File "10.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2022/Thuong-nien/CN XVII TN C/10.htm
File size: 35.57 KiB (36420 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa-Nhật-XVII-thường-niên-Năm-C</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Lạy-cha-chúng-con/Cầu-nguyện/Ban-Thánh-Thần/Hãy-xin/Hãy-tìm/Hãy-gõ/Lời-kinh-tuyệt-vời/Kinh-lạy Cha/"><style>
<!--
.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
{color:blue;
text-decoration:underline;
text-underline:single;
text-decoration:none underline;
text-line-through:none;
vertical-align:baseline}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa-Nhật-XVII-thường-niên-Năm-C">
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460">
<font size="2" color="#FF0000">Chúa Nhật XVII thường niên - Năm C</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
<b><span lang="VI">LỜI KINH CỦA CHÚA<br>
HÌNH ẢNH CỦA THIÊN
CHÚA</span></b></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
<a name="_Toc267166062">
<span style="font-size: 8pt; font-style:italic; font-weight:400">Chú giải của Lm
Vũ Phan Long</span></a></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">Bởi vì Người biết và luôn
luôn chiêm ngưỡng Thiên Chúa, bởi vì Người cũng biết ý nghĩa và cùng
đích của đời sống chúng ta, Đức Giêsu có thể dạy chúng ta cầu nguyện
cùng Thiên Chúa hơn bất cứ ai trước Người.</span></i></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<b><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">1.- Ngữ cảnh</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">Trong bài tường thuật về hành
trình lên Giêrusalem, tác giả <i>Luca</i> ghép vào một<i> </i>giai thoại
trong đó Đức Giêsu dạy các môn đệ cầu nguyện, vì các ông xin Người.
</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">Hình thức của Kinh Lạy Cha ăn
khớp với ngữ cảnh này, vì bản văn được đặt sau lời kinh Đức Giêsu dâng
lên Chúa Cha (10,21-22), cũng như sau “ví dụ” của Người về tình thương
đối với người thân cận (10,29-37) và việc Người nhấn mạnh trên việc lắng
nghe Lời như điều cần thiết duy nhất (10,38-42). Toàn khối các giai
thoại này giới thiệu cho biết thái độ và những tâm tình người Kitô hữu
phải có đối với Thiên Chúa. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<b><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">2.- Bố cục</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">Bản văn có thể chia thành ba
phần:</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">1) Hoàn cảnh (11,1);</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">2) Đức Giêsu dạy cầu nguyện
bằng Kinh Lạy Cha (11,2-4);</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">3) Đức Giêsu dạy cầu nguyện
bằng hai<i> </i>dụ ngôn (11,5-13):</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt"> - Dụ ngôn Người bạn quấy rầy
(cc. 5-8),</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt"> - Sáu khẳng định (cc. 9-10),</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt"> - Dụ ngôn Người cha và đứa
con (cc. 11-13). </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<b><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">3.- Vài điểm chú giải</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">- Lạy Cha</span></i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">
(2): Tác giả chỉ dùng hô-cách Hy-lạp đơn giản: <i>pater</i> (x. 10,21),
tương đương với từ A-ram <i>’abbâ’</i>. Do chỗ từ này được lưu giữ trong
Mc 14,36 (x. Gl 4,6; Rm 8,15), có thể cho rằng kiểu thưa gửi trong bản
văn <i>Lc</i> thì “gốc” hơn kiểu trong <i>Mt</i> (với công thức “Lạy Cha
chúng con, Đấng ngự trên trời”).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">Một số tác giả như Kittel,
Jeremias và Marchel nghĩ rằng đây rất có thể là một<i> </i>từ ngữ của
các em bé</span><span style="font-size: 14.0pt"> (</span><i><span style="font-size: 14.0pt; color: black">G.
K<span style="font-variant: small-caps">ittel, </span>VAbba/, GLNT, vol.
</span><span lang="IT" style="font-size: 14.0pt; color: black">I, col.
15-18; <span style="font-variant: small-caps">J. Jeremias, </span>Abba.
</span><span lang="DE" style="font-size: 14.0pt; color: black">Studien
zu neutestamentlichen Theologie und Zeitgeschichte (Gưttingen 1966)
15-67; <span style="font-variant: small-caps">W. Marchel, </span>Abba,
Père (Roma 1963, 1971)</span></i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">.
Còn Pitta thì cho rằng không phải chỉ có các em bé mới dùng từ này mà
thưa với cha, nhưng cả người lớn cũng dùng để ngỏ lời với cha</span><span style="font-size: 14.0pt">
(</span><i><span lang="IT" style="font-size: 14.0pt; color: black">A.
<span style="font-variant: small-caps">Pitta, </span>Lettera ai Romani.
Nuova versione, introduzione e commento (I Libri biblici – Nuovo
Testamento 6; Figlie di San Paolo; Milano 2001) 298.</span></i><span style="font-size: 14.0pt">)</span><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">.
Dù sao, vào thế kỷ I, từ này không chỉ được dành cho trẻ em.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">Gọi Thiên Chúa là “Cha” không
phải là chuyện lạ lùng. Danh xưng “cha” đã có nơi các tôn giáo rất khác
nhau, từ dạng thô sơ nhất đến dạng phát triển nhất, của người Hy-lạp,
Rô-ma và Sê-mít. Nhưng điều lạ là sử dụng một<i> </i>danh xưng thân mật
để thưa với Thiên Chúa. Theo các nghiên cứu của Jeremias và Marchel, <i>
’abbâ’ </i>là một danh xưng thân mật, nên không bao giờ được người
Do-thái dùng mà thưa với Thiên Chúa. Đôi khi, cũng rất hiếm, từ này được
dùng để <i>nói về</i> Thiên Chúa, chứ không bao giờ để <i>thưa với</i>
Thiên Chúa. Và ngay cả nói về Thiên Chúa, các bản Targumim (= Bản dịch
và diễn giải) cũng rất ngại áp dụng danh hiệu “cha” cho Ngài. Ngược lại,
theo chứng từ của Mc 14,36, được củng cố gián tiếp bởi Gl 4,6, Đức Giêsu
là người đầu tiên thưa với Thiên Chúa bằng tiếng gọi thân mật <i>Abba</i>,
và như thế Người tỏ cho thấy quan hệ thân tình như là người con với
Thiên Chúa, một<i> </i>thứ quan hệ kiểu mới mẻ và duy nhất, vô song</span><span style="font-size: 14.0pt">
(</span><i><span lang="IT" style="font-size: 14.0pt; color: black">Cf.
<span style="font-variant: small-caps">Jeremias, </span>Abba, 58-67</span></i><span style="font-size: 14.0pt">)</span><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">.
Quan hệ này được diễn tả rõ ràng trong một<i> </i>vài bản văn Tin Mừng,
đặc biệt trong Mt 11,27 // Lc 10,22. <i>Tin Mừng IV</i> triển khai các
phương diện khác nhau của quan hệ hỗ tương này, một<i> </i>quan hệ được
vén mở cho thấy không những bằng các lời nói, mà hơn nữa còn bằng công
trình chung giữa Chúa Cha và Chúa Con; và công trình chung này đạt tới
đỉnh cao khi Đức Giêsu hiến mình trên Núi Sọ. Tin Mừng làm chứng về hai
điều: 1) Quan hệ của Đức Giêsu với Thiên Chúa là quan hệ có một không
hai, không thể so sánh với bất cứ kiểu tương quan nào; quan hệ này hoàn
hảo, thâm sâu, hỗ tương; theo nghĩa này, quan hệ này chuyên nhất (x. Ga
10,30); 2) Tuy nhiên, theo một<i> </i>nghĩa khác, quan hệ này không độc
chiếm, nhưng lại có khả năng thông ban, thông dự vào (x. Ga 6,57;
10,27-28). Đức Giêsu đến chỉ nhắm một<i> </i>mục tiêu là đưa loài người
vào trong tương quan cha con với Thiên Chúa. Và bởi vì quan hệ này không
phải là một<i> </i>tương quan bên ngoài như một<i> </i>liên hệ pháp lý,
mà là một<i> </i>thực tại thâm sâu, người ta không thể thông dự vào đó
nếu không được một<i> </i>sự thông truyền tinh thần. Vậy toàn thể cuộc
sống của Đức Giêsu, sứ vụ, cái chết, sự sống lại của Người chỉ có một<i>
</i>mục đích là thông ban Thánh Thần trong tư cách là Thần Khí của Con
(x. Gl 4,6). Quả thật, Đức Giêsu là người đầu tiên cầu nguyện với Thiên
Chúa bằng danh hiệu này. Nhưng bây giờ, nhờ Thần Khí của Con, mỗi tín
hữu cũng có thể làm như thế: là <i>con</i> (x. Gl 3,26; 4,6.7), người
tín hữu thông dự vào lời cầu nguyện của <i>Chúa Con</i>. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">- xin làm cho danh thánh
Cha vinh hiển</span></i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt"> (2):
dịch sát là “Ước gì Danh Cha được hiển thánh”. Trong ngôn ngữ Kinh
Thánh, câu này không có nghĩa là Thiên Chúa phải bận tâm làm cho loài
người coi Danh của Ngài là thánh và không làm ô nhục Danh Ngài. Câu này
có nghĩa là chính Thiên Chúa phải thánh <a name="VNS0024">hoá</a> Danh
Ngài; chính Ngài phải hành động cách nào để loài người nhận biết và
tuyên xưng đúng như Tên Ngài, tức là như Thiên Chúa và như Cha. Như thế,
là xin Thiên Chúa mạc khải bản thân Ngài ra vĩnh viễn và cho người ta
được thấy Ngài và đến được với Ngài cách chắc chắn. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">-[xin làm cho] Triều Đại
Cha mau đến</span></i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt"> (2):
Đây là nội dung chính của lời Đức Giêsu loan báo. Người loan báo Tin
Mừng về Triều Đại Thiên Chúa, về quyền chúa tể của Thiên Chúa (4,43;
8,1; 10,9.11): Thiên Chúa là Chúa Tể duy nhất và tốt lành, sẽ thực hiện
công khai vương quyền của Ngài. Lời xin này cầu mong mau đến lúc Thiên
Chúa sẽ hiển trị trên tất cả mọi sự cách công khai và hữu hình; Đấng là
Cha sẽ là Chúa Tể duy nhất.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">- ngày nào có lương thực
ngày ấy</span></i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt"> (3): dịch
sát là “Xin ban cho chúng con <i>mỗi ngày </i>(<i>to kath’ hêmeran</i>)”,
hiểu theo nghĩa phân phối. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">- xin tha tội </span></i>
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">(4): Tác giả <i>Lc</i> đã thay
từ <i>opheilêmata</i>, “các món nợ”, bằng <i>hamartias</i>, “các tội”,
có lẽ để cho độc giả Kitô hữu gốc Dân ngoại dễ hiểu lời xin này hơn.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">- bạn </span></i>
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">(5): Từ ngữ <i>philos</i> được
dùng nhiều lần khiến chúng ta nhớ đến bối cảnh là lòng hiếu khách của
người dân Cận Đông. “Bạn” vừa có nghĩa là người láng giềng và người
khách.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">- anh ta cứ lì ra đó </span>
</i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">(8): <i>Anaideia</i>, “sự
trâng tráo, lì lợm”. Có tác giả nghĩ rằng từ này áp dụng cho người bạn
bị quấy rầy, nên phải dịch là “thể diện”</span><span style="font-size: 14.0pt">
(</span><i><span lang="IT" style="font-size: 14.0pt; color: black">Xem
Bản dịch Kinh Thánh Tân Ước của Nhóm Phiên Dịch CGKPV 1995</span></i><span style="font-size: 14.0pt">)</span><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">.
Nhưng giải thích như thế không đúng, vì: cả câu 8 dịch sát là: “dẫu anh
không dậy để cho người này (<i>autô</i>) vì là bạn của người này (<i>autou</i>),
thì cũng vì sự lì lợm của người này (<i>autou</i>), anh sẽ dậy để cho
người này (<i>autô</i>) tất cả những gì người này cần”. Bởi vì đại từ sở
hữu <i>autô</i> và tính từ sở hữu <i>autou</i></span><i><span style="font-size: 14.0pt">
(</span><span lang="IT" style="font-size: 14.0pt; color: black">Ở
chủ-cách là autos</span><span style="font-size: 14.0pt">) </span></i>
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">được dùng để chỉ người đến
quấy rầy, nên phải hiểu <i>anaideia</i> áp dụng cho người quấy rầy.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">- tất cả những gì anh ta
cần</span></i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt"> (8): nghĩa là
không phải chỉ cho những gì anh ta xin mà thôi.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">- anh em cứ xin thì sẽ được</span></i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">
(9): Đây là một<i> </i>thái bị động thay tên Thiên Chúa, nên có nghĩa
là: “Anh em cứ xin, thì sẽ được Thiên Chúa ban cho”.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">- cứ tìm thì sẽ thấy</span></i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">
(9): Do câu này song song với câu trên, ta hiểu là “sẽ thấy, với sự trợ
giúp của Thiên Chúa”.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">- thay vì cá lại lấy rắn mà
cho nó </span></i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">(11): Hiểu
là có sự giống nhau về bề ngoài giữa con cá và con rắn. Thỉnh thoảng các
ngư phủ trên Hồ Ghennêxarét dùng cá nhỏ mà câu rắn nước.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">- xin trứng lại cho nó bò
cạp</span></i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt"> (12): Một con
bò cạp cuộn càng và đuôi lại thì giống với một<i> </i>quả trứng.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<b><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">4.- Ý nghĩa của bản văn</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">* Hoàn cảnh (1)</span></i></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">Trước mắt các môn đệ, hẳn là
Đức Giêsu xuất hiện ra như là vị thầy về cầu nguyện. Còn trước mặt
Người, các ông quả là những người đang chập chững tập cầu nguyện. Do đó,
các ông đã xin Người dạy cầu nguyện. Đàng khác, vào thời Đức Giêsu, các
nhóm tôn giáo được phân biệt nhờ có một<i> </i>kiểu cầu nguyện riêng.
Lời xin của các môn đệ Đức Giêsu cho thấy các ông ý thức mình là một<i>
</i>cộng đoàn. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">* Đức Giêsu dạy cầu nguyện
bằng Kinh Lạy Cha (2-4)</span></i></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">Đức Giêsu đã ban cho các ông
bản văn một<i> </i>kiểu mẫu cầu nguyện. Điều này không có nghĩa là các
ông phải luôn luôn dùng những lời này mà thôi. Nhưng với người nào dùng
lời kinh này, người ấy được xác định cho biết bầu khí phải quan tâm khi
cầu nguyện và được nhắc đến những lời thỉnh cầu phải coi là quan trọng
nhất. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">Trong lời kinh, chúng ta ngỏ
lời với Thiên Chúa và trình cho Ngài các lời thỉnh cầu của chúng ta.
Chúng ta không thấy Ngài và tự mình không thể biết là Ngài đang tương
quan với chúng ta thế nào. Ngài vô hình, xa cách, rất lạ với ta, ta
không thể hiểu Ngài và khám phá Ngài cặn kẽ. Trong cầu nguyện, quan
trọng nhất là biết bản chất của tương quan giữa Thiên Chúa và loài
người. Phải chăng Thiên Chúa là một<i> </i>Chúa tể quyền lực, có thể
nhậm lời ta cầu xin, nhưng Ngài không hề quan tâm đến ta? Lời xin đầu
tiên và căn bản nhận được câu trả lời nơi lời đầu tiên của Đức Giêsu:
chúng ta phải ngỏ lời với Thiên Chúa như với một<i> </i>“Người Cha”.
Thiên Chúa không phải là một<i> </i>Chúa tể xa cách, xa lạ, quyền lực,
không muốn biết gì về chúng ta. Ngài đã giao tiếp với chúng ta với mối
quan tâm, tình yêu và sự chăm sóc, như một<i> </i>người cha đích thực.
</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">Đức Giêsu đã phác ra những nét
chính để dạy chúng ta biết phải cầu nguyện với Thiên Chúa thế nào. Theo
kiểu mẫu của Người, chúng ta thấy có hai khối lời cầu xin. Khối thứ nhất
liên hệ trực tiếp đến Thiên Chúa, khối thứ hai liên hệ đến chúng ta và
các nhu cầu của chúng ta. Lời cầu “xin làm cho danh thánh Cha vinh
hiển”, là xin Thiên Chúa cho chúng ta được đi từ hoàn cảnh đức tin sang
hoàn cảnh hưởng kiến. Lời cầu thứ hai xin Thiên Chúa là Cha tỏ quyền
Chúa Tể trên mọi sự. Nói chung, hai lầu cầu đầu tiên xin cho có cuộc đảo
lộn các tương quan hiện hữu, trong đó Thiên Chúa dường như vắng mặt hoặc
ẩn mình. Chúng ta xin Ngài trở nên hữu hình và tỏ ra là Chúa Tể duy nhất
mãi mãi.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">Khối lời thỉnh cầu thứ hai
liên hệ đến các nhu cầu cấp bách nhất của chúng ta: các nhu cầu vật chất
(cái ăn cái uống, y phục, nhà cửa). Bên cạnh các nhu cầu vật chất, là
các nhu cầu thiêng liêng: “xin tha tội cho chúng con”. Thiên Chúa
<a name="VNS0025">đã ban</a> cho chúng ta trách nhiệm, nhưng chúng ta
thường xuyên sống vô trách nhiệm, trở thành có lỗi trước mạt Thiên Chúa,
chúng ta phạm những thiếu sót đối với người thân cận. Chúng ta không thể
tự mình tha các lỗi cho mình. Chúng ta lệ thuộc sự tha thứ của Thiên
Chúa nên phải xin Ngài ban cho. Thêm vào lời cầu xin này, Đức Giêsu nối
câu: “vì chúng con cũng tha cho mọi người mắc lỗi với chúng con”. Người
nhắc chúng ta nhớ rằng chúng ta không thể nhận được ơn tha thứ của Thiên
Chúa nếu chúng ta có một<i> </i>tâm hồn đầy cay đắng và hiềm khích (x.
Mt 18,23-35).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">Cuối cùng, chúng ta xin Thiên
Chúa chiếu cố đến sự yếu đuối và mỏng dòn của chúng ta. Trước nhan Thiên
Chúa, chúng ta nhìn nhận mình không có sức để đứng vững trong thử thách
để trung thành với Ngài. Do đó, chúng ta khiêm tốn xin Ngài trợ giúp,
đồng thời diễn tả ước muốn được mãi mãi liên kết với Ngài. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">* Đức Giêsu dạy cầu nguyện
bằng hai dụ ngôn (5-13)</span></i></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">Sau đó, bằng hai dụ ngôn và
sáu khẳng định, Đức Giêsu còn muốn thuyết phục các môn đệ rằng họ có thể
cậy dựa vào lòng nhân lành của Thiên Chúa, tức là tin rằng Ngài sẽ nhận
lời họ cầu xin. Với hai dụ ngôn, Đức Giêsu vận dụng các hoàn cảnh và
kinh nghiệm của loài người để dạy dỗ. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">Dụ ngôn thứ nhất vận dụng
những tương quan hàng xóm láng giềng ở miền quê: Nếu một<i> </i>người
hàng xóm bị quấy rầy còn sẵn sàng giúp đỡ người bạn, chẳng lẽ Thiên Chúa
vô cùng tốt lành và không hề có giờ nào không thuận tiện lại không nghe
lời con cái Ngài kêu xin? </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">Trong dụ ngôn thứ hai, Đức
Giêsu vận dụng cách thức xử sự của người cha trần thế với con cái: Nếu
ngay trong lãnh vực con người, một<i> </i>người cha, tuy có những khiếm
khuyết, còn biết cho con cái những của tốt lành, chẳng lẽ Thiên Chúa là
“Cha”, Đấng có mọi tình phụ tử, lại không xử sự hơn thế sao? </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">Cách thức Đức Giêsu dạy chúng
ta cầu nguyện cho hiểu rằng Người biết và luôn chiêm ngưỡng Thiên Chúa.
Dựa trên cái nhìn này, Đức Giêsu mời chúng ta cầu nguyện tha thiết,
Người hứa với chúng ta rằng chắc chắn chúng ta sẽ được nhận lời (cc.
9-10). Cho tất cả những ai xin bất cứ điều gì, Thiên Chúa sẽ ban Thánh
Thần. Ân ban này độc lập với nội dung của từng lời cầu nguyện. Thánh
Thần là Thần Khí của Thiên Chúa, Thần Khí liên kết chúng ta với Thiên
Chúa. Ngài là Thần Khí làm cho chúng ta thành con Thiên Chúa và giúp
chúng ta có thể kêu lên “Cha ơi!”.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<i><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">+ Kết luận </span></i></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">Bởi vì Người biết và luôn luôn
chiêm ngưỡng Thiên Chúa, bởi vì Người cũng biết ý nghĩa và cùng đích của
đời sống chúng ta, Đức Giêsu có thể dạy chúng ta cầu nguyện cùng Thiên
Chúa hơn bất cứ ai trước Người. Trong Kinh Lạy Cha, Đức Giêsu cung cấp
cho chúng ta không những một<i> </i>bản văn kinh nguyện, mà còn cho một<i>
</i>kiểu mẫu về các nội dung của lời cầu nguyện của chúng ta. Chúng ta
được gọi Thiên Chúa là “Cha”: tương quan của Thiên Chúa với chúng ta là
như tương quan của một<i> </i>người cha với các con mình. Và chúng ta
hoàn toàn có thể tin cậy vào lòng nhân lành của Thiên Chúa. Trong lời
cầu nguyện, chúng ta chứng tỏ mình có một hình ảnh về Thiên Chúa và cảm
nghiệm thế nào về Ngài. Trong lời cầu nguyện, chúng ta thể hiện tương
quan của chúng ta với Thiên Chúa. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<b><span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">5.- Gợi ý suy niệm</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">1. Trong khi cầu nguyện, Đức
Giêsu gọi Thiên Chúa là “Cha” (10,21; 22,42; 23,34-46), bởi vì Người
biết Cha như thế. Lời dạy về cầu nguyện cũng đồng thời là một<i> </i>lời
dạy về đức tin. Chúng ta phải tin rằng Thiên Chúa là Cha chúng ta và
Ngài quan hệ với chúng ta với tất cả sự quan tâm và yêu thương. Chúng ta
phải ngỏ lời với Ngài và dâng lên Ngài những lời thỉnh cầu với đức tin
này. Nếu chúng ta có một<i> </i>ý tưởng đúng về Ngài, chúng ta sẽ trình
với Ngài những lời thỉnh cầu đầy tin tưởng và hy vọng và cậy vào sự giúp
đỡ của Ngài. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">2. Đức Giêsu dạy chúng ta phải
và có thể cầu xin cho có những nhu cầu vật chất. Người không bảo chúng
ta xin cho có dư thừa. Lời cầu nguyện Người dạy cũng không thu hẹp lại
theo kiểu ích kỷ, Người dạy xin cho “chúng con”, tức là tất cả những ai
đang cầu nguyện. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">3. Thiên Chúa không đẩy chúng
ta vào cám dỗ với mục đích làm cho chúng ta rơi vào tội lỗi. Nhưng Ngài
có thể thử thách chúng ta, có thể thử sự bền vững và chắc chắn của chúng
ta. Với lời xin cuối cùng, chúng ta được mời gọi loại trừ mọi cao ngạo
và tự phụ.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">4. Như người bạn đến xin người
láng giềng giúp cho một<i> </i>nhu cầu, chúng ta cũng phải ngỏ lời với
Thiên Chúa không phải vì những chuyện phù phiếm, nhưng là để trình bày
với Ngài những nhu cầu thực tế của chúng ta và của người khác. Đứng
trước Thiên Chúa, chúng ta không cần phải tìm kiếm hoặc tính toán so đo
về các lời lẽ, nhưng chúng ta có thể nói thẳng ra với Ngài. Và khi cầu
nguyện, chúng ta không được mệt mỏi hoặc nản chí. Chúng ta không được bỏ
Ngài, không mong được Ngài giúp đỡ, để rồi đi theo đường mình cách cam
chịu hoặc tự phụ. Chúng ta cứ phải liên kết với Ngài bằng một<i> </i>lời
cầu nguyện kiên nhẫn, đầy niềm tin tưởng và đơn sơ, lặp đi lặp lại và
không mỏi mệt.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">5. Đức Giêsu cam kết rằng nếu
chúng ta tha thiết cầu nguyện, chúng ta sẽ được Thiên Chúa nhận lời. Tuy
nhiên, dường như điều này không đúng với kinh nghiệm chúng ta? Thật ra
Đức Giêsu bảo đảm rằng Thiên Chúa chỉ ban những của tốt lành, nhưng
Người không hề bảo đảm là lời cầu nguyện của chúng ta luôn luôn có nội
dung là những ân ban mà chúng ta thấy là tốt lành. Người cha không đưa
con rắn cho đứa con xin cá. Nhưng nếu người con xin một<i> </i>con rắn
mà nghĩ rằng đó là điều tốt, thì người cha, chính vì ông tốt, ông sẽ
không nhận lời xin này. Vậy chính Thiên Chúa phán đoán về các lời thỉnh
cầu của chúng ta. Chúng ta không thể qui định cho Ngài cách thức Ngài
phải theo mà nhận lời chúng ta. Chỉ có một<i> </i>điều là chúng ta chắc
chắn rằng Ngài sẽ nhận lời vào lúc tốt nhất cho chúng ta.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span lang="VI" style="font-size: 14.0pt">6. Không có gì lạ nếu khi dạy
chúng ta gọi Thiên Chúa là “Cha”, Đức Giêsu lại hứa là những ai ngỏ lời
với Thiên Chúa sẽ được Ngài ban Thánh Thần. Nếu chúng ta ngỏ lời với
Thiên Chúa trong đức tin, chúng ta đã đang cầu nguyện trong sức mạnh của
Chúa Thánh Thần rồi. Và khi cầu nguyện như thế, chúng ta đã sẵn sàng để
cho mình được thấm nhuần sâu xa hơn bởi Thần Khí này, để cho Ngài trở
nên sống động trong ta, và càng ngỏ lời với Thiên Chúa như là Cha chúng
ta trong niềm tin tưởng trọn vẹn hơn. Điều quan trọng hơn mỗi lời xin và
mỗi sự nhận lời, đó là tương quan chúng ta thiết lập với Thiên Chúa
trong cầu nguyện. Lời kinh dâng lên với đức tin đã là một<i> </i>sự nhận
lời rồi, bởi vì khi đó dây liên kết chúng ta với Thiên Chúa được đào sâu
thêm và tăng trưởng hơn: Thiên Chúa ban Thánh Thần cho những ai cầu
nguyện và đón tiếp họ vào trong sự hiệp thông ngày càng sống động và
thân tình hơn với Ngài.</span></td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center"> <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a> <a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/suyniemINDEX.htmy"><img border="0" src="../../../../_Nam_A/2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a> </td></tr></table><p style="text-align: center"> </p>