File "11.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2021/Mua-Thuong-Nien/CN XXX TN/11.htm
File size: 23.17 KiB (23723 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật XXX - Thường Niên - Năm B</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật XXX - Thường Niên - Năm B; Người mù; Xin thương xót tôi; Tới nguồn ánh sáng; Chữa anh mù; Mù loà; Tin tưởng; Đức tin cữu con; lòng thương"><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
	{color:blue;
	text-decoration:underline;
	text-underline:single;
	text-decoration:none underline;
	text-line-through:none;
	vertical-align:baseline}
span.apple-converted-space
	{}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật XXX - Thường Niên - Năm B"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body>
<table border="0" width="496" cellspacing="15" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr>
	<td width="464"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">
	Chúa Nhật XXX - Thường Niên - Năm B</font></td></tr><tr>
		<td width="464" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
		NGƯỜI MÙ THÀNH GIÊRICÔ</td></tr><tr>
		<td width="464" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
		<a name="_Toc338508405">
		<span style="font-size: 8pt; font-style:italic; font-weight:400">Chú giải mục vụ của Jacques 
		Hervieux</span></a></td></tr><tr>
		<td width="464" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Trình thuật vắn gọn gồm bảy câu này giàu 
		hương vị và súc tích đặc biệt. Maccô đã phác họa nơi đây những nét sinh 
		động to tát bộc lộ chiều sâu tư tưởng của ông.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Quang cảnh xảy ra đã được xác định rõ 
		nơi chốn, khi vừa qua khỏi (nơi Chúa Giêsu đang đi 10,1) thì Giêricô sẽ 
		là địa danh dẫn người ta vào Israel (c.46a). Đối với Chúa Giêsu đây là 
		bước quy định nhất trong tiến trình hướng về Giêrusalem (11,1). Hãy ghi 
		nhận rõ: đây là lần đầu tiên tác giả Phúc Âm cho thấy Chúa Giêsu đồng 
		hành về Giêrusalem với “một đám đông” chứ không phải chỉ riêng các môn 
		đệ Ngài. Và này đây trên bước hành trình của mình, đám đông sẽ có được 
		một cuộc gặp gỡ “đổi đời”. Ở đây chúng ta gặp một nhân vật “đặc biệt” 
		đang ngồi ở lề đường: anh ta là một trong vô số người mù Palestin thời 
		đó phải xin ăn mà sống (c. 46c). Sự cố liên quan tới anh ta đã gây xúc 
		động mạnh cho Maccô đến nỗi ông là người duy nhất trong các giả Phúc Âm 
		đã ghi lại tên anh mù bằng tiếng Aram được Maccô lẹ làng dịch ra cho độc 
		giả Hy Lạp hiểu, tên ấy là có nghĩa là con của Timê. Anh ta hoàn toàn bị 
		gạt ra rìa cuộc sống tức là đang khi thiên hạ đi thì anh ta ngồi mà lại 
		ngồi ‘bên vệ đường”!</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Tuy nhiên, dù mù lòa cô đơn ngồi một 
		chỗ, anh ta vẫn là một người hiếu động, với sự bộc phát đầy kinh ngạc, 
		anh ta kêu lên Chúa Giêsu khi Ngài đi qua đó (c. 47). Tiếng kêu của anh 
		mù biểu lộ nỗi khổ to lớn nhưng đặc biệt cũng biểu lộ niềmtin cậy khôn 
		lường. Quả là nghịch lý khi anh mù này lại “thấy” được chính xác Đức 
		Giêsu Nadaret là ai. Anh ta gọi Ngài là “Con vua Đavit”. Theo truyền 
		thống Kinh Thánh đây chính là tên gọi Đấng Mêsia. Đấng được dân riêng 
		Chúa từ lâu mong đợi (x. Lời hứa Chúa ngỏ với Đavit: 2Sm 7,1-17). Như 
		thế Bartimê đã thực hiện một hành vi đức tin phi thường. Trái lại, đám 
		đông đang nối nhau theo Chúa Giêsu thì muốn khước từ anh chàng nghèo 
		khổ, bị khai trừ này. Đây là đặc tính của con người đương thời: họ chỉ 
		muốn anh chàng quấy rầy này câm miệng đi. Đối với họ, một kẻ ăn xin cản 
		bước Chúa Giêsu thì thật là không thích đáng tí nào. Không thấy nói đến 
		thái độ của các môn đệ; chẳng hiểu các ông có tham gia tẩy chay anh mù 
		không? Có thể lắm chứ. Các ông chẳng từng quở mắng đám trẻ con (một loài 
		người bị khai trừ) muốn đến gần Chúa Giêsu đó sao? (10,13-16). Mặc kệ 
		đám người chung quanh Chúa Giêsu tỏ ra hết sức thù nghịch, Bartimê vẫn 
		không chịu thua cuộc. Người ta càng tìm cách chận không cho anh là thì 
		“anh càng la to hơn”: “Lạy con vua Đavit, xin dủ lòng thương tôi!” (c. 
