rằng :
bất cứ giá nào, ông cũng không để mất, dù một con. Một con đây cho giá
trị như 99 con. Ý nghĩa này nói lên tầm mức quan trọng và tự do sự trở
về của tội nhân : Quan trọng đến nỗi bất cứù giá nào, người tội lỗi đó
cũng phải được trở về, điều đó chứng tỏ lòng thương xót của Thiên Chúa
đối với tội nhân. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Còn một chi tiết làm cho chúng ta cảm động :”<i>vác con chiên
trên đôi vai</i>”, vì khi con chiên đi lang thang nhiều giờ hay nhiều
ngày xa đàn chiên, nó kiệt sức và nằm xuống. Thật ra phải vác nó lên
thôi. Và một con chiên nặng đấy ! Nhất là khi người chăn chiên cũng đã
chạy nhiều giờ trên những ngọn đồi đầy sỏi đá dưới ánh nắng mặt trời…
Chính người chăn chiên cũng rất mệt nhọc ! Nhưng, Đức Giêsu nói hoàn
toàn vui mừng, người đó quên đi sự mệt nhọc của mình, bế nó lên tay và
vác nó. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Chính Thiên Chúa giới thiệu với chúng ta như thế ! Vả lại hình
ảnh ấy không mới mẻ. Toàn thể Thánh Kinh đã thể hiện Thiên Chúa dưới
những đường nét của “người chăn chiên” (Is 40,11-49, 10 …(Quesson). </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
<b>b) Dụ ngôn đồng tiền bị mất. </b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Đức Giêsu lại tiếp nối tư tưởng bằng một dụ ngôn khác. Đồng
tiền nói ở đây là một đồng tiền nhỏ, dễ bị mất trong nhà dân quê xứ
Palestina, và có khi phải mất rất nhiều thì giờ mới tìm lại được. Nhà
của người Do thái thường tối om, vì chỉ có một cửa sổ tròn đường kính
khỏang 45 phân. Nền nhà thì bằng đất nện được phủ bằng những tấm liếp
sậy và cành cây khô. Tìm kiếm một đồng bạc trên một nền nhà như thế khác
nào tìm một cây kim trong đống rác. Nhưng người đàn bà quét đi quét lại,
tìm cho bằng được. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Một đồng bạc ở đây có giá trị tương đương với một ngày làm
công (Mt 20,2). Ở đây muốn nói lên sự mất mát dù chỉ có một đồng cũng là
điều quan trọng khiến cho chủ cũng phải tốn công tìm kiếm. Điều này
cũng muốn ám chỉ lòng thương yêu của Thiên Chúa không muốn để ai bị hư
đi, nhưng muốn cứu vớt mọi người.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Ngoài lý do vì nhu cầu cần tìm đồng tiền bị mất, lại còn có
một lý do khác thơ mộng hơn. Tại Palestina, dấu hiệu của người đàn bà có
chồng là một chiếc vành trên đầu làm bằng 10 đồng tiền nhỏ bằng bạc xâu
lại với nhau bằng một sợ dây bạc. Trong nhiều năm, một cô gái làm lụng
và để dành cho đủ 10 đồng tiền nhỏ đó. Bởi vì cái chuỗi trên đầu của
nàng cũng đáng giá gần bằng chiếc nhẫn cưới. Khi nàng đã sắm được nó thì
trở nên của riêng nàng, đặc biệt đến nỗi người khác không thể đoạt lấy
của nàng món nữ trang đó để trừ nợ. Có thể người đàn bà trong dụ ngôn đánh
mất một đồng bạc thuộc loại đó, và bà ta đã tìm kiếm nó như bất cứ người
nào khác cũng làm như thế khi đánh mất cái nhẫn cưới vậy. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Vì thế, chúng ta dễ hiểu nỗi vui mừng của người đàn bà khi tìm
lại được đồng bạc bị mất. Đức Giêsu cho biết : cũng thế, Thiên Chúa và
các thiên sứ vui mừng khi một người ăn năn trở về, như khi một gia đình
vui mừng tìm lại được đồng bạc quyết định cái no hay cái đói của họ, hay
cũng giống người đàn bà đánh mất một tài sản có giá trị hơn tiền bạc rồi
lại tìm lại được.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
<b>c) Dụ ngôn đứa con hoang đàng. </b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Niềm vui lạ lùng này được sáng tỏ hơn trong dụ ngôân đứa con
hoang đàng. Ông chủ chỉ có hai người con trai, tưởng rằng được sống bình
yên trong tuổi già với hai con. Nhưng người con thứ tính phóng khoáng,
