File "11.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2024/Mua-Chay/MC III/11.htm
File size: 34.48 KiB (35311 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật III Mùa Chay - Năm B</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật III Mùa Chay - Năm B; Thanh tẩy đền thờ; Cơn tức giận; Thờ phượng điích thực; tinh thần và chân lỹ; đền thờ; Chúa Giêsu tại Samari; đau khổ; thử thách; biết rõ; lòng người; "><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
	{color:blue;
	text-decoration:underline;
	text-underline:single;
	text-decoration:none underline;
	text-line-through:none;
	vertical-align:baseline}
span.apple-converted-space
	{}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật III Mùa Chay - Năm B"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">
	Chúa Nhật III Mùa Chay - Năm B</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
		THANH TẨY ĐỀN THỜ</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
		<a name="_Toc318828477">
		<span style="font-size: 8pt; font-style:italic; font-weight:400">Suy niệm của Đan Vinh</span></a></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><span style="font-size: 14.0pt">I. TÌM HIỂU LỜI 
		CHÚA</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><span style="font-size: 14.0pt">1) Ý chính: Đức 
		Giêsu thanh tẩy đền thờ.</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">Với lòng nhiệt 
		thành yêu mến Thiên Chúa, Đức Giêsu không thể chấp nhận được cảnh tượng 
		bát nháo diễn ra nơi Đền Thờ của Chúa Cha. Người đã biểu lộ uy quyền của 
		Con Thiên Chúa bằng việc dùng roi xua đuổi bọn con buôn với tiền bạc, 
		chiên bò, chim câu... ra khỏi Đền Thờ. Người tẩy uế Đền Thờ của Chúa Cha 
		và khẳng định rằng: Từ nay việc thờ phượng đẹp lòng Thiên Chúa sẽ phải 
		được cử hành trong Đền Thờ Mới là thân xác Phục Sinh của Người và sẽ tồn 
		tại mãi mãi, thay cho sự thờ phượng tại Đền Thờ Giêrusalem bằng gỗ đá 
		chỉ có tính tạm thời và sẽ bị phá hủy sau này.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><span style="font-size: 14.0pt">2) Chú thích:</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i><span style="font-size: 14.0pt">* Gần đến Lễ 
		Vượt Qua của người Do Thái, Đức Giêsu lên thành Giêrusalem. Người thấy 
		trong Đền Thờ có những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang 
		ngồi đổi tiền. Người liền lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng 
		với chiên bò r a khỏi Đền Thờ. Còn tiền của những người đổi bạc, Người 
		đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ (Ga 2, 13-15):</span></i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">+ Lễ Vượt Qua của 
		dân Do Thái, Đức Giêsu lên thành Giêrusalem: Vào thời Đức Giêsu, lễ Vượt 
		Qua là một trong ba đại lễ, buộc người Do Thái ở khắp nơi phải hành 
		hương về đền thánh Giêrusalem để sát tế và ăn bữa tiệc chiên vượt qua, 
		kỷ niệm biến cố Xuất Hành, trong đó Đức Chúa dùng Môsê, giải phóng con 
		cháu Giacóp là dân Do Thái khỏi ách làm nô lệ cho dân Ai cập.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">+ Người thấy trong 
		Đền Thờ: Đền Thờ là dấu chỉ Đức Chúa hiện diện giữa dân Người.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">Câu hỏi: Theo lịch 
		sử dân Ítraen thì đã có bao nhiêu Đền Thờ được xây dựng tại Giêrusalem 
