File "tong hop.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2024/MV-GS B/LeGiangSinh/tong hop.htm
File size: 208.59 KiB (213592 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
CHÚA GIÁNG SINH - Năm B</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="CHÚA GIÁNG SINH - Năm B"><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
	{color:blue;
	text-decoration:underline;
	text-underline:single;
	text-decoration:none underline;
	text-line-through:none;
	vertical-align:baseline}
span.apple-converted-space
	{}
-->
</style>
<meta name="description" content="CHÚA GIÁNG SINH - Năm B"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">
	CHÚA GIÁNG SINH - Năm B</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
		&nbsp;</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
		&nbsp;</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
		<p style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">CÁC BÀI SUY NIỆM LỄ ĐÊM - 
		RẠNG ĐÔNG - BAN NGÀY GIÁNG SINHIn trang nàyLượt xem: 824<br>
		<br>
		<br>
		I. LỄ ĐÊM (Lc 2, 1-14)<br>
		<br>
		Cách đây hai ngàn bảy trăm năm, có một người được Thiên Chúa ban cho ơn 
		đặc biệt, đó là tiên tri Isaia, ông hướng về tương lai của nhân loại mà 
		thần của Thiên Chúa đã hé mở cho ông, ông nói những lời mà chúng ta vừa 
		được nghe lại.<br>
		<br>
		Kể từ ngày đó, nhân loại đợi trông Con trẻ đã được tiên báo ra đời. Rồi 
		người ta thấy một Người có những điểm rất kì diệu xuất hiện.<br>
		<br>
		Ngài là Con Trời nhưng lại chịu làm con một người thợ mộc tầm thường. 
		Dầu sống bình thường, nhưng tuổi thơ ấu của Ngài làm cho vị Vua Hêrôđê 
		đầy kiêu ngạo và gian ác phải khiếp sợ. Ngài là Đấng Tạo Hóa quyền năng, 
		nhưng gặp nhiều hiểm nguy có liên hệ đến tính mạng nên cha mẹ Ngài đã 
		phải ẵm Ngài đi tị nạn.<br>
		<br>
		Ngài là Đấng giàu có tột đỉnh trong nước trời, nhưng lại chịu trở nên 
		nghèo nàn vô cùng trên trái đất. Ngài nghèo đến nỗi, khi sinh ra, không 
		có chỗ đặt lưng. Phải nằm nhờ trên một máng cỏ trong hang chứa súc vật 
		của một người không quen biết. Ngài không có tiền đến nỗi phải bảo một 
		môn đi câu để tìm một đồng bạc nơi miệng cá để đóng thuế. Muốn đãi toàn 
		dân một bữa ăn, Ngài phải nhờ bánh và cá của một em bé. Khi muốn qua bên 
		kia bờ biển, Ngài phải đi nhờ thuyền của người chài lưới. Muốn vào thành 
		Giêrusalem Ngài phải dùng con lừa mượn của người khác. Khi chết, Ngài 
		chỉ còn một cái áo, nhưng bọn lính cũng lấy cái áo đó của Ngài. Sau khi 
		chết, Ngài không có tiền để lại để mua một cái huyệt, mà người ta phải 
		chôn Ngài trong một cái huyệt của người khác. Thế mà ngày nay đâu đâu 
		cũng có nhà của Ngài.<br>
		Ngài không có cấp bằng đại học, nhưng cho dù sự khôn ngoan cao nhất ở 
		đại học từ cổ chí kim, cũng không sao so sánh được với sự khôn ngoan của 
		Ngài. Khi mới mười hai tuổi, Ngài đã làm cho bao người thông thái phải 
		ngạc nhiên vì những lời đối đáp cao siêu của Ngài. Nghe lời Ngài giảng 
		dạy, mọi người phải ngạc nhiên vì Ngài giảng dạy có uy quyền…..khác hẳn 
		những người khác, vì Ngài có đầy đủ thẩm quyền phán quyết cho mọi vấn 
		đề. Ngài có quyền trên định luật thiên nhiên. Một đám tiệc cưới bất ngờ 
		thiếu rượu, Ngài đã biến nước thành rượu để giúp chàng rể khỏi bẽ mặt 
		trong ngày vui của chàng. Chỉ dùng một phần ăn của anh em nhỏ, năm cái 
		bánh và hai con cá, Ngài đã đãi hơn năm ngàn người một bữa ăn no nê lại 
		cò dư ra mười hai giỏ đầy những miếng bánh vụn. Một đêm khuya kia trong 
		một cơn giông dữ dội, Ngài đã coi thường định luật hấp lực của trái đất, 
		Ngài đã đi trên mặt biển rộng đang lộng gió để đến với các môn đệ. Họ 
		đang kinh hãi vì các ngọn sóng biển cao gầm thét, nhưng Ngài không sợ mà 
		trái lại, Ngài đã quở gió và biển, chúng phải vâng lệnh ….. im lặng như 
		tờ. Việc lạ lùng đến nỗi các môn đệ kinh ngạc hỏi nhau “Ngài là ai ?”<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Các bác sĩ phải dùng thuốc để chữa bệnh, nhưng Ngài chỉ dùng lời phán để 
		chữa lành mọi bệnh tật. Thật lạ lùng! Ngài đã giải tán đám tang bằng 
		cách rờ vào quan tài của cậu trai đã chết và cho cậu sống lại để trở về 
		nhà cùng bà mẹ của cậu. Ngài biến cảnh đau thương biệt ly của Mátta 
		thành cảnh vui mừng sum họp bằng cách gọi Ladarô sống lại, ra khỏi mồ, 
		dù chàng đã chết và đã chôn được bốn ngày.<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Ngài chẳng hề viết một cuốn sách nào nhưng hiện nay trên thế giới, không 
		có một thư viện nào có đủ chỗ để chứa những sách người ta viết về Ngài. 
		Ngài không hề vẽ một bức tranh nhưng ngày nay không biết bao nhiêu bức 
		tranh người ta vẽ về Ngài. Ngài không sáng tác một bài nhạc hay một bài 
		ca nào để nói về Ngài, nhưng những bản nhạc đại hòa tấu chúc tụng Ngài 
		nhiều vô kể và đang vang tiếng khắp bốn bể năm châu!<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Ngài không hề có vũ khí trên tay. Ngài cũng không hề tuyển mộ binh sỹ để 
		thành lập quân đội, nhưng không có một tướng lãnh nào hay bất kì vị lãnh 
		tụ nào có nhiều người bằng lòng tuân lệnh Ngài. Đã có hàng tỉ người tự 
		nguyện tuân lệnh Ngài từ hai ngàn năm nay và mãi mãi về sau. Trong lịch 
		sử loài người đã có rất nhiều người quyết tâm chống trả Ngài với tất cả 
		khả năng quyền lực của họ, nhưng rồi trong số đó đã có người phải chịu 
		quy hàng, đầu phục Ngài. Không phải vì Ngài đã chinh phục họ bằng vũ 
		lực, nhưng Ngài đã chinh phục họ bằng tình yêu nhân lành Ngài dành cho 
		họ.<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Các đế quốc hưng thịnh rồi suy tàn. Các vua chúa lần lượt ra đi, nhưng 
		Ngài còn lại đời đời. Vua Hêrôđê không giết được Ngài, đế quốc Lamã 
		không tiêu diệt được Ngài. Sự chết không có quyền trên Ngài. Mồ mả không 
		giữ được Ngài, vì vị trí của Ngài là ở bên hữu Đấng Toàn Năng.<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Tất cả ai nấy đều chết vì mình, nhưng Ngài lại chết vì tội nhân. Tất cả 
		mọi người đều bị khuất phục trước sự chết, nhưng ngài đã chiến thắng sự 
		chết và bước ra khỏi mồ một cách khải hoàn. Người đới thường rời cuộc 
		đời trần thế bằng nắm mồ chôn ba tấc đất, nhưng ngài rời cuộc đời trần 
		thế bằng cách thăng thiêng về trời. Lúc đó một đám đông ngơ ngác, ngước 
		mắt lên nhìn theo Ngài vì việc quá lạ lùng xảy ra trước mắt họ!<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Ngài đã từng bị khinh bỉ nhục nhã, nhưng nay Ngài đang ngồi trên ngai 
		vinh hiển của Thiên Chúa. Trước khi trở lại ngôi trời, Ngài đã hứa một 
		điều lạ lùng cùng những kẻ thuộc về ngài rằng: Ta đi và sắp sẵn cho các 
		con một chỗ. Khi Ta đã sắp sẵn cho các con một chỗ rồi, Ta sẽ trở lại 
		đem các con đi với Ta, hầu ta ở đâu thì các con cũng sẽ ở đó với ta. Lời 
		hứa lạ lùng này sẽ thành tựu trong tương lai gần đây. Lúc đó những người 
		của Ngài sẽ vui mừng trọn vẹn vì được sống hạnh phúc vĩnh cửu với Đấng 
		kì diệu của họ.<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Đấng kì diệu ấy là ai? Thưa Ngài chính là Chúa Giêsu. Ngài là con trẻ đã 
		sinh ra tại chuồng chiên nằm trong máng cỏ cách đây hơn 2000 năm. Ngài 
		đã từ trời giáng thế để đem những ai tin nhận Ngài từ trần gian về cõi 
		trời.<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Xin kính chúc tất cả một mùa Giáng Sinh vui vẻ và đầy hồng ân của Chúa 
		Giêsu .<br>
		<br>
		Lm Giuse Đinh Tất Quý<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		ĐÊM THÁNH – ĐÊM CHAN HÒA ÁNH SÁNG<br>
		<br>
		(Is 9, 2-4. 6-7 (Hr 1-3. 5-6); Tt 2, 11-14; Lc 2, 1-14)<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Có rất nhiều người thuộc các tôn giáo bạn thường hay thắc mắc: “Tại sao 
		lễ Giáng Sinh lại được cử hành vào ban đêm?” Khi mừng lễ như vậy liệu có 
		tính lịch sử không?”.<br>
		<br>
		Thực ra thời khắc Con Thiên Chúa hạ sinh không đề cao ý nghĩa và giá trị 
		lịch sử cho bằng ý nghĩa thần học, thiêng liêng của ngày lễ.<br>
		<br>
		Vì thế, khi cử hành lễ Giáng Sinh vào đêm ngày 24, rạng sáng ngày 25, 
		Giáo Hội muốn làm nổi bật lên vai trò và sứ mạng của Đấng Thiên Sai, vì 
		Ngài là: “Ánh Sáng đến để chiếu soi nhân loại”.<br>
		<br>
		1. Ánh sáng tách lìa bóng tối<br>
		<br>
		Khi nói đến ánh sáng trong lịch sử cứu chuộc, chúng ta thấy nó xuất hiện 
		ngay từ thủa nguyên sơ bình minh của nhân loại. Sách Sáng Thế đã cho 
		thấy rõ vai trò của ánh sáng khi ánh sáng xuất hiện trong công cuộc tạo 
		dựng.<br>
		<br>
		Lúc ban đầu, mọi sự còn trong tình trạng hỗn mang, nhưng khi ánh sáng 
		hiện hữu, tức thì một lằn ranh giữa ánh sáng và bóng tối xuất hiện. Nhờ 
		vào ánh sáng, mọi vật được quang hợp và nhờ đó mà có sự sống.<br>
		<br>
		Sau khi sáng tạo trời đất và con người, Thiên Chúa đã dùng ánh sáng để 
		phân biệt ngày và đêm cũng như để cho con người được sống trong ánh 
		sáng.<br>
		<br>
		Như vậy, tác giả sách Sáng Thế cho thấy: ánh sáng được biểu trưng cho sự 
		sống. Còn bóng tối là hình ảnh của sự chết.<br>
		<br>
		Tuy nhiên, vì bóng tối là hình ảnh của sự chết, nên nó đối lập với ánh 
		sáng là biểu tượng của sự sống! Vì vậy, nó đã không ngừng len lỏi vào 
		trong tâm khảm của con người, khiến con người hướng chiều về nó và muốn 
		thoát ra khỏi ánh sáng để mong ước đạt được một cái gì đó tốt đẹp hơn 
		hiện tại!<br>
		<br>
		Chính vì sự yếu đuối và ngộ nhận này mà Nguyên Tổ của chúng ta là Ađam 
		và Evà đã đi theo bóng tối và có một sự khát khao cuồng tín rằng: khi đã 
		thoát ra khỏi ánh sáng thì sẽ được ngang hàng với Đấng Tạo Hóa là nguồn 
		Ánh Sáng.<br>
		<br>
		Nhưng sự hoang tưởng này đã không đem lại cho ông bà như ý muốn, mà cả 
		hai đã nhận một cái kết đầy đắng cay, đó là: bị Thiên Chúa trừng phạt và 
		đẩy lùi về với bóng tối khi Người đập tan ý định kiêu ngạo, phá ta niềm 
		hy vọng hão huyền, và đã đuổi ông bà ra khỏi Vườn Địa Đàng là nơi đầy 
		ánh sáng và bình an. Cũng kể từ đó, ông bà không được hưởng hạnh phúc 
		thủa ban đầu, không còn tình nghĩa với Đấng dựng nên mình và cũng kể từ 
		đó, Thiên Chúa đã đặt các thần hộ giá với lưỡi gươm sáng loé, để canh 
		giữ đường đến cây trường sinh (x. St 3,24).<br>
		<br>
		Cứ thế, trong suốt giai đoạn Cựu Ước, dân chúng đã lầm lũi bước đi trong 
		bóng tối của sự chết.<br>
		<br>
		Đây chính là thảm họa buồn mà nhân loại phải lãnh nhận do Nguyên Tổ loài 
		người gây ra.<br>
		<br>
		Trước thực trạng ấy, dân mong chờ ánh sáng biết chừng nào! Họ mong chờ 
		một nguồn ánh sáng đến để giải cứu họ thoát khỏi bóng tối tử thần, thoát 
		khỏi sự đau khổ, chết chóc và thân phận nô lệ đắng cay.<br>
		<br>
		2. Đức Giêsu là Ánh Sáng chiếu soi thế gian<br>
		<br>
		Niền hy vọng của họ đã thấu tới trời cao và đã được Thiên Chúa xót 
		thương khi sai Con của Người xuống thế là Đức Giêsu Kitô. Khi Đức Giêsu 
		đến, Ngài đã thực thi sứ vụ Thiên Sai trong vai trò giải thoát và chiếu 
		giãi Ánh Sáng vào trong bóng đêm tội lỗi.<br>
		<br>
		Đây là niềm vui mừng khôn xiết, vì: “Dân tộc bước đi trong u tối, đã 
		nhìn thấy sự sáng chứa chan. Sự sáng đã bừng lên trên những người cư ngụ 
		miền thâm u sự chết”; “Họ sẽ vui mừng trước nhan Chúa, như thiên hạ mừng 
		vui trong mùa gặt lúa, như những người thắng trận hân hoan vì chiến lợi 
		phẩm, khi đem của chiếm được về phân chia. Vì cái ách nặng nề trên 
		người, cái gông nằm trên vai, cái vương trượng quyền của kẻ áp bức. Chúa 
		sẽ nghiền nát ra, như trong ngày chiến thắng Mađian” (x. Is 9, 1-3).<br>
		<br>
		Như vậy, khi mừng sinh nhật của Đức Giêsu vào lúc nửa đêm, lúc mà ngày 
		cũ đã chấm dứt và nhường chỗ cho một ngày mới bắt đầu, Giáo Hội muốn làm 
		toát lên ý nghĩa cũng như giới thiệu cho mọi người biết rằng: Đức Giêsu 
		chính là Ngày Mới của Thiên Chúa. Ngày Mới này tràn ngập ánh sáng như 
		thủa ban đầu.<br>
		<br>
		Cuộc hạ sinh của Đức Giêsu cũng được ví như một cuộc tạo dựng mới. Một 
		cuộc tạo dựng hoàn toàn tinh tuyền không vướng nhơ tội lỗi bởi một người 
		Mẹ là Đức Maria đồng trinh, bởi một vị cha nuôi là thánh Giuse - Đấng 
		Công Chính, và trên hết, Đức Giêsu xuất phát từ “Ánh sáng bởi Ánh sáng, 
		Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật” (Kinh Tin Kính).<br>
		<br>
		Chính vì lẽ đó mà Đức Giêsu đã khẳng định: “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai 
		theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng 
		đem lại sự sống” (Ga 8,12).<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		3. Đón nhận và bước đi trong Ánh Sáng<br>
		<br>
		Đi theo ánh sáng hay sống trong bóng tối? Đây là câu hỏi muôn thủa được 
		đặt ra cho chúng ta. Đây cũng là thách đố đầy cam go và kịch tính mà ai 
		ai cũng phải đối diện trong đời sống thường ngày.<br>
		<br>
		Chính vì thấu hiểu sự giằng co này mà thánh Gioan đã phải thốt lên: 
		“Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1,11).<br>
		<br>
		Đây là câu chuyện buồn của hơn 2000 năm qua. Đây cũng là sự giằng co nội 
		tâm của mỗi người chúng ta. Một cuộc nội chiến không ngừng diễn ra ngay 
		trong nội tại của mỗi người.<br>
		<br>
		Chính vì vậy, đã biết bao lần, chúng ta không ngừng chiến đấu để mình 
		thuộc về Ánh Sáng và đẩy lui bóng tối ra khỏi cuộc đời mình. Tuy nhiên, 
		bóng tối bao giờ cũng hấp dẫn và ánh sáng bao giờ cũng là kẻ thù của 
		bóng tối, vì thế, lằn ranh giữa ánh sáng và bóng tối rất mong manh, 
		khiến cho biết bao người đã ngã quỵ trước ma lực của bóng tối.<br>
		<br>
		Đứng trước thách thức đó, thánh Phaolô đã mời gọi chúng ta: “… phải từ 
		bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công 
		chính và đạo đức ở thế gian này. Sở dĩ như vậy, là vì chúng ta trông chờ 
		ngày hồng phúc vẫn hằng mong đợi, ngày Đức Kitô Giêsu là Thiên Chúa vĩ 
		đại và là Đấng cứu độ chúng ta, xuất hiện vinh quang” (Tt 2, 12- 13). 
		Thi hành điều đó, ấy là chúng ta đang đi trong ánh sáng của đường lối 
		cứu chuộc mà Đức Giêsu đã đem lại cho nhân loại. Đồng thời cũng trở 
		thành con người xứng đáng với tước vị làm Con Thiên Chúa (x. Ga 1,12).<br>
		<br>
		Tuy nhiên, tin và bước theo Ánh Sáng không thôi thì chưa đủ, mà phải trở 
		thành ánh sáng soi đường cho người khác để họ cũng được hưởng niềm vui 
		do ánh sáng đem lại như lời Đức Giêsu đã nói: “Chính anh em là ánh sáng 
		cho trần gian”; và: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên 
		hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của 
		anh em, Ðấng ngự trên trời” (Mt 5, 14.16).<br>
		<br>
		Vậy ánh sáng của chúng ta là gì? Thưa! Ánh sáng của chúng ta chính là 
		một đời sống đạo chân thành; một mối tương quan thật thà thẳng thắn; 
		lương thiện trong công việc; khiêm nhường trong cuộc sống; bác ái, yêu 
		thương, liên đới với người nghèo…. Những đức tính này giúp ta và anh chị 
		em của mình vượt ra khỏi bóng tối là sự ích kỷ, kiêu ngạo, bảo thủ, ghét 
		ghen, dửng dưng, vô cảm, gian dối, thất tín….<br>
		<br>
		Mong sao mỗi khi mừng lễ Giáng Sinh, chúng ta hãy khao khát cho mình 
		được thuộc về Ánh Sáng để được cứu độ. Đồng thời cũng không ngừng khát 
		khao loan truyền Ánh Sáng sự sống ấy cho mọi người chung quanh bằng 
		chính cuộc sống gương mẫu của mình. Amen.<br>
		<br>
		Tu sĩ: Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		1. GLCN/37- GIÁNG SINH<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Gần lễ Giáng sinh ta thường nghe nói : “Chúng ta không còn những lễ 
		Giáng sinh ngày xưa nữa, không còn bầu không khí của ngày ấy nữa”. Thậm 
		chí một số người còn nói : Lễ Giáng sinh càng qua mau càng tốt. Đối với 
		tôi chẳng làm gì có lễ Giáng sinh… Và như thế cũng chẳng sao cả. Vậy 
		những lễ Giáng sinh của chúng ta về sau này đã bị thay đổi nhiều ; chúng 
		đã già đi nhiều, đã hao mòn, tàn héo đi.<br>
		<br>
		Dĩ nhiên những lễ Giáng sinh ấy là lễ Giáng sinh những năm xưa, nhưng 
		nếu chúng ta đã thay đổi như thế thì không phải do Thiên Chúa ; vì các 
		ngày lễ Giáng sinh của Thiên Chúa không hề thay đổi, không già đi, không 
		bạc màu. Trái lại, lòng chúng ta có thể già cỗi, tàn phai, hao mòn và 
		chán chường. Và nếu những ngày lễ Giáng sinh đã thay đổi đến như thế, 
		chắc hẳn là vì lòng chúng ta đã thay đổi. Những ngày lễ Giáng sinh của 
		Thiên Chúa không thay đổi, ta phải xác tín như vậy. Chúng không thay đổi 
		vì Thiên Chúa không thay đổi, vì tình yêu của Ngài muôn thuở và luôn 
		luôn hiện đại, vì lòng âu yếm của Ngài đối với nhân loại không hề thay 
		đổi. Mỗi lễ Giáng sinh, khi Thiên Chúa đến sống với chúng ta, ở giữa 
		chúng ta và ban cho chúng ta Con Một Ngài, đều mang đến Tin Mừng, niềm 
		vui và sự bình an đã được ban cho nhân loại ngày lễ Giáng sinh đầu tiên 
		tại Belem. Cùng một sứ điệp – cùng một sức mạnh và tính năng động – được 
		lặp lại từ lễ Giáng sinh này đến lễ Giáng sinh khác.<br>
		<br>
		Sứ điệp ấy chính là Thiên Chúa đến ở với loài người để cho loài người 
		được ở với Ngài ; chính Thiên Chúa đi vào trong thế giới của chúng ta để 
		chúng ta đi vào thế giới của Ngài , chính Con Một của Thiên Chúa đến 
		hiệp thông với cuộc sống chúng ta để cho sự sống chúng ta được hiệp 
		thông với sự sống của Ngài và sự sống của Thiên Chúa, thân phụ Ngài. Sứ 
		điệp ấy chính là Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, mang lấy nhân tính của 
		chúng ta để chúng ta mang lấy thiên tính của Ngài. Đó là sứ điệp bao giờ 
		cũng mới mẻ, cũng đẹp đẽ, cũng phấn khởi, cũng tuyệt vời, từ năm này qua 
		năm khác.<br>
		<br>
		Sứ điệp Giáng sinh không già cỗi, không hao mòn, ta hãy xác tín như vậy 
		! Hãy xác tín rằng lễ Giáng sinh của Thiên Chúa không tàn phai ! Vậy nếu 
		lễ Giáng sinh của ta bây giờ không còn như trước kia nưã có lẽ bởi vì 
		chúng ta không còn muốn… hoặc không dám nghe sứ điệp chân chính của 
		Giáng sinh… Giáng sinh mà Thiên Chúa đã thực hiện, và sẽ kéo dài đến tận 
		thế. Nếu những lễ Giáng sinh của chúng ta không còn như trước kia nữa, 
		cũng có lẽ bởi chúng ta không có hoặc không còn can đảm đón nhận Đấng 
		ban ý nghĩa cho lễ Giáng sinh : Hài nhi mang tên Giêsu, Con Thiên Chúa 
		và Con Đức Maria. Đón nhận một trẻ nhỏ không phải bao giờ cũng là chuyện 
		dễ dàng. Một trẻ thơ, nó quấy rầy. Nó bắt thay đổi những thói quen, bỏ 
		một số thói quen và có những thói quen mới.<br>
		<br>
		Tôi nghĩ rằng nơi đây chúng ta đụng đến lý do sâu xa của sự nhàm chán và 
		già nua nơi những lễ Giáng sinh của chúng ta. Quả thật làm sao sống niềm 
		vui Giáng sinh khi mình gắn bó với tiền bạc, trong lúc Giáng sinh là mầu 
		nhiệm khó nghèo ? Làm sao đón nhận lòng nhân từ và trìu mến của Giáng 
		sinh khi nuôi dưỡng thù hận trong lòng, khi từ chối yêu thương, tha thứ, 
		khi chỉ chia sẻ cách dè sẻn những gì mình sở hữu?... Trong lúc Giáng 
		sinh loan báo tình thương, lòng nhân hậu và mang món quà lớn nhất : Con 
		Thiên Chúa được ban cho loài người !<br>
		<br>
		Làm sao có được niềm hân hoan của Giáng sinh… khi người ta vẫn khép kín 
		nơi mình, nơi những tiện nghi, danh tiếng của mình, mà không quan tâm 
		đến bao người đàn ông, đàn bà, những trẻ em đang đau khổ, khóc than, đói 
		khát ? Tóm lại, làm sao chúng ta có thể sống một lễ Giáng sinh an bình 
		và vui vẻ sâu xa mà lại không chấp nhận sự quấy rầy của Hài nhi yêu cầu 
		được sinh ra nơi chúng ta, và cứ thờ ơ lãnh đạm trước sứ điệp của Ngài ?<br>
		<br>
		Phẩm chất của lòng chúng ta sẽ tạo nên phẩm chất lễ Giáng sinh của chúng 
		ta : Có lẽ chúng ta hay quên điều này. Vậy thì chỉ có một lời chúc cho 
		nhau thôi : Xin cho lòng chúng ta ấm lại một chút, xin cho lòng chúng ta 
		thành thật hướng về Thiên Chúa và về Đấng mà Ngài sai đến với chúng ta… 
		Xin cho lòng chúng ta biết xúc động một chút trước tình yêu của Thiên 
		Chúa đối với chúng ta… lúc đó chúng ta sẽ sống một cách khác lễ Giáng 
		sinh năm nay. Và những lễ Giáng sinh mà Thiên Chúa đã thực hiện… những 
		Giáng sinh mang bình an và niềm vui sẽ lại trở thành của chúng ta bởi vì 
		chúng ta cho phép Con Thiên Chúa nhập thể nơi chúng ta.<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		2. ASTM/24- HÓA THÀNH<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Lễ Giáng sinh có thể nói được là lễ của âm nhạc. Thực thế, chưa có một 
		cuộc lễ nào trong lịch sử nhân loại đã là nguồn cảm hứng dồi dào về âm 
		nhạc cho bằng lễ Giáng sinh. Đã có vô số những bài ca bất hủ về Giáng 
		sinh và mãi mãi sẽ còn những bài ca bất hủ về Giáng sinh nữa.<br>
		<br>
		Kỳ thực, Lễ Giáng sinh cũng là một bản nhạc bất hủ của Thiên Chúa dành 
		cho con người. Nếu âm nhạc là sự kết hợp hài hòa giữa âm thanh và sự 
		thinh lặng, thì mầu nhiệm của Thiên Chúa làm người cũng chính là một thứ 
		âm nhạc. Thánh Gioan tông đồ đã chiêm ngắm mầu nhiệm ấy, người đã sống 
		hòa hợp trong mầu nhiệm ấy và đã diễn tả bằng một câu nói ngắn gọn như 
		sau : “Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể”.<br>
		Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể nghĩa là Ngài đã trở thành một người như 
		chúng ta. Ngài đã nói ngôn ngữ của xứ sở và thời đại của Ngài, lời Ngài 
		đã được ghi chép lại và quảng bá trên khắp thế giới từ hơn 2000 năm. Lời 
		ấy đã được dịch ra trên 5000 thứ ngôn ngữ khác nhau trên thế giới và 
		những lời ấy đã trở thành ánh sáng và thức ăn cho tất cả nhân loại. Thế 
		nhưng, trước khi bắt đầu cuộc sống công khai, trước khi mở miệng để lại 
		cho chúng ta những lời vàng ngọc thì Chúa Giêsu đã sống trong thinh 
		lặng. Thinh lặng trong hang đá Belem và nhất là thinh lặng trong suốt 30 
		năm tại Nagiarét.<br>
		<br>
		Là Lời hằng sống của Thiên Chúa, là Lời đã hóa thành nhục thể, Chúa 
		Giêsu đã bắt đầu cuộc sống bằng sự thinh lặng. Tại sao thế ? Thưa là bởi 
		vì Ngài không chỉ nói với chúng ta bằng lời nói, mà Ngài còn muốn nói 
		với chúng ta bằng cả sự thinh lặng. Hơn nữa, Ngài còn muốn nói với chúng 
		ta bằng cả cuộc sống của Ngài nữa.<br>
		<br>
		Qua sự thinh lặng của cuộc sống ấy, Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta 
		Ngài trở thành một người trong nhân loại, Ngài trở nên thiết thân với 
		mọi người và mỗi một người được sinh ra. Ngài muốn nói với chúng ta rằng 
		: sự sống của con người là một thánh thiêng bất khả di nhượng, bất khả 
		xâm phạm. Ngài muốn nói với chúng ta rằng, mỗi một người sinh trong thế 
		gian này dù có xấu xa, thấp hèn mạt rệp đến đâu cũng đều được đóng ấn 
		tình yêu của Thiên Chúa, cũng đều là hình ảnh của Thiên Chúa, là con cái 
		Thiên Chúa. Phẩm giá cao cả ấy Chúa Giêsu muốn khẳng định với chúng ta 
		qua cuộc sống thinh lặng, lam lũ nghèo hèn của Ngài, cũng như qua những 
		kết thân của Ngài với những người bị xã hội đẩy ra bên lề.<br>
		<br>
		Chúa Giêsu đã sinh ra cách đây hơn 2000 năm, sự hiện hữu của Ngài là một 
		sự hiện hữu giới hạn, giới hạn trong không gian, giới hạn trong cách 
		sống, trong thời đại. Chúa Giêsu đã không hề làm một người chồng, Chúa 
		Giêsu đã không hề làm một người cha trong gia đình, thế nhưng cuộc sống 
		nhập thể làm người của Ngài không hề chấm dứt với cái chết của Ngài. Như 
		một bản nhạc bất hủ, mầu nhiệm Ngôi Lời hóa thành nhục thể vẫn tái diễn 
		trong dòng lịch sử của nhân loại. Và lễ Giáng sinh mà chúng ta cử hành 
		hằng năm không chỉ đến mỗi năm có một lần, nhưng tiếp tục được cử hành 
		trong từng phút giây của cuộc sống chúng ta.<br>
		<br>
		Thật thế, có lễ Giáng sinh là khi chúng ta để cho Ngài sinh ra và lớn 
		lên trong tâm hồn chúng ta. Có lễ Giáng sinh là khi chúng ta để cho Lời 
		Ngài thấm nhập vào cuộc sống của chúng ta và biến đổi chúng ta. Có lễ 
		Giáng sinh là khi chúng ta tiếp tục nhận ra ý nghĩa của cuộc đời này, 
		cho dù chúng ta phải trải qua không biết bao nhiêu đắng cay chua xót 
		trong cuộc sống này. Có lễ Giáng sinh khi chúng ta nhận ra hình ảnh cao 
		quí của Thiên Chúa trong mỗi người anh em, và có lễ Giáng sinh khi chúng 
		ta làm một nghĩa cử cho anh em của chúng ta. Như vậy, bài thánh ca mừng 
		Chúa Giáng sinh không chỉ được hát lên mỗi năm có một lần, mà phải là 
		khúc hoan ca trong từng phút giây của cuộc sống chúng ta.<br>
		<br>
		Nguyện xin Lời của Thiên Chúa đã hóa thành nhục thể cũng tiếp tục nhập 
		thể trong tâm tư suy nghĩ, hành động và trong cư xử của chúng ta, để mỗi 
		người chúng ta bằng lời nói hay bằng chứng tích thinh lặng, chúng ta trở 
		thành lời cho mọi người, chúng ta trở thành âm nhạc cho mọi người.<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		3. PV/63- QUAN HỆ<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Mỗi năm, khi đến lúc gửi đi những tấm thiệp Giáng Sinh, chúng ta lại lấy 
		ra cuốn sổ ghi địa chỉ. Trong đó, chúng ta có thể tình cờ bắt gặp một 
		cái tên, và thốt ra “Trời ơi ! Mình không hề nghe tin gì về anh ta cả 
		bao nhiêu năm nay”. Chúng ta không thể nhớ được mình đã gửi tấm thiệp 
		nào cho người đó vào dịp lễ Giáng Sinh năm ngoái hay không. Thế là chúng 
		ta đang phải có một quyết định : Liệu chúng ta sẽ gửi hoặc không gửi một 
		tấm thiệp cho anh ta ?<br>
		<br>
		Trong cuộc sống, hầu hết chúng ta đều có một người bạn nào đó như thế, 
		một người mà có lẽ chúng ta chỉ có quan hệ mỗi năm một lần mà thôi. Có 
		thể chúng ta đã từng rất thân thiết với người đó trong một thời gian. 