thích tụ tập, muốn xin cha chia gia tài cho anh. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Theo luật Do thái, người cha không được chia gia tài tùy ý
mình thích, đứa con cả đương nhiên được hưởng 2/3, đứa con thứ được 1/3
gia tài (x. Đnl 21,17). Không phải là một việc lạ khi một người cha phân
chia gia tài ngay khi còn sống nếu ông muốn được nghỉ ngơi khỏi bận tâm
buôn bán làm ăn. Nhưng có một sự trơ tráo nơi đứa con thứ khi chính nó
đề xuất việc chia gia tài. Khi nó nói với cha nó :”Cha hãy cho tôi ngay
bây giờ phần gia tài mà trước sau gì tôi cũng lãnh được sau khi cha
chết, và hãy để tôi ra khỏi nhà này”. Người cha không tranh luận gì, ông
hiểu rằng nếu con ông cần một bài học thì nó sẽ có một bài học đắt giá,
và ông đã chia gia tài cho nó. Tức khắc đứa con lấy phần dành cho nó và
bỏ nhà ra đi. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Tuy nhiên, việc xin chia gia tài này có hợp lý không, thì
không rõ, chỉ biết rằng sau này chính người con thứ đã hối hận vì hành
động trên. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Đi xa nhà một thời gian, nó đã nhanh chóng xài hết tiền và kết
thúc bằng việc chăn heo, một công việc đáng nguyền rủa của người Do thái…
Trong cảnh khốn cùng, nó hồi tâm suy nghĩ lại và quyết định ra đi về với
cha nó mà chỉ xin được coi như kột đứa đầy tớ thôi, chứ không dám nhận
là con nữa. Nó trở về, cha nó chạy ra ôm chằm lấy mà hôn. Cha nó không
để nó kịp mở miệng xin làm đầy tớ, ông đã lên tiếng trước. Ông đã phục
hồi địa vị làm con cho nó bằng những cử chỉ đầy ý nghĩa : </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
<i>. Xỏ giầy vào chân cậu</i> : . Xỏ giầy vào chân chứng tỏ
ông đã tha thứ hoàn toàn cho cậu. Vào thời Kinh Thánh thuở xưa, mang
giầy là dấu chỉ của một người tự do, còn đám nô lệ thì đi chân trần. Xỏ
giầy vào đôi chân trần của cậu con tức là xóa đi dấu hiệu thằng con ấy
từng là nô lệ của một người nào đó, và đồng thời trả lại cho cậu ta dấu
chỉ cậu là đứa con trai trong gia đình. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
. <i>Trao nhẫn cho cậu</i>. Gắn nhẫn vào ngón tay cậu chứng
tỏ ông bố phục hồi trọn vẹn cho cậu tình trạng trước khi cậu bỏ nhà ra
đi. Đeo nó vào đồng nghĩa với được quyền hành xử như một thành viên
trong gia đình.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Và như thế, khi choàng tay ôm, xỏ giầy, đeo nhẫn cho đứa con
trai, người bố đã cho thấy ông hoàn toàn nồng nhiệt tiếp đón cậu ta, tha
thứ hoàn toàn và phục hồi cho cậu ta trọn vẹn tình trạng trước khi cậu
bỏ nhà ra đi. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm"><b>
Truyện : Vải trắng trên cây táo.</b> </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Richard Pindell có viết một chuyện ngắn nhan đề “Đứa con trai
của một người nào đó” (somebody’s son). Câu chuyện mở đầu với một cậu
bé tên là David bỏ nhà ra đi sống bụi đời. Vì khó quá, không chịu nổi,
cậu bèn viết một lá thư gửi về nhà cho mẹ bày tỏ niềm hy vọng được ông
bố cổ hủ tha thứ cho cậu và chấp nhận cậu làm con trở lại. Lá thư như
sau :”Mẹ kính mến, trong một vài ngày nữa con sẽ đi ngang qua nhà. Nếu
bố bằng lòng nhận con trở lại, thì mẹ yêu cầu bố cột một miếng vải trắng
lên cây táo hồng ở miếng đất cạnh nhà chúng ta. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Vài ngày sau, David lên xe lửa đi về. Trong lúc tầu hỏa lao
nhanh đến nhà thì hai hình ảnh cứ chớp lòe liên tục hiện ra trong trí
cậu ta. Khi thì trên cây có cột một miếng vải trắng, khi thì trên cây
chẳng có một miếng vải trắng nào. Xe lửa càng tiến gần nhà, trái tim
David càng đập nhanh hơn. Không bao lâu nữa cây táo sẽ hiện ra nơi khúc
quẹo, nhưng David không dám tự mình nhìn tới vì sợ nhỡ không có miếng
vải trắng cột ở đó. Thế là cậu quay sang người đàn ông bên cạnh ấp úng
