File "04.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2025/Thuong-nien/CN XV TN C/04.htm
File size: 29.72 KiB (30434 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa-Nhật-XV-thường-niên-Năm-C</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Tội-thờ-ơ; Yêu-rồi-làm; Hãy-yêu-thương; Anh-em-tôi; Người-thân-cận; Làm-như-vậy; Samaria-tốt-lành; Yêu-tha-nhân; tình-yêu-hạnh-phúc"><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
	{color:blue;
	text-decoration:underline;
	text-underline:single;
	text-decoration:none underline;
	text-line-through:none;
	vertical-align:baseline}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa-Nhật-XV-thường-niên-Năm-C">
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460">
	<font size="2" color="#FF0000">Chúa Nhật XV thường niên&nbsp; - Năm C</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
		AI LÀ NGƯỜI THÂN CẬN CỦA TÔI?</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
		<h1 style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-bottom: .0001pt; text-align:right">
		<span style="font-weight: 400"><i><a name="_Toc361119316">
		<span style="font-size: 8pt">Lm Vũ Phan Long</span></a><span style="font-size: 8pt">
		</span></i></span></h1>
		</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Trong lãnh vực yêu thương người thân cận, 
		người ta không được nghĩ từ bản thân, nhưng phải khởi đi từ nhu cầu thực 
		tế của bất cứ người nào ta gặp trên đường ta đi.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<b><span style="font-size: 14.0pt">1. NGỮ CẢNH</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Đức Giêsu vừa mới đặt đối lập các môn đệ 
		như là “những người bé mọn” với “các bậc khôn ngoan thông thái” (10,21); 
		Người tuyên bố rằng các môn đệ có phúc vì được thấy được nghe nhiều điều 
		mà các ngôn sứ và vua chúa không được (10,23-24). Nay tác giả Lc tiếp 
		tục phần tường thuật hành trình lên Giêrusalem bằng cách giới thiệu một 
		trong các vị thông thái để ông này hỏi Đức Giêsu và trắc nghiệm giáo 
		huấn của Người (10,25-28). Mối phúc được công bố trên các môn đệ nay 
		được nối tiếp bằng một đoạn văn mang tính khuyến thiện nói về sự sống 
		đời đời và tình yêu đối với Thiên Chúa và người thân cận. Sau đó, do vị 
		thông luật còn cật vấn, Đức Giêsu đã kể Dụ ngôn người Samari nhân hậu 
		(10,29-37) để minh <a name="VNS0018">hoạ</a> đòi hỏi của tình yêu.
		</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<b><span style="font-size: 14.0pt">2. BỐ CỤC</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Bản văn có thể chia thành hai phần chính:</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">1) Điều kiện để được sống đời đời 
		(10,25-28):- Người thông luật đặt câu hỏi (c. 25),</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">- Đức Giêsu trả lời bằng câu hỏi (c.26),</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">- Người thông luật trả lời bằng cách 
		trích Kinh Thánh (c. 27),</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">- Đức Giêsu xác nhận (c. 28);</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">2) Dụ ngôn người Samari nhân hậu 
		(10,29-37):</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">- Người thông luật cật vấn (c. 29),</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">- Đức Giêsu kể dụ ngôn để đưa tới câu 
		hỏi (cc. 30-36),</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">- Người thông luật trả lời (c. 37a),</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">- Đức Giêsu xác nhận (c. 37b).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<b><span style="font-size: 14.0pt">3. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">- Thử (25): Động từ ekpeirazein, “test”, 
		để diễn tả một thái độ thù nghịch. Chính câu hỏi về người thân cận mới 
		là cái bẫy giăng ra cho Đức Giêsu. </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">- Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên 
		Chúa của ngươi (27): Trước tiên, vị thông luật trích Đnl 6,5 theo bản 
		LXX. Đây là phần mở đầu của kinh Shema, tức là lời tuyên xưng đức tin mà 
		người Do Thái đọc mỗi ngày hai lần. </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Các phương diện của con người được nói 
		đến ở đây phải được hiểu theo nghĩa Cựu Ước: kardia, “tim, lòng”, là 
		những phản ứng cảm xúc nhanh nhạy của con người; psychê, “linh hồn”, là 
		sinh lực và khả năng nhận thức; ischys, “sức lực”, là chiều hướng bản 
		năng, và dianoia, “trí khôn”, là khả năng trí tuệ và lên kế hoạch. Tổng 
		hợp lại, các phương diện này muốn diễn tả toàn thể con người. </span>
		</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">- yêu mến người thân cận như chính mình 
		(27): Câu đáp thứ hai này trích Lv 19,18b (vẫn theo bản LXX), nhưng nối 
		với câu trước như một đơn vị duy nhất. Không có chỗ nào trong Cựu Ước 
		liên kết hai điều này với nhau cả. Chính Đức Giêsu đã xác nhận cách làm 
		này, và như thế Người đã đơn giản <a name="VNS0019">hoá</a> mà cũng là 
		đào sâu 613 qui định của Lề Luật. </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Trong sách Lêvi, “người thân cận” ở thế 
		song đối với “những con cái của dân ngươi”, nghĩa là người Ít-ra-en. Ở 
		Lv 19,34, tình yêu có mở rộng đến cả “ngoại kiều” (gêr) trong xứ (x. Đnl 
		19,10), nhưng không mở ra với những người khác, chẳng hạn các gôyým, 
		“các dân [ngoại]”.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">- Cứ làm như vậy là sẽ được sống (28): 
		nghĩa là được sống đời đời. Chỉ người nào đưa điều răn yêu thương ra 
		thực hành thì mới đạt được sự sống. Động từ zêsê (“anh sẽ được sống”) 
		rất có thể gợi đến Lv 18,5 là câu có lời hứa ban sự sống cho ai vâng 
		phục các quy tắc và quyết định của Đức Chúa. Như thế, những lời Đức 
		Giêsu nói đã thêm vào một lời khuyên cho lệnh truyền của Lề Luật vì lệnh 
		truyền này vẫn còn có tính lý thuyết. Và đây chính là bài giáo lý tác 
		giả Lc nhắm gửi đến cho độc giả Kitô hữu. </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">- từ Giêrusalem xuống Giêrikhô (30): 
		Theo sử gia Gioxép (J.W. 4.8,3 § 474), còn đường này dài khoảng 150 
		stadia (khoảng mười tám dặm, một dặm [stadion] dài khoảng 185m) đi qua 
		vùng “sa mạc và lởm chởm đá”. Giêrikhô, “thành phố chà là” (2 Sb 28,15), 
		nằm kề ranh giới miền Pêrê, dọc theo một tuyến đường giao thông quan 
		trọng, là một điểm chiến lược mà đế quốc Rôma quan tâm trong việc cai 
		trị Giuđê. Tại đây người ta dễ gặp các nhân viên của đế quốc
		<a name="VNS001A">hoặc</a> các sĩ quan, binh lính Rôma. Thành này không 
		phải là Giêrikhô thời Cựu Ước (= Tell es-Sultan), mà là thành được 
		Hêrôđê Cả thiết lập khoảng một dặm rưỡi về phía nam trên bờ tây của cánh 
		đồng Giođan.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">- một thầy tư tế (31): Rất có thể thầy 
		đã xong thời gian phục dịch tại Đền Thờ Giêrusalem, nay đang đi về nhà. 
		Truyền thống kinh sư sau này cho biết Giêrikhô là nơi có một số tư tế cư 
		ngụ.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">- một thầy Lêvi (32): Tên này lúc đầu
		<a name="VNS001B">chỉ</a> một thành viên của chi họ Lêvi, tức một con 
		cháu của người con thứ ba của Giacóp (St 29,34). Trong Cựu Ước, danh 
		hiệu “thầy Lêvi” thường được dùng để gọi những người không thuộc dòng 
		dõi Aharon, nhưng được giao cho làm những việc lặt vặt liên hệ đến việc 
		phụng tự và các nghi thức ở Đền Thờ. </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">- người Samari (33; x. 9,52): tức dân cư 
		Samari. Samari là kinh đô của vương quốc phía Bắc do vua Omri sáng lập 
		vào khoảng năm 870 tr CG. Sau này, tên gọi “người Samari” (hl. 
		Samaritês) trở thành một tên gọi mang tính chủng tộc và tôn giáo để chỉ 
		những người cư ngụ trong miền đất giữa Giuđê và Galilê, về phía tây sông 
		Giođan. Sự đoạn tuyệt giữa người Samari và người Do Thái được giải thích 
		khác nhau <a name="VNS001C">tuỳ</a> mỗi bên. Thường người ta cho rằng có 
		sự chia lìa đó là do có việc đế quốc Átsua đưa người Do Thái đi lưu đày 
		sau khi chiếm được đất nước năm 722 tr CG và đưa những người không phải 
		là Do Thái vào làm thực dân ở trong miền đó (2 V 17,24). Có lẽ cũng do 
		đó mà sau này những người ở lại quê nhà <a name="VNS001D">đả phá</a> 
		những người Do Thái hồi hương khi những người này xây lại thành và Đền 
		Thờ Giêrusalem (x. Er 4,2-24; Nkm 2,19; 4,2-9). Dù thế nào, những người 
		Samari chỉ chấp nhận Bộ Ngũ Thư là Kinh Thánh <a name="VNS001E">và đã</a> 
		xây một đền thờ trên núi Garidim (Tell er-Râs) vào thời Hy-lạp (đền này 
		đã bị phá <a name="VNS001F">huỷ</a> dưới thời Gioan Hiếccanô, khoảng năm 
		128 tr CG). </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">- chạnh lòng thương (33): Động từ 
		splanchnizesthai có nghĩa là “đau lòng, lòng quặn thắt”. </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<b><span style="font-size: 14.0pt">4. Ý NGHĨA CỦA BẢN VĂN</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<b><i><span style="font-size: 14.0pt">* Điều kiện để được sống đời đời 
		(25-28)</span></i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Chuyện xảy ra khi một vị thông luật hỏi 
		Đức Giêsu: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia 
		nghiệp?”. Ông quan tâm đến sự sống đời đời. Ông xác tín rằng ông phải 
		làm điều gì đó để có sự sống này, chứ sự sống đời đời không từ trời rơi 
		xuống. Câu hỏi này đi xa hơn những mối bận tâm và lợi lộc hằng ngày. Câu 
		hỏi này giả thiết là mọi sự không chấm dứt với cái chết, nhưng có một sự 
		sống đời đời, không hề mai một, một sự sống vượt thắng cái chết. Với mối 
		bận tâm có ý thức và với tinh thần trách nhiệm, vị thông luật hỏi: “Tôi 
		phải làm gì để cuộc sống bên kia cái chết không trở thành cho tôi một 
		hoàn cảnh bị phạt, nhưng là một sự sống vĩnh cửu đầy niềm vui?”.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Giống như Đức Giêsu, vị thông luật cũng 
		đi từ tiền giả định là có một sự sống đời đời. Ông hoàn toàn đồng ý là 
		để đạt được sự sống ấy, dứt khoát phải yêu mến Thiên Chúa và người thân 
		cận trong cuộc sống hiện tại. Đức Giêsu đã đánh giá là ông trả lời đúng 
		và đề nghị cứ làm như thế. </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<b><i><span style="font-size: 14.0pt">* Dụ ngôn người Samari nhân hậu 
		(29-37)</span></i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Cảm thấy bị nhục vì phải tự tìm câu trả 
		lời, vị thông luật chuyển sang bình diện suy lý: “Ai là người thân cận 
		của tôi? Ai thuộc về khối những người mà tôi phải yêu thương như chính 
		mình tôi?”. Dường như ông xác tín rằng phải có những giới hạn trong số 
		những người mà ông phải yêu thương. Đối với người Do Thái, chỉ người 
		đồng hương mới được coi như là người thân cận, và người ta mới phải yêu 
		thương và giúp đỡ. Vẫn tỏ ra mình làm chủ cuộc tranh luận, Đức Giêsu coi 
		câu hỏi của vị thông luật là quan trọng, và vì nhắm phục vụ công cuộc 
		cứu độ các linh hồn, Người trả lời bằng dụ ngôn “Người Samari nhân hậu”.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Con đường đi từ Giêrusalem xuống 
		Giêrikhô băng qua sa mạc. Cho đến cuối thế kỷ XX, đây là một con đường 
		không an toàn, thường xuyên bị các đám cướp tấn công. Một người vô danh, 
		không rõ địa vị, nòi giống, quốc tịch và tôn giáo, đã rơi vào tay bọn 
		cướp. Ông bị đánh nhừ tử, rồi bị bỏ mặc bên vệ đường giở sống giở chết: 
		đây là một tình cảnh hết sức quẫn bách. Nói rằng một con người ở trong 
		tình cảnh ấy cần được giúp đỡ, và ai giúp đỡ người ấy là thân cận của 
		người ấy, điều này thật rõ ràng trước mắt mọi người. Thầy tư tế và thầy 
		Lêvi đã thấy con người nằm đó dở sống dở chết, nhưng đã sang bên kia 
		đường mà tiếp tục bước đi. Sự bận tâm đến sự an toàn và sự tiện nghi thì 
		mạnh hơn lòng đồng cảm đối với người bị nạn. Lối xử sự của người Samari 
		khác hẳn. Ông hành động cách gương mẫu, ông đẩy mọi sự khác vào bình 
		diện thứ hai và chỉ còn thấy tình trạng cần kíp của con người đang nằm 
		trên đường dở sống dở chết. Ông đau lòng trước tình cảnh đáng thương, 
		ông tìm mọi cách để kéo anh ta ra khỏi tình trạng nguy kịch càng nhanh 
		càng tốt. Ông đã tận dụng tất cả những gì ông có để cứu giúp người bị 
		nạn (dầu, rượu, con lừa, bạc).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Đức Giêsu đã cố tình chọn một người 
		Samari làm kiểu mẫu. Hạng người lạc đạo ấy, không <a name="VNS0020">hề 
		có</a> kiến thức của nhà luật học, cũng không có phẩm cách của vị tư tế 
		hay thầy Lêvi, lại tỏ ra hết sức nhân ái và đạo đức. Ông đã thực hành 
		hai điều răn lớn của Cựu Ước về <a name="VNS0021">đức</a> mến. Do đó, 
		chính ông mới đáng được gọi là người Ít-ra-en chân chính.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Đức Giêsu cho thấy rằng trong vấn đề yêu 
		thương, không thể vạch ra một giới hạn chính xác. Người không nêu ra 
		những tiêu chí, xác định một con số giới hạn gồm những kẻ mà ta phải yêu 
		thương. Như trong những trường hợp khác, Người thay đổi hướng nhìn, mở 
		rộng chân trời. Vị thông luật hỏi: “Ai là người thân cận của tôi, kẻ mà 
		tôi phải yêu thương?”. Đức Giêsu đảo ngược câu hỏi: “Ai đã tỏ ra là [ai 
		đã trở thành] người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?”. Như 
		thế, Người đã thay đổi tầm nhìn. Dụ ngôn và câu hỏi cuối cùng của Đức 
		Giêsu hoàn toàn trả lời cho câu hỏi đầu tiên của vị thông luật: “Thưa 
		Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” (c. 25).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<b><span style="font-size: 14.0pt">+ Kết luận</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Trong lãnh vực yêu thương người thân 
		cận, người ta không được nghĩ từ bản thân, nhưng phải khởi đi từ nhu cầu 
		thực tế của bất cứ người nào ta gặp trên đường ta đi. Chỉ khi đó, đời 
		sống ta mới trở thành con đường đưa tới cuộc sống vĩnh cửu. Vị thông 
		luật tưởng có thể giữ cuộc tranh luận trên bình diện lý thuyết, nào ngờ 
		Đức Giêsu đã đưa được ông về bình diện những thực tại sống động và đặt 
		ông trước một chọn lựa: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy” (c. 37).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<b><span style="font-size: 14.0pt">5. GỢI Ý SUY NIỆM</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">1. Có một thái độ ngược lại với thái độ 
		của vị thông luật: “Tôi chẳng hề quan tâm tìm biết là sau cái chết, sự 
		sống có tiếp tục chăng và chuyện này xảy ra như thế nào. Tôi đang có khá 
		nhiều chuyện bận bịu với cuộc sống hiện tại rồi, nên không muốn nặng 
		lòng với những mối bận tâm về sự sống đời đời. Đàng khác, người ta không 
		biết được gì chắc chắn. Tôi tìm cách <a name="VNS0022">thoả</a> mãn các 
		nỗi niềm chờ mong của tôi trong đời sống hiện tại, chứ không quan tâm 
		đến một sự sống đời đời có thể có”. Một thái độ như thế đã bị Đức Giêsu 
		đánh giá là “ngu” (Lc 12,13-21). Người ta không thể giải quyết một câu 
