File "08.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2022/Mua-Vong-Giang-Sinh/Giang-Sinh/Le-dem/08.htm
File size: 34.76 KiB (35594 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>Mùa Giáng Sinh - Năm B</title><base target="main"><meta name="keywords" content="Mùa Giáng Sinh - Năm B - Năm B - Các Thánh Tử Đạo Việt Nam;  suy niệm, tinmung.net, DongCong, "><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
-->
</style>
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000">Chúa Giáng Sinh - Năm&nbsp; 
	C</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">ĐỨC GIÊSU SINH RA Ở BÊLEM</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right"><span style="font-size: 8pt; font-style: italic">Chú giải của Fiches Dominicales</span></td></tr><tr><td width="474" style="text-align: justify; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none">
	<p style="text-indent: 37px"><font face="Times New Roman"><i><font size="4">
	ĐỨC GIÊSU SINH RA Ở BÊLEM<br>VÀ THIÊN THẦN BÁO TIN CHO CÁC MỤC ĐỒNG</font></i><font size="4"><br><br>
	VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI<br><br>1. Bóng tối của một sự ra đời...<br><br>Trong phần 
	mở đầu của tác phẩm mình, thánh sử Luca không muốn làm công việc của một sử 
	gia - lẽ tất nhiên không theo nghĩa hiện đại của từ ấy - nhưng như một nhà 
	thần học đặc biệt nhạy cảm với lịch sử cứu độ.<br><br>Thánh sử muốn đưa việc 
	Đức Giêsu sinh ra vào lịch sử chung, bằng cách nối kết sự giáng sinh của 
	Người với &quot;sắc lệnh của hoàng đế Augustô ra lệnh kiểm tra dân số trong khắp 
	cả thiên hạ.&quot; J. Potin suy diễn thêm: &quot;ở Syria việc kiểm tra dân số thường 
	diễn ra 12 năm một lần. Flavius Joseph cho hay, vào năm thứ 6 của kỷ nguyên 
	chúng ta, dưới thời Quirinius có cuộc kiểm tra dân số điều này trong hợp với 
	cuộc kiểm tra dân số Luca đã đề cập đến. Như vậy, năm thứ sáu trước kỷ 
	nguyên chúng ta, rất có thể là năm Đức Giêsu sinh ra&quot; (&quot;Đức Giêsu, lịch sử 
	có thật&quot;, Centurion tr. 93).<br><br>- Vì muốn nhấn mạnh sự nối tiếp của lịch 
	sử cứu độ và lịch sử ấy hoàn tất với Đức Kitô, nên Luca đề cập đến dòng dõi 
	Đavid của Đức Giêsu:<br><br>Bỏ Nadarét ở Galilê, Giuse đi về Bêlem &quot;thành 
	của Đavid&quot; để khai hộ khẩu, bởi lẽ ông thuộc nhà và dòng dôi Đaviđ”.<br><br>
	Chính tại Bêlem “ Maria vợ ông đang có thai” sẽ hạ sinh con trẻ. Biến cố 
	được diễn tả cách giản dị lạ thường. Trong chuyến đi về Bêlem, tuy đóng vai 
	trò quyết định, nhưng Giuse tự xoá mờ trước Maria. Mẹ mới là người quan 
	trọng: Ngài sinh con đầu lòng, bọc trong tã và đặt nằm trong máng cỏ &quot; ( 
	cảnh này gợi lên cảnh đặt vào mồ: Lc 23,53 họ lấy khăn liệm bọc Ngài và đặt 
	vào mồ), vì không có chỗ cho họ trong &quot;phòng tập thể”: (sau này chúng ta sẽ 
	gặp lại &quot;phòng tập thể&quot; trong Luca, đó là phòng tiệc ly: Lc 22,11).<br><br>
	2. Sẽ soi sáng mọi đêm tối&quot;.<br><br>Trái với sự thanh vắng, bóng tối và sự 
	nghèo nàn của cảnh ra đời, này đây &quot;trong vùng lân cận”, đêm tối rạng ngời 
	và tiếng hát vang dội, nói lên ý nghĩa của biến cố vừa mới hoàn thành: trời 
	và đất gặp nhau, những người đầu tiên được lãnh nhận ơn mạc khải là những 
	người hèn mọn nhất của thời đại: các mục đồng, một lớp người trong xã hội bị 
	khinh chê nhất, được xếp với hạng người tội lỗi và bọn thu thuế. H.Cousin 
