File "15.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2021/Mua-Thuong-Nien/CN XXVI TN/15.htm
File size: 25.28 KiB (25883 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật XXVI - Thường Niên - Năm B</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật XXVI - Thường Niên - Năm B; Dịp tội; Gương mù; Nhân danh; Tính ghen tỵ; Sa ngã; Tội lỗi; Chặt tay bạn đi; Tránh xa dịp tội;"><style>
<!--
.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
{color:blue;
text-decoration:underline;
text-underline:single;
text-decoration:none underline;
text-line-through:none;
vertical-align:baseline}
span.apple-converted-space
{}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật XXVI - Thường Niên - Năm B"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">
Chúa Nhật XXVI - Thường Niên - Năm B</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
<b>
MỘT BÀI HỌC VỀ KHOAN DUNG</b></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
<a name="_Toc241154323">
Chú giải mục vụ của William Barclay</a></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Như chúng ta chúng ta được biết nhiều
lần, vào thời Chúa Giêsu, ai nấy đều tin có ma quỷ. Mọi người đều tin
rằng các thứ bệnh tật của thân thể lẫn tâm thần, đều do ma quỷ tà linh
ám ảnh. Có một phương pháp hết sức thông thường để trục xuất ma quỷ. Nếu
ai biết được tên của một tà linh nào mạnh hơn, thì có thể nhân danh tà
linh ấy truyền lệnh cho tà linh đang ám ảnh nạn nhân đó ra khỏi người đó
và con quỷ đó phải nhượng bộ. Nó không dám chống lại danh của một tà
linh khác có thế lực hơn nó. Đó là loại sự việc đang xảy ra ở đây. Gioan
thấy có người nhân danh uy quyền của Chúa Giêsu để đuổi quỷ, ông đã ngăn
cấm vì người ấy không phải là một trong số thân cận với Chúa Giêsu như
các tông đồ. Nhưng Chúa Giêsu tuyên bố rằng chẳng hề có ai hoàn toàn thù
địch với Ngài mà có thể nhân danh Ngài mà làm được việc quyền năng nào.
Rồi Ngài quy định một đại nguyên tắc là “hễ ai không chống lại chúng ta
là ủng hộ chúng ta”. Đây là một bài học về khoan dung mà mọi người cần
học tập:</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">1/ Mỗi người đều có quyền tự do tư
tưởng. Mỗi người đều có quyền suy nghĩ về mọi sự việc cho đến khi nào
tìm ra kết luận cho những điều mình tin. Đây là một nguyên tắc mà chúng
ta phải tôn trọng. Chúng ta thường vội vàng lên án những điều mình không
hiểu. Penn có nói “Đừng bao giờ khinh dể hoặc chống lại những gì bạn
không hiểu”. Trong bản dịch Tân Ước của Kinsley Williams.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Giuđa 10 được dịch là “số người này phát
ngôn bừa bãi về mọi điều họ không biết”. Chúng ta phải nhớ hai điều:</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">(a) Có nhiều cách thức để người ta đến
được với Chúa như Tennyson nói “Chúa tự bày tỏ mình theo nhiều cách”.
Cervantes cũng bảo “Chúa có nhiều đường lối để đưa những người thuộc về
Ngài vào thiên đàng”. Trái đất vốn tròn, hai người bắt đầu đi về hai
hướng ngước nhau, cuối cùng vẫn gặp nhau tại một điểm. Tất cả mọi con
đường đều dẫn đến Chúa, nếu chúng ta theo đuổi chúng lâu đủ và dài đủ.