		48b). Lời van xin dai dẳng này đã đạt được mục đích: Chúa Giêsu dừng lại 
		và nói: “Hãy gọi anh ta tới” (c. 49a). Một lần nữa Đấng Mêsia biểu lộ 
		cho thấy Ngài muốn “dan díu” với những kẻ mà các bạn hữu Ngài khăng 
		khăng muốn khai trừ (x.10,14). Và Ngài đã yêu cầu người ta gọi kẻ bị 
		khai trừ đến gặp Ngài. Lúc này đây, đám đông (và không chừng cả các môn 
		đệ (?)) liền “đổi giọng” và mời anh mù đến gần Chúa Giêsu (c. 49b). 
		Những từ này còn hàm chứa lời mời gọi anh mù nọ rời bỏ tình trạng “chết 
		chóc” của mình bởi vì “Hãy đứng lên” cũng hàm nghĩa “Hãy sống dậy”, theo 
		ngôn ngữ Hy Lạp được dùng trong Phúc Âm, tiếng kêu gọi này mang lại hiệu 
		quả ngay. Lập tức “anh mù liền vất áo choàng lại, nhảy chồm lên mà đến 
		gần Chúa Giêsu” (c. 50). Các chi tiết này thật kỳ diệu. Giống như thể 
		Bartimê đã hết mù rồi vậy! Vất áo choàng tức là vất bỏ đi “tình trạng” 
		bị khai trừ của mình. Thực thế, trong Thánh Kinh, y phục tượng trưng cho 
		nhân cách người mang nó. Áo khoác là của cải duy nhất của “người nghèo” 
		(x. Xh 22,25-26). Khi vất áo đi, Bartimê đã thực hiện điều mà Chúa Giêsu 
		không thể nhận được từ người đàn ông giàu có nọ, tức là bỏ hết mọi sự để 
		theo Ngài. Và bằng cách nào đây? “Anh ta nhảy chồm lên”. Nhảy lên trong 
		lúc mắt vẫn còn mù thì đúng là cái nhảy của đức tin. Anh ta chạy về phía 
		Chúa Giêsu: điều này nói lên được rất nhiều về đức tin của anh. Với sự 
		lao tới không gì cầm lại được, kẻ từng bị sống ngoài rìa xã hội vượt qua 
		cái hố phân cách anh ta với tất cả mọi người.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Gặp được anh mù rồi, Chúa Giêsu liền 
		nói: “Anh muốn tôi làm gì cho anh” (c. 51a). Câu hỏi xem ra thừa bởi vì 
		nhu cầu của anh ta đã quá rõ ràng. Tuy nhiên Chúa Giêsu luôn luôn kính 
		trọng tự do của mọi kẻ đến gặp Ngài. Anh mù đáp: “Thưa Thầy, xin cho tôi 
		nhìn thấy được” (c. 51b). những tiếng anh ta dùng là trang trọng. Khi 
		ngỏ lời với Thầy mình, các môn đệ người Do Thái thường chỉ gọi đơn sơ 
		“Thưa Thầy” (Rabbi). Còn ở đây tiếng Rabbouni có nghĩa là “Thầy của tôi” 
		được anh mù ngỏ với Chúa Giêsu với đầy sự kính trọng và thân ái hơn. Mặc 
		dù chỉ yêu cầu “xin cho tôi được thấy” nhưng xem ra có lẽ anh ta muốn 
		diễn tả một nhu cầu sâu xa hơn. Trình thuật lại gợi cho ta thấy điều 
		này. Lời nói của Chúa Giêsu chứa đựng một chiều kích sâu xa bất ngờ đối 
		với anh mù cũng như đối với cử tọa chung quanh (c. 52a). Câu nói “anh 
		hãy đi” hàm ý một sự sai phái. Chúa Giêsu giải thoát anh ta khỏi những 
		gì làm tê liệt anh ta. Hơn nửa, tất cả những gì lay động Baritmê từ 
		những tiếng van nài lải nhải cho đến việc anh phóng chạy tới Ngài đang 
		khi vẫn còn mù, đều được Chúa Giêsu đánh giá là thuộc về “đức tin”, và 
		thành ngữ “đã cứu chữa anh” có nghĩa là ân sủng Chúa Giêsu ban cho người 
		tín hữu vượt quá sự chữa lành về mặt thể lý, vì đó là ơn cứu độ toàn bộ 
		con người. Những lời tương tự như khi Chúa Giêsu nói với người phụ nữ 
		mắc bệnh băng huyết (5,34) đã mặc khải rõ ý nghĩa sâu xa của các phép lạ 
		Ngài thực hiện. Đoạn cuối của trình thuật này rất lạ thường. Theo tính 
		cách bất ngờ thường thấy Maccô sử dụng. (trạng từ “tức khắc” được lặp đi 
		lặp lại thường xuyên: 1,12.20; 2,12; 5,30v.v...). Ở đây anh mù sau khi 
		được khỏi liền bước đi theo Chúa Giêsu. Câu nói anh “theo Ngài lên 
		đường” là công thức rất thường dùng để diễn tả thái độ “người môn đệ” 
		(1,18; 2,14).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Chúng ta thấy ở đây nghệ thuật kể chuyện 
		của Maccô đã đạt đến độ hoàn hảo (c. 52b). Quả là tương phản biết bao 
		giữa tình trạng lúc đầu của Baritmê (ngồi bên lề đường, mù lòa, xin ăn) 
		và tình trạng sau đó của anh ta (đứng, đi trên đường, sáng mắt, loan báo 
		Tin Mừng...) không nghi ngờ gì nữa, khi đặt trình thuật trên vào thời 
		điểm Chúa Giêsu đang trên đường tiến về Giêrusalem, lôi kéo đám môn đệ 
		và quần chúng đạt đến “nguồn ánh sáng” lớn lao hơn về thân thế và sứ 
		mệnh của Ngài, Maccô đã muốn minh họa cho những gì làm nên “người môn đệ 
		đích thực tức là phải để cho Chúa Giêsu dẫn đến sự “Thiên Khải của đức 
		tin”. Trước đó việc chữa lành người mù ở Betsaiđa (8,22-26) đã giúp các 
		môn đệ Chúa Giêsu khám phá ra Ngài là Đấng Mêsia (8,27-30). Giờ đây, 
		Chúa Giêsu lại mời gọi các môn đệ và tất cả những kẻ muốn theo Ngài hãy 
		mở con mắt của lòng mình ra để đón nhận, trong đức tin, cái nhìn về một 
		Đấng Mêsia chịu đau khổ và vinh thắng.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Hẳn Maccô chỉ có thể định vị trình thuật 
		này cách hay nhất vào thời điểm Chúa Giêsu sắp đi vào thành Giêrusalem. 
		Liệu người ta có thể nhận biết Chúa thân thế và hành động của Ngài 
		không? Quả thật khi đến trần gian cứu độ loài người, Chúa Giêsu nhắm đến 
		hai mục đích: vừa phục hồi họ vào trong xã hội đương thời của họ, vừa 
		tháp nhập họ vào trong cộng đồng tình yêu do Ngài thiết lập nên.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">CÁC PHÉP LẠ TRONG PHÚC ÂM MACCÔ</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Trong Phúc Âm Maccô, các phép lạ của 
		Chúa Giêsu lên tới con số mười bảy; điều này cho thấy chúng đóng góp một 
		vai trò quan trọng bởi vì tác phẩm này tương đối ngắn (chỉ mười sáu 
		chương) đồng thời các giáo huấn của Chúa Giêsu ở đây lại hiếm khi được 
		giải thích (nhất là ở giai đoạn đầu, xem 1,14-8.30).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Người ta có thể xếp “các hành vi quyền 
		phép này” (theo kiểu nói của Maccô) thành những “loại” khác nhau phù hợp 
		với não trạng hiện đại của chúng ta hơn là tư tưởng phương Đông và tư 
		tưởng thời xưa.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">- Có những hành vi được xem là các cuộc 
		chữa bệnh thuần túy: nhạc mẫu Phêrô (1,29-31); một người phong hủi 
		(1,40-45); người phụ nữ mắc bệnh băng huyết (5,25-34); một người câm 
		điếc (7,31-37); hai người mù (ở Betsaiđa; 8,22-26; ở Giêricô: 10,46-52); 
		hai người bại liệt (ở Caphanaum: 2,1-12; trong một hội đồng: 3,1-6).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">- Một “cuộc hồi sinh”: con gái ông 
		Giairô (5,21-24 và 35-43).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">- Những “hành vi quyền phép” trên thiên 
		nhiên: dẹp yên bão tố (4,35-41); đi trên sóng nước (6,45-51); hai lần 
		hóa bánh (6,30-44; 8,1-10).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Việc tường thuật dồi dào các sự kiện “lạ 
		lùng” thường khiến các độc giả thời nay lạc lối. Đối với đa số người 
		thời nay, các phép lạ trở thành một trở ngại cho đức tin hơn là lời mời 
		gọi người ta đến với đức tin. Tuy nhiên chắc chắn hồi đó Chúa Giêsu là 
		một nhà trị bệnh đồng thời cũng là một nhà trừ quỷ. Điều này chẳng có gì 
		khác thường trong thế giới Do Thái và dân ngoại thời ấy. Văn chương vùng 
		Đông phương cổ xưa và trong thế giới Hy Lạp thời Chúa Giêsu còn lưu lại 
		trình thuật phép lạ do những người có đặc sủng hoặc các nhà ma thuật 
		thực hiện.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Tuy nhiên các phép lạ của Chúa Giêsu 
		khác hẳn với các phép lạ của các nhà trị bệnh đương thời. Các phép lạ 
		của Chúa Giêsu liên kết chặt chẽ với Tin Mừng Ngài rao giảng. Chúng thực 
		sự là “những dấu chỉ” cho thấy Đấng Mêsia đang hiện diện (x. Mt 11,2-6), 
		Nước Thiên Chúa đang đến. Sứ điệp của Chúa Giêsu đã mang lại tất cả ý 
		nghĩa cho việc Ngài trị bệnh và trừ quỷ. Ngoài việc làm tiêu tan đi cơn 
		đau thể lý và tâm lý, các phép lạ còn là dấu chỉ sự “giải thoát” về mặt 
		tôn giáo và xã hội nữa. Trước hết Chúa Giêsu đến phục hồi cho bệnh nhân 
		sự thông hiệp với Thiên Chúa. Như thế Ngài tái tháp nhập bệnh nhân vào 
		cộng đồng đức tin cùng với những người khỏe mạnh khác. Đồng thời Ngài 
		phục hồi cho “những kẻ bị khai trừ” này bằng cách giúp họ tái nhập vào 
		xã hội mà họ đang sống. Hai ví dụ sống động của việc “giải phóng kép” 
		này được tìm thấy nơi các phép lạ “chữa người phong hủi” (1,40-45) và 
		“người bị bất toại được tha thứ và chữa lành” (2,1-12).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Ngoài ra, phải đọc các phép lạ của Chúa 
		Giêsu nơi Maccô, trong khuôn khổ liên tục của Phúc Âm này. Ở mỗi giai 
		đoạn mặc khải về Đấng Mêsia, các phép lạ đều củng cố thêm cho sự khám 
		phá thân thế và sứ mệnh đích thực của Ngài.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">- Trong giai đoạn đầu (1,14-3,12) Chúa 
		Giêsu muốn cho mọi người hiểu rằng Ngài đến khánh thành kỷ nguyên cứu 
		độ, các phép lạ chữa lành nhạc mẫu Phêrô (1,29-31), chữa lành một người 
		phong hủi (1,40-45), chữa lành một kẻ bại liệt (2,1-12), chữa lành người 
		có cánh tay bị liệt (3,1-6) chứng nhận Ngài thực sự là một vị lương y 
		của thể xác và tâm hồn.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">- Trong giai đoạn thứ hai (3,13-6,6) 
		Chúa Giêsu lôi cuốn các môn đệ vào công việc mang Phúc Âm “đi xa” đến 
		vùng các dân ngoại. Maccô đã gom lại ở đây bốn hành vi quyền phép của 
		Chúa Giêsu để trấn an Giáo Hội non trẻ rằng Đấng Chúa Tể Phục Sinh của 
		họ vẫn còn đang hiện diện ở khắp mọi nơi và Ngài luôn nắm quyền trên các 
		sức mạnh của sự Dữ và sự Chết. Các phép lạ sau đây đều mang ý nghĩa này: 
		truyền bão tố yên lặng (4,35-41), chữa lành kẻ bị quỷ ám ở Giêrasa 
		(5,1-20), hồi sinh con gái ông Giairô và chữa lành người phụ nữ mắc bệnh 
		băng huyết (5,21-43). Khi đọc những bằng chứng này, các Kitô hữu, mạnh 
		dạn đem Tin Mừng đến giữa lòng dân ngoại.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">- Trong giai đoạn thứ ba (6,7-8,26) Chúa 
		Giêsu mặc khải Ngài là một Môsê mới. Ngài có khả năng quy tụ và nuôi 
		dưỡng được mới của Thiên Chúa bằng lời nói và bằng sự hiến dâng chính 
		mình. Đây là ý nghĩa lần hóa bánh đầu tiên (6,30-44). Tuy nhiên Ngài 
		không dừng lại ở đó: Ngài còn đến để mở rộng bàn tiệc Nước Chúa cho 
		những kẻ xa lạ, những kẻ không thuộc dân Do Thái vẫn thường bị dân Do 
		Thái khai trừ. Đây là ý nghĩa việc trừ quỷ cho đứa con gái người phụ nữ 
		Syrô-Phênisi (7,24-30) và lần hóa bánh thứ hai (8,1-9). Sự kiện các môn 
		đệ cảm thấy khó mà nhìn nhận Đức Giêsu là Đấng Mêsia mang tính cách hoàn 
		vũ đã được minh họa qua hai phép lạ có tầm mức tượng trưng cao độ: phép 
		lạ chữa người câm điếc (7,31-37) và chữa người mù ở Betsaiđa (8,22-26). 
		Những kẻ muốn theo Chúa Giêsu phải thoát ra khỏi sự điếc lác mù lòa cản 
		trở không cho họ nhận ra thân thế sâu nhiệm và sứ mệnh của Ngài.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">- Giai đoạn thứ tư của sứ mệnh Chúa 
		Giêsu (8,27-10,52) là giai đoạn đào tạo gấp rút các môn đệ tham dự vào 
		lời loan báo về cuộc khổ nạn sắp tới. Các môn đệ không được sợ hãi viễn 
		cảnh mới về cái chết của Thầy mình. Một cách cố ý, Maccô đã trình bày 
		việc chữa lành đứa bé bị động kinh (9,14-29). Ở đây Chúa Giêsu mặc khải 
		Ngài là Chúa Tể nắm quyền trên các sức mạnh của sự Dữ và sự Chết. Ngài 
		chứng tỏ Ngài có khả năng “Phục Sinh” Người đã bị phó cho thần chết. Bạn 
		hữu Chúa Giêsu phải mở mắt ra theo gương anh mù thành Giêricô 
		(10,46-52). Họ có thể bước theo Chúa Giêsu trong đức tin sáng chói, cùng 
		đồng hành với Đấng vướt qua cuộc khổ nạn, chiến thắng sự chết bằng cuộc 
		phục sinh của Ngài.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">- Giai đoạn thứ năm của Chúa Giêsu 
		(11,1-13,37) hoàn toàn tập trung vào cuộc nhập thành Giêrusalem và việc 
		Ngài chính thức giảng dạy trong đền thờ. Giai đoạn này không thấy Chúa 
		Giêsu làm phép lạ. Phải đọc trình thuật “cây vả bị khô héo” (11,12-14 và 
		20-25) như là một cử chỉ tượng trưng. Dụ ngôn này (được lịch sử hóa) 
		muốn chứng tỏ rằng luật lệ hay đền thờ Do Thái cũng không thể làm thỏa 
		mãn cơn đói Thiên Chúa (11,12). Chỉ mỗi mình Chúa Giêsu mang theo nơi 
		Ngài lương thực cứu độ.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">- Giai đoạn thứ sáu và cũng là giai đoạn 
		chót (14,1-16,8) là trình thuật liên tục về cuộc khổ nạn và phục sinh 
		của Chúa Giêsu. Suốt thời gian các biến cố này, Chúa Giêsu không hề thực 
		hiện hiện một dấu chỉ quyền phép thần linh nào cả. Mãi đến lúc cuối 
		cùng, Ngài vẫn từ khước cơn cám dỗ xui khiến Ngài thực hiện “phép lạ” 
		cứu Ngài thoát chết tức là xuống khỏi thập giá (15,29-32). Làm phép lạ 
		này tức là phủ nhận chính nhân tính của Ngài.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Người ta thấy rõ: các phép lạ trong Phúc 
		Âm Maccô không bao giờ là những “chứng cứ” về thiên tính của Chúa Giêsu 
		mà chỉ những dấu chỉ giúp chúng ta tin. Chúng được tác giả Phúc Âm và 
		cộng đồng của ông đọc lại dưới ánh sáng phục sinh và Kim Thánh. Chúng 
		chỉ là những lời kêu gọi hãy tin vào Chúa Giêsu, Đấng cứu độ ta khỏi 
		những sự dữ to lớn, đặc biệt là sự chết. Các dấu chỉ này luôn luôn hiện 
		thực để khích lệ hoạt động thừa sai và bí tích của Giáo Hội (x. 16, 
		15-20). Người ta hiểu rằng các dấu chỉ ấy vẫn mãi mãi là một “câu hỏi” 
		đối với những kẻ không tin...</span></p>
		</td></tr><tr>
		<td width="464" height="56"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; 
		<a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://tinmung.net/"> 
		<img src="../CN%20XXIII%20TN/LOGOtinmung.gif" width="72" height="38"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<a style="text-decoration: none" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/suyniemINDEX3.htm"><img alt="" src="../CN%20XXIII%20TN/LOGOtinmung2.gif" width="78" height="38"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">
&nbsp;</p>

PHP File Manager