	giải thích: &quot;ở Palestin, chăn chiên là lớp người mang tiếng xấu, thường được 
	người ta coi là bọn bất lương và trộm cắp. Sách Talmud ở Babylone xếp họ vào 
	hạng người đáng chú ý: dân mục tử, bọn thu thuế, thật khó mà ăn năn trở 
	lại&quot;. những người bị khinh chê và được xếp vào bậc thang cuối cùng của xã 
	hội lại là những người đầu tiên được đoái đến bởi Đấng vừa sinh ra, con của 
	một người mẹ &quot;hèn hạ &quot; (Lc 1,48: phận nữ tỳ hèn mọn); chính Ngài sẽ đem Tin 
	Mừng cho người nghèo khó (4, 18). Đấng vừa sinh ra là Đấng để cho người tội 
	lỗi đến với mình và đồng bàn với họ &quot; (15, 2) (&quot;Tin Mừng thánh Luca&quot;, 
	Centurion tr. 38-39).<br><br>- Sứ điệp mà &quot;các thiên thần của Chúa&quot; mang đến 
	cho họ là một &quot;Tin Mừng&quot; (Evangile), một niềm vui lớn. Tin vui ấy là tin vui 
	cho &quot;Toàn dân”. Sứ điệp ấy liên can tới sự giáng sinh của một hài nhi, nơi 
	Người các tước hiệu: &quot;Đấng cứu độ&quot;, &quot;Đấng Mêsia &quot;, &quot;Chúa &quot; đạt được sự viên 
	mãn bởi lẽ chính Ngài là sự mạc khải sống động về lòng nhân từ của Thiên 
	Chúa. &quot;Đấng cứu độ &quot;, &quot;Đấng Mêsia” (Kitô), &quot;Chúa”, ba tước vị phát xuất từ 
	việc Giáo Hội tuyên xưng đức tin phục sinh, mà chúng ta sẽ thấy trên môi 
	miệng của Phêrô (Cv 2,36...) và của Phaolô (Cv 13,33...).<br><br>- &quot;dấu chỉ&quot; 
	cho các mục tử vùng Bêlem: một trẻ sơ sinh, “bọc tã nằm trong máng có&quot;, để 
	nói vòi những ai biết đón nhận rằng Thiên Chúa ban ơn cứu độ như người đã 
	hứa theo cách thế không ai ngờ tới. R.Meynet dẫn giải: “ Kẻ trước hết sẽ nên 
	sau hết. Con người được coi là Đấng Cứu độ, là Vua, là Đấng Mêsia và được 
	thừa kế ngai vàng Đavid tổ phụ Người, lại nằm trong máng cỏ của súc vật, bọc 
	tã, nằm trong cái nôi tạm bợ, cũng như sau này, Người sẽ được bọc trong khăn 
	liệm và nằm trong ngôi mộ không phải dành cho mình. Dù mâu thuẫn, đó vẫn là 
	dấu chỉ cho các mục tử và cho Kitô hữu của mọi thời. Dấu chứng cho sự cao 
	sang của Thiên Chúa lại là sự nhỏ bé, và cho quyền năng của Người lại là sự 
	hèn yếu (&quot;Tin Mừng theo thánh Gioan: phân tích tu từ học&quot;, Cerf, tr. 36).<br><br>
	- Lời tạ ơn “đột nhiên&quot; vang lên. Trên trời, biến cố được diễn tả với chiều 
	kích rộng lớn và trong bầu khí trang trọng. Cùng lúc, dưới đất, là cuộc tổng 
	kiểm tra dân số của Augustô: với thiên sứ, một cơ binh trên trời đông vô số 
	ngợi khen Thiên Chúa rằng: Sáng danh Thiên Chúa trên các tầng trời, bình an 
	dưới thế cho người Chúa thương. Cả trời đất đều mừng vui: kỷ nguyên cứu rỗi 
	đã mở đầu Thiên Chúa, Đấng lấy việc ban hồng ân làm vinh quang, sẽ đổ xuống 
	trên dân Ngài sự &quot;bình an&quot; mà Ngài đã hứa trong ngày cứu độ: không phải sự 
	đảm bảo vật chất của nền &quot;hoà bình Rô-ma&quot; Mà Con người chờ đợi ở Augustô, 
	nhưng là sự tràn đầy sự sống là chỉ mình Ngài có thể ban cho. Trong đêm tối, 
	trở về với cảnh thanh vắng, từ cánh đồng quê Bêlem, mục tử lên đường để xem 
	sự việc đã xảy ra? Họ tìm thấy Maria, Giuse và Hài nhi mới sinh nằm trong 
	máng cỏ. Sau đó, họ trở về và ca ngợi tạ ơn về những gì họ đã thấy và đã 
	nghe, họ là gương mẫu cho các nhà truyền giáo mà thánh Luca sẽ trình bày 
	trong cuốn sách thứ hai: Sách Công Vụ Tông Đồ.<br><br>BÀI ĐỌC THÊM<br><br>1. 