Thật là điều đáng sợ nếu có ai nghĩ chỉ có họ độc quyền về ơn cứu rỗi.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">(b) Điều cần nhớ là chân lý luôn luôn
lớn hơn điều mà bất cứ người nào có thể lãnh hội được. Chẳng hề có ai
thâu tóm được toàn thể chân lý. Nền tảng của khoan dung không phải là
thái độ lười biếng chấp nhận bất cứ điều gì. Đó không phải là cảm nghĩ
cho rằng không thể có được sự bảo đảm ở bất kỳ nơi nào. Nền tảng của
thái độ khoan dung chỉ đơn giản là nhận thức được tính cách bao la của
quỹ đạo chân lý. John Morley viết “khoan dung là tôn trọng khả năng của
chân lý, có nghĩa là thừa nhận chân lý có thể cư trú trong mọi nhà, mặc
lấy mọi màu sắc và nói bằng đủ các thứ tiếng lạ. Nó có nghĩa là phải
thật lòng tôn trọng quyền tự do của lương tâm ngự trị bên trong, chống
lại mọi hình thức máy móc. Nó có nghĩa là tình yêu lớn hơn cả đức tin
lẫn hy vọng”. Sự không khoan dung là dấu hiệu của cả kiêu ngạo lẫn dốt
nát, nó là dấu hiệu của kẻ tin là không hề có chân lý nào khác ngoài
chân lý mình thấy.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">2/ Chẳng những phải nhường lại cho mọi
người quyền làm theo những gì họ nghĩ, mà chúng ta phải nhường quyền để
họ tự phát biểu những điều riêng của họ. Trong tất cả các quyền tự do
dân chủ, quyền quan trọng nhất là quyền tự do phát biểu ý kiến. Dĩ nhiên
là phải có giới hạn. Nếu có đưa ra những giáo lý được tính toán trước
nhằm phá hoại luân lý, lật đổ mọi nền tảng của xã hội văn minh và Kitô
giáo, thì kẻ ấy bị chống lại. Nhưng phương pháp để chống lại người ấy
chắc chắn không phải là một loại trừ người ấy bằng vũ lực, nhưng bằng
cách chứng minh cho người ấy thấy họ đã sai lầm. Voltaire từng quy định
quan niệm về tự do ngôn ngữ bằng một câu sống động “tôi ghét điều anh
nói, nhưng tôi sẵn sàng chịu chết để anh có quyền được nói ra nó”.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">3/ Cuối cùng, chúng ta phải nhớ, mọi
giáo lý và mọi quan niệm đức tin đều phải được xét đoán căn cứ vào các
hạng người mà nó đã sản sinh ra. Câu hỏi tối hậu phải luôn luôn được nêu
lên, không phải là “Giáo Hội được điều hành như thế nào?” nhưng là “Giáo
Hội đã sản sinh loại người như thế nào?”. Ngụ ngôn phương Đông có câu
chuyện như sau: Người kia có một chiếc nhẫn bích ngọc rất lạ. Hễ ai đeo
nhẫn ấy vào thì tính tình trở nên hiền hậu, chân thực khiến mọi người
đều yêu mến. Chiếc nhẫn là một thứ phép màu. Nó được truyền từ đời cha
sang đời con luôn luôn linh nghiệm. Thời gian trôi qua, chiếc nhẫn được
truyền đến một người có ba con trai, mà đứa nào ông cũng yêu quý cả. Khi
biết mình sắp chết, ông ta băn khoăn sẽ để lại chiếc nhẫn lại cho đứa
nào đây? Ông đã liều thuê thợ bạc làm thêm hai chiếc khác, y hệt như
chiếc nhẫn thật, đến nỗi chẳng ai phân biệt được chiếc nào là chiếc
thật, chiếc nào là giả. Lúc hấp hối, ông gọi riêng từng đứa con trối
trăn riêng với từng người, sau đó ông cho riêng mỗi người một chiếc nhẫn
mà người kia không biết. Nhưng về sau, cả ba người đều khám phá ra rằng
mỗi người đều được nhẫn, thế là một cuộc tranh cãi dữ dội đã bùng nổ xem
ai được chiếc nhẫn có thể đem lại nhiều điều có lợi cho chủ nó. Nội vụ
được đưa đến một quan tòa khôn ngoan xét xử. Quan tòa xem xét thật kỹ
các chiếc nhẫn rồi nói “ta không biếc chiếc nhẫn nào là chiếc nhẫn thật,
nhưng chính các người có thể chứng nghiệm điều đó”. Ba người con ngạc
nhiên hỏi “chúng tôi à?”. Quan tòa bảo “phải, và nếu chiếc nhẫn thật tạo
cho người đeo nó một bản chất dịu hiền thật bởi đời sống thiện hảo của
người ấy. Cho nên, các anh hãy về đi, sống cho tử tế, trung thực, dũng
cảm ngay thẳng trong mối liên hệ với mọi người, và ai làm như thế chính
là người được chiếc nhẫn thật”. Vấn đề phải chứng nghiệm bằng đời sống.
