File "17.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2023/Chua-Hien-Linh/17.htm
File size: 28.72 KiB (29410 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật : Chúa Hiển Linh</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật : Chúa Hiển Linh"><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
	{color:blue;
	text-decoration:underline;
	text-underline:single;
	text-decoration:none underline;
	text-line-through:none;
	vertical-align:baseline}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật : Chúa Hiển Linh">
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body>
<table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460">
	<font size="2" color="#FF0000" face="Arial">Chúa Nhật : Chúa Hiển Linh</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
	<b>NƠI VUA RA ĐỜI (Mt 2, 1-2)</b></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
	<a name="_Toc281333873"><span style="font-size: 8pt; font-style:italic">Chú giải mục vụ 
	của William Barclay</span></a></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Đây là một thị trấn cách Giêrusalem mười cây 
	số về phía nam. Thời xưa nó còn được gọi là Êprát hoặc Éprata. Tên “Bêlem” 
	có nghĩa là “nhà bánh”. Bêlem nằm ở một vùng quê mầu mỡ nên tên đó rất xứng 
	hợp, nó đứng trên ngọn đồi đá vôi cao hơn, có hai đỉnh hai bên, ở giữa lõm 
	xuống như yên ngựa. Từ vị trí đó Bêlem trông như một thị trấn đặt giữa một 
	đại hí trường do những núi đồi tạo dáng.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Bêlem có một lịch sử lâu đời, đó là nơi 
	Giacóp chôn cất Rakhen, vợ ông, và dựng một bia tưởng niệm bên mộ (St 48,7; 
	35,20). Đó cũng là nơi Rút đã sống và gặp Bôô (R 1,22) và từ Bêlem, Rút có 
	thể thấy vùng đất Môáp, quê hương mình, ở bên kia sông Giođan. Nhưng trên 
	hết, Bêlem là nhà và thành của Đavít (1Sm 16,1; 17,12; 20,6), chính Đavít đã 
	thèm khát được uống nước tại giếng của Bêlem khi ông còn lưu lạc trốn tránh 
	trên các núi (2Sm 23,14.15)</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Trong những ngày sau đó, ta đọc thấy 
	Rơkhápam xây đắp thành lũy cho Bêlem (2Sb 11,6). Nhưng trong sử của Israel 
	và trong tâm trí của dân chúng, Bêlem là thành của vua Đavít. Chính từ dòng 
	dõi nhà Đavít mà Thiên Chúa ban Đấng Cứu Độ uy hùng đến với dân Ngài như 
	tiên tri Mikha đã nói: “Hỡi Bêlem, Éprata, ngươi nhỏ nhất trong đất Giuđa, 
	song từ nơi ngươi sẽ xuất hiện cho ta một Đấng cai trị trong Israel, gốc 
	tích của Ngài là bởi từ đời xưa, từ trước vô cùng” (Mk 5,1).</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Tại Bêlem, thành Đavít, người Do Thái đã 
	trông đợi dòng dõi vua Đavít sinh ra và cũng tại đó họ trông đợi Đấng được 
	xức dầu của Thiên Chúa đến trong thế gian, và thật, Đấng đó đã đến.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Bức tranh của chuồng bò và máng cỏ, nơi Chúa 
	Giêsu hạ sinh là bức tranh được ghi khắc sâu đậm trong tâm trí chúng ta, dù 
	có thể bức tranh không hoàn toàn chính xác. Justin Martyr, một trong các 
	giáo phụ đầu tiên sống khoảng năm 150 SCN, xuất thân từ một vùng gần Bêlem 
	cho chúng ta biết Chúa Giêsu đã sinh ra trong một hang đá gần làng Bêlem 
	(Justin Martyr: Đối thoại với Trypho 78, 304) và điều này có thể đúng. Nhà 
	cửa ở Bêlem được cất ở trên dốc núi đá vôi, họ cũng thường làm chuồng bò nơi 
	hang đá đẽo lõm vào trong ở phía dưới căn nhà. Rất có thể Chúa Giêsu đã 
	giáng sinh trong chuồng bò như vậy.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Ngày nay ở Bêlem vẫn còn một hang đá như thế 
	và được xem là nơi Chúa Giêsu giáng sinh. Tại đó Giáo Hội đã xây “Thánh 
	Đường Chúa Giáng Sinh”. Từ lâu hang đá đó được kể là nơi Chúa Giêsu giáng 
	sinh, vì thế vào đời hoàng đế Rôma Hadrian trị vì, ông ta cố ý làm mất tính 
	cách thiêng liêng của nơi đó bằng cách dựng nên một miếu thờ thần ngoại 
	Adonis trên đó. Khi cả đế quốc Rôma tin theo Kitô giáo vào đầu thế kỷ thứ 
	tư, hoàng đế Constantin đã xây cất một đền thờ. Bên dưới bàn thờ chính có 
	một đền thờ lớn vẫn còn đến ngày nay. H. V. Morton tả lại chuyến đi thăm 
	thánh đường Chúa Giáng Sinh tại Bêlem. Ông đến một bức tường lớn, ở đó có 
	một cửa rất thấp, đến nỗi một người lùn cũng phải khom lưng mới vào được. 
