File "38.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2023/Mua-Chay & Phuc-Sinh/CN III MC A/38.htm
File size: 47.33 KiB (48469 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật III Mùa Chay - Năm A</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật III Mùa Chay - Năm A; Bên bờ giếng Giacob; Nhịp cầu thiêng liêng; Cho xin chút nước; Nước hằng sống; trong tinh thần chân lý; Đổi thay; Gặp gỡ; Nguồn nước;"><style>
<!--
.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
{color:blue;
text-decoration:underline;
text-underline:single;
text-decoration:none underline;
text-line-through:none;
vertical-align:baseline}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật III Mùa Chay - Năm A"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460">
<font color="#FF0000">Chúa Nhật III Mùa Chay - Năm A</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
<b>TRỞ NÊN MẠCH NƯỚC CỨU ĐỘ CHO THA NHÂN</b></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right"> </td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
<p class="MsoNormal" align="center" style="text-align: center; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b>I. HỌC LỜI CHÚA</b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b>1. TIN MỪNG: Ga 4,5-42</b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b>(5) Vậy Người đến một thành xứ Sa-ma-ri, tên là Xy-kha, gần thửa
đất ông Gia-cóp đã cho con là ông Giu-se. (6) Ở đấy, có giếng của
ông Gia-cóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng.
Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa. (7) Có một người phụ nữ
Sa-ma-ri đến lấy nước. Đức Giê-su nói với người ấy: “Chị cho tôi
xin chút nước uống !”. (8) Quả thế, các môn đệ của Người đã vào
thành mua thức ăn. (9) Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói: “Ông là
người Do thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước
uống sao ?” Quả thế, người Do thái không được giao thiệp với người
Sa-ma-ri. (10) Đức Giê-su trả lời: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên
Chúa ban, và ai là người nói với chị: Cho tôi chút nước uống, thì
hẳn chị đã xin, và người ấy ban cho chị Nước Hằng Sống”. (11) Chị
ấy nói: “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy
đâu ra Nước Hằng Sống ? (12) Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ Gia-cóp
chúng tôi, là người đã cho chúng tôi giếng này ? Chính Người đã
uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng
vậy”. (13) Đức Giê-su trả lời: “Ai uống nước này, sẽ lại khát.
(14) Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước
tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại
sự sống đời đời”. (15) Người phụ nữ nói với Đức Giê-su: “Thưa ông,
xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây
lấy nước”. (16) Người bảo chị ấy: “Chị hãy gọi chồng chị, rồi
trở lại đây”. (17) Người phụ nữ đáp: “Tôi không có chồng”. Đức
Giê-su bảo: “Chị nói: Tôi không có chồng là phải, (18) vì chị đã
năm đời chồng rồi, và hiện người đang sống với chị không phải là
chồng chị. Chị đã nói đúng”. (19) Người phụ nữ nói với Người:
“Thưa ông, tôi thấy ông thật là một Ngôn sứ… (20) Cha ông chúng tôi
đã phờ phượng Thiên Chúa trên núi này. Còn các ông lại bảo:
Giê-ru-sa-lem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa”. (21) Đức
Giê-su phán: “Này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các người sẽ thờ
phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem. (22)
Các người thờ Đấng các người không biết; còn chúng tôi thờ Đấng
chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do thái. (23) Nhưng
giờ đã đến và chính là lúc này đây, giờ những người thờ phượng
đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong Thần Khí và Sự Thật, vì
Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. (24) Thiên
Chúa là Thần Khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng
trong Thần Khí và Sự Thật”. (25) Người phụ nữ thưa: “Tôi biết Đấng
Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô sẽ đến. Khi Người đến, người sẽ loan báo
cho chúng tôi mọi sự”. (26) Đức Giê-su nói: “Đấng ấy chính là tôi,
người đang nói với chị đây”. (27) Vừa lúc đó, các môn đệ trở về.
Các ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với một phụ nữ. Tuy
thế, không ai dám hỏi: “Thầy cần gì vậy ?” Hoặc “Thầy nói gì với
chị ấy ?”.(28) Người phụ nữ để vò nước lại, vào thành và nói
với người ta: (29) “Đến mà xem: có một người đã nói với tôi về
tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao ?”
(30) Họ ra khỏi thành và đến gặp Người. (31) Trong khi đó, các môn
đệ thưa với Người rằng: “Ráp-bi, xin mời Thầy dùng bữa”. (32)
Người nói với các ông: “Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh
em không biết”. (33) Các môn đệ hỏi nhau: “Đã có ai mang thức ăn cho
Thầy rồi chăng ?”. (34) Đức Giê-su nói với các ông: “Lương thực của
Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công
trình của Người”. (35) Nào anh em chẳng nói: Còn bốn tháng nữa
mới đến mùa gặt ? Nhưng này, Thầy bảo anh em: Ngước mắt lên mà
xem: đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái !”.(36) Ai gặt
thì lãnh tiền công và thu hoa lợi để được sống muôn đời. Và như
thế, cả người gieo lẫn kẻ gặt đều hớn hở vui mừng. (37) Thật
vậy, câu tục ngữ “Kẻ này gieo, người kia gặt” quả là đúng ! (38)
Thầy sai anh em đi gặt những gì chính anh em đã không vất vả làm
ra. Người khác đã làm lụng vất vả. Còn anh em, anh em được vào
hưởng kết quả công lao của họ”. (39) Có nhiều người Sa-ma-ri trong
thành đó đã tin vào Đức Giê-su, vì lời người phụ nữ làm chứng:
"Ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm". (40) Vậy, khi đến gặp
Người, dân Sa-ma-ri xin người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó
hai ngày. (41) Số người tin vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa.
