File "12.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2024/Mua-Chay/MC V/12.htm
File size: 30.14 KiB (30868 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật V Mùa Chay - Năm B</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật V Mùa Chay - Năm B; Hạt lúa mục nát; Hạt giống nảy mầm; trơ trọi; Tôi sẽ lôi kéo; Quy luật sự sống; Hạt lúa; Chết đi; Chết để sống: Cứu chuộc thế gian bằng tình yêu."><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
	{color:blue;
	text-decoration:underline;
	text-underline:single;
	text-decoration:none underline;
	text-line-through:none;
	vertical-align:baseline}
span.apple-converted-space
	{}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật V Mùa Chay - Năm B"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">
	Chúa Nhật V Mùa Chay - Năm B</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
		<b>
		ÁNH SÁNG CỦA THẬP GIÁ</b></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
		<a name="_Toc320039852">
		<span style="font-size: 8pt; font-style:italic; font-weight:400">Chú giải của Lm. Vũ Phan Long</span></a></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Đã đến “giờ”. “Giờ” này đánh dấu lúc 
		hoàn tất sứ mạng mạc khải và cứu độ, được Ngôi Lời làm người thực hiện.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">1.- Ngữ cảnh</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Câu truyện này nằm trong bối cảnh thời 
		gian và thần học là tuần lễ cuối cùng trong sứ vụ của Đức Giêsu, tuần lễ 
		Vượt Qua (x. Ga 12,1.12; 13,1; 18,28; 19,31) mà cuộc hy sinh của Đức 
		Kitô, là Con Chiên Vượt Qua, sẽ biến thành lễ Vượt Qua mới và vĩnh viễn 
		có sức giải phóng tất cả mọi người. Việc xức dầu ở Bêtania (12,1-11) 
		chính là mở đầu mang tính tiên tri. Hành vi của Maria, chị của Ladarô, 
		xức chân Đức Giêsu bằng dầu thơm cam tùng quý giá, đã loan báo việc mai 
		táng Người (12,7). Quả thật, người ta không xức dầu lên chân một người 
		sống như thế, mà thường xức cho một thi hài vào lúc làm nghi thức tắm 
		rửa. Ta ghi nhận rằng theo TM Mc (14,3-9), người phụ nữ chỉ đã xức dầu 
		lên đầu Đức Giêsu, và đấy là cử chỉ tiêu biểu trong việc xức dầu tấn 
		phong ai làm vua và tấn phong đấng Mêsia.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Hôm sau, khi Đức Giêsu vào Giêrusalem 
		(12,12-19), dân chúng đã tung hô Người như là “vua Israel”. Tác giả TM 
		IV coi việc dân chúng cầm nhành lá thiên tuế hoan hô reo hò như là mức 
		độ cuối cùng của sự sai lầm của dân chúng và Đức Giêsu im lặng để sửa 
		chữa những niềm hy vọng thiên sai lầm lạc. Người cỡi lên một con lừa nhỏ 
		vào lúc ấy – chứ không ngay từ đầu như trong các TMNL –, Đức Giêsu muốn 
		cho họ thấy là giống như ông hoàng khiêm tốn mà ngôn sứ Dacaria đã loan 
		báo (Dcr 9,9-10), Người hoàn toàn không có một mưu đồ chính trị nào. 
		Cuộc Vượt Qua sắp tới của Người, tức cuộc Thương Khó, cái Chết, cuộc 
		Phục Sinh, sẽ cho thấy rõ ràng kiểu “vinh quang” Người đang theo đuổi. 
		Chỉ sau kinh nghiệm này các môn đệ mới nắm được bản chất đích thực của 
		cuộc khải hoàn của Đức Giêsu (c. 16).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Đám đông thì vẫn không hiểu (cc. 17-18). 
		Nhưng những lời hoan hô của họ khiến người Pharisêu phải phản đối và 
		tranh luận với nhau: “Các ông thấy chưa: các ông chẳng làm nên trò trống 
		gì cả! Kìa thiên hạ theo ông ấy hết!” (c. 19b). Ở đây, tác giả TM IV vẫn 
		vận dụng khả năng khôi hài quen thuộc của ngài. Nỗi lo sợ của người 
		Pharisêu là thật hơn họ tưởng: cả người ngoại cũng đã xuất hiện (cc. 