nói :”Thưa ông, ông có thể làm ơn giúp cháu một việc không? Vào khúc
quẹo bên tay mặt, ông sẽ thấy một cái cây. Ông làm ơn cho cháu biết trên
cành cây có cột một miếng vải trắng không nhé”. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Khi chiếc xe lửa rầm rầm lướt qua cây táo, David nhìn chăm
chăm về phía trước. Đoạn run run giọng cậu hỏi người đàn ông :”Thưa ông,
có một miếng vải trắng treo ở một cây nào đó không”? Ông ta sửng sốt trả
lời :”Ồ, này cậu bé, cành cây nào ta cũng thấy có cột một miếng vải
trắng cả”(Mark Link). </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm"><b>
<i>II. THIÊN CHÚA THƯƠNG XÓT VÀ THA THỨ. </i></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
<b><i>1. <u>Tấm lòng của người Cha</u>.</i></b> </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Người cha trong dụ ngôn phải là một ông chủ giầu sang, đầy
quyền lực và oai nghi đúng với đặc điểm của một phú ông miền Đông phương.
Đứng trước sự ngông cuồng của người con thứ, người cha đã chia gia tài
cho các con không phải vì ông nhu nhược mà vì ông tôn trọng quyền tự do
của con. Ngày người con thứ ra đi cũng chính là ngày ông bắt đầu ngóng
chờ với niềm tin sẽ có ngày con ông trở về. Quả đúng như vậy. Mặc dù
tuổi già sức yếu, người cha vẫn nhìn ra người con từ rất xa. Có thể nói
chính ông đã phá tan dáng vẻ oai nghi đường bệ của một phú ông Đông
phương để hồ hởi chạy ra với người con tựa như trẻ thơ mong mẹ về. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Nỗi mừng vui cũng như hàng loạt mệnh lệnh dồn dập của người
cha làm cho chúng ta có cảm nghĩ hẳn ông đang chuẩn bị tiếp đón một nhân
vật quan trọng. Mà không quan trọng sao được khi ý nghĩa của những mệnh
lệnh trên hàm chứa một tình yêu vô bờ bến ông dành cho người con “phá
gia” trở về mà không một ngôn từ nào có thể diễn tả hết được. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm"> Chiếc
áo mới nhất mà ông mặc cho người con hẳn phải là chiếc áo dành cho ngày
Đại lễ. Bởi chỉ có ngày Đại lễ, dịp lễ hội, người ta mới mặc áo mới, mới
có dịp để chưng diện mà thôi. Chưa dừng lại ở đó. Chúng ta biết rằng đối
với người Do thái, chiếc nhẫn không chỉ là kỷ vật, là món đồ trang sức,
không chỉ là biểàu trưng của tình yêu mà nó còn là cái ấn đóng dấu nhằm
xác nhận tư cách của một người con và đồng thời cũng xác nhận tư cách
của một người được thừa hưởng quyền kế thừa tài sản. Như thế, bằng việc
xỏ nhẫn và xỏ dép vào tay chân của người con, người cha trong Tin mừng
đã xác nhập mối tương quan cha-con, đồng thời cũng xác nhập quyền thừa
kế và trả lại quyền tự do cho nó – điều mà người con thứ không bao giờ
nghĩ tới. Chưa hết, người cha còn ra lệnh giết bê đã vỗ béo để ăn mừng
cho sự trở về này. Như thế đã rõ, bê chỉ vỗ béo để chờ dịp Đại lễ. Ngày
người con trở về và người cha đã hạ bê béo để ăn mừng chẳng phải là dịp
Đại lễ mà từ lâu ông hằng ôm ấp mong chờ để có được ngày hôm nay sao ? </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm"><b>
Truyện : Thiền sư Sengai.</b> </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Có rất nhiều đệ tử đang tu luyện thiền học dưới sự hướng dẫn
của thiền sư Sengai. Trong số đó có một đệ tử thường hay thức dậy ban
đêm, lẻn trốn một mình trèo tường ra phố rong chơi dạo mát cho thỏa
thích. Và một đêm kia, thiền sư Sengai đi kiểm tra phòng ngủ các đệ tử,
thấy vắng mặt một người và cũng khám phá ra chiếc ghế đẩu mà anh ta
thường dùng để leo qua tường ra ngoài. Sau khi suy nghĩ, thiền sư Sengai
liền dời chiếc ghế đi chỗ khác và đứng thay vào chỗ đó. Một lát sau, anh
chàng ham rong chơi trở về không biết rằng thầy mình là chiếc ghế, cứ
thản nhiên đặt chân vào đầu thầy mình để nhảy xuống đất. Đúng lúc đó mới
khám ra sự thể động trời của mình, anh ta hoảng hốt sợ đến ngất xỉu.