	Bên kia bức tường là đền thờ. Bên dưới bàn thờ chính có một hang đá. Khi 
	khách hành hương viếng nơi thánh vào hang đá sẽ thấy một cái động nhỏ, tối, 
	dài 14 thước và ngang 4 thước được thắp sáng bởi 53 ngọn đèn bằng bạc và 
	trên nền có một ngôi sao, chung quanh ngôi sao có bảng đề bằng tiếng Latinh 
	“Đây là nơi Chúa Giêsu sinh bởi trinh nữ Maria”. Khi Chúa vinh hiển nhập 
	thế, Ngài sinh ra trong một hang đá, nơi người ta dùng làm nơi nghỉ cho đàn 
	gia súc. Hang đá ấy nay được ở trong thánh đường Chúa Giáng Sinh tại Bêlem. 
	Có thể đúng là hang đá đó, cũng có thể không, không ai biết chắc. Nhưng có 
	một điều lý thú trong biểu tượng này là thánh đường xây trên hang đá có một 
	cái cửa rất thấp đến nỗi ai muốn vào phải cúi khom người xuống. Bất cứ ai 
	muốn đến cùng Hài Nhi Giêsu đều phải quỳ gối khiêm cung.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<b><span style="font-size: 14.0pt">LÒNG TÔN SÙNG TỪ PHƯƠNG ĐÔNG</span></b></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Khi Chúa Giêsu giáng sinh tại Bêlem, có mấy 
	nhà chiêm tinh từ phương Đông tìm đến tỏ lòng tôn kính Ngài. Danh hiệu của 
	những người này là Magi, một chữ rất khó dịch. Theo Herodotus (1,101,132), 
	Magi nguyên là một chi phái Mêđi. Người Mêđi là một phần dân thuộc đế quốc 
	Ba Tư. Họ cố gắng lật đổ người Ba Tư đem chính quyền về cho người Mêđi. Mưu 
	toan thất bại, từ đó người Magi từ bỏ mọi tham vọng về quyền hành hoặc uy 
	tín và trở nên chi phái tư tế. Các Magi đối với dân Ba Tư cũng giống như 
	người Lêvi đối với dân Israel vậy. Họ trở thành thầy dạy và giáo dục cho các 
	vua Ba Tư. Tại Ba Tư không được dâng lễ vật nếu không có một Magi hiện diện, 
	họ là người của sự thánh thiện và khôn ngoan. Những người Magi này rất giỏi 
	về triết học, y khoa và khoa học tự nhiên. Họ cũng là những thầy bói và 
	người giải mộng. Về sau, chữ Magi càng ngày càng mang nghĩa thấp kém hơn và 
	trở thành chữ thầy bói, phù thủy và lang băm, như Êlyma, thuật sĩ (Cv 
	13,6.8), Simon người được mệnh danh là thuật sĩ (Cv 8,9-11). Nhưng các Magi 
	không như vậy, họ là những bậc thánh, cũng là những nhà hiền triết đi tìm 
	chân lý.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Vào thời đó mọi người đều tin vào khoa chiêm 
	tinh. Họ tin rằng, dựa vào các vì sao họ có thể tiên đoán tương lai. Họ cũng 
	tin rằng số mệnh một người được an bài bởi ngôi sao đã xuất hiện lúc người 
	ấy sinh ra. Điều này cũng dễ hiểu, vì các ngôi sao đi theo một đường cố 
	định, chúng tượng trưng cho trật tự vũ trụ. Nếu thình lình có một vì sao 