	Từ Bêlem đến Phục Sinh”<br><br>(A.George, trong &quot;Assemblées du Seigneur&quot;, số 
	10, tr. 6f&#39; 67).<br><br>&quot;Thánh Luca muốn diễn tả một sự kiện diễn ra tại 
	Bêlem thời César Augustô mà ông đã nghe kể và hiểu theo truyền thống của 
	Giáo Hội. Ông chú ý đến sự kiện này như một biến cố rõ ràng, xảy ra ở một 
	nơi nhất định, nhưng ông tỏ ra không mấy chú ý đến các chi tiết. Điều đáng 
	ông lưu ý trong sự kiện này là ý nghĩa của lịch sở cứu độ. Đó chính là tính 
	hiện tại của ơn cứu độ. Nó diễn ra trong suốt cuộc đời của Đức Giêsu, từ 
	Bêlem đến Phục sinh. Khi ông định nghĩa Đức Giêsu như Đấng cứu chuộc, như 
	Kitô Đức Chúa, ông không muốn nói những gì người ta đã hiểu về Đức Giêsu 
	ngày Ngài sinh ra, nhưng Ngài vẫn là như thế cho đến muôn đời. Khi ông kể 
	lại câu chuyện các mục tử, ông nghĩ đến tất cả những ai đã rao truyền sứ 
	điệp thời các tông đồ, nghĩ đến tất cả những ai đã đón nhận sứ điệp ấy. Vì 
	thế ngày nay, câu chuyện đó liên quan đến chúng ta. Đối với ông, mầu nhiệm 
	kết hợp cách bất khả phân ly với lịch sử. Ông tin rằng ơn cứu rỗi đã được 
	ban trong biến cố Đức Giêsu. Và vì thế ông đã viết cuốn sách này.<br><br>Đức 
	tin của ông, cũng như của chúng ta, không chỉ dựa trên câu chuyện ấy. Đức 
	tin ấy phát xuất từ việc biết Đức Giêsu trong tất cả mầu nhiệm của Ngài, 
	trong nhân cách huyền nhiệm được mặc khải dần dà, trong sứ điệp cứu rỗi muôn 
	đời, trong việc Ngài luôn toả sáng. Bởi lẽ sự mặc khải về Đức Giêsu là một 
	sự kiện duy nhất đã xảy ra trong thời Đức Giêsu và kéo dài cho đến chúng ta, 
	thời của Giáo Hội. Mỗi người chúng ta đều được mời gọi đưa ra một chọn lựa 
	trước sự kiện này. Quyết định như thế thật khó khăn vì nó đòi chúng ta phải 
	hoàn toàn dấn thân. Sự quyết định đó cũng không bao giờ hoàn tất, bởi vì Đức 
	Kitô vượt xa hơn bất kỳ ai khác, nên sự hiểu biết về Người là một khám phá 
	của tất cả cuộc đời.<br><br>Câu chuyện giáng sinh ở Bêlem chỉ có ý nghĩa đối 
	với những ai đã nhận ra Đức Giêsu là Đấng Cứu độ, là Kitô Đức Chúa. Sự Giáng 
	Sinh làm lộ rõ điều nghịch lý nơi con người giàu: sự nghèo hèn song hành với 
	vinh quang. Điều nghịch lý này làm cho người Do Thái thời Ngài cũng như mọi 
	người chưng hửng: một bên là sự trần trụi của một Hài nhi yếu ớt, từ lúc mới 
	sinh đã phải tùng phục sắc lệnh của một hoàng đế ngoại giáo, và trong cảnh 
	xa nhà, chỉ được một người mẹ tứ cố vô thân, một bác thợ mộc và mấy người 
	chăn chiên tiếp đón... bên kia là sự xuất hiện của cả một đạo binh ngời sáng 
	trên trời, vinh quang Thiên Chúa tỏ hiện và lời tung hô Đấng Cứu thế, Kitô 
	Đức Chúa. Sự gặp nhau giữa nỗi khốn cùng của loài người và vinh quang của 
	Thiên Chúa chính là sự kiện Thiên Chúa đến trong lịch sử chúng ta: một sựï 
	hiệp thông với cả nhân loại, để dấy lên niềm hy vọng, một sự hiện diện trong 
	tình yêu cho đến muôn đời.<br><br>Cuộc gặp gỡ này không chỉ diễn ra trong 
	mầu nhiệm của đêm Giáng Sinh mà còn kéo dài trong tất cả cuộc đời Đức Giêsu, 
	từ những phép lạ và thử thách của cuộc sống trần gian cho đến vinh quang 
	phục sinh, toàn thắng mà thế gian không biết đến. Suốt dòng thời gian, sự 
	hiện diện của Thiên Chúa giữa nhân loại chính là Giáo Hội. Giáo Hội này tuy 
	còn đầy dấy sự yếu hèn của chúng ta nhưng lại là nguồn mạch ơn cứu độ muôn 
	đời của Thiên Chúa. Trong Giáo Hội, trong chúng ta, cũng như trong đêm Giáng 
	Sinh và Phục sinh, &quot;chính trong sự yếu hèn mà quyền năng được toả lan &quot; ( 2 
	C r 12, 9 ) .<br><br>2. &quot;Đã 2000 năm&quot;<br><br>(Mgr. F.Favreau trong &quot;Mùa Vọng 
	năm 2000&quot;, Documents &quot; épiscopat, số 14, tháng 10, 1 996).<br><br>(Tạm dịch)<br><br>
	Hai ngàn năm đã trôi qua,<br><br>Giêsu, Chúa đã sinh ra giữa đời.<br><br>Kỷ 
	niệm bất diệt đầy vơi,<br><br>Mừng cùng Giáo Hôi khắp nơi, vũ hoàn.<br><br>
	Niềm vui cảm tạ tri ân,<br><br>Chúa đã thăm viếng cõi trần chúng con.<br><br>
	Lời xưa Chúa hứa vẫn còn:<br><br>Ở cùng nhân loại chúng con mỗi ngày.<br><br>
	Chúng con cảm nghiệm giờ đây,<br><br>Chúa đang hiện diện mọi ngày đời con<br><br>
	Ban ơn trông cậy trường tồn,<br><br>Một niềm phó thác, con luôn vững bền.<br><br>
	Trên vùng Đất Hứa nửa đêm,<br><br>Chúa đến mặc khải êm đềm tình Cha.<br><br>
	Chúa yêu ta, chết vì ta.<br><br>Chúa ơi! Xin dẫn con và anh em<br><br>Vào 
	trong nguồn suối êm đềm<br><br>Của tình yêu Chúa ở trên cõi đời.<br><br>Tình 
	Cha bí mật tuyệt vời<br><br>Chính là ơn gọi con nơi thế trần.<br><br>
	Tibêriat dừng chân,<br><br>Tám mối phúc, Chúa ân cần dạy con.<br><br>Biến 
	con thành sử giả luôn<br><br>Loan truyền mối phúc cho muôn muôn người.<br><br>
	Thánh Thần xin gởi đầy vơi,<br><br>Trên Hội Thánh Chúa ở nơi thế trần:<br><br>
	Ngài ban sức mạnh hồng ân<br><br>Giúp con lướt thắng tinh thần cứng tin.<br><br>
	Dắt con vững bước đăng trình,<br><br>Anh em, đến với mối tình tri âm.<br><br>
	Biến con thành thợ Phúc Âm.<br><br><br><br>NGÔI LỜI ĐÃ TRỞ NÊN NGƯỜI PHÀM<br><br>
	VÀ CƯ NGỤ GIỮA CHÚNG TA<br><br>(Ga 1,1-18)<br><br>VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI<br><br>
	1. Lời Tựa là một Thánh Thi.<br><br>Matthêu mở đầu tin Mừng bằng &quot;Gia phả 
	của Đức Giêsu Kitô, Con vua Đavít, con Aùpraham”. Luca thì bắt đầu &quot;trình 
	thuật về những biến cố đã diễn ra giữa chúng ta &quot; (1,1) bằng cách trình bày 
	gẫy gọn một ít giai thoại về đời thơ ấu của Đức Giêsu: những giai thoại này 
	vừa giới thiệu vừa tiên báo về cuộc đời Chúa. Máccô (như ta đã đọc ở Chúa 
	nhật thứ II Mùa Vọng) đặt cho tác phẩm của Ông một tựa đề đầy ý nghĩa: “Khởi 
	đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa”.<br><br>Về phần Gioan, ông bắt 
	đầu Tin Mừng bằng một Lời Tựa dưới dạng Thánh Thi, mà nhiều nhà chú giải 
	nghĩ rằng thánh thi này đã được hát trong cộng đoàn của Gioan, trước khi 
	được đặt vào đầu cuốn Tin Mừng. Cũng giống như khúc mở đầu một bản hoà tấu - 
	hay đúng hơn như đoạn kết, thánh thi này nối kết các đề tài thành một bản 
	tóm tắt đầy sức mạnh.<br><br>Alain Marchadour giải thích: &quot;Để mở đầu cho Tin 
	Mừng của mình. Gioan đã chọn một thánh thi. Lời mở đầu này như khúc dạo đầu 
	một bản nhạc, lần lượt kể ra những đề tài lớn của Tin Mừng và nói đến nguồn 
	gốc cũng như nguyên thủy của Đức Giêsu mà Tin Mừng sẽ tường thuật cuộc đời 
	của Ngài khi Ngài sống giữa loài người. Lúc khởi đầu Ngài là Ngôi Lời, 
	thường tình thân thiết với Thiên Chúa đến nỗi thi sĩ quả quyết rằng ngôi là 
	Thiên Chúa. Vai trò của người vượt khỏi ranh giới dân Israel bởi vì Người là 
	Đấng tạo thành, là Sự Sống, là Aùnh Sáng cho mọi người sinh ra nơi trần thế. 
	Biến cố nhập thể đánh dấu việc Ngôi Lời xâm nhập lịch sử, cuộc gặp gở định 
	mệnh với loài người và với dân Do Thái, người thì từ chối, kẻ thì đón nhận. 
	Những người đón nhận là cộng đoàn Kitô hữu. Thánh thi này long trọng kể ra 
	cuộc hành trình của Ngôi Lời, từ lúc ở với Thiên Chúa (câu 1-2), rồi đến 
	giũa loài người (3-5), chọn dân Israel (9-11) rồi nhập thể (14) cho đến ngày 
	trở lại, &quot;Người là Đấng hằng ở nơi cung lòng Thiên Chúa”, &quot; (&quot;L Evangile de 
	Jean&quot;, Centurion 1 992, trang 31).<br><br>2. Ca ngợi cuộc hành trình của 
	Ngôi Lời Thiên Chúa<br><br>Chúng ta hãy theo dõi sự triển khai từng phần 
	một.<br><br>Nguồn gốc bí nhiệm của Đức Giêsu, Ngôi Lời sáng tạo:<br><br>+ 
	Hai từ đầu tiên “Khởi đầu&quot; liên kết việc Đức Giêsu xuống trần với những 
	chương đầu sách Sáng Thế, như thế phải đọc về Đức Giêsu từ giây phút đầu của 
	mạc khải: xuyên suốt Tin Mừng, Người được giới thiệu &quot;như điểm hoàn tất của 
	tất cả mạc khải, như Đấng mạc khải tối cao, như ân huệ tối hậu của Thiên 
	Chúa, như con đường duy nhất dẫn tới ơn cứu độ, và như khuôn mặt của Thiên 
	Chúa giữa loài người&quot; (A.Marchadour, Sđd, trang 34).<br><br>+ Trước hết, 
	thánh thi nói đến &quot;Ngôi Lời Thiên Chúa&quot; (danh hiệu của riêng Gioan trong Tân 
	ước) trong hiện hữu vĩnh cửu, tình nghĩa thiết muôn đời với Chúa Cha nhưng 
	khác biệt với Cha: và thiên tính của Người: &quot;Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên 
	Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa”.<br><br>Sau đó thánh thi công bố tính phổ 
	quát của công cuộc tạo thành do Đấng là Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa: &quot;Nhờ 
	người vạn vật được tạo thành, và không có Người thì chẳng có gì được tạo 
	thành”. Đồng thời, Người trao ban sự sống cho vạn vật, Người đem họ vào cuộc 
	sống.<br><br>Ngôi Lời của Thiên Chúa, Aùnh Sáng và Sự Sống loài người.<br><br>
	Ở gần Thiên Chúa và là Thiên Chúa, Ngôi Lời từ nguyên thuỷ đã sống trong 
	tương quan độc nhất với con người: Người<br><br>không chỉ là Đấng tạo thành, 
	Người còn là “Sự Sống&quot; và “Ánh Sáng”. Người không chỉ là nguồn gốc của mọi 
	sinh vật, nhưng sự hiện diện của Người ở giữa chúng sinh còn tạo nên sự hiệp 
	thông với sự sống siêu nhiên. Người cũng là Aùnh Sáng: Không phải là ánh 
	sáng vũ trụ, mà là ánh sáng thần linh và siêu phàm, hướng dẫn con người.<br><br>
	- Chứng tá của Gioan Tẩy Giả.<br><br>Trái ngược với vẻ trịnh trọng trong 
	nhưng câu đầu của Lời Tựa, giờ đây Gioan Tẩy Giả bước lên sân khấu: &quot;Có một 
	Người…”<br><br>Sự Sáng đến thế gian đã có một nhân chứng đi trước, đó là 
	Gioan, con ông Giacaria. Vẻ cao cả của con người này là ông được Thiên Chúa 
	sai đến, và ông đã đón nhận sứ mệnh làm chứng cho Aùnh Sáng: với tư cách là 
	Tiền hô, ông hướng dẫn người ta đến với đức tin, tin vào Đấng là Aùnh Sáng, 
	là Đấng phải chiếm được tất cả địa vị: &quot;ông không phải là Aùnh Sáng, nhưng 
	ông đến để làm chứng về ánh sáng”.<br><br>- Ánh Sáng đã đến trong thế gian.<br><br>
	+ Nhưng khi Aùnh Sáng đến thế gian thì con người lại từ chối và chống đối. 
	Thế gian mà Ngôi Lời đã tạo thành lại khước từ Aùnh Sáng, thật là trớ trêu! 
	(vấp phạm): Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại 
	không nhận biết Người”.<br><br>Còn trớ trêu hơn nữa, là &quot;gia nhân của 
	Người”, dân của Lời hứa, dân của Giao ước, &quot;đã không đón nhận Người”.<br><br>
	+ &quot;Còn những ai đón nhận Người - dù là dân Israel hay dân ngoại thì Người 
	cho họ quyền trở nên Con Thiên Chúa?<br><br>- Ngôi Lời đã trở nên người 
	phàm.<br><br>+ Gioan đã viết &quot;người phàm”, theo đúng chữ là &quot;trở nên xác 
	thịt”; từ &quot;xác thịt&quot; ở đây không có nghĩa đối nghịch với linh hồn, nhưng có 
	ý nói con người dưới chiều kích mỏng giòn, dễ hư nát.<br><br>+ &quot;Người cư ngụ 
	giữa chúng ta&quot; ( theo đúng chữ: Người cắm lều của Người giữa chúng ta): độc 
	giả của Gioan đọc cụm từ này liền nghĩ ngay đến &quot;nơi ở&quot; của Thiên Chúa ở 
	giữa dân Người. Sự hiện diện của Đức Chúa ở giữa dân Người, được tượng trưng 
	bằng Lều giao ước trong sa mạc, thời Xuất Hành, rồi bằng Đền thờ Giêrusalem, 
	giờ đây thể hiện cách hoàn hảo nơi Đức Giêsu trở nên người phàm: (Ga 
	2,19-22: &quot;Chúa nói về Đền thờ thân xác Người&quot;).<br><br>+ &quot;Chúng tôi được 
	nhìn thấy vinh quang của người&quot; trong con người Giêsu, cộng đoàn của Gioan 
	quả quyết rằng họ được nhìn thấy vinh quang của Thiên Chúa, nghĩa là: một 
	phẩm chất, một vầng hào quang mạc khải Thiên Chúa.<br><br>- Đức Giêsu Kitô 
	đã mạc khải Thiên Chúa vô hình.<br><br>&quot;Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy 
	cả, nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng vốn hằng ở nơi cung lòng Chúa 
	Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết”.<br><br>Jean Perron nhận xét: &quot;Bài 
	Thánh Thi đã khởi đầu từ Ngôi Lời ở nơi cung lòng Chúa Cha cũng kết thúc 
	bằng tư tưởng &quot;Con Một ở nơi cung lòng Chúa Cha&quot;: đó chính là dòng chảy cuộc 
	sống của Đức Giêsu, cũng giống như sẽ nhắc lại ở câu kết vào cuối đời Người: 
	&quot;Người bởi Thiên Chúa mà đến, và sắp trở về cùng Thiên Chúa&quot; (Ga 13,3). 
	Nhưng trong &quot;tiến trình đi lên cùng Đấng duy nhất cần nhận biết (không ai đã 
	nhìn thấy Thiên Chúa, ngay cả đến Môsê ), Người muốn đem ta đi cùng: &quot;Để 
	Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó&quot; (14,3). Và còn hơn thế nữa, trong cuộc sống 
	thân mật mà Người đã dẫn ta vào: &quot;Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha 
	Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại trong người ấy&quot; 
	(14,23)&quot; (&quot;Lire de Bible&quot;, số 52, trang 34-35).<br><br>BÀI ĐỌC THÊM.<br><br>
	1. Một câu không có &quot;động từ &quot; thì không có nghĩa<br><br>(&quot;Bible du 
	Dimanche&quot; trang 51 1-512).<br><br>(Trong tiếng Pháp, &quot;verbe&quot; vừa nghĩa là 
	động từ, vừa là Lời: một cách chơi chữ ở đây.)<br><br>&quot;Và Ngôi Lời đã trở 
	nên người phàm”. Một từ ngữ, nhẹ hơn một làn khói, làm sao có thể nắm bắt 
	được?<br><br>Thiên Chúa đã không sử dụng thuật pháp của tử ngữ, mà đã nói 
	qua một trẻ thơ được bọc trong tã nơi máng cỏ và còn chưa biết nói, đã nói 
	qua một tử tội không còn có thể nói được nằm trên thập giá. Người nói trong 
	yếu đuối và thinh lặng. Sự thinh lặng hùng biện từ nay đã chứng minh cho mọi 
	người rằng Thiên Chúa không im lặng. Lời của Người không còn là một chuỗi 
	tiếng nói mà đã trở nên người phàm.<br><br>Từ khi con người trông đợi Thiên 
	Chúa, họ cảm nghiệm sự xa vắng của Người hơn là được hưởng sự hiện diện của 
	Người: &quot;Không ai đã được thấy Thiên Chúa&#39;? Điều đó không ngăn cản họ nói 
	nhiều về Người, tuy Người vẫn vắng bông và xa lạ. Họ nói mà không cần nhờ 
	đến những bậc hiền triết, Môsê, Lề Luật, và ngay cả đến Gioan Tẩy Giả hoặc 
	các nhà thông thái. Dù dùng rất nhiều từ cũng không thể có sức thuyết phục 
	bằng một lời nói. Bởi vậy trong Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa không ngừng nói 
	&quot;Lời cuối cùng” của Người.<br><br>Chỉ có Lời (&quot;động từ&quot;) này mới làm cho câu 
	có ý nghĩa. Nhờ Người mà những chuỗi từ của con người mới tìm được sự mạch 
	lạc Người không loan báo những chân lý phụ thuộc, nhưng chính Người là Chân 
	lý; Người soi sáng những sai lầm nơi chúng ta vì chỉ có Người là Aùnh Sáng.<br><br>
	Tuy nhiên, chỉ có Aùnh sáng mới khơi dậy bóng tối. Chỉ có chân lý mới làm 
	thương tổn. Bởi vậy, số phận của Lời này là bị chống đối và đôi khi bị khai 
	trừ. Nhưng cũng chính vì vậy mà Lời Chúa đánh động chúng ta và trờ nên hiển 
	nhiên trước mắt chúng ta&quot;.<br><br>2. Vài câu Kinh Thánh tóm tắt hoàn hảo cả 
	công trình Thiên Chúa đã thực hiện thể cứu-độ nhân loại.<br><br>(L. Sintas 
	trong &quot;Parole de diệu pour la méditation ét l&#39;homélte -Năm C&quot;, Médiaspaul. 
	trang 20-2).<br><br>Mấy câu Gioan dùng để bắt đầu Tin Mừng là những câu nổi 
	trọng nhất trong truyền thống bình dân của tội Thánh. Cách đây không lâu, 
	mọi thánh lễ đều kết thúc bàng bản văn này. Trong, các giáo xứ ở Pháp, khi 
	cha mẹ lo lắng về con cái đến xin linh mục cầu nguyện cho chúng, thì họ đưa 
	chúng đến nhà thờ, và linh mục thường đọc những câu Tin Mừng này, trong khi 
	đặt dây stola trên đầu chúng. Đó không chỉ do lòng sùng mộ của một vài 
	người, mà là một thói quen phổ biến trong quần chúng Kitô giáo. Việc chọn 
	những câu Tin Mừng này thật ra rất chính đáng. Bởi vì những câu này là như 
	bản tóm lược tất cả công trình mà Thiên Chúa đã thực hiện để cứu độ nhân 
	loại.<br><br>- Khởi đầu là xác quyết long trọng về bản tính của Đức Giêsu, 
	Lời của Thiên Chúa. Do Lời, Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ. Thiên Chúa phán... 
	và sự vật liền có. Nhờ người vạn vật được tạo thành, và không có Người thì 
	chẳng có gì được tạo thành”. Gioan đã cả quyết rằng lúc tạo dựng, dù bóng 
	tối dày đặc, cũng không thể cản được ánh sáng tạo dựng. Aùnh sáng đã xô đẩy 
	và quét sạch bóng tối để ngự trị.<br><br>Trái với quyền lực mạnh mẽ lúc ban 
	đầu của Lời Thiên Chúa, bỗng chốc Lời đó trở nên bất lực. &quot;Ngôi Lời là sự 
	sáng thật. Người ở giữa thế gian và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng thế 
	gian lại không nhận biết Người”. Đó là xác quyết về mầu nhiệm Nhập Thể. Lời 
	của Thiên Chúa, Lời tạo thành, đã đến ở giữa phàm nhân. Nhưng bóng tối dày 
	đặc đã ngăn cản ánh sáng nên thế gian không đón nhận ánh sáng. Ngay khi xác 
	định việc Thiên Chúa Nhập thể, thì cũng cho thấy sức mạnh của tự do con 
	người. Tự do ấy có thể khiến họ khước từ ánh sáng. Tội lỗi là một chướng 
	ngại ngăn cản con người đến với Thiên Chúa, chướng ngại mà chính Thiên Chúa 
	cũng không. thể vượt qua nếu con người không đồng ý.<br><br>Con Thiên Chúa 
	&quot;đã đến nơi nhà Người và gia nhân Người không đón nhận Người”. Đó là số phận 
	của Người mới đến giữa nhân loại. Từ khi trốn sang Ai Cập, cho đến cuộc khổ 
	nạn, chết trên thập giá, Người từ Thiên Chúa mới đến này bị anh em đồng loại 
	của mình ruồng bắt, nghi ngờ, tố cáo, xét xử và hành quyết. Đó là công việc 
	của ý muốn con người khi ý muốn ấy bị chi phối bởi đam mê xác thịt, đam mê 
	trần thế và tính khát máu. Chúng ta gọi tên nó là tội. Khi phạm tội, người 
	ta tìm thoả mãn ý riêng mình, thay vì tìm ý Chúa và vinh quang của Người. 
	Như vậy, qui ngã là dấu cho thấy con người có thể gây cho Thiên Chúa những 
	đau khổ tệ hại nhất, nỗi nhục nhằn kinh khủng nhất.<br><br>Tuy nhiên, Lời 
	Thiên Chúa sẽ chiến thắng. Chiến thắng không do áp chế con người nhưng nhờ 
	sự hoán cải trong tâm hồn. &quot;Nhưng những ai đón nhận Người, những kẻ tin vào 
	danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên Con Thiên Chúa”.<br><br>Một bức 
	hoạ diễn tả thảm kịch của nhân loại đã được vẽ lên. Nó họa lai sự cao cả của 
	Thiên Chúa, Đấng Sáng tạo và ơn cứu độ danh cho những người thiện tâm. Là 
	nạn nhân của tính tự mãn, loài người không thể nào nhận biết Con Thiên Chúa 
	nên đã đóng đinh Người trên thập giá. Chính thập giá lại trở nên cửa mở vào 
	sự sống lại cho những ai chấp nhận đóng đinh tính tự mãn của mình trong cuộc 
	sống hằng ngày, bằng tự nguyện từ bỏ vì đức tin. Lúc đó ánh sáng sẽ phủ ngợp 
	con người họ&quot;.<br><br>3. Tổng hợp sống động giữa hai quy trình xem là trái 
	ngược (&quot;Célébrer&quot; số 264, trang 41-42).<br><br>Có thể coi phần thứ nhất 
	(1-14) là lịch sử của Ngôi Lời; người ta dùng ngôi thứ ba để nói về Ngài: 
	“Người”, “trong Người”, &quot;nhờ người&quot;. Qua việc dùng các động từ khác nhau, 
	người ta lần lượt kể ra mối tương quan của Ngôi Lời với Thiên Chúa, vai trò 
	của Người trong công cuộc tạo dựng, hoạt động của Người ở trần gian, và việc 
	Người đến trong lịch sử nhân loại.<br><br>Cách trình bày này có lẽ do thánh 
	thi ở sách Châm Ngôn đoạn 8 và sách Ben Sira đoạn 24 gợi ý. Ở hai sách này, 
	Khôn Ngoan tự thuật về đời mình: được Thiên Chúa tạo dựng, Khôn Ngoan gợi ý 
	cho Thiên Chúa trong việc tạo dựng, Khôn Ngoan đi lại với con người, chất 
	vấn con người và sau vậy sự Khôn ngoan được nhân cách hoá này là gì? Có lẽ 
	phải hiểu là kế hoạch mà Thiên Chúa có ở trong trí khi tạo dựng vũ trụ. Ngay 
	từ đầu, Người biết rằng một ngày kia Người sẽ mạc khải mình trọn vẹn để đem 
	hạnh phúc đến cho loài người. Kế hoạch này đã có sẵn trong mọi công trình 
	của Người, mọi sự đều nói lên ý nghĩa do Người đặt định; mọi tạo vật nói về 
	Người, ai cũng có thể nhận biết Người và giao tiếp với Thiên Chúa...<br><br>
	- Đọc phần thứ hai của Lời Tựa, ta cảm thấy mình ở trong một bối cảnh hoàn 
	toàn khác: ba lần dùng danh xưng &quot;chúng tôi&quot; để chỉ cộng đoàn các môn đệ, ba 
	câu vang lên như tiếng reo mừng, biểu lộ một cảm nghiệm ưu tuyển, mà ta cũng 
	thấy ở thời Gioan, chương 1: &quot;Điều vẫn có ngay từ lúc thời đầu, điều mà 
	chúng tôi đã nghe...? Lần này không còn nói về điều ở trên trời, nhưng nói 
	về cuộc gặp gỡ lịch sử, cự thể với Đức Giêsu Nagiarét, một cảm nghiệm không 
	thể quên, được kêu lên trong niềm kinh ngạc và xúc động: phải, chúng tôi đã 
	nhìn thấy vinh quang của Chúa Cha, phải, chúng tôi đã nhìn thấy sự sống 
	chiến thắng sự chết, phải chúng tôi đã nhìn thấy bóng tối không ngăn cản 
	được ánh sáng. Từ cuộc gặp gỡ lịch sử này, chúng ta đi ngược lên tới tận 
	nguồn gốc của Ngôi Lời. Như vậy Lời Tựa đã tổng hợp hai quy trình xem ra 
	trái ngược nhau một cách sống động: giải thích tổng quát lịch sử và cảm 
	nghiệm độc nhất vào một thời điểm nhất định. Bởi vậy, Ngôi Lời đã trở nên 
	người phàm, có nghĩa cụ thể là: ý định mà Thiên Chúa có khi tạo thành vũ trụ 
	đã được tỏ lộ qua sự kiện Nhập Thể - đó là dấu chỉ mà Người nhắn gởi đến 
	nhân loại qua mọi thành phần trong vũ trụ, qua sự gắn bó chặt chẽ của mọi 
	vật trong trời đất, qua Giao ước tạo lập nên một dân tộc tất cả những điều 
	đó giờ đây đã hình thành và mang khuôn mặt của Đức Giêsu Nagiarét, Lời duy 
	nhất của Chúa Cha, và từ nay mọi người hoàn thành số phận của mình bằng cách 
	trở nên giống Chúa Con&quot;.</font></font></td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<a style="text-decoration: none" href="../../../../../suyniemINDEX4.htm"><img border="0" src="../../../../2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr>

PHP File Manager