		và cấu trúc của các Đền Thờ ấy thế nào?</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">Đáp: Không kể đền 
		thờ tạm là Nhà Lều trong thời gian 40 năm dân Do Thái đi qua sa mạc, còn 
		có ba Đền Thờ được xây dựng tại Giêrusalem là Đền Thờ Salômon, Đền Thờ 
		Sau Lưu Đầy và Đền Thờ Hêrôđê như sau:</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">Đền thờ Salômon: 
		Dưới triều vua Đavít, tuy Hòm Bia đã được đem về Giêrusalem, nhưng vẫn 
		còn được để giữa Mái Lều Vải Nhà Tạm (x.2 Sm 6,17). Vua Đavít muốn xây 
		một Đền Thờ để kính Đức Chúa. Nhưng ngôn sứ Nathan tuyên sấm lời Đức 
		Chúa là sẽ dành việc xây dựng ấy cho con của ông (x.2 Sm 7,2.13). Sau 
		đó, vua Salômon đã thực hiện ý định của vua cha Đavít vào năm 970 và Đền 
		Thờ đã được hoàn tất sau 7 năm thi công (1 V 6,37-38). Đền Thờ này nằm 
		giữa một khu đất rộng là Sân Trước. Tại đây có Bàn Thờ Toàn Thiêu bằng 
		đồng (x. 1 V 8,64). Đền Thờ có chiều dài ba mươi thước, chiều rộng mười 
		thước và chiều cao mười lăm thước, gồm Gian Tiền Đình, Gian Cung Thánh 
		và Nơi Cực Thánh. Tại Gian Cung Thánh có Bàn Thờ Hương, Bàn Bánh Tiến và 
		Mười Chân Đèn bằng vàng (x. 1 V 6,20-21; 7,48-49). Nơi Cực Thánh nằm 
		giữa Đền Thờ có một Bàn Thờ bằng gỗ bá hương và được dát bằng vàng ròng 
		(x.1 V 6,2. 16-22). Tại Nơi Cực Thánh, Hòm Bia Giao Ước được đặt ngay 
		dưới đôi cánh của hai bức tượng Thần sứ Kêrubim. Vào năm 586 trước Công 
		Nguyên, quân Babylon xăm lăng tàn phá thành Giêrusalem và Đền Thờ 
		Salômon này cũng bị phá hủy. Các báu vật trong Đền Thờ đã bị chiếm đoạt 
		mang về Babylon.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">Đền thờ sau lưu 
		đày: Được xây trên nền của Đền Thờ cũ và kích thước cũng như trước. Đền 
		Thờ này kém bề thế hơn và Nơi Cực Thánh để trống không. Trong Gian Cung 
		Thánh có đặt một Chân Đèn 7 Ngọn thay cho 10 ngọn đèn như trong Đền Thờ 
		Salômon trước đó. Dân hồi cư trước hết đã tái lập Đền Thờ Toàn Thiêu. 
		Việc xây dựng Đền Thờ Kéo dài trong 5 năm và được thánh hiến vào năm 515 
		trước Công Nguyên. Năm 169 Đền Thờ này lại bị vua Antiôcô IV chiếm đoạt 
		và xúc phạm. Đến năm 164, Giuđa Máccabê đã thanh tẩy Đền Thờ, lập một 
		Bàn Thờ Toàn Thiêu mới và trang hoàng lại Gian Cung Thánh.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">Đền thờ Hêrôđê: Để 
		tranh thủ sự ủng hộ của dân chúng, Hêrôđê đã mở rộng chu vi và trang trí 
		lại bên trong Đền Thờ. Công việc trùng tu Đền Thờ bắt đầu từ năm 20 
		trước Công Nguyên và đến năm 26 sau Công Nguyên mới tạm xong và được tổ 
		chức khánh thành các công trình chính (x.Ga 2,20). Sau đó việc trùng tu 
		Đền Thờ lại tiếp tục đến năm 63 sau Công Nguyên mới chấm dứt. Về mặt cấu 
		trúc: Đền Thờ có bốn hàng cột nằm ở ba mặt của Đền Thờ: Về phía Đông có 
		hành lang Salômon (x. Cv 3,11; 5,12); Phía Tây Bắc có pháo đài Antônia 
		thông ra sân ngoài. Nơi đây thường xuyên có một tiểu đoàn quân lính Rôma 
		trú đóng, mục đích giữ gìn an ninh trật tự trong các dịp lễ lớn của dân 
		Do Thái và sẵn sàng trấn áp bạo loạn (x. Cv 21,31-37). Đền Thờ có bốn 
		cổng lớn. Một bức tường bằng đá được dùng làm ranh giới cấm lương dân 
		vượt qua. Nội vi Đền Thờ có nhiều sân: Bên ngoài bức tường đá là sân 
		lương dân, là nơi các luật sĩ thường lui tới bàn luận với nhau (x. Cv 
