File "12.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2022/Mua-Chay-Phuc-Sinh/CN I MC/12.htm
File size: 26.9 KiB (27547 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật I Mùa Chay&nbsp; - Năm C</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật I Mùa Chay  - Năm C;  suy niệm, tinmung.net, DongCong;"><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
	{color:blue;
	text-decoration:underline;
	text-underline:single;
	text-decoration:none underline;
	text-line-through:none;
	vertical-align:baseline}
-->
</style>
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460">
	<font size="2" color="#FF0000">Chúa Nhật I Mùa Chay&nbsp; - Năm C</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center"><b>
		CÁM DỖ TRONG SA MẠC</b></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
	<a name="_Toc253941469"><span style="font-size: 8pt; font-style:italic">Chú giải của Giáo 
	Hoàng Học Viện Đà Lạt</span></a></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">1. Phần dẫn nhập của trình thuật này 
	(cc.1-2) có vẻ chi tiết hơn Mt. Lc thêm hai chỉ dẫn quan trọng: Chúa Giêsu 
	“tràn đầy Thánh Thần” (x.Cv 6,5; 7,55; 11,24 - với động từ “tràn đầy&quot;:Lc 
	1,15.41.67; Cv 2,4; 4,8; 31,9; 17,13,9.52) và Chúa Giêsu “bỏ bờ sông 
	Giodan”. Hai chi tiết này chứng tỏ ý hướng muốn nối kết chặt chẽ cám dỗ với 
	cuộc thần hiện sau phép rửa. Lc muốn cho ta hiểu rằng gia phả Chúa Giêsu chỉ 
	là một “cái ngoặc đơn” mà thôi. Bắt đầu kế tiếp (4,14), Lc lần nữa nhắc lại 
	việc Chúa Giêsu vừa lãnh nhận Chúa Thánh Thần: việc Ngài giảng dạy cũng được 
	nối kết với cuộc thần hiện ở sông Giodan. Chính trong địa vị làm Con Thiên 
	Chúa tràn đầy Thánh Thần mà Chúa Giêsu bắt đầu sứ mạng rao giảng của Ngài.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Lc không nói như Mc và Mt là Chúa Giêsu được 
	Thánh Thần dẫn “vào sa mạc&quot;: Chúa Giêsu băng qua sa mạc dưới sự thúc đẩy 
	mạnh mẽ của Chúa Thánh Thần là Đấng hình như không cho phép Ngài dừng bước. 
	Lời xác định “trong suốt 40 ngày” ăn khớp với động từ êgeto (được dẫn đưa): 
	dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu đã đi suốt 40 ngày trong 
	sa mạc. Người ta có thể thấy ở đây ảnh hưởng của câu Đệ Nhị Luật 8,2 mà Lc 
	đã theo sát trong bản dịch 70 (câu này nằm ngay trước Đnl 8,3 mà Chúa Giêsu 
	mượn làm câu trả lời đầu tiên): “Hãy nhớ con đường mà Thiên Chúa ngươi đã 
	dẫn ngươi đi (êgagen se)(bản Talmud: suốt 40 năm) trong sa mạc để hạ ngươi 
	xuống và để thử thách ngươi khi đọc Mt, người ta có cảm tưởng cơn cám dỗ xảy 
	đến cho Chúa Giêsu sau 40 ngày, còn Lc lại theo Mc, trình bày cơn cám dỗ kéo 
	dài suốt cả thời gian trong sa mạc. Ba chước cám dỗ do ma quỉ do Lc kể lại 
	hình như chỉ là những hình thức tiêu biểu nhất, đặc biệt nhất của các chước 
	cám dỗ đủ loại Chúa Giêsu phải chịu đựng suốt 40 ngày: chúng đánh dấu cao 
	điểm tấn công của ma quỉ.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">2. Về cám dỗ thứ nhất, có một hiệu đính quan 
	trọng, được xem là của Lc, là việc thay đổi “những viên đá này, những chiếc 
	bánh từ số nhiều sang số ít. Do mối ưu tư tả thực, Lc đã chọn kiểu nói số 
	ít, có vẻ tự nhiên hơn. Làm như vậy, ông khiến ta bớt nghĩ đến Manna là ý 
	tưởng tiềm ẩn nơi trình thuật của Mt: ông này, để gợi lại hình ảnh Manna che 
	phủ mặt đất trong sa mạc, đã tự nhiên nói đến nhiều viên đá biến được thành 
	bánh; còn hình như Lc không muốn nhấn mạnh đến ảnh Giêsu - Israel. Viết cho 
	những người không phải là Do thái, ông dẹp bớt những gì làm họ ngỡ ngàng.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Sau lời đề nghị “hãy truyền cho những hòn đá 
	này biến thành bánh có thể dễ dàng xác định thêm “để ông có thể ăn”. Một xác 
	tín kiểu đó, nếu lôi kéo chú ý đến sự thoả mãn riêng tư của Chúa Giêsu, thì 
	cũng để cho người ta liên tưởng tới cám dỗ Evà (St 3,6) và tới những cám dỗ 
	Kitô hữu năng gặp. Nhung Lc, mặc dầu vừa nhắc đến Adam vài câu trước đó 
	(3,38) và là người thường ưa quảng diễn dài dòng, đã không muốn gợi những 
	liên tưởng đó. Vì thật ra, việc thoả mãn cơn đói chỉ là chuyện thứ yếu; điều 
	tác giả muốn nhắm ở đây là chính quyền lực lạ lùng của Đấng vừa mới được 
	tuyên bố là Con Thiên Chúa khi Ngài chịu phép rửa. Chính trong ý nghĩa này 
	mà ta phải hiểu lời ngoắt ngoéo thâm hiểm của ma quỉ: “Nếu ông là Con Thiên 
	Chúa”. Cũng như trong trình thuật Mt, ở đây chắc chắn ma quỉ không chút nghi 
	ngờ gì. Sau khi đã chứng kiến tất cả những dấu chỉ lạ lùng xung quanh ngày 
	Giáng sinh và ngày thơ ấu của Chúa Giêsu, sau khi đã thấy rõ Ngài không thể 
	phạm tội cho đến lúc bấy giờ, và có lẽ cũng đã thấy được biến cố thần hiện ở 
	sông Giodan (nếu biến cố này được biểu lộ ra bên ngoài) thì chắc chắn ma quỉ 
	phải biết rõ ràng con người đang đứng trước mặt nó là Đấng Thiên sai của 
	Israel, là Con Thiên Chúa. Vì thế chữ “nếu” của câu “nếu ông là Con Thiên 
	Chúa” không phải là một từ ngữ nói đến điều kiện (như trong câu: “Nếu ngày 
	mai trời tốt, tôi sẽ đi chơi) nhung là chữ “nếu” diễn tả lý do. Lời cám dỗ 
	của ma quỉ có thể viết ra như thế này: vì ông là Đấng Thiên sai, hãy dùng 
	quyền lực Thiên sai của ông để làm những điều lạ lùng có lợi cho ông.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Thứ tự các cám dỗ thứ hai và thứ ba nơi Mt 
	bị Lc đảo ngược. Để biết thứ tự nguyên thuỷ, phải nghiên cứu các câu trả lời 
	của Chúa Giêsu. những câu trả lời ấy được rút ra từ sách Đệ Nhị luật, nhưng 
	Mt đã đảo ngược thứ tự trình bày, nghĩa là Đnl 8,3 rồi đến 6,16; 6,13. Song 
	cũng chính Đnl đã đảo lộn thứ tự lịch sử của các biến cố thời Xuất hành: Đnl 
	8,3 lấy lại Xac 16 (phép lạ Manna); Đnl 6,16 thì nhắc lại Xac 17,1-7 (phép 
	lạ nước uống); cuối cùng Đnl 6,13 tương ứng với Xac 23,32-34 (nhất là giai 
	thoại con bò vàng). Khi đảo lộn thứ tự của Đnl, Mt lập lại thứ tự lịch sử 
	những cám dỗ của Israel thời Xuất hành. Sự song đối giữa những cám dỗ của 
	Chúa Giêsu và của Israel thời xuất hành. Sự song đối giữa những cám dỗ của 
	Chúa Giêsu và của Israel phải được coi là hình thức nguyên thuỷ của trình 
	thuật. Vậy là Lc đã thay đổi cách phối trí, lý do trước hết là để trình 
	thuật được kết thúc ở Girusalem, như tất cả phúc âm của ông.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">3. Cám dỗ thứ hai (cc.5-8) là đoạn mà Lc đã 
	thay đổi nhiều nhất. Ông không muốn nhắc đến “một ngọn núi cao” (Mt) vì đối 
	với Lc, ngọn núi là nơi tuyệt đối dành riêng cho việc thông giao với Thiên 
	Chúa nhờ cầu nguyện và thần hiện, chứ không phải là nơi để cám dỗ hoặc ngay 
	cả giảng dạy (bài giảng trên núi được ông trình bày như là đã xảy ra trên 
	một khoảng đất bằng phẳng so sánh Lc 6,17 và Mt 5,1). Vậy, thay vì nói đến 
	một đoạn núi cao từ đó người ta có thể thấy toàn trái đất “trong nháy mắt”. 
	Lc biết rõ rằng không có một ngọn núi nào mà từ đó có thể thấy được cả toàn 
	cầu, song vì muốn có vẻ thực, ông đã thay thế một chỉ dẫn địa dư mơ hồ bằng 
	một ý niệm thời gian, để cho thấy đây là một thị kiến hoàn toàn ảo ảnh, một 
	thị kiến rất nhanh (không đầy nháy mắt), có tính cách siêu nhiên.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Điểm thêm vào quan trọng nhất phải kể là nơi 
	lời giải thích của câu 6. Nơi Mt, đó chỉ là một vấn đề sở hữu: “Hết mọi cái 
	đó, tôi hiến cho ông” (Mt 4,9). Còn Lc trước tiên chú ý đến quyền lực, quyền 
	bính, esousia (là ý tưởng ông quen dùng: 12,11; 20,20; 22,53; 23,7; Cv 
	20,18): ma quỉ hứa ban một quyền lực chính trị trên mọi dân nước. Do thái 
	giáo thời gần đó (Is 24,21-23; 27,1) và nhất là trong văn chương khải huyền 
	(Đnl 7,2) đã xác tín rằng các quyền lực ma quỉ, thù nghịch với Thiên Chúa, 
	đang điều khiển các vương quốc trần gian, để ngược đãi dân Tc chọn. Các 
	vương quốc này thờ ngẫu tượng và áp bức Israel, vì dân tin Tc thật. Người ta 
	thấy ma quỉ ẩn núp dưới các bụt thần. Các nước thế gian bày tỏ lòng trung 
	thành với ma quỉ qua việc thờ ngẫu tượng. Tư tưởng này cũng được các tác giả 
	Thiên Chúa chia sẻ (Kh 13,2). Thánh Gioan gọi ma quỉ bằng một tên đầy ý 
	nghĩa: “Đầu mục thế gian” (Ga 12, 31; 14,30; 16,11). Phaolô còn gán cho nó 
	tước hiệu lạ lùng: “thần đời này” (2Co 4,4). Cũng như Lc và Ga, Phaolô nhìn 
	thấy trong hành động của những người đóng đinh Chúa Giêsu (1Co 2,8) sự xúi 
	giục của “đầu mục của đời tạm này”.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Thế gian, nghĩa là thời đại này, âiôn 
	houtos, là lãnh địa của ma quỉ, nên dĩ nhiên quyền lực thế gian tuỳ thuộc 
	nó. Nhưng phải nhận rằng quyền ấy “đã được trao cho” nó: thể thụ động diễn 
	tả hành động hay sự cho phép của Thiên Chúa, chủ thể tối cao (so sánh Ga 
	19,10); đến thời sau hết, Ngài sẽ tiêu diệt các quyền lực, dân nước đã nổi 
	lên chống lại ngài. Tạm thời, ma quỉ sử dụng quyền lực chính trị đó, và cám 
	dỗ nói ở đây là một cám dỗ về quyền lực, dân nước đã nổi lên chống lại Ngài. 
	Tạm thời, ma quỉ sử dụng quyền lực chính trị đó, và cám dỗ nói ở đây là một 
	cám dỗ về quyền lực chính trị. Nhưng khác với Mt 4,9, lời hứa của câu 7 
	không nhằm sự chiếm hữu các vương quốc, nhưng là sự thừa hưởng một uy quyền 
	(exousia) tuyệt đối trên tất cả các vương quốc ấy.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">4. Về cám dỗ thứ ba (cc. 9-12), Lc thêm hai 
	xác định trong lời của ma quỉ để đi sát với câu trích dẫn Tv 91 hơn. Cũng 
	như trong cám dỗ trước, Lc rõ ràng chú trọng đến ma quỉ và những lời của nó 
	hơn. Trái lại ông làm yếu câu trả lời của Chúa Giêsu bằng cách mở đề: “Đã có 
	nói rằng” thay vì như Mt: “Lại có viết là”, kiểu đối đáp ăn miếng trả miếng 
	với lập luận của ma quỉ.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">5. Phần kết luận (c.13) chứa đựng nhiều âm 
	điệu đặc biệt của Lc, làm cho đoạn văn này mang một chiều hướng thần học 
	thật độc đáo.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Phần đầu của câu kết luận (&quot;sau khi dùng hết 
	mọi hình thức cám dỗ&quot;) nói đến cám dỗ, peirasmos (ở số ít). Trong Lc, 
	peirasmos luôn ám chỉ cám dỗ theo nghĩa luân lý: 8,13; 11,4; 22,40; 22,46. 
	Cũng tiếng ấy ở số nhiều, peirasmoi lại ám chỉ những thử thách với nghĩa 
	tổng quát hơn nghĩa thuần luân lý: 22,28; Cv 20,19. Lc sẽ còn nói đến những 
	“thử thách” (peirasmoi nơi 22,28) của Chúa Giêsu, nhưng không nhắc đến chữ 
	“cám dỗ” (peirasmos) khi bàn về các môn đệ nữa; đặc biệt ông không ghi lại 
	sự can thiệp bậy bạ của Phêrô tại Késaree của Philip (Mc 8,32-33; Mt 
	16,22-23) nơi Pharô bị gọi là quỉ cám dỗ Chúa Giêsu. Vậy dưới cái nhìn của 
	Lc, việc Chúa Giêsu chiến thắng ma quỉ trong sa mạc có tính cách quyết định. 
	Thực sự ma quỉ đã “dùng hết mọi phương chước cám dỗ”, và khi nó tái xuất 
	giang hồ, thì không còn là để “cám dỗ” Chúa Giêsu nữa, song là tìm cách giết 
	Ngài. Những nhận xét này cho thấy ý nghĩa của câu 13; trong tư tưởng của Lc, 
	các chước cám dỗ Chúa Giêsu chịu thực sự đã xong rồi, sẽ không còn cám dỗ 
	nào khác. Những thử thách Ngài gặp sau đó không còn đặt lại vấn đề lòng 
	trung tín của Ngài đối với Thiên Chúa và với sứ mạng Ngài đã được Chúa Cha 
	trao phó.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Phần thứ hai của câu kết luận xác quyết cách 
	giải thích này. Lc đã viết: “Ma quỉ bỏ Ngài một thời gian” (Achri cairou) 
	(Bj: au temps marqué, Nguyễn thế Thuấn: đợi dịp). Thành ngữ này chỉ gặp lại 
	một lần trong nơi khác của Tân Ước, Cv 13,11: Elymas, vì muốn gây trở ngại 
	cho Phaolô, đã bị mù không thấy ánh sáng mặt trời “một thời gian”. Như thế, 
	khi loan báo ngày trở lại bất ngờ của ma quỉ, Lc đã minh nhiên trình bày nó 
	như một vai trong cuộc khổ nạn. Thật thế, câu chuyện khổ nạn bắt đầu bằng sự 
	phản bội của Giuda, nhưng ngay từ đầu đoạn văn này, ở 22,3, Lc ghi chú một 
	câu đầy ý nghĩa: “Satan đã nhập vào Giuda”. Đó là việc tái xuất hiện của tên 
	cám dỗ, mở màn cho một thử thách cam go nhất. Và ta cũng thấy, khi đứng 
	trước những địch thủ tới bắt mình, Chúa Giêsu đã nói: “Này là giờ các ông, 
	là thời của quyền lực (exousia) tối tăm (22,53).</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">6. Việc thay đổi thứ tự cám dỗ 2 và 3 có ý 
	nghĩa nào?</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Câu trả lời thứ nhất hệ tại chỗ nhấn mạnh sự 
	quan tâm về địa lý của Lc. Lc muốn kết thúc trình thuật những cám dỗ tại 
	Giêrusalem, vì trước tiên đối với ông, Giêrusalem là một địa điểm có tính 
	cách thần học (Conzelmann). Lời giải thích này đúng nhưng chưa đủ.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Đối với Lc, Giêrusalem tự bản chất là nơi mà 
	các lời loan báo về cuộc khổ nạn và vinh quang của Đấng Cứu thế phải được 
	hoàn tất. Thực vậy sau cuộc cám dỗ, đoạn văn đầu tiên nói đến Giêrusalem 
	trong tương quan với Chúa Giêsu nằm trong giai thoại biến hình; suốt cuộc 
	biến hình này Môisen và Elia đã đàm đạo với Chúa Giêsu về việc “ra đi 
	(oxodos) Ngài sắp hoàn tất tại Giêrusalem” (9,31). “Việc ra đi” đó ám chỉ 
	toàn thể mầu nhiệm vượt qua: tử nạn và phục sinh. Từ giai thoại biến hình 
	này trở đi, Lc tăng thêm những lần nhắc đến Giêrusalem như là nơi mà Chúa 
	Giêsu sẽ lên, nơi mà Ngài sắp hoàn thành sứ mệnh. Người ta thấy cũng một ý 
	tưởng ấy trong hai giai thoại của Phúc âm thời thơ ấu Chúa Giêsu: giai thoại 
	“dâng con trẻ trong đền thờ” với lời tiên tri đầu tiên của Simeon loan báo 
	cuộc tử nạn (2,34-35) và giai thoại “lạc mất, tìm lại con trẻ sau ba ngày” 
	với một lời nói bí nhiệm chỉ hiểu được về sau (2, 41-50); đây là giai thoại 
	tiên trưng cuộc vượt qua cuối cùng của Chúa Giêsu khi Ngài “trở về nhà Cha” 
	và chỉ được các tông đồ tìm gặp lại sau ba ngày.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Văn mạch này cho phép ta phỏng đoán lý do 
	tại sao Lc đã muốn trình thuật các cám dỗ đạt tới cao điểm ở Giêrusalem. 
	Thưa vì không có gì thích hợp cho bằng việc chọn thành ấy làm nơi chấm dứt 
	cám dỗ, nơi ma quỉ từ biệt Chúa Giêsu, nơi y sẽ tái xuất không phải để “cám 
	dỗ” Ngài nữa mà là để gây ra cuộc thử thách cuối cùng. Đó cũng là điều giải 
	thích tại sao Lc đã lưu tâm đến ma quỉ trong tất cả trình thuật này: ông lợi 
	dụng trình thuật để trình bày tên đối thủ, đã một lần thất trận trong sa 
	mạc, tưởng mình sẽ chiến thắng tại Giêrusalem trong ngày thứ sáu tuần thánh.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt"><b>
	<span style="font-size: 14.0pt">KẾT LUẬN</span></b></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Trong trình thuật những cám dỗ, Lc nhấn mạnh 
	đến hai điểm: khuôn mặt của ma quỉ và tương quan của biến cố này với biến cố 
	tử nạn. Trong lúc các câu trả lời của Chúa Giêsu ngắn hơn hoặc ít quan trọng 
	hơn so với nơi Mt, thì ở Lc, những lời cám dỗ của tên ma quỉ có vẻ thực hơn 
	(cám dỗ 1) dài dòng hơn (cám dỗ 2) và ăn khớp với lời trích dẫn Thánh kinh 
	hơn (cám dỗ 3). Cuối cùng đoạn kết luận của trình thuật còn nói đến ma quỉ 
	chứ không phải Chúa Giêsu (khác với Mt). Lc nối kết các cám dỗ với cuộc khổ 
	nạn và với Giêrusalem, nơi hoàn thành những lời tiên tri loan báo về đau khổ 
	và vinh quang của Đấng Cứu thế. Cuộc khổ nạn và thành Giêrusalem đã được 
	nhắc đến trong Tin mừng thời thơ ấu (2,34-35. 41-45). Rồi tiếp đến, phần đặc 
	biệt nhất của phúc âm thứ ba lại trình bày việc Chúa Giêsu lên Giêrusalem 
	(9,51-18,9). Khi lặp đi lặp lại Chúa Giêsu lên Gierusalem (9,51; 9,53; 
	13,22-33; 17,11; 18,31; 19,11-28), Lc nhấn mạnh Giêrusalem sẽ là nơi xảy ra 
	“cuộc ra đi” ()9,31 và cuộc “siêu thăng” của Ngài (9,51). Vì vậy người ta có 
	thể nói rằng: trong lúc các trình thuật của Mt chỉ nhìn về quá khứ của dân 
	Israel để minh chứng sự thể hiện chương trình của Thiên Chúa, thì các trình 
	thuật của Lc hình như lại qui hướng hơn về những biến cố chính yếu làm thành 
	nền tảng thực sự của nhiệm cục mới: tử nạn, phục sinh, hiện xuống.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt"><b>
	<span style="font-size: 14.0pt">Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG</span></b></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">1. Chính nhờ Thánh Thần hướng dẫn mà Chúa 
	Giêsu vào sa mạc để chịu cám dỗ. Qua việc đó ta thấy rằng bị cám dỗ không 
	phải là một điều xấu. Chính Chúa Giêsu cũng đã biết qua cơn cám dỗ. Điều xấu 
	là ngã gục trước cám dỗ ấy. Chống lại cám dỗ một cách anh dũng như Chúa 
	Giêsu trong sa mạc chính là cho mình có dịp biểu lộ tình con thảo hiếu với 
	Chúa Cha. Dĩ nhiên chúng ta không được liều mình đứng trước cám dỗ (điều ấy 
	chỉ mình Chúa Giêsu mới có thể làm được vì Ngài là Con Thiên Chúa và sự đối 
	đầu với ma quỉ ngay từ đầu sứ mệnh Cứu thế là một phần trong chương trình 
	của Thiên Chúa). Liều mình đứng trước cám dỗ khi không cần thiết là điều làm 
	Chúa Giêsu - đã không muốn làm khi ma quỉ xúi Ngài gieo mình từ nóc đền thờ 
	xuống. Vì như vậy là thách thức Thiên Chúa. Nhưng khi hoàn toàn ngoài ý muốn 
	mà chúng ta bị đặt trong những hoàn cảnh phải chịu cám dỗ thì không có gì 
	phải hoảng hốt. Hãy nhớ rằng với tư cách là môn đệ của Đấng đã bị cám dỗ 
	trong sa mạc, chúng ta đương nhiên phải trải qua cám dỗ, lúc ấy hãy làm như 
	Chúa Giêsu: lợi dụng những phương thế siêu nhiên có sẵn: tăng sức mạnh lời 
	Chúa, năng cầu nguyện (như Chúa Giêsu trong vườn cây dầu) nuôi dưỡng mình 
	bằng thịt và máu của Đấng đã từng chiến thắng Satan.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">2. Sứ vụ của Chúa Giêsu khai mào bằng việc 
	chiến thắng ma quỉ: Ngài vượt lên trên nó. Thời cứu độ Chúa Giêsu khai mở là 
	thời đánh dấu khởi đầu ngày tàn của ma quỉ: “Ta đã thấy satan từ trời rơi 
	xuống như một tia chớp” (Lc 10,18). Ở đâu mà Chúa Giêsu ra tay hành động, ở 
	đó ma quỉ bị bó buộc phải nhường bước, rút lui. Bây giờ cũng vậy, khi cơn 
	cám dỗ đến độ mạnh chúng ta có cảm tưởng rằng ma quỉ thật toàn năng; tốt 
	nhất hãy nhớ lại rằng nó chỉ là một kẻ chiến bại, một tù binh được tự do tạm 
	thời chờ ngày tận thế, một viên tướng đã thất trận ngay từ đầu.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">3. Xưa cũng như nay, các cám dỗ của ma quỉ 
	đều giống nhau: chúng luôn luôn nhắm tách rời chúng ta khỏi Thiên Chúa bằng 
	ý chí quyền lực, bằng thái độ từ chối tin tưởng vào sự quan phòng của Cha 
	trên trời, bằng khuynh hướng lợi dụng sự che chở và lòng tha thứ của Ngài. 
	Những phương thế chiến thắng các cám dỗ này cũng luôn giống nhau, đó là 
	những phương thế chính Chúa Giêsu đã dùng: khiêm nhượng tuân phục thánh ý 
	Chúa Cha, chấp nhận với tình yêu số phận của Chúa Cha dọn sẵn cho ta (số 
	phận không phải là không có thánh giá, nhưng chắc chắn sẽ đưa chúng ta đến 
	vinh quang sau cùng) từ chối khiêu khích Thiên Chúa can thiệp cách đặc biệt 
	có lợi cho ta.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">4. Ma quỉ luôn hứa ban quyền thống trị thế 
	giới cho Kitô hữu hôm nay cũng như mọi thời, nhưng với điều kiện là tôn thờ 
	và phục tùng nó. Một cách cụ thể, nó ban cho những phương tiện làm giàu mau 
	chóng bằng cách lấy của người lân cận, những phương thế chiếm đoạt các chức 
	vị lợi lộc bằng âm mưu loại trừ người xứng đáng hơn, những dịp hưởng lạc thú 
	bằng cách bất trung trong đời sống lứa đôi... Ma quỉ không bao giờ cho đi mà 
	không đòi lại gấp trăm, trái lại với Thiên Chúa là Đấng ân thưởng gấp trăm 
	cho ai bố thí một ly nước lã vì danh Ngài. Xét cho cùng, đời sống Kitô hữu 
	là một chọn lựa giữa Thiên Chúa và ma quỉ, giữa việc thờ phượng ma quỉ với 
	Chúa Cha. Không ai có thể làm tôi hai chủ (Mt 6,24). Thờ phượng ma quỉ thì 
	có thể được lợi trong chốc lát, nhưng sớm muộn gì cũng đưa tới thất vọng, 
	cay đắng, cái chết đời đời. Thờ phượng Thiên Chúa thì phải từ bỏ chính mình, 
	nhưng rồi cũng sẽ được bình an, thoả mãn nội tâm và được sống vĩnh cửu.</span></td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/suyniemINDEX.htmy"><img border="0" src="../../../../_Nam_A/2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">&nbsp;</p>

PHP File Manager