File "07.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2022/Mua-Chay-Phuc-Sinh/CN V PS/07.htm
File size: 23.4 KiB (23962 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật IV Phục Sinh - Năm C</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Điều răn mới; giới răn mới; yêu thương; tình thương; như thầy đã yêu chúng con; ở trong tình yêu; yêu nhau; tình yêu;"><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
	{color:blue;
	text-decoration:underline;
	text-underline:single;
	text-decoration:none underline;
	text-line-through:none;
	vertical-align:baseline}
-->
</style>
<meta name="description" content="Điều răn mới; giới răn mới; yêu thương; tình thương; như thầy đã yêu chúng con; ở trong tình yêu; yêu nhau; tình yêu;">
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460">
	<font size="2" color="#FF0000">Chúa Nhật V Phục Sinh - Năm C</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
		ĐIỀU RĂN MỚI</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
		<a name="_Toc354501217">
		<span style="font-size: 8pt; font-style:italic; font-weight:400">Chú giải của 
		Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt</span></a></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">1. Khi Giuda ra khỏi nhà tiệc ly, có lẽ 
		sau lúc rửa chân và trước khi thiết lập phép Thánh thể, Chúa Giêsu nói: 
		“Bây giờ con người đã được tôn vinh và Thiên Chúa đã được tôn vinh nơi 
		Ngài”. Thốt lên những lời tuyên bố buồn bã về một người trong nhóm 12 sẽ 
		phản bội, câu nói ấy, đối với các tông đồ, vang lên như một bài ca khải 
		hoàn. “Bây giờ” là lúc cuộc xung đột giữa Chúa Giêsu và satan, mà Giuda 
		là dụng cụ (x.13,37), vừa thực sự bùng nổ qua việc tên phản bội quyết 
		tâm ra đi thi hành dự tính của mình; “bây giờ” là lúc Chúa Giêsu đối 
		diện với “giờ” của Ngài, Giờ mà vì đó Ngài đã đến trong thế gian và 
		không ai có quyền cho xảy ra sớm hơn hay trễ hơn (7,30; 8,20; 12, 23-27; 
		13,1; Dt 10,3-7; Lc 13,3-33). Cho đến khi ấy, đời Chúa Giêsu chỉ là một 
		chuẩn bị, “bây giờ” mới bắt đầu thảm kịch cứu rỗi.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Nghĩ đến ơn cứu rỗi loài người và vinh 
		quang Cha Ngài (3,15.17; 8,49-50; 10,10; 12,47), tâm hồn Chúa Giêsu cảm 
		thấy hài lòng đến nỗi - coi cuộc khổ nạn như một thoáng qua và Thập giá 
		như chiếc ngai vàng. Ngài đã nhiều lần chơi chữ khi dùng từ ngữ: giương 
		cao” (exalter, hupsoun) vừa có ý nghĩa “nâng lên” (élever) và “tôn vinh” 
		(glorifier), để cho thấy Ngài sẽ bước lên thập giá chúng ta tư thế một 
		kẻ chinh phục (3,14; 8,28; 12,32-34; 12,23.24). Ngài thâm tín sẽ tìm 
		thấy sự sống trong cái chết và vinh quang trong ô nhục đến nỗi nói về sự 
		vinh hiển của Ngài như là một điều gì đã hoàn tất: “Con người sẽ được 
		tôn vinh ”. Thì quá khứ này, để diễn tả một việc sẽ xảy ra, có thể giải 
		thích dễ dàng nhờ lòng tin tưởng tuyệt đối của Đức Kitô vào hiệu quả 
		chương trình của Chúa Cha hơn là nhờ các hậu kết bất khả kháng gây ra do 
		việc Giuda phản bội.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Có lẽ đừng nghĩ đến các chứng tá Chúa 
		Cha đã ban cho Con Ngài thì đặt trong viễn cảnh đó thì câu nói đến việc 
		Chúa Giêsu đã tôn vinh Chúa Cha bằng cách chu toàn bổn phận khi còn sống 
		(4,34; 17,4), bằng việc mạc khải Chúa Cha (17,6) và vinh quang của Người 
		(2,11; 11,4.40; 17,4), qua lời nói (1,18; 3,32-34; 5,24.38.47; 6,45.63; 
		7,16; 8,38.40-47.55...) và hành động (3,21; 5,19-20.30.36; 8,28; 9,3.4; 
		10,25.32.37.38; 14,10-11; 15,24). Nhưng chữ “bây giờ” bắt đầu câu 31 cho 
		thấy một cái gì mới mẻ vừa khởi phát với việc Giuda bội phản: cuộc khổ 
		nạn - phục sinh của Chúa Giêsu được xem như sự tôn vinh tuyệt hảo nhất, 
		và sự tôn vinh tột bực này một cách nào đó đã được chiêm ngắm trong ý 
		nghĩa thần học của nó. Như thể đã được thực hiện trong mầm mống qua việc 
		phản bội của Giuda. Để xác quyết điều này, chỉ cần nhớ lại chứng tá Chúa 
		Cha vài ngày trước đó: “Ta đã tôn vinh danh Ta và Ta sẽ còn tôn vinh 
		danh Ta nữa” (12,28). Trong trường hợp này, chính Chúa Giêsu đã tuyên bố 
		đã đến giờ Con Người sắp được tôn vinh; hiển nhiên đây là lời tiên báo 
		trực tiếp vào cuộc khổ nạn Ngài sắp chịu và vinh quang Ngài sắp lãnh 
		nhận (12,23-25).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Chính Chúa Giêsu ở đây đã có ý tự xưng 
		là “Con Người”. Mặc dù vẫn có nghĩa thiên sai như trong các phúc âm tước 
		hiệu này dưới ngòi bút của Gioan, mang một ý nghĩa chính xác hơn. Trong 
		mười đoản văn mà chúng ta gặp nó luôn luôn trên miệng Đức Kitô, tước 
		hiệu “Con Người” đã ám chỉ đến vinh quang đang chờ đợi Ngôi lời nhập thể, 
		để đáp lại việc Ngài hạ cố làm thân phận con người, dù là con người 
		tuyệt hảo hơn hết. Và trong 4 lần, tước hiệu này trực tiếp ám chỉ đến sự 
		vinh hiển nhờ thập giá (1,51; 3,13.14; 5,27; 6,27; 6,54.63; 8,28; 12,23; 
		13,31).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Nếu Đức Kitô đã được tôn vinh, chính là 
		vì “Thiên Chúa đã được tôn vinh nơi Ngài”. Mọi việc con người phụng sự 
		Thiên Chúa sẽ trở lại với con người dưới dạng thức vinh quang. Đó là 
		luật, luật này trước tiên liên hệ đến Đức Kitô, và vì thế “Thiên Chúa 
		cũng sẽ tôn vinh Ngài (Đức Kitô) trong chính mình Người (Thiên Chúa)”. 
		Nghĩa là gì? Nghĩa là Ngài sẽ ban vinh quang thuộc về Ngài, khi đón nhận 
		Ngài “trong chính Người”. Con Người sẽ được thông phần vào các đặc quyền 
		của sự sống thần linh, các đặc quyền mà Ngài sẽ nhắc tới trong lời 
		nguyện: “Con đã tôn vinh Cha dưới đất, đã chu toàn công việc Cha giao 
		phó cho Con làm. Và bây giờ xin Cha tôn vinh Con nơi Cha trước khi có 
		thế gian” (17,4-5). Ở đây có sự đối chiếu giữa tình trạng của Đức Kitô 
		lúc còn ở “dưới đất” và tình trạng “trên trời” mà Ngài xin cho được. Từ 
		đó ta hiểu tại sao nói “Con Người” và “Thiên Chúa” thay vì nói Con và 
		Cha. Đúng ra Chúa Con đã bao giờ mất vinh quang đã có ở Chúa Cha ngay 
		trước khi tạo dựng vũ trụ; nhưng nhờ sự vinh hiển mà Đức Kitô đạt được 
		cho nhân tính mình, Thiên Chúa đã nâng con người lên chính Ngai của 
		Thiên Chúa. Chính đấy là nơi mà từ nay các tín hữu đầy lòng tin và đạo 
		đức sẽ tìm đến gặp Ngài. Chính từ đó mà Ngài đã mạc khải cho vị tử đạo 
		tiên khởi của Ngài. Vị này nói khi chết: “Tôi thấy các tầng trời mở ra, 
		và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa” (Cv 7,56).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Khi loan báo “Thiên Chúa sắp tôn vinh 
		Ngài”, Chúa Giêsu ám chỉ đến chứng tá hùng hồn Chúa Cha ban cho Ngài khi 
		cho Ngài phục sinh từ cõi chết. Ngoài ra, việc phục sinh này đối với 
		Ngài chỉ là bước đầu tiên trong cuộc sống hiển vinh mà cuộc khổ nạn sắp 
		đưa Ngài vào.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">2. Trước khi từ giã các môn đệ, Đức Kitô 
		đã cho họ biết ý muốn tối thượng của Ngài: “Ta ban cho các ngươi một 
		điều răn mới là hãy yêu mến nhau. Như Ta đã yêu mến các ngươi, các ngươi 
		cũng hãy yêu mến nhau” (c.34). Ngài nói trong tư thế một sư phụ trăn 
		trối những lời cuối cùng trước khi ra đi (x.Mt 24,45.51), và trong tư 
		thế một người cha hằng lo bảo đảm hạnh phúc cho con cái mà ông sắp giã 
		từ. Nếu được chấp hành tốt, điều răn này sẽ đền bù cho các môn đệ, trong 
		mức độ có thể, sự mất mát không còn thấy Thầy cách khả giác, và sẽ làm 
		họ xứng đáng gặp lại Ngài. Giới luật bác ái huynh đệ mà ở đây Chúa Giêsu 
		gọi là giới luật “mới” ít lúc nữa sẽ được Ngài gọi là “giới luật của 
		Ngài” (15,12).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Chính nhờ giới luật mới, nên Đức Kitô 
		mới có thể tuyên bố là của Ngài. Luật tự nhiên dạy đừng làm cho ai điều 
		ta không muốn họ làm cho mình. Luật Môisen đã thừa nhận khoản luật tự 
		nhiên đó, khi dạy phải yêu tha nhân như chính mình (Lv 19,18). Nhưng đối 
		với ai người Do thái, tha nhân là anh em, đồng bào, bạn hữu mà họ cần 
		phải sống an <a name="VNS0012">hoà</a> với, không thì sẽ bất an khi cùng 
		đi đường. Luật trực tiếp liên hệ đến người Do thái, nhưng không gạt bỏ 
		ngoại kiều (Mt 5,43. Trong các điều kiện trên, tình yêu tha nhân có tính 
		cách tiêu cực nhiều: tránh tất cả những gì có thể gây thù oán, báo phục. 
		Nếu tình yêu được thể hiện cách tích cực bằng hành động, thì cũng không 
		kém vụ lợi; tựu trung, qui tắc là yêu chính bản thân mình. Chính giáo sĩ 
		Hiller, nhà luân lý Do thái nhân bản nhất đã hiểu như thế: “Điều chi 
		ngươi ghét, ngươi chớ làm cho tha nhân. Chính đó là tất cả lề luật, các 
		điều khác chỉ là lời chú giải” (Chabbath, f.31).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Để xác quyết, Chúa Giêsu đã hơn một lần 
		nhắc lại luật căn bản của mọi tương giao xã hội (Mt 7,12; 19,19; 
		22,39-40), nhưng Ngài đã vượt qua luật đó, hay ít ra, đã đưa nó về lại 
		nội dung ban đầu, khi tố giác lối chú giải hẹp hòi và cứng nhắc mà các 
		thày ký lục đã đề ra (Mt 5,43). Không phải chỉ yêu thương bạn hữu, mà 
		còn phải muốn điều lành cho mọi người, kể cả kẻ thù mình; bằng không, 
		không phải là Kitô hữu (Mt 5,46-48).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Với “giới luật mới”, Chúa Giêsu còn thêm 
		nhiều điều trong những đòi buộc của tình bác ái huynh đệ; yêu tha nhân 
		như chính mình chưa đủ người kitô hữu phải yêu tha nhân như Đức Kitô đã 
		yêu họ (c.34). Mà tình yêu Đức Kitô đối với chúng ta là ân cần, vô vụ 
		lợi, tận tâm (Ga 13,13-16; 15,16.19; Rm 15,13). Ngài đã hiến mình cho 
		loài người đến cùng, nghĩa là cho đến chết (Ga 13,1; 15,12-14). Thánh 
		Gioan đã ghi rõ ràng: “Chính do điều này mà ta nhận ra được lòng yêu mến: 
		là Đấng ấy (Đức Kitô) đã thí mạng vì chúng ta; nên ta cũng
		<a name="VNS0013">thí mạng</a> vì anh em mình” (1Ga 3,16).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Giao ước mới đã được đóng ấn với máu của 
		tác giả giao ước (1Co 11,25). Điều trong trình thuật rửa chân trước đó 
		được giới thiệu như một việc “phục vụ”, ở đây được gọi là “tình yêu”; 
		nhưng tựu trung chỉ có một vấn đề: hiến thân hoàn toàn, không hạn chế. 
		Tình yêu Chúa Giêsu dành cho chúng ta là tình yêu thần linh, không chỉ 
		vì Ngài là Thiên Chúa, vì Ngài yêu chúng ta như là tạo vật và Con Thiên 
		Chúa (Ga 17,6.9.10); nhưng còn vì Ngài mô phỏng theo tình yêu Chúa Cha 
		dành cho Ngài: “Như Cha yêu mến Ta, Ta cũng yêu mến các ngươi” (Ga 
		15,9). Nói tóm lại có nghĩa là: “Hãy yêu thương nhau, như Ta đã yêu 
		thương các ngươi, cho đến hy sinh mạng sống; hãy yêu thương nhau như 
		chính Thiên Chúa đã yêu Ta”.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Một khi được hiểu và thực hành như vậy, 
		tình bác ái huynh đệ phải tạo ra giữa loài người mối hiệp nhất theo 
		gương Thiên Chúa: “Để hết thảy chúng được nên một, cũng như, Lạy Cha, 
		Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, ngõ hầu chúng ở trong chúng ta” (Ga 
		17,21). Mà Đấng cầu nguyện như thế cũng đã nói: “Cha và Ta là một” 
		(10,30).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Ngoài ra, Đức Kitô của Thánh Gioan ở đây 
		không dạy điều gì khác các điều chúng ta đã học trong các phúc âm nhất 
		lãm. Bài diễn từ trên núi tóm tắt toàn bộ lý tưởng Kitô hữu: “Các ngươi 
		hãy nên trọn lành như Cha các ngươi trên trời là Đấng trọn lành” (Mt 
		5,48). Đoạn này cũng nói yêu kẻ thù là dấu chỉ phân biệt người Kitô hữu 
		(Mt 5,46-48). Để yêu người như Chúa Giêsu muốn, phải yêu Thiên Chúa trên 
		hết mọi sự. Vì thế vị tôn sư đã đặt tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha 
		nhân một cách nào đó ngang hàng với nhau (Mt 22,39). Gioan và Phaolô, 
		hai môn đệ Ngài, đã nhất trí dạy rằng: người yêu tha nhân là giữ trọn lề 
		luật (1Ga 2,7-11; 3,10-11.14-16; Rm 13,9-10).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">“Chính nơi điều này mà mọi người sẽ nhận 
		ra là các ngươi là môn đệ Ta: ấy là các ngươi có lòng yêu mến nhau” 
		(c.35). Bác ái giữa người Kitô hữu với nhau phải hiện thực và rõ ràng 
		đến nỗi tự nó cho thấy họ là môn đệ Chúa Giêsu, ngay cả đến những người 
		không biết gì về Kitô giáo (Ga 14,31; 17,21; 1Ga 2,7-11; 4,02-21). Tình 
		yêu được truyền dạy ở đây chỉ có thể được hiện hữu giữa những người tin 
		vào Chúa Giêsu Kitô. Một lần nữa, giới luật là giới luật “mới&quot;.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Lịch sử Giáo hội sơ khai là lời chú giải 
		tuyệt hảo nhất về câu nói đó. Luật bác ái đã được hiểu rất sớm và đã 
		phát sinh ra nhiều hoa quả xây dựng mà Chúa mong chờ. Tác giả sách công 
		vụ đã nói lên đặc điểm của nhóm Kitô hữu đầu tiên: “Các kẻ tin hết thảy 
		đều coi mọi sự như của chung” (Cv 2,44). Theo chứng từ của Tertullien, 
		người ta đã nói về họ: “Hãy xem họ thương nhau biết bao và sẵn sàng hiến 
		mạng cho nhau chừng nào” (Apolog.39; Pl 1,53a). Sau này, những người ở 
		ngoài sẽ gọi họ là Kitô hữu, còn họ vẫn gọi nhau là “anh em” (Cv 
		11,26.29). Họ ý thức việc họ được bác ái liên kết, đến nỗi đã dùng chữ 
		“Agapê” (tình yêu) để đặt tên cho bữa ăn chung, được đó họ ăn và uống 
		Mình, Máu Chúa (Giuda 12; Ignatiô, thơ gởi tín hữu Rm 7).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">KẾT LUẬN</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Trước ngày tử nạn, Chúa Giêsu đã ban 
		luật sống mới cho môn đệ mình. Đây là một luật mới vì đặt cơ sở trên một 
		biến cố mới, bất ngờ và điên đảo: cái chết của Chúa, và vì trong cộng 
		đoàn nhân loại không có chi tương tự như thế. Do đó, luật sống này là 
		đặc điểm của cộng đoàn môn đệ vừa thành lập: “chính nơi điều này mà mọi 
		người sẽ nhận ra các ngươi là môn đệ Ta”. Và các chứng tá trong Giáo hội 
		sơ khai chứng nhận rằng luật tình yêu này, thực sự đã được chấp hành 
		tốt.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">1. Sau khi Giuda ra đi, Chúa Giêsu liền 
		công bố, như thể cuộc ra đi của Giuda là dấu hiệu của một điều gì quan 
		trọng: “Bây giờ Con Người đã được tôn vinh và Thiên Chúa đã được tôn 
		vinh nơi Ngài”. Hãy biết rằng, trong thánh kinh, vinh quang của Thiên 
		Chúa hay vinh quang của một người nào đó không cùng ngôn ngữ như trong 
		ngôn ngữ chúng ta. Trong ngôn ngữ chúng ta, vinh quang có nghĩa: nổi 
		danh, đắc nhân tâm và được tiếng tốt. Trong Thánh kinh, vinh quang chỉ 
		phẩm cách, thế lực, ảnh hưởng hiện diện và quyền năng của nhân vật. Với 
		ý nghĩ đó, vinh quang cao cả, cơ sở của mọi vinh quang khác, chỉ thuộc 
		về Thiên Chúa, Đấng thông ban vinh quang như ý Ngài muốn. Trong mức độ 
		thực hiện chương trình Thiên Chúa, mỗi người nhận được giá trị và thế 
		lực, và lớn lên trong vinh quang.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">2. Việc tìm hiểu các tự nguyện đó giúp 
		chúng ta quán triệt ý <a name="VNS0014">nghĩa</a> các lời nói của Đức 
		Kitô. Chúa Giêsu đã được tôn vinh. Ngài chấp nhận điều Giuda phải làm. 
		Từ đó, Ngài được vinh hiển, vì hoàn toàn chấp nhận cuộc Vượt qua bằng 
		cái chết. Việc Ngài vâng phục thánh ý Chúa Cha làm cho Ngài được “vinh 
		quang” và nói lên việc Người nhiệt tâm yêu mến Thiên Chúa. Đồng thời khi 
		minh chứng mức độ tình yêu Ngài đối với loài người bằng việc trao ban 
		Chúa Con, Chúa Cha cũng “đã được tôn vinh” trong con người Chúa Giêsu.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">3. Việc phúc âm và phụng vụ nhấn mạnh 
		đến tính cách mới mẻ của luật bác ái huynh đệ đòi buộc chúng ta xét mình 
		xem chúng ta thực thi Luật đó đến mức nào và bằng cách nào. Nó giả thiết 
		đức ái này tiếp nối tình yêu Đức Kitô dành cho chúng ta (&quot;như thày đã 
		yêu mến các con&quot;) và tiếp nối tình yêu chúng ta đối với Chúa Giêsu (vì 
		chính trong điều đó mà người ta nhận ra các con là môn đệ Thày...). Lòng 
		thương cảm tự nhiên khác xa tình yêu anh em siêu nhiên mà chúng ta phải 
		có. Yêu thương họ vì họ (trong môi trường và điều kiện sống họ đang sống) 
		không ngăn cản việc yêu thương họ trong Thiên Chúa và trong Đức Kitô. Và 
		ngược lại, yêu thương họ như thế không giảm bớt lòng kính trọng và tình 
		cảm tự nhiên. Yêu cách siêu nhiên không có nghĩa là yêu cách nhạt nhẽo, 
		hững hờ, “để được Chúa thưởng”. Nhưng là yêu người khác hết lòng, không 
		phải vì họ dễ thương, xinh đẹp, tốt lành... nhưng là vì họ là chi thể 
		quí giá của Chúa Giêsu, là công dân Gierusalem thiên quốc. Vì các đặc 
		điểm trên có giá trị cho mọi người, nên phải yêu mọi người với tình yêu 
		siêu nhiên.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">4. Trong thế giới ích kỷ, bạo tàn, ham 
		mê tiền bạc, bóc lột nghèo, người Kitô hữu phải làm sáng rực như ánh lửa, 
		tình yêu họ đối với tha nhân, niềm cảm thông với người cùng khổ, lòng 
		dịu và tha thứ cho kẻ nghịch thù. Nếu làm như vậy, Kitô hữu sẽ nổi bật 
		lên giữa bao người khác. Một khi cảm nghiệm cách cụ thể tình yêu đó, 
		thiên hạ sẽ nhận ra người Kitô hữu là môn đệ đích thật của Đức Kitô, sức 
		nóng của tình yêu, họ sẽ được đưa dẫn về với Đức Kitô. Chỉ tình yêu mới 
		có thể xây dựng đô thành huynh đệ loài người hằng mơ ước.</span></td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/suyniemINDEX.htmy"><img border="0" src="../../../../_Nam_A/2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">&nbsp;</p>

PHP File Manager