Nhưng thiền sư Sengai nhỏ nhẹ bảo anh :”Sáng sớm trời lạnh lắm, con hãy
cẩn thận kẻ bị cảm đấy”. Và từ đó, người đệ tử hoang đàng ấy không bao
giờ dám ra ngoài chơi ban đêm nữa. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
<b><i>2. <u>Tình thương tha thứ của Thiên Chúa</u>. </i></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Thiên Chúa được Đức Giêsu mạc khải là một người Cha. Cha nào
mà chẳng thương yêu con bằng một tình thương tự nhiên, vô điều kiện,
nghĩa là bất chấp con cái tốt xấu, hay dở, có lợi hay gây hại cho mình,
bất chấp cả việc chúng đối xử với mình tệ bạc đến đâu. Tình thương đích
thực luôn luôn tự động biểu lộ thành hành động. Bản chất của tình thương
là như thế, nếu không như thế thì không phải là tình thương đích thực.
Tình thương không biểu lộ bằng hành động chỉ là tình thương ngoài môi
miệng (x. Gc 2,16.26). Và hai cách biểu lộ rõ rệt nhất của tình thương
là sự tha thứ vô điều kiện và sẵn sàng chấp nhận sự đau khổ hoặc chết
cho người mình yêu thương. Tình yêu của Thiên Chúa đối với con người đã
được biểu lộ qua hai cách ấy nơi con người Đức Kitô :”<i>Đức Kitô đã
chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là người tội lỗi. Đó là bằng
chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta”. </i></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Trở lại dụ ngôn đứa con hoang đàng, ta hỏi động lực nào đã làm
cho đứa con quay trở về nhà mình ? Chắc chắn không phải vì thương cha
mình, mà vì sự khốn khổ nó đang phải chịu do sự ngu xuẩn và bất hiếu của
nó. Tóm lại, nó về là vì nó thương bản thân nó hơn là thương cha. Chắc
chắn khi thấy nó trở về với “thân tàn ma dại”, cha nó biết nó về với
động lực gì. Nhưng đối với ông, điều đó không quan trọng. Điều quan
trọng là nó đã trở về, vì nó tưởng như “đã chết mà nay sống lại, đã mất
mà nay lại tìm thấy”. Động lực khiến người cha tha thứ và vui mừng đón
nhận nó trở về hoàn toàn vì yêu thương con, vì muốn cho nó hạnh phúc,
bất chấp quá khứ lầm lỗi của nó. Đó cũng chính là tâm tình của Thiên
Chúa đối với những người tội lỗi. Chỉ cần người tội lỗi quay trở về với
Chúa trong sự hối hậân về đời sống quá khứ của mình. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm"><b>
Truyện : Tình mẹ tha thứ.</b> </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Ở Batna, có một gia đình nằêm vào địa điểm hẻo lánh, gồm bà mẹ
với các con, mà thằng con lớn phản bội vô số kể, tên là Sidi Melkassen,
ưa a tùng với côn đồ du đãng, bị mẹ khiển trách hằng ngày. Mất tự do,
thằng đó bực tức, nhất định hai mẹ con không đội trời chung. Liền bắt mẹ
đem giam cầm vào một nhà cô tịch tăm tối. Lấy sợi xiềng xích lớn mà
xiềng hai chân mẹ nó lại, đoạn đục vách tường gắn móc khóa lại và giữ
chìa khóa trong túi. Đành lòng đóng cửa lại trước những tiếng kêu la,
khóc lóc, van nài của mẹ.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Trên ba năm trời tồi túng, nóng nực, lạnh lẽo. Không mền,
không chiếu, bữa đói bữa no, người mẹ than khóc đã khô nước mắt, kêu
