File "17.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2024/Mua-Thuong-Nien/CN XXVIII TN/17.htm
File size: 20.52 KiB (21010 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật XXVIII - Thường Niên - Năm B</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật XXVIII - Thường Niên - Năm B; Được gấp trăm; Nghịch cảnh: Hai kho tàng; Vào nước trời; Chúa nhìn chàng; giàu có; Tiền của; Lòng ngươi ở đó;"><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
	{color:blue;
	text-decoration:underline;
	text-underline:single;
	text-decoration:none underline;
	text-line-through:none;
	vertical-align:baseline}
span.apple-converted-space
	{}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật XXVIII - Thường Niên - Năm B"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">
	Chúa Nhật XXVIII - Thường Niên - Năm B</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
		<b>
		KÊU GỌI NGƯỜI ĐÀN ÔNG GIÀU CÓ</b></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
		<a name="_Toc337323090">
		<span style="font-size: 8pt; font-style:italic; font-weight:400">Chú giải mục vụ của Jacques Hervieux</span></a></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Một khung cảnh khá thi vị đã đưa đoạn 
		Phúc Âm mới mẻ này vào mục bàn về cách thức để trở nên môn đệ CHúa 
		Giêsu. Một người đàn ông chợt xuất hiện cản lối Chúa Giêsu (c.17a). như 
		ta sẽ thấy, người Do Thái này biểu lộ lòng kính trong hiếm có đối với 
		Chúa. Cử chỉ quỳ gối của anh ta nằm trong nghi thức phụng vụ (chúng ta 
		đã thấy cử chỉ này nơi người phong hủi: 1,40). Con người vô danh nọ khen 
		tặng Chúa Giêsu bằng cách gọi Ngài là “Thầy nhân hậu” (c.17b). Tuy 
		nhiên, Chúa Giêsu thoái thác lời ca tụng này. Ngài tuyên bố: “Không có 
		ai nhân hậu cả trừ mình Thiên Chúa” (c.18). Hẳn người ta ngạc nhiên về 
		lối đối đáp này. Đứng trước kẻ lạ mặt tượng trưng cho “dân Chúa chọn” 
		trước hết Chúa Giêsu muốn tái xác định điều cốt lõi trong đức tin Do 
		Thái. Chỉ mỗi Thiên Chúa, trong sự siêu vượt tuyệt đối của Ngài mới thủ 
		đắc: “Sự nhân hậu”. Sau khi tán dương Chúa Giêsu người nọ liền đưa ra 
		một câu hỏi thích đáng: “Tôi phải làm gì để được sống đời đời?” (c.17c). 
		Lo tìm hạnh phúc tương lai là điều đáng khái niệm nơi những người Do 
		Thái đạo đức, dẫn đầu là đám biệt phái. Chắc hẳn Chúa Giêsu tán đồng câu 
		hỏi này. Và rồi như bất cứ vị giáo sĩ đương thời nào Chúa Giêsu bắt đầu 
		nêu lên rõ ràng những gì theo truyền thống Do Thái cũng như tư tưởng 
		riêng cá nhân Ngài cho là cốt lõi của luật Môsê. Với tư cách sành sỏi lề 
		luật, trước hết Chúa Giêsu trưng dẫn cho anh ta những đoạn rút từ Mười 
		giới luật (Xh 20,1-17) tức những giới luật Chúa truyền dạy liên quan đến 
		tình yêu đồng loại. Câu “chớ làm hại ai” được thêm vào bản văn Kinh 
		Thánh nhưng tóm tắt được tinh thần toàn bộ văn bản.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Như thế trước con mắt Chúa Giêsu, thực 
		thi giới luật của Chúa là con đường bình thường và đầy đủ để đạt đến 
		“cuộc sống đời đời”. Là người thân thiết với bộ luật Torah, anh nọ liền 
		mau mắn trả lời với Chúa Giêsu anh đã “giữ” tất cả các giới luật này từ 
		thời niên thiếu (c.20). Điều ấy chứng tỏ sự ngay thẳng và ngoan đạo của 
		người Do Thái này. Chúa Giêsu lấy làm phấn khởi, và Maccô thích thú ghi 
		nhận điều đó (c.21a). Nơi tác giả Phúc Âm này, cái nhìn của Chúa Giêsu 
		luôn chứa đựng một điều gì đó khó quên được. Đa số thường là cái nhìn 
		giận dữ (3,5; 10,14) hoặc dò xét (3,34; 5,32; 10,23); thế mà ở đây lại 
		là cái nhìn đầy trìu mến, quý chuộng sâu xa. Thành ngữ kế tiếp: “Ngài 
		đem lòng yêu mến” diễn ta một sự phong phú bất ngờ. Trong Cựu ước, tình 
		yêu Thiên Chúa đã khiến Ngài chọn Israel làm dân riêng Ngài (x.Đnl 
		7,7-8). Cũng chính tình yêu Thiên Chúa thôi thúc Chúa Giêsu chọn lựa 
		người Do Thái tín trung này. Sự chọn lựa được biểu lộ bằng một lời kêu 
		gọi có tính cách đòi hỏi khác thường (c.21b).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Lời kêu gọi ấy đã nhận được một âm hưởng 
		sâu xa trong Giáo Hội. Trong Giáo Hội sơ khai một trong những dấu chỉ 
		của sự “hoán cải về với Chúa Kitô” và thuộc về cộng đồng Kitô hữu chính 
		là sự chia sẻ của cải để phục vụ những kẻ nghèo khó nhất (Cv 2,44; 
		4,32-35). Tuy nhiên, ở đây trước hết phải nhớ rằng lời kêu gọi của Chúa 
		Giêsu đang ngỏ với một trường hợp riêng biệt, tức ngỏ với người đàn ông 
		đang đứng trước mặt Ngài. Ngài yêu cầu anh ta bỏ tất cả mọi sự để theo 
		Ngài. Đây là lời yêu cầu không phải được nói với tất cả mọi người. Vào 
		đầu Phúc Âm, người ta tìm thấy lời yêu cầu này khi Chúa kêu gọi bốn môn 
		đệ đầu tiên (1,16-20). Chỉ với một số người, chứ không phải với tất cả 
		mọi người, Chúa Giêsu đề nghị họ giải thoát mọi vướng bận để bước theo 
		Ngài. Trước hết, chính kiểu sống này đã được Chúa Giêsu chọn cho mình 
		trong khi thi hành sứ vụ: Ngài là một thừa sai lang thang, hy sinh tối 
		đa những điều kiện của một cuộc sống bình thường, chẳng hạn một mái ấm 
		gia đình và của cải. Hiện nay, Chúa Giêsu vẫn còn đưa ra lời kêu gọi 
		kiểu ấy. Tuy nhiên tất cả ý nghĩa lời mời gọi Ngài nói với người Do Thái 
		trung tín đang chất vấn Ngài hệ tại những từ ngữ này: “Hãy đến và theo 
		tôi” (c. 21d), nghĩa là hãy “đi xa hơn đức tin của cha ông anh” và hãy 
		khởi sự một hành vi hoàn toàn mới mẻ là trở nên “môn đệ của” Đấng Mêsia 
		là chính tôi đây (x.1,17; 2,l4). Sự vượt qua này quả không dễ dàng đúng 
		như sự từ chối của người nọ chứng tỏ (c.22) chỉ mãi đến lúc này chúng ta 
		mới biết được người ấy rất giàu và chính sự giàu có đã ngăn cản không 
		cho anh ta tích cực đáp lại tiếng gọi của Chúa Giêsu. Trong cuộc trò 
		chuyện tiếp theo sau đó với các môn đệ, Chúa Giêsu đã nhấn mạnh điều ấy: 
		Chiếm hữu của cải là một chướng ngại lớn lao ngăn cản người ta bước theo 
		Ngài, bởi vì điều này đòi hỏi sự siêu thoát tự nguyện (x.10,23-31). Ngay 
		lúc đó, chỉ cần người đàn ông được Chúa Giêsu ngỏ lời biết rằng sau khi 
		siêu thoát mọi của cải trần thế của mình, anh ta sẽ được “một kho tàng 
		trên trời” (c.21c)!</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Đoạn Phúc Âm này cho chúng ta tham dự 
		vào một ơn kêu gọi bất thành. Tuy nhiên vượt qua trường hợp cá biệt được 
		nêu ra đây, toàn thể truyền thống Phúc Âm đều xem đó là một “bài học 
		kiểu mẫu” (Mt 19,16-22 và Lc 18,18-23). Đằng sau khuôn mặt người Do Thái 
		tín trung với lề luật Môsê từ tấm bé diễn ra lịch sử dân tộc Israel, một 
		dân tộc lấy Thập giới làm quy luật sống để hướng tới “cuộc sống vĩnh 
		cửu” là kho tàng Thiên Chúa hứa cho dân Ngài. Còn ở đây Chúa Giêsu được 
		trình bày như là Đấng Mêsia đến để mặc khải một đòi hỏi cao hơn tôn giáo 
		của người Do Thái. Ngài đòi hỏi đám dân biết tuân giữ luật Thiên Chúa 
		một điều “cao hơn nữa” (x. “Anh chỉ còn thiếu có một điều...” (c.21a). 
		Tin Mừng Chúa Giêsu đề nghị là lời kêu gọi vượt cao hơn. Trung thành với 
		giới luật của Thiên Chúa thì chưa đủ, còn phải bước “theo” chính Đấng 
		Mêsia nữa. Điểm chính yếu trong trình thuật này không phải hệ tại việc 
		từ bỏ của cải mà hệ tại việc gắn bó với chính Chúa Giêsu; đức tin Kinh 
		Thánh vừa kiện toàn vừa hoàn tất đức tin Do Thái giáo. Chúng ta đừng 
		quên rằng câu chuyện người đàn ông giàu có này được kể lại ngay giữa 
		cuộc hành trình quyết liệt của Chúa Giêsu tiến về cuộc khổ nạn của Ngài 
		(từ 9,30-31). Không thể theo Chúa Giêsu, tức không thể trở thành Kitô 
		hữu, nếu không biết tự thoát.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">NƯỚC THIÊN CHÚA VÀ CỦA CẢI</span></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		(10, 23-31)</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Lời từ chối vừa rồi của người đàn ông 
		giàu có (10,17-22) là dịp để Chúa Giêsu giúp các môn đệ hiểu biết thêm. 
		Giữa Nước Thiên Chúa và của cải có sự tương hợp nào chăng? Một lần nữa 
		Chúa Giêsu đảo mắt nhìn các môn đệ (x. 3,34-35) điều này dự báo Ngài sắp 
		sửa đưa ra một lời dạy quan trọng (c.23a). Và đây là lời dạy đó: “ Những 
		người có của mà vào được trong Nước Thiên Chúa thật khó biết bao!” 
		(c.23b). Phản ứng của đám bạn hữu Chúa Giêsu cho thấy rõ tâm trí họ phản 
		đối không muốn tiếp nhận một sứ điệp như thế (c.24a). Chúa Giêsu buộc 
		phải nhấn mạnh lần nữa lời cảnh giác của Ngài (c24b). Và để minh họa rõ 
		sự khó khăn này, Ngài đã sử dụng một hình ảnh mà sau này đã trở nên phổ 
		biến: “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên 
		Chúa” (c.25). Ở đây rõ ràng Chúa Giêsu sử dụng phép khuyếch đại. Người 
		Đông phương rất thích dùng những kiểu nói khoa trương như thế để kích 
		thích sự chú ý. Và vào thời đó, hình ảnh con lạc đà chở nặng trên mình 
		diễn đạt tuyệt hảo hình ảnh người giàu bị vướng tay vướng chân vì của 
		cải.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Chúa Giêsu rất rành nghệ thuật kích 
		thích cho kẻ khác phải suy nghĩ. Các môn đệ cực kỳ chưng hửng đã đạt ra 
		cho Ngài câu hỏi sau: “Thế thì ai có thể được cứu?” (c.26). Ai cũng biết 
		Maccô thường có thói quen nêu bật “sự ngu muội” của các môn đệ trước lời 
		giảng dạy khó hiểu của Thầy mình. Lần này, họ cũng ráng hỏi xem cho biết 
		có kẻ nào, ở vào những điều kiện giàu có này, được cơ may cứu độ chăng. 
		“Chúa Giêsu nhìn họ (một lần nữa Ngài muốn khắc ghi vào đầu óc họ tư 
		tưởng của Ngài) và trả lời: “Đối với loài người thì không thể được nhưng 
		đối với Thiên Chúa thì không phải thế vì đối với Thiên Chúa mọi sự đều 
		có thể được” (c.27). Lời quả quyết này rất rõ ràng. Ơn cứu độ hoàn toàn 
		vượt qua những khả năng của loài người. Đó là một ơn nhưng không của 
		Thiên Chúa vì chỉ mình Thiên Chúa mới “có thể” cứu độ loài người.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Chắc chắn quan điểm này còn khiến các 
		môn đệ hoang mang hơn lời cảnh giác trước đó nữa. Bằng chứng là phản ứng 
		của Phêrô người đứng đầu trong nhóm họ (c. 28). Nhân danh nhom Mười Hai, 
		Phêrô thắc mắc muốn biết sự dấn thân của toàn nhóm họ theo Chúa Giêsu có 
		được thưởng gì không? Người ta còn nhớ rõ Maccô đã đánh giá cao việc các 
		môn đệ đầu tiên khi vừa nghe Chúa gọi đã bỏ gia đình và của cải để trở 
		thành môn đệ Ngài (1,16-20). Không lẽ lòng quảng đại lớn lao của họ lại 
		vô ích sao? Nếu đám người giàu có, mặc dù lắm của cải vẫn không thể vào 
		Nước Thiên Chúa thì đã dành, còn những kẻ từ bỏ cả những của cải hợp 
		pháp nhất liệu không có cơ may được vào nơi đó? Những kẻ từ khước các 
		người thân yêu và của cải quý giá để gắn bó với Chúa Giêsu thì chắc chắn 
		sẽ lãnh được một phần thưởng không nhỏ. Và lần này Chúa Giêsu lại dùng 
		phép khoa đại theo lối Đông phương. Họ sẽ nhận “gấp trăm”: trăm lần 
		nhiều hơn những gì họ đã từ khước.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Maccô rất ý thức rằng những gì ông viết 
		ra đây tác động mạnh đến tâm hồn các Kitô hữu Rôma của ông. Để hoán cải 
		về với Chúa Giêsu và Tin Mừng của Ngài (“vì Thầy và vì Tin Mừng”) một số 
		người trong họ đã phải chịu những chia lìa đớn đau với cha mẹ cũng như 
		phải từ bỏ quyền tài sản của mình. Phúc Âm gia nhấn mạnh: theo gương 
		Chúa Giêsu Đấng đã từng hứng chịu những sự chia lìa này, các Kitô hữu đã 
		tìm thấy được trong cộng đoàn Kitô hữu một gia đình mới và những của cải 
		mới (x, 3,31-35). Ngay từ bây giờ, Chúa Giêsu đã cho họ nếm được chút ít 
		hương vị của diễm phúc tương lai tức “cuộc sống vĩnh cửu”. Tuy nhiên 
		Maccô vẫn nhận thức rõ hiện trạng của các Kitô hữu này không phải là 
		không đen tối. Là người thực tế, Maccô đã chêm “những cuộc bách hại” vào 
		trong chuỗi “phần thưởng” được hứa hẹn! Ông đã đọc lại bằng những từ ngữ 
		tương tự những gì trước đó Chúa Giêsu đã tuyên bố: “Kẻ nào đánh mất mạng 
		sống vì Thầy và vì Phúc Âm thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (8,35). Đoạn 
		Phúc Âm này kết thúc bằng một câu nói mang dáng dấp ngạn ngữ: “Nhiều 
		người trước hết sẽ thành rốt hết, và những người rốt hết sẽ thành trước 
		hết” (c. 31). Câu này xem ra chẳng liên hệ gì đến những điều Chúa Giêsu 
		vừa mới nói về trở ngại của sự giàu có ngăn cản người ta vào Nước Trời. 
		Đây hẳn là một câu nói “trôi nổi” đâu đó của Chúa Giêsu mà các Phúc Âm 
		gia đã quên mất là Chúa đã nói câu ấy chính xác vào dịp nào. Mỗi người 
		tháp nhập câu nói ấy vào một mạch văn khác nhau (x. Mt 19,30 và 20,16). 
		Khởi đầu, câu ấy có thể nhắm đến việc thay đổi tình trạng. Những “kẻ 
		trước hết” tức những người Do Thái, thành viên của dân được Chúa chọn, 
		đã không đáp lại lời kêu gọi của Chúa Giêsu. Họ đã đánh mất đi hồng ân 
		được Chúa chọn. Còn “những kẻ rốt hết” tức đám dân ngoại thay thế chỗ 
		của dân Do Thái, đang ào ạt gia nhập Giáo Hội. Tuy nhiên ở đây đối với 
		Maccô, câu nói lẻ loi này mang một ý nghĩa khác, khá phù hợp với tình 
		cảnh hiện thời. Các Kitô hữu bị bách hại được xếp vào hạng người rốt hết 
		trong nhân lọai! Và họ được hứa hẹn sẽ hoàn toàn thoát ra khỏi tình cảnh 
		hiện tại của họ.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Toàn bộ những gì chúng ta vừa đọc nơi 
		Maccô (10,23-31) hầu như cũng thấy ghi lại trong Phúc Âm Matthêu 
		(19,23-30) và Phúc Âm Luca (18,18-30). Điều đó chứng tỏ đây là một giáo 
		lý rất lâu đời nói về “những cám dỗ của sự giàu có” rất dễ bóp nghẹt Lời 
		Chúa trong trái tim các tín hữu. Tư tưởng Chúa Giêsu khởi từ những của 
		cải vật chất (c. 23-27) để lan rộng đến những mối dây liên hệ gia đình 
		(c. 28-31). Chắc chắn tư tưởng này đáp ứng được những vấn đề đặt ra cho 
		Giáo Hội sơ khai một khi nó bành trướng đến những vùng dễ sống hơn. Cộng 
		đoàn Kitô giáo đầu tiên đã cố gắng nêu gương bằng cách phân chia của cải 
		chung với nhau đến nỗi ở đó không còn người nghèo nữa (x. Cv 4, 32-34).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Cùng đọc song song ba Phúc Âm Maccô, 
		Matthêu và Luca, chúng ta sẽ thấy các vấn đề liên quan đến “đời sống 
		cộng đoàn” đều được mỗi tác giả gom chung vào với nhau. Chính vì thế mà 
		trong ba Phúc Âm nhất lãm, các ý kiến sau đây về các vấn đề của Chúa 
		Giêsu được xếp chung theo cùng một trật tự – Vấn đề hôn nhân và ly dị 
		(Mc 10,1-12) – Trẻ em và những và những kẻ giống như chúng (Mc 10,13-16) 
		– Kêu gọi người đàn ông giàu có (Mc 10,17-22) – Nước Thiên Chúa và của 
		cải (Mc 10,23-31).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Khuôn khổ mà các chủ đề này được đề cập 
		đến thích hợp thật diệu kỳ với chúng ta. Đây là dịp Chúa Giêsu tiến về 
		Giêrusalem để Ngài cảm nhận ở đó sự từ bỏ chua cay nhất là tức là cái 
		chết. Giữa lần loan báo thứ hai về cuộc khổ nạn (9,30-31) và lần thứ ba 
		sắp xảy ra (10, 32-34), chủ đề “Con đường đạo” đương nhiên cho phép 
		chúng ta xem xét đến những điều kiện để theo Chúa Giêsu và để được vào 
		Nước Thiên Chúa: đó là sẵn sàng mở lòng tiếp nhận đồng thời sẵn lòng 
		siêu thoát mọi sự để theo Chúa.</span></td></tr><tr>
		<td width="474" height="56"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; 
		<a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://tinmung.net/"> 
		<img src="../CN%20XXIII%20TN/LOGOtinmung.gif" width="72" height="38"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<a style="text-decoration: none" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/suyniemINDEX3.htm"><img alt="" src="../CN%20XXIII%20TN/LOGOtinmung2.gif" width="78" height="38"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">
&nbsp;</p>

PHP File Manager