		hỏi bằng cách nhắm mắt lại và không muốn chấp nhận nó. Người ta tránh 
		trả lời một cách có trách nhiệm câu hỏi về sự sống đời đời, bằng cách 
		nói rằng người ta không muốn dính dáng gì đến nó. Ngược lại đối với Đức 
		Giêsu, sự sống đời đời là một thực tại quyết định. Bởi vì nếu không có 
		sự sống đời đời, nếu không có trách nhiệm trước Thiên Chúa hằng sống, 
		thì rốt cuộc người ta xử sự thế nào trên con đường đưa tới Giêrikhô cũng 
		chẳng quan trọng gì. Chẳng bao lâu người ta sẽ quên đi mọi sự. Sẽ chẳng 
		có ai cật vấn tôi và tôi sẽ chẳng phải trả lẽ với ai cả. Nhưng trách 
		nhiệm trước mặt Thiên Chúa không phải là chuyện xa lạ với thế giới; 
		trách nhiệm này đưa tới trung tâm của đời sống hiện tại của chúng ta và 
		qui định hình thức của đời sống này. Nó qui định điều gì là đúng và điều 
		gì là sai trên đường đưa tới Giêrikhô. Không có trách nhiệm này, chỉ còn 
		một vấn đề duy nhất là làm thế nào sống càng lâu càng tốt và sống càng 
		thoải mái càng tốt.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">2. Ta không thể nói: “Người thân cận của 
		tôi có thể còn là người bà con đời thứ ba; người cư ngụ cùng đường phố 
		với tôi; người cùng làm việc trong một xí nghiệp với tôi; người có thiện 
		cảm với tôi, v.v.”. Đức Giêsu không chấp nhận những giới hạn cho tình 
		yêu thương đối với người khác. Tôi không được suy nghĩ khởi đi từ chính 
		bản thân: “Tôi còn buộc phải làm cho ai điều gì? Tôi [còn] phải giúp đỡ 
		ai? Kể từ điểm đó, chuyện ấy không còn dính dáng đến tôi nữa?”. Không 
		phải là bậc họ hàng hoặc mối thiện cảm sẽ qui định ai là người thân cận 
		của tôi, nhưng là tình trạng cần được giúp đỡ thực sự trong đó người kia 
		đang lâm vào. Bất cứ ai xuất hiện trên đường tôi đi, mà đang ở trong 
		tình trạng quẫn bách, đều là người thân cận mà tôi phải yêu thương và 
		giúp đỡ. </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">3. Muốn thực sự giúp đỡ người lâm nạn, 
		người ta phải dấn thân vào trọn vẹn. Việc ấy có thể làm cho ta phải mất 
		thì giờ, tốn phí tiền bạc, gây phiền toái, làm xáo trộn sự yên tĩnh cũng 
		như chương trình, thậm chí có thể kèm theo một nguy hiểm cho mình nữa. 
		Nhưng đấy chính là thực sự yêu thương người thân cận, một tình yêu đưa 
		đến sự sống đời đời. Như thế, phải luôn mở mắt và có trái tim sẵn sàng 
		để nhận ra được rằng ai đang thật sự cần được tôi giúp đỡ và tôi phải 
		giúp đỡ người ấy thế nào. Hôm nay trên đường đời, vẫn còn có vô số “kẻ 
		cướp”, nên sẽ còn vô số người rơi vào tay “kẻ cướp”, nằm trên đường ta 
		đi, và chờ đợi ta trợ giúp.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">4. Câu hỏi về sự sống đời đời đưa thẳng 
		vào cuộc sống mỗi ngày của chúng ta. Chúng ta phải chịu trách nhiệm về 
		lộ trình chúng ta theo hằng ngày, sao cho lộ trình này trở thành hành 
		trình đưa chúng ta đến sự sống đời đời. Muốn thế, cần biết không vội 
		vàng lo cho bản thân và lo cho những dự phóng riêng tư, nhưng biết dừng 
		lại để mau mắn giúp đỡ những ai ở bên vệ đường đang cần được cứu giúp.
		</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">5. Đức mến phải phát xuất từ lòng của 
		từng con người, phải thiết thực và hữu hiệu. Người Samari đã dừng lại, 
		băng bó vết thương, thanh toán mọi chi phí cho chủ quán. Ông không cần 
		tìm hiểu xem đây phải chăng là một người Do Thái, tức một kẻ thù không 
		đội trời chung. Ông chỉ cần biết đây là một người đáng thương cần được 
		cứu giúp, và ông đã cứu giúp.</span></td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/suyniemINDEX.htmy"><img border="0" src="../../../../_Nam_A/2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">&nbsp;</p>

PHP File Manager