	sáng xuất hiện, nếu trật tự của tầng trời dao động bởi một hiện tượng đặc 
	biệt, thì dường như Thiên Chúa đang can thiệp vào chính trật tự của Ngài để 
	loan báo một sự việc đặc biệt nào đó.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Chúng ta không biết các Magi này đã thấy 
	ngôi sao sáng nào, có nhiều ý kiến về việc này. Chừng mười một năm trước 
	Công nguyên, sao chổi Halley xuất hiện sáng rực trên các tầng trời. Đến 
	khoảng năm 7 trước Công nguyên, Mộc Tinh và Thổ Tinh xáp lại tạo nên ánh 
	sáng chói lọi. Năm 5 tới năm 2 trước Công nguyên, cũng có những hiện tượng 
	thiên văn kỳ lạ. Trong những năm này vào ngày đầu tiên của tháng Mesori Ai 
	Cập, ngôi sao Sirius gọi là Thiên Lang (sao chó) hiện ra, sáng chói rực rỡ 
	lạ thường lúc mặt trời mọc. Ngày nay tên Mesori có nghĩa là “sự ra đời của 
	một vương tử”. Đối với các nhà chiêm tinh xưa, một ngôi sao như thế chắc hàm 
	ý sự ra đời của một đại vương. Chúng ta không biết các Magi đã thấy ngôi sao 
	nào, nhưng họ chuyên xem sao nên ánh sáng lạ xuất hiện trên trời báo cho họ 
	biết một vị vua đã đến thế gian.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Đối với chúng ta, dường như việc những người 
	này từ phương Đông lên đường đi tìm vua là một việc khác thường. Nhưng thật 
	lạ lùng ngay lúc Chúa Giêsu giáng sinh, trong thế giới bấy giờ cũng có sự 
	ngưỡng vọng kỳ lạ về một vị vua sẽ đến. Ngay các sử gia Rôma cũng biết rõ 
	điều này, sau đó không lâu, nhằm thời hoàng đế Vespasian, sử gia Suetonius 
	đã viết: “Khắp phương Đông có một niềm tin là vào thời đó nhất định có người 
	từ Giuđa đến cai trị thế giới” (Suetonius, Đời sống Vespasian 4,5). Sử gia 
	Tacitus cũng nói đến niềm tin đó: “Có một xác tín rằng trong chính thời gian 
	này phương Đông trở nên hùng mạnh và những người cai trị đến từ Giuđê sẽ 
	chiếm được đế quốc toàn cầu” (Tacitus, Biên niên sử 5,13). Người Do Thái 
	cũng tin: “Vào khoảng thời gian đó, một người trong xứ họ sẽ trở thành vua 
	của mọi dân trên mặt đất” (Josephus, Những Cuộc Chiến Tranh của người Do 
	Thái 6,5). Sau đó không lâu, chúng ta thấy Tiridates, vua xứ Ácmêni, đi thăm 
	hoàng đế Nêrô tại Rôma có đem Magi theo (Suetonius, Đời sống Nêrô 13,1). 
	Chúng ta thấy các Magi tại Athène dâng lễ vật cho nhà hiền triết Plato 
	(Seneca, Các Thư Tín 58,31). Hầu như cùng lúc Chúa Giêsu giáng sinh, chúng 
	ta thấy hoàng đế Augustus của đế quốc Rôma được chúc tụng như là vị cứu tinh 
	của thế giới, và thi hào Virgil của Rôma, sáng tác Bài Hát Đối Thứ Tư, được 
	mệnh danh là bài hát đối về Đấng Cứu Thế, ca tụng thời hoàng kim sắp đến. 
	Chúng ta không nên nghĩ rằng câu chuyện các Magi tìm đến máng cỏ chỉ là một 
	huyền thoại dễ thương, nhưng chính đó là một biến cố đã xảy ra trong thế 
	giới cổ. Khi Chúa Giêsu đến thì thế gian đang tha thiết trông đợi. Loài 
	người thật đang trông chờ Thiên Chúa. Sự khao khát nung nấu lòng người. Họ 
	đã nhận biết mình không thể tạo được thời đại hoàng kim nếu không có Thiên 
	Chúa. Chúa Giêsu đã ngự đến với một thế gian đang khắc khoải đợi mong và khi 
	Ngài đến, con người từ những phương trời xa xôi nhất đã tề tựu quanh nôi 
	Ngài. Đó là dấu hiệu và biểu tượng đầu tiên Chúa Giêsu chinh phục thế giới.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<b><span style="font-size: 14.0pt">NHÀ VUA XẢO QUYỆT (Mt 2, 3-9)</span></b></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Vua Hêrôđê nghe tin các nhà chiêm tinh từ 
	phương Đông đến và họ đang tìm kiếm một con trẻ mới sinh ra làm vua người Do 
	Thái. Vua nào mà chẳng lo lắng khi nghe báo cáo có một hài nhi sinh ra để 
	chiếm ngôi mình. Nhưng Hêrôđê lại còn lo lắng gấp bội.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Hêrôđê nửa là Do Thái, nửa là Êđôm, trong 
	huyết quản của nhà vua có dòng máu Êđôm. Vua là một lợi khí đắc lực cho 
	người Rôma trong những cuộc chiến tranh và nội chiến ở Palestin, được người 
	Rôma tin dùng. Hêrôđê được chỉ định làm tổng đốc năm 47 TCN. Năm 40 TCN, 
	Hêrôđê được phong làm vua và cai trị đến năm 4 TCN. Ông nắm quyền khá lâu và 
	được gọi là Hêrôđê đại đế và rất xứng đáng với danh hiệu ấy. Ông là người 
	duy nhất ở Palestin đã thành công trong việc trị an và đem lại trật tự cho 
	một xứ hỗn loạn. Ông là nhà kiến trúc đại tài, chính ông đã xây đền thờ 
	Giêrusalem. Có thể ông cũng là một người rộng lượng. Trong thời khó khăn, 
	ông miễn thuế cho dân và trong cơn đói kém năm 25 TCN, ông đã cho nấu chảy 
	cái đĩa vàng lớn của mình để mua ngũ cốc phát cho dân đói khổ. Nhưng Hêrôđê 
	có một cá tính kinh khủng, ông đa nghi một cách điên khùng, ông là người 
	luôn luôn ngờ vực, càng về già ông càng đa nghi đến độ có kẻ đã gọi ông là 
	“già sát nhân”. Ông nghi ai là đối thủ tranh chấp quyền hành thì người ấy bị 
	loại trừ ngay. Ông đã giết vợ là Mariamne cùng mẹ nàng là Alexandra. Con cả 
	là Antipater và hai con trai khác là Alexander Aristobulus cũng bị ông sát 
	hại. Hoàng đế Rôma là Augustus đã cay đắng nói rằng: “Làm con heo của Hêrôđê 
	còn an toàn hơn làm con trai ông ta” (câu nói bằng tiếng Hy Lạp dí dỏm hơn, 
	vì tiếng Hy Lạp hus là con heo và huios là con trai). Bản chất man rợ cay 
	đắng và cong quẹo của Hêrôđê được thấy rõ hơn trong những chuẩn bị của ông 
	trước khi qua đời. Khi được bảy mươi tuổi biết mình sắp chết, ông rút về 
	thành Giêrikhô, thành xinh đẹp nhất của ông, rồi truyền lệnh bắt một số 
	người nổi danh nhất trong thành Giêrusalem, bịa đặt tội trạng và hạ ngục. 
	Ông truyền lệnh phải giết hết những người ấy khi ông lâm chung. Ông nói cách 
	tàn nhẫn rằng vì ông biết khi ông chết chẳng ai thèm than khóc, nên nhất 
	định phải làm sao cho có nước mắt đổ ra lúc ông chết. Rõ ràng một người như 
	thế sẽ cảm thấy thế nào khi hay tin một hài nhi sinh ra để làm vua. Ông bối 
	rối và cả thành Giêrusalem cũng xôn xao dao động, vì Giêrusalem thừa biết 
	những bước mà Hêrôđê sẽ thực hiện để chận đứng câu chuyện và loại trừ hài 
	nhi ấy. Giêrusalem biết rõ Hêrôđê và Giêrusalem rùng mình chờ đợi phản ứng 
	không tránh được của Hêrôđê.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Hêrôđê triệu tập các thầy cả thượng phẩm và 
	các Kinh sư. Các Kinh sư là những người thông thạo về kinh điển và luật. Các 
	thầy cả gồm hai hạng người. Một là những thầy cựu thượng phẩm. Chức thầy cả 
	thượng phẩm được giới hạn trong một vài gia đình. Hai là dòng tư tế quý 
	phái, thành viên của những gia đình tuyển lựa này được gọi là các thầy cả 
	thượng phẩm. Hêrôđê triệu tập giới quý tộc tôn giáo cùng các học giả thời 
	bấy giờ mà hỏi họ theo lời Kinh Thánh Đấng được xức dầu của Thiên Chúa phải 
	sinh tại đâu. Họ trưng dẫn Mk 5,1 cho vua. Hêrôđê cho vời các nhà chiêm tinh 
	đến, nhờ họ đi điều tra kỹ lưỡng về con trẻ mới sinh ra và nói rằng ông cũng 
	muốn đến để tôn kính Hài Nhi, nhưng thật sự ước ao duy nhất của lòng ông là 
	thủ tiêu ngay Hài Nhi đó.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Ngay khi Chúa Giêsu mới giáng sinh thì đã có 
	ba nhóm người tiêu biểu cho ba thái độ chung cho cả nhân loại đối với Chúa 
	Giêsu trong suốt lịch sử, ba thái độ đó là:</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">(1) Phản ứng của vua Hêrôđê: ganh ghét và 
	thù địch. Hêrôđê sợ Hài Nhi sẽ can thiệp vào đời sống của kinh đô, vào quyền 
	thế và ảnh hưởng của mình. Bởi vậy, thôi thúc đầu tiên trong ông là giết 
	Ngài. Ngày nay cũng vậy vẫn còn nhiều người vui mừng tiêu diệt Chúa Giêsu, 
	vì họ chỉ thấy Ngài là người xen vào đời sống họ, không cho họ làm theo điều 
	mình thích nên họ muốn giết Ngài. Người nào chỉ ước ao làm theo ý thích của 
	riêng mình thì không bao giờ cần Chúa Giêsu. Kitô hữu là người không làm 
	theo ý mình nhưng phó dâng đời sống để làm điều Chúa Giêsu ưa thích.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">(2) Phản ứng của các tư tế và các Kinh sư: 
	hoàn toàn dửng dưng, đối với họ chẳng có chuyện gì thay đổi. Họ chỉ quan tâm 
	đến lễ nghi tế tự trong đền thờ và những thảo luận về luật, đến nỗi họ hoàn 
	toàn không để ý gì đến Chúa Giêsu. Ngài chẳng có nghĩa gì đối với họ. Ngày 
	nay vẫn còn những người chỉ quan tâm đến việc riêng mình đến nỗi Chúa Giêsu 
	trở thành vô nghĩa. Câu hỏi đau thương qua đấng ngôn sứ vẫn còn được nhắc 
	lại “Hỡi mọi người đi qua, há chẳng lấy làm quan hệ sao?” (Ac 1,12)</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">(3) Phản ứng của các nhà chiêm tinh: Với 
	thái độ thành tâm thờ phượng, họ ao ước được đặt nơi chân Chúa Giêsu những 
	tặng vật cao quý nhất. Khi một người đã nhận ra tình yêu bao la của Thiên 
	Chúa trong Chúa Giêsu thì chắc phải đắm chìm trong sự kinh ngạc, kính mến và 
	ca ngợi Ngài.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<b><span style="font-size: 14.0pt">LỄ VẬT DÂNG CHÚA GIÊSU (Mt 2, 10-12)</span></b></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Theo ánh sao, các nhà chiêm tinh lại tìm 
	được đường đến Bêlem.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Có một huyền thoại dễ thương kể lại khi ngôi 
	sao ấy đã hoàn thành chức năng dẫn đường, thì rơi xuống một cái giếng tại 
	Bêlem, ngôi sao vẫn còn đó và đôi khi những người có lòng trong sạch vẫn còn 
	thấy nó.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Những huyền thoại về sau cũng thường rất bận 
	tâm về các nhà chiêm tinh. Truyền thuyết phương Đông đầu tiên nói có 12 vị. 
	Nhưng ngày nay hầu như ba vị là truyền thuyết phổ thông nhất. Tân Ước không 
	nói rõ có ba vị, nhưng ý đó hẳn là do ba lễ vật của họ. Các huyền thoại về 
	sau tôn họ là những vị vua, lại còn xưng danh họ là Gaspar, Melchior và 
	Balthasar. Huyền thoại về sau nữa mô tả hình dạng cá nhân và phân biệt lễ 
	vật của mỗi người dâng lên cho chính Chúa Giêsu. Melchior là ông già tóc hoa 
	râm, có bộ râu dài là người đã dâng vàng. Gaspar còn trẻ không râu, mặt đỏ 
	đã dâng nhũ hương. Balthasar da đen, mới để râu, là người đã dâng mộc dược. 
