File "08.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2023/Mua-Thuong/CN XIX TN A/CN XIV TN A/08.htm
File size: 19.9 KiB (20380 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật XVI thường niên - Năm A</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật XVI thường niên - Năm A; Hền lành; Ác tôi êm ái; Khiêm nhường; Gió và mặt trời; Gánh nặng; Số không; Hãy đến với ta; Ách tôi êm ái."><style>
<!--
.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
{color:blue;
text-decoration:underline;
text-underline:single;
text-decoration:none underline;
text-line-through:none;
vertical-align:baseline}
span.apple-converted-space
{}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật XVI thường niên - Năm A"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">Chúa Nhật XIV thường niên - Năm A</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
THẦY SẼ CHO ANH EM NGHỈ NGƠI...</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
<a name="_Toc296951493">
<span style="font-size: 8pt; font-style:italic; font-weight:400">Chú giải của Noel Quesson</span></a></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">Vào lúc ấy, Đức Giêsu cất tiếng nói…</span></i></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Thành ngữ. "vào lúc ấy” thường là công
thức về văn phong mà các sách Kinh dùng làm lễ đã thêm vào để bắt đầu
một đoạn Tin Mừng một cách tự nhiên hơn. Nhưng ở đây là môt ngoại lệ, nó
có trong bản văn của Matthêu. Vậy trong bối cảnh nào mà lời cầu nguyện
chúng ta sắp đọc được đưa vào?</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">“Lúc ấy"</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">
là một thời điểm bi đát. Đức Giêsu sống trong một bầu khí căng thẳng và
thất bại. Ở chương 11 thánh Matthêu vừa mô tả sự "hoài nghi" của Gioan
Tẩy trong nhà tù: "Thầy có đúng là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi
còn phải đợi ai khác? "Đức Giêsu kế đó đã thuật lại cách thức mà những
kẻ đồng thời với Người đã từ chối ông Gioan vị ẩn sĩ khổ hạnh và cả Đức
Giêsu Đấng Hằng Sống nhân từ (11,16-19). Rồi Đức Giêsu lên án nghiêm
khắc những thành phố bên bờ hồ Ti-bê-ri-a đã không đón nhận sứ điệp và
các phép lạ của Người. Nhiều người trong hoàn cảnh thất bại này hẳn sẽ
rơi vào sự thất vọng và chán nản. Vả lại, đây là một “bài ca vui mừng"
trào dâng từ đôi môi Người. Vậy tâm tình thầm kín của Đức Giêsu là gì?</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">Lạy Cha là Chúa Tể trời đất...</span></i></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Trong một vài dòng, chúng ta nghe Đức
Giêsu gọi Thiên Chúa là "Cha" năm lần. Chúng ta đã quá quen nên không
nhận thấy rằng cách gọi Thiên Chúa này mở ra một cuộc cách mạng tôn giáo
thật sự. Những nhà chú giải đã tìm trong toàn bộ Kinh Thánh và tất cả
văn chương Do Thái trước Đức Giêsu chưa bao giờ từ ngữ ấy, "Cha” được
dùng một cách tuyệt đối và dùng để cầu khẩn trực tiếp Thiên Chúa. Không
một Thánh Vịnh nào dám gọi Thiên Chúa một cách thân mật.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Như thế, những người Do Thái, ngày nay
cũng thế, bởi lòng tôn kính, không dám phát âm cái tên khôn tả của Thiên
Chúa nhưng dùng mọi cách nói tránh, ví dụ như: "Đấng Hằng Hữu, xin chúc
tụng..." Dường như các tông đồ không thể nghĩ ra một từ ngữ như thế, bởi
họ cũng là người Do Thái, nếu như họ đã không nghe thấy trên đôi môi Đức
Giêsu đang cầu nguyện. Và đàng sau từ ngữ ấy, ngày hôm nay đã trở thành
thông thường, chúng ta nhận ra tiếng “Abba!" trong ngôn ngữ A-ra-men.