không ai nghe, buồn không một lời an ủi.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Chiều nọ, một nàng dâu thảo giật được chìa khóa và mở cửa,
tháo xiềng giải thoát cho người mẹ vô phúc. Bà đi ra giữa thanh thiên
bạch nhật, không còn hình tượng người nữa, ai nấy đều thương hại. Việc
này thấu đến tai nhà chức trách, thằng con bất hiếu bị bắt và kêu án sáu
tháng tù ở. Ai nấy đều vỗ tay ca tụng công lý. Chỉ có bà mẹ quên tội của
con, cất tiếng lên vừa than khóc vừa xin tòa đừng tống giam con mình tội
nghiệp.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Ôâi, tình mẹ bao la ! </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
<b><i>3. <u>Có sự nghịch lý trong ba dụ ngôn chăng</u> ?</i></b> </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Bài Tin mừng hôm nay gồm tới 3 dụ ngôn. Dụ ngôn đầu xem ra
không hợp lý : ai lại bỏ 99 con chiên để đi tìm một con chiên lạc ? Dụ
ngôn thứ hai cũng chẳng có tính thuyết phục bao nhiêu : một đồng xu có
đáng là bao so với công sức mà người đàn bà kia bỏ ra để tìm lại nó ?
Nhưng rồi tất cả đều trở nên hợp lý khi ta đọc dụ ngôn thứ ba : Ý của
Chúa Giêsu không nhằm tới con chiên, cũng không nói tới tiền bạc mà nói
tới con người. Trước mặt Thiên Chúa, mỗi một con người đều có giá trị vô
cùng, bởi vì mỗi một con người, dù là tội lỗi, cũng đều là con của Ngài.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Tuy nhiên có mấy ai chia sẻ tâm ý của Chúa ? Những người biệt
phái và luật sĩ thấy Chúa Giêsu bỏ công lui tới với những người tội lỗi
thì họ cho là mất công vô ích nên xầm xì phản đối. Đối với họ, việc làm
của Chúa Giêsu là không đáng, bởi vì những kẻ tội lỗi là hạng đáng vất
đi. Nhưng đối với Chúa Giêsu, đó là những con người, những giá trị. Một
đồng xu qúi giá thế nào đối với người đàn bà nghèo khổ, một người con
quí giá thế nào đối với tấm lòng người cha, thì một người tội lỗi cũng
đáng giá thế ấy đối với tấm lòng của Thiên Chúa. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Thế còn việc bỏ 99 con chiên trong đàn để đi tìm con chiên lạc
thì sao ? Vì con chiên ấy cần được săn sóc hơn 99 con kia : nó cô đơn,
nó bơ vơ, nó đói khát hơn, nó bị nguy hiểm nhiều hơn. Vì thế nên người
mục tử nhân lành không thể ở yên mà chờ nó tìm được đường về, mà phải
đích thân ra đi tìm nó. Đức Giêsu đã làm như người mục tử ấy : Ngài
không chờ đợi kẻ tội lỗi đến với mình, nhưng được bước trước đến với họ.
Ngài kết thân với họ trong tình trạng của họ còn đang là tội nhân, còn
đang lầm lạc. Chính đó là cách đối xử khác những người biệt phái và luật
sĩ, và chính đó là lý do khiến họ xầm xì phản đối. Nhưng chính cái đối
xứ này đã hoán cải được một người biệt phái nổi tiếng là thánh Phaolô (Trích
Carôlô, Sợi chỉ đỏ A, tr 710-711). </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm"><b>
<i>III. CHÚNG TA CŨNG PHẢI CƯ XỬ NHƯ VẬY.</i></b> </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
<b><i>1. <u>Phải thay đổi cách cư xử</u>.</i></b> </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Giáo hội là Mẹ của chúng ta đã từng có cách cư xử như Đức
Giêsu, tạo điều kiện để lôi kéo những con chiên lạc đàn trở về với Chúa.