		3,11). Sân nữ giới nằm giữa nơi có dân chúng ra vào và ăn thông với Cửa 
		Đẹp (x. Cv 3,2). Tiếp theo là sân Ítraen dành cho nam giới. Cuối cùng là 
		sân Tư Tế. Tại đây có đặt một Bàn Thờ Toàn Thiêu. Cách đó 10 thước, toàn 
		bộ thánh điện được thiết kế giống như Đền Thờ ngày xưa gồm Tiền đường, 
		Nơi Thánh và Nơi Cực Thánh. Về số phận của Đền Thờ Hêrôđê: Đức Giêsu đã 
		tiên báo sự sụp đổ của Đền Thờ này (x. Lc 21, 5-7). Người cũng báo cho 
		các tín hữu biết trước về ngày thành Giêrusalem bị quân thù kéo đến bao 
		vây và sẽ bị tiêu diệt. Sự kiện này được coi như hình bóng của Ngày Tận 
		Thế (x. Lc 21,20-28). Quả thật, lời tiên báo của Đức Giêsu đã trở thành 
		hiện thực: Dân Do Thái đã nổi loạn và quân Rôma do tướng Titô chỉ huy đã 
		đến bao vây Giêrusalem. Đến ngày mùng 06 tháng 8 năm 70, thành đã bị 
		thất thủ. Trong lúc hỗn loạn, một tên lính Rôma đã ném một bó đuốc vào 
		trong Đền Thờ, lửa bốc cháy tấm màn che giữa Gian Cung Thánh và Nơi Cực 
		Thánh và toàn bộ Đền Thờ đã bị thiêu hủy. Chỉ một ít đồ thánh như chân 
		đèn 7 ngọn và Bàn Thờ Dâng Bánh còn sót lại và được mang về Rôma như 
		chiến lợi phẩm (x. Dcr 14,1).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">+ Có những kẻ bán 
		chiên bò bồ câu và những người đang ngồi đổi tiền: Tại sân lương dân, 
		các Tư Tế cho một số người bán chiên, bò và chim câu... để dân chúng mua 
		mà dâng làm lễ vật cúng tế trong Đền Thờ (x. Ga 2,14; Lc 2,24). Cũng có 
		cả những người ngồi đổi tiền từ đồng tiền của Rôma lưu hành ngoài xã 
		hội, trên đồng tiền có hình và ký hiệu của hoàng đế Xêda (x. Lc 
		20,24-25), nên bị cấm lưu hành trong Đền Thờ. Dân Do Thái muốn đóng thuế 
		Đền Thờ hay góp tiền trùng tu Đền Thờ (x. Lc 21,1-2) thì trước hết phải 
		đổi từ tiền của Rôma thành tiền của Đền Thờ tại bàn đổi tiền rồi mới 
		được đóng góp (x. Ga 2,14).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">+ Người liền lấy 
		dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Đền Thờ: 
		Sự bất kính do bọn con buôn gây ra như thế khiến Đức Giêsu rất đau lòng. 
		Người nổi cơn thịnh nộ và đã dùng giây thừng cột thú vật được ném bừa 
		bãi ở nơi đó, chấp lại thành roi rồi dùng roi ấy đánh đuổi bọn con buôn 
		ra khỏi Đền Thờ.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i><span style="font-size: 14.0pt">* Người nói 
		với những kẻ bán bồ câu: &quot;Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng 
		biến nhà Cha Tôi thành nơi buôn bán&quot;. Các môn đệ của Người nhớ lại lời 
		đã chép trong Kinh Thánh: &quot;Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây sẽ 
		phải thiệt thân&quot;. Người Do Thái hỏi Đức Giêsu: &quot;Ông lấy dấu lạ nào chứng 
		tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế?&quot; Đức Giêsu đáp: &quot;Các 
		ông cứ phá hủy Đền Thờ này đi; nội trong ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại&quot; 
		(Ga 2,16-19):</span></i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">+ &quot;Đừng biến nhà 
		Cha tôi thành nơi buôn bán&quot;: Nói câu này, Đức Giêsu tự xưng là Con Thiên 
		Chúa. &quot;Nơi buôn bán&quot; hay &quot;hang trộm cướp&quot; là kiểu nói diễn tả tình trạng 
		bất kính ở trong Đền Thờ, một nơi tôn nghiêm thờ phượng Đức Chúa! Thế là 
		ứng nghiệm lời các ngôn sứ đã tuyên sấm quở trách dân Do Thái xưa (x. Gr 