Đây là một từ âu yếm của các con nhỏ dùng nói với cha chúng, tương đương
với chữ Ba (Bố) của chúng ta..</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Cha! Ba, Chúa của trời đất!</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Sự đối chiếu của hai khía cạnh ấy của
Thiên Chúa thật cảm động. Đây là Thiên Chúa cao cả, Tạo Hóa của toàn thể
vũ trụ! Lạy Chúa, xin ban cho chúng con theo gương Chúa có đủ hai thái
độ cầu nguyện ấy: sự đơn sơ của tình cảm; sự tôn thờ chân chính.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">Con xin ngợi khen Cha.</span></i></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Động từ Hy Lạp dùng ở đây là
"exomologeisthai" có nghĩa là "xưng thú”, "tuyên xưng công khai đức tin"
"dâng lời ngợi khen", "cảm tạ". Như thế, giữa những thất bại trong việc
rao giảng, đây là một lời cầu nguyện ngợi khen tràn ngập linh hồn; một
thứ Thánh Thể ".</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Và chúng ta không thể không ngạc nhiên
bởi sự giống nhau đáng ngạc nhiên giữa lời Đức Giêsu cầu nguyện với bài
ca ngợi khen (Magnificat) của Mẹ Người. "Linh hồn tôi ngợi khen Đức
Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng". Cả hai bài kinh này đều được cấu
kết bằng những ẩn dụ trong Kinh Thánh (Cn 8,9; Xi-ra-cít 51,1-30; Kn
6,9; Đn 7,13-l4). Và cả hai ca hát niềm vui của những người nghèo khó mà
Thiên Chúa ưa thích.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">Vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan
thông thái biết những điều này, nhưng mạc khải cho người bé mọn.</span></i></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Đức Giêsu cầu nguyện và đi từ đời sống
cụ thể của Người. Người đi từ sự thất bại mà các kinh sư và các Thầy dạy
Luật đã gây ra cho Người... từ sự tiếp đón mà Người đã nhận từ những
người khiêm nhượng và nghèo khó. Còn tôi thì sao? Tôi có cầu nguyện từ'
đời sống và những lo lắng của tôi? Tôi có dám thử tìm ra "lời để ngợi
khen" giữa những hoàn cảnh bất lợi đang làm tổn thương tôi? Khi đọc lời
kinh này của Đức Giêsu người ta có thể bị đụng chạm bởi cảm tưởng Thiên
Chúa "giấu giếm" một điều gì đó cho một số người Và mạc khải điều đó cho
những người khác! Trong toàn bộ Cựu ước, chúng ta tìm thấy ngôn ngữ
Sê-mít này rất mạnh xem ra bất chấp tự do của con người. Ví dụ như,
chính Thiên Chúa làm cho "lòng vua Pha-ra-on thành ra chai cứng" (Xh
9,12). Công thức này muốn diễn tả tất cả không ngoại trừ, hoàn toàn tất
cả đều phụ thuộc vào Thiên Chúa, nhưng đúng là con người phải chịu trách
nhiệm về những sự khước từ của mình, mà không phải là Thiên Chúa. Chính
vì thế người ta tìm thấy công thức rõ ràng là trái ngược: "Vua Pha-ra-on
làm cho lòng mình ra chai cứng (Xh 8,11). Dĩ nhiên ở đây vấn đề không
phải là Đức Giêsu cám ơn Cha Người về việc truyền giảng thất bại và
Người cũng không đổ cho Thiên Chúa sự thất bại ấy... Nhưng với sức mạnh
trong ngôn ngữ mà chúng ta không còn sử dụng nhưng đã được điển hình hóa
về mặt văn hóa, Người cám ơn Cha Người vì đám đông không học vấn đã tiếp
đón Lời trong khi những người trí thức, than ôi lại tha hồ bị kẹt cứng
trên sự chắc chắn của họ.. Chúng ta còn nhận thấy rằng đây không phải là
một thứ kết án trí tuệ. Nhưng Đức Giêsu thừa nhận rằng thông thường trí
tuệ quý báu của con người thực ra sẽ dẫn tới chỗ kiêu ngạo mù quáng vì
tự phụ. Lý trí con người là khả năng phi thường để con người hiểu biết
những sự vật của thế giới này và thiết lập những quy luật khoa học...
nhưng lý trí bị giới hạn trong thế giới, và không thể nhận ra Nước Thiên
Chúa bởi chỉ ánh sáng duy lý. Thánh Phaolô sẽ nói về đức tin như một thứ
điên rồ": "Tôi đã không dùng lời lẽ hùng hồn hoặc triết lý cao siêu mà
loan báo mầu nhiệm của Thiên Chúa" (1Cr 2,1). "Lời rao giảng về thập giá
là một sự điên rồ, nhưng cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn
ngoan của loài người" (1Cr 1,18-30).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.</span></i></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Để giải thích sự tiếp nhận của những
người bé mọn và nghèo khó, đối diện với sự khước từ của các người thông
thái và tự mãn, Đức Giêsu không phân tích khuynh hướng tâm lý và đức
hạnh của họ. Người lập tức cho rằng đặc quyền của- những kẻ bé mọn là
"lòng nhân từ của Thiên Chúa". Họ không tốt hơn những người khác nhưng
vì họ chịu thua thiệt, họ đặc biệt lôi kéo "lòng nhân hậu của Chúa Cha.
Đó là một tư tưởng bền bỉ của Đức Giêsu: bạn là kẻ tội lỗi; bạn bị coi
chẳng ra gì; bạn bị khinh bỉ bạn, bị đè bẹp... Cha của Đức Giêsu nhìn
bạn với một tình yêu thương đặc biệt.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và
không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa
Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mạc khải cho.</span></i></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Một lần nữa, phải nhận thức về lòng tự
hào không chịu nổi của ông Giêsu người Na-da-rét. Người khẳng định có
mối liên hệ đặc biệt với Thiên Chúa và chính Người là một người nghèo
giữa những người nghèo. Vả lại, Người dám nói rằng không một ai biết
Người. Không một ai có thể thâm nhập vào căn tính sâu xa của Đức Giêsu
trừ Chúa Cha! Và, ngược lại Đức Giêsu thực sự cho rằng chỉ có Người biết
được Thiên Chúa!</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Trong những công thức ấy, người ta nhận
ra những tư tưởng thường được Thánh Gioan hòa điệu: "Không ai đến Chúa
Cha mà không qua Thầy" (Ga 14,6). Khi các Công đồng của thế kỷ thứ IV và
thứ V định nghĩa Đức Giêsu như “Thiên Chúa thật, và người thật", khi các
Công đồng ấy định nghĩa Ba Ngôi với sự bằng nhau về bản tính của Chúa
Cha, Chúa Con và. Chúa Thánh Thần, thì các Công đồng ấy chỉ nói lại bằng
những từ ngữ chính xác hơn điều mà các sách Tin Mừng và giáo lý tiên
khởi đều đã khẳng định. Một bản văn nhân bản văn này, trong số nhiều bản
văn khác, chứng tỏ rằng những giáo huấn về Chúa Giêsu đã đồng hóa "con
người này" với "Đức Chúa Giavê. Phải, những người Do Thái đã gán cho con
người Giêsu những câu nói chỉ thuộc về một mình Thiên Chúa: "Không ai
biết Tôi ngoài Thiên Chúa; và không ai biết Thiên Chúa ngoài Tôi. Vả
lại, giả thuyết những người Do Thái "thần linh hóa" một người Do Thái
quả là một điều không có thật.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Trong các tôn giáo khác của Đế quốc La
Mã, có thể nghĩ đến những con người, ví dụ như những Hoàng đế đã được
thần linh hóa. Nhưng điều này không thể nghĩ ra được trong môi trường Do
Thái: họ thờ phượng một Thiên Chúa độc nhất siêu việt không thể diễn tả,
mà người ta không bao giờ đám gọi tên! Kết hợp Đức Chúa Giavê với một
con người, dù người này là ai là một sự phạm thánh ghê tởm.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Để đi đến điều đó, cần phải có những sự
bó buộc mạnh mẽ trên bình diện các "sự kiện" và những "lời" của Đức
Giêsu; tác động đến những người đã là các chứng nhân.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Phần chúng ta, sau 2000 năm, chúng ta
chiêm niệm mầu nhiệm kỳ diệu ấy với nhiều sự đơn sơ và tôn thờ? Con
người mà người ta thấy ăn bánh và quả ô-liu là người nông dân bé mọn ở
Na-da-rét đã từng đốt lửa trên bờ hồ, là người mà người ta đã thấy lúc
khóc và lúc cười, lúc tức giận và lúc đói khát. Một con người mà ban đêm
người ta nghe thấy tiếng ngáy trong những lúc cắm trại ở giữa cảnh trời
sao diễm ảo; người ta đã nghe Người trong lúc cầu nguyện, đã gọi Thiên
Chúa "'Abba?". Và, với một vẻ bề ngoài tầm thường nhất, người khẳng
định: "Không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con, và kẻ mà Người Con muốn
mạc khải cho!". Mạc khải? Thật vậy, người ta chỉ biết Thiên Chúa qua
điều mà Đức Giêsu mạc khải cho chúng ta!</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">Mạc khải.</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">
Một cách hiểu biết khác với sự nhận thức duy lý Thiên Chúa không được
chinh phục sau một quá trình suy luận thông thái. Thiên Chúa được tiếp
đón trong một tấm lòng nghèo khó: "Thầy sẽ chỉ cho con bí mật của Thầy
nếu con yêu mến Thầy Điều đã bị giấu đối với các bậc khôn ngoan và thông
thái được mạc khải cho người bé mọn! Người ta không đổ đầy một cái chén
đã đầy rồi phải có một tấm lòng trống trải để Thiên Chúa tìm được chỗ
cho Người. Phải có một trí tuệ khiêm tốn để Thiên Chúa bày tỏ Người ra.
Lạy Chúa, xin tạo ra trong chúng con sự sẵn sàng để đón nhận mạc khải.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">Tất cả những ai đang vất vả mang gánh
nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy
mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi,.vì tôi có lòng hiền hậu và
khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm
ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.</span></i></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Đức Giêsu khẳng định rằng "ách tôi êm ái
và gánh tôi nhẹ nhàng”. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng Tin Mừng có những
yêu sách rất mạnh mẽ. Điều quan trọng là không nên giản lược những yêu
sách ấy. Nhưng Đức Giêsu tự giới thiệu như đầy sự hiền hậu và khiêm
nhường: Người là lòng nhân hậu của Thiên Chúa nhập thể. Lúc đó có thể
nói sự hoàn thành những yêu sách ấy xuất phát tự bản chất của hữu thể.
Rõ ràng Người đến đề nghị một cách sống mới cho những người không thể
mạng gánh nặng của Luật pháp; tức những người nghèo và những người tội
lỗi.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Các ngôn sứ đã loan báo rằng Thiên Chúa
từ chối viết Luật trên các bảng đá, theo cách ở bên ngoài của con người,
nhưng Người sẽ viết Luật trên lòng người: đó là sự loan báo của Tân ước
(Gr 32,31-34). Chúng ta nhận thấy sự nhất quán của tư tưởng ấy. Luôn
luôn là vấn đề những người "nhỏ bé", hèn mọn. Đức Giêsu, chính là Thiên
Chúa cao cả, Con của Đức Chúa trời đất, đến chia sẻ sự đau khổ của những
người nghèo, để giải thoát họ khỏi những đau khổ ấy. Người đề nghị làm
nhẹ bớt những gánh nặng của chúng ta. Phải luôn suy niệm thấu đáo hình
ảnh này: người nào mang gánh nặng nề; dừng lại một giây lát để đặt gánh
xuống! Và đây là điều Đức Giêsu đề nghị chúng ta: "Thầy sẽ cho anh em
nghỉ ngơi bồi dưỡng!".</span></p>
</td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center"> <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a> <a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/SuyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a> </td></tr></table><p style="text-align: center"> </p>