Chẳng hạn , Augustinô, một thanh niên đã từng sống trụy lạc, ăn chơi, và
có những đứa con rơi rớt không kém gì đứa con hoang đàng trong Tin mừng.
Thế mà khi trở về với Giáo hội, Giáo hội đã mở rộng vòng tay đón nhận.
Sự đón nhận trở nên hoàn toàn khi Giáo hội chấp nhận chàng vào tu viện,
và khi thấy chàng xứng đáng, đã phong chức Giám mục cho chàng. Nhờ sự
tha thứ quảnng đại ấy của Giáo hội, Augustinô đã trở nên một vị thánh.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Chúng ta cũng phải bắt chước Giáo hội mà phải thay đổi cách
nhận định và thái độ cư xử đối với tội nhân. Nghĩa là đừng quá quan
trọng hóa nết xấu, lỗi lầm của anh em, đừng nuôi lòng thích thú khi thấy
anh em sa ngã, lỡ lầm, đừng giả đò thương hại khi đưa lỗi lầm của anh em
ra bàn tán và đừng bao giờ tỏ vẻ khinh khi, ruồng bỏ anh em bằng lời ăn
tiếng nói, bằng cử chỉ ánh mắt, nhưng hãy bắt chước Chúa biết thông cảm
với nỗi khổ tâm của anh em, biết thao thức lo lắng giúp anh em sửa mình,
biết tôn trọng, bênh vực anh em, biết cầu nguyện cho anh em. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
<b><i>2. <u>Ý thức mình cũng là tội nhân được tha thứ</u>. </i></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Có những con chiên xa đàn lạc lối, nhưng cũng có những con
đang sống trong đàn mà chẳng phải là chiên. Có đứa con bỏ nhà xa cha,
nhưng cũng có đứa con tuy sống gần cha mà lòng dường như đi hoang từ lâu.
Nó coi cha không khác gì ông chủ hà khắc keo kiệt, chẳng hề bố thí cho
một con bê để vui vầy với chúng bạn. Như vậy, có thứ lạc đàn thể lý và
cũng có thứ lạc đàn tâm linh. Có những người không đi nhà thờ vì lòng họ
xa Chúa, song cũng có những người không bỏ nhà thờ nhưng lòng họ chẳng
gần Chúa hơn được bao nhiêu. Có lẽ vì tâm trí họ đang đi lạc trong khu
rừng có nhiều tiếng ca của danh vọng, hương sắc của đồng tiền, hung khí
của hận thù, giọng ríu tít đầy lôi cuốn của xác thịt. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Vậy chúng ta có phải là con chiên đích thực không hay chỉ là
hữu danh vô thực ? Chắc chắên không ai trong chúng ta dám xưng mình là
người công chính như luật sĩ và biệt phái, chúng ta vẫn xưng mình là kẻ
có tộâi, và nếu đã biết mình có tội thì phải có lối cư xử với người khác
bằng tình thương yêu. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Nếu Thiên Chúa tỏ lòng nhân hậu và tha thứ cho chúng ta, thì
Ngài muốn chúng ta cũng hãy tha thứ cho nhau như người cha nhân hậu xin
ông anh cả tha thứ cho đứa em lỗi lầm. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
Người ta chỉ có thể dễ dàng tha thứ cho kẻ khác khi ý thức
thân phận mỏng dòn yếu đuối của mình. Có nhận ra mình hay lầm lỗi, con
người mới dễ cảm thông tha thứ cho những lỗi lầm của anh em. Đừng bắt
người có tội phải bị trừng phạt mới hả dạ. Đừng đòi hỏi cho được sự công
bằng mới thôi, vì <b>Martin Luther King</b> có viết :”<i>Nếu cứ áp dụng
luật “mắt đền mắt” thì mọi người trở nên mù lòa”.</i></td></tr><tr><td width="474" height="53"><p style="text-align: center"> <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a> <a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/suyniemINDEX.htmy"><img border="0" src="../../../../_Nam_A/2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a> </td></tr></table><p style="text-align: center"> </p>