		Nhưng hiện nay, vì lý do này hoặc lý do khác, có một khoảng cách giữa 
		chúng ta và người đó. Chúng ta đã bị mất liên lạc. Và bây giờ, đến lúc 
		đáng tiếc là chúng ta chỉ liên lạc với nhau qua một tấm thiệp Giáng 
		Sinh. Điều này cho thấy rằng mối quan hệ không được chăm sóc, thì sẽ bị 
		ảnh hưởng không tốt, giống như một khu vườn bị bỏ bê, vì mối quan hệ như 
		vậy hầu như không được nuôi dưỡng. Trên thực tế, điều này không thực sự 
		ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta.<br>
		<br>
		Chúng ta cũng có thể bị mất quan hệ với Thiên Chúa. Điều này không hẳn 
		là chúng ta không còn tin tưởng nơi Thiên Chúa, mà chỉ là chúng ta không 
		còn giữ quan hệ với Người nữa. Khi còn nhỏ, có thể chúng ta đã từng rất 
		gần gũi với Thiên Chúa, nhưng theo thời gian, chúng ta mất đi mối quan 
		hệ này. Khi người ta tự cho phép mình mất quan hệ với Thiên Chúa, thì 
		xảy ra một sự mất mát to lớn, hậu quả là một sự trống rỗng mênh mông. 
		Không thể hiểu được và không thể nào chịu đựng nổi một cuộc sống, mà 
		không có Thiên Chúa.<br>
		<br>
		“Khi đến ngày chúng ta không còn tin tưởng nơi một thần tượng của cá 
		nhân mình, thì chúng ta không bị chết đâu ; nhưng khi đến ngày mà cuộc 
		sống của chúng ta không còn được soi sáng bởi ánh hào quang đều đều, 
		được đổi mới mỗi ngày, của một điều tuyệt vời, mà nguồn gốc của điều 
		tuyệt vời đó vượt ra ngoài tất cả mọi lý lẽ”.<br>
		<br>
		Ngày kia, một đứa trẻ lên 6 tuổi, cha mẹ cháu không có lòng tin, xin 
		người giáo viên của cháu dẫn cháu đến viếng một nhà thờ gần đó. Trong 
		suốt cuộc thăm viếng đó, cháu nói với người giáo viên : “Bà của con nói 
		rằng đây là ngôi nhà của Thiên Chúa. Bà nói rằng Thiên Chúa là tình yêu. 
		Bà nói rằng khi bà cầu nguyện với Chúa, có nghĩa là bà nói chuyện với 
		Chúa. Con chưa bao giờ cầu nguyện. Nhưng con thích được nói chuyện với 
		Chúa. Con muốn được nghe Chúa nói. Trong lớp, có một bạn tin vào Chúa. 
		Bạn ấy là người Công giáo. Nhưng bố mẹ con đều là những người không tin 
		vào Thiên Chúa, vì thế, con cũng vậy. Vì không biết Chúa, nên con cảm 
		thấy cô độc”.<br>
		“Vì không biết Chúa, nên con cảm thấy cô độc” – đây là câu nói của một 
		đứa trẻ lên 6 tuổi. Quả thật con người rất cô đơn, khi không được biết 
		Chúa. Nếu chúng ta trải qua nỗi cô đơn này, thì chúng ta không nên hốt 
		hoảng. Có thể đây là một cơ hội và là một ân sủng. Trái tim của chúng ta 
		luôn luôn khát khao một điều gì đó nhiều hơn nữa, hoặc nói đúng hơn, 
		chúng ta khát khao một Đấng khác. Nơi mỗi tâm hồn con người, đều có một 
		chỗ trống, chờ đợi một vị khách. Vị khách đó chính là Thiên Chúa.<br>
		<br>
		Người ta dễ dàng tin tưởng nơi Thiên Chúa hơn trong ngày lễ Giáng Sinh, 
		so với bất cứ thời gian nào khác, bởi vì trong lúc này, chúng ta cảm 
		thấy rằng Thiên Chúa rất gần gũi với chúng ta, và rất yêu thương chúng 
		ta. Đây là một quà tặng của ngày lễ Giáng Sinh. Điều này chứng tỏ rằng 
		chúng ta không cô độc trong vũ trụ. Nếu chúng ta cảm thấy mình bị mất 
		quan hệ với Thiên Chúa, thì ngày lễ này đem đến cho chúng ta một cơ hội, 
		để tự mình lấy lại quan hệ với Người, trong niềm tin tưởng rằng chúng ta 
		sẽ không đón nhận bất cứ điều gì khác, ngoại trừ tình yêu. Nếu biết cởi 
		mở tâm hồn của mình ra, chúng ta sẽ cảm nhận được rằng mình được sự hiện 
		diện thần thánh tác động vào.<br>
		<br>
		Quan hệ với Thiên Chúa, Đấng là tình yêu, đem đến sự an bình nội tâm. 
		Chúng ta không phải là những hạt bụi hoặc hạt cát, mà là những người con 
		trai con gái yêu quí của Thiên Chúa, là những người được thừa kế vương 
		quốc nước trời.<br>
		<br>
		Lễ Giáng Sinh cũng cung cấp cho chúng ta một cơ hội để tự liên lạc với 
		người khác, đặc biệt là với gia đình của chúng ta, nếu chúng ta bị mất 
		quan hệ với họ. Điều đó cũng mang lại cho chúng ta sự an bình và niềm 
		vui.<br>
		<br>
		Các mục đồng trở lại với đàn gia súc của họ, “vừa đi vừa ca ngợi và tôn 
		vinh Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe”. Không có gì 
		thay đổi cả, tuy nhiên, tất cả mọi sự đều đã thay đổi. Bây giờ, tâm hồn 
		của họ tràn ngập sự kinh ngạc. Họ đã có được một tầm nhìn mới, một niềm 
		hy vọng mới, một sự hiểu biết mới, về tình yêu của Thiên Chúa đối với 
		họ, và về sự hiện diện của Người. Cuộc sống của họ được sáng rực ý 
		nghĩa. Thế giới cũ đã trở nên một thế giới mới, trong đó tất cả mọi sự 
		đều long lanh đều kỳ diệu. Sự phát hiện về Thiên Chúa đem lại kết quả là 
		một thế giới đầy niềm vui.<br>
		<br>
		<br>
		4. PV/66- NOEL - BÌNH AN<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Một trong những điều mà chúng ta luôn liên kết với lễ Giáng sinh, đó là 
		sự bình an. Khi Đức Giêsu sinh ra, các thiên sứ hát rằng “Vinh danh 
		Thiên Chúa trên các tầng trời, bình an dưới thế cho người Chúa thương”. 
		Đây là một câu, trong số những lời nói đầy yêu thương nhất ở Tin Mừng. 
		Bạn có thể nói rằng những lời nói này tóm tắt cả Tin Mừng.<br>
		<br>
		Vào ngày lễ vọng Giáng sinh năm 1914, những quân lính Đức và Anh đối đầu 
		với nhau, tại các hào chứa đầy bùn lầy và chuột cống. Tại các hào của 
		quân Anh, những lá thư và tấm thiệp được gửi đến từ gia đình, và anh em 
		binh lính khá vui vẻ. Đến nửa đêm, một số người trong bọn họ bắt đầu ca 
		hát. Thế rồi đột nhiên, một người lính gác la lên một cách đầy phấn 
		khích : “Anh em hãy lắng nghe đi !”. Họ lắng nghe, và nhận thấy những 
		quân lính Đức cũng đang ca hát. Một lúc sau, hai người lính can đảm, do 
		mỗi phe cử một người, đến gặp nhau tại bãi đất trống. Thêm nhiều quân 
		lính khác đi theo họ. Theo quan điểm quân đội, điều này không có ý nghĩa 
		gì cả. Với tư cách là những người lính, người ta cho rằng họ đến đánh 
		nhau. Đột nhiên ngừng lại và trở nên bạn bè không tạo nên ý nghĩa. Nhưng 
		trong đêm hôm đó, có sức mạnh còn lớn lao hơn cả quân đội tại nơi chiến 
		trường.<br>
		<br>
		Khi ngày lễ Giáng sinh bắt đầu ló rạng, với gương mặt tươi cười, các 
		binh lính đi dạo chung quanh vùng Đất Không Người. Người ta không nhìn 
		thấy một dấu vết nào của sự hận thù. Họ trao đổi với nhau lương thực, đồ 
		kỷ niệm và thuốc lá. Khoảng giữa trưa, khi tình thân thiện đang gia 
		tăng, thì bắt đầu có một trận đấu bóng đá giữa hai phe. Nhưng trận đấu 
		này không kéo dài lâu. Tin này đã lan tới tai các vị tướng, và họ ban bố 
		những mệnh lệnh gay gắt phải chấm dứt tất cả mọi chuyện. Các sĩ quan dồn 
		binh lính trở lại vào hào. Tất cả mọi chuyện đều kết thúc. Trong đêm lễ 
		Giáng Sinh, cuộc giao chiến bắt đầu trở lại.<br>
		<br>
		Nếu điều này không chứng tỏ một điều khác, thì nó chứng tỏ được sức mạnh 
		của lễ Giáng Sinh. Nhưng bình an không chỉ là sự vắng bóng của chiến 
		tranh hoặc chia rẽ. Đây còn là một điều sâu xa hơn và phong phú hơn. So 
		với peace của tiếng Anh tiếng Do thái chỉ sự bình an – shalom – chuyển 
		tải một ý nghĩa phong phú hơn. Từ này chuyển tải một ý nghĩa về sự trọn 
		vẹn, một tình trạng hoàn toàn hạnh phúc.<br>
		<br>
		Thành phần chủ yếu của bình an là sự công chính. Như vậy, ở đây có sự 
		công chính, thì tại đó có bình an đích thực. Do đó, không thể có bình an 
		đối với kẻ quỷ quyệt. Bình an không đơn giản chỉ là sự hài hòa. Đây là 
		sự hạnh phúc trọn vẹn. Bình an vẫn có thể tồn tại trong một thế giới rối 
		loạn, và thậm chí ngay cả giữa những vấn đề không giải quyết được. Đây 
		là một điều gì đó quá sâu xa, đến nỗi nó không lệ thuộc vào những hoàn 
		cảnh bên ngoài.<br>
		<br>
		Bình an là trạng thái yên tĩnh nội tâm, và cho thấy rõ mối tương quan 
		thực sự với Thiên Chúa và với người khác. Theo ý nghĩa đầy đủ này, nếu 
		chỉ bằng nỗ lực của con người, thì không thể tạo ra được sự bình an. Đây 
		là một ân sủng của Thiên Chúa. Đây là một món quà tặng của ngày lễ Giáng 
		Sinh. Thiên Chúa đến với chúng ta trong sự bình an, và Người mong muốn 
		chúng ta tiếp cận với nhau. Bình an là ân sủng mà Thiên Chúa ban cho 
		chúng ta ; quà tặng của chúng ta đối với Thiên Chúa chính là đem bình an 
		đến cho nhau.<br>
		<br>
		Bình an là sự kết hợp với Thiên Chúa. Trong ngày lễ Giáng Sinh, dường 
		như Thiên Chúa rất gần gũi với chúng ta, và rất yêu thương chúng ta. Xin 
		Người giúp chúng ta cảm mến được sự bình an, vượt quá tất cả sự hiểu 
		biết, mà chỉ một mình Người có thể ban, và thế giới này không thể đem 
		đến được. Đó là sự bình an mà không ai có thể tước đoạt khỏi chúng ta.<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		5. PV/69- NOEL- VƯƠNG QUỐC<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Thông thường trong cuộc sống, ngày mà chúng ta mong đợi nhất, lại hay bị 
		chuyển thành ngày thất vọng nhất. Điều này cũng có thể xảy ra đối với cả 
		ngày lễ Giáng Sinh nữa.<br>
		Đôi khi, chúng ta có thể có những ước mong không thực tế về ngày lễ 
		Giáng Sinh. Dường như thể chúng ta mong đợi một điều gì đó kỳ lạ xảy ra, 
		một điều gì đó sẽ mãi mãi thay đổi cuộc sống nhàm chán của chúng ta. Nhờ 
		vào sự xây dựng kéo dài mãi mãi, khi gần đến ngày trọng đại, niềm hy 
		vọng của chúng ta bay lên cao vút. Tuy nhiên, bản chất của những niềm hy 
		vọng này thường bị thị trường ức chế – một sự tràn ngập những đồ ăn thức 
		uống, tràn ngập những chương trình Tivi để chúng ta giải trí.<br>
		Nhưng khi bắt đầu đến lễ Giáng Sinh, thì điều đầu tiên mà chúng ta ghi 
		nhận được là gì ? Ngày đó chỉ giống như bất cứ một ngày nào khác. Không 
		ai nhìn thấy các thiên thần, không ai nghe được những giọng hát từ trên 
		trời vang vọng xuống. Tất cả mọi sự đều diễn tiến y như bình thường. Và 
		khi mặt trời của ngày này lặn xuống, thì nhiều người lại cảm thấy trống 
		rỗng và trầm cảm, và họ nói một cách cay đắng “Lễ Giáng Sinh chỉ dành 
		cho trẻ con mà thôi”.<br>
		Nhưng ngày này có thể khác hẳn. Mặc dù không hề có dấu hiệu nào trên bầu 
		trời, nhưng ít nhất đối với những người biết cách nhìn, thì vẫn có những 
		dấu hiệu về ngày này. Trong ngày lễ Giáng Sinh, trên thế giới, có nhiều 
		ánh sáng hơn, ấm áp hơn, hy vọng hơn. Người ta trở nên thân thiện với 
		nhau hơn trong ngày lễ này. Không ai đi qua mặt nhau, mà không chào 
		nhau. Trong ngày này, chúng ta cảm thấy mình là một thành phần của gia 
		đình nhân loại, hoặc ít nhất, chúng ta mong muốn được trở nên một phần 
		của gia đình đó. Nếu phải đi một mình đơn độc trong buổi sáng hôm nay, 
		thì dường như đó là một điều kỳ lạ, thậm chí còn sai trái nữa.<br>
		Thật vậy, trong ngày lễ Giáng Sinh, Nước Thiên Chúa trở nên rõ rệt. 
		Trong ngày này, nếu biết cởi mở tâm hồn của mình ra, chúng ta sẽ cảm 
		thấy mình được sự hiện diện thần thánh đụng chạm vào. Hugh Leonard một 
		nhà viết kịch người Ailen, đã nói “Có lẽ tôi không biết Thiên Chúa là 
		ai, nhưng tôi biết được nơi Người sinh sống. Người ở chung quanh tôi 
		trong suốt cả năm, nhưng trong ngày lễ Giáng Sinh, Người tiến tới và 
		thọc sâu vào cạnh sườn của tôi”. Đó không chỉ là một cảm giác.<br>
		Trong ngày lễ Giáng Sinh, chúng ta có được một cảm giác về sự gần gũi, 
		ấm áp, và về lòng từ ái của Thiên Chúa. Chúng ta cảm nhận được rằng mình 
		không cô độc, rằng cuộc sống của chúng ta có một ý nghĩa, rằng có một ai 
		đó đang săn sóc và hướng dẫn đường lối cho chúng ta. Đó là ý nghĩa cốt 
		lõi của ngày lễ Giáng Sinh. Chúng ta không nên e ngại trong việc sưởi 
		mình nhờ hơi ấm này, giống như chúng ta vẫn vui mừng tắm mình trong ánh 
		nắng ấm áp vào một ngày lạnh lẽo.<br>
		Chúng ta cũng có được một cảm giác về sự thành tâm thiện chí của bản 
		thân mình và của những người khác. Chúng ta cảm nhận được rằng cuộc sống 
		thật tươi đẹp và có một ý nghĩa. Chúng ta không phải là những hạt bụi 
		hoặc hạt cát, mà là những người con trai và con gái yêu quí của Thiên 
		Chúa. Chúng ta có một nhân phẩm thần thánh và một vận mệnh vinh quang. 
		Một sự bình an nội tâm xuất phát từ mối quan hệ với Thiên Chúa, Đấng là 
		tình yêu.<br>
		Nếu ngày lễ Giáng Sinh để lại cho chúng ta sự thất vọng, thì có nghĩa là 
		chúng ta đã gắn bó niềm hy vọng của mình vào những điều sai trái. Kẻ nào 
		gắn bó niềm hy vọng của mình vào những thứ do dân buôn bán đưa ra, thì 
		sẽ luôn luôn bị thất vọng, không phải vì họ hứa hẹn quá ít, mà là vì họ 
		hứa hẹn quá nhiều, mà hứa hẹn về những điều sai trái. Tâm hồn chúng ta 
		khát khao nếm được “niềm vui” mà các thiên sứ đã loan báo cho các mục 
		đồng. Đó là niềm hy vọng của ngày lễ Giáng Sinh.<br>
		Chúng ta phải cầu xin điều gì đây ? Chỉ cần một điều duy nhất : hãy cởi 
		mở tâm hồn mình ra để đón nhận niềm hy vọng này. Hôm nay, Đấng Cứu Độ đã 
		được sinh ra cho chúng ta ; Người là Đức Kitô, là Đức Chúa.<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		6. PV/72- NOEL- ÁNH SÁNG<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Chúng ta cử hành lễ Giáng Sinh vào thời gian tối tăm nhất trong năm (ở 
		bắc bán cầu). Đó là thế gian chúng ta đánh giá được giá trị của ánh 
		sáng. Phụng vụ lễ Giáng Sinh đầy rẫy những câu ám chỉ về ánh sáng. Đức 
		Giêsu đến làm trọn lời tiên báo của ngôn sứ Isaia : “Dân đang lần bước 
		giữa tối tăm, đã thấy một ánh sáng huy hoàng ; đám người sống trong vùng 
		bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi”. Mẹ Têrêxa đã kể lại một 
		ngày kia, tại Melbourne, Uc, mẹ đến thăm viếng một người đàn ông nghèo 
		nàn không được một ai quan tâm đến. Ông ta sinh sống dưới tầng hầm, tại 
		một căn phòng ở trong tình trạng bê bối khủng khiếp. Căn phòng này không 
		hề có ánh sáng, và hiếm khi ông ta vén bức rèm ra. Dường như ông không 
		hề có một người bạn nào trên thế giới này.<br>
		Mẹ bắt đầu bằng việc thu dọn và sắp xếp lại căn phòng. Ban đầu, ông ta 
		cự tuyệt “Bà cứ để mọi sự như cũ đi. Tôi quen với cảnh này rồi”. Mặc dù 
		thế, mẹ vẫn cứ xúc tiến công việc của mình. Trong khi dọn dẹp, mẹ nói 
		chuyện với ông ta. Dưới một đống rác, mẹ phát hiện ra một cây đèn dầu 
		phủ đầy bụi bặm. Mẹ lấy cây đèn ra lau chùi, và nhận thấy là nó khá đẹp. 
		Mẹ nói với ông ta “Ở đây, ông có một cây đèn rất đẹp. Làm thế nào mà 
		không bao giờ ông thắp sáng nó lên vậy ?”.<br>
		Người đàn ông này đáp “Tại sao tôi không bao giờ thắp sáng cây đèn đó 
		lên ư ? Có ai đến thăm tôi đâu” !<br>
		Ông ta trả lời “Vâng, nếu tôi nghe thấy một giọng nói của người nào, thì 
		tôi sẽ thắp đèn lên”.<br>
		Hai trong số các nữ tu của mẹ Têrêxa bắt đầu thường xuyên đến thăm viếng 
		ông. Mọi sự dần dần được cải thiện đối với ông ta. Mỗi lần các nữ tu đến 
		thăm, thì ông ta đều thắp đèn lên. Thế rồi một ngày kia, ông nói với các 
		nữ tu “Thưa các sơ, kể từ bây giờ, tôi có thể tự xoay xở được rồi. Nhưng 
		xin nói giùm với người nữ tu đầu tiên đến thăm tôi, rằng ánh sáng mà bà 
		đã thắp lên trong cuộc đời tôi hiện vẫn còn đang cháy sáng”.<br>
		Bạn có thể nói rằng ngọn đèn đã giải thoát ông ta. Nhưng tất nhiên không 
		phải là bản thân ngọn đèn, nhưng là lòng tử tế và nhân ái mà ngọn đèn 
		này tượng trưng, trước hết, nơi mẹ Têrêxa, sau đó, là nơi các nữ tu của 
		mẹ.<br>
		Chúng ta sống trong một thế giới bị tối tăm do chiến tranh, bạo lực và 
		đủ mọi loại đau khổ. Và tất cả chúng ta đều đã từng trải qua cảnh tối 
		tăm trong cuộc sống cá nhân và cuộc sống gia đình của chúng ta – buồn 
		phiền, thất vọng, yếu đuối, đau đớn, lỗi lầm, tội ác, cô đơn v,v…<br>
		May mắn thay, ánh sáng mà Đức Kitô đã thắp lên trong thế giới của chúng 
		ta vẫn còn tiếp tục cháy sáng. Không phải là ánh sáng của Người đã được 
		thắp lên tại Bêlem một lần, và rồi tắt ngúm đi. Anh sáng đó vẫn chiếu 
		tỏa ra giữa cảnh tàn phá, đổ vỡ và biến động. Anh sáng đó chiếu tỏa ra 
		tất cả những ai tin tưởng và đi theo Người.<br>
		Lịch sử có đầy rẫy những câu chuyện về bao con người mang lại cảnh tối 
		tăm cho thế giới. Không giống như Đức Giêsu. Từ hơn 2000 năm nay, giáo 
		lý của Đức Giêsu đã để lại một ảnh hưởng trên mọi người, theo một cách 
		thức không giống như bất cứ người nào khác. Nhưng tự thân lòng từ ái 
		rạng rời của Người biểu hiện ra, qua tất cả những hành động và những 
		cuộc gặp gỡ của Người với dân chúng. Vô số người đã đến với Người trong 
		tâm trạng tối tăm, và khi ra đi, họ được tắm mình trong ánh sáng.<br>
		Lòng từ ái rạng ngời của Đức Giêsu vẫn còn tiếp tục soi chiếu trên thế 
		giới. Nơi Đức Giêsu và nơi Tin Mừng của Người, chắc chắn chúng ta có 
		được một suối nguồn ánh sáng, mà từ 2000 năm nay, đã chiếu tỏa trên nhân 
		loại. Anh sáng soi chiếu cho các mục đồng đi đến Bêlem trong đêm Giáng 
		Sinh đầu tiên, vẫn soi chiếu trên chúng ta trong đêm Giáng Sinh này.<br>
		Anh sáng của Đức Giêsu không đến để phán xét chúng ta, nhưng để cứu độ 
		chúng ta. Anh sáng đó đến để chỉ ra cho chúng ta cách thế sống như thế 
		nào, và hướng dẫn chúng ta hướng về vương quốc vĩnh cửu của Thiên Chúa.<br>
		Mỗi người chúng ta đều có thể trở nên nguồn sáng cho thế giới tối tăm. 
		Nhưng trừ phi ngọn đèn của bản thân chúng ta còn đang chiếu sáng, nếu 
		không, chúng ta sẽ không có khả năng soi sáng được cho bất cứ ai. Được 
		sống trong ánh sáng là một niềm vui lớn. Nhưng có một niềm vui thậm chí 
		còn vĩ đại hơn, đó là được trở nên một nguồn sáng cho người khác.<br>
		Thiên Chúa đã kêu gọi chúng ta bước ra khỏi bóng tối, để đi vào ánh sáng 
		tuyệt diệu nơi Con của Người. Chúng ta phải cố gắng sống đúng tư cách là 
		con cái của ánh sáng. Người ta nhận thấy những hiệu quả của ánh sáng qua 
		tấm lòng tốt, lối sống đúng đắn và theo lẽ phải.<br>
		Xin cho trong lòng từ ái của Người, Chúa cho chúng ta nếm được niềm vui, 
		mà các mục đồng đã cảm nghiệm được, khi ánh sáng của vinh quang Thiên 
		Chúa chiếu tỏa chung quanh họ, trong đêm Giáng Sinh đầu tiên đó. Và xin 
		cho chúng ta nghe được những tiếng nói êm dịu vang vọng trong tâm hồn 
		chúng ta “Bất cứ ai đi theo Ta, sẽ không bao giờ phải đi trong tối tăm, 
		nhưng sẽ luôn luôn có được ánh sáng ban sự sống”.<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		7. PV/75- NOEL- ÂN SỦNG<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Bối cảnh : một thành phố tồi tàn trong một thế giới thứ ba. Mặc dù có 
		ánh sáng mặt trời, bóng tối vẫn bao trùm lên những dãy lán trại lụp xụp. 
		Nhưng lễ Giáng Sinh đang đến, mọi sự sẽ khác hẳn đi, ít nhất là trong 
		một chốc lát.<br>
		Tuy nhiên, vào ngày trước lễ Giáng Sinh, có một sự kiện xảy ra càng đào 
		sâu thêm cảnh tối tăm của những túp lều tồi tàn. Một người cha của ba 
		đứa con nhỏ đã phạm tội giết người. Không ai biết được đầy đủ câu chuyện 
		phía sau hành động của anh ta. Nhưng anh ta để cho người khác nhìn thấy 
		sự tối tăm đã xâm nhập vào tâm hồn anh. Một thời gian ngắn trước khi qua 
		đời, anh ta nói với bạn bè rằng anh rất khổ tâm, vì không có món quà 
		tặng nào cho con cái của anh trong ngày lễ Giáng Sinh.<br>
		Tặng quà là một phần quan trọng trong việc cử hành lễ Giáng Sinh. 
		Charles Dickens kết luận : “Lễ Giáng Sinh là thời điểm trong tấm lịch 
		dài của cả năm trong đó người ta cởi mở ra với nhau cánh cửa tâm hồn vốn 
		đã khép kín”.<br>
		Có thể nói rằng Giáng Sinh là mùa của việc trao tặng quà, mặc dù quà 
		tặng của chúng ta có thể tầm thường và chỉ theo thủ tục. Một món quà tự 
		nó là một cách thế, để nói lên với người được tặng quà rằng chúng ta quí 
		mến họ. Món quà tặng ít liên quan đến lẽ phải, mà liên quan đến tình 
		yêu.<br>
		Việc Thiên Chúa ban ân sủng mang chúng ta trở lại với bản thân ngày lễ. 
		Ngày lễ Giáng Sinh được tạo ra bởi một ân sủng. Chính Thiên Chúa là Đấng 
		đi bước trước. “Thiên Chúa quá yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban tặng 
		Con duy nhất của Người, hầu cho tất cả những ai tin tưởng nơi Người đều 
		không bị hư đi, nhưng có được sự sống đời đời”.<br>
		Trong khi trao tặng quà cho nhau, chúng ta hãy đảm bảo rằng chúng ta 
		cũng trao tặng cho nhau chính bản thân mình nữa. Lễ Giáng Sinh không chỉ 
		là dịp để trao tặng quà, nhưng ngày lễ này nói nhiều hơn về sự hiện diện 
		– nghĩa là trao tặng chính bản thân mình. Và phẩm chất sự hiện diện của 
		chúng ta là tất cả mọi sự.<br>
		Có sự hiện diện mang tính cách xa vắng, nhạt nhẽo, lãnh đạm – giống như 
		mặt trời vào một ngày mùa đông, đã mọc lên và lặn đi, mà thậm chí không 
		hề làm tan giá cho mặt đất. Và có sự hiện diện gần gũi, ấm áp, quả quyết 
		– giống như mặt trời vào một ngày mùa hè, mang lại sự sống cho tất cả 
		mọi loài.<br>
		Việc trao tặng quà quan trọng, nhưng việc tiếp nhận quà cũng quan trọng 
		tương tự như vậy. Lễ Giáng Sinh cũng là một thời gian để tiếp nhận – 
		tiếp nhận những món quà mà người khác trao tặng, và đặc biệt là những 
		món quà mà Thiên Chúa trao tặng cho chúng ta. Thiên Chúa không trao tặng 
		cho chúng ta món quà là một đồ vật, mà là một con người. Đức Giêsu chính 
		là một quà tặng đối với những người nghèo khổ và thấp kém, để đảm bảo 
		với họ rằng tình yêu mến không bỏ qua họ.<br>
		Khi trao tặng quà, chúng ta gói món quà đó trong một lớp bọc có trang 
		trí, mặc dù chúng ta biết rằng giấy gói không gia tăng gì thêm cho món 
		quà, và sẽ bị xé ra và quẳng vào sọt rác. Khi Thiên Chúa làm cho chúng 
		ta một món quà là chính Con của Người, thì món quà đó của Người không hề 
		đến trong một lớp bọc được trang trí. Nhưng Người đã đến trong thân phận 
		con người yếu đuối, mỏng giòn và hay chết. Chính nơi điểm này, mà chúng 
		ta càng nhận thấy được mức độ sâu xa nơi tình yêu của Người.<br>
		Mặc dù Đức Kitô đã đến giữa chúng ta với đôi bàn tay trống rỗng và yếu 
		đuối, nhưng Người vẫn mang lại cho chúng ta những món quà vô giá và kéo 
		dài muôn thuở. Người đến để dạy cho chúng ta không phải là những hạt bụi 
		hoặc hạt cát, mà là những người con trai và con gái yêu quí của Cha trên 
		trời, được tiền định vinh quang đời đời.<br>
		Vậy chúng ta cần có loại khuynh hướng gì, để có thể đón nhận những ân 
		sủng của Thiên Chúa ? Chúng ta cần ý thức về sự nghèo nàn của bản thân 
		chúng ta trước mặt Thiên Chúa. Sau đó, điều mà chúng ta phải làm, là cởi 
		mở tâm hồn chúng ta ra, để đón nhận ân sủng Thiên Chúa. Những ai biết 
		đón nhận ân sủng của Thiên Chúa, sẽ luôn luôn có được điều gì đó, để 
		chia sẻ với những người khác.<br>
		“Có một quà tặng không thể nào đánh giá được đã trao tặng từ 2000 năm 
		trước.<br>
		Tuy nhiên, nếu Thiên Chúa không ban tặng như vậy, thì Người vẫn là một 
		kẻ xa lạ ở nơi xa xôi, và không phải là một hài nhi nằm trong máng cỏ”.<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		8. PV/78- NOEL - HÀNH TRÌNH<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Tháng 7 năm 1969, Neil Amstrong cùng với hai phi hành gia đồng đội, đã 
		bắt đầu đi vào một cuộc hành trình lâu dài nhất, chưa từng được con 
		người thực hiện. Mục tiêu của họ là một nơi ở cách xa hàng triệu dặm. Cả 
		thế giới hướng đôi mắt về phía họ, trong khi bay tới một hành tinh trong 
		không gian ở gần chúng ta nhất – mặt trăng. Họ đã đáp xuống tại một nơi 
		trên mặt trăng, được biết đến như là Biển của Yên Tĩnh. Họ khám phá ra 
		rằng nơi đây không có sự sống và cằn cỗi, và đã mang về một nắm đất và 
		bụi. Tuy nhiên, Amstrong mô tả sứ mạng của họ là “một bước nhảy vọt đối 
		với nhân loại”.<br>
		Lúc đó, đây là một tin vĩ đại. Bây giờ, dường như cuộc hành trình này 
		mang tính cách khá mơ hồ. Hầu như chúng ta đã quên lãng điều đã từng xảy 
		ra. Người ta đang hỏi nhau không hiểu cuộc hành trình đó đã đạt được gì, 
		bất cứ điều gì ? Và những con người mà danh tính của họ đã từng ở trên 
		môi miệng của tất cả mọi người, thì nay hiếm khi được nhắc nhở đến.<br>
		Hôm nay, người Kitô hữu chúng ta cử hành mầu nhiệm Nhập thể – việc Đức 
		Giêsu, Con Thiên Chúa đi vào thế giới của chúng ta. Người đã được một 
		người trinh nữ thấp kém sinh ra, vào một thời điểm mà nền thông tin còn 
		chậm chạp, và tại một đất nước nhỏ bé, không hề có biển yên tĩnh, mà chỉ 
		có bối cảnh là những cuộc xung đột triền miên. Chỉ có một nhúm người 
		biết về việc Người đã đến mà thôi.<br>
		Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn nói về mầu nhiệm này và cử hành ngày lễ này. 
		Sự nhập thể là giây phút vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới. Kết quả là 
		mọi việc không bao giờ còn giống như trước nữa. Qua bao thời đại, các 
		nghệ sĩ, nhà thơ, tác giả đã nhận ra tầm quan trọng của biến cố Nhập 
		Thể.<br>
		Trong biến cố nhập Thể, chúng ta nhận ra được tình yêu mà Thiên Chúa 
		dành cho chúng ta. Mặc dù Đức Kitô đến giữa chúng ta trong đôi tay trống 
		rỗng và yếu đuối, nhưng Người vẫn mang đến cho chúng ta những ân sủng vô 
		giá và tồn tại muôn thuở. Người đến để dạy cho chúng ta rằng chúng ta 
		không phải là những hạt bụi hoặc hạt cát, mà là những người con trai và 
		con gái yêu quí của Cha trên trời, được tiền định vinh quang đời đời.<br>
		Có một người giáo viên rất muốn đưa ra những lời giảng dạy, hướng dẫn, 
		phê bình và sửa sai. Ngay sau khi kết hôn, ông liền dạy cho vợ ông biết 
		cách rửa bát đĩa, bởi vì ông cho rằng nàng làm việc này không đúng cách. 
		Và với cách thức chỉ dạy của ông, nàng phải rửa lại từng cái đĩa, mà 
		nàng đã rửa xong rồi, dưới sự giám sát của ông. Thay vì cho nàng nhìn 
		thấy ví dụ cụ thể, bằng cách tự tay rửa bát, thì ông lại chỉ đưa ra 
		những lời khuyên bảo và hướng dẫn. Đức Giêsu đã không làm như vậy.<br>
		Với tư cách Con Thiên Chúa, Đức Giêsu được chia sẻ cùng một bản chất 
		thần thánh, giống như Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Nhưng trong sự Nhập 
		Thể, Người đã tự mang lấy trên thân mình Người chính thân phận của chúng 
		ta, đó là một thân phận yếu đuối, mỏng giòn, lệ thuộc vào tội lỗi và sự 
		chết. Bởi vì cuộc đấu tranh và chiến thắng ở ngay trong bản chất của 
		chúng ta, nên chúng ta cũng có thể được ích lợi từ bản chất đó. Và Đức 
		Giêsu không hề đòi hỏi bất cứ điều gì nơi chúng ta, mà Người lại không 
		tự mình thực hiện.<br>
		Từ đó, bạn có được mầu nhiệm Nhập Thể. Đó là mẫu thức của sự cứu độ. 
		Thiên Chúa đã đi vào thế giới của chúng ta, cùng với những điều kiện 
		sống của chúng ta. Người muốn cảm nhận được nỗi đau khổ của kiếp người, 
		và chỉ ra cho chúng ta tính cách vĩ đại của con người. Bây giờ, chúng ta 
		có được một Thiên Chúa, Đấng thấu hiểu chúng ta, mỗi khi chúng ta nói 
		với Người về nỗi đau đớn của chúng ta. Nhưng Người cũng là một Thiên 
		Chúa, Đấng sẽ không cho phép chúng ta được đắm mình trong nỗi đau khổ 
		đó. Người sẽ không thỏa lòng, cho đến khi Người đòi hỏi được điều tốt 
		đẹp nhất nơi chúng ta.<br>
		Con Thiên Chúa đến trên trái đất này, để chia sẻ thân phận của chúng ta, 
		sao cho chúng ta có thể được chia sẻ trong sự thần thánh của Người. “Hai 
		ông bà lấy tã bọc con trẻ, và đặt hài nhi trong một máng cỏ”. Đức Giêsu 
		đã lớn lên chính từ nguồn gốc thấp kém này, để chỉ ra cho chúng ta thấy 
		sự vĩ đại của nhân loại chúng ta.<br>
		Niềm vui của ngày này tràn đầy trong tâm hồn chúng ta và trên toàn thế 
		giới. Đức Giêsu hướng dẫn chúng ta trên một cuộc hành trình còn táo bạo 
		hơn của cuộc hành trình của các phi hành gia – cuộc hành trình đi đến 
		vương quốc của sự sống đời đời.<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		9. Ánh Sáng<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Vào chiều Chúa Nhật ngày 1 tháng Sáu, năm 1975, Darrel Dore đang ở trên 
		một giàn khoan dầu tại vịnh Mexico. Bất chợt, cái giàn lắc lư và ngả 
		nghiêng qua một bên. Sau đó, nó đổ nhào xuống biển.<br>
		Trong khi xảy ra tai nạn đó thì Darrel đã bị kẹt trong một cái phòng ở 
		trên giàn khoan dầu. Khi cái giàn chìm sâu xuống đáy biển thì ánh sáng 
		trong phòng mà Darrel đang ở cũng dần dần tắt lịm, rồi nước dần dần trào 
		vô ngập căn phòng.<br>
		Vùng vẫy trong bóng tối, Darrel bắt chợt bắt gặp một cái bong bóng lớn ở 
		một góc phòng. Anh liền nhanh chân chạy đến và bỏ đầu anh vào cái bong 
		bóng đó.<br>
		Sau đó, một ý tưởng rùng rợn &quot;tôi sẽ bị chôn sống&quot; đã xâm chiếm anh. Anh 
		bắt đầu cầu nguyện lớn tiếng. Khi anh làm như thế, một sự kỳ diệu đã xảy 
		ra. Anh phát biểu cảm tưởng đó như sau: &quot;Tôi cảm thấy như mình đang nói 
		chuyện với một ai đó. Chúa Giêsu đã ở với tôi. Tôi nhìn thấy ánh hào 
		quang hoặc hình bóng của Ngài. Tôi cảm nghiệm được sự an ủi của Ngài 
		đang hiện diện bên tôi. Ngài thật là sống động. Ngài đã ở đó.&quot;<br>
		Trong vòng hai mươi hai tiếng đồng hồ sau đó, sự hiện diện của Thiên 
		Chúa tiếp tục an ủi Darrel. Tuy nhiên, sau đó, khí oxygen trong cái bong 
		bóng bắt đầu hết. Darrel không thể thoát chết, chỉ là chờ thời gian.<br>
		Sau đó, một điều kỳ diệu thứ hai đã xảy ra. Darrel nhìn thấy một ánh sao 
		sáng lung linh trong khối nước đen như mực. Ánh sáng đó có thật không, 
		hay đó chỉ là ảo tưởng sau hai mươi hai tiếng đồng hồ của Darrel? Darrel 
		nhắm mắt lại và mở ra. Ánh sáng từ cái ngôi sao đó hình như là càng sáng 
		rõ hơn. Darrel lại tiếp tục nhắm mắt và mở ra.<br>
		Anh không phải đang gặp ảo tưởng, ánh sáng đó là ánh sáng thật. Ánh sáng 
		đó phát ra từ cái mũ của người lặn nước. Đoàn cấp cứu đã lặn xuống và 
		tìm thấy anh. Hai mươi hai tiếng đồng hồ hoảng sợ đã chấm dứt. Anh đã 
		được cứu thoát!<br>
		Câu truyện có thật này là một minh họa diệu kỳ để diễn tả ý nghĩa ngày 
		Lễ Giáng Sinh.<br>
		Tội lỗi đã làm lắc lư thế giới, và làm cho nó nghiêng ngả, rồi làm cho 
		nó sụp đổ vào sự chết. Bóng tối đã tràn ngập tất cả, và loài người đã bị 
		mắc kẹt trong thất vọng. Con người đang sống trong cảnh sụp đổ không thể 
		tránh được.<br>
		Sau đó, trong cảnh trời u tối, một điều huyền diệu đã xảy ra. Một ánh 
		sao lấp lánh trong khung trời tối. Thiên thần Chúa bỗng hiện đến bên họ 
		và vinh quang Chúa rạng ngời bao quanh họ, làm họ kinh khiếp hãi hùng. 
		Nhưng thiên thần nói với họ: &quot;Đừng sợ! Này ta đêm tin mừng cho các ngươi 
		về một niềm vui to tát, tức là niềm vui cho toàn dân: là hôm nay, đã 
		sinh ra cho các ngươi vị Cứu Chúa, tức là Đức Kitô Chúa, trong thành 
		Đavít&quot; (Lc 2:9-11).<br>
		Và như thế cơn ác mộng đêm tối đã chấm dứt. Sự cứu giúp đã đến. Chúa 
		Giêsu, Con Thiên Chúa, đã xuống từ trời đến để cứu độ loài người, như là 
		người nhái lặn biển đến cứu Darrel.<br>
		Nếu chúng ta có chọn một dấu hiệu gì để tượng trưng cho ý nghĩa của 
		Giáng Sinh, thì chúng ta có thể chọn hình ảnh ánh sáng. Chúng ta chọn 
		ánh sáng vì hai lý do sau:<br>
		Thứ nhất, Chúa Giêsu chính Ngài đã chọn ánh sáng để diễn tả tại sao Ngài 
		đến trong thế gian. Ngài nói: &quot;Ta là ánh sáng thế gian. Ai theo Ta sẽ 
		không phải đi trong tăm tối, nhưng sẽ được ánh sáng ban sự sống&quot; (Ga 
		8:12).<br>
		Trước khi Chúa Giêsu đến trong Giáng Sinh, con người đã đi lạc và lảo 
		đảo trong bóng tối. Qua Giáng Sinh, Chúa Giêsu đã biến đổi tất cả những 
		điều đó. Ngài cứu giúp chúng ta từ trong bóng tối và chỉ cho chúng ta 
		con đường đến với Chúa Cha.<br>
		Lý do thứ hai, ánh sáng là một biểu tượng hoàn hảo của Mùa Giáng Sinh, 
		bởi vì Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ Ngài: &quot;Các ngươi là ánh sáng thế 
		gian... Ánh sáng của các ngươi phải chói lọi trước mặt người ta, ngõ hầu 
		họ thấy việc lành các ngươi làm mà tôn vinh Cha các ngươi, Đấng ngự trên 
		trời&quot; (Mt 5:14, 16).<br>
		Nói một cách khác, cũng như Chúa Giêsu là ánh sáng cho chúng ta, thì 
		chúng ta cũng phải là ánh sáng cho kẻ khác. Chúng ta phải cho người khác 
		biết con đường đi ra khỏi bóng tối, như Chúa Giêsu đã làm cho chúng ta.<br>
		Đó là ý nghĩa của Mùa Giáng Sinh. Chúng ta cử hành cuộc chiến thắng của 
		ánh sáng dập tan bóng tối. Mùa Giáng Sinh chúng ta cử hành là một sự 
		thật, Chúa Giêsu đã đến như là một ánh sáng trong đêm tăm tối để cứu độ 
		chúng ta và chỉ cho chúng con con đường đến với Chúa Cha. Mùa Giáng Sinh 
		chúng ta cử hành là một sự thật mà Chúa Giêsu đã gọi chúng ta trở nên 
		ánh sáng trong thế gian, như Ngài đã từng là ánh sáng.<br>
		<br>
		<br>
		10. Nhập Thể, một Tin Mừng trọng đại <br>
		<br>
		<br>
		Suy Niệm của Lm Phêrô Trần Thanh Sơn <br>
		<br>
		“Các ngươi đừng sợ, đây ta mang đến cho các ngươi một tin mừng đặc biệt, 
		đó cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế đã 
		giáng sinh cho các ngươi.” Lời loan báo Tin mừng của sứ thần cho các mục 
		đồng tại Bêlem cách đây hơn 2000 năm, cũng là lời mà Giáo Hội muốn gởi 
		đến từng người chúng ta hôm nay. Thật vậy, sau bao ngày chờ đợi và chuẩn 
		bị, đêm nay, cộng đoàn chúng ta họp nhau nơi đây để mừng đại lễ Giáng 
		Sinh. Giáng Sinh không chỉ là một ngày lễ của Kitô giáo, nhưng còn là 
		ngày lễ hội của tất cả mọi người trên thế giới. Với việc Nhập Thể của 
		Ngôi Hai Thiên Chúa, lịch sử con người đã bước sang một giai đoạn mới. 
		Giai đoạn của niềm vui và hân hoan khôn tả. Chúng ta vui mừng vì Con 
		Thiên Chúa đã đến và cư ngụ giữa chúng ta trong thân phận của một con 
		người bình thường như chúng ta chỉ trừ tội lỗi (x. Ga 1, 14; Dt 4, 15). 
		Chúng ta vui mừng vì với việc Nhập Thể của Ngôi Lời, lời hứa cứu độ từ 
		nguyên thuỷ nay đã trở thành hiện thực. Chúng ta còn vui mừng, vì từ 
		nay, chúng ta đã có Con Thiên Chúa cùng đồng hành trong cuộc sống. Chúng 
		ta không còn cô đơn, vất vả một mình trong kiếp sống con người. <br>
		1. Tin mừng được giải thoát Tin mừng này đối với dân Do Thái, trước hết, 
		đó là tin mừng của ngày được giải thoát khỏi ách nô lệ. Để thấy hết được 
		niềm vui này của dân Chúa, chúng ta cần chú ý đến tâm trạng hoàn cảnh 
		của họ lúc bấy giờ. Lúc đó, dân Do Thái đang sống trong cảnh lưu đày, 
		kiếp sống của người nô lệ. Có lẽ, giờ này ngồi đây, chúng ta không cảm 
		nghiệm được hết nỗi buồn khổ, tủi nhục của kẻ bị lưu đày. Để hiểu rõ tâm 
		trạng này của họ, có lẽ chúng ta cần đặt mình trong hoàn cảnh của họ. Đó 
		là tâm trạng của những người bị đày biệt xứ, không biết lúc nào mới được 
		về lại nơi quê cha đất tổ. Cảm nghiệm nỗi buồn mất nước này, tác giả 
		Thánh vịnh đã phải thốt lên: “Châu lệ là cơm bánh đêm ngày, khi thiên hạ 
		thường ngày cứ hỏi: “Này Thiên Chúa ngươi đâu?” (Tv 42 (41), 4), “Bờ 
		sông Babilon, ta ra ngồi nức nở mà tưởng nhớ Sion; trên những cành dương 
		liễu, ta tạm gác cây đàn. Bọn lính đòi ta hát xướng, lũ cướp này mời 
		gượng vui lên… Bài ca kính Chúa Trời, làm sao ta hát nổi nơi đất khách 
		quê người?” (Tv 137 (136), 1-3a. 4). Chính giữa nỗi buồn day dứt đó, 
		chúng ta mới thấy hết được niềm hy vọng và vui mừng của dân khi nghe lời 
		loan báo của vị ngôn sứ : “Cái ách nặng nề trên người nó, cái gông nằm 
		trên vai nó, cái vương trượng quyền của kẻ áp bức. .. Chúa sẽ nghiền nát 
		ra, như trong ngày chiến thắng Madian. Bởi lẽ mọi chiếc giày đi lộp cộp 
		của kẻ chiến thắng, mọi chiếc áo nhuộm đẫm máu đào, sẽ bị đốt đi và trở 
		nên mồi nuôi lửa”. Không vui sao được khi họ sắp được trở về quê hương, 
		được giải thoát khỏi ách nô lệ, đựơc trở lại thành một con người tự do. 
		Niềm vui này thật to lớn, không thể nói hết được. Không chỉ loan báo 
		ngày giải thoát, ngôn sứ còn hé mở cho thấy khuôn mặt của Đấng thực hiện 
		lời hứa giải thoát này: “Bởi lẽ một Hài Nhi đã sinh ra cho chúng tôi, và 
		một người con đã được ban tặng cho chúng tôi. Người đã gánh nhận vương 
		quyền trên vai,…Người sẽ ngự trên ngai vàng của Đavít”. Đây thực sự là 
		một vị vua uy quyền nhưng cũng đầy tình nhân ái: “Thiên hạ sẽ gọi Nguời 
		là “Cố vấn kỳ diệu, Thiên Chúa huy hoàng, Người Cha Muôn Thuở, Ông Vua 
		Thái Bình. Người sẽ mở rộng vương quyền, và cảnh thái bình sẽ vô tận”. 
		Lời hứa này đã được thực hiện. Dân Chúa đã được hồi hương vào năm -587. 
		Thế nhưng, thực tế, họ cũng chưa hoàn toàn được tự do. Vì thế, dân Chúa 
		vẫn luôn thao thức trông chờ ngày của Đấng Messia đến để thực hiện trọn 
		vẹn lời hứa này. Và với việc Giáng Sinh của Đức Giêsu, niềm vui này đã 
		trở nên hiện thực như lời thánh Phaolô trong thư gởi tín hữu Galata: 
		“Khi thời viên mãn đến, Thiên Chúa đã sai Con của Người sinh bởi người 
		nữ,… ngõ hầu chúng ta được chịu lấy quyền nghĩa tử” (Gl 4, 4-5).<br>
		2. Tin mừng được cứu độ Như thế, với việc Giáng Sinh của Ngôi Lời, niềm 
		vui được giải thoát giờ đây được trở nên trọn vẹn, thánh sử Luca thuật 
		lại: “Sự việc xảy ra, trong lúc ông bà đang ở đó, là Maria đã tới ngày 
		mãn nguyệt khai hoa, và bà đã hạ sinh con trai đầu lòng. Bà bọc con trẻ 
		và đặt nằm trong máng cỏ”. Chính Hài Nhi bé nhỏ nằm trong máng cỏ đơn sơ 
		đó sẽ là Đấng đem lại ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại, như lời các sứ 
		thần loan báo cho các mục đồng: “Các ngươi đừng sợ, đây ta mang đến cho 
		các ngươi một tin mừng đặc biệt, đó cũng là tin mừng cho cả toàn dân: 
		Hôm nay Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế đã Giáng Sinh cho các ngươi trong thành 
		của Đavít”. Tin mừng giải thoát này cũng được thánh Phaolô chia sẻ với 
		môn đệ Titô mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc hai: “Ân sủng của Thiên 
		Chúa, Đấng Cứu Độ chúng ta đã xuất hiện cho mọi người.... Người đã hiến 
		thân cho chúng ta để cứu chuộc chúng ta khỏi mọi điều gian ác, luyện 
		sạch chúng ta thành một dân tộc xứng đáng của Người”. Đức Giêsu sẽ 
		“luyện sạch chúng ta”, nghĩa là khi Đức Giêsu đến, Ngài không chỉ giải 
		thoát chúng ta khỏi ách nô lệ của thân xác, mà quan trọng hơn, Ngài giải 
		thoát chúng ta khỏi tội lỗi, vì như lời Ngài đã nói: “Phàm ai phạm tội, 
		thì là nô lệ” (Ga 8, 34). Dân Do thái và chúng ta hôm nay, tuy không còn 
		bị lưu đày về thân xác, nhưng tâm hồn chúng ta vẫn chưa được bình an. 
		Chúng ta vẫn còn bị những dục vọng, cám dỗ của tội lỗi chi phối. Chắc 
		từng người chúng ta cũng từng có cảm nghiệm của sự bình an và nhẹ nhõm 
		trong tâm hồn sau khi làm hoà với anh chị em hay sau khi lãnh bí tích 
		Hoà giải. Chính sự giải thoát này mới thực là niềm vui lớn nhất, ngôn sứ 
		Isaia trong bài đọc một cũng đã cất tiếng ca mừng về điều đó: “Dân tộc 
		bước đi trong u tối, đã nhìn thấy sự sáng chứa chan. Sự sáng đã bừng lên 
		trên những người cư ngụ miền thâm u sự chết”. Sự sáng mà ngôn sứ đã loan 
		báo giờ đây đã trở nên hiện thực với việc Giáng Sinh của Đức Kitô: “Bấy 
		giờ trong miền đó có những người mục tử đang ở ngoài đồng và thức đêm để 
		canh giữ đoàn vật của mình. Bỗng có thiên thần Chúa hiện ra đứng gần bên 
		họ, và ánh quang của Thiên Chúa bao toả chung quanh họ”. Ánh sáng của 
		Ngài xóa tan bóng tối của tội lỗi, của sự chết. Với ánh sáng của Thiên 
		Chúa, các mục đồng, những người bị coi là hèn hạ nhất trở thành những 
		chứng nhân đầu tiên cho sự kiện có một không hai trong lịch sử. Sự kiện 
		Con Thiên Chúa làm người. <br>
		3. Nhiệm vụ loan báo Tin mừng Hôm nay, nhận được Tin mừng của Chúa, từng 
		người chúng ta có bổn phận phải rao truyền Tin mừng đó cho mọi người như 
		lời mời gọi của tác giả thánh vịnh trong bài đáp ca: “Ngày qua ngày hãy 
		loan truyền ơn cứu độ của Người, hãy loan truyền vinh hiển Người giữa 
		mọi nước, và những việc lạ lùng Người giữa các dân”. Chúng ta không thể 
		loan truyền Tin mừng Giáng Sinh bằng những lễ nghi long trọng, đèn hoa 
		rực rỡ tốn kém, hay những bữa tiệc linh đình, vì Chúa chúng ta chỉ chọn 
		một máng cỏ hôi tanh của súc vật để làm nôi khi Ngài sinh ra. Có lẽ cách 
		loan truyền Tin mừng Chúa Giáng Sinh đúng ý và đẹp lòng Thiên Chúa nhất 
		là chúng ta biết sống yêu thương, kính trọng, đề cao, bênh vực con 
		người, nhất là những con người bé mọn, những người bị thiệt thòi, bị bỏ 
		rơi, bị gạt ra bên lề xã hội, đặc biệt là các thai nhi còn nằm trong 
		bụng mẹ. Chúng ta hãy cho các em một cơ hội sống. Giờ đây, noi gương 
		Đấng đã tự hiến mình làm tấm bánh bẻ ra cho chúng ta được sống. Sau 
		thánh lễ này, khi trở về nhà, chúng ta cũng hãy mở rộng bàn tay và tấm 
		lòng sẵn sàng chia sẻ cho những ai cần chúng ta giúp đỡ, để bất cứ ai 
		tiếp xúc với chúng ta đều nhận ra được tình yêu của Chúa đang đến với 
		họ. Nhờ đó, tất cả chúng ta sẽ hưởng được niềm vui trọn vẹn của ngày lễ 
		Giáng Sinh hôm nay. Amen. <br>
		<br>
		<br>
		11. Ai thực sự mừng Lễ Chúa Giáng Sinh<br>
		<br>
		<br>
		Suy Niệm của Lm JB. Nguyễn Minh Hùng<br>
		<br>
		Chắc bạn cùng đồng ý với tôi khi nói: Đêm mừng Chúa giáng sinh trở thành 
		đêm hội của mọi người và của thế giới. Tôi thấy đường đi đông quá: người 
		đi xe, kẻ đi bộ nườm nượp. Tôi cũng để ý, nét mặt mọi người đều ánh lên 
		vẻ vui tươi, hân hoan. Hình như đêm nay ít người ở trong nhà, nhưng 
		người ta ra khỏi nhà nhiều hơn. Rõ ràng, Giáng sinh trở thành đêm hội 
		của mọi người. Chắc bạn cũng như tôi đều hãnh diện vì lễ Giáng sinh 
		không chỉ là lễ của người có đạo mà nó là lễ của mọi người. Mầu nhiệm 
		Thiên Chúa làm người đã được mọi người biết đến. Thế nhưng trong niềm 
		hãnh diện đó, tôi lại cảm thấy một cái gì băn khoăn, ray rứt, xót xa. 
		Chính lời thiên thần hát trong đêm giáng sinh làm tôi phải âu lo. Âu lo 
		không vì thiên thần hát, cũng không phải vì lời hát của thiên thần. Lời 
		ấy làm cho lòng tôi thêm yêu mến và thánh thiện. Có thể bạn sẽ cho tôi 
		là bi quan. Tôi lo vì nhìn vào thực tế, nhận ra sự vô tâm của nhiều 
		người. Lời của thiên thần hát là lời gì? Thiên thần hát rằng: “Vinh danh 
		Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Đêm nay có 
		bao nhiêu tâm hồn làm vinh danh Thiên Chúa? Và nếu hiểu “thiện tâm” là 
		thành tâm thiện chí thì có bao nhiêu người thành tâm thiện chí tôn thờ 
		Chúa để được bình an vì đại đa số nhân loại đã làm mất ý nghĩa của lễ 
		Giáng sinh? Thay vì kỷ niệm Ngôi Hai nhập thể làm người, để hướng tâm 
		hồn chuẩn cho ngày Người trở lại, người ta biến đêm hội giáng sinh thành 
		đêm của ăn chơi sa sỉ. Đêm nay biết bao nhiêu nhà hàng vũ trường mở rộng 
		để đón khách, và sẵn sàng mở mọi dịch vụ để chìu chuộng khách, dù cho có 
		những dịch vụ hết sức đê hèn. Biết bao nhiêu tụ điểm vui chơi đang hoạt 
		động rầm rộ. Chúng ta nghĩ đến Palextina mà cảm thấy ngậm ngùi. Thành 
		phố Bêlem, nơi Đấng Cứu Thế đã từng cất tiếng khóc đầu tiên, đêm giáng 
		sinh lại không thể sống trong hòa bình. Trên chính quê hương của Chúa 
		Giêsu, nơi mà hai ngàm năm trước, Người đã sinh ra, lớn lên. Và Tin mừng 
		được rao giảng cho cả thế giới cũng khởi đi từ đất nước này, khi mà cả 
		thế giới nô nức tưởng niệm Chúa Giêsu sinh ra, Palextin lại chìm trong 
		chiến tranh. Người ta đang giết hại lẫn nhau. Và một khi bức tường ngăn 
		cách được dựng lên, sự xích mích vốn không thể làm hòa từ bấy lâu nay, 
		lại càng đào sâu thêm chia rẻ, giết chóc và thù hận. Khúc hát thiên 
		thần: “Bình an dưới thế cho người thiện tâm” không có được trên chính 
		quê hương của Chúa Giêsu. Biết bao nhiêu tụ điểm ca nhạc, có thể là 
		những bài ca rất Giáng sinh, ca ngợi Thiên Chúa. Nhưng những ca sĩ và 
		những người nghe những bài hát đó có được một tâm hồn ca ngợi Thiên Chúa 
		không, hay chỉ là một thứ vui chơi nào đó? Biết bao nhiêu chàng trai cô 
		gái ra khỏi nhà để vui đêm hội Giáng sinh? Và trong dòng người trẻ đó, 
		chắc hẳn có rất nhiều thanh niên nam nữ có đạo đánh đổi việc thờ phượng 
		Thiên Chúa bằng những thú vui vô giá trị mà những người không có niềm 
		tin đang say mê? Và có biết bao nhiêu chàng trai cô gái choi choi, ào ra 
		đường bằng những chiếc xe phân khối lớn để lạng lách, để đua xe hết tốc 
		độ, để rồi gieo không biết bao tai họa? Nếu đêm Chúa sinh ra - đêm hội 
		Giáng sinh là dịp để người lao động vất vả, cả lương lẫn giáo có thời 
		gian nghỉ ngơi, có dịp vui chơi giải trí lành mạnh, đêm mà mọi người tạm 
		quên đi những gánh nặng, những lo âu của cuộc đời vốn đã có quá nhiều 
		đắng cay. Nếu đêm hội Giáng sinh làm cho người ta hạnh phúc như vậy, thì 
		nó mới đúng ý nghĩa của mầu nhiệm Chúa làm người. Cách riêng, đối với 
		người Công giáo, đêm Giáng sinh phải là đêm đặc biệt của việc tôn thờ 
		Thiên Chúa. Đêm kính nhớ tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa. Chính nhờ 
		tình yêu này, mà Chúa Giêsu đã giáng sinh làm người, chia sẻ kiếp người 
		của mỗi chúng ta. Có tôn thờ Thiên Chúa thật lòng như thế, thì Thiên 
		Chúa trên trời mới được vinh danh trong tâm hồn của mỗi người. Và tâm 
		hồn chỉ dành cho Thiên Chúa mà thôi, tâm hồn mới có bình an. Tin rằng 
		bạn và tôi là những người thành tâm, thiện chí tôn thờ Thiên Chúa. Xin 
		hãy tạm quên những lo toan, những vất vả hằng ngày. Hãy tạm gác lại một 
		bên những gì làm chúng ta xôn xao, chia trí, gác lại một bên cái nghèo, 
		cái khổ của cuộc đời để bạn và tôi thực sự được bình an trọn vẹn trong 
		thánh lễ này. Có như vậy, chúng ta mới dâng thánh lễ Giáng sinh, thờ 
		phượng Thiên Chúa cách sốt sắng và ý nghĩa. Xin kính chúc mọi người một 
		đêm an bình, vì chúng ta là những người thiện tâm, đúng như lời thiên 
		thần hát: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người 
		thiện tâm”.<br>
		<br>
		<br>
		12. Thiên Chúa muốn chia sẻ với con người - JKN <br>
		<br>
		<br>
		Chủ đề: Đức Giêsu đã trở nên người như chúng ta: cùng chịu đau khổ như 
		chúng ta. Như vậy đau khổ ắt phải có giá trị tích cực của nó. Câu hỏi 
		gợi ý : 1. Đức Giêsu có gặp nhiều nghịch cảnh như chúng ta không? Giữa 
		Ngài và ta, ai nhiều nghịch cảnh hơn ai? Ta có thể rút ra kết luận gì về 
		điều này? 2. Có cha mẹ nào yêu thương con mà lại bắt con phải chịu đau 
		khổ một cách vô ích hoặc không cần thiết không? Nếu các ngài cứ bắt ép 
		con mình phải chịu đau khổ, thì người con phải hiểu đau khổ ấy thế nào? 
		có cần thiết hay không? 3. Vì yêu con người, Thiên Chúa muốn chia sẻ đau 
		khổ với con người. Nếu ta yêu tha nhân, ta sẽ phải làm gì khi thấy họ 
		phải đau khổ?<br>
		CHIA SẺ 1. Đức Giêsu cũng gặp bao nghịch cảnh như chúng ta Đức Giêsu 
		chính là Thiên Chúa nhập thể, mặc lấy thân phận con người y hệt như 
		chúng ta, chỉ khác với chúng ta ở chỗ không có tội lỗi mà thôi. Bài Tin 
		Mừng hôm nay cho thấy Ngài cũng gặp biết bao nghịch cảnh như chúng ta, 
		thậm chí ngay từ khi còn nằm trong bụng mẹ và khi vừa mới sinh ra. Gần 
		tới ngày Ngài chào đời thì cha mẹ Ngài phải lên đường đến một nơi cách 
		nhà mình trên 120 cây số vì lệnh kiểm tra dân số của chính quyền. Tại 
		nơi xa lạ này, gia đình Ngài đã không kiếm được một chỗ trọ để Ngài chào 
		đời một cách xứng với phẩm giá một con người. Vì thế, hai ông bà đã phải 
		chấp nhận cảnh sống bụi đời là tìm một chuồng chiên bò nào đó ở ngoài 
		đồng để sinh con và tạm trú qua ngày. Và Đức Giêsu đã sinh ra trong một 
		chuồng chiên bò. Ôi, thật là nhục nhã! Nghịch cảnh đâu đã hết, nó còn 
		theo Ngài suốt cuộc đời: nào là phải trốn sang Ai Cập, rồi trở về 
		Nadarét, nào là cảnh nghèo khổ, nào là tình trạng bị giới lãnh đạo tôn 
		giáo ghen ghét và bách hại, bị dân chúng và cả môn đệ mình phản bội, bị 
		đánh đòn, bị xỉ vả nhục nhã, bị chết thảm thương, v.v… Xét về hoàn cảnh, 
		chúng ta may mắn hơn Ngài rất nhiều. Ngài vốn là Thiên Chúa, giầu sang 
		quyền quí vô cùng, thế mà phải chịu như vậy. Chúng ta là ai mà lại mong 
		muốn được ưu đãi hơn Ngài? Suy nghĩ điều ấy sẽ phát sinh một niềm an ủi 
		rất lớn cho chúng ta. 2. Đau khổ và nghèo khó có giá trị của nó Thân 
		phận con người là một thân phận đau khổ và nghèo khó như một hậu quả tất 
		yếu của tội nguyên tổ. Nếu đau khổ hoàn toàn không có ích lợi gì cho 
		chúng ta, chắc chắn vì yêu thương chúng ta vô hạn, Thiên Chúa sẽ dùng 
		quyền năng vô biên để giải phóng chúng ta hoàn toàn khỏi mọi đau khổ. 
		Nhưng nếu Thiên Chúa vẫn để chúng ta phải đau khổ, và chính Ngài cũng 
		sẵn sàng đau khổ cùng với chúng ta, tất nhiên đau khổ ấy phải có ích lợi 
		rất lớn cho chúng ta. Nếu không như thế, thì phải kết luận rằng: một là 
		Ngài là người tàn ác, không yêu thương gì chúng ta, hai là Ngài không 
		toàn năng, nghĩa là không đủ khả năng để giải phóng chúng ta khỏi đau 
		khổ. Nếu Ngài yêu thương ta vô cùng lại toàn năng, mà lại để chúng ta 
		đau khổ, ắt nhiên đau khổ ấy phải rất cần thiết và rất ích lợi cho chúng 
		ta. Một minh họa tuy què quặt nhưng giúp ta dễ hiểu điều ấy: Cha mẹ yêu 
		thương con không bao giờ muốn con phải khổ, dù chỉ là khổ một chút xíu. 
		Nhưng nếu cha mẹ bắt con cái mình phải uống một thứ thuốc rất đắng, hay 
		phải chịu roi vọt rất đau đớn, và chính cha mẹ cũng phải vất vả vô cùng 
		mới kiếm được thứ thuốc đắng ấy, hay phải quặn ruột nhìn con khóc thét 
		dưới lằn roi, tất nhiên thuốc đắng hay roi vọt ấy phải là cần thiết hoặc 
		ích lợi cho đứa con. Thật vậy, thà bắt con khổ vì uống thuốc, đau vì roi 
		vọt, còn hơn để con phải bệnh hoạn tật nguyền suốt đời, hay trở nên 
		người hư hỏng hoặc vô giá trị sau này. 3. Đau khổ rất cần thiết và ích 
		lợi để nên thánh, để hạnh phúc Kinh nghiệm cho ta thấy đau khổ nhiều khi 
		rất cần thiết để đạt được những ích lợi lớn hoặc để tránh những tổn thất 
		nặng nề, chẳng hạn như: «quân trường thấm mồ hôi, chiến trường ít đổ 
		máu», «gieo trong nước mắt thì gặt giữa vui mừng» (Tv 126,5-6). Kinh 
		điển Phật giáo cũng nói: «Tất cả các phiền não đau khổ đều là hạt giống 
		Như Lai. Tương tự như nếu mình chẳng lặn xuống biển sâu thì không thể 
		tìm thấy châu báu vô giá. Cũng vậy, nếu mình chẳng chịu ngụp lặn trong 
		bể cả phiền não, ắt mình không thể tìm được của báu là cái trí tuệ biết 
		hết tất ca» (Kinh Duy-Ma-Cật, Phẩm 8: Phật Đạo). Theo Phật giáo, phiền 
		não đau khổ là hạt giống Như Lai, sinh ra trí tuệ giải thoát. Ta thấy: 
		trên đời, những người có bản lãnh đều là những người phải kinh qua rất 
		nhiều đau khổ, đều được đào luyện trong đau khổ. Đau khổ dạy cho chúng 
		ta - thậm chí cả Đức Giêsu - nhiều bài học quí giá: «Dầu là Con Thiên 
		Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng 
		phục» (Dt 5,8). Ngay cả đối với Đức Giêsu, thì đau khổ cũng rất cần 
		thiết để Ngài trở nên vị lãnh đạo hoàn hảo: «Quả thế, Thiên Chúa là 
		nguồn gốc và cùng đích mọi loài, Người đã làm một việc thích đáng, là 
		cho Đức Giêsu trải qua gian khổ để trở thành vị lãnh đạo thập toàn, dẫn 
		đưa con người tới nguồn ơn cứu độ» (Dt 2,10). Muốn sử dụng ai, Thiên 
		Chúa thường dùng đau khổ để sửa dạy, để thánh hóa, để huấn luyện người 
		ấy nên hoàn hảo: «Chúa thương ai thì mới sửa dạy kẻ ấy, và có nhận ai 
		làm con thì Người mới cho roi cho vọt» (Dt 12,6). Gương của các thánh 
		chứng minh điều ấy. Như vậy, đau khổ có giá trị của nó, và chịu đựng đau 
		khổ không phải là một chuyện vô ích. Nếu đau khổ và nghèo khó cần thiết 
		và ích lợi cho chúng ta, mà Thiên Chúa lại không bắt chúng ta đau khổ và 
		nghèo khó, thì chắc chắn Ngài chưa phải là người yêu thương chúng ta 
		đích thực: vì «yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi». Hoặc Ngài 
		chỉ yêu chúng ta một cách thuần túy tình cảm và điều ấy sẽ làm chúng ta 
		hư hỏng: «con hư tại mẹ, cháu hư tại bà». 4. Thiên Chúa cùng chịu đau 
		khổ và nghèo khó với con người Dù đau khổ và nghèo túng là cần thiết cho 
		chúng ta chứ không phải cho Thiên Chúa, nhưng nếu Ngài để chúng ta phải 
		quằn quại trong đau khổ một mình, còn Ngài chẳng biết một chút gì về đau 
		khổ, thì chúng ta sẽ cảm thấy vô cùng cô đơn trong đau khổ, và chúng ta 
		khó có thể tin được rằng Ngài yêu thương chúng ta. Nhưng nếu Ngài đã 
		cùng muốn chịu đau khổ với chúng ta, và còn muốn chịu đau khổ hơn cả 
		chúng ta nữa, thì điều đó chứng tỏ rằng Ngài đã yêu thương chúng ta đích 
		thực. Qua cuộc giáng sinh của Đức Giêsu, Thiên Chúa đã đích thân xuống 
		thế làm người để cùng chịu đau khổ và nghèo nàn với chúng ta. Ngài đã 
		dùng đau khổ của chính mình để xoa dịu những đau khổ của con người, đã 
		dùng thương tích của chính Ngài để chữa lành những vết thương của con 
		người (xem lPr 2,24b). Điều ấy làm chúng ta nhận ra tình yêu của Ngài 
		đối với chúng ta là vô bờ bến, đồng thời cũng nhận ra giá trị của đau 
		khổ và sự nghèo khó. 5. Hãy bắt chước Ngài chia sẻ đau khổ với những 
		người chung quanh ta, nhất là những người nghèo túng, bị áp bức bất công 
		Nếu tình yêu đích thực đã thúc đẩy Thiên Chúa phải chia sẻ thân phận đau 
		khổ và nghèo nàn của chúng ta, thì ta có thể rút ra một kết luận cho 
		việc thể hiện tình yêu của chúng ta đối với tha nhân. Nếu chúng ta nói 
		mình yêu ai, mà khi người ấy gặp đau khổ, chúng ta không hề cảm thấy 
		phải làm điều gì để giảm bớt đau khổ cho người ấy, hoặc không tìm cách 
		cùng chia sẻ đau khổ với người ấy, thì chúng ta chỉ là kẻ nói dối, tình 
		yêu ấy chỉ là tình yêu ngoài môi miệng. Hễ yêu ai, thì khi thấy người ấy 
		đau khổ, ta không thể khoanh tay đứng nhìn mà không làm gì. Nếu không 
		làm giảm được đau khổ với người ấy, thì cũng có thể làm một việc gì để 
		tỏ ra thông cảm. Chúng ta nghèo, Thiên Chúa cũng đã trở nên nghèo cùng 
		với chúng ta. Vậy, làm sao chúng ta có thể nói rằng mình yêu thương 
		người nghèo, khi chúng ta vẫn vui vẻ sống trên nhung lụa, và không hề 
		quan tâm làm một điều gì cho người nghèo bớt nghèo. Làm sao ta có thể 
		nói rằng mình yêu quê hương, trong khi mà quê hương đang đau khổ, đang 
		tuột dốc xuống bờ vực thẳm, với bao nhiêu người bị bắt bớ, bị đàn áp một 
		cách bất công, ta vẫn thản nhiên như người ngoài cuộc, chỉ biết hưởng 
		thụ cuộc sống an vui mà may mắn đã dành cho ta? Cầu nguyện Lạy Cha, Cha 
		đã cho Đức Giêsu nhập thể thành người để chia sẻ thân phận làm người với 
		chúng con: cũng đau khổ, cũng nghèo khó, cũng đói cũng khát như chúng 
		con. Qua sự nhập thể ấy, xin cho con nhận ra tình thương vô biên của Cha 
		và sự cần thiết của những đau khổ trong đời sống của con. Con tin rằng 
		Cha yêu thương con vô cùng và khôn ngoan vô biên, không bao giờ để con 
		phải chịu đựng đau khổ một cách vô lý và không cần thiết. Con biết rằng 
		hễ Cha để đau khổ xảy đến với con, ắt nhiên đau khổ ấy phải có ích lợi 
		cho con, dù con không hiểu được ích lợi thế nào. Xin cho con biết chấp 
		nhận đau khổ như Đức Giêsu, đồng thời biết yêu thương và cảm thông với 
		đau khổ của mọi người chung quanh con. Amen.<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		II. LỄ RẠNG ĐÔNG (Lc 2,15-20)<br>
		<br>
		ĐÓN CHÚA GIÁNG SINH VỚI TÂM TÌNH NÀO?<br>
		<br>
		(Is 62, 11-12; Tt 3, 4-7; Lc 2,15-20)<br>
		<br>
		Có lẽ sự nhộn nhịp của thánh lễ đêm hôm qua đã làm cho nhiều người cảm 
		thấy rộn ràng, vui tươi và hạnh phúc. Nhưng bên cạnh đó cũng không thiếu 
		những người cảm thấy mệt mỏi sau một đêm dài với biết bao nhiêu calo 
		phải bỏ ra nơi những cuộc vui chơi, ăn nhậu và nhiều khi trụy lạc nơi 
		những quán bar, nhà nghỉ…<br>
		<br>
		Còn thánh lễ Giáng Sinh vào rạng sáng hôm nay, vẫn quen gọi là thánh lễ 
		Rạng Đông thì lại là một thánh lễ rất êm đềm, không ồn ào, không náo 
		nhiệt, không ca nhạc, kịch nghệ, chẳng có chương trình vui chơi giải trí 
		gì…!<br>
		<br>
		Đối tượng dự lễ cũng chỉ còn lại đa số là những cụ già, hay những người 
		lớn tuổi hoặc một số bạn trẻ đạo đức mà thôi… còn lại, mọi người đang 
		chìm trong giấc ngủ sâu!<br>
		<br>
		Tuy nhiên, trong bầu không khí tưởng chừng như tĩnh lặng này, Giáo Hội 
		lại cho chúng ta nghe bài Tin Mừng do thánh Luca trình thuật nói về việc 
		các mục đồng hối hả đi tìm, thờ lạy và loan truyền về Hài Nhi Giêsu cho 
		người khác. Điều này gợi cho chúng ta rất nhiều suy nghĩ?<br>
		<br>
		1. Các mục đồng đi tìm Chúa như thế nào?<br>
		<br>
		“Nào chúng ta sang Bêlem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho 
		ta biết” (Lc 2, 15).<br>
		<br>
		Đây là lời của các mục đồng nói với nhau sau khi đã được các thiên sứ 
		báo tin cho biết Đấng Cứu Thế đã giáng sinh trong thành Belem.<br>
		<br>
		Thánh sử Luca cho biết thêm: “Họ liền hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp bà 
		Maria, ông Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ” (Lc 2, 16).<br>
		<br>
		Như vậy, thánh lễ Rạng Đông của ngày Giáng Sinh giờ này có thể được gọi 
		là lễ Chúa tỏ mình ra cho các mục đồng.<br>
		<br>
		Tại sao Chúa lại không tỏ ra cho những người quyền cao chức trọng, giàu 
		có hay những nhà lãnh đạo tôn giáo, mà lại tỏ ra cho các mục đồng là 
		những người nghèo, đơn sơ chất phát, thấp cổ bé họng…<br>
		<br>
		Thưa đơn giản, bởi vì nơi các mục đồng có điểm tương giao với Hài Nhi 
		Giêsu.<br>
		<br>
		Thật vậy, khi Con Thiên Chúa hạ sinh nơi cánh đồng Belem chốn bò lừa 
		thanh vắng, quạnh hưu và nghèo khó như vậy, phải chăng Đức Giêsu đã phá 
		cách để làm toát lên bản chất của Thiên Chúa là tình yêu khi không cần 
		đến sự giàu sang của con người, nhưng Ngài muốn một sự gần gũi. Không 
		cần đến cái bề ngoài, mà là sự thiêng thánh, chân thành và đơn sơ.<br>
		<br>
		Đây chính là câu trả lời cho chúng ta biết tại sao các mục đồng và Hài 
		Nhi Giêsu lại “Đồng thanh tương ứng”, và họ lại là người đầu tiên được 
		diễm phúc chứng kiến Mầu Nhiệm Con Thiên Chúa Giáng Sinh.<br>
		<br>
		Sự đồng cảm này đã làm cho tâm hồn các mục đồng có một ngọn lửa yêu mến 
		đến tha thiết, nên họ đã tỏ ra rất nhạy bén và tinh tế với những gì đã 
		được các thiên sứ loan báo cho họ. Vì thế, giữa đêm tối âm u lạnh lẽo, 
		họ đã đốt đuốc và hối hả ra đi để mong cho được sớm gặp thấy Hài Nhi mới 
		sinh. Khi gặp thấy “Em Bé sơ sinh bọc tả nằm trong máng cỏ”, họ đã tin 
		và nhận ra đó chính là: “Đấng Cứu Độ, là Đấng Kitô, là Đức Chúa” như 
		thiên sứ đã báo.<br>
		<br>
		Cũng trong tâm tình ấy, họ đã nghiệm được ra tình thương bao la của 
		Thiên Chúa dành cho mình và nhân loại mà chính họ là những người đầu 
		tiên được tận hưởng ân lộc lớn lao đó, vì thế, sau khi đã ra về, họ luôn 
		kể về những gì đã thấy cho anh em mình.<br>
		<br>
		2. Con người hôm nay mừng lễ Giáng Sinh như thế nào?<br>
		<br>
		Trên đây là tâm tình mừng Chúa Giáng Sinh của các mục đồng Belem, còn 
		nhân loại và con người hôm nay mỗi khi lễ Giáng Sinh về, chúng ta đi tìm 
		gì và đến với Chúa bằng tấm lòng nào?<br>
		<br>
		Thực trạng thật cho thấy một sự trái ngược đến rõ nét giữa tâm tình và 
		thái độ của các mục đồng thời xưa và con người ngày nay. Vì thế, chúng 
		ta không lạ gì khi những ngày trước lễ Giáng Sinh, nhiều người ưu tiên 
		lo lắng cho những chuyện như: Giáng Sinh sắp đến rồi, chúng ta đã có 
		tiền để mua đèn hoa trang trí chưa? Giáng Sinh năm nay chúng ta ăn gì, 
		nhậu gì? Liệu có kiếm được món nào “độc” để đãi khách không?<br>
		<br>
		Rồi đến chính đêm Giáng Sinh, nhiều người chủ yếu đi xem ca nhạc kịch, 
		hay đèn hoa rực rỡ nơi các nhà thờ, khu phố…<br>
		<br>
		Lựa chọn ưu tiên và hành động như thế, người ta đã biến lễ Giáng Sinh 
		trở thành thời điểm mua sắm, ăn chơi hay như một lễ hội thuần túy!<br>
		<br>
		Tuy nhiên, điều mà con người tưởng chừng như đem lại cho mình hạnh phúc, 
		thì trên thực tế, hạnh phúc, niềm vui và bình an đích thực lại quá xa 
		vời đối với họ, bởi lẽ những thứ họ tìm chính là những điều hoang tưởng 
		hoặc chỉ là điều phụ thuộc bên ngoài.<br>
		<br>
		Thật vậy, vui mừng sao được khi trong tâm không có sự chân thành. Hạnh 
		phúc sao được khi sâu thẳm tâm hồn vẫn còn đó sự giận hơn chia rẽ. Bình 
		an sao được khi trong tâm không có sự thánh thiện và đơn sơ!<br>
		<br>
		Thiết nghĩ, khi mừng lễ Giáng Sinh với những thứ hình thức bề ngoài như 
		vậy, chắc chắn họ sẽ không thể nào cảm nghiệm được tình thương của Thiên 
		Chúa dành cho mình và nhân loại. Và lẽ đương nhiên, họ không thể nào tin 
		Chúa với một đức tin sống động như các mục đồng khi xưa, và lẽ tất yếu, 
		không thể loan báo về Ngài cho người khác trong khi tâm hồn trống rỗng 
		và hoang vu như vậy được.<br>
		<br>
		3. Lời mời gọi của Giáo Hội<br>
		<br>
		Mỗi lần lễ Giáng Sinh về, Giáo Hội không ngừng mời gọi con cái mình hãy 
		noi gương các mục đồng khi xưa để tìm gặp, yêu mến, tôn thờ và loan báo 
		về Chúa cho người khác.<br>
		<br>
		Nếu xưa kia, các mục đồng đã khao khát, hối hả lên đường, tới nơi họ gặp 
		Hài Nhi Giêsu và đã sấp mình thờ lạy, đồng thời khi ra về, họ kể lại cho 
		những người khác được biết về những gì đã thấy trong niềm tin sâu sắc.<br>
		<br>
		Thì sứ điệp ngày lễ hôm nay cũng gửi đến cho mỗi người chúng ta là: hãy 
		để mầu nhiệm tình yêu Giáng Sinh của Chúa đụng chạm đến tận sâu thẳm tâm 
		hồn. Hãy biết yêu mến, khát khao và tin thờ Chúa, vì chỉ có Ngài là 
		đường, là sự thật, là sự sống, nguồn cội của niềm vui, bình an và hạnh 
		phúc. Đồng thời, hãy cảm nghiệm và ra đi loan báo về tình thương của Mầu 
		Nhiệm Nhập Thể và Giáng Sinh cho anh chị em chưa biết Chúa.<br>
		<br>
		Thứ đến, cần phải có một tâm hồn đơn sơ, chân thành, khó nghèo. Ngôi Hai 
		Thiên Chúa đã chấp nhận trở nên nghèo hèn để cho chúng ta được nên giàu 
		có. Ngài cũng chấp nhận cúi xuống để tôn vinh con người bằng sự nhập thể 
		của Ngài. Vì thế, Thiên Chúa đã coi trọng đến tuyệt đối nhân phẩm và 
		nhân vị của từng người, nhất là người nghèo. Thế nên, dù trong hoàn 
		cảnh, môi trường nào, đời sống và cung cách của những Kitô hữu không thể 
		trở thành người xa lạ, vô cảm, dửng dưng với một trái tim hóa đá đối với 
		những anh chị em kém may mắn hơn mình.<br>
		<br>
		Chỉ khi nào chúng ta có được tâm tình liên đới, yêu thương và huynh đệ 
		với nhau, chúng ta mới thực sự hạnh phúc và bình an để cảm nghiệm và hát 
		lên bài ca mà các sứ thần đã cất lên trong đêm Con Thiên Chúa Giáng 
		Sinh: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện 
		tâm”.<br>
		<br>
		Vẫn một tâm hồn đơn sơ, thánh thiện, nghèo khó và xác tín mạnh mẽ như 
		các mục đồng khi xưa, giờ đây, chúng ta tiếp tục dâng thánh lễ, để chỉ 
		lát nữa thôi, mỗi người cũng sẽ được đón nhận chính Chúa Hài Nhi Giêsu 
		trong Bí tích Thánh Thể vào trong tâm hồn của mình, để Ngài trở thành 
		nguồn suối bình an, vui tươi và hạnh phúc cho chúng ta.<br>
		<br>
		Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, xin Chúa ban cho chúng con biết sống đơn sơ, 
		trong trắng như các mục đồng khi xưa, để tâm hồn chúng con được diễm 
		phúc đón Chúa đến viếng thăm và ở lại với chúng con. Amen.<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Tu sĩ: Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		1. SỐNG LỜI CHÚA - ĐÊM GIAO HÒA<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Có một chuyện ngắn, mang tựa đề là “Người khách cuối cùng”, tôi xin được 
		tóm tắt như sau :<br>
		Thôn ấp Bêlem còn chìn trong bóng tối. Hài nhi Giêsu còn thiếp ngủ trong 
		máng cỏ. Bỗng cửa chuồng bò mở ra. Một bà lão xuất hiện. Thân hình gầy 
		guộc. Nước da nhăn nheo. Áo quần rách rưới. Maria nhìn bà lão bằng cặp 
		mắt canh chừng, lo âu và thoáng một chút sợ hãi.<br>
		Bà lão tiến lên, tiến lên nữa, đến tận máng cỏ. Rất may là Hài nhi Giêsu 
		vẫn còn ngủ yên. Nhưng rồi bất ngờ, đôi mắt Hài nhi Giêsu khẽ mở và nhìn 
		bà lão. Maria càng ngạc nhiên hơn nữa khi thấy cặp mắt của bà lão giống 
		hệt cặp mắt của Hài nhi Giêsu, vì cả hai cùng sáng lên một tia hy vọng. 
		Bà lão nghiêng mình trên máng cỏ. Bàn tay thọc sâu vào trong túi. Dường 
		như bà lão lấy ra một vật gì đó, rồi đặt xuống bên cạnh Hài nhi Giêsu. 
		Maria thắc mắc không hiểu là vật gì.<br>
		Yên lặng một lúc, bà lão đứng lên và cất bước. Như có một sức mạnh thần 
		bí thúc đảy, bà lão bước đi nhanh nhẹn. Lưng không còn còng xuống và nét 
		mặt lấy lại được vẻ tươi trẻ. Bà lão mất hút trên khoảng đồi xa xa. Bấy 
		giờ, ngọn gió không còn lạnh cóng vì hừng đông đã ló dạng. Maria lại gần 
		bên máng cỏ xem bà lão đã để lại vật gì. Maria vô cùng ngạc nhiên và kêu 
		lên :<br>
		- Ôi, một quả táo vàng.<br>
		Bà lão ấy là hình ảnh tượng trưng cho Evà, đã trao lại cho Hài nhi Giêsu 
		quả táo của tội lỗi đầu tiên. Và giờ đây, Hài nhi Giêsu đang cầm trên 
		tay như cầm một trái cầu nhỏ, cho một thế giới mới xuất hiện.<br>
		Bà lão ấy còn là hình ảnh tượng trưng cho toàn thể nhân loại chúng ta. 
		Thực vậy, tội nguyên tổ đã ảnh hưởng trên chúng ta, khiến chúng ta phải 
		cúi đầu lãnh nhận bản án của đau khổ và chết chóc. Tội nguyên tổ là như 
		chiếc móc xích đầu tiên, kéo theo tội lỗi của toàn thể nhân loại : Từ 
		tội của Cain, tội của ngọn tháp Babel cho đến tội của mỗi người chúng 
		ta, đã làm cho sợi dây xích ấy kéo dài ra tưởng như vô tận, biến con 
		người trở thành thù địch với Thiên Chúa và với nhau. Tội nguyên tổ là 
		như một trái phá, đã giật sập cây cầu cảm thông, nối liền trời với đất, 
		nối liền Thiên Chúa với nhân loại.<br>
		Một khi cây cầu đã gẫy đổ, thì chỉ còn là vực thẳm ngăn cách, tự sức 
		riêng, con người không thể nào vượt qua để tìm về gặp gỡ. Một khi cây 
		cầu đã gẫy đổ, thì chỉ còn là giông tố và xáo trộn, tự sức riêng, con 
		người không thể đem lại một nền hòa bình và ổn định. Một khi cây cầu đã 
		gẫy đổ, thì chỉ còn là thất vọng và đắng cay, tự sức riêng, con người 
		không thể thắp lên cho mình niềm hy vọng giải thoát và cứu độ. Con người 
		sinh ra là để kéo lê một kiếp sống đọa đày và sẽ kết thúc bằng cái chết.<br>
		Thế nhưng, Thiên Chúa đã lên đường tìm kiếm. Và đêm hôm nay, bàn tay 
		Ngài đã nắm chặt lấy bàn tay nhân loại, cho tình yêu mở hội đâm bông và 
		kéo chúng ta khỏi hố sâu tội lỗi, khỏi vực thẳm diệt vong. Ngôi Lời đã 
		nhập thể. Thiên Chúa đã ở cùng chúng ta.<br>
		Hài nhi Giêsu đã hòa giải nhân loại với Thiên Chúa, đã nối lại nhịp cầu 
		cảm thông giữa trời và đất, đã thắp lên cho chúng ta niềm hy vọng. Hài 
		nhi Giêsu là Adong mới, đã gánh lấy tội lỗi chúng ta, nhờ đó chúng ta 
		được tha thứ, được thoát khỏi bản án của tử thần. Hài nhi Giêsu đã chiến 
		thắng sự chết, để con người phải chết của chúng ta được sống muôn đời. 
		Hài nhi Giêsu đã đem lại cho chúng ta nguồn sống mới, khiến chúng ta lấy 
		lại được vẻ đẹp nguyên thủy, chưa từng bị hoen ố bởi tội lỗi, để từ nay 
		chúng ta trở nên con cái Thiên Chúa. Hài nhi Giêsu đã mở đầu cho một kỷ 
		nguyên mới, kỷ nguyên của vui mừng và hy vọng, kỷ nguyên của ơn sủng và 
		tình thương. Hài nhi Giêsu là một nhà cách mạng chuyên chính nhất, bởi 
		vì Ngài đã xóa sạch mọi dấu vết của tội lỗi, đã khai sinh một triều đại 
		mới trong công bằng và tự do, cũng như đã xây dựng một con người mới 
		trong yêu thương và tôn trọng lẫn nhau.<br>
		Mặt đất này không còn là hoang mạc cằn cỗi, nhưng đã trở thành thửa vườn 
		xanh tươi của Thiên Chúa. Xã hội này không còn là một địa ngục, trong đó 
		người với người là như chó sói của nhau, nhưng đã thực sự trở nên một 
		thiên đàng vì có Thiên Chúa ở cùng.<br>
		Hãy cảm tạ tình thương tuyệt vời của Thiên Chúa, đồng thời hãy cộng tác 
		với Ngài trong việc biến đổi bộ mặt thế giới, để mỗi ngày một trở nên 
		tốt đẹp hơn.<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		2. SN GLCN/23- SỨ ĐIỆP<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Con người đầu tiên Ađam trở nên hữu thể có sự sống, còn Ađam cuối cùng 
		trở nên Thánh Thần ban sự sống. Đức Thánh Cha trích lại lời thơ Côrintô, 
		đó là những lời của thánh Phaolô tông đồ tổng kết mầu nhiệm nhân loại 
		được Chúa Kitô cứu chuộc, một mầu nhiệm được giấu ẩn trong chương trình 
		đời đời của Thiên Chúa; một mầu nhiệm theo một nghĩa nào đó đã trở thành 
		lịch sử với sự nhập thể của Ngôi Lời hằng hữu của Thiên Chúa Cha; một 
		mầu nhiệm mà Giáo Hội đang sống một lần nữa với niềm xúc động sâu xa 
		trong lễ Giáng sinh.<br>
		Ađam là con người đầu tiên, Chúa Kitô là thần khí ban sự sống. Những lời 
		của thánh tông đồ Phaolô giúp chúng ta nhìn sâu xa hơn, giúp chúng ta 
		nhìn nhận nơi con trẻ Giáng sinh tại Belem là Con Chiên đã bị hiến tế và 
		là Đấng mạc khải ý nghĩa của lịch sử. Lúc Người Giáng sinh, thời gian và 
		vĩnh cửu gặp nhau, Thiên Chúa sống trong con người và con người trong 
		Thiên Chúa.<br>
		Con người đầu tiên Ađam trở thành hữu thể có sự sống, thiên tài bất tử 
		Michel-Ange đã vẽ ra trên trần nhà nguyện Sixtin giây phút Thiên Chúa 
		Cha trao ban hồng ân sự sống cho con người đầu tiên và làm cho nó trở 
		thành hữu thể có sự sống. Giữa ngón tay của Thiên Chúa và ngón tay của 
		con người đưa ra hướng về nhau và gần như là chạm vào nhau nơi mà cách 
		đó xem ra như có một lằn lửa vô hình. Thiên Chúa thông truyền cho con 
		người sức mạnh của chính Ngài khi tạo dựng con người giống hình ảnh Ngài 
		và giống như Ngài.<br>
		Thần khí này là phẩm vị duy nhất của mọi hữu thể con người, của khát 
		vọng vô cùng của nhân tính hướng về cái vô cùng. Tâm tư chúng ta ngày 
		hôm nay hướng về chính lúc đầu tiên của mầu nhiệm không thể hiểu thấu 
		được, giây phút của khởi đầu sự sống con người trên mặt đất. Khi chúng 
		ta chiêm ngắm Con Một của Thiên Chúa Cha trở thành con người, dung mạo 
		đời đời của Thiên Chúa được phản chiếu trong dung mạo của con trẻ. Con 
		người đầu tiên Ađam trở thành hữu thể có sự sống do bởi lằn lửa Thần đặt 
		vào bên trong con người, mà con người là một hữu thể có trí khôn và sự 
		tự do, và như thế có khả năng chịu trách nhiệm quyết định đối với chính 
		mình và vận riêng của mình.<br>
		Bức họa nổi tiếng của nhà nguyện Sixtin được tiếp tục với cảnh về tội 
		nguyên tổ, con rắn cuốn tròn theo thân cây thuyết phục đầu tiên của 
		nguyên tổ chúng ta ăn trái cây đã bị cấm. Thiên tài của nghệ thuật và 
		chiều sâu của biểu tượng của Kinh Thánh được hòa nhập tuyệt vời với nhau 
		để gợi lên giây phút bi thảm đó, khởi đầu của một lịch sử phản loạn, tội 
		lỗi và đau buồn từ phía nhân loại. Nhưng thử hỏi, Thiên Chúa có thể bỏ 
		quên công việc do tay Ngài tạo nên tuyệt tác của tạo vật hay không ? 
		Chúng ta biết được câu trả lời của đức tin như sau : “Khi thời giờ đã 
		nên trọn, Thiên Chúa đã sai Con Một Ngài xuống sinh ra bởi người nữ, 
		sinh ra trong lề luật để cứu chuộc những ai sống dưới lề luật, ngõ hầu 
		chúng ta có thể trở nên dưỡng tử của Ngài”.<br>
		Những lời của thánh tông đồ Phaolô vang lên với sự hùng hồn đích thực 
		khi chúng ta chiêm ngắm biến cố Giáng sinh. Nơi con trẻ mới sinh nằm 
		trong máng cỏ, chúng ta chúc mừng Ađam mới trở thành Thần Khí ban sự 
		sống cho chúng ta. Trọn cả lịch sử của thế giới hướng về Người, Đấng 
		được sinh ra tại Belem, ngõ hầu thiết lập lại niềm hy vọng cho từng 
		người nam, nữ trên mặt đất này.<br>
		Từ máng cỏ, đôi mắt của chúng ta hôm nay nhìn về toàn thể nhân loại, một 
		nhân loại được mời gọi lãnh nhận hồng ân của Ađam thứ hai, dù còn lãnh 
		nhận phần gia tài tội lỗi của Ađam thứ nhất. Thử hỏi, có phải lời thưa 
		không đầu tiên với Thiên Chúa được lặp lại trong mỗi tội con người phạm 
		? Thử hỏi, có phải lời thưa không đầu tiên đó tiếp tục làm méo mó dung 
		mạo của nhân loại hay không ? Những trẻ thơ phải gánh chịu bạo lực, bị 
		hạ nhục và bỏ rơi. Những người nữ bị hãm hiếp và bị lạm dụng khai thác. 
		Những người trẻ, những người lớn và những vị cao niên bị loại ra ngoài 
		lề xã hội. Những lớp người khốn cùng bị đi đày và đi tỵ nạn, bạo lực và 
		xung đột tại biết bao nơi trên thế giới.<br>
		Tôi lo âu nghĩ đến thánh địa, nơi mà bạo lực tiếp tục làm cho con đường 
		khó khăn dẫn đến hòa bình bị nhuỗm máu. Và có thể nói gì về những quốc 
		gia mà giờ đây tôi đặc biệt nghĩ đến Indonesia. Có thể nói gì về những 
		quốc gia nơi mà những anh chị em chúng ta trong đức tin đang phải trải 
		qua những giây phút khó khăn của thử thách và đau khổ. Chúng ta không 
		thể không gợi lại hôm nay rằng, những bóng tối của sự chết chóc đang hăm 
		dọa mạng sống con người ở mọi hạng tuổi và đặc biệt đang hăm dọa mạng 
		sống con người vào ngay lúc khởi đầu và lúc kết thúc tự nhiên của nó. 
		Càng trở nên mạnh mẽ hơn nữa, cám dỗ muốn làm chủ sự chết bằng cách làm 
		cho nó đến sớm hơn dường như thể chúng ta là người chủ của mạng sống 
		mình và mạng sống của những kẻ khác. Chúng ta đang đối diện với những 
		dấu chỉ báo nguy của một nền văn hóa sự chết đang hăm dọa nghiêm trọng 
		tương lai.<br>
		Tuy nhiên, cho dù bóng tối xem ra dày đặc đến mấy đi nữa, niềm hy vọng 
		của chúng ta vào sự chiến thắng của ánh sáng đã xuất hiện trong đêm 
		thánh tại Belem còn mạnh mẽ hơn. Quả thật, có biết bao điều tốt đã được 
		thực hiện một cách âm thầm bởi những con người nam, nữ hằng ngày sống 
		đức tin, chu toàn công việc và dấn thân phục vụ gia đình của họ và phục 
		vụ điều thiện hảo của xã hội. Cũng thật là khích lệ vào những cố gắng 
		của những ai, kể cả những con người nam, nữ trong đời sống công cộng, 
		đang cố gắng cổ võ cho sự tôn trọng nhân quyền của mỗi một người và cổ 
		võ sự gia tăng tình liên đới của các dân tộc thuộc các nền văn hóa khác 
		nhau, ngõ hầu món nợ của những quốc gia nghèo nhất được giải tha, ngõ 
		hầu hiệp ước hòa bình trong danh dự được đạt đến giữa các quốc gia đang 
		xung đột với nhau thật bi thảm.<br>
		Với các dân tộc khắp nơi trên thế giới đang can đảm tiến đến các giá trị 
		dân chủ, sự tự do, sự tôn trọng và chấp nhận lẫn nhau. Với tất cả mọi 
		người thiện chí bất luận thuộc về nền văn hóa nào, sứ điệp vui mừng của 
		mùa lễ Giáng sinh hôm nay được gởi đến cho họ là : “Hòa bình dưới thế 
		cho con người được Thiên Chúa yêu thương”.<br>
		Lạy Chúa Giêsu, Đấng đã Giáng sinh tại Belem vì chúng con, Chúa đã yêu 
		cầu nơi nhân loại đang bước vào ngàn năm mới hãy tôn trọng từng người, 
		nhất là những kẻ bé mọn và những người yếu đuối. Chúa yêu cầu chấm dứt 
		mọi hình thức của bạo lực, chấm dứt chiến tranh, đàn áp và mọi tấn công 
		vào sự sống.<br>
		Lạy Chúa Kitô mà chúng con hôm nay chiêm ngắm nằm trong vòng tay của Mẹ 
		Maria, Chúa là lý do cho niềm hy vọng của chúng con, thánh Phaolô đã nói 
		với chúng con rằng, điều cũ đã qua rồi và đây điều mới đã đến. Trong 
		Chúa và chỉ trong Chúa mà thôi nhân loại được ban cho cơ may để trở 
		thành tạo vật mới.<br>
		Lạy Con Trẻ Giêsu, chúng con cảm tạ Chúa vì món quà này, nguyện chúc tất 
		cả lễ Giáng sinh đầy hạnh phúc.<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		3. NOEL : ÁNH SÁNG<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Trong suốt 500 năm, mỗi năm cứ vào đêm Giáng Sinh, dân chúng tại một 
		thành phố nọ đều tập trung lại với nhau, không phải để mừng lễ Giáng 
		Sinh, NHƯNG ĐỂ CHỜ ĐỢI NGÀY CHÚA TRỞ LẠI. Trước nửa đêm, họ đốt đèn, hát 
		thánh ca, rồi đi kiệu đến một giáo đ ường đổ nát. Tại nơi đây, họ dựng 
		một hang đá bên trong và với tất cả lòng thành, họ cùng nhau quỳ gối cầu 
		nguyện. Ánh nến cũng như những bài thánh ca như có sức xua đuổi được cái 
		lạnh của đêm Giáng Sinh.Trừ những người ốm đau bệnh tật, tất cả mỗi 
		người trong thành phố đều có mặt ở đó; ai cũng được thúc đẩy bởi niềm 
		xác tín rằng nếu tất cả dân thành đều cầu nguyện một cách thành tín, thì 
		đúng vào lúc nửa đêm, Chúa Giêsu sẽ trở lại. Thế nhưng, NGÀY TRỞ LẠI CỦA 
		CHÚA GIÊSU VẪN CHƯA BAO GIỜ XẢY ĐẾN. Khi được hỏi: “Bạn có thực sự tin 
		rằng Chúa Giêsu sẽ trở lại trong đêm Giáng Sinh tại thành phố của bạn 
		không?” Nhân vật chính của câu chuyện trả lời: “Không, tôi không bao giờ 
		tin như thế!” Một câu hỏi khác được đặt ra: “Vậy, tại sao bạn lại đến 
		đây mỗi năm?” Nhân vật nầy mỉm cười trả lời: “Nếu như Đức Kitô thực sự 
		trở lại trong đêm đó, và nếu tôi là nguời duy nhất vắng mặt thì sao?”<br>
		Chắc hẳn câu chuyện trên đây hàm chứa một bài học nào đó. Giữa đêm tăm 
		tối bao trùm vạn vật, Ánh Sáng Chúa Kitô đã bừng lên, mang một bầu khí 
		mới cho nhân loại. Bài Phúc Âm của Thánh Gioan trong Ngày Lễ Giáng Sinh 
		đã nhắc lại nguồn sáng đó: &quot;Ở nơi Người vẫn có Sự Sống, và Sự Sống là Sự 
		Sáng của nhân loại&quot;.<br>
		Hơn 2000 năm nay, Ánh Sáng Chúa Kitô đã chiếu soi vào trần gian, nhưng 
		vẫn còn bao nhiêu người chưa hưởng nhờ, hoặc chưa muốn nhận Ánh Sáng đó. 
		Lời thánh Gioan đã minh chứng điều đó trong bài Tin Mừng của Ngài như 
		sau: &quot;Sự Sáng chiếu soi trong u tối, và u tối đã không tiếp nhận Sự 
		Sáng&quot;.Thật vậy, chỉ thoáng nhìn vào thực trạng của thế giới hôm nay, 
		chúng ta phải thành thực mà nhận rằng: quyền lực của tối tăm đang hoành 
		hành mạnh mẽ trong thế giới hôm nay. Nhiều mãnh lực đang làm suy giảm 
		nền luân lý của các quốc gia, các thành phố và các gia đình. Bao nhiêu 
		người công giáo đã mất đi ý thức về tội lỗi: Coi phá thai, ngừa thai, ly 
		dị, làm hôn thú giả, kết bạn giả là những việc làm thường tình ở ngoài 
		đời, họ làm được thì người công giáo làm được có sao đâu, vì căn cứ vào 
		luật Hội Thánh và 10 giới răn của Chúa đâu có khoản nào cấm không cho 
		làm đâu?<br>
		Giáo Hội mời gọi chúng ta không được đóng khung, nhưng mở rộng lòng chia 
		sẻ nổi khổ của tha nhân. Hãy chia sẻ cho họ những Hồng Ân chúng ta đã 
		nhận lãnh do lòng từ bi của Thiên Chúa. Thánh Nữ Têrêsa đã thường nói: 
		&quot;Tất cả những gì chúng ta có đều do Hồng Ân của Chúa ban&quot;. Chúng ta được 
		mời gọi chia sẻ cho tha nhân những Hồng Ân đã nhận được bằng cách nầy 
		hay cách khác để tha nhân cũng nhận biết Ánh Sáng Chúa Kitô. Đây là 
		những điều thiết thực chúng ta sống và thực thi sứ điệp Giáng Sinh trong 
		thế giới hôm nay.<br>
		Sau hết, mỗi người thử tự hỏi chính mình chỉ một câu hỏi thôi: Lễ Giáng 
		Sinh năm nay, có ai ngoài thân nhân, bạn bè đã nhận được từ chúng ta một 
		lời cầu chúc Giáng Sinh, một phần quà nho nhỏ theo tinh thần Chúa mời 
		gọi trong Mùa Hồng Ân năm nay không? Chừng nào Chúa Giêsu sẽ trở lại? 
		Chúng ta không thể biết được… Nhưng từng giây phút của cuộc đời, Ngài 
		vẫn gởi đến cho chúng ta những Anh Chị Em của Ngài, chúng ta gặp gỡ Ngài 
		TRONG những Anh Chị Em khốn khổ nầy. Vì chính khi Ngài đến, Ngài sẽ hỏi 
		chúng ta đã làm gì cho những người hèn mọn kém may mắn nầy? Nếu như Ngài 
		sẽ trở lại trong mùa Giáng Sinh nầy và Ngài sẽ hỏi chúng ta rằng: ”Những 
		Anh Chị Em kém may mắn có gặp gỡ chúng ta trong những ngày nầy không?” 
		Chúng ta sẽ trả lời với Chúa Giêsu như thế nào?<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		4. NOEL : Đêm Thánh Vô Cùng<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Người tín hữu Công Giáo mừng kỷ niệm Chúa Giêsu sinh xuống trần thế làm 
		người vào đêm 24 sang ngày 25 tháng 12 hằng năm. Đêm mừng kỷ niệm đó là 
		đêm thánh. Tại sao đêm này lại là đêm thánh? Phải chăng đêm này khác hơn 
		mọi đêm? Đêm này đã trở nên đêm thánh, vì Chúa Giêsu, con Thiên Chúa 
		sinh ra xuống thế làm người trong đêm này. Đấng Thánh sinh ra trong đêm 
		này đã biến nó thành đêm thánh.<br>
		Đêm 24 sang ngày 25 tháng 12 đối với thời tiết xứ lạnh vào mùa đông như 
		bên các xứ vùng Bắc bán cầu, là đêm dài nhất trong năm. Thời tiết đêm 
		này là đỉnh cao của mùa đông, tối đen dầy đặc. Đêm này khác nào như một 
		mốc trụ, một bản lề xoay chuyển cánh cửa từ từ mở sang phía khác. Bắt 
		đầu từ đây, ngày sáng từ từ dài hơn và đêm tối dần dần ngắn lại. Chúa 
		Giêsu đến trần gian trong đêm tối dầy đặc mù mịt. Ngài đến mang ánh sáng 
		cho đêm tối: Ánh sáng vĩnh cửu mang xuống trần gian tia sáng mới. &quot; Ngôi 
		Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người ?<br>
		Đã có nhiều lần trong đời chúng ta bỗng chốc bừng tỉnh, mặt mày nhất là 
		đôi mắt như chiếu toả một luồng sáng, miệng nở nụ cười tươi thắm, tâm 
		hồn cảm thấy khoan khoái nhẹ nhàng và kêu lên: Tôi đã tìm ra giải đáp 
		rồi! Một tia sáng đã soi giúp tôi nhận ra lối thoát! Một tia sáng bừng 
		lên trong tâm trí! Tia sáng này chúng ta không dùng ngón tay ấn vào nút 
		bật điện ở bờ tường và ánh sáng đền điện toả sáng lên, hay một bạn trẻ 
		bật diêm quẹt lấy lửa châm hút điếu thuốc, đốt sáng ngọn cầy, đốt củi lò 
		sưởi? Không, tia sáng này không do tay ta tác tạo nên. Tia sáng này là 
		quà tặng từ trời cao chiếu thẳng vào tâm trí ta, khiến ta bừng tỉnh. Tia 
		sáng này chiếu soi khắp phủ lục ngũ tạng trong người, khiến ta rạo rực 
		bừng lên niềm vui phấn khởi và chiếu toả ra bên ngoài qua gương mặt đôi 
		mắt! Ánh sáng đèn điện hay đèn xe hơi chiếu toả ánh sáng soi đường lối 
		đi, nhưng chói loà làm đau nhức đôi mắt, khi nhìn thẳng vào nó và phải 
		nhắm mắt hay nhìn sang phía khác. Trái lại, tia sáng chiếu toả từ trong 
		tâm trí khiến đôi mắt mở to và gương mặt rạng sáng.<br>
		Các cây thông Noel được trang trí với đèn điện, giây kim tuyến, những 
		quả cầu tròn to nhỏ thật óng ánh rực rỡ. Nhưng hang đá, dù nhỏ hay to 
		trong thánh đường, tại tư gia hay trên các hình chụp, đều chiếu toả ra 
		một bầu khí đầm ấm, không như ánh sáng của những ánh đèn nóng rực cực 
		mạnh chiếu vào. Từ Hài Nhi Giêsu trong hang đá chiếu toả ra một làn ánh 
		sáng nhẹ ấm cúng. Tia sáng này không sáng rõ đủ để có thể đọc được chữ, 
		nhưng nó lan toả vào tận trái tim tâm hồn người đến ngắm nhìn, đến bái 
		lạy Haì Nhi Giêsu là nguồn ánh sáng tình người. Ánh sáng chiếu toả từ 
		Hài Nhi Giêsu trong hang đá không là tia sáng soi mói tò mò, nhưng giúp 
		ta nhận ra giới hạn yếu kém của bản thân con người. Tia sáng này cũng 
		không là một liếc nhìn khiển trách của Chúa là Đấng Thánh, nhưng là lời 
		mời gọi: Các Bạn đừng sợ! ( Lc 2,10). Ánh sáng này mang đến tha thứ niềm 
		vui và bình an cho người đón nhận nó.<br>
		Đêm thánh là đêm ánh sáng tình người: Thiên Chúa làm người, để con người 
		giữ địa vị làm người của mình.<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		5. NOEL : Chúc Mừng Giáng Sinh<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Tháng 9 năm 1897, một bé gái 8 tuổi tên là Virginia đã viết cho một tờ 
		báo Công Giáo Hoa Kỳ để hỏi về ông già Noel. Câu hỏi của cô bé là: Ông 
		già Noel có thật không? Vài ngày sau, trên mục quan điểm của tờ báo, 
		người ta đọc được câu trả lời của ông chủ nhiệm kiêm chủ bút như sau: 
		&quot;Virginia yêu dấu của bác. Điều trước tiên bác muốn nói với cháu là: các 
		bạn của cháu thật là sai lầm khi bảo rằng không có ông già Noel. Các bạn 
		của cháu đã bị tiêm nhiễm bởi trào lưu hoài nghi. Họ nghĩ rằng chỉ có 
		thể tin được những gì họ thấy tận mắt. Họ nghĩ rằng không có gì có thể 
		có được nếu trí khôn nhỏ bé của họ không hiểu được…Chỉ có đức tin, chỉ 
		có tình yêu mới có thể vén mở được bức màn bí mật của thế giới của chúng 
		ta.”<br>
		Lá thư gửi cho cô bé Virginia trên đây đưa chúng ta vào trung tâm điểm 
		của ngày Giáng Sinh: Giáng Sinh là lễ của nhi đồng, bởi vì nhân vật 
		chính của ngày lễ là một Em Bé. Một Em Bé cũng như muôn ngìn em bé sinh 
		ra trên cõi đời này. Em Bé đó chính là niềm vui và hy vọng cho tất cả 
		mọi người. Cùng với Em Bé đó, tất cả các em bé đều mang lại niềm vui cho 
		mọi người trong mùa Giáng Sinh. Bầu khí Giáng Sinh là bầu khí của nhi 
		đồng. Từ hoa đèn, âm nhạc cho đến quà cáp, tất cả đều hướng về các em 
		nhi đồng... Người cho đã vui mà người nhận còn vui hơn: chính các em bé 
		là những người đã dạy cho người lớn biết vui với niềm vui ban phát. Bao 
		lâu con người còn có thể mở cửa tâm hồn, bao lâu con người còn có thể mở 
		rộng bàn tay để ban phát, để chia sẻ thì bấy lâu ông già Noel của hy 
		vọng, của quảng đại, của hân hoan vẫn còn sống mãi trong tâm trí của trẻ 
		em và không biết bao nhiêu người sầu khổ.<br>
		Giáng Sinh là ngày của nhi đồng do đó cũng là lễ của hòa bình. Một em bé 
		sinh ra là một hy vọng mới chớm nở. Hy vọng là tên mới của hòa bình. Còn 
		hy vọng là còn muốn xây dựng. Xây dựng trên mầm sống đã đành mà còn xây 
		dựng trên những đổ vỡ, mất mát. Qua hài Nhi Giêsu, tất cả các em bé trên 
		thế giới đang nhắn gửi đến từng người trong chúng ta niềm hy vọng vào 
		thiện chí của con người. Hòa bình là hoa quả của hy vọng. Còn tin nơi 
		con người, chúng ta còn có thể xây dựng hòa bình.<br>
		<br>
		<br>
		6. Lễ Sinh Nhật đầu tiên được mừng thế nào?<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Suy Niệm của Lm Trần Bình Trọng<br>
		<br>
		Trong đêm Giáng sinh đầu tiên chỉ có ít nhân vật được chứng kiến cảnh 
		hang đá Bê-lem: Đó là Mẹ Maria, thánh Giu-se, các thiên thần, mấy người 
		mục đồng và đàn chiên bò lừa. Lễ Sinh nhật đầu tiên được mừng nơi hang 
		đá máng cỏ của chiên bò lừa, chứ không phải trong nhà, cũng không ở 
		trong khách sạn, hay tại nhà thương. Ngày nay người ta thường làm những 
		cảnh hang đá máng có trông thật đẹp mắt. Tuy nhiên chính cái nơi Chúa 
		Cứu thế sinh ra chỉ là cái hang mục đồng, có thể là dơ bẩn, hôi hám.<br>
		Thánh lễ rạng đông của ngày Giáng sinh quen gọi là lễ mục đồng. Phúc âm 
		hôm nay kể lại: Nào ta sang Bê-lem, để xem sự việc đã xẩy ra, như Chúa 
		đã tỏ cho ta biết (Lc 1:15). Tại sao các mục đồng lại nhanh chóng đáp 
		lại sứ điệp của các thiên thần như vậy? Theo thánh kinh thuật lại, thì 
		các mục đồng là những người canh thức để trông giữ đoàn chiên. Nếu họ 
		ngủ thì đã không nhận ra các thiên thần, không nghe được tiếng các thiên 
		thần, và đã không thấy ánh sáng từ trời toả xuống. Các mục đồng là những 
		người đơn sơ chất phác nên đã đặt tin tưởng vào lời các thiên thần, để 
		làm quyết định đi xem hiện tượng kỳ lạ ở Bê-lem. Các mục đồng là những 
		người sống gần gũi với thiên nhiên, nên dễ nhận ra những dấu vết, những 
		kỳ công của Đấng tạo hoá. Họ dễ có cái cảm giác kính sợ, cái cảm giác lạ 
		lùng trước những quyền lực thiên nhiên của tạo hoá như bão tố, sấm sét.. 
		Đó chính là điều mà Phúc âm hôm nay ghi lại: Ánh vinh quang của Thiên 
		Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng (Lc 2:9). Không 
		phải gắn bó với những ràng buộc vật chất nên khi nghe thấy có hiện tượng 
		lạ, các mục đồng có thể nhẹ gánh ra đi cùng với đàn chiên, không cần 
		phải giàn xếp công việc nhà.<br>
		Làm sao mục đồng có thể nhận ra hài nhi mới sinh trong máng cỏ là Đấng 
		cứu thế? Mỗi người có thể tìm ra những câu trả lời khác nhau. Để giúp ta 
		dễ dàng trả lời, ta có thể đặt câu hỏi cách khác. Ai là những người dễ 
		nhận ra sự hiện diện của Chúa trong đời sống? Ai là những người dễ nhận 
		ra những dấu vết, những kỳ công của Thiên Chúa? Người ta phải có tâm hồn 
		hay tạo ra tâm hồn như thế nào để dễ nhận ra sự hiện diện của Chúa. Thời 
		đại và hoàn cảnh ta đang sống không có những điều kiện và môi trường 
		thiên nhiên của người mục đồng để ta dễ dàng nhận ra những dấu vết của 
		Thiên Chúa. Tuy nhiên hàng ngày xung quanh ta vẫn có những dấu vết của 
		việc Thiên Chúa hiện diện. Ta chỉ cần mở mắt tâm hồn là có thể nhận ra 
		được.<br>
		Phúc âm hôm nay ghi lại: Các mục đồng trở về vừa đi vừa tôn vinh ca tụng 
		Thiên Chúa, về mọi điều họ đã được tai nghe mắt thấy theo như họ đã được 
		loan báo (Lc 2:20). Ước chi hôm nay ta cũng trở về ca tụng Thiên Chúa về 
		những điều ta được nghe và thấy và cảm nghiệm được, sau khi ta đáp trả 
		lại tiếng mời gọi của Chúa để sống và thực thi đức tin.<br>
		Còn mẹ Maria mừng lễ sinh nhật đầu tiên ra sao? Thánh kinh nói rất ít về 
		việc mẹ mừng lễ Sinh nhật đầu tiên. Kinh thánh chỉ ghi lại : Còn bà 
		Maria hằng ghi nhớ những sự việc đó và suy đi nghĩ lại trong lòng (Lc 
		2:19). Mừng lễ Sinh nhật trong lòng có nghĩa là mở rộng tâm hồn đón nhận 
		Chúa cứu thế. Tai ta có thể nghe về chuyện giáng sinh, nhưng chỉ có tâm 
		hồn mới có thể rung động trước màu nhiệm giáng sinh. Sau những ngày giờ 
		bận rộn, sửa soạn mừng lễ Sinh nhật như làm hang đá máng cỏ, trang hoàng 
		nhà cửa, gửi thiệp sinh nhật và quà sinh nhật, ta cần tìm thời giờ thinh 
		lặng để suy niệm về màu niệm giáng sinh. Chỉ trong thinh lặng, người ta 
		mới dễ dàng cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa và màu nhiệm 
		giáng sinh. Người công giáo trưởng thành không được coi sinh nhật như 
		một biến cố xa xưa không ăn nhập tới nếp sống hiện tại. Người công giáo 
		trưởng thành phải tìm cho ra ý nghĩa đích thực của việc mừng lễ sinh 
		nhật.<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		III. LỄ BAN NGÀY (Ga 1:1-18 hay Ga 1:1-5,9-14)<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		NGÔI LỜI TỰ HỦY ĐỂ NÊN NGƯỜI PHÀM<br>
		<br>
		(Is 52, 7-10; Dt 1, 1-6; Ga 1, 1-5.9-14)<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Nếu lễ Đêm Giáng Sinh, Phụng Vụ Giáo Hội tập trung để giới thiệu Đức 
		Giêsu là Ánh Sáng của Thiên Chúa. Ngài đến để chiếu soi nhân loại và 
		giải thoát con người khỏi bóng đêm tội lỗi. Thánh lễ Rạng Đông thì nhấn 
		mạnh đến tình yêu của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi các mục đồng là đại 
		diện cho những người bé mọn, nghèo khổ và bị loại ra bên lề. Còn thánh 
		lễ này, Phụng Vụ Lời Chúa muốn nhấn mạnh đến sự tự hạ của Đức Giêsu khi 
		giới thiệu Ngài chính là Ngôi Lời của Thiên Chúa, nhưng đã chấp nhận trở 
		nên người phàm và cư ngụ giữa nhân loại để cứu chuộc con người.<br>
		<br>
		1. Vì yêu, nên Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể<br>
		<br>
		Khởi đầu Tin Mừng thánh Gioan đã viết: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm<br>
		và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1, 14). Đây là một mầu nhiệm. Mầu nhiệm này 
		vượt quá sự hiểu biết, suy tư của con người! Bởi vì theo lẽ thường thì 
		hiểu sao được khi một vị Thiên Chúa toàn năng vô biên, trí tuệ khôn 
		lường; Ngài là Đấng hằng hữu, trường cửu; Đấng tạo dựng đất trời và biển 
		khơi; Đấng làm chủ không gian và thời gian; Đấng là nguồn mạch sự sống 
		và mọi điều thiện hảo…. (x. Dt 1, 3; Cl 1,15). Thế mà hôm nay, Ngài lại 
		trở nên một con người hữu hạn và chịu sự chi phối như một loài thụ tạo 
		bình thường với những truyền thống và văn hóa của một dân tộc nhỏ bé.<br>
		<br>
		Đây quả là điều rất khó hiểu đối với chúng ta!<br>
		<br>
		Nhưng, theo thánh Gioan, chìa khóa để mở ra cho chúng ta hiểu được mầu 
		nhiệm cao cả này, chính là hai chữ “tình yêu”.<br>
		<br>
		Vì thế, ngài viết: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một để 
		những ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn 
		đời” (Ga 3, 16 ). Lúc khác ngài khẳng định: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 
		Ga 4, 16).<br>
		<br>
		Chính vì yêu, Thiên Chúa Cha đã trao ban cho nhân loại món quà quý giá 
		nhất là Con Một của Người. Cũng chính vì yêu, nên khi đến lượt mình, Đức 
		Giêsu, Ngôi Lời của Thiên Chúa đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa 
		chúng ta (x. Ga 1, 14 ). Khi trở nên một Đức Giêsu – người, Ngài cũng 
		trở thành Đấng Cứu Chuộc, Hoàng Tử Hòa Bình, Vua muôn thủa và Ánh Sáng 
		chiếu soi mọi người để dẫn đưa nhân loại về với nguồn sự thật và sự sống 
		để được hạnh phúc viên mãn.<br>
		<br>
		Đây là điều mà chính Đức Giêsu, Ngôi Lời của Thiên Chúa đã mạc khải cho 
		chúng ta. “Không ai thấy Thiên Chúa bao giờ; nhưng Con Một là Thiên 
		Chúa, và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho 
		chúng ta biết” ( Ga 1, 18 ), Nhờ sự mạc khải đó mà: “Toàn cõi đất này 
		được xem thấy: Ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta” (Tv 97, 3 ).<br>
		<br>
		Tuy nhiên, hơn hai ngàn năm đã trôi qua kể từ khi Ngôi Lời đặt chân trên 
		trái đất. Ngài đã thắp lên ánh sáng trong bóng đêm. Ngài chính là Ánh 
		Sáng chiếu soi mọi người (x. Ga 1,9). Tiếc thay, nhiều người đã chọn 
		bóng tối, vì bóng tối dễ chịu hơn, dễ đồng lõa hơn (x. Ga 3,19). Vì thế, 
		chúng ta không lạ gì khi Ngôi Lời đã đến nhà của Ngài, nhưng người nhà 
		chẳng chịu đón nhận (x. Ga 1,11).<br>
		<br>
		2. Đón nhận Ngôi Lời như thế nào?<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Đây là một nỗi buồn cho nhân loại. Là tấm màn đen của thế giới con 
		người. Là cảnh buồn và ảm đạm trong một thước phim vui. Vì thế, mỗi lần 
		Giáng Sinh về, Giáo Hội không ngừng mời gọi con cái của mình không chỉ 
		mừng lễ với những đèn sao nhấp nháy, tiệc tùng linh đình và những thứ bề 
		ngoài khác. Ngược lại, Giáo Hội không ngớt lên tiếng thúc dục mọi thành 
		phần hãy chuẩn bị tâm hồn cho thật xứng đáng, để đón nhận mầu nhiệm vĩ 
		đại của Thiên Chúa ngang qua Đức Giêsu vào trong tâm hồn của mình.<br>
		<br>
		Một trong những cách thiết thực nhất thể hiện việc sẵn sàng đón nhận 
		Chúa đến với mình, đó là mặc lấy tâm tình của Đức Mẹ Maria để suy đi 
		nghĩ lại trong lòng những gì mắt thấy, tai nghe, ngõ hầu mọi sự diễn ra 
		trước mắt lại được ngấm thật sâu trong tâm hồn mỗi người và toát ra nơi 
		cuộc sống. .<br>
		<br>
		3. Hãy làm cho Ngôi Lời của Thiên Chúa được hiện hữu nơi chúng ta<br>
		<br>
		Như vậy, việc mừng Lễ Giáng Sinh đối với người Công Giáo chắc chắn không 
		phải là mừng một biến cố hay kỷ niệm hoặc lễ hội thuần túy, nhưng ngang 
		qua đó, làm toát lên một mầu nhiệm vĩ đại, mầu nhiệm cứu chuộc.<br>
		<br>
		Chính vì vậy mà ơn cứu độ của Đức Giêsu đem đến không phải chỉ một lần 
		vào đêm Ngài giáng trần, cũng không chỉ là lời hứa hẹn cho cuộc sống mai 
		sau, mà ơn cứu độ, sức sống mới của Đức Giêsu đã được trao ban cho chúng 
		ta ngay ngày hôm nay và lúc này.<br>
		<br>
		Vì thế, nếu Con Thiên Chúa đã nhập thể, đã chấp nhận từ chỗ vị trí là 
		Ngôi Lời, là Thiên Chúa đến chỗ Ngôi Lời hóa thành nhục để làm người và 
		để cứu độ con người đang lầm than tội lỗi. Thì đến lượt chúng ta, chúng 
		ta cũng phải làm cho Ngôi Lời trở nên sống động và thiết thực trong cung 
		cách sống của mỗi người.<br>
		<br>
		Nói cách khác, chúng ta cũng hãy noi gương Ngôi Lời là Đức Giêsu để làm 
		một cuộc nhập thế ngay trong môi trường, khung cảnh sống của mỗi người.<br>
		<br>
		Sự nhập thế ấy ta hiểu như một sự hóa thân để từ chỗ là một người giàu 
		sang, quyền quý trở nên người cận thân cận lân của những người ốm đau, 
		bệnh tật, cô thế, cô thân, nghèo khổ, bị áp bức, bóc lột, bỏ rơi. Trở 
		nên những người cha, người mẹ đầy yêu thương của các trẻ em mồ côi nơi 
		góc chợ, vỉa hè, trên đường phố hay gầm cầu, công viên. Trở nên người 
		thầy - cô giáo tận tâm, hướng dẫn, dạy dỗ để chắp cánh cho tương lai đầy 
		xán lạn nơi các học sinh thân yêu. Trở thành người có trách nhiệm với 
		người khác như: bảo vệ môi trường, bênh vực công lý, xây dựng công bình 
		và loan báo sự thật trong tin yêu và hy vọng.<br>
		<br>
		Ngoài ra, chúng ta cũng cần phải làm một cuộc nhập thể khác nữa, cần 
		thiết hơn và cấp bách hơn, đó là một cuộc nhập thể ngay trong gia đình 
		của mình.<br>
		<br>
		Nếu là người cha/ chồng nơi gia đình, thì sự nhập thể chính là trở nên 
		người chồng, người cha mẫu mực, biết yêu thương, lo lắng, dạy dỗ con cái 
		nên người; biết quan tâm và sống có trách nhiệm cũng như chung thủy với 
		vợ….<br>
		<br>
		Nếu là người vợ / mẹ, thì sự nhập thể chính là biết sống hiền lành, nhã 
		nhặn, vui vẻ, vun quén cho gia đình; biết giữ hòa khí yêu thương và biết 
		chu toàn trách nhiệm làm vợ và làm mẹ….<br>
		<br>
		Nếu là người con, thì sự nhập thể chính là biết ngoan ngoãn, hiếu thảo 
		với cha mẹ và thầy cô giáo; chú tâm đến việc học văn hóa, giáo lý nơi 
		nhà trường và nhà thờ; chu toàn bổn phận hằng ngày trong gia đình….<br>
		<br>
		Đây chính là kết quả của việc lắng nghe, suy đi nghĩ lại và tuân giữ Lời 
		Chúa trong lòng như Mẹ Maria. Đây cũng chính là sống tinh thần Mầu Nhiệm 
		Giáng Sinh của Đức Giêsu. Và, đây cũng chính là một hành trình nhập cuộc 
		theo gương Ngôi Lời Thiên Chúa.<br>
		<br>
		Giờ đây, chúng ta tiếp tục dâng thánh lễ để cùng nhau đi sâu hơn khi cảm 
		nghiệm và sống mầu nhiệm tự hủy của Ngôi Lời Thiên Chúa ngay trong Bí 
		tích Thánh Thể sắp tới.<br>
		<br>
		Đây chính là quà tặng vô giá mà Đức Giêsu không ngừng ban tặng cho nhân 
		loại, để ai tin và đón rước thì được bảo đảm cho hạnh phúc và sự sống 
		đời đời mai sau.<br>
		<br>
		Lạy Ngôi Lời của Thiên Chúa, Ngài là Đấng Emmanuel, xin cho chúng con 
		biết cảm nghiệm sâu xa tình yêu tự hủy của Chúa, để đến lượt chúng con, 
		mỗi người cũng biết sống mầu nhiệm ấy trong cuộc đời của mình, ngõ hầu 
		mang lại cho nhân loại niềm hy vọng, bình an và ơn cứu độ qua mầu nhiệm 
		nhập thể làm người của Chúa. Amen.<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Tu sĩ: Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.<br>
		<br>
		NIỀM VUI BÌNH AN<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Bình an là ước vọng chung của mọi người. Ai cũng muốn bản thân mình 
		thoát mọi tai họa; gia đình được bình an; đời sống được ổn định, để ta 
		an tâm làm ăn sinh sống. Dân tộc nào cũng mong đất nước mình có hòa 
		bình, để mọi người cùng theo đuổi công cuộc đổi mới và phát triển kinh 
		tế. Có thể nói, toàn thể nhân loại đều mong thế giới được hòa bình, 
		không có thiên tai, không có hiểm họa chiến tranh.<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Người Kitô hữu lại càng hiểu rõ ý nghĩa của sự bình an hơn, vì bình an 
		là điều Thiên Chúa ban tặng cho loài người, khi Ngài giáng trần. Lời ca 
		của Sứ Thần trong đêm Giáng Sinh đã cho ta thấy rõ điều đó: “Vinh danh 
		Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người Chúa thương” (Lc 2,14). 
		Được Thiên Chúa yêu thương, đó là bảo đảm chắc chắn nhất của sự bình an. 
		Tất cả chúng ta đều được Thiên Chúa yêu thương. Nên chúng ta nắm chắc 
		được hưởng sự bình an của Chúa.<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Vậy tại sao sự bình an vẫn chưa đến? Lời hứa bình an của Chúa Giêsu có 
		đáng tin không, có sức thuyết phục không? Có rất nhiều lý do khiến ta 
		nghi ngờ về lời hứa bình an này. Chẳng hạn: Nhiều người nghĩ: Chúa hứa 
		ban bình an, nhưng sao cuộc sống của tôi vẫn chưa hết long đong? Vẫn cứ 
		ba chìm, bảy nổi, chín cái lênh đênh! Vậy thì sự bình an ở đâu? Người 
		khác nói: Gia đình tôi từ trước tới nay vẫn nếm đủ mùi bất hạnh. Nỗi khổ 
		này chưa qua, thì khổ đau khác đã ập đến! Vậy thì sự bình an ở đâu? 
		Người khác nữa lại bảo: Thế giới này chưa lúc nào được bình an. Vẫn còn 
		biết bao điểm nóng, biết bao cuộc xung đột đẫm máu đang âm ỉ chờ dịp nổ 
		tung! Vậy thì sự bình an ở đâu? Thực ra, thắc mắc như vậy không phải là 
		không có lý. Mặt khác, nó còn giúp ta tìm hiểu kỹ hơn, xem sự bình an 
		của Chúa là thứ bình an nào? Và ta phải có điều kiện gì để hưởng sự bình 
		an ấy?<br>
		<br>
		Trước hết, sự bình an của Chúa là một món quà, nhưng cũng là trách nhiệm 
		của người lãnh nhận. Nhiều khi ta chỉ ngồi chờ ân huệ của Chúa một cách 
		thụ động. Nhưng Thiên Chúa đâu có thể làm thay cho ta. Ngài chỉ giúp ta 
		hoàn thành nhiệm vụ của mình mà thôi. Sự bình an của Chúa không giống 
		như ổ bánh bông lan được đặt sẵn ở nhà hàng, ta chỉ việc mua, sử dụng. 
		Không. Sự bình an không phải là thứ được chế biến sẵn. Muốn được bình 
		an, ta không thế sống thụ động, khoanh tay đứng nhìn, chờ hưởng thụ.<br>
		<br>
		Tiếp theo, ta phải tích cực xây dựng sự bình an cho chính mình và cho 
		mọi người. Làm sao ta có thể bình an được, nếu ta còn để lòng tham lam, 
		vị kỷ, oán hờn, bất công... Nếu con người cứ tiếp tục làm khổ lẫn nhau, 
		người này gây tai họa cho người kia, thì như thế cũng là gây tai họa cho 
		chính mình. Có thể nói, bao lâu lòng người còn chứa đầy tham lam, ích 
		kỷ, thì thế giới này chưa đủ điều kiện để đón nhận sự bình an của Chúa, 
		chứ không phải là Chúa không giữ lời hứa.<br>
		<br>
		Sau cùng, sự bình an của Chúa luôn đòi hỏi một sự hoán cải. Muốn được 
		bình an, ta phải có tâm hồn quảng đại, yêu thương, thanh sạch, tràn đầy 
		Thiên Chúa. Tâm hồn mà không hoán cải, thì sự bình an chỉ là thứ ảo 
		tưởng. Và nếu có chút bình an đi chăng nữa, thì đó cũng chỉ là một thứ 
		bình an giả tạo, mong manh, luôn bị đe dọa và rất dễ tan vỡ.<br>
		<br>
		Lạy Chúa! Trong mùa Giáng Sinh này, xin Chúa ban cho con sự bình an của 
		Chúa. Xin giúp con trân trọng đón nhận sự bình an này với tinh thần 
		trách nhiệm, tích cực và hoán cải. Con cảm tạ Hồng ân Chúa ban.<br>
		<br>
		AVE MARIA<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		1. SCĐ/78- NOEL - QUÀ TẶNG<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Một đôi vợ chồng trẻ. Gim và Đêla, tuy nghèo tiền của nhưng rất giàu 
		tình yêu. Giáng sinh sắp tới, Đêla tự hỏi phải tặng Gim món quà gì đây. 
		Nàng muốn tặng chàng sợi dây cho chiếc đồng hồ của chàng. Nhưng nàng 
		không có đủ tiền để mua. Vì thế, nàng nảy sinh một sáng kiến : Nàng có 
		bộ tóc dài mượt mà, óng ả, nàng yêu quí và rất hãnh diện vì nó. Nhưng 
		nàng quyết định cắt bộ tóc đi, và đem bán để mua cho Gim sợi dây đồng 
		hồ.<br>
		Hôm áp lễ Giáng sinh, từ phố về, nàng cầm trong tay một chiếc hộp rất 
		đẹp đựng sợi dây đồng hồ mạ vàng mà nàng vừa sắm được bằng mái tóc của 
		mình. Bỗng nhiên Đêla cảm thấy lo lắng. Nàng biết Gim rất quí mái tóc 
		nàng cắt và bán nó đi hay không.<br>
		Về đến nhà, Đêla mở cửa và thấy Gim đang đợi nàng. Tay chàng cầm một cái 
		hộp thật đẹp, đựng món quà chàng mới mua để tặng nàng. Khi nhìn thấy mái 
		tóc ngắn của vợ, Gim như muốn khóc, nhưng chàng không nói gì cả. Cố trấn 
		tĩnh, chàng trao cho nàng chiếc hộp xinh xắn. Mở hộp ra, Đêla rất đỗi 
		bàng hoàng. Trong hộp là một bộ lược chải tóc bằng xà cừ rất đẹp. Còn 
		chàng, khi mở món quà vừa nhận được từ tay vợ, Gim cũng ngỡ ngàng không 
		kém :<br>
		Chính lúc đó Đêla mới nhận ra rằng Gim đã bán chiếc đồng hồ vàng, món đồ 
		quí nhất của anh, để mua lược chải tóc cho nàng. Phút chốc cả hai đều 
		hiểu rằng họ đã tặng nhau tất cả những gì quí giá nhất.<br>
		Nếu có một bài học mà chúng ta có thể rút ra từ việc “tặng quà” của đôi 
		vợ chồng trẻ này, thì đó chính là : khi trao ban cho kẻ khác, người ta 
		lại tìm được chính bản thân và những gì cao quí nhất. Nghĩa là con người 
		chỉ đạt được nhân cách sung mãn bằng sự trao ban vô vị lợi mà thôi.<br>
		Đó chính là sứ điệp chạy xuyên suốt Tin Mừng, nhất là trong mầu nhiệm 
		Giáng sinh : “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin 
		vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời”. Qua Con 
		Một yêu dấu, Thiên Chúa muốn ban tặng chính Người cho chúng ta. Người 
		không chỉ hài lòng với món quà vật chất mà Người đã ban tặng như vũ trụ 
		bao la với muôn vàn phúc lộc trong đó, nhưng Người đã đích thân ở giữa 
		nhân loại để chia sẻ cuộc sống con người : “Ngôi Lời đã hóa thành nhục 
		thể, và đã cư ngụ giữa chúng ta”.<br>
		Hài nhi Giêsu chính là quà tặng quí giá nhất Thiên Chúa trao ban cho con 
		người.<br>
		Hài nhi Giêsu chính là hiện thân sống động của một Thiên Chúa tình yêu.<br>
		Hài nhi Giêsu chính là sự tỏ bày tấm lòng vô cùng ưu ái của Thiên Chúa 
		dành cho con người.<br>
		Giáng sinh là lễ của tặng quà nhưng cũng còn là lễ của tình yêu. Không 
		phải những quà tặng đắt tiền mới có giá trị, mà chính là những món quà 
		thắm đượm tình yêu. Một món quà dù nhỏ bé nhưng gói ghém tất cả tình cảm 
		mến thương, sự trân trọng, lòng biết ơn, có khi cả sự ngưỡng mộ của mình 
		dành cho người đón nhận, thì đó lại là món quà vô giá.<br>
		Có thể nói một cách nào đó, khi tặng quà, chúng ta muốn trao ban chính 
		bản thân, trao ban không cần tính toán, không so đo hơn thiệt, trao ban 
		trọn vẹn. Mẹ Têrêxa Calcutta đã nói : “Kitô hữu là người trao ban chính 
		bản thân mình”. Hài nhi Giêsu sau này khi sắp trao ban mạng sống để cứu 
		chuộc nhân loại đã thốt lên : “Không có tình yêu nào cao quí cho bằng 
		tình yêu của người hiến mạng sống mình vì bạn hữu”.<br>
		Quà tặng cao đẹp nhất chúng ta dâng lên Hài nhi Giêsu trong đêm Giáng 
		sinh chính là những nghĩa cử yêu thương chúng ta trao tặng cho anh em.<br>
		Chúng ta chỉ có thể lớn lên trong tình yêu Chúa khi chúng ta thực thi 
		những nghĩa cử yêu thương.<br>
		Chúng ta chỉ sống đích thực khi chúng ta sống trọn vẹn cho tha nhân.<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		2. SCĐ/81- NOEL - BÌNH AN<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Vào dịp lễ Giáng sinh năm 1914, quân Anh và quân Đức đang đối đầu nhau. 
		Binh sĩ ở dưới những giao thông hào đầy bùn và chuột. Nửa đêm, một người 
		lính Anh cất lên một bản thánh ca. Chẳng bao lâu sau, tất cả các lính 
		Anh cũng cất tiếng hòa ca. Mọi người đang hát say sưa thì một người hô 
		lớn : “Im. Nghe xem có tiếng gì từ bên kia vọng lại”. Mọi người im lặng 
		lắng nghe. Thì ra những người lính Đức bên kia chiến tuyến cũng đang hát 
		thánh ca mừng Chúa ra đời. Một cái gì đó linh thiêng nối kết những kẻ 
		thù ở hai bên chiến tuyến. Tất cả binh sĩ bỏ chiến hào chạy ùa tới nhau. 
		Họ nắm tay nhau nhảy múa theo điệu hát. Họ chia cho nhau những điếu 
		thuốc, những mẫu bánh. Chiến tranh biến đâu mất. Chỉ còn lại hòa bình. 
		Mọi người rất vui.<br>
		Nhưng niềm vui không kéo dài lâu. Tiếng hát, tiếng cười ồn ào đến tai 
		các vị chỉ huy. Các vị này lập tức ra lệnh chấm dứt tất cả, mọi người 
		phải trở lại vị trí của mình. Thế là chiến tranh lại tiếp diễn !<br>
		Mỗi lần đến lễ Giáng sinh là người ta nghĩ đến hòa bình, bởi vì trong 
		đêm Chúa Giáng sinh, các thiên thần đã hát “Vinh danh Thiên Chúa trên 
		trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm”.<br>
		Nhưng hòa bình không phải chỉ là không có chiến tranh, không chỉ là 
		ngưng tiếng súng. Hòa bình là hoa trái sinh ra từ những tâm hồn thiện 
		tâm. Nếu tâm không thiện thì không có hòa bình thật. Hòa bình bền vững 
		không phải do thỏa hiệp của những bên đã từng chống đối nhau, mà là ơn 
		ban của Chúa. Trong lễ Giáng sinh, Chúa ban ơn hòa bình cho ta, để rồi 
		ta cũng mang ơn hòa bình ấy ban cho kẻ khác.<br>
		<br>
		<br>
		3. SCĐ/83- NOEL- ÁNH SÁNG<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Ở Bắc bán cầu, lễ Giáng sinh diễn ra vào lúc trời tốt nhất. Đây là thời 
		điểm thuận lợi để chúng ta ngưỡng mộ giá trị của ánh sáng. Bởi vậy, 
		phụng vụ lễ này nói nhiều tới ánh sáng. Chẳng hạn như bài đọc 1 lễ đêm : 
		“Đoàn dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng”.<br>
		Mẹ Têrêxa kể rằng lúc ở Melbourne, Australia, một hôm mẹ đến thăm một 
		ông già sống trong một tầng hầm dơ bẩn lộn xộn. Trong phòng ông không có 
		một chút ánh sáng. Trước đây chẳng ai đến thăm ông. Bắt đầu, mẹ Têrêxa 
		quét dọn căn phòng cho sạch sẽ ngăn nắp lại. Nhưng ông cự nự : “Không 
		được đụng đến. Cứ để yên cho tôi”. Mẹ Têrêxa mặc kệ, cứ tiếp tục. Vừa 
		quét dọn, mẹ vừa gợi chuyện nói với ông. Rồi mẹ tìm thấy một chiếc đèn 
		dầu nằm ẩn dưới một đống đồ đạc ngổn ngang. Lau chùi xong, mẹ thấy cây 
		đèn rất đẹp.<br>
		- Ông có một cây đèn rất đẹp. Sao bấy lâu nay ông không thắp lên ?<br>
		- Thắp lên làm gì ? Có ai đến thăm tôi đâu.<br>
		- Vậy nếu nữ tu của tôi đến thăm ông thì ông có hứa sẽ thắp đèn lên 
		không ?<br>
		- Xin hứa. Nếu tôi nghe có tiếng ai đến thăm thì tôi sẽ thắp đèn lên.<br>
		Sau đó, hai nữ tu của mẹ Têrêxa đều đặn tới thăm ông già. Mỗi lần họ đến 
		thì ông già thắp đèn lên. Tình hình ngày càng tốt đẹp hơn. Một hôm, ông 
		nói : “Các Sơ ạ. Từ hôm nay tôi có thể tự dọn dẹp phòng được rồi. Nhưng 
		xin làm ơn nói lại với bà nữ tu đầu tiên là ngọn đèn bà đã thắp lên 
		trong đời tôi đến nay vẫn còn cháy sáng”.<br>
		Có thể nói rằng ngọn đèn đã cứu ông già ấy. Nhưng thực ra thì không phải 
		ngọn đèn, mà là điều mà ngọn đèn ấy tượng trưng, tức là lòng tốt của Mẹ 
		Têrêxa và các nữ tu của mẹ.<br>
		Chúng ta đang sống trong một thế giới tối tăm vì chiến tranh, bạo lực, 
		đau khổ v.v… Tất cả chúng ta đều cảm nghiệm được sự tối tăm trong đời 
		mình và trong gia đình mình : buồn phiền, thất vọng, bệnh tật, tội lỗi, 
		cô đơn, chán chường v.v…<br>
		May thay ánh sáng Chúa Giáng sinh đã thắp lên trong thế giới vẫn còn 
		cháy sáng. Anh sáng ấy không chỉ lóe lên ở Bêlem một lần rồi tắt ngúm. 
		Nó vẫn còn chiếu sáng giữa những tàn phá, thảm họa, biến động… Đó là một 
		thứ ánh sáng bền vững không bóng tối nào lấn át được. Nó vẫn chiếu sáng 
		cho tất cả những ai tin Ngài và theo Ngài. Suốt 2000 năm qua, những lời 
		Ngài dạy đã ảnh hưởng đến nhân loại hơn tất cả mọi bậc tôn sư nào khác. 
		Những việc Ngài làm còn ảnh hưởng mạnh hơn nữa. Biết bao người từ chốn 
		tối tăm đã tìm đến với Ngài và ra đi trong ngập tràn ánh sáng. Lòng nhân 
		ái của Ngài vẫn tiếp tục chiếu sáng thế giới.<br>
		Mỗi người chúng ta phải là nguồn sáng cho thế giới tối tăm này. Nhưng 
		nếu đời ta không là đèn sáng thì làm sao ta chiếu sáng cho người khác 
		được. Sống trong ánh sáng thật là hạnh phúc. Nhưng còn hạnh phúc hơn khi 
		ta là nguồn sáng cho người khác. Chúa đã gọi ta ra khỏi tối tăm bước vào 
		ánh sáng, thì ta phải sống như là con cái của ánh sáng. Hiệu quả của ánh 
		sáng được thấy rõ nhất trong một tấm lòng nhân ái, một cuộc sống chính 
		trực, chân thành.<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		4. Ngôi Lời Là Ánh Sáng Thật<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Suy Niệm <br>
		Máng cỏ luôn làm cho chúng ta rúng động, vì đứng trước máng cỏ là đối 
		diện với một Tình Yêu, một Tình Yêu mở ra bao la bát ngát.<br>
		Cha đã mở ra bằng cách sai Con xuống thế làm người. Con đã mở ra bằng 
		cách vâng phục ý Cha. Thánh Thần đã mở ra bằng cách tác động nơi lòng 
		Đức Trinh Nữ.<br>
		Máng cỏ giúp ta gặp được Tình Yêu của Ba Ngôi. Tình Yêu không lùi bước 
		trước sự khép kín của nhân loại.<br>
		Đến Bêlem, chúng ta bắt gặp một Tình Yêu khiêm tốn. Thiên Chúa đã cúi 
		xuống để tặng trao cho con người. Con Thiên Chúa làm người sinh nơi hang 
		súc vật, không một chút hào quang: Ngài sinh ra trong đêm tối; không một 
		chút quyền lực: Ngài là trẻ thơ khóc oe oe. Đấng siêu việt nay chịu giới 
		hạn bởi thời gian. Đấng Tuyệt Đối lại mang một thân xác hữu hạn.<br>
		Tình Yêu khiêm tốn không làm chúng ta bị choáng ngợp; không ban bố một 
		cách cha chú, nhưng biết gõ cửa và chờ đợi.<br>
		Thiên Chúa giàu sang đã trở nên nghèo để chúng ta được trở nên giàu có 
		(2Cr 8,9).<br>
		Gần hai ngàn năm đã trôi qua kể từ khi Ngôi Lời đặt chân trên trái đất. 
		Ngài đã thắp lên ánh sáng trong bóng đêm. Ngài chính là Ánh Sáng chiếu 
		soi mọi người (Ga 1,9). Tiếc thay nhiều người đã chọn bóng tối, vì bóng 
		tối dễ chịu hơn, đồng lõa hơn (Ga 3,19). Bóng tối ở ngoài tôi và bóng 
		tối ở trong tôi.<br>
		Ngôi Lời đã đến nhà của Ngài, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận (Ga 
		1,11). Đức Giêsu còn phải nhập thể cho đến tận thế.<br>
		Truyền giáo là làm cho Ngài được sinh ra ở đây, hôm nay, trong dòng văn 
		hoá truyền thống của dân tộc, trong những biến chuyển của đất nước thời 
		mở cửa, trong thế giới đã bước qua năm 2000.<br>
		Sống mầu nhiệm Nhập Thể là trở nên một Maria khác, đón nhận Đức Giêsu 
		vào đời mình, cưu mang Ngài, và sinh Ngài cho thế giới. Cuộc sinh hạ nào 
		cũng bắt trắc và đau đớn.<br>
		Xin thắp lên một ngọn nến từ Ánh Sáng của Ngôi Lời. Xin gom lại trăm 
		triệu ngọn nến để đẩy lui bóng tối trên mặt đất.<br>
		Gợi Ý Chia Sẻ <br>
		Ngôi Lời đã làm người và đã sống ở đời. Mầu nhiệm Nhập Thể có làm bạn 
		yêu đời và yêu phận người của bạn hơn không?<br>
		Làm sao để Chúa Giêsu được sinh ra trong môi trường bạn đang sống?<br>
		Cầu Nguyện <br>
		Giữa giá rét của mùa đông, xin cho con gặp Chúa.<br>
		Giữa những long đong và bấp bênh của phận người, xin cho con gần Chúa.<br>
		Giữa cảnh nghèo khó và trơ trụi, xin cho con thấy Chúa đi với con và 
		hiểu con.<br>
		Lạy Chúa Giêsu bé thơ nằm trong máng cỏ, xin cho con cảm được sự bình an 
		của Chúa, ngay giữa những âu lo hàng ngày. Xin cho con đón lấy cuộc đời 
		con với bao điều không như ý. Và cuối cùng, xin cho con dám sống như 
		Chúa vì Chúa đã dám sống như con.<br>
		<br>
		<br>
		5. Đức Giêsu, Con Thiên Chúa - Lm. Trần Thanh Sơn<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		Hôm nay cùng với Giáo Hội, và toàn thể thế giới, chúng ta hân hoan mừng 
		ngày sinh nhật của Đức Giêsu, một Hài Nhi sinh ra nơi máng cỏ của súc 
		vật cách đây hơn 2000 năm. Nếu ngồi lại suy nghĩ theo tự nhiên, có lẽ 
		nhiều người trong chúng ta có thể đặt câu hỏi: Tại sao muôn người trên 
		thế giới lại đi mừng sinh nhật của một con người bé nhỏ như thế? - Câu 
		trả lời cũng thật đơn giản: Bởi vì Hài Nhi Giêsu bé nhỏ nằm trong máng 
		cỏ nghèo hèn trước mắt chúng ta đây chính là Thiên Chúa thật. Với việc 
		Nhập Thể của Ngôi Hai, Con Thiên Chúa đã làm người để đưa từng người 
		chúng ta lên địa vị làm con Thiên Chúa.<br>
		Hài Nhi Giêsu đích thực là Thiên Chúa, cũng chính là điều mà Giáo Hội 
		muốn từng người chúng ta xác tín qua phần phụng vụ lời Chúa trong thánh 
		lễ hôm nay.<br>
		1. Đức Giêsu, Con Thiên Chúa<br>
		Nếu để ý, chúng ta sẽ thấy Tin mừng Gioan không có trình thuật về thời 
		thơ ấu của Đức Giêsu như Phúc Âm Nhất Lãm. Phải chăng đây là một thiếu 
		sót lớn khi thánh sử chẳng nói gì về nguồn gốc của Đức Giêsu, nhân vật 
		chính yếu trong Phúc Âm của mình. Nhưng đọc kỹ, chúng ta sẽ thấy đây 
		không phải là thiếu sót, nhưng là dụng ý thần học của thánh Gioan. Thánh 
		sử không nói gì về ngày Giáng Sinh của Đức Kitô ở trần gian, nhưng thay 
		vào đó, thánh sử lại có cả một thánh thi dài nói về nguồn gốc thần linh 
		của Đức Giêsu. Đây quả là một bổ túc thật cần thiết khi tìm hiểu về con 
		người Đức Giêsu Kitô, nhờ đó, chúng ta thấy rằng Hài Nhi Giêsu bé nhỏ 
		sinh ra tại nơi ở nghèo hèn của súc vật mà chúng ta vừa mừng kính cũng 
		chính là Thiên Chúa thật. Như thế, cùng với Tin mừng Nhất Lãm, thánh sử 
		Gioan đã cho thấy Đức Giêsu có hai bản tính. Ngài vừa là người thật và 
		cũng là Thiên Chúa thật.<br>
		Chính vì lý do đó, mà trong thánh lễ ban đêm, chúng ta vừa nghe đọc đoạn 
		lời Chúa nói về những chi tiết lịch sử xác định sự xuất hiện của Đức 
		Giêsu trong thời gian, thì trong thánh lễ ban ngày này, Giáo Hội lại mời 
		gọi chúng ta lắng nghe lời mở đầu của Tin mừng theo thánh Gioan, để thấy 
		rõ Đức Giêsu được sinh ra trong lịch sử đó, cũng chính là Thiên Chúa 
		hiện hữu từ muôn thuở.<br>
		Ngay từ những lời đầu tiên trong Tin mừng của mình, thánh sử Gioan đã 
		xác định bản tính Thiên Chúa của Ngôi Hai: “Từ nguyên thuỷ đã có Ngôi 
		Lời, và Ngôi Lời vẫn ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa”. Ngài 
		cũng chính là Con Thiên Chúa được sinh ra từ trước muôn đời như lời tác 
		giả thư Do thái mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc hai: “Con là thái tử 
		của Cha, hôm nay Cha đã hạ sinh Con. Rồi Chúa lại phán: “Ta là Cha 
		Người, và Người sẽ là Con Ta”.<br>
		Hơn nữa vì là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật, nên cùng với Chúa 
		Cha, Ngôi Lời cũng là Đấng tác thành vạn vật như lời xác tín của thánh 
		sử Gioan: “Mọi vật đều do Người làm nên, và không có Người, thì chẳng 
		vật chi đã được tác thành…Người vẫn ở trong thế gian, và thế gian đã do 
		Người tác tạo”. Thánh sử còn viết tiếp: “Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể, 
		và Người đã cư ngụ giữa chúng tôi, và chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang 
		của Người, vinh quang Người nhận được bởi Chúa Cha, như của người Con 
		Một đầy ân sủng và chân lý”. Như thế, Ngôi Lời, Đấng Tạo Hoá, có từ muôn 
		thuở đó, giờ đây đã được sinh ra trong thời gian, làm người ở giữa chúng 
		ta. Đồng thời, với việc Nhập Thể của Ngôi Lời, mạc khải của Thiên Chúa 
		bước sang một giai đoạn mới. Giai đoạn Thiên Chúa trực tiếp nói với con 
		người như lời tác giả thư Do thái chúng ta vừa nghe: “Thuở xưa nhiều lần 
		và dưới nhiều hình thức, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các 
		tiên tri. Trong những ngày sau hết đây, Ngài đã phán dạy chúng ta qua 
		người Con”.<br>
		2. Đức Giêsu, Đấng ban ân sủng<br>
		Như thế, Hài Nhi Giêsu nhỏ bé mà chúng ta đang chiêm ngắm nơi máng cỏ 
		đây không những là người thật mà còn là Thiên Chúa thật. Vì là Con Thiên 
		Chúa nên Đức Giêsu có thể nói cho chúng ta biết về Thiên Chúa, bởi vì: 
		“Không ai nhìn thấy Thiên Chúa, nhưng chính Con Một Chúa, Đấng ngự trong 
		Chúa Cha, sẽ mặc khải cho chúng ta”. Mặt khác, vì được sinh bởi Đức 
		Maria, nên Đức Giêsu cũng là con người nên Ngài có thể cảm thông với bản 
		tính mỏng dòn của chúng ta. Do đó, Ngài trở nên Đấng duy nhất có thẩm 
		quyền giao hoà đất với trời, giao hoà con người với Thiên Chúa.<br>
		Không chỉ giao hoà, Đức Giêsu còn là nguồn ban ân sủng của Thiên Chúa 
		cho từng người chúng ta, như xác quyết của thánh Gioan: “Chính do sự 
		sung mãn Người mà chúng ta hết thảy tiếp nhận ơn này tới ơn khác. Bởi vì 
		Chúa ban lề luật qua Môisen, nhưng ơn thánh và chân lý thì ban qua Đức 
		Giêsu Kitô”. Nhờ ân sủng của Ngài, chúng ta được giải thoát khỏi ách 
		thống trị của tội lỗi, như lời tác giả thư Do thái chúng ta vừa nghe: 
		“Người Con đó, nâng giữ vạn vật bằng lời quyền năng của mình, quét sạch 
		tội lỗi chúng ta”.<br>
		Tóm lại, với việc cho con mình Nhập Thể làm người, Thiên Chúa một lần 
		nữa chứng tỏ tình yêu bao la của Ngài dành cho chúng ta. Chính vì thế, 
		mượn lời tác giả Thánh vịnh trong bài đáp ca, Giáo Hội không ngừng cất 
		tiếng ngợi khen Ngài:“Chúa đã công bố ơn cứu độ, đã tỏ sự công chính 
		Người trước mặt chư dân. Nguời đã nhớ lại lòng nhân hậu và trung thành 
		đối với nhà Israel”.<br>
		3. Lời mời gọi loan báo Tin mừng<br>
		Con Thiên Chúa đã làm người để đến ở với chúng ta, ban ơn cứu độ cho 
		chúng ta. Đồng thời, Ngài muốn từng người chúng ta, sau khi đã nhận được 
		ơn Ngài, cũng mau chóng lên đường loan báo và đem niềm vui cứu độ đó cho 
		mọi người. Niềm vui được thông chia, niềm vui sẽ được nhân lên. Cảm hứng 
		điều đó, ngôn sứ Isaia trong bài đọc một đã cất tiếng ngợi khen: “Đẹp 
		thay chân người rao tin trên núi, người rao tin thái bình, người rao tin 
		mừng, người rao tin cứu độ”<br>
		Rao tin mừng Ơn cứu độ phải chăng là loan báo ơn giao hoà! Giao hoà giữa 
		đất với trời, giữa loài người với nhau. Ngay từ nguyên thuỷ, tội lỗi đã 
		cắt đứt mối tương giao giữa con người với Thiên Chúa. Do đó, giây phút 
		Nhập Thể của Ngôi Hai chính là lúc trời đất giao duyên, con người được 
		giao hoà lại với Thiên Chúa. Giao hoà là đem lại sự bình an như lời sứ 
		thần loan báo trong đêm Giáng Sinh: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, 
		bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”. Thiên Chúa đã đoái thương 
		đi bước trước đến với chúng ta để hoà giải chúng ta với Ngài. Nhận được 
		sự hoà giải này của Thiên Chúa, từng người chúng ta cũng phải biết sống 
		hoà giải với anh chị em mình.<br>
		Tuy nhiên để thực sự có sự hoà giải này, từng người chúng ta cũng phải 
		làm theo cách Con Thiên Chúa đã làm. Ngài đã đi bước trước đến với chúng 
		ta, chấp nhận bị thua thiệt, sỉ nhục, bị lãng quên khi phải sinh ra 
		trong nơi ở súc vật. Do đó, muốn sống tâm tình hoà giải, chúng ta cũng 
		phải sẵn sàng dẹp bỏ đi những tự ái vụn vặt, chấp nhận bị lãng quên, coi 
		thường để có thể đi bước trước đến làm hoà với anh chị em mình. Những 
		người mình cần làm hoà trước hết là vợ chồng với nhau, là cha mẹ với con 
		cái. Chúng ta cũng cần hoà giải với những người cùng sống, cùng làm việc 
		với chúng ta. Điều này không dễ dàng gì, nhưng suy ngắm mầu nhiệm Con 
		Thiên Chúa Giáng Sinh nơi hang đá bé nhỏ này sẽ là sức mạnh giúp chúng 
		ta thực hiện được sự giao hoà đó. Lúc đó, niềm vui trong ngày Giáng Sinh 
		không dừng ở những lễ hội tưng bừng, những bữa tiệc linh đình, những đèn 
		hoa rực rỡ hôm nay, nhưng sẽ được tiếp tục bởi những nụ cười thân thiện, 
		những ánh mắt thông cảm, những tấm lòng chân thành mở ra của từng người 
		chúng ta đối với nhau. Nhờ đó, tâm hồn chúng ta sẽ thực sự bình an để 
		hưởng trọn vẹn niềm vui của ngày lễ Giáng Sinh không chỉ hôm nay, nhưng 
		tiếp tục và kéo dài trong suốt cuộc sống thường ngày của chúng ta. Amen.<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		6. Nhập thể, quà tặng vô giá<br>
		<br>
		<br>
		- Lm. Vũ Xuân Hạnh<br>
		(Nhân Lễ Giáng Sinh, suy nghĩ về ơn gọi Linh mục )<br>
		Người ta nói, bông hồng tượng trưng cho tình yêu. Vì thế, để bày tỏ lòng 
		yêu thương nhau, người ta thường trao tặng bông hồng. Cũng chính vì thế, 
		ngày Valentine, ngày Tình yêu, bông hồng, tự lúc nào, trở thành biểu 
		tượng mà không cần giấy mực ký nhận, chỉ có lòng người yêu nhau đã hợp 
		thức hoá cho ý nghĩa ấy. Bởi thế, dù chỉ với một cành hồng, tình vẫn có 
		thể nồng nàn hơn cả với bảo ngọc trân châu. Vì với lòng yêu thương chân 
		thật, dù chỉ một cành hồng, tình vẫn đằm thắm, vẫn kiêu sa hơn bảo ngọc 
		trân châu mà lòng người đầy tính toán, vụ lợi, manh nha chiếm đoạt…<br>
		<br>
		I. NHẬP THỂ VÀ SỰ TỰ HIẾN<br>
		Bông hồng đã đẹp. Bông hồng được trao tặng bằng cả một khối tình, lại là 
		một vẻ đẹp không dễ gì thay thế. Nhưng trước sau, đóa hồng vẫn chỉ là 
		một đóa hồng, giá trị của nó vẫn không bao giờ ví được giá trị của chính 
		bản thân người nhận hoặc người tặng. Còn hơn thế, một đóa hồng, dẫu đẹp, 
		sẽ biến đổi theo thời gian như chính lòng người, hôm nay trong vắt, ngày 
		mai có thể vẫn đục …<br>
		Hôm nay, trong tư thế của người được lãnh nhận, mọi Kitô hữu đang háo 
		hức chuẩn bị mừng ngày Chúa Giáng sinh. Nói rằng “trong tư thế của người 
		được lãnh nhận” khi chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh, là nói đến một ân ban 
		tuyệt diệu mà mầu nhiệm Nhập Thể đã và vẫn tuôn tràn như một dòng chảy 
		không ngơi nghỉ, không suy yếu. Nếu bông hồng là biểu trưng của tình yêu 
		nhân loại thì mầu nhiệm Nhập Thể, một đóa hồng thánh thiện không chỉ là 
		biểu trưng, cũng không đứng chung hàng với tình yêu nhân loại, nhưng là 
		chính Tình Yêu Thiên Chúa, một tặng phẩm vượt trên giá trị của chính bản 
		thân người nhận là toàn thể nhân loại này. Và nếu gọi Tình Yêu phát xuất 
		từ Thiên Chúa là đóa hồng, thì đó chính là đóa hồng vĩnh cửu, đóa hồng 
		mầu nhiệm không bao giờ có thể tàn phai.<br>
		Đó còn là một Tình Yêu làm điểm đối chiếu cho mọi tình yêu của nhân 
		loại. Nhân loại hãy nhìn vào Tình Yêu trong mầu nhiệm Nhập Thể để học 
		lấy cho mình bài học quý giá: Thiên Chúa đã phó mình cho trần gian. Vì 
		nơi Thiên Chúa, yêu là tự hiến, là hủy mình. Có hiểu hết sự tự hiến và 
		hủy mình vì yêu trong mầu nhiệm Nhập Thể, ta mới có thể hiểu được làm 
		sao một vì Thiên Chúa cao sang là thế, uy quyền là thế, mạnh mẽ và lớn 
		lao khôn cùng, lại có thể hóa thân nên một con người bé nhỏ, yếu ớt, 
		mong manh. Có hiểu được một tình yêu tự hiến đến mức hủy mình, ta mới 
		hiểu được làm sao một Thiên Chúa lại trở nên trần trụi và nghèo nàn đến 
		thế.<br>
		Nếu mỗi người trong chúng ta có nghèo, nghèo lắm, khi sinh ra chắc không 
		ai thiếu thốn, ngay cả một tấm áo che thân, một cái chõng tre, dù cũ kỹ, 
		cũng không có. Khi sinh ra, nếu tệ lắm, có lẽ ta cũng nằm trong một căn 
		chòi… Nhưng Tình Yêu của Đấng làm người đã tự hủy đến mức không những 
		không đòi cho mình bất cứ một điều gì, ngược lại còn trút bỏ hoàn toàn, 
		trút bỏ cho đến mức chối từ cả những điều kiện vật chất căn bản nhất, 
		cần thiết nhất của một con người, đến nỗi sinh ra không phải trong một 
		căn chòi, nhưng còn tệ hơn, sinh ra trong nơi trú ngụ của loài cầm thú; 
		không nằm trong một chiếc nôi, nhưng lại là máng cỏ; không sinh ra trên 
		một chiếc giường nhưng chỉ có cỏ rơm làm chiếu…<br>
		Mầu nhiệm Nhập Thể không dừng lại ở sự kiện Giáng sinh. Thiên Chúa làm 
		người còn tiếp tục tự hủy đến giây phút cuối đời. Người đã chấp nhận một 
		cái chết thương đau và ô nhục: bị hành hình như một tên tử tội: chết 
		trần trụi, treo giữa trời, giữa đất, giữa những tên tội phạm, thân thể 
		thâm bầm, đầy thương tích…<br>
		Thiên Chúa là Thiên Chúa giàu có. Người quyền năng và mạnh mẽ. Vũ trụ và 
		mọi sự trên trời dưới đất là của Người, thuộc về Người. Một Thiên Chúa 
		giàu có là thế, nhưng khi làm người, đã hiến dâng hoàn toàn, như không 
		còn giữ lại gì cho riêng mình, hiến dâng cả mạng sống. Một Thiên Chúa 
		giàu có đã trở nên nghèo khó đến độ chỉ còn có Tình Yêu.<br>
		Như vậy, ngang qua mầu nhiệm nhập thể của Chúa Kitô, Thiên Chúa bày tỏ 
		cho trần gian lòng yêu thương vô cùng của Người. Đó là một Tình Yêu mà 
		ngàn đời, nhân loại cứ kiếm tìm, cứ khám phá, vẫn chưa bao giờ đạt tới, 
		vẫn không hiểu thấu.<br>
		Nơi biến cố nhập thể, một mặt chính Tình Yêu và trong Tình Yêu, Thiên 
		Chúa đã trao ban cả một mầu nhiệm vi đại. Mặt khác, chính Tình Yêu đã 
		làm cho Đấng Thiên Chúa làm người, Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã 
		hiến dâng lên Thiên Chúa lời “xin vâng” tuyệt hảo, chấp nhận sự tự hủy 
		mình cho trần gian. Lòng vâng phục và sự tự hủy ấy chính là lý do ca 
		ngợi Chúa Kitô của thư Dothái: “Dù là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải 
		qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản 
		thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho 
		tất cả những ai tùng phục Người” (5, 8-9).<br>
		Để nối lại hình ảnh quà tặng bông hồng với ý nghĩa lớn lao của mầu nhiệm 
		Nhập Thể, chúng ta cần hiểu rằng, tình yêu chỉ quý giá bởi người yêu dám 
		hiến mình trao dâng, dám tự hủy chính bản thân vì người mình yêu, chứ 
		không phải bởi món quà có thể cầm nắm, dẫu món quà đó là một cành hồng 
		tươi hương thắm sắc. Nói cách khác, quà tặng làm cho tình yêu nên giá 
		trị lộng lẫy và sang trọng, chỉ có thể là quà của sự tự hiến đến hủy 
		mình vì người mình yêu.<br>
		Và nếu bông hồng chỉ nói thay cho lời yêu chứ không là chính tình yêu, 
		thì Chúa Kitô hiến mình trong mầu nhiệm Nhập Thể là chính Tình Yêu xuất 
		phát từ Thiên Chúa trao tặng loài người. Đó mới chính là Đóa Hồng vĩnh 
		cửu, Đóa Hồng không bao giờ tàn phai: Một quà tặng vô giá, quà tặng của 
		mọi quà tặng.<br>
		<br>
		II. TẶNG PHẨM CỦA NGƯỜI NGHÈO.<br>
		Có một câu chuyện thế này: Vào đêm lễ Giáng sinh, không riêng người Công 
		giáo, nhưng hầu như mọi người, đều đổ ra đường để đi đâu đó mừng đêm 
		tưng bừng, đêm lễ hội. Vì thế mọi ngã đường sớm đông nghẹt. Theo dòng 
		người đông đảo, Tôi - tác giả kể - bước về hướng nhà thờ. Chiếc loa 
		phóng thanh trên đỉnh nhà thờ trổi bản nhạc mừng Chúa Giáng sinh thật 
		vui, không làm tôi chú ý cho lắm. Một cảnh tượng khác đập vào mắt tôi: 
		Một người đàn ông trạc bốn mươi, chắc là bảo vệ nhà thờ, lôi xồng xộc 
		một em bé ra ngoài khuôn viên nhà thờ. Trên tay em là một xấp vé số dày 
		cộm. Vừa lôi em, miệng anh vừa la lối: “Ra ngoài bán, ở đây không phải 
		chỗ!”. Cùng lúc ấy, tôi nghe một giọng nói ấm áp từ phía sau lưng mình: 
		“Này anh, thôi đừng đuổi em bé nữa. Đêm nay Chúa Giáng sinh là để cho em 
		và cho những người cơ nhỡ, bất hạnh, nghèo khó như em. Anh hiểu chứ?”. 
		Phản xạ tự nhiên, Tôi xoay người lại xem giọng nói của ai? À, chiếc áo 
		chùng thâm. Hóa ra một linh mục. Tôi còn nghe cha nói thêm: “Cần phải có 
		những người như em bé này ở trong nhà thờ đêm nay, để họ hiểu rằng, Chúa 
		cũng nghèo lắm, nghèo như chính bản thân họ vậy”.<br>
		Vị linh mục bước đi. Người bảo vệ nhìn theo, ánh mắt vẫn chứa đầy một 
		khoảng không im lặng. Chắc anh ta ngỡ ngàng lắm, nhưng cũng thẹn lắm vì 
		vừa mới nhận ra một bài học quý giá. Tôi nhìn lên bầu trời hít thở không 
		khí đêm đông lành lạnh thật sản khoái, chợt nhận ra ánh sao đêm nay sáng 
		và đẹp tuyệt vời …<br>
		Có thể khi dẫn chứng bằng câu chuyện và những hình ảnh mà câu chuyện lột 
		tả, sẽ có nhiều ý kiến khác nhau của nhiều người: đồng ý và không chấp 
		nhận, khen hoặc thấy khó chịu; cũng có thể nhận định rằng, anh bảo vệ 
		đúng, vị linh mục chưa đúng… Riêng tôi, chỉ nhằm một chủ đích duy nhất: 
		minh họa cho những gì đã suy nghĩ, để nhấn mạnh đến một điều quan trọng 
		và lớn lao hơn nhiều: Tình Yêu Thiên Chúa nơi mầu nhiệm Nhập Thể.<br>
		Nội dung câu chuyện thật ngắn, thật đơn sơ, nhưng tôi thấy chất chứa bên 
		trong nó một vài cảm nhận. Đó là cảm nhận về một quà tặng của Tình Trời 
		được gởi trao cho người trần, một quà tặng tuyệt đối, quà tặng vô giá 
		được ban tặng nhưng không: Thiên Chúa đã trao tặng chính người Con Một 
		dấu ái của Người: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai 
		tin vào Con của Người thì không phải chết nhưng được sống muôn đời” (Ga 
		3, 16).<br>
		Dù thánh Gioan không nhắc tới cách hiển nhiên hai tiếng “quà tặng”, 
		nhưng khi lặp lại lời của Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô: “Thiên Chúa đã 
		YÊU… đến nỗi đã BAN”, thì không là nói bằng ngôn ngữ của quà tặng đó 
		sao. Và trong hai tiếng quà tặng đã hàm chứa tình yêu và sự trao ban. 
		Nơi Thiên Chúa, dù quà tặng chính là một ân ban thần linh diệu kỳ lại 
		quá sức cụ thể nơi một con người mang tên Giêsu Kitô.<br>
		Và nơi Thiên Chúa làm người mang tên Giêsu Kitô, đã là Thiên Chúa giàu 
		có, nhưng đã chấp nhận hủy mình để trao dâng tất cả, để tỏ lòng yêu 
		thương, thì lời của linh mục trong câu chuyện kể trên: “Đừng đuổi em bé. 
		Đêm nay Chúa Giáng sinh là để cho em và cho những người cơ nhỡ, bất 
		hạnh, nghèo khó như em”, và “Cần phải có những người như em bé này ở 
		trong nhà thờ đêm nay, để họ hiểu rằng, Chúa cũng nghèo lắm, nghèo như 
		chính bản thân họ vậy”, thật đáng chú ý và đáng suy nghĩ. Cũng vậy, 
		không hề nhắc tới hai tiếng “quà tặng”, nhưng qua lời đối thoại, những 
		kiểu nói: “để cho”, hay “Chúa cũng nghèo như chính họ vậy”, tác giả đã 
		đặt lên môi nhân vật ngôn ngữ của quà tặng, một quà tặng chứa đầy tình 
		yêu.<br>
		Nhưng hình như trong lời đối thoại của nhân vật linh mục, chỉ có “những 
		người cơ nhỡ, bất hạnh, nghèo khó” mới đáng lãnh nhận quà tặng Giêsu. 
		Đọc lại Tin mừng của đêm Giáng sinh, ta cũng sẽ thấy rõ điều này. Ngay 
		sau khi Đấng tự hiến mình đã sinh làm người, thiên thần loan tin mừng 
		Giáng sinh. Nhưng lời của thiên thần: “Hôm nay Đấng Cứu Thế giáng sinh 
		cho các ngươi” (Lc 2, 11) không thể nào vang đến dinh tổng trấn Philatô, 
		hoặc ngai vàng vua Hêrôđê hay dinh thượng tế Caipha, lại thuộc về những 
		mục đồng, những người chỉ biết làm quen với cái nghèo, làm bạn với đàn 
		súc vật. Nghèo vật chất đã vậy, họ còn là những người dốt nát, chọn cho 
		mình kiếp sống rày đây mai đó…<br>
		Và dấu chỉ của quà tặng vô giá mà thiên thần giới thiệu là gì? Đó là: 
		“Đây là dấu hiệu để các ngươi nhận biết Người: các ngươi sẽ thấy một hài 
		nhi mới sinh, bọc trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ” (Lc 2, 12). 
		Một dấu chỉ quá đỗi đơn sơ, nghèo hèn. Nhưng chất chứa trong dáng vẻ đơn 
		nghèo, dấu chỉ ấy là một dấu chỉ vi đại, dấu chỉ về một tặng phẩm thần 
		linh: Thiên Chúa làm người!<br>
		Hóa ra quà tặng thần linh được dâng tặng, được trao ban, không phải chỉ 
		có những người hèn hạ, khốn khổ mới có thể lãnh nhận. Nhưng Đấng ban 
		tặng chính mình cũng trở nên người nghèo. Chỉ có hiến mình dâng tặng như 
		thế, quà tặng Giêsu mới thật là quà tặng cần thiết và tròn đầy ý nghĩa.<br>
		Vậy để đón nhận và hiến dâng trọn vẹn quà tặng của yêu thương, đòi người 
		ta phải có sự trút bỏ bằng một tinh thần nghèo khó, bằng một ý thức hiến 
		mình thực sự, không thể làm khác được. Như vậy chính trong sự nghèo khó, 
		người ta lại trở nên giàu có, vì có chính Thiên Chúa làm tặng phẩm vô 
		giá của mình. Bởi vậy, ta mới hiểu vì sao Chúa Giêsu lại nói: “Phúc cho 
		các ngươi là những người nghèo” (Lc 6, 20).<br>
		<br>
		III. THÁNH HIẾN LÀ DÂNG TẶNG ĐỜI MÌNH.<br>
		Đã gọi là quà, quà tặng cần phải trao ban. Quà không trao ban không phải 
		là quà. Quà chỉ có giá trị khi nó được dâng tặng bằng cả tình yêu. Ai đó 
		đã ví von pha chút mỉa mai: “Linh mục ban của thánh và nhận của phàm”. 
		Không biết lời ví von ấy đúng hay không? Nhưng nếu ít nhiều có sự thật, 
		đó không còn là lời nói cho vui, mà trở thành lời bật thốt từ nỗi xót 
		xa. Hơn nữa, nếu đúng như thế thì đời thánh hiến đã bị lệch, bị méo. Bởi 
		thay vì chức linh mục như một quà tặng dâng cho đời, lại trở thành 
		phương tiện để thỏa ích kỷ riêng, để vụ lợi. Nói cho cùng, đó chính là 
		nỗi bi đát. Như vậy, đời thánh hiến chỉ còn là một phương tiện để xây 
		pháo đài của bản thân. Nếu tin mừng đầu tiên của mầu nhiệm nhập thể đã 
		không thể vọng đến dinh tổng trấn và thượng tế, hay đền vua, thì những 
		pháo đài hôm nay, chắc sẽ rơi vào một mối nguy lớn: Thiếu vắng Tin Mừng 
		Tình Yêu, dẫu Tin Mừng ấy vẫn được rao giảng từng ngày, mọi nơi.<br>
		Ơn thánh hiến mà bị lạm dụng, có khác chi lời tiên tri Êgiêkiel cảnh báo 
		từ rất xưa: “Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này: Khốn cho các mục tử 
		Israel, những kẻ chỉ biết lo cho mình! Nào mục tử không phải chăn dắt 
		đàn chiên sao? Sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt thì 
		các ngươi giết, còn đàn chiên lại không lo chăn dắt. Chiên đau yếu, các 
		ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành; 
		chiên bị thương, các ngươi không băng bó; chiên đi lạc, các ngươi không 
		đưa về; chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị 
		chúng một cách tàn bạo và hà khắc” (Ed 34, 2- 4).<br>
		Suy niệm về ý nghĩa của Tình Yêu Nhập Thể như thế, người linh mục nhận 
		ra mình. Một khi bước theo Chúa Kitô trong đời sống thánh hiến, người 
		linh mục chỉ dám nói mình nên giống Chúa Kitô khi đã có thể sống đời 
		hiến dâng như Chúa Kitô. Ngay cụm từ “Đời sống Thánh hiến”, đủ để nói 
		lên ý nghĩa của sự hiến dâng mình trong chức linh mục.<br>
		Nói linh mục dâng mình để sống đời thánh hiến trong chức linh mục là 
		điều không khó. Nhưng trước sau, linh mục vẫn là con người. Linh mục 
		sống đời thánh hiến hoàn hảo như Chúa Kitô không dễ chút nào. Tuy nhiên, 
		khó không có nghĩa là không thể thực hiện, càng không bao giờ được phép 
		đầu hàng. Trong đời sống thánh hiến, đầu hàng không chỉ là thua cuộc, mà 
		còn là đánh mất. Vì không dám và không ý thức đời hiến dâng, linh mục 
		chỉ còn danh chứ không còn thực.<br>
		Bông hồng tượng trưng cho tình yêu. Nhưng bông hồng chỉ thực sự làm nên 
		ý nghĩa của tình yêu, khi người ta trao tặng cho nhau bằng cả một khối 
		tình chân thật. Nhưng với Chúa Kitô, hơn cả những mối tình mà ta gọi là 
		chân thật nhất, trong cuộc Nhập Thể, từ thân phận Thiên Chúa trở nên 
		phàm nhân, chấp nhận lặn sâu trong kiếp người để chia sẻ thân phận con 
		người của mỗi chúng ta, Người đã trao tặng cho ta không phải một đóa 
		hồng, mà là một Đóa Hồng vĩnh cửu, một quà tặng vô giá là chính bản thân 
		của Người.<br>
		Linh mục được Chúa Kitô mời gọi và bước theo Người. Chỉ có một điều duy 
		nhất làm cho linh mục có thể nên giống Chúa Kitô, sống chính sự sống của 
		Chúa Kitô cách trọn nghĩa, là khi linh mục dám ướm thử đời mình theo 
		khuôn mẫu cuộc đời Chúa Kitô. Đó là biết trút bỏ những ham hố, tham 
		vọng, mưu cầu tư lợi… và tự hủy mình trở nên người phụng sự Chúa, phục 
		vụ con người như Chúa muốn.<br>
		Hãy nhớ rằng, một khi Chúa Kitô tự hủy để sống nghèo khó, Người trở nên 
		quà tặng vô giá. Linh mục cũng sẽ trở nên quà tặng khi biết trút bỏ, để 
		sống sự nghèo khó như Chúa.<br>
		Vì thánh hiến là dâng tặng đời mình. Linh mục sống đời thánh hiến, nghĩa 
		là linh mục tắm mình trong tình yêu Thiên Chúa để hiến dâng tình yêu đã 
		được thánh hiến của mình trao tặng anh chị em. Nhờ thế, linh mục không 
		chỉ sống mầu nhiệm nhập thể, mà còn làm cho mầu nhiệm ấy thẩm thấu trong 
		đời thánh hiến của mình. Xuyên qua những điều tốt lành ấy, linh mục đã 
		sống hoàn hảo ơn gọi nên thánh trong thánh chức.<br>
		Bông hồng trao tặng là để bày tỏ lòng yêu thương. Con người biết hủy 
		mình để dâng tặng tình yêu, lời tỏ tình ấy có giá trị gấp ngàn lần những 
		cánh hồng tươi nở. Nhưng nếu hiến dâng đời mình trong ơn gọi thánh hiến, 
		hơn tất cả mọi lời yêu thương, người linh mục trở thành một con đường 
		tình yêu nối trời cao với trần thế, đưa con người đến với Thiên Chúa, và 
		trao ban chính Thiên Chúa cho con người. Có còn nét đẹp nào có thể sánh 
		bằng nét đẹp của ơn thánh hiến để dâng tặng đời mình như thế!<br>
		<br>
		HƯỚNG VỀ VĨNH CỬU <br>
		Sống giữa cộng đoàn dân Chúa và cả những người chưa biết Chúa, linh mục 
		trở thành mẫu gương sống đức tin cho mọi người. Đức tin đòi hỏi người 
		linh mục chấp nhận sự tự hiến mình, mang lại ơn cứu rỗi, trước hết cho 
		mình, sau là anh chị em xung quanh. Sự tự hiến đòi linh mục chấp nhận 
		thập giá. Đó là những khó khăn, có khi cả đau khổ. Chấp nhận thập giá, 
		linh mục sẽ chấp nhận sống nghèo khó, sống dấn thân như Chúa Giêsu để 
		phục vụ con người, phục vụ Giáo Hội và phụng sự Chúa. Chấp nhận thập 
		giá, linh mục sẽ biết chấp nhận và thánh hóa sự độc thân của mình, biết 
		chấp nhận và thánh hóa những hiểu lầm, những chống đối đến từ phía người 
		khác. Biết chấp nhận thập giá như thế, người linh mục sẽ không oán hận 
		mà dễ tha thứ hơn. Chính khi hiến thân trọn vẹn trong thánh chức như 
		thế, linh mục sẽ là một đoá hồng tươi thắm dâng tặng cho đời. Đoá hồng 
		của đời linh mục sẽ biến thành niềm vui mừng, vì một ngày kia, nó sẽ 
		tiễn đưa người linh mục bước vào sự sống của Chúa Kitô, sự sống của 
		chính Thiên Chúa. Vì nếu tội lỗi hôm nay sẽ thành hậu quả vĩnh cửu, cũng 
		vậy, công đức hôm nay sẽ nên phần thưởng đời đời: đó chính là được sống 
		chính sự sống của Thiên Chúa. <br>
		<br>
		<br>
		<br>
		7. Thiên Chúa đã yêu thương thế gian<br>
		<br>
		<br>
		Lm. Đan Vinh<br>
		<br>
		Học sống Lời Chúa :<br>
		1) Lời Chúa : “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian”<br>
		2) Câu chuyện : Thiên Chúa nói bằng ngôn ngữ nào ?<br>
		Ngày xưa có một chú bé Phi Châu da đen tên là Em-ma-nu-en. Chú ta là 
		người ưa thắc mắc. Một hôm chú hỏi thầy giáo : “Thưa thầy, Thiên Chúa 
		nói bằng thứ tiếng của nước nào ?”. Thầy giáo chỉ biết gãi đầu trả lời 
		không biết. Em-ma-nu-en hỏi các người được coi là trí thức trong làng, 
		nhưng họ cũng chẳng biết. Thế là chú ta bỏ làng đi đến các nơi khác để 
		hỏi, nhưng ai nấy cũng chỉ biết nhún vai lắc đầu không biết. Dù vậy chú 
		bé vẫn tin chắc phải có người nào đó biết. Chú ta lên đường đến những 
		nước khác và các đại lục khác với hy vọng thỏa mãn thắc mắc : “Thiên 
		Chúa nói bằng ngôn ngữ gì ?”. Rồi một đêm kia, chú bé đến làng Bêlem 
		nước Do Thái và trú chân trong một cái hang ở giữa cánh đồng Bêlem. Khi 
		bước vào hang, chú nhận ra có một đôi vợ chồng và một hài nhi đang trú 
		ngụ. Nhìn thấy chú bé, bà mẹ trẻ liền nói : “Hân hạnh đón chào 
		Em-ma-nu-en ! Chúng ta đang mong chờ con đấy”. Chú bé ngạc nhiên khi 
		nghe bà này nêu đích danh tên chú và lại còn trả lời cho thắc mắc bấy 
		lâu nay của chú. Bà nói : “Đêm nay chính mắt con đã thấy Thiên Chúa nói 
		bằng ngôn ngữ của tình yêu : “Thiên Chúa quá yêu thương thế gian, đến 
		nỗi đã ban Con Một của Ngài” (Ga 3,16)”. Trái tim Em-ma-nu-en trào dâng 
		niềm xúc động. Chú vội quì gối xuống trước Hài Nhi Giêsu, và sung sướng 
		khóc lên. Giờ đây chú đã biết rằng : Thiên Chúa nói bằng thứ tiếng của 
		tình yêu, thứ tiếng mà mọi dân tộc ở mọi thời đại đều hiểu được.<br>
		Và thế là Em-ma-nu-en ở lại đó vài ngày để giúp đỡ Đức mẹ và thánh 
		Giuse. Sau đó, đến lúc chú phải chia tay để đi loan báo cho mọi người 
		biết : “Thiên Chúa nói bằng ngôn ngữ của Tình yêu”. Lủi thủi một mình, 
		Em-ma-nu-en vừa rảo bước vừa suy nghĩ : “Nếu tôi muốn kể cho mọi người 
		biết Chúa dùng thứ tiếng nào để nói, thì chính tôi cũng phải nói bằng 
		thứ tiếng Chúa nói, tức bằng ngôn ngữ tình yêu. Bởi đó là thứ tiếng duy 
		nhất mà mọi người trên thế giới đều hiểu được”. Và từ ngày đó, 
		Em-ma-nu-en bắt đầu bằng ngôn ngữ của thiên Chúa tức là ngôn ngữ của 
		tình yêu. Rồi Em-ma-nu-en khám phá một điều kỳ thú : khi chú nói với 
		người ta bằng tiếng nói của tình yêu thì họ cũng sẽ dùng ngôn ngữ tình 
		yêu ấy để nói với nhau. Vậy trên con đường về nhà, chú bé Em-ma-nu-en đã 
		để lại đàng sau chú một chuỗi phố phường làng mạc sống chan hòa hạnh 
		phúc với nhau. Các quốc gia sẵn sàng chia sẻ nguồn lợi tức và kho tàng 
		kiến thức khoa học kỹ thuật cho nhau, các dân tộc đối xử với nhau bằng 
		sự tương kính, các gia đình đều hòa thuận thương yêu nhau, khắp nơi mọi 
		người đều bắt tay nhau trong tình thân ái.<br>
		<br>
		3) Suy niệm<br>
		+ Đến Belem, chúng ta gặp được một tình yêu tột đỉnh : Thiên Chúa đã ban 
		người Con Một yêu dấu của Người. Con Thiên Chúa đã sinh ra nơi hang bò 
		lừa không chút hào quang qua việc sinh ra trong đêm tối. Chúa sinh ra 
		không chút quyền lực qua việc trở nên một trẻ thơ yếu đuối. Chúa là Đấng 
		siêu việt mà nay lại chịu giới hạn bởi thời gian. Đấng tuyệt đối mà giờ 
		đây lại mang một thân xác hữu hạn. Chúa yêu thương chúng ta nên không 
		muốn làm cho ta bị choáng ngợp, không ban tặng cách cha chú, nhưng kiên 
		nhẫn gõ cửa và chờ đợi. Thiên Chúa giàu có đã trở nên nghèo hèn để chúng 
		ta được trở nên giàu có (x. 2 Cr 8,9).<br>
		+ Đã hai ngàn năm kể từ khi Ngôi Lời nhập thể và chiếu ánh sáng xua trừ 
		bóng đêm tội lỗi. Người là ánh sáng thật, chiếu soi cho mọi người (x. Ga 
		1,9). Tiếc thay nhiều người đã chọn bóng tối tội lỗi, vì bóng tối xem ra 
		dễ chịu hơn (x. Ga 3,19). Ngôi Lời đã đến nhà của Người, nhưng các gia 
		nhân đã không đón nhận Người (x. Ga 1,11).<br>
		+ Đức Giêsu còn phải tiếp tục nhập thể cho đến tận thế. Nhập thể là 
		truyền giáo, là làm cho Đức Giêsu được sinh ra tại đây hôm nay, trong 
		văn hóa truyền thống của dân tộc, trong những biến chuyển của đất nước 
		thời mở cửa, trong một thế giới đã bước qua ngưỡng cửa của năm 2000. 
		Sống mầu nhiệm Nhập Thể là noi gương Đức Maria : Đón nhận Đức Giêsu, cưu 
		mang Người, và trao ban Người cho thế giới. Xin thắp lên một ngọn nến để 
		đẩy lùi bóng tối tội lỗi và sự chết.<br>
		4) Thảo luận : Noi gương Ngôi Lời Nhập Thể, bạn sẽ làm gì để góp phần 
		làm cho Tin Mừng được hội nhập vào văn hóa dân tộc Việt Nam hôm nay ? 
		Khi bị người ta từ chối tiếp nhận Tin Mừng, bạn nên phản ứng thế nào ?<br>
		<br>
		Hiệp sống nguyên cầu :<br>
		1) Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, hiệp cùng Mẹ Maria và thánh Giuse, con xin 
		thờ lạy Chúa. Chúa đang nằm trong máng cỏ nghèo hèn, nhưng Chúa chính là 
		Đấng tạo thành và ban sự sống cho muôn loài. Chính Chúa đã cho con làm 
		người và muốn ban sự sống đời đời cho con. Dù con yếu đuối tội lỗi, 
		nhưng Chúa vẫn không bỏ mặc con phải ở dưới quyền lực ma quỉ, tội lỗi và 
		sự chết, nhưng đã đoái thương đến cắm lều ở giữa chúng con, cùng đồng 
		hành với chúng con trên mọi nẻo đươ</td></tr><tr>
		<td width="474" height="56"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/SuyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../../_Nam_A/2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">
&nbsp;</p>

PHP File Manager