File "11.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2023/Mua-Thuong/Suy ton thanh gia/11.htm
File size: 16.2 KiB (16591 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật XXIV thường niên - SUY TÔN THÁNH GIÁ</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật XXIV thường niên - SUY TÔN THÁNH GIÁ; Thập giá là chìa khóa; Nhìn đúng cách; Được gương cao; con đường vâng phục; Cây phúc trường sinh."><style>
<!--
.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
{color:blue;
text-decoration:underline;
text-underline:single;
text-decoration:none underline;
text-line-through:none;
vertical-align:baseline}
span.apple-converted-space
{}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật XXIV thường niên - SUY TÔN THÁNH GIÁ"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">Chúa Nhật
XXIV thường niên - SUY TÔN THÁNH GIÁ</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
CON NGƯỜI PHẢI ĐƯỢC GIƯƠNG CAO</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
<span style="font-size: 8pt; font-style: italic">Chú giải của William
Barclay</span></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">Đến đây, Gioan quay về
với câu chuyện lạ lùng của Cựu Ước đã được kể lại trong Dân Số 21,4-9.
Trên hành trình qua hoang địa, dân Israel lẩm bẩm than phiền và tiếc rẻ
việc bỏ xứ Ai Cập ra đi. Để trừng phạt, Chúa cho tai họa rắn độc đến cắn
họ chết. Dân chúng ăn năn và kêu xin Đức Chúa thương xót, nên Ngài dạy
Môsê làm một con rắn bằng đồng, treo lên cao, hễ ai nhìn lên con rắn ấy
thì được chữa lành và thoát chết. Câu chuyện đã gây ấn tượng sâu đậm
trong dân Israel. Họ kể lại rằng về sau con rắn bằng đồng đó đã trở
thành thần tượng. Dưới thời Khitkigia, đã phải hủy vì dân chúng thờ lạy
nó (2V 18,4). Dân Do Thái có phần bối rối về biến cố ấy, vì họ bị cấm
tuyệt đối trong việc làm các tượng. Pharisêu giải thích như sau: “Không
phải con rắn đã ban sự sống. Khi Môsê treo con rắn lên thì người Israel
nhìn và tin Đấng đã truyền lệnh cho Môsê làm như thế. Chính Chúa đã chữa
lành cho họ”. Quyền phép chữa lành không ở trong con rắn. Con rắn chỉ là
một dấu hiệu, một biểu tượng, chỉ cho người ta hướng tư tưởng mình về
Chúa, và khi họ nghĩ đến Ngài thì được chữa lành.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">Gioan dùng câu chuyện này
như môt loại dụ ngôn về Chúa Giêsu.Ông nói: “Con rắn bị treo lên, người
ta nhìn nó, tư tưởng họ hướng về Chúa, do quyền phép của Chúa, Đấng họ
tin cậy thì họ được lành bệnh. Chúa Giêsu cũng phải bị treo lên như thế,
để khi loài người hướng tư tưởng về Ngài, tin Ngài, thì cũng được sự
sống đời đời”.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">Một điểm gợi ý rất lạ ở
đây. Động từ treo lên là hupsoun. Từ này được dùng cho Chúa Giêsu theo
hai nghĩa. Nó được dùng cho việc Chúa bị treo trên thập giá; và nó cũng
được dùng cho việc Chúa được cất lên đểvào vinh hiển lúc Ngài về trời.
Nó được dùng chỉ thập giá trong Ga 8,28; 12,32, và được dùng chỉ Chúa
Giêsu lên trời vinh quang trong Công Vụ 2,33; 5,31; Pl 2,9. Có hai lần
Ngài được đưa lên vào cõi vinh quang; cả hai liên hệ với nhau bất khả
phân ly. Điều này không thể xảy ra mà không có điều kia. Với Chúa Giêsu,
thập giá là con đường tiến đến vinh quang. Nếu Ngài khước từ thập giá,
tránh né, tìm cách để thoát khỏi đó –là việc Ngài có thể làm thật dễ
dàng nếu muốn- thì Ngài đã không thể bước vào cõi vinh quang. Với chúng
ta cũng vậy, chúng ta có thể chọn con đường dễ đi, có thể khước từ thập
giá mà mỗi Kitô hữu được gọi phải vác, nếu thế, chúng ta sẽ mất phần
vinh hiển. Đó là một trong những định luật bất biến của đời sống: không
có thập giá thì không có triều thiên.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">Trong câu 15 chúng ta gặp
lại hai thành ngữ mà không thể rút tỉa hết ý nghĩa trong đó, vì cả hai
vượt xa những gì chúng ta có thể khám phá được. Nhưng chúng ta phải cố
gắng lãnh hội ít nhất là một phần trong ý nghĩa của chúng.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">1. Thứ nhất là tin Chúa
Giêsu. Mệnh đề này có ít nhất ba nghĩa:</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">a. Hết lòng tin Thiên
Chúa vốn đúng như điều Chúa Giêsu tuyên bố. Chúa yêu thương chúng ta, lo
lắng chăm sóc mỗi người, Ngài chẳng mong gì hơn là tha tội cho chúng ta.