		7,11).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">+ &quot;Vì nhiệt tâm lo 
		việc nhà Chúa mà tôi đây sẽ phải thiệt thân&quot;: &quot;Sẽ phải thiệt thân&quot; nghĩa 
		là &quot;sẽ phải chết&quot;. Như vậy ý nghĩa lời Thánh Vịnh 69,10 như sau: lòng 
		nhiệt thành với Đền Thờ sẽ dẫn Đức Giêsu đến chỗ bị người đời bách hại 
		(x.Ga 15,5).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">+ Người Do Thái hỏi 
		Đức Giêsu: &quot;Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có 
		quyền làm như thế?&quot;: &quot;Người Do Thái&quot; trong câu này ám chỉ các chức sắc 
		Đền Thờ như các Tư Tế và Lêvi. Họ bực tức khi thấy Đức Giêsu đuổi bọn 
		con buôn ra khỏi Đền Thờ. Do đó họ hạch hỏi Đức Giêsu dựavào dấu lạ nào 
		để chứng minh mình được Thiên Chúa sai đến thực sự và có quyền xua đuổi 
		con buôn như thế. Trước đây họ cũng nhiều lần đòi Đức Giêsu chứng minh 
		Người được Thiên Chúa sai đến, bằng cách phải làm phép cho họ thấy mà 
		tin Người (x. Mt 12,38; Mc 8,11; Lc 11,16).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">+ &quot;Các ông cứ phá 
		Đền Thờ này đi, nội trong ba ngày tôi sẽ xây dựng lại&quot;: Ở đây, Đức Giêsu 
		cho họ một phép lạ làm chứng Người được Thiên Chúa sai đến, là phép lạ 
		Người sẽ sống lại nội trong ba ngày. Tuy nhiên Đức Giêsu xử dụng kiểu 
		nói dụ ngôn mà các ngôn sứ hay dùng là đã gọi thân thể của mình là Đền 
		Thờ. Câu này có nghĩa là: Dù họ có giết chết Người thì cũng chỉ trong ba 
		ngày Người sẽ sống lại.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i><span style="font-size: 14.0pt">* Người Do 
		Thái nói: &quot;Đền Thờ này phải mất bốn mươi sáu năm mới xây xong, thế mà 
		nội trong ba ngày ông xây lại được sao?&quot; Nhưng Đền Thờ Đức Giêsu muốn 
		nói ở đây là chính thân thể Người. Vậy, khi Người từ cõi chết chổi dậy, 
		các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó. Họ tin vào Kinh Thánh và lời 
		Đức Giêsu đã nói (Ga 2,20-22):</span></i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">+ Phải mất bốn mươi 
		sáu năm mới xây xong: Các đầu mục Do Thái đã hiểu sai ý của Đức Giêsu. 
		Họ hiểu lời Người theo nghĩa đen nên mới nói về thời gian xây dựng Đền 
		Thờ mất 46 năm (Khởi công năm 20 trước Công Nguyên và đến năm 26 sau 
		Công Nguyên mới tạm hoàn thành những công trình chính), đang khi ý Đức 
		Giêsu ám chỉ Đền Thờ là Thân Thể của Người. Sau này khi Thượng Hội Đồng 
		Do Thái xét xử Đức Giêsu do Caipha chủ tọa có hai kẻ đứng ra cáo gian 
		rằng: &quot;Tên này đã nói: Tôi có thể phá Đền Thờ Thiên Chúa, và nội trong 
		ba ngày sẽ xây cất lại&quot; (Mt 26,61). Họ cũng nhắc lại điều tố cáo này khi 
		lăng nhục Người trên thập gía (x. Mt 27,40).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">+ Nhưng Đền Thờ Đức 
		Giêsu muốn nói ở đây là chính thân thể Người: Thân Thể Đức Giêsu phục 
		sinh là nơi Thiên Chúa hiện diện và tỏ mình ra cho loài người (x. Ga 
		1,14). Thân Thể ấy là Đền Thờ Mới, là nơi thờ phượng Thiên Chúa trong 
		thần khí và sự thật (x. Ga 4,23-24).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">+ Khi Người từ cõi 
		chết chỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó: Chỉ dưới ánh 
		sáng Phục Sinh và được ơn Thánh Thần tác động, các môn đệ mới hiểu chính 
		xác về lời nói và việc làm của Đức Giêsu (x. Ga 12,16; 14,26).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">+ Họ tin vào Kinh 
		Thánh và lời Đức Giêsu đã nói: Lời Thiên Chúa trong Kinh Thánh và Lời 
		Đức Giêsu tiên báo đều đã được ứng nghiệm (x. Ga 18,9.32). Do đó cả hai 
		đều được các môn đệ tôn trọng.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i><span style="font-size: 14.0pt">* Trong lúc 
		Đức Giêsu ở Giêrusalem vào dịp lễ Vượt Qua, có nhiều kẻ tin vào danh 
		Người bởi đã chứng kiến các dấu lạ Người làm. Nhưng chính Đức Giêsu 
		không tin họ, vì Người biết họ hết thảy, và không cần ai làm chứng về 
		con người. Quả thật, chính Người biết có gì trong lòng con người (Ga 
		2,23-25):</span></i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">+ Nhiều kẻ tin vào 
		danh Người. Nhưng chính Đức Giêsu lại không tin họ: Phép lạ chỉ kích 
		thích trí tò mò làm cho người ta đến xem để biết thực hư ra sao. Nhưng 
		đức Tin là bởi nghe (x. Rm 10,17) chứ không bởi thấy, như lời Đức Giêsu 
		Phục Sinh nói với Tôma: &quot;Vì đã thấy Thầy nên anh tin. Phúc thay những 
		người không thấy mà tin!&quot;(Ga 20,29). Một số khá đông dân chúng tin Đức 
		Giêsu vì đã thấy các phép lạ Người làm (x. Ga 12,17-18). Nhưng đức tin 
		dựa trên mắt thấy như vậy là đức tin bất toàn và không bền vững. Do đó 
		Đức Giêsu không mấy tin các tín hữu này. Thực vậy, khi bị xét xử trước 
		tòa quan Philatô, trong số đám đông dân chúng đòi kết án tử hình thập 
		gía cho Đức Giêsu, chắc không thiếu những kẻ đã từng tin và hoan hô 
		Người là &quot;Con Vua Đavít&quot;, &quot;Đấng nhân Danh Chúa mà đến!&quot; lúc Người khải 
		hoàn vào thành Giêrusalem (x. Lc 19,37-38; Ga 12,12-15). Đàng khác, 
		không phải cứ trông thấy phép lạ là người ta sẽ tin. Các kẻ thù của Đức 
		Giêsu đã từng chứng kiến bao phép lạ người làm, thế mà họ đâu có tin. 
		Ngược lại còn quyết tâm tiêu diệt Người nữa (x. Ga 11,45-53). Họ xuyên 
		tạc để lôi kéo dân chúng đừng tin theo Người, như nói rằng: &quot;Ông ta nhờ 
		tướng quỉ mà trừ quỉ&quot; (Mc 3,22).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">+ Người biết họ hết 
		thảy: Thánh gioan đã ghi lại nhận xét này khi thấy dân chúng nô nức đi 
		theo Đức Giêsu. Người biết rõ ý của họ và đã nói thẳng với họ rằng: &quot; 
		Thật, tôi bảo thật các ông: Các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã 
		thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê!&quot; (Ga 6,26). Trong 
		phép lạ chữa bệnh nhân bại liệt, Mátthêu cũng viết: &quot;Đức Giêsu biết ý 
		nghĩa của họ liền nói: Sao các ông lại nghĩ xấu trong bụng như vậy?...&quot; 
		(Mt 9,4).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><span style="font-size: 14.0pt">II. HỌC SỐNG LỜI 
		CHÚA</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i><span style="font-size: 14.0pt">1) &quot;Đem tất 
		cả những thứ này ra khỏi đây. Đừng biến Nhà Cha tôi thành nơi buôn bán&quot; 
		(Ga 2,16):</span></i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">Câu chuyện: Tiếng 
		chim hót trong bụi mận gai.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">Thỉnh thoảng đài 
		truyền hình VN lại cho chiếu bộ phim &quot;Tiếng chim hót trong bụi mận gai&quot; 
		mà tác gỉa là một nữ văn sĩ người Úc theo đạo Tin Lành. Khi viết cuốn 
		tiểu thuyết này, bà đã đứng trên quang điểm của đạo Tin Lành để phê phán 
		luật độc thân của hàng giáo sĩ Công Giáo. Tuy nhiên, câu chuyện này cũng 
		là cơ hội để chúng ta suy nghĩ về sức mạnh của đồng tiền ảnh hưởng thế 
		nào trong cuộc sống cá nhân và cộng đoàn Giáo Hội.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">Câu chuyện về một 
		linh mục là Cha Ráp (Ralph). Ráp là một linh mục trẻ nhiều tài năng 
		nhưng cũng đầy tham vọng. Vị linh mục này có khá nhiều ưu điểm, có sức 
		cuốn hút nhiều người đến với mình. Nhưng đồng thời ông ta cũng muốn được 
		nổi danh và ham mê tiền bạc. Trong số các người mến mộ Cha Ráp, có một 
		bà già quí phái giàu có. Bà quí mến Cha cách đặc biệt nhưng không được 
		đáp lại, nên tình yêu đã biến thành thù hận. Thay vì trả thù theo kiểu 
		thường tình, thì người đàn bà này có sáng kiến gài bẫy để bôi đen cuộc 
		đời vị linh mục trẻ: Trước khi chết, bà đã làm tờ di chúc dâng cúng toàn 
		bộ tài sản kếch sù của bà cho Giáo Hội Công Giáo, với điều kiện duy nhất 
		là Giáo Hội phải cử Cha Ráp làm quản lý số tài sản đó. Cách trả thù của 
		bà quí phái giàu có đã thành công: Cha Ráp dần dần được cất nhắc lên địa 
		vị khá cao trong Giáo Hội. Nhưng đồng thời chính đồng tiền mà Cha quản 
		lý đã làm cho đời sống tinh thần của Cha ngày một xuống cấp và cuối cùng 
		Cha đã sa ngã vào các đam mê tội lỗi, trái với sự tình nguyện &quot;sống độc 
		thân vì Nước Trời&quot; mà Cha đã khấn hứa.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">Suy nghĩ và thảo 
		luận:</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">+ Suy nghĩ: Câu 
		chuyện trên dầu sao cũng nói lên một thực tại: Hễ là người thì dù ở 
		trong bất cứ hoàn cảnh hay bậc sống nào, nếu không biết khôn ngoan phòng 
		tránh, thì đều có nguy cơ bị ngã gục trước sức mạnh của đồng tiền! Thực 
		ra: Tiền của là một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống: &quot;Đồng tiền 
		liền khúc ruột!&quot;, hay như lời Chúa dạy: &quot;Kho tàng của anh ở đâu thì lòng 
		anh ở đó&quot; (Mt 6,21). Tiền bạc giúp người ta sống xứng với nhân phẩm: 
		&quot;Phú quí sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc!&quot;. Tiền bạc cần để duy trì 
		các hoạt động của mọi tổ chức từ trên xuống dưới, mà còn làm được rất 
		nhiều việc hữu ích về phụng vụ, truyền giáo, bác ái xã hội, phục vụ 
		những người nghèo khổ, bệnh tật và bất hạnh... Tuy nhiên, &quot;Tiền của sẽ 
		là một đầy tớ tốt, nhưng lại là một ông chủ xấu&quot;. Bao lâu ta coi đồng 
		tiền là phương tiện thì nó giúp ta làm được rất nhiều việc tốt đẹp hữu 
		ích cho Chúa và tha nhân. Vì &quot;có tiền mua tiên cũng được!&quot;. Nhưng nếu ta 
		quá coi trọng đồng tiền, biến nó trở thành mục đích cuộc đời mình. Nếu 
		lúc nào ta cũng lo kiếm tiền bằng bất cứ giá nào, thì bấy giờ đồng tiền 
		sẽ trở thành ông chủ và sẽ sai khiến ta ăn ở bất công với người dưới, 
		bất nhân độc ác khi cố tình làm ngơ trước nỗi đau của đồng loại, hoặc 
		khi tranh chấp quyền lợi với đối phương, gian dối và lừa đảo trong các 
		quan hệ kinh doanh làm ăn, vô lương tâm và không còn nghĩ tới tội phúc, 
		thưởng phạt đời sau...</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">+ Thảo luận: Theo 
		bạn thì việc thờ phượng Thiên Chúa tại nhà thờ và làm chứng cho Đức Kitô 
		ngoài xã hội, Giáo Hội có cần tiền bạc không và cần tiền làm gì? Bạn sẽ 
		làm gì để giúp Giáo Hội có tiền bạc để phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân 
		cách tốt đẹp hơn? Giả như Đức Giêsu sắp đến viếng thăm bạn, vậy cần phải 
		cấp thời thanh tẩy những gì trong tâm hồn của bạn để tránh bị Người nổi 
		giận?</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i><span style="font-size: 14.0pt">2) Tránh trở 
		nên chướng ngại vật cản trở tha nhân tìm đến với Chúa:</span></i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">Câu chuyện: Niềm 
		tin của Thánh Găngđi nước Ấn độ:</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">Khi còn là một sinh 
		viên, Găngđi (Mahatma Gandhi) được du học tại Nam Phi một thuộc địa của 
		nước Anh. Tại đây nổi tiếng về tệ nạn phân biệt chủng tộc. Trong thời 
		gian này, Găngđi có dịp đọc Kinh Thánh của Kitô giáo và lập tức ông bị 
		giáo thuyết của Đức Giêsu cuốn hút, nhất là kinh Tám Mối Phúc thật trong 
		phần Bài Giảng Trên Núi. Ong rất tâm đắc trước lời Chúa dạy về một tình 
		yêu phổ quát và bình đẳng giữa mọi người, không phân biệt giàu nghèo, 
		sang hèn, địa vị cao thấp, là Do Thái hay lương dân...Găngđi nghĩ rằng: 
		Có lẽ Kitô giáo chính là giải pháp tối ưu và hữu hiệu để giải quyết tận 
		gốc sự phân biệt giai cấp trong xã hội An Độ quê hương của ông. Găngđi 
		nghĩ mình nên tìm hiểu và sớm gia nhập vào Kitô giáo.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">Ngày nọ, Găngđi có 
		ý định đi bộ đến một nhà thờ để mong được chứng kiến lễ nghi trong đạo 
		và cũng để tìm hiểu thêm về giáo lý Công Giáo. Tuy nhiên, khi ông bước 
		đến cửa nhà thờ thì bị người giữ cửa chặn lại và không cho ông bước vào 
		nhà thờ. Bấy giờ ông cho biết ý định tìm hiểu đạo của mình. Nhưng thật 
		là bất ngờ khi người giữ cửa lại nói như sau: &quot;Đây là Nhà thờ dành riêng 
		cho người da trắng. Nếu mi muốn tìm hiểu đạo, thì hãy tìm đến Nhà thờ 
		khác dành riêng cho dân da màu mà xin!&quot;. Găngđi rất tức giận và bỏ về 
		nhà, ông ghi lại cảm tưởng trong nhật ký của ông như sau: &quot;Tôi rất thán 
		phục Đức Giêsu và giáo thuyết đầy tình nhân ái khoan dung của Người. Thế 
		nhưng tôi rất bất mãn mỗi khi tiếp xúc với các tín hữu là môn đệ của 
		Người! Nếu trong đạo Kitô mà cũng còn phân biệt chủng tộc như vậy, thì 
		Kitô giáo đâu có hơn gì Ấn Giáo có phân biệt giai cấp của tôi? Thôi, tôi 
		cần chi phải gia nhập đạo này. Tốt nhất là tôi cứ chấp nhận có bất toàn 
		trong Ấn Giáo và cố gắng sống theo giáo lý truyền thống của cha ông là 
		đủ!&quot;.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">Suy niệm: Vô tình 
		hay hữu ý, ai trong chúng ta chắc cũng có lần trở thành một chướng ngại 
		vật, ngăn cản anh chị em lương dân tìm đến gặp Chúa. Chỉ cần một lời nói 
		sẵng giọng và thiếu tế nhị, một thái độ lạnh nhạt thiếu nhã nhặn hay một 
		cử chỉ khinh dễ coi thường tha nhân, một hành động hẹp hòi ích kỷ trái 
		với tinh thần quảng đại vị tha của Tin Mừng hoặc một gương mù gương xấu 
		nơi vị chủ chăn...là có thể chúng ta đã xua đuổi anh chị em lương dân ra 
		khỏi nhà thờ và sau này họ khó còn cơ hội nào khác để trở lại.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i><span style="font-size: 14.0pt">3) Cứ phá đền 
		thờ này đi, nội trong ba ngày tôi sẽ xây dựng lại (Ga 2,19):</span></i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">Câu chuyện: Tiền 
		vào nhà, Chúa đi ra:</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><span style="font-size: 14.0pt">Ở bên Pháp, có đôi 
		vợ chồng bác nông dân kia làm tá điền cho một ông bá tước giàu có. Đội 
		vợ chồng này tuy nghèo nhưng lại có lòng đạo đức. Mỗi buổi sáng, khi vừa 
		nghe tiếng chuông nhà thờ là hai vợ chồng đã lập tức thức dậy và mau mắn 
		đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ và Rước lễ sốt sắng. Sau lễ, họ trở về nhà, 
		vội ăn sáng rồi vác cuốc ra đồng làm việc và mãi đến chiều tối mới trở 
		về nhà. Ngày nào hai vợ chồng cũng đều đọc kinh tối chung với nhau trước 
		khi ngủ. Họ luôn sốngvui vẻ hòa thuận và chưa hề nghe họ cãi vã to tiếng 
		với nhau bao giờ. Họ được mọi người trong làng khen ngợi bình chọn là 
		một gia đình đạo đức tiêu biểu và họ trở thành gương sáng cho các đôi vợ 
		chồng khác học tập noi theo. Ông chủ đất này muốn thử xem lòng đạo đức 
		của đôi vợ chồng tá điền kia có thật hay không. Một hôm, ông sai gia 
		nhân mang một túi đựng 100 đồng tiền vàng đến bí mật để ngay trước cửa 
		nhà của đôi vợ chồng bác tá điền. Sáng hôm ấy, khi mở cửa đi lễ như 
		thường lệ thì phát hiện ra một túi tiền vàng được ai đó để trước cửa 
		nhà. Thế là đôi vợ chồng thôi không đi lễ nữa và vội đóng cửa lại để đếm 
		tiền. Đếm đi đếm lại mãi, đến nỗi họ chẳng thiết gì đến ăn uống và không 
		ra đồng làm việc. Sau khi đã nắm vững số tiền đang giữ, hai vợ chồng bàn 
		định tìm chỗ để cất giấu cho an toàn. Mỗi người một ý không ai chịu ai 
		cả, và lần đầu tiên họ đã cãi vã nhau. Cuối cùng họ nhất trí sẽ để túi 
		tiền ngay dưới gối và nằm đè lên cho chắc ăn. Tuy vậy, họ vẫn khống yên 
		tâm, nên cả hai đều không dám rời xa chiếc giường. Thực đúng như lời 
		Chúa đã phán: &quot;Kho tàng của ngươi ở đâu thì lòng ngươi cũng ở đó&quot; (Mt 
		6,21). Lúc nào tâm trí họ cũng nghĩ tới số tiền kia đến dộo ăn uống ngủ 
		nghĩ thất thường. Cũng từ hôm ấy, hai vợ chồng chẳng còn tha thiết cùng 
		đi dâng lễ mỗi sáng và đọc kinh tối chung với nhau nữa! Lòng họ lúc nào 
		cũng lo sợ sẽ có ngày chủ nhân túi tiền đến đòi lại số tiền ấy. Sau một 
		tuần căng thẳng, cả hai vợ chồng đều suy nhược và bị cảm ho đau nhức 
		phải nằm liệt giường. Khi biết rõ tình trạng của đôi vợ chồng này, một 
		hôm ông bá tước đã đến thăm hỏi. Trong cuộc nói chuyện, ông đã ôn tồn 
		giải thích cho đôi vợ chồng biết nguyên nhân gây ra bệnh của họ. Ông 
		cũng tường thuật cặn kẽ các việc ông đã làm cách đó một tuần để chứng 
		minh lời Đức Giêsu nói: &quot;Không ai có thể làm tôi hai chủ!...Anh em không 
		thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được&quot; (Mt 6,24), và lời 
		thánh Phaolô: &quot;Lòng yêu mến tiền của là căn nguyên của mọi sự dữ&quot; (1 Tm 
		6,10). Ông bá tước đã thuyết phục được đôi vợ chồng tá điền sẵn lòng trả 
		lại túi vàng cho ông không thiếu đồng nào. Cũng từ lúc đó, đôi vợ chồng 
		tá điền đã tìm lại được sự bình an trong tâm hồn. Họ lại vui tươi yêu 
		đời, sớm hôm đọc kinh dự lễ để thờ phượng Chúa, phó thác cuộc sống trong 
		tay Chúa Quan Phòng, và thực thi giới răn yêu thương như Đức Giêsu đã 
		dạy.</sw.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/SuyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../../_Nam_A/2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">
&nbsp;</p>

PHP File Manager