(42) Họ bảo người phụ nữ: “Không còn phải vì lời chị kể mà
chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng:
Người thật là Đấng Cứu Độ trần gian”.</b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b>2. Ý CHÍNH:</b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại cuộc đối thoại của Đức Giê-su với
một phụ nữ Sa-ma-ri. Người đã từng bước đưa chị ta đón nhận mặc
khải quan trọng: Người chính là Đấng Thiên Sai, ban Nước Hằng Sống
cho những ai tin vào Người và họ cũng sẽ biến thành mạch nước giúp người
khác đón nhận sự sống đời đời.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b>3. CHÚ THÍCH:</b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b>- C 5-9:<i> + Đến một thành xứ Sa-ma-ri:</i></b><i> </i>Từ
Giê-ru-sa-lem về Ga-li-lê ngang qua xứ Sa-ma-ri, Đức Giê-su đã tới
giếng Gia-cóp gần thành Sy-kha (hay Si-khem) tại đất Ca-na-an (x. St
33,18; 48,22). Đây là đất mà tổ phụ Gia-cóp đã cho Giu-se và con
cháu làm gia nghiệp (x. Gs 24,32). <b><i>+ Khoảng giờ thứ sáu:</i></b> Tức
khoảng mười hai giờ trưa. Người Do thái tính thời gian như sau: ban
ngày có 12 giờ và ban đêm có 4 canh giờ. Ngày bắt đầu từ giờ Thứ
Nhất (6g sáng) lúc mặt trời mọc, và kết thúc vào giờ Thứ Mười
Hai (18g00) lúc mặt trời lặn. <b><i>+ “Chị cho tôi xin chút nước
uống !”:</i></b> Đức Giê-su chủ động xin nước uống để có cơ hội
bắt chuyện, giúp người phụ nữ dần dần nhận ra Người là Đấng ban
Nước Hằng Sống, đem lại ơn cứu độ cho loài người. <b>+ “Ông là
người Do thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước
uống sao ?”:</b> Từ sau khi đi lưu đày trở về, dân Do thái xây dựng
lại Đền Thờ mà không cho người Sa-ma-ri cộng tác, nên họ đã xúi
vua Ba-tư cản trở công cuộc tái thiết này (x. Er 4,1-16). Từ đó hai
dòng giống Do thái và Sa-ma-ri tuy cùng một tổ tiên, sống sát bên
nhau, nhưng lại có ác cảm và không giao tiếp với nhau. Ở đây, người
phụ nữ này nhận ra Đức Giê-su là người Do thái qua giọng nói và
cách ăn mặc nên đã tỏ ra ngạc nhiên và từ chối như vậy.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b>- C 10-15:<i> + “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là
người nói với chị:</i></b> Cho tôi chút nước uống, thì hẳn chị đã
xin, và người ấy ban cho chị Nước Hằng Sống”…: Nhân dịp này, Đức
Giê-su cho người phụ nữ kia biết Người là Đấng ban Nước Hằng
Sống. <b><i>+ “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông
lấy đâu ra Nước Hằng Sống ?...: </i></b>Người phụ nữ này chỉ hiểu
lời nói của Đức Giê-su theo nghĩa thông thường là nước giếng tự
nhiên, đang khi Đức Giê-su lại có ý nói đến Nước Hằng Sống là Ơn
Cứu Độ. <b><i>+ “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước
tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành
nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời”:</i></b> Đức
Giê-su so sánh nước giếng tự nhiên chỉ làm đã khát nhất thời, với
Nước Hằng Sống mang lại sự sống đời đời mà Người sẽ ban, để khơi
dậy sự khao khát nơi người này. <b><i>+ “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ
nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước”: </i></b>Đức
Giê-su dẫn dắt người phụ nữ từ thái độ thù nghịch đến chỗ thân
thiện. Từ vai một người xin nước đến chỗ là Đấng ban Nước Hằng
Sống và chị ta đã xin Người ban thứ Nước ấy.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b>- C 16-22:<i> + “Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây”:</i></b> Đức
Giê-su tỏ ra là người lịch sự khi muốn nói chuyện với người phụ
nữ trước mặt chồng chị ta, đồng thời Người cũng muốn chị ta ý
thức về thân phận tội nhân của mình. <b><i>+ “Chị nói: Tôi không có
chồng là phải, vì chị đã năm đời chồng rồi, và hiện người đang
sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng”:</i></b> Đức
Giê-su cho người phụ nữ ý thức tình trạng hôn nhân bất hợp pháp
của mình. Một số nhà chú giải còn nhìn thấy 5 đời chồng là
hình ảnh tượng trưng dân Sa-ma-ri vừa kính sợ Đức Chúa, lại vừa
phụng thờ 5 vị thần khác (x. 2V 17,29-34.41). <b><i>+ Thưa ông, tôi
thấy ông thật là một Ngôn Sứ: </i></b>Người phụ nữ sửng sốt khi
thấy Đức Giê-su thấu suốt đời tư của mình, và tôn xưng Người là
một Ngôn sứ. Đồng thời, chị ta xin Đức Giê-su chỉ dẫn phải tôn thờ
Thiên Chúa trên núi Ga-ra-dim như người Sa-ma-ri, hay thờ Chúa tại
Đền Thánh Giê-ru-sa-lem như người Do Thái ? <b><i>+ Đã đến giờ:</i></b> Đức
Giê-su dạy chị phụ nữ với tư cách vị Ngôn sứ: Đã đền giờ Người
xuất hiện để thực hiện chương trình cứu độ. Người cho biết: việc
thờ phượng tại núi này hay tại Giê-ru-sa-lem chỉ là hình bóng và
đã qua rồi. Bây giờ là thời Thiên Sai, phải chầm dứt việc thờ
phượng cũ để bắt đầu cách thờ phượng mới nơi bản thân Người. <b><i>+
Thờ Đấng mà các người không biết:</i></b> Người Sa-ma-ri chỉ công
nhận bộ sách Ngũ Kinh và không biết đến các sách khác, nhất là
các Ngôn Sứ mặc khải về Thiên Chúa. <b><i>+ Còn chúng tôi thờ Đấng
chúng tôi biết:</i></b> Người Do thái tuân giữ toàn bộ các sách
Thánh Kinh. Sau này, Tông đồ Phao-lô cũng nhấn mạnh về đặc ân đó
của người Do thái (x. Rm 9,4).</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b>- C 23-29:<i> + Thờ phượng Chúa Cha trong Thần Khí:</i></b> là tôn
thờ Thiên Chúa dưới sự soi sáng và sức mạnh của Chúa Thánh
Thần. <b><i>+ Trong Sự Thật:</i></b> Thờ Thiên Chúa trong Đức Giê-su,
Đấng là “đường, sự thật và sự sống” (Ga 14,6). Tóm lại, từ nay
Đức Giê-su trở nên Đền Thờ mới sẽ thay Đền Thờ cũ trên núi
Ga-ra-dim hay tại Giê-ru-sa-lem. <b><i>+ Thiên Chúa là Thần khí, và
những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong Thần Khí và Sự
Thật”:</i></b> Đức Giê-su đã nêu ra một điều được cả người Do thái
và người Sa-ma-ri chấp nhận là lời quả quyết: “Thiên Chúa là Thần
Khí, và người ta phải thờ Người ở khắp mọi nơi, thờ chính Thiên
Chúa chứ không phải thờ hình bóng của Người. Thiên Chúa là Đấng
vô hình, nên Người đòi người ta phải thờ phượng Người trong tâm
hồn. Một số người dựa vào câu này để từ chối thờ Chúa bằng
những hình thức lễ nghi bên ngoài. Thực ra Đức Giê-su vẫn thường
xuyên lên Đền thờ (x. Ga 2,13; 7,14; 11,55) và đến hội đường Do thái
(x. Mt 1,21; Mt 13,54) để tham dự các nghi lễ thờ phượng Thiên Chúa.
Người chỉ chống lại những nghi lễ vụ hình thức mà thôi (x. Mt
15,7-9; 21,12-13). <b><i>+ Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô sẽ đến:</i></b> Dù
chưa hiểu được ý nghĩa về lời giải thích trên đây, người đàn bà
này cũng quan tâm đến tôn giáo. Bà hy vọng Đấng Ki-tô sẽ đến loan
báo mọi sự. <b><i>+ Đấng ấy chính là tôi:</i></b> Bình thường, Đức
Giê-su không muốn tỏ ra là Đấng Thiên Sai vì sợ dân Do thái hiểu vai
trò Thiên Sai theo nghĩa chính trị. Còn ở đây nói với người phụ nữ
Sa-ma-ri, Người không sợ bị hiểu lầm nên đã tỏ mình chính là Đấng
Thiên Sai. <b><i>+ Các ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với
một phụ nữ: </i></b>Phong tục Do thái không cho phép đàn ông nói
chuyện với phụ nữ nơi công cộng. Làm như vậy, Đức Giê-su đã bãi
bỏ tục lệ này vì sứ mệnh rao giảng Tin Mừng quan trọng hơn thói
tục của người đời. Người đến với tha nhân, bất kể họ là ai hay
thuộc phái tính, dân tộc nào, để đem Tin Mừng cứu rỗi cho họ. <b><i>+
Đến mà xem: có một người đã nói với tôi về tất cả những gì tôi
đã làm:</i></b> Thực ra Đức Giê-su mới chỉ nói về những người
chồng của người phụ nữ này chứ chưa nói về tất cả những gì chị
đã làm. Nhưng khi nói với dân chúng, chị ta đã phóng đại lên để
cho người ta dễ tin theo mà thôi.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b>- C 30-38: <i>+ “Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không
biết”:</i></b> Đức Giê-su muốn dựa vào của ăn phần xác mà các môn
đệ mời Người để nói về của ăn thiêng liêng mà các ông chưa biết. <b><i>+
Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy:</i></b> Đức
Giê-su coi việc làm theo thánh ý Chúa Cha chính là lương thực của
Người. <b><i>+ Đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái !:</i></b> Đức
Giê-su dựa vào câu tục ngữ người nông dân hay nói: “Bốn tháng có
qua, mùa gặt có tới”. Qua đó Người nói đến mùa gặt thiêng thiêng
là cánh đồng truyền giáo đã chín vàng, vì dân Sa-ma-ri sắp kéo tới
để gặp Người. Đây là hoa trái đầu mùa của mùa gặt Thiên Sai. <b><i>+
Đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái! :</i></b> Trong Cựu
Ước, mùa gặt tượng trưng sự phán xét của Thiên Chúa, hoặc niềm
vui ơn cứu độ (x. Is 9,2; Am 9,13, Tv 126,5). Trong Tân Ước, mùa gặt
tượng trưng cho hoa quả của việc truyền giáo (x. Mt 9,37). Đức Giê-su
gợi lên niềm vui và phần thưởng của thợ gặt là các tông đồ, khi
các ông giúp nhiều người tin để được hưởng hạnh phúc Nước Trời. <b><i>+
Câu tục ngữ “Kẻ này gieo, người kia gặt” quả là đúng !:</i></b> Câu
tục ngữ này được hiểu như sau: Người gieo chính là Đức Giê-su và
hạt giống là Tin Mừng (x. Lc 8,11); Thợ gặt là các môn đệ. Mặc dù
các ông chưa được sai đi, nhưng Đức Giê-su đã thấy trước viễn ảnh
tốt đẹp là hoa quả do việc truyền giáo mang lại. Việc Người sắp
chịu chết trên thập giá giống như hạt giống, phải chết đi mới sinh
ra nhiều hoa trái (x. Ga 12,24). Công việc truyền giáo là một việc
tập thể mỗi người một nhiệm vụ: “Người gieo kẻ gặt”. Do đó khi việc
tông đồ mang lại nhiều kết quả thì đừng nghĩ rằng đó là thành quả do
công sức của riêng mình.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b>- C 39-42:<i> + Ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm:</i></b> Lời
chứng của người phụ nữ được coi là dấu chỉ, là giai đoạn đầu
dẫn dân thành đến niềm tin vào Đức Giê-su. <b><i>+ Dân Sa-ma-ri xin
người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày. Số người
tin vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa:</i></b> Đức tin sẽ được
tiếp tục triển nở nhờ lời giảng dạy của Đức Giê-su. <b><i>+ “Không
còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng
tôi đã nghe và biết rằng: Người thật là Đấng Cứu Độ trần gian”:</i></b> Qua
lời của dân thành Sa-ma-ri, chúng ta thấy đức tin trưởng thành không
những dựa vào người khác như cha mẹ, vợ chồng, người thân hay theo
số đông, mà do sự lắng nghe và thực hành lời Chúa.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b>3. CÂU HỎI:</b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b>1) Cách tính giờ của người Do thái thế nào ? 2) Đức Giê-su chủ
động xin nước uống với người phụ nữ Sa-ma-ri nhằm mục đích gì ?
3) Nước Hằng Sống mà Đức Giê-su hứa ban là thứ nước gì ? 4) Lời
Đức Giê-su dạy thờ Thiên Chúa vô hình trong Thần Khí và Sự Thật
phải chăng là Người bãi bỏ tất cả các lễ nghi thờ phương bề ngoài
? 5) Câu chuyện người phụ nữ Sa-ma-ri hôm nay dạy ta bài học gì về
sứ mệnh loan báo Tin Mừng ? 6) Câu nói của dân làng cho thấy hiệu
quả của Lời Chúa tác động thế nào nơi những người tin?</b></p>
<p class="MsoNormal" align="center" style="text-align: center; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b>II. SỐNG LỜI CHÚA</b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b>1. LỜI CHÚA: “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước
tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa” (Ga 4,13-14a).</b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b>2. CÂU CHUYỆN:</b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b>1) ĐỨC GIÊ-SU - “NƯỚC HẰNG SỐNG” MANG LẠI HẠNH PHÚC ĐỜI ĐỜI:</b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
Cách đây ít lâu, một số chị em người Bỉ khi suy niệm đoạn Tin mừng
này, đã cùng nhau lập một tu hội tên là “Ô Vi” (Eau Vive) dịch là
“Nước Hằng Sống”. Ngoài việc cầu nguyện trước Chúa Thánh Thần
mỗi ngày, chị em còn mở quán ăn phục vụ khách. Trong quán, các
chiêu đãi viên chính là các nữ tu. Châm ngôn của tu hội là “Phục
vụ Chúa trong các thực khách”. Mỗi buổi tối vào giờ đóng cửa,
chị em biến quán ăn trở thành nhà nguyện. Các thực khách được
mời ở lại tham dự giờ chia sẻ Lời Chúa. Mọi người sẽ được nghe
Lời Mặc Khải là Nước Hằng Sống như Đức Giê-su đã ban cho người
phụ nữ Sa-ma-ri xưa.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b>2) SỨC MẠNH LÔI CUỐN CỦA LÒNG BÁC ÁI ĐÍCH THỰC:</b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
Có một người đàn ông nọ mới xin theo đạo. Một hôm có người muốn
thử đức tin của ông ta liền lên tiếng hỏi: “Ông theo đạo Công giáo,
nhưng ông có biết Đức Giê-su là ai không?” Người tân tòng trả lời:
“Dĩ nhiên là tôi biết chứ”. Người kia hỏi tiếp: “Thế Đức Giê-su
sinh ra tại đâu ?” Người tân tòng im lặng không trả lời được. Người
kia hỏi tiếp: “Đức Giê-su chết năm bao nhiêu tuổi ?” Một lần nữa,
người tân tòng lại không thể trả lời. Người kia liền kết luận: “Ông
chẳng hiểu biết gì về đạo. Vậy tại sao ông lại theo đạo ?” Bấy
giờ người tân tòng mới nói: “Thú thật với ông: tôi biết rất ít
về giáo lý. Nhưng điều tôi biết rất rõ là: Cách đây hai năm, do nợ
ngân hàng không thanh toán được đúng hạn, nên gia đình tôi bị đuổi
ra khỏi nhà phải lang thang nay đây mai đó. Trong thời gian ấy, tôi
trở nên nghiện rượu và hay la mắng vợ con. Vợ tôi lúc nào cũng
buồn sầu khóc lóc. Các con tôi thì luôn sợ phải gặp thấy bộ mặt
ba của chúng. Nhưng sau đó một năm, tôi may mắn đã gặp được một linh
mục tốt bụng. Ông đã tận tình giúp đỡ gia đình tôi vượt qua khó
khăn: Ông giúp tôi có được việc làm ổn định, và giúp gia đình tôi
trở nên con cái Chúa, còn giúp tôi sống tiết độ hơn. Hiện nay tôi
đã lấy lại được căn nhà cũ. Vợ chồng tôi sống rất hòa hợp hạnh
phúc. Các con tôi đều khỏe mạnh, học hành tiến bộ và ngoan ngoãn
hiếu thảo. Tôi xác tín rằng: Chính Đức Giê-su đã biến đổi gia
đình tôi từ khi tôi gặp được Người qua con người của một vị linh mục
!”</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
Quả thật, đúng như lời Đức Giê-su đã phán trong Tin Mừng hôm nay: “Ai
uống nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên
đem lại sự sống đời đời” (Ga 4,14).</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b>3) LÒNG MẾN CHÚA PHẢI THỂ HIỆN QUA SỰ YÊU NGƯỜI:</b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
Vào một đêm trăng sáng, khi nhìn qua cửa sổ, vị tu sĩ già nhìn thấy một
thiên thần đang ngồi trên một tảng đá trong khu vườn phía sau tu viện. Thiên
thần cầm bút viết vào quyển sổ vàng để trước mặt. Lòng tràn ngập niềm vui,
vị tu sĩ tiến lại gần thiên thần và lên tiếng hỏi: “Ngài đang viết gì vào sổ
vàng thế ?” Thiên thần trả lời: “Ta đang ghi tên những tín hữu đủ điều kiện
để được lên thiên đàng”. Vừa hồi hộp và lo lắng, vị tu sĩ liền hỏi thiên
thần xem trong sổ vàng có tên của mình không ? Thiên thần liền lần giở từng
trang sách ra dò, nhưng tìm mãi mà vẫn không thấy tên của vị tu sĩ. Thiên
thần cho biết sở dĩ ông chưa được ghi tên vào sổ vàng, vì ông còn thiếu lòng
mến Chúa. Bấy giờ vị tu sĩ lên tiếng hỏi thiên thần: “Tuy tôi chưa mến Chúa
đủ, nhưng nếu tôi có tình thương tha nhân thì tôi có được ghi tên trong sổ
vàng không?”. Nghe vậy, thiên thần đã đồng ý. Thế là từ hôm đó, vị tu sĩ đã
nhiệt tình thực hành bác ái bằng việc hăng say phục vụ những người bệnh tật,
đui mù và nghèo khổ bất hạnh.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
Sau khi vị tu sĩ qua đời, anh em trong dòng đã tìm thấy cuốn nhật ký của vị
tu sĩ. Trong đó, ông đã viết ở trang đầu tiên như sau: ”Nếu ai nói mình yêu
mến Chúa mà lại ghét anh em mình thì đó là kẻ nói dối, vì kẻ không yêu mến
người anh em nó thấy đó, tất không thể yêu mến Thiên Chúa mà nó không thấy”
(1 Ga 4,20). Tiếp theo là lời tâm tình của vị tu sĩ: ”Lúc đầu tôi đi tìm
Thiên Chúa, nhưng tôi chẳng thể gặp được vì Ngài là Đấng thiêng liêng; tiếp
đến, tôi đi tìm linh hồn tôi, nhưng tôi không tìm được, vì linh hồn có đặc
tính vô hình; Rồi sau cùng, khi tôi quyết tâm tìm kiếm tha nhân và yêu
thương họ, bằng việc chia sẻ và âm thầm phục vụ họ như phục vụ Chúa, thì tôi
đã gặp cả Thiên Chúa và linh hồn mình” (Trích “Mỗi ngày một tin vui”).</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b>4) LÒNG THAM SẼ DẪN NGƯỜI TA LẠC XA CHÚA LÀ HẠNH PHÚC ĐÍCH THỰC:</b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
Có một anh thợ đào vàng mới chết và đến cổng Thiên Đàng xin thánh Phê-rô mở
cửa cho vào. Thánh nhân hỏi: “Ở trần gian anh làm nghề gì?” Anh thưa: “Con
làm thợ đào vàng”.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
Thánh Phê-rô liền nói: “Trên thiên đàng hiện đã có quá nhiều thợ đào vàng
rồi”. Nhưng anh ta vẫn nài nỉ: “Xin ngài cứ cho con vô, để con sẽ cầm đầu
bọn nó, không để chúng do lòng tham mà tranh giành nhau làm mất an toàn trật
tự trên thiên đàng”.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
Sau đó anh chàng đã được thánh Phê-rô cho vào thiên đàng. Trước tiên anh ta
đi tham quan một vòng quanh thiên đàng và đã gặp nhiều bạn bè đào vàng trước
kia. Bấy giờ anh liền rỉ tai một người bạn và nói như sau: “Tớ nghe đồn là
dưới hoả ngục có một mỏ vàng cực lớn. Chú mày hãy mau đi rủ bạn bè xuống
dưới đó mà đào”. Thế là chỉ sau một thời gian ngắn, các tay thợ đào vàng
liền bỏ thiên đàng, mang theo cuốc xẻng nhảy xuống hoả ngục đi tìm vàng.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
Còn lại một mình, anh thợ đào vàng đứng ngồi không yên. Anh liền xin thánh
Phêrô cho xuống hoả ngục để xem tình hình ra sao. Biết đâu ở đó đã thực sự
có mỏ vàng thì sao? Vì anh thấy bọn bạn cũ của anh đã đi lâu rồi mà vẫn
không thấy quay lại” Thánh Phê-rô liền khuyên anh: “Con đừng ảo tưởng! Dưới
hỏa ngục làm sao có mỏ vàng được, trái lại, chỉ có đau khổ nước mắt và thói
ganh ghét xấu xa mà thôi. Nhưng anh chàng kia không nghe lời khuyên, cứ
quyết định leo rào ra ngoài để tìm đường đi xuống hỏa ngục.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
Than ôi! Thế là chính vì lòng tham không đáy mà cả bọn thợ đào vàng đều bị
mất hạnh phúc thiên đàng. Ngày nay trên trần gian, do lòng tham không đáy,
mà nhiều người cũng hứa sẽ sẵn sàng hy sinh hạnh phúc riêng mình để chạy
theo lòng tham vàng bạc vật chất, nhắm mắt phạm các tội ác nghiêm trọng như:
cướp của, giết người… để rồi phải vào tù chịu hình phạt đau khổ đời này và
còn chịu bất hạnh hỏa ngục đời sau.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b>3. SUY NIỆM:</b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b>1) ĐỨC GIÊ-SU LÀ “NƯỚC HẰNG SỐNG” CỦA NHÂN LOẠI:</b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
Tin Mừng CN hôm nay tường thuật cuộc đối thoại tại bờ giếng Gia-cóp,
giữa Đức Giê-su với người phụ nữ Sa-ma-ri đại diện cho dân ngoại. Qua
đó, Người đã từng bước mặc khải cho chị ta về ơn cứu độ. Đức Giê-su đã
chủ động xin chị ta nước uống vật chất, để sau đó hứa ban cho chị
“Nước Hằng Sống”. Tiến trình đức tin nơi chị phụ nữ Sa-ma-ri trong Tin
Mừng như sau:</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
- Đầu tiên Đức Giê-su đi bước trước mở lời: “Cho tôi chút nước uống” (c.
7). Xin nước không phải cần nước uống, nhưng nhằm bắc một nhịp cầu vượt
qua hố ngăn cách giữa hai dân tộc Do thái và Sa-ma-ri. Tuy cùng là con
cháu của tổ phụ Gia-cóp, nhưng do hoàn cảnh lịch sử đã phân thành hai dân
tộc nghi kỵ nhau và không giao tiếp với nhau, như lời chị phụ nữ Sa-ma-ri
nói với Đức Giê-su: “Ông là người Do thái mà lại xin tôi, một phụ nữ
Sa-ma-ri cho ông nước uống hay sao ?” (c. 9). Sau đó, từ nước giếng vật
chất, Đức Giê-su đã từng bước mặc khải cho chị ta về “Nước Hằng Sống”
(c. 10).</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
- Chính do hiểu lầm hiềm khích mà hai dân tộc Do thái và Sa-ma-ri đã chia
rẽ nhau về đức tin: Người Do thái chỉ thờ Đức Chúa tại Đền Thánh
Giê-ru-sa-lem, đang khi người Sa-ma-ri lại muốn phải thờ Đức Chúa tại
núi Ga-ri-dim! Còn theo Đức Giê-su: Người ta không được giới hạn Thiên
Chúa tại đền thờ vật chất tại Giê-ru-sa-lem hay trên núi Ga-ri-dim. Thiên
Chúa là Đấng vô hình như “Gió” và “Thần Khí”, sự thờ phượng đúng đắn
nhất là phải thờ Thiên Chúa trong “Thần Khí” và “Sự Thật” (c. 20-24).</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b>2) PHẢI THỜ CHÚA TRONG THẦN KHÍ VÀ SỰ THẬT:</b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
Đức Giê-su dạy phải thờ phượng Thiên Chúa như sau: “Nhưng giờ đã đến, và
chính lúc này đây, giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa
Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng
Người như thế” (Ga 4, 23).</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b><i>- Phải thờ Thiên Chúa trong Thần Khí:</i></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
Ðức Giê-su nói: “Thiên Chúa là Thần Khí, và những kẻ thờ phượng Ngài phải
thờ phượng trong Thần Khí và Sự Thật”. Ngày nay nhiều người cũng đồng quan
điểm khi chủ trương: “Đạo tại tâm”. Thánh Phao-lô cũng nói: “Nào anh em
chẳng biết rằng anh em là Ðền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa
ngự trong anh em sao” (1 Cr 3,17). Mỗi người tín hữu chúng ta hôm nay cũng
cần xin ơn Chúa Thánh Thần giúp ta thực thi đức tin bằng đức cậy tức là cầu
nguyện dâng lễ; và bằng đức mến là phục vụ tha nhân. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b><i>- Phải thờ Thiên Chúa trong Sự Thật:</i></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
Sự thật là chính Đức Giê-su như Người đã tuyên bố: “Thầy là con đường, là sự
thật và là sự sống” (Ga 14,6). Ma quỷ là cha của sự dối trá và các môn đệ
của Đức Giê-su phải tránh dối trá như các đầu mục dân Do thái đã bị Đức
Giê-su quở trách: “Cha các ông là ma quỷ, và các ông muốn làm những gì cha
các ông ham thích. Ngay từ đầu, nó đã là tên sát nhân. Nó đã không đứng về
phía sự thật, vì sự thật không ở trong nó. Khi nó nói dối là nó nói theo bản
tính của nó, bởi vì nó là kẻ nói dối, và là cha sự gian dối” (Ga 8,44). Còn
Thiên Chúa của chúng ta thờ là Thiên Chúa của sự thật, vì thế, những kẻ gian
dối, sẽ không thể gặp được Ngài là Sự Thật. Do đó mỗi người chúng ta cần có
một lương tâm ngay thẳng: “có thì nói có, không thì nói không” (Mt 5,36),
không quanh co, lươn lẹo, gian dối, nói một đàng làm một nẻo… thì mới có thể
gặp gỡ Ngài.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b>3) SỨ MẠNG TRỞ THÀNH MẠCH “NƯỚC HẰNG SỐNG” CHO THA NHÂN:</b></p>
<p style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm; background: white">
Trong Tin Mừng hôm nay Đức Giê-su nói về sứ vụ của người tín hữu như sau:
“Ai uống nước này, sẽ lại khát.<b> </b>Ai uống nước tôi cho, sẽ
không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy
một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời”? (Ga 4,13-14). Cũng
như ông Phi-lip-phê sau khi đã gặp và tin Đức Giê-su, liền đi tìm bạn mình
là Na-tha-na-en để chia sẻ niềm tin (x. Ga 1,45); Ma-ri-a Mađalêna sau khi
gặp Chúa Phục Sinh cũng vội vã đi tìm các môn đệ và loan báo Tin vui đã gặp
Chúa Phục Sinh (x. Ga 20,18); Người phụ nữ Samaria trong Tin Mừng hôm nay
sau khi gặp gỡ và tin Đức Giê-su, cũng đã chạy vội về làng loan báo cho mọi
người: “Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm.
Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao?” (Ga 4,29). Mọi người nghe lời chị kéo
nhau đến gặp Đức Giê-su và mời Người vào ở trọ trong làng của họ. Sau khi
nghe giảng và tin Người là Đấng Thiên Sai, họ đã khẳng định niềm tin qua câu
nói: “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng
tôi đã nghe và biết Người thật là Đấng cứu độ trần gian” (Ga 4,42).</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm; background: white">
<b><span style="background: white">4) LÀM GÌ ĐỂ SỐNG VÀ TRUYỀN BÁ ĐỨC TIN
TRONG THẾ GIỚI HÔM NAY ?:</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
- <b><i>Trong những ngày Mùa Chay này,</i></b> <b><i>chúng ta cần dành</i></b> <b><i>nhiều
thời gian để đến gặp gỡ Chúa Giê-su </i></b>trong thánh lễ, qua các
buổi tĩnh tâm Mùa Chay, các giờ kinh tối gia đình… Nhờ đó chúng ta
sẽ có một nguồn suối làm thỏa mãn cơn khát nội tâm, và làm cho
lòng chúng ta trở thành một mạch nước mới dẫn đến ơn cứu độ. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b><i>- Cần hãm mình ăn chay để có điều kiện làm nhiều việc bác ái yêu
thương như phương thế truyền giáo hữu hiệu trong hoàn cảnh xã hội hôm nay:</i></b> <span style="background: white">Đức
Thánh Cha Phao-lô VI đã khẳng định: “Trong thế giới hôm nay người ta cần
những chứng nhân hơn là thầy dạy và nếu họ có nghe thầy dạy thì thầy dạy đó
cũng là chứng nhân”. </span>Câu chuyện sau đây chứng minh điều này: </p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
“Có một người đàn ông nọ mới theo đạo. Một hôm có người muốn thử
đức tin của ông liền hỏi: “Anh theo đạo nhưng có biết Đức Giê-su là
ai không ?” Người tân tòng trả lời: “Dĩ nhiên là biết chứ”. Người
kia hỏi tiếp: “Thế Đức Giê-su sinh ra tại đâu ?” Người tân tòng im
lặng không trả lời được. Người kia hỏi tiếp: “Thế Đức Giê-su chết
khi được bao nhiêu tuổi ?” Một lần nữa, người tân tòng lại không
biết. Người kia liền nói: “Anh chẳng biết gì về đạo. Vậy tại sao
anh lại theo đạo ?” Bấy giờ người tân tòng mới nói: “Thú thật với
anh: tôi biết rất ít về giáo lý. Nhưng điều tôi biết rất rõ là:
Cách đây hai năm, do nợ ngân hàng mất khả năng chi trả, nên gia đình tôi
lâm vào hoàn cảnh khốn cùng bị đuổi ra khỏi nhà để sống lang thang nay
đây mai đó. Trong thời gian ấy, tôi buồn chán đi uống rượu và trở thành
một kẻ luôn say xỉn và khi về đến nhà là lại la mắng vợ con. Vợ tôi lúc
nào cũng buồn rầu khóc lóc. Các con tôi thì luôn sợ phải nhìn
thấy mặt ba của chúng. Nhưng sau đó. tôi rất may đã gặp được một
linh mục tốt bụng. Ông đã tận tình giúp đỡ gia đình tôi vượt qua
cơn khó khăn: Ông giúp tôi có được một công việc thu nhập ổn định,
và giúp gia đình tôi trở thành con Thiên Chúa. Ông còn giúp bản thân
tôi trở thành một con người sống tiết độ và có trách nhiệm hơn đối với
gia đình của mình. Hiện nay tôi đã đòi lại được căn nhà cũ trước kia.
Vợ chồng tôi sống với nhau rất hòa hợp hạnh phúc. Các con tôi đều
khỏe mạnh, học hành tiến bộ và luôn ngoan ngoãn hiếu thảo. Tôi
xác tín rằng: <b><i>“Chính Đức Giê-su đã biến đổi gia đình tôi từ
khi tôi gặp được Người qua trung gian một vị linh mục </i>!”</b> Quả
thật đúng như lời Đức Giê-su đã phán trong Tin Mừng hôm nay: “Ai uống
nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên đem
lại sự sống đời đời” (Ga 4,14b).</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b>4. THẢO LUẬN: Bạn sẽ làm gì để đức tin vào Đức Giê-su trở thành nguồn
Nước Hằng Sống cho bạn bè và người thân ?</b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b>5. NGUYỆN CẦU:</b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin hãy biến đổi chúng con trong Mùa Chay này. Xin
cho chúng con gặp được Chúa trong thánh lễ, những buổi tĩnh tâm và
qua những người nghèo khó … Xin cho chúng con được uống Nước Hằng
Sống là Lời Chúa. Nhờ đó, cuộc đời của chúng con sẽ vui tươi hạnh
phúc hơn. Xin cho chúng con quảng đại tha thứ, quên mình phục vụ và
luôn đi bước trước đến với tha nhân, như Chúa đã đi bước trước bắt
chuyện với người phụ nữ Sa-ma-ri trong Tin Mừng hôm nay.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.</p>
<p class="MsoNormal" align="right" style="text-align: right; text-indent: 48px; margin: 14.4pt 0cm">
<b>LM ĐAN VINH - HHTM</b></td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center"> <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a> <a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/SuyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a> </td></tr></table><p style="text-align: center"> </p>