Chúa là tình yêu. Không phải dễ cho người Do Thái tin như vậy. Họ nhìn
vào Chúa của luật, áp đặt các luật lệ Ngài trên dân chúng để trừng phạt
khi họ vi phạm. Nên dân Do Thái nhìn Chúa như một vị Thẩm Phán, và loài
người là tội nhân trước tòa án của Ngài. Họ nhìn Chúa như một Chúa hay
đòi hỏi sinh tế và của lễ. Muốn ra mắt Chúa, loài người phải trả giá mà
Chúa đã định. Thật khó cho họ nghĩ là Chúa không phải là một quan tòa
chuyên tìm cách trừng phạt. Một ông cai chỉ chờ tìm cách vồ lấy công
nhân, mà Ngài là người Cha tha thiết trông chờ đứa con đi hoang trở về
nhà. Chúa Giêsu đã phải trả giá bằng đời sống và sự chết của Ngài để
công bố cho loài người biết điều đó. Và chúng ta không thể trở thành
Kitô hữu nếu chưa hết lòng tin như vậy.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">b. Làm thế nào chúng ta
biết chắc Chúa Giêsu hiểu rất rõ những gì Ngài nói? Có gì bảo đảm Phúc
Âm kỳ diệu ấy là thật? Đến đây chúng ta đụng đến tín điều thứ hai. Chúng
ta phải tin Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, là tâm trí của Thiên Chúa,
biết rất rõ Chúa Cha, thân cận mật thiết với Chúa Cha, vốn là một với
Chúa Cha, đến mức Ngài có thể nói cho chúng ta biết chân lý tuyệt đối về
Chúa Cha. Chúng ta phải tin chắc Chúa Giêsu biết rõ những gì Ngài nói,
Ngài đã nói cho chúng ta biết sự thật về Chúa Cha, vì tâm trí của Chúa
Cha vốn ở trong Ngài.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">c. Nhưng lòng tin còn một
yếu tố thứ ba nữa. Chúng ta tin Chúa là Cha yêu thương, vì chúng ta tin
Chúa Giêsu là con của Chúa Cha, vì thế những gì Ngài nói về Chúa Cha đều
đúng thật. Đến yếu tố thứ ba, chúng ta phải đặt mọi sự trên cơ sở những
gì Chúa Giêsu nói là đúng thật. Chúng ta phải làm theo tất cả những gì
Ngài chỉ dạy. Khi Ngài dạy, chúng ta phải đặt mình, không chút do dự,
vào lòng nhân từ của Thiên Chúa, thì chúng ta làm theo như vậy. Chúng ta
phải tin lời của Ngài. Mỗi hành vi, cử chỉ nhỏ nhất trong đời sống đều
phải được thực hiện trong sự vâng lời Ngài không chút nghi ngờ.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">Như vậy, niềm tin có ba
yếu tố: tin Chúa là Cha yêu thương của chúng ta; Chúa Giêsu là Con Chúa
Cha, do đó Ngài cũng nói cho chúng ta biết sự thật về Chúa Cha và đời
sống; và vâng phục Chúa Giêsu cách vững vàng không chút nghi ngờ.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">2. Mệnh đề quan trọng thứ
hai là sự sống đời đời. Chúng ta đã học biết sự sống đời đời là chính sự
sống của Chúa, hãy đặt vấn đề: “Nếu được sự sống đời đời, cụ thể là
chúng ta được gì?”. Được sự sống đời đời thì đời sống sẽ như thế nào?
Khi hưởng sự sống đời đời thì mọi mối liên hệ trong đời sống đều được
bao phủ bằng sự bình an.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">a. Sự sống đời đời cho
chúng ta sự bình an với Chúa, chúng ta không còn sợ sệt như trước mặt
một vị vua độc tài, hay tìm cách lẩn tránh một quan tòa nghiêm khắc,
nhưng chúng ta được ở trong nhà với Cha mình.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">b. Sự sống đời đời là an
hòa với mọi người. Nếu chúng ta được tha thứ, chúng ta phải biết tha
thứ, nó khiến ta có thể nhìn người khác như Chúa nhìn họ, có thể hòa hợp
với mọi người thành một đại gia đình sống trong thương yêu.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">c. Sự sống đời đời cho
chúng ta sự an hòa với đời sống. Nếu Chúa là Cha, thì Ngài điều hành mọi
sự để tất cả trở thành tốt lành. Lessing thường nói, nếu được hỏi con
Nhân sư (Sphin, con vật đầu người mình sư tử, theo truyền thuyết Ai Cập,
thông suốt mọi sự) một câu thì ông sẽ hỏi nó, “Vũ trụ này có phải là một
vũ trụ thiên thần không?” Khi chúng ta tin Chúa là Cha, thì phải tin bàn
tay của người cha chẳng bao giờ làm con cái mình nhỏ lệ cách không cần
thiết. Chúng ta có thể không hiểu rõ về cuộc đời, nhưng chúng ta sẽ
không còn oán tránh nó nữa.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">d. Sự sống đời đời khiến
chúng ta an hòa với chính mình. Nói cho cùng, con người sợ chính mình
hơn bất cứ gì khác. Ta biết sự yếu đuối của mình, biết sức mạnh của
những cơn cám dỗ, biết các công việc và những đòi hỏi của đời sống mình.