Không ai lên án được một giáo lý đã khiến một người xấu trở nên tốt. Nếu
chúng ta nhớ được điều ấy, có thể giảm bớt sự thiếu khoan dung.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">4/ Chúng ta có thể ghen ghét niềm tin
của một người nhưng đừng bao giờ ghét người ấy. Chúng ta có thể muốn
loại bỏ những gì người ấy giảng dạy nhưng đừng bao giờ có ước muốn loại
trừ chính người ấy.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">THƯỞNG VÀ PHẠT (9,41-42)</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Lời giáo huấn trong đoạn này thật đơn
sơ, không thể lầm lẫn được, rất bổ ích.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">1/ Bất kỳ một việc tốt nào, một sự giúp
đỡ nào làm cho người của Chúa, đều không bị mất phần thưởng. Lý do để
giúp đỡ là vì người ấy cần được giúp đỡ thuộc về Chúa Giêsu. Mỗi người
có nhu cầu đều có thể đòi hỏi chúng ta giúp đỡ, người ấy được Chúa Kitô
yêu thương. Nếu Chúa Giêsu còn tại thế, chắc Ngài cũng đã giúp đờ họ
cách thực tiễn và bổn phận cứu trợ, giúp đỡ, đã được giao lại cho chúng
ta. Cần chú ý là sự trợ giúp rất đơn giản. Của cho có thể chỉ là một ly
nước. Không đòi hỏi ta làm những chuyện lớn lao, những việc vượt quá khả
năng của ta. Chỉ đòi hỏi ta phải làm những việc mà bất cứ ai cũng có thể
làm, cũng có thể cho.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Một giáo sĩ kể lại một câu chuyện sau
đây: Bà giáo vừa dậy các học sinh cấp 1 người Phi châu về việc nhân danh
Chúa Giêsu cho người ta một chén nước lạnh. Hôm ấy, bà đang ngồi trước
nhà, thấy một đám phu khuân vác người bản xứ đi vào làng. Họ vác những
kiện hàng thật nặng. Ai nấy đều mỏi mệt, khát nước và ngồi bệt xuống đất
để nghỉ ngơi. Họ là người thuộc bộ tộc khác và nếu họ xin nước nơi những
thường dân không theo Kitô giáo, sẽ được bảo: hãy tự đi tìm lấy mà uống,
vì có một bức tường ngăn cách ở giữa họ. Nhưng đang khi số người mệt mỏi
kia ngồi đó và bà đang nhìn họ thì một đám trẻ gái người Phi Châu từ
trường học đi ra, mỗi em đội trên đầu một vò nước. Cả bọn rụt rè, sợ sệt
tiến đến gần những người khuân vác đang mỏi mệt và quỳ xuống, đưa các vò
nước cho họ. Những người khuân vác ngạc nhiên, tiếp lấy rồi uống ngon
lành và trả vò lại. Các bé gái vội vàng chạy nhanh đến với bà giáo, và
nói “chúng cháu vừa nhân danh Chúa Giêsu cho những người khát uống
nước”. Các bé gái đã tiếp nhận lời dạy dỗ ấy theo nghĩa đen của nó. Ước
gì cũng có nhiều người làm vậy. Chính những việc làm đơn sơ với tấm lòng
tử tế là những việc hết sức cần thiết. Mahomet đã nói “Đặt người lạc lối
vào đúng con đường, cho một nguơì khát uống nước, mỉm cười với anh em
mình, đó là đức ái”.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">2/ Nhưng việc trái lại cũng được nghiệm
đúng. Giúp người thì sẽ được phần thưởng đời đời, còn làm cho một anh em
yếu đuối hơn vấp phạm là tự chuộc lấy hình phạt đời đời. Phần thưởng rất
nghiêm khắc. Tại Palestine có hai loại cối: cối đá xay bằng tay mà phụ
nữ dùng trong nhà và loại cối đá lớn đến nỗi phải cột một con lừa mới
kéo nổi. Loại cối đá nói ở đây là loại lớn. Bị ném xuống biển với một
thớt cối như thế cột vào người, chắc chắn không hy vọng trở về. Thật ra,
đây là cách xử tử cả tai Roma lẫn tại Palestine. Sử gia Josephus kể
rằng, lúc một số người Galilê thành công trong một cuộc nổi dậy, “họ bắt
được những người thuộc đảng Hêrôđê và ném xuống biển hồ”. Suetonius, sử
gia Roma kể lại về Augustus rằng “vì ông thầy dạy học và bọn người hầu
hạ hoàng tử là Gaius lợi dụng căn bệnh của chủ để lạm quyền và tham
nhũng trong tỉnh, nên hoàng đế truyền cột vật nặng vào cổ và ném họ
xuống sông”.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Tự mình phạm tội đã là chuyện khủng
khiếp rồi, nhưng dạy kẻ khác phạm tội, lại càng tệ hại. O. Henry, nhà
văn Mỹ lừng danh về truyện ngắn đã sáng tác câu chuyện về một bé gái mồ
côi mẹ. Cha cô bé có thói quen hễ đi làm về là ngồi ngay xuống ghế mở
cặp lôi giấy tờ ra, đốt ống điếu và gác chân lên ngăn kệ đặt gần lò
sưởi. Cô bé vào, xin cha chơi đùa với mình một lát vì em rất cô đơn.