	Ngay từ những ngày đầu người ta đã thấy mỗi lễ vật các nhà chiêm tinh dâng 
	lên đều tương ứng với đặc điểm của Chúa Giêsu và công việc của Ngài.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">(1) Vàng là lễ vật dâng cho vua. Seneca cho 
	chúng ta biết chẳng ai được vào chầu vua mà không có lễ vật. Vàng, vua của 
	mọi kim loại xứng hợp với lễ vật con người dâng cho vua. Cũng vậy, Chúa 
	Giêsu là Đấng “Sinh ra để làm Vua”. Nhưng Ngài không cai trị bằng vũ lực, mà 
	bằng tình yêu, và Ngài cai quản lòng người không từ ngai vàng mà từ thập 
	giá.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Chúng ta phải nhớ rằng Chúa Giêsu là Vua. 
	Chúng ta không thể gặp Ngài bằng vai ngang hàng, nhưng phải gặp Ngài với 
	thái độ vâng phục trọn vẹn. Nelson, vị đô đốc lừng danh bao giờ cũng đãi ngộ 
	kẻ thù chiến bại của mình cách nhân từ và lễ độ. Sau một trận thủy chiến đắc 
	thắng, vị đô đốc bại trận được đưa lên soái hạm của Nelson, vào sàn lái của 
	tàu Nelson. Biết Nelson nổi tiếng về phép lịch sự, suy nghĩ có thể lợi dụng 
	điều đó, vị đô đốc bại trận tiến ngang qua sàn lái, bàn tay chìa ra như tiến 
	lên bắt tay với người ngang hàng. Nhưng tay Nelson vẫn giữ ở bên mình. Ông 
	bảo: “Ngài hãy nạp gươm trước, sau đó hãy đưa tay”. Trước khi kết thân với 
	Chúa Giêsu, chúng ta phải quy phục Ngài.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">(2) Nhũ hương là lễ vật cho thầy tế lễ. 
	Trong việc thờ phượng nơi đền thờ và trong việc dâng lễ vật, người ta thường 
	xông một hương liệu là nhũ hương có mùi thơm dịu. Chức vụ của thầy tế lễ là 
	mở đường cho loài người đến với Thiên Chúa. Tiếng Latinh, chữ thầy tế lễ là 
	‘pontifex’ có nghĩa ‘người bắc cầu’. Thầy tế lễ là người bắc cầu giữa loài 
	người và Thiên Chúa, đó là điều Chúa Giêsu làm, Ngài làm cho loài người có 
	thể đến được với Thiên Chúa.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">(3) Mộc dược là lễ vật cho người phải chết. 
	Mộc dược là hương liệu để xông xác người chết. Holman Hunt có một bức tranh 
	nổi tiếng về Chúa Giêsu. Bức tranh mô tả Chúa Giêsu tại trước cửa xưởng thợ 
	mộc ở Nagiarét, Ngài vẫn còn thanh niên. Nắng chiều còn trên hiên cửa, thanh 
	niên Giêsu đứng đó, duỗi tay và vươn vai vì tứ chi mệt mỏi sau một ngày lao 
	động. Người đứng đó với cánh tay giơ ra, phía sau, mặt trời sắp lặn in bóng 
	Ngài trên tường. Bóng đó là hình thập giá. Đằng sau, bà Maria đang đứng, đôi 
	mắt hiện rõ nét lo âu về thảm kịch sẽ xảy đến cho con mình khi bà thấy bóng 
	thập giá. Chúa Giêsu đã đến trong thế gian để sống cho loài người và cuối 
	cùng để chết cho loài người. Ngài đến để ban cho loài người sự sống và sự 
	chết của Ngài.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Vàng là để tặng vua, nhũ hương tặng thầy tế 
	lễ, mộc dược dành cho Đấng phải chịu chết. Đấy là những lễ vật của các nhà 
	chiêm tinh dâng ngay trước nôi của Chúa Giêsu. Những lễ vật đó có ý nghĩa 
	Ngài là Vua chân thật, thầy tế lễ trọn vẹn và sau hết Ngài là Chúa Cứu Thế 
	cao cả của loài người.</span></p>
	</td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/suyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">&nbsp;</p>

PHP File Manager