Ta biết mình vẫn đương đầu với mọi điều đó nhưng có Chúa ở cùng. Không
phải là ta sống nữa, nhưng là Chúa Cứu Thế sống trong ta, trong đời mình
có sự bình an được thiết lập bằng sức mạnh.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">e. Sự sống đời đời khiến
ta biết chắc sự bình an sâu xa nhất của thế gian chỉ là cái bóng của sự
bình an tuyệt vời sắp đến. Nó cho ta một hy vọng, một mục đích để tiến
tới đời sống kỳ diệu quang vinh trên đất này, và đồng thời một đời sống
tốt đẹp vô cùng ở tương lai.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">TÌNH YÊU CỦA THIÊN CHÚA
(Ga 3,16)</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">Tất cả các vĩ nhân đều có
những đoạn văn riêng mình ưa thích. Đoạn văn trên đây là “Bản Văn Của
Mọi Người”. Đây chính là Phúc Âm cho tất cả những tấm lòng đơn sơ. Bản
văn này nói với chúng ta một số điều quan trọng.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">1. Nguồn gốc và khởi đầu
của cứu rỗi là từ Thiên Chúa. Đôi khi Kitô giáo đã được trình bày như là
chúng ta phải đến thuyết phục Chúa để xin Chúa chấp thuận hòa giải với
chúng ta, như là Chúa phải được thuyết phục mới bằng lòng tha tội cho
chúng ta. Có khi người ta vẽ ra một bức tranh về Thiên Chúa nghiêm khắc,
giận dữ, không dung thứ và khư khư nắm chặt lề luật. Nhiều khi người ta
trình bày thông điệp Kitô giáo như là Chúa Giêsu đã làm một điều gì đó
thay đổi thái độ của Thiên Chúa đối với loài người, từ xử phạt ra tha
thứ. Nhưng câu Kinh Thánh trên cho chúng ta biết rằng mọi sự là do Chúa
khởi đầu. Chính Chúa đã sai Con Ngài đến thế gian vì Ngài yêu thương
nhân loại. Đằng sau mọi sự đó là tình thương của Chúa.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">2. Nguồn mạch chính của
bản chất Chúa là tình yêu. Thật dễ nghĩ về Chúa như Ngài đang nhìn vào
nhân loại vô tâm, không vâng lời, phản loạn, và phán rằng: “Ta sẽ đánh
gục chúng, kỷ luật chúng, trừng trị, xử phạt và giáng tai họa cho đến
chừng nào chúng chịu hồi tâm”. Thật dễ nghĩ về Chúa như Ngài đang tìm
cách đàn áp loài người để thỏa mãn quyền hành của Ngài, để hoàn toàn chế
phục vũ trụ. Nhưng bản văn phi thường này cho chúng ta thấy Thiên Chúa
đang hành động, không phải vì chính Ngài, mà vì chúng ta. Ngài không
hành động để thỏa mãn ước muốn cầm quyền của Ngài, để giầy đạp vũ trụ
dưới gót chân, nhưng là nhằm thỏa mãn tình yêu của Ngài. Ngài không phải
là vị bạo chúa độc tài, đối xử với mọi người như thần dân, bắt phải tuân
phục vô điều kiện. Ngài là người Cha không thể vui, cho đến khi những
đứa con hoang đàng của mình trở về. Ngài không đàn áp loài người khiến
họ phải đầu phục, Ngài trông mong và dịu dàng kêu gọi họ trở lại với
tình thương của Ngài.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">3. Chiều rộng của tình
yêu Chúa là cả thế gian. Ở đây không phải là một quốc gia, không phải
chỉ những người tốt lành, thánh thiện, không phải chỉ những người biết
yêu mến Ngài, nhưng toàn thể nhân loại. Toàn thể những người khó yêu và
chẳng có gì đáng yêu, người cô đơn chẳng được ai yêu, người yêu mến Chúa
lẫn người chối bỏ tình yêu của Ngài, người chẳng bao giờ suy nghĩ đến
Ngài cùng người yên nghỉ trong tình yêu của Ngài, tất cả đều được bao
gồm trong tình yêu bao la, bao hàm tất cả của Thiên Chúa. Thánh
Augustinô đã nói: “Chúa yêu mỗi người chúng ta dường như chỉ có một mình ta để Ngài yêu mà thôi”.</p>
</td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center"> <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a> <a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/SuyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a> </td></tr></table><p style="text-align: center"> </p>