Nhưng người cha bảo ông mệt lắm, hãy để cho ông yên. Ông bảo cô bé hãy
ra đường mà chơi. Thế là cô đi chơi ngoài đường, và chuyện không tránh
được đã xảy ra, cô trở thành người sống ngoài đường phố. Thời gian trôi
qua, cô gái chết. Linh hồn cô gái đến thiên đàng. Phêrô trông thấy cô ta
liền thưa với Chúa Giêsu “Thưa Thầy, đây là một bé gái gặp số phận xấu.
Con nghĩ chúng ta phải đưa thẳng nó xuống hỏa ngục”. Nhưng Chúa Giêsu ôn
tồn đáp “Không, hãy cho nó vào”. Rồi đôi mắt Ngài trở nên nghiêm nghị
“Nhưng hãy tìm con người đã từ chối không chịu chơi đùa với con gái nhỏ
của mình, đuổi con ra đường, và đưa hắn xuống hỏa ngục”. Chúa không
nghiêm khắc đối với tội nhân, nhưng Ngài hết sức nghiêm khắc đối với kẻ
đã làm cho người khác sa vào tội lỗi, kẻ mà vô tình hay cố ý, đã đặt một
tảng đá vấp chân trên lối đi của một người anh em yếu đuối hơn mình.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">MỘT MỤC TIÊU ĐÁNG CHO CHÚNG TA HY SINH</span></b><span style="font-size: 14.0pt">
(9,43-48)</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Bằng ngôn ngữ sinh động kiểu phương
Đông, đoạn này nêu lên một chân lý căn bản, có một mục tiêu trong cuộc
sống đáng cho chúng ta hy sinh bất cứ điều nào để đạt đến. Về phương
diện thuộc thể, có lẽ người ta sẵn sàng chịu mất chân, tay hay một phần
thân thể nào đó, để được sự sống cho toàn thân. Có những truờng hợp mà
phương thế duy nhất để bảo tồn đuợc sự sống cho toàn thể là phải cưa
tay, chân, hoặc phải chịu giải phẫu cắt bỏ một phần nào đó trong cơ thể.
Về phương diện thuộc linh trường hợp như trên cũng có thể xảy ra.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Các Rabbi người Do Thái cũng có một câu
cách ngôn đại ý một vài phần trong thân thể người ta có thể đưa họ đến
chỗ phạm tội. “Con mắt và tấm lòng là hai tên mai mối cho người ta phạm
tội”. “Con mắt và tấm lòng là hai đứa đầy tớ cho tội lỗi”. Đam mê chỉ ở
trọ nơi kẻ có mắt để trông thấy. “Khốn thay cho kẻ nào chạy theo con
mắt, vì con mắt vốn dâm tà”. Trong con người, có một số bản năng, một số
các chi thể bẩm sinh dễ xui khiến người ta phạm tội. Chúng ta không nên
hiểu câu nói này của Chúa Giêsu theo nghĩa đen, nhưng đây là một cách
nói hết sức gợi hình theo lối người phương Đông, ngụ ý ở đời, người ta
có một mục đích để sẵn sàng vì đó mà hy sinh bất cứ điều gì để đạt được.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Đoạn này nhắc đi nhắc lại nhiều lần về
đia ngục. Tân Ước đề cập đến địa ngục trong Matthêu 5,22.29.30; 10,28;
18,9; 23,15.33; Luca 12,5; Giacôbê 3,6, đây là những chữ được dùng để
dịch từ Gehenna. Từ này có một lịch sử. Nó là một dạng từ của của từ
Hinnom. Hinnom là một thung lũng ở bên ngoài thành Giêrusalem. Nó có một
lịch sử xấu xa. Đó là thung lũng mà xưa kia Acha đã lập đền thờ thần lửa
và dâng trẻ con làm sinh tế trong lửa. “Người đốt hương trong thung lũng
Hinnom và thiêu con cái mình trong lửa” (2Sk 28,3). Manase cũng tiếp tục
việc thờ phượng ngoại giáo khủng khiếp này (2Sk 33,6). Do đó, Hinnom,
Gehenna, là một cảnh tượng về một trong những lần Israel sa vào các
phong tục tập quán khủng khiếp nhất của ngoại giáo. Vào thời phục hưng
của Giôsia, nhà vua đã tuyên bố Hinnom là chỗ ô uế. “Người cũng làm ô uế
Tôphết tại thung lũng con cái Hinnