File "03.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2022/Thuong-nien/CN XXIV TN C/03.htm
File size: 44.85 KiB (45930 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa-Nhật-XXIV-thường-niên-Năm-C</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Lòng-Chúa-xót-thương; Người-Cha; Niềm-vui-san-sẻ; Cây-táo; Miếng-vài-trằng; Quan-trọng; Lạc-mất; Tha-thứ; Thương-xót; thương-người; Nhân-hậu;"><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
	{color:blue;
	text-decoration:underline;
	text-underline:single;
	text-decoration:none underline;
	text-line-through:none;
	vertical-align:baseline}
span.st
	{}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa-Nhật-XXIV-thường-niên-Năm-C">
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460">
	<font size="2" color="#FF0000">Chúa Nhật XXIV thường niên&nbsp; - Năm C</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
		THIÊN CHÚA THƯƠNG XÓT VÀ THA THỨ</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
		<i><span style="font-size: 8pt">Lm Giuse Đinh lập Liễm</span></i></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">A. 
		DẪN NHẬP.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Chủ đề của ba bài đọc hôm nay là Thiên Chúa thương xót những 
		người tội lỗi. Trong bài đọc 1, chúng ta thấy ngay sau khi dân Do thái 
		ký Giao ước với Thiên Chúa đã quay ra phản bội, họ đã bỏ Chúa mà đi tìm 
		một thần tượng khác làm hộ mạng, tức là thờ lạy con bê vàng. Thiên Chúa 
		nổi cơn thịnh nộ định tiêu diệt dân này để lậïp một dân lớn hơn, trung 
		thành hơn, nhưng nhờ lời cầu xin của ông Maisen, Thiên Chúa đã nguôi 
		giận và tha tội cho dân. Thực ra, sứ điệp mà Thiên Chúa muốn gửi đến cho 
		chúng ta qua bài đọc 1 này là Thiên Chúa rộng lòng thương xót sẵn lòng 
		tha thứ cho những kẻ tội lỗi.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Lòng thương xót và tha thứ của Thiên Chúa được thể hiện một 
		cách cụ thể trong Đức Giêsu Kitô. Sự kiện Đức Giêsu đã đón tiếp và cùng 
		ăn với những người tội lỗi làm cho những người biệt phái phẫn nộ. Họ là 
		những người “<i>biệt phái</i>” tránh né mọi tiếp xúc với những người tội 
		lỗi. Họ cho rằng những kẻ tội lỗi là những đồ bỏ đi. Phản ứng lại những 
		lời chỉ trích của nhóm họ, Đức Giêsu đã chỉ ra cho họ một Thiên Chúa 
		giầu lòng thương xót, chậm bất bình và hết sức khoan dung, Ngài sẵn sàng 
		tha thứ cho mọi lỗi lầm của con người, bằng cách đưa ra ba dụ ngôn : con 
		chiên đi lạc, đồng tiền bị mất và đứa con hoang đàng. Cả ba dụ ngôn đều 
		nhấn mạnh đến việc Thiên Chúa quan tâm đến một người hư mất và niềm vui 
		của Ngài khi tìm lại được một người hư mất.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Theo gương Đức Giêsu, chúng ta phải thay đổi cách nhìn của 
		chúng ta đối với người tội lỗi. Họ không phải là những hạng người bỏ đi 
		như người biệt phái vẫn nghĩ thế; trái lại, họ là một con người, một con 
		người cao qúi trước mặt Chúa không thể để hư mất. Nếu họ hư đi thì phải 
		nỗ lực đi tìm kiếm như người chăn chiên bỏ 99 con mà đi tìm con chiên 
		lạc, đem về cùng chung vui vì một người&nbsp;&nbsp;tội lỗi đã trở lại.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">B. 
		TÌM HIỂU LỜI CHÚA.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<b><i>+&nbsp;&nbsp;<u>Bài đọc 1</u></i></b>&nbsp;:&nbsp;<i>Xh 32,7-11.13-14.&nbsp;</i></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Ngay sau khi Thiên Chúa ký Giao ước với dân&nbsp;Israel, họ đã vi 
		phạm Giao ước. Vì ông Maisen ở lâu trên núi, nên dân đâm ra sợ hãi và tự 
		tạo cho mình một thần tượng để hộ mạng. Đó là dân đã đúc con bê vàng và 
		thờ lạy trước tượng đó. Sự bất tín này làm Thiên Chúa nổi giận và muốn 
		tiêu diệt dân, đồng thời Ngài lại hứa với Maisen như xưa đã hứa với 
		Abraham là sẽ làm cho ông nên tổ phụ của một dân tộc lớn. Nhưng ông 
		Maisen đã khẩn khoản xin Chúa&nbsp;&nbsp;tha tội cho dân, và cuối cùng Thiên Chúa 
		nguôi giận không giữ ý định tiêu diệt&nbsp;Israel&nbsp;nữa.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Mặc dầu Thiên Chúa hứa tạo cho ông một dân tộc mới, ông đã 
		không lìa bỏ dân tộc mình, vẫn liên đới gắn bó với dân như trước. Chính 
		ông van xin Thiên Chúa tha thứ và được Ngài nhận lời vì Thiên Chúa kiên 
		nhẫn và trung tín.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<b><i>+&nbsp;&nbsp;<u>Bài đọc 2</u></i></b>&nbsp;:&nbsp;<i>1Tm 1,12-17.&nbsp;</i></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Trước khi nói cùng ông Timôthê yêu dấu, thánh Phaolô muốn nhắc 
		lại cách Thiên Chúa đối xử với loài người. Nếu không có điều ấy, ơn gọi 
		của chính ngài khó mà giải thích được : Thiên Chúa tha thứ.&nbsp;&nbsp;Ngài tạ ơn 
		Chúa vì lòng nhân từ&nbsp;&nbsp;thương xót của Chúa.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Trước kia, ngài là người bắt đạo và ngạo ngược nhưng đã được 
		Chúa xót thương. Sự trở lại của ngài là một thí dụ điển hình về ơn tha 
		thứ Thiên Chúa dành cho mọi người.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<b><i>+&nbsp;&nbsp;<u>Bài Tin mừng</u></i></b>&nbsp;:&nbsp;<i>Lc 15,1-32.</i>&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Thấy Đức Giêsu hay gần gũi với những người tội lỗi, nhóm biệt 
		phái và luật sĩ tỏ ra rất khó chịu, lẩm bẩm với Ngài. Nhân dịp này Đức 
		Giêsu đưa ra ba dụ ngôn nói lên lòng thương xót và tha thứ của Thiên 
		Chúa đối với tội nhân : con chiên bị lạc, đồng tiền bị mất và đứa con 
		hoang đàng. Tất cả đều nói lên Thiên Chúa là người Cha nhân hậu.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Để ý nhận xét, đồng tiền là một vật nhỏ nhất mà cũng mất công 
		tìm tòi kỹ lưỡng, điều này nói lên sự quan tâm rất mực của Thiên Chúa 
		đối với tội nhân. Dụ ngôn đứa con hoang đàng trở về càng làm nổi bật 
		lòng nhân hậu, thứ tha của Thiên Chúa, Ngài là người Cha không bao giờ 
		bỏ rơi con cái bạc bẽo. Chi tiết này càng làm cho người tội lỗi vững tâm 
		trở về cùng Chúa.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">C. 
		THỰC HÀNH LỜI CHÚA.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; 
		Tấm lòng nhân hậu của người Cha.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm"><b>
		<i>I. THIÊN CHÚA KÊU GỌI NGƯỜI TỘI LỖI&nbsp;</i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<b><i>1.&nbsp;<u>Hòan cảnh đưa đến dụ ngôn</u>.&nbsp;</i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Đối với Đức Giêsu, người ta có hai thái&nbsp;&nbsp;độ trái ngược nhau : 
		đối với những người biệt phái và luật sĩ, họ cho mình là người công 
		chính nên khinh thường và tẩy chay Ngài. Còn những người tội lỗi thì lại 
		đến gần Ngài, nghe Ngài giảng và sửa đổi con người của mình. Người Do 
		thái rất khó chịu khi thấy Đức Giêsu giao du với những người tội lỗi và 
		lại còn đồng bàn với họ nữa. Người ta khó chịu với Đức Giêsu vì họ thấy 
		Ngài cư xử ngược với quan niệm của họ.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Đạo sĩ Do thái đã xếp tất cả những ai không tuân giữ lưật pháp 
		vào chung một hạng, họ gọi những người đó là “<i>Dân của đất</i>”. Có 
		một hàng rào ngăn cách&nbsp;&nbsp;dứt khoát giữa những đạo sĩ Do thái và người 
		“Dân của đất”. Gả con gái cho một người dân của đất thì chẳng khác gì 
		trói cô gái ấy nộp cho sư tử. Luật của đạo sĩ Do thái dạy rằng : Khi có 
		một người là dân của đất, thì đừng trao tiền cho nó, đừng lấy chứng của 
		nó, đừng nói điều bí mật cho nó, đừng đặït nó coi kẻ mồ côi, đừng để nó 
		giữ của bố thí, đừng đi đường với nó”.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Có luật cấm đạo sĩ Do thái không được mời một người dân của 
		đất đến dùng bữa, cũng không được nhận lời mời của ai trong hạng người 
		đó. Luật cấm đạo sĩ Do thái không được giao dịch thông thường với họ, 
		không được mua gì của họ hoặc bán gì cho họ. Các đạo sĩ Do thái quyết 
		tâm tránh hẳn mọi liên hệ với đám dân của đất, tức là những người không 
		giữ đủ các chi tiết tỉ mỉ trong luật pháp.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Trước thái độ kỳ thị ra mặt của các đạo sĩ Do thái đối với 
		người bị coi là tội lỗi,&nbsp;&nbsp;Đức Giêsu mới kể cho họ ba dụ ngôn để nói về 
		lòng nhân từ thương xót của Thiên Chúa, Ngài muốn tìm kiếm và cứu vớt 
		những gì đã lạc mất.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<b><i>2.&nbsp;<u>Ba dụ ngôn của Đức Giêsu</u>.</i></b>&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<b>a) Dụ ngôn con chiên đi lạc.</b>&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Trước tiên ta cần lưu ý là hình ảnh người chăn chiên và bầy 
		chiên là chủ đề cổ điển trong Cựu ước nói lên tương quan giữa Thiên Chúa 
		và dân Ngài (St 48,15 : Lc 12.32). Dụ ngôn này cũng có trong Tin mừng 
		Matthêu, nhưng trong lúc Matthêu áp dụng vào trách nhiệm những vị lãnh 
		đạo Giáo hội, còn Luca nói lên việc Thiên Chúa tìm kiếm người tội lỗi.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Trong dụ ngôn này, người mục tử đã bỏ 99 con kia, dĩ nhiên là 
		được canh giữ cẩn thận, để đi tìm con chiên lạc. Con chiên lạc này mất 
		vì lý do nào đó không được nêu ra trong dụ ngôn. Nhưng có một đều chắc 
		chắn là nó đang sống&nbsp;&nbsp;những giây phút khốn cực, cần sự giúp đỡ của chủ 
		chăn. Chủ chăn đã phải bỏ 99 con trong hoang địa mà đi tìm con chiên lạc. 
		Một con sánh với 99 còn lại thì chỉ như số không, không đáng gì, đâu có 
		làm cho ông nghèo đi chút nào. Việc làm của ông chứng tỏ hùng hồn rằng : 
		bất cứ giá nào, ông cũng không để mất, dù một con. Một con đây cho giá 
		trị như&nbsp;&nbsp;99 con. Ý nghĩa này nói lên tầm mức quan trọng và tự do sự trở 
		về của tội nhân : Quan trọng đến nỗi bất cứù giá nào, người tội lỗi đó 
		cũng phải được trở về, điều đó chứng tỏ lòng thương xót của Thiên Chúa 
		đối với tội nhân.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Còn một chi tiết làm cho chúng ta cảm động :”<i>vác con chiên 
		trên đôi vai</i>”, vì khi con chiên đi lang thang nhiều giờ hay nhiều 
		ngày xa đàn chiên, nó kiệt sức và nằm xuống. Thật ra phải vác nó lên 
		thôi. Và một con chiên nặng đấy ! Nhất là khi người chăn chiên cũng đã 
		chạy nhiều giờ trên những ngọn đồi đầy sỏi đá dưới ánh nắng mặt trời… 
		Chính người chăn chiên cũng rất mệt nhọc ! Nhưng, Đức Giêsu nói hoàn 
		toàn vui mừng, người đó quên đi sự mệt nhọc của mình, bế nó lên tay và 
		vác nó.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Chính Thiên Chúa giới thiệu với chúng ta như thế ! Vả lại hình 
		ảnh ấy không mới mẻ. Toàn thể Thánh Kinh đã thể hiện Thiên Chúa dưới 
		những đường nét của “người chăn chiên” (Is 40,11-49, 10 …(Quesson).&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<b>b) Dụ ngôn đồng tiền bị mất.&nbsp;</b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Đức Giêsu lại tiếp nối tư tưởng bằng một dụ ngôn khác. Đồng 
		tiền nói ở đây là một đồng tiền nhỏ, dễ bị mất trong nhà dân quê xứ 
		Palestina, và có khi phải mất rất nhiều thì giờ mới tìm lại được. Nhà 
		của người Do thái thường tối om, vì chỉ có một cửa sổ tròn đường kính 
		khỏang 45 phân. Nền nhà thì bằng đất nện được phủ bằng những tấm liếp 
		sậy và cành cây khô. Tìm kiếm một đồng bạc trên một nền nhà như thế khác 
		nào tìm một cây kim trong đống rác. Nhưng người đàn bà quét đi quét lại, 
		tìm cho bằng được.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Một đồng bạc ở đây có giá trị tương đương với một ngày làm 
		công (Mt 20,2). Ở đây muốn nói lên sự mất mát dù chỉ có một đồng cũng là 
		điều quan trọng khiến cho chủ cũng phải tốn công tìm kiếm.&nbsp;&nbsp;Điều này 
		cũng muốn ám chỉ lòng thương yêu của Thiên Chúa không muốn để ai bị hư 
		đi, nhưng muốn cứu vớt mọi người.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Ngoài lý do vì nhu cầu cần tìm đồng tiền bị mất, lại còn có 
		một lý do khác thơ mộng hơn. Tại Palestina, dấu hiệu của người đàn bà có 
		chồng là một chiếc vành trên đầu làm bằng 10 đồng tiền nhỏ bằng bạc xâu 
		lại với nhau bằng một sợ dây bạc. Trong nhiều năm, một cô gái làm lụng 
		và để dành cho đủ 10 đồng tiền nhỏ đó. Bởi vì cái chuỗi trên đầu của 
		nàng cũng đáng giá gần bằng chiếc nhẫn cưới. Khi nàng đã sắm được nó thì 
		trở nên của riêng nàng, đặc biệt đến nỗi người khác không thể đoạt lấy 
		của nàng món nữ trang đó để trừ nợ. Có thể người đàn bà trong dụ ngôn&nbsp;&nbsp;đánh 
		mất một đồng bạc thuộc loại đó, và bà ta đã tìm kiếm nó như bất cứ người 
		nào khác cũng làm như thế khi đánh mất cái nhẫn cưới vậy.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Vì thế, chúng ta dễ hiểu nỗi vui mừng của người đàn bà khi tìm 
		lại được đồng bạc bị mất. Đức Giêsu cho biết : cũng thế, Thiên Chúa và 
		các thiên sứ&nbsp;&nbsp;vui mừng khi một người ăn năn trở về, như khi một gia đình 
		vui mừng tìm lại được đồng bạc quyết định cái no hay cái đói của họ, hay 
		cũng giống người đàn bà đánh mất một tài sản có giá trị hơn tiền bạc rồi 
		lại tìm lại được.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<b>c) Dụ ngôn đứa con hoang đàng.&nbsp;</b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Niềm vui lạ lùng này được sáng tỏ hơn trong dụ ngôân đứa con 
		hoang đàng. Ông chủ chỉ có hai người con trai, tưởng rằng được sống bình 
		yên trong tuổi già với hai con. Nhưng người con thứ tính phóng khoáng, 
		thích tụ tập, muốn xin cha chia gia tài cho anh.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Theo luật Do thái, người cha không được chia gia tài tùy ý 
		mình thích, đứa con cả đương nhiên được hưởng 2/3, đứa con thứ được 1/3 
		gia tài (x. Đnl 21,17). Không phải là một việc lạ khi một người cha phân 
		chia gia tài ngay khi còn sống nếu ông muốn được nghỉ ngơi khỏi bận tâm 
		buôn bán làm ăn.&nbsp;&nbsp;Nhưng có một sự trơ tráo nơi đứa con thứ khi chính nó 
		đề xuất việc chia gia tài. Khi nó nói với cha nó :”Cha hãy cho tôi ngay 
		bây giờ phần gia tài&nbsp;&nbsp;mà trước sau gì tôi cũng lãnh được sau khi cha 
		chết, và hãy để tôi ra khỏi nhà này”. Người cha không tranh luận gì, ông 
		hiểu rằng nếu con ông cần một bài học thì nó sẽ có một bài học đắt giá, 
		và ông đã chia gia tài cho nó. Tức khắc đứa con lấy phần dành cho nó và 
		bỏ nhà ra đi.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Tuy nhiên, việc xin chia gia tài này có hợp lý không, thì 
		không rõ, chỉ biết rằng sau này chính người con thứ đã hối hận vì hành 
		động trên.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Đi xa nhà một thời gian, nó đã nhanh chóng xài hết tiền và kết 
		thúc bằng việc chăn heo, một công việc đáng nguyền rủa của người Do thái… 
		Trong cảnh khốn cùng, nó hồi tâm suy nghĩ lại và quyết định ra đi về với 
		cha nó mà chỉ xin được coi như kột đứa đầy tớ thôi, chứ không dám nhận 
		là con nữa. Nó trở về, cha nó chạy ra ôm chằm lấy mà hôn. Cha nó không 
		để nó kịp mở miệng xin làm đầy tớ, ông đã lên tiếng trước.&nbsp;&nbsp;Ông đã phục 
		hồi địa vị làm con cho nó bằng những cử chỉ đầy ý nghĩa :&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<i>. Xỏ giầy vào chân cậu</i>&nbsp;: . Xỏ giầy vào chân chứng tỏ 
		ông đã tha thứ hoàn toàn cho cậu. Vào thời Kinh Thánh thuở xưa, mang 
		giầy là dấu chỉ của một người tự do, còn đám nô lệ thì đi chân trần. Xỏ 
		giầy vào đôi chân trần của cậu&nbsp;&nbsp;con tức là xóa đi dấu hiệu thằng con ấy 
		từng là nô lệ của một người nào đó, và đồng thời trả lại cho cậu ta&nbsp;&nbsp;dấu 
		chỉ cậu là đứa con trai trong gia đình.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;.&nbsp;<i>Trao nhẫn cho cậu</i>.&nbsp;&nbsp;Gắn nhẫn vào ngón tay cậu chứng 
		tỏ ông bố phục hồi trọn vẹn cho cậu tình trạng trước khi cậu bỏ nhà ra 
		đi. Đeo nó vào đồng nghĩa với được quyền hành xử như một thành viên 
		trong gia đình.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Và như thế, khi choàng tay ôm, xỏ giầy, đeo nhẫn cho đứa con 
		trai, người bố đã cho thấy ông hoàn toàn nồng nhiệt tiếp đón cậu ta, tha 
		thứ hoàn toàn và phục hồi cho cậu ta trọn vẹn tình trạng trước khi cậu 
		bỏ nhà ra đi.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm"><b>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; 
		Truyện : Vải trắng trên cây táo.</b>&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Richard Pindell có viết một chuyện ngắn nhan đề “Đứa con trai 
		của một người nào đó” (somebody’s&nbsp;&nbsp;son). Câu chuyện mở đầu với một cậu 
		bé tên là David bỏ nhà ra đi sống bụi đời. Vì khó quá, không chịu nổi, 
		cậu bèn viết một lá thư gửi về nhà cho mẹ bày tỏ niềm hy vọng được ông 
		bố cổ hủ tha thứ cho cậu và chấp nhận cậu làm con trở lại.&nbsp;&nbsp;Lá thư như 
		sau :”Mẹ kính mến, trong một vài ngày nữa con sẽ đi ngang qua nhà. Nếu 
		bố bằng lòng nhận con trở lại, thì mẹ yêu cầu bố cột một miếng vải trắng 
		lên cây táo hồng ở miếng đất cạnh nhà chúng ta.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Vài ngày sau, David lên xe lửa đi về. Trong lúc tầu hỏa lao 
		nhanh đến nhà thì hai hình ảnh&nbsp;&nbsp;cứ chớp lòe liên tục hiện ra trong trí 
		cậu ta. Khi thì trên cây có cột một miếng vải trắng, khi thì trên cây 
		chẳng có một miếng vải trắng nào. Xe lửa càng tiến gần nhà, trái tim 
		David càng đập nhanh hơn. Không bao lâu nữa cây táo sẽ hiện ra nơi khúc 
		quẹo, nhưng David không dám tự mình nhìn tới vì sợ nhỡ không có miếng 
		vải trắng cột ở đó. Thế là cậu quay sang người đàn ông bên cạnh ấp úng 
		nói :”Thưa ông, ông có thể làm ơn giúp cháu một việc không? Vào khúc 
		quẹo bên tay mặt, ông sẽ thấy một cái cây. Ông làm ơn cho cháu biết trên 
		cành cây có cột một miếng vải trắng không nhé”.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Khi chiếc xe lửa rầm rầm lướt qua cây táo, David nhìn chăm 
		chăm về phía trước. Đoạn run run&nbsp;&nbsp;giọng cậu hỏi người đàn ông :”Thưa ông, 
		có một miếng vải trắng treo ở một cây nào đó không”? Ông ta sửng sốt trả 
		lời :”Ồ, này cậu bé, cành cây nào ta cũng thấy&nbsp;&nbsp;có cột một miếng vải 
		trắng cả”(Mark Link).&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm"><b>
		<i>II. THIÊN CHÚA THƯƠNG XÓT VÀ THA THỨ.&nbsp;</i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<b><i>1.&nbsp;<u>Tấm lòng của người Cha</u>.</i></b>&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Người cha trong dụ ngôn phải là một ông chủ giầu sang, đầy 
		quyền lực và oai nghi đúng với đặc điểm của một phú ông miền Đông phương. 
		Đứng trước sự ngông cuồng của người con thứ, người cha đã chia gia tài 
		cho các con không phải vì ông nhu nhược mà vì ông tôn trọng quyền tự do 
		của con. Ngày người con thứ ra đi cũng chính là ngày ông bắt đầu ngóng 
		chờ với niềm tin sẽ có ngày con ông trở về. Quả đúng như vậy. Mặc dù 
		tuổi già sức yếu, người cha vẫn nhìn ra người con từ rất xa. Có thể nói 
		chính ông đã phá tan dáng vẻ oai nghi đường bệ của một phú ông Đông 
		phương để hồ&nbsp;&nbsp;hởi chạy ra với người con tựa như trẻ thơ mong mẹ về.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Nỗi mừng vui cũng như hàng loạt mệnh lệnh dồn dập của người 
		cha làm cho chúng ta có cảm nghĩ hẳn ông đang chuẩn bị tiếp đón một nhân 
		vật quan trọng. Mà không quan trọng sao được khi ý nghĩa của những mệnh 
		lệnh trên hàm chứa một tình yêu vô bờ bến ông dành cho người con “phá 
		gia” trở về mà không một ngôn từ nào có thể diễn tả hết được.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">&nbsp;Chiếc 
		áo mới nhất mà ông mặc cho người con hẳn phải là chiếc áo dành cho ngày 
		Đại lễ. Bởi chỉ có ngày Đại lễ, dịp lễ hội, người ta mới mặc áo mới, mới 
		có dịp để chưng diện mà thôi. Chưa dừng lại ở đó. Chúng ta biết rằng đối 
		với người Do thái, chiếc nhẫn không chỉ là kỷ vật, là món đồ trang sức, 
		không chỉ là biểàu trưng của tình yêu mà nó còn là cái ấn đóng dấu nhằm 
		xác nhận tư cách của một người con và đồng thời cũng xác nhận tư cách 
		của một người được thừa hưởng quyền kế thừa tài sản. Như thế, bằng việc 
		xỏ nhẫn và xỏ dép vào tay chân của người con, người cha trong Tin mừng 
		đã xác nhập mối tương quan cha-con, đồng thời cũng xác nhập quyền thừa 
		kế và trả lại quyền tự do cho nó – điều mà người con thứ không bao giờ 
		nghĩ tới. Chưa hết, người cha còn ra lệnh giết bê đã vỗ béo để ăn mừng 
		cho sự trở về này. Như thế đã rõ, bê chỉ vỗ béo để chờ dịp Đại lễ. Ngày 
		người con trở về và người cha đã hạ bê béo để ăn mừng chẳng phải là dịp 
		Đại lễ mà từ lâu ông hằng ôm ấp mong chờ để có được ngày hôm nay sao ?&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm"><b>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; 
		Truyện : Thiền sư Sengai.</b>&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Có rất nhiều đệ tử đang tu luyện thiền học dưới sự hướng dẫn 
		của thiền sư Sengai. Trong số đó có một đệ tử thường hay thức dậy ban 
		đêm, lẻn trốn một mình trèo tường ra phố rong chơi dạo mát cho thỏa 
		thích. Và một đêm kia, thiền sư Sengai đi kiểm tra phòng ngủ các đệ tử, 
		thấy vắng mặt một người và cũng khám phá ra chiếc ghế đẩu mà anh ta 
		thường dùng để leo qua tường ra ngoài. Sau khi suy nghĩ, thiền sư Sengai 
		liền dời chiếc ghế đi chỗ khác và đứng thay vào chỗ đó. Một lát sau, anh 
		chàng ham rong chơi trở về không biết rằng&nbsp;&nbsp;thầy mình là chiếc ghế, cứ 
		thản nhiên đặt chân vào đầu thầy mình để nhảy xuống đất. Đúng lúc đó mới 
		khám ra sự thể động trời của mình, anh ta hoảng hốt sợ đến ngất xỉu. 
		Nhưng thiền sư Sengai nhỏ nhẹ bảo anh :”Sáng sớm trời lạnh lắm, con hãy 
		cẩn thận kẻ bị cảm đấy”. Và từ đó, người đệ tử hoang đàng ấy không bao 
		giờ dám ra ngoài chơi ban đêm nữa.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<b><i>2.&nbsp;<u>Tình thương tha thứ của Thiên Chúa</u>.&nbsp;</i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Thiên Chúa được Đức Giêsu mạc khải là một người Cha. Cha nào 
		mà chẳng thương yêu con bằng một tình thương tự nhiên, vô điều kiện, 
		nghĩa là bất chấp con cái tốt xấu, hay dở, có lợi hay gây hại cho mình, 
		bất chấp cả việc&nbsp;&nbsp;chúng đối xử với mình tệ bạc đến đâu. Tình thương đích 
		thực luôn luôn tự động biểu lộ thành hành động. Bản chất của tình thương 
		là như thế, nếu không như thế thì không phải là tình thương đích thực. 
		Tình thương không biểu lộ bằng hành động chỉ là tình thương ngoài môi 
		miệng (x. Gc 2,16.26). Và hai cách biểu lộ rõ rệt nhất của tình thương 
		là sự tha thứ vô điều kiện và sẵn sàng chấp nhận sự đau khổ hoặc chết 
		cho người mình yêu thương. Tình yêu của Thiên Chúa đối với con người đã 
		được biểu lộ qua hai cách ấy nơi con người Đức Kitô :”<i>Đức Kitô đã 
		chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là người tội lỗi. Đó là bằng 
		chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta”.&nbsp;</i></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Trở lại dụ ngôn đứa con hoang đàng, ta hỏi động lực nào đã làm 
		cho đứa con quay trở về nhà mình ? Chắc chắn không phải vì thương cha 
		mình, mà vì sự khốn khổ nó đang phải chịu do sự ngu xuẩn và bất hiếu của 
		nó. Tóm lại, nó về là vì nó thương bản thân nó hơn là thương cha. Chắc 
		chắn khi thấy nó trở về với “thân tàn ma dại”, cha nó biết nó về với 
		động lực gì. Nhưng đối với ông, điều đó không quan trọng. Điều quan 
		trọng là nó đã trở về, vì nó tưởng như “đã chết mà nay sống lại, đã mất 
		mà nay lại tìm thấy”. Động lực khiến người cha tha thứ và vui mừng đón 
		nhận nó trở về hoàn toàn vì yêu thương con, vì muốn cho nó hạnh phúc, 
		bất chấp quá khứ lầm lỗi của nó. Đó cũng chính là tâm tình của Thiên 
		Chúa đối với những người tội lỗi. Chỉ cần người tội lỗi quay trở về với 
		Chúa&nbsp;&nbsp;trong sự hối hậân về đời sống quá khứ của mình.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm"><b>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; 
		Truyện : Tình mẹ tha thứ.</b>&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Ở Batna, có một gia đình nằêm vào địa điểm hẻo lánh, gồm bà mẹ 
		với các con, mà thằng con lớn phản bội vô số kể, tên là Sidi Melkassen, 
		ưa a tùng với côn đồ du đãng, bị mẹ khiển trách hằng ngày. Mất tự do, 
		thằng đó bực tức, nhất định hai mẹ con không đội trời chung. Liền bắt mẹ 
		đem giam cầm vào một nhà cô tịch tăm tối. Lấy sợi xiềng xích lớn mà 
		xiềng hai chân mẹ nó lại, đoạn đục vách tường gắn móc khóa lại và giữ 
		chìa khóa trong túi. Đành lòng đóng cửa lại trước những tiếng kêu la, 
		khóc lóc, van nài của mẹ.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Trên ba năm trời tồi túng, nóng nực, lạnh lẽo. Không mền, 
		không chiếu, bữa đói bữa no, người mẹ than khóc đã khô nước mắt, kêu 
		không ai nghe, buồn không một lời an ủi.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Chiều nọ, một nàng dâu thảo giật được chìa khóa và mở cửa, 
		tháo xiềng giải thoát cho người mẹ vô phúc. Bà đi ra giữa thanh thiên 
		bạch nhật, không còn hình tượng người nữa, ai nấy đều thương hại. Việc 
		này thấu đến tai nhà chức trách, thằng con bất hiếu bị bắt và kêu án sáu 
		tháng tù ở. Ai nấy đều vỗ tay ca tụng công lý. Chỉ có bà mẹ quên tội của 
		con, cất tiếng lên vừa than khóc vừa xin tòa đừng tống giam con mình tội 
		nghiệp.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Ôâi, tình mẹ bao la !&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<b><i>3.&nbsp;<u>Có sự nghịch lý trong ba dụ ngôn chăng</u>&nbsp;?</i></b>&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Bài Tin mừng hôm nay gồm tới 3 dụ ngôn. Dụ ngôn đầu xem ra 
		không hợp lý : ai lại bỏ 99 con chiên để đi tìm một con chiên lạc ? Dụ 
		ngôn thứ hai cũng chẳng có tính thuyết phục bao nhiêu : một đồng xu có 
		đáng là bao so với công sức mà người đàn bà kia bỏ ra để tìm lại nó ? 
		Nhưng rồi tất cả đều trở nên hợp lý khi ta đọc dụ ngôn thứ ba : Ý của 
		Chúa Giêsu không nhằm tới con chiên, cũng không nói tới tiền bạc mà nói 
		tới con người. Trước mặt Thiên Chúa, mỗi một con người đều có giá trị vô 
		cùng, bởi vì mỗi một con người, dù là tội lỗi, cũng đều là con của Ngài.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Tuy nhiên có mấy ai chia sẻ tâm ý của Chúa ? Những người biệt 
		phái và luật sĩ thấy Chúa Giêsu bỏ công lui tới với những người tội lỗi 
		thì họ cho là mất công vô ích nên xầm xì phản đối. Đối với họ, việc làm 
		của Chúa Giêsu là không đáng, bởi vì những kẻ tội lỗi là hạng đáng vất 
		đi. Nhưng đối với Chúa Giêsu, đó là những con người, những giá trị. Một 
		đồng xu qúi giá thế nào đối với người đàn bà nghèo khổ, một người con 
		quí giá thế nào đối với tấm lòng người cha, thì một người tội lỗi cũng 
		đáng giá thế ấy đối với tấm lòng của Thiên Chúa.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Thế còn việc bỏ 99 con chiên trong đàn để đi tìm con chiên lạc 
		thì sao ? Vì con chiên ấy cần được săn sóc hơn 99 con kia : nó cô đơn, 
		nó bơ vơ, nó đói khát hơn, nó bị nguy hiểm nhiều hơn. Vì thế nên người 
		mục tử nhân lành không thể ở yên mà chờ nó tìm được đường về, mà phải 
		đích thân ra đi tìm nó. Đức Giêsu đã làm như người mục tử ấy : Ngài 
		không chờ đợi kẻ tội lỗi đến với mình, nhưng được bước trước đến với họ. 
		Ngài kết thân với họ trong tình trạng của họ còn đang là tội nhân, còn 
		đang lầm lạc. Chính đó là cách đối xử khác những người biệt phái và luật 
		sĩ, và chính đó là lý do khiến họ xầm xì phản đối. Nhưng chính cái đối 
		xứ này đã hoán cải được một người biệt phái nổi tiếng là thánh Phaolô (Trích 
		Carôlô, Sợi chỉ đỏ A, tr 710-711).&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm"><b>
		<i>III. CHÚNG TA CŨNG PHẢI CƯ XỬ NHƯ VẬY.</i></b>&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<b><i>1.&nbsp;<u>Phải thay đổi cách cư xử</u>.</i></b>&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Giáo hội là Mẹ của chúng ta đã từng có cách cư xử như Đức 
		Giêsu, tạo điều kiện để lôi kéo những con chiên lạc đàn trở về với Chúa. 
		Chẳng hạn , Augustinô, một thanh niên đã từng sống trụy lạc, ăn chơi, và 
		có những đứa con rơi rớt không kém gì đứa con hoang đàng trong Tin mừng. 
		Thế mà khi trở về với Giáo hội, Giáo hội đã mở rộng vòng tay&nbsp;&nbsp;đón nhận. 
		Sự đón nhận trở nên hoàn toàn khi Giáo hội chấp nhận chàng vào tu viện, 
		và khi thấy chàng xứng đáng, đã phong chức Giám mục cho chàng. Nhờ sự 
		tha thứ quảnng đại ấy của Giáo hội, Augustinô đã trở nên một vị thánh.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Chúng ta cũng phải bắt chước Giáo hội mà phải thay đổi cách 
		nhận định và thái độ cư xử đối với tội nhân. Nghĩa là đừng quá quan 
		trọng hóa nết xấu, lỗi lầm của anh em, đừng nuôi lòng thích thú khi thấy 
		anh em sa ngã, lỡ lầm, đừng giả đò thương hại khi đưa lỗi lầm của anh em 
		ra bàn tán và đừng bao giờ tỏ vẻ khinh khi, ruồng bỏ anh em bằng lời ăn 
		tiếng nói, bằng cử chỉ ánh mắt, nhưng hãy bắt chước Chúa biết thông cảm 
		với nỗi khổ tâm của anh em, biết thao thức lo lắng giúp anh em sửa mình, 
		biết tôn trọng, bênh vực anh em, biết cầu nguyện cho anh em.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<b><i>2.&nbsp;<u>Ý thức mình cũng là tội nhân được tha thứ</u>.&nbsp;</i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Có những con chiên xa đàn lạc lối, nhưng cũng có những con 
		đang sống trong đàn mà chẳng phải là chiên. Có đứa con bỏ nhà xa cha, 
		nhưng cũng có đứa con tuy sống gần cha mà lòng dường như đi hoang từ lâu. 
		Nó coi cha không khác gì ông chủ hà khắc keo kiệt, chẳng hề bố thí cho 
		một con bê để vui vầy với chúng bạn. Như vậy, có thứ lạc đàn thể lý và 
		cũng có thứ lạc đàn tâm linh. Có những người không đi nhà thờ vì lòng họ 
		xa Chúa, song cũng có những người không bỏ nhà thờ nhưng lòng họ chẳng 
		gần Chúa hơn được bao nhiêu. Có lẽ vì tâm trí họ đang đi lạc trong khu 
		rừng có nhiều tiếng ca của danh vọng, hương sắc của đồng tiền, hung khí 
		của hận thù, giọng ríu tít đầy lôi cuốn của xác thịt.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Vậy chúng ta có phải là con chiên đích thực không hay chỉ là 
		hữu danh vô thực ? Chắc chắên không ai trong chúng ta dám xưng mình là 
		người công chính như luật sĩ và biệt phái, chúng ta vẫn xưng mình là kẻ 
		có tộâi, và nếu đã biết mình có tội thì phải có lối cư xử với người khác 
		bằng tình thương yêu.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Nếu Thiên Chúa tỏ lòng nhân hậu và tha thứ cho chúng ta, thì 
		Ngài muốn chúng ta cũng hãy tha thứ cho nhau như người cha nhân hậu xin 
		ông anh cả tha thứ cho đứa em lỗi lầm.&nbsp;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0cm">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Người ta chỉ có thể dễ dàng tha thứ cho kẻ khác khi ý thức 
		thân phận mỏng dòn yếu đuối của mình. Có nhận ra mình hay lầm lỗi, con 
		người mới dễ cảm thông tha thứ cho những lỗi lầm của anh em. Đừng bắt 
		người có tội phải bị trừng phạt mới hả dạ. Đừng đòi hỏi cho được sự công 
		bằng mới thôi, vì&nbsp;<b>Martin Luther King</b>&nbsp;có viết :”<i>Nếu cứ áp dụng 
		luật “mắt đền mắt” thì mọi người trở nên mù lòa”.</i></td></tr><tr><td width="474" height="53"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/suyniemINDEX.htmy"><img border="0" src="../../../../_Nam_A/2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">&nbsp;</p>

PHP File Manager