		20-23).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Nhận định của người Pharisêu (c. 19b) 
		khiến ta nghĩ ngay đến nhận định của thượng tế Caipha: “Các ông cũng 
		chẳng nghĩ đến điều lợi cho các ông là: thà một người chết thay cho 
		dân…” (11,50). Chính ông này cũng đã nói tiên tri mà không biết: trong 
		tư cách là thượng tế, ông đã nói tiên tri là Đức Giêsu phải chết thay 
		cho dân, và không chỉ thay cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái 
		Thiên Chúa đang tản mác (11,52).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Sự kiện mấy người ngoại đến xin gặp Đức 
		Giêsu là một đỉnh cao trong cấu trúc văn chương và thần học của các ch. 
		11–12 của TM IV: kế hoạch cứu độ phổ quát, thậm chí ra ngoài biên giới 
		dân tộc Do Thái, đang bắt đầu được thực hiện, ít nhất ở dạng mầm mống. 
		Tất cả những điều đó chứng tỏ rõ ràng là giờ của cuộc Thương Khó đã được 
		loan báo, giờ đưa tới vinh quang.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">2.- Bố cục</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Bản văn có thể chia thành bốn phần:</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">1) Người Hy Lạp đến gặp (12,20-22);</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">2) Đức Giêsu công bố về Giờ và dạy về 
		thân phận của Người và của các môn đệ ([“Đã đến giờ”], 12,23-26);</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">3) Đức Giêsu trước cái chết (“bây giờ”, 
		12,27-30);</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">4) Giá trị của cái chết của Đức Giêsu 
		(“bây giờ”, 12,31-33).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">3.- Vài điểm chú giải</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">- mấy người Hy Lạp</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		(20): Những lời mỉa mai ở c. 19 được ứng nghiệm tức khắc. Đây không phải 
		là những người Do Thái Hải ngoại (diaspora; x. Ga 7,35), đã di cư ra 
		khỏi Paléttina và bị phân tán trong các vùng dân ngoại, nhưng là những 
		người ngoại giáo không cắt bì, thuộc về hạng người “kính sợ Thiên Chúa” 
		(x. Cv 10,2.22.35; 13,16.26), tin vào vị Thiên Chúa duy nhất và tuân giữ 
		đức công bình. Họ đã đến Giêrusalem không phải để du lịch mà là để hành 
		hương, vì bị thúc đẩy bởi thao thức tìm ra chân lý.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">- Họ đến gặp ông Philípphê</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		(21): Họ ngỏ ý muốn với Philípphê bởi vì ông này nói tiếng Hy Lạp (tên 
		Philípphê và tên Anrê là hai tên Hy Lạp), và cũng như họ, ông là người 
		Bếtxaiđa, là vùng có đa số dân cư là người ngoại.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">- Chúng tôi muốn được gặp ông Giêsu</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		(21): dịch sát là “muốn được thấy”, có nghĩa là “nói với Đức Giêsu”, trò 
		chuyện với Người, để biết Người, khám phá ra chân tính của Người.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">- Giờ</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		(23): Đây là giờ Thương Khó, Chết và Phục Sinh, để Con Người được tôn 
		vinh. “Giờ” đây là đỉnh cao của sứ mạng của Người và cũng là lúc kết án 
		“thế gian” này với thủ lãnh của nó.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">- tôn vinh</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		(23): “Vinh quang” (doxa) là sự tỏa rạng sự hiện diện của Thiên Chúa, là 
		ánh huy hoàng, vừa đáng sợ vừa thu hút, của Hữu thể thần linh. Vinh 
		quang này ở trong Ngôi Lời nhập thể, nhưng tính khiêm hạ của mầu nhiệm 
		Nhập Thể đã chế giảm đi ánh huy hoàng của vinh quang này, cho dù các lời 
		nói và các công việc của Đức Giêsu lại là “dấu chỉ” đầu tiên của vinh 
		quang này (x. 2,11). Cuộc Thương Khó, thay vì che phủ vinh quang này, 
		lại vén mở cho thấy vinh quang này ở mức viên mãn: kể từ khi cái vỏ bọc 
		nhân loại bị phá vỡ, sự hiện diện thần linh, như được giải phóng, mới 
		xâm nhập tất cả nhân tính của Ngôi Lời để làm cho nhân tính này sống lại 
		và lên trời.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">- nếu hạt lúa gieo vào lòng đất</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		(24): Câu này được vọng lại trong 1 Cr 15,36. Rất có thể đây là một câu 
		tục ngữ quen thuộc tác giả đã dùng để áp dụng cho trường hợp Đức Giêsu: 
		chỉ cái chết của Đức Giêsu mới có thể đưa lại ơn cứu độ cho người khác.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">- Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		(25): Câu này trở đi trở lại ở nhiều dạng (x. Lc 9,24 so sánh với Mc 
		8,35 và Mt 16,25; Mt 10,39 so sánh với Lc 17,33). Các TMNL áp dụng câu 
		này cho những đau khổ và mất mát của đời môn đệ. Hẳn là tác giả TM IV 
		cũng đang nghĩ tới những đau khổ của cộng đoàn của ngài (x. 15,18-21).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">- Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở 
		đó</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> (26): Sự đồng nhất 
		giữa Đức Giêsu và các môn đệ sẽ được nêu bật hơn trong các diễn từ cáo 
		biệt (x. 13,13.16; 15,20). Phần kết “Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ 
		quý trọng người ấy” lại xuất hiện trong ngôn ngữ tình yêu trong các diễn 
		từ cáo biệt (14,23; 16,27). Xem Mc 8,38; Mt 10,32 so sánh với Lc 12,8.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">- Bây giờ tâm hồn Thầy xao xuyến</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		(27): Tác giả TM IV đang cảm hứng hoạt cảnh Đức Giêsu hấp hối tại Vườn 
		Ôliu, nhưng đăt hoạt cảnh ấy trong một bối cảnh khác. Cũng như trong các 
		TMNL, khi thấy giờ chết đến gần, Đức Kitô run sợ: “Tâm hồn Thầy xao 
		xuyến” (tetaraktai, c. 27a). “Tâm hồn” (psychê) đây cũng có nghĩa là bản 
		thân, là mạng sống; mạng sống ấy đang chao đảo khi đứng trước cái chết 
		sắp tấn công nó. Sự xúc động trong lòng (tô pneumati) mà Đức Giêsu cảm 
		thấy khi đứng trước mộ Ladarô, bây giờ xâm chiếm tất cả bản thân Người 
		(so sánh với Lc 22,43-44).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">- Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		(28): x. Lc 11,2. Câu này diễn tả sự duy nhất trong kế hoạch của Đức 
		Giêsu với ý muốn của Thiên Chúa. Đức Giêsu sẽ tôn vinh Thiên Chúa trên 
		thập giá và cũng sẽ được Chúa Cha tôn vinh (x. 13,31-32; 17,4).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">- có tiếng từ trời</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		(28): Dân chúng không thể “nghe” được lời Thiên Chúa đáp lại Đức Giêsu, 
		nên họ nghĩ đó là tiếng một thiên thần. Giống như trong truyện Ladarô, 
		việc Đức Giêsu cầu nguyện cũng là một tấm gương cho họ.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">- Ta đã tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ còn tôn 
		vinh nữa</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> (28): Hành vi 
		“tôn vinh” đầu quy về những “dấu lạ” Đức Giêsu đã làm và nhờ đó đã làm 
		chứng về Chúa Cha, khi tôn vinh Ngài nơi Đức Giêsu. Hành vi “tôn vinh” 
		thứ hai quy về cái chết và cuộc tôn vinh Đức Giêsu.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">- mà vì các người</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		(30): Như thế, tác giả đã biến truyền thống về “cơn hấp hối riêng tư” 
		của Đức Giêsu thành một cuộc bày tỏ công khai công việc phục vụ vì vâng 
		lời của Đức Giêsu.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">- Giờ đây đang diễn ra cuộc phán xét thế 
		gian này</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> (31): Cuộc phán 
		xét (x. 3,18-19) lên cao điểm với cuộc đóng đinh. Tiếng sấm trong lời 
		Thiên Chúa nói trong câu trước báo trước việc Thiên Chúa sẽ đến uy hùng 
		mà tống “thủ lãnh của thế gian này” ra ngoài. Ở đây, tác giả dùng từ ngữ 
		“thế gian” không phải để chỉ đối tượng được Thiên Chúa yêu thương, như 
		trong 3,16, nhưng như một biểu tượng cho tất cả những gì là không tin và 
		thù nghịch với Thiên Chúa (x. 8,24; 15,18-19; 16,8-11). Satan như là thủ 
		lãnh của “thế gian” ở trong thế đối lập với Thiên Chúa, là một hình ảnh 
		quen thuộc của nền văn chương khải huyền Do Thái. Nhưng tác giả chỉ dùng 
		hình ảnh Satan để giải thích việc Giuđa phản bội thôi (6,70; 13,2.27) và 
		trong những câu nói loan báo chiến thắng của Đức Giêsu (14,30; 16,11).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">- một khi được giương cao lên khỏi mặt 
		đất</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> (32): Các truyền 
		thống Kitô giáo tiên khởi coi việc Đức Giêsu bị đóng đinh như là việc 
		Người được tôn lên bên hữu Thiên Chúa và coi đây là nền tảng cho quyền 
		chủ tể của Người trên vũ trụ (x. Pl 2,9-11). Rất có thể cặp từ ngữ “được 
		tôn vinh – được giương cao” của tác giả được lấy từ Is 52,13, nơi mà 
		Người Tôi Tớ của Đức Chúa được “vươn cao”, và “được suy tôn”.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">4.- Ý nghĩa của bản văn</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Câu chuyện chúng ta đọc hôm nay xảy ra 
		chỉ vài ngày trước các biến cố thuộc lễ Vượt Qua cuối cùng của Đức 
		Giêsu.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">* Người Hy Lạp đến gặp (20-22)</span></i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Một vài người Hy Lạp đã muốn gặp Đức 
		Giêsu, không phải chỉ để nhìn thấy Người, nhưng là để biết Người, khám 
		phá ra “căn cước” của Người. Câu 20 dường như cho hiểu rằng những người 
		ngoại quốc kia đang thực hiện một hành trình thiêng liêng dài, và bây 
		giờ cần “gặp” Đức Giêsu. Hành trình vào dịp lễ Vượt Qua đã đưa họ đến 
		Giêrusalem không phải như du khách, mà là để cầu nguyện, để gặp Thiên 
		Chúa, để khám phá ra điều Thiên Chúa muốn họ làm. Họ cảm thấy là Thiên 
		Chúa muốn họ đến nói chuyện với Đức Giêsu. Họ không đến gặp Đức Giêsu 
		trực tiếp, trước hết họ đến gặp các môn đệ, vì nghĩ rằng đó là cách tốt 
		nhất để có thể gặp Đức Giêsu. Họ ngỏ lời với Philípphê, ông này lại nói 
		với Anrê, và cả hai đã đến thưa với Đức Giêsu. Những người kia đã ngỏ 
		lời với Philípphê vì ông (cũng như Anrê) có tên gọi Hy Lạp và phát xuất 
		từ vùng giáp ranh của Galilê với thế giới Hy Lạp. Philípphê và Anrê đã ở 
		trong số những môn đệ đầu tiên, vì muốn biết Đức Giêsu, đã đến với Người 
		và đã là những người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm và đưa những người 
		khác đến với Người (1,35-46). Trong truyện này, ta thấy được bổn phận họ 
		phải chu toàn trong đời sống: làm trung gian để cho nhân loại có thể gặp 
		Đức Giêsu.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Chúng ta không biết là sau đó chuyện gì 
		đã xảy ra, những người Hy Lạp đã gặp Đức Giêsu, hay đã về nhà mà vẫn 
		chưa được gặp Người. Bản văn chỉ cho thấy Đức Giêsu không ngỏ lời trực 
		tiếp với họ. Nhưng bây giờ, chỉ còn ít ngày nữa trước khi Người chịu 
		chết và bởi vì những người này đã đến với Người, Người xác định tầm quan 
		trọng và hiệu năng của cái chết của Người trên thập giá và gửi đến dân 
		Do Thái lời kêu gọi cuối cùng.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Như vậy, ta hiểu việc người ngoại đi tìm 
		một trung gian dường như có một ý nghĩa biểu tượng. Thế giới ngoại giáo 
		chưa hề biết trực tiếp Đức Giêsu, mà chỉ nhờ lời rao giảng của các tông 
		đồ: người ngoại đã “thấy” Đức Giêsu nhờ Tin Mừng được rao giảng cho họ. 
		Nhưng giữa ước muốn được “thấy” Đức Giêsu và việc “gặp” Đức Giêsu, tức 
		đi vào Vương quốc nhờ lời rao giảng của các tông đồ, còn có cuộc Thương 
		Khó-Chết-Phục Sinh của Đức Giêsu, tức “giờ” của Người (c. 23). Chỉ khi 
		đó mọi hàng rào được dựng lên bởi các chủ trương đặc thù bè phái mới đổ 
		hết. Cũng chỉ khi đó mới bắt đầu những kinh nghiệm đầu tiên về niềm tin 
		chân chính vào Đức Kitô hằng sống, vào Đức Kitô “Đức Chúa” (x. Ga 
		20,18.20.28.29; 21,7.12.17), là những kinh nghiệm không thể có được 
		trước Phục Sinh (Vượt Qua).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Lời thỉnh cầu của những người ngoại vô 
		tình lại là một cử chỉ đón tiếp khải hoàn. Đức Giêsu sẵn sàng chấp nhận, 
		như trong cuộc đón tiếp của người Do Thái khi Người vào Giêrusalem. 
		Nhưng trước hết, Người phải điều chỉnh ý tưởng lệch lạc đám đông 
		Giêrusalem có về vinh quang và cuộc khải hoàn của Người (x. 12,12-16). 
		Việc người Hy Lạp đến như thế giống như một bài học biểu tượng, bổ túc 
		cho truyện đi vào Giêrusalem. Lời Đức Giêsu nói (cc. 23-26) là một trả 
		lời gián tiếp cho nguyện vọng được những người ngoại ấy diễn tả ra: 
		chính là nhờ cuộc Thương Khó của Người mà Đức Kitô, một khi đã bị sát 
		tế, sẽ dễ dàng cho họ gặp được.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">* Đức Giêsu công bố về Giờ và về thân 
		phận của Người và của các môn đệ (“đã đến giờ”, 23-26)</span></i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Kể từ câu 23, tác giả TM IV chẳng còn 
		nói gì đến những người ngoại kia nữa, hay đến thỉnh nguyện của họ có 
		được thoả mãn hay không nữa. Ta gặp kiểu viết tương tự trong cuộc gặp gỡ 
		Nicôđêmô: đến một lúc nào đó, bài tường thuật thôi nói về ông, để nhường 
		chỗ cho những lời nói của Đức Giêsu và những suy tư của tác giả.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Sự xuất hiện của những người ngoại giáo 
		và thỉnh nguyện của họ khiến Đức Giêsu hiểu rằng giờ mà Người hằng mong 
		đợi, mà TM IV cho thấy đang đến gần (2,4; 7,6.8.30; 8,20), thực sự đã 
		đến. Đây là giờ của “Con Người”, giờ Đức Giêsu chiến thắng bằng cách đi 
		qua thập giá, giờ Người được “tôn vinh” (x. 3,14; 8,28; 12,32). Cái chết 
		của Đức Giêsu không phải chỉ là kết quả của sự tàn bạo của loài người và 
		cũng không phải là kết thúc ô nhục của Đức Giêsu. “Giờ” của Người đã 
		được Chúa Cha quyết định.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Đức Giêsu, Con Người, sẽ được tôn vinh 
		bằng chính cái chết của Người. Cái chết này minh chứng một cách sáng 
		ngời và thuyết phục rằng Con Thiên Chúa được liên kết với Chúa Cha bằng 
		một dây vâng phục dù phải trải qua thử thách nào và rằng Người hiến mình 
		cho chúng ta không dè giữ. Cái chết của Người cho thấy tình yêu vô biên 
		của Người, bởi vì Người sống hoàn toàn cho Chúa Cha và hoàn toàn cho 
		loài người chúng ta.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Sự phong phú của công trình của Người 
		tùy thuộc cái chết của Người; và Người buộc các môn đệ Người hành động 
		như chính Người đã hành động. Đức Giêsu nhắc lại kinh nghiệm sống mỗi 
		ngày: thiên nhiên không sản sinh ra gì cả nếu trước đó không có một cái 
		chết nào đó. Chỉ khi một hạt lúa mì bị hủy đi, nó mới trở thành một khối 
		lượng lúa lớn. Chính là vì Người đã chịu cái chết và đã tỏ chính mình ra 
		trong cái chết, mà Đức Giêsu sẽ quy tụ lại quanh Người một đoàn người 
		đông đảo (x. 12,32). Đã chết rồi, Người không biến mất khỏi loài người, 
		nhưng lại trở thành trung tâm của một cộng đoàn mênh mông. Người không 
		ra sức bám lấy cuộc sống của Người. Cuộc sống trần thế đối với Người 
		không phải là một sự thiện tối cao phải cứu lấy bằng mọi giá. Chỉ những 
		ai liên kết với Người khi phục vụ, mới sẽ được liên kết với Người sau 
		này. Chỉ kẻ nào đã theo Đức Giêsu trong cuộc sống, mới sẽ đạt tới mục 
		tiêu và mới có phần phúc khi được Chúa Cha nhìn nhận.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">* Đức Giêsu trước cái chết (“bây giờ”, 
		27-30)</span></i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Phân đoạn này nhắc tới hoạt cảnh Vườn 
		Ghếtsêmani trong các TMNL (chẳng hạn Mc 14,34-36). Rõ ràng tác giả TM IV 
		đang cảm hứng hoạt cảnh Vườn Ôliu. Tuy nhiên, ngài đăt hoạt cảnh ấy 
		trong một bối cảnh khác, ngài giải thích hoạt cảnh ấy và sửa chữa đôi 
		chút. Cũng như trong các TMNL, khi thấy giờ chết đến gần, Đức Kitô run 
		sợ: “Tâm hồn Thầy xao xuyến” (27a). “Tâm hồn” đây cũng có nghĩa là bản 
		thân, là mạng sống, mạng sống mà người ta phải “ghét” và chịu mất để cứu 
		được; mạng sống ấy đang chao đảo khi đứng trước cái chết sắp tấn công 
		nó. Sự xúc động trong lòng (tô pneumati) mà Đức Giêsu cảm thấy khi đứng 
		trước mộ Ladarô, bây giờ xâm chiếm tất cả bản thân Người (so sánh với Lc 
		22,43-44).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Nhưng rồi từ đó tác giả triển khai các 
		điểm theo cách riêng. Câu hỏi: “Thầy biết nói gì đây?” cho thấy là Đức 
		Giêsu bị đăt vào thế lưỡng nan là xin Cha Người: “Xin cứu con khỏi giờ 
		này” hay là: “xin tôn vinh Danh Cha”. Và Người chọn tức khắc cách cầu 
		nguyện thứ hai. Ngoài ra, trong TM IV, Đức Giêsu luôn “năng động [tích 
		cực]” trong cuộc Thương Khó của Người. Người làm chủ tình hình (x. Ga 
		18,6), Người ý thức trọn vẹn về vai trò Người đảm nhận, Người hoàn tất 
		tuyệt vời sứ mạng Cha Người đã giao: hy sinh m		<span style="font-size: 14.0pt">3. Vinh quang trong cuộc sống vĩnh cửu, 
		tuy vẫn là một ân ban nhưng-không của Thiên Chúa, vẫn cần có sự cộng tác 
		của chúng ta. Chỉ những ai đã liên kết với Đức Giêsu khi phục vụ, mới sẽ 
		được liên kết với Người sau này trong vinh quang thiên quốc. Có trung 
		thành bước theo Người hôm nay, sau này chúng ta mới mong được thông phần 
		gia nghiệp với Người.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">4. Đức Giêsu đã đến thế gian như là ánh 
		sáng cho mọi người (1,9). Khi Người đã được giương cao trên thập giá, từ 
		nơi Người sẽ phát ra ánh sáng chói chang huy hoàng nhất, cho thấy mọi sự 
		trong tính chân thật nhất: Thiên Chúa trong tình yêu vô biên của Ngài; 
		Con Người trong việc hiến mình không dè giữ và trong hoạt động bao trùm 
		toàn nhân loại; ma quỷ bị thua trong quyền lực của nó. Trong ánh sáng 
		này, chúng ta phải chọn lựa cuộc sống chúng ta như là con đường bước 
		theo Đức Kitô.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">5. Tất cả những ai muốn đưa lại ơn ích 
		cho người khác, cũng phải chấp nhận thân phận “hạt lúa gieo vào lòng đất 
		phải chết đi”. Mọi Kitô hữu đều được kêu gọi sống Giờ của Đức Giêsu: 
		trước tiên, người Kitô hữu không thể tránh giết chết trong mình những gì 
		chống lại sự sống đích thực (= sự từ bỏ chính mình); đồng thời phải sống 
		một mầu nhiệm phục sinh, tôn vinh và hân hoan (= niềm vui thiêng liêng).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">
		----------------------------------------------</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">[1] Phép métonymie: gọi một điều bằng 
		một từ khác.</span></p>
		</td></tr><tr>
		<td width="474" height="56"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/SuyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../../_Nam_A/2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">
&nbsp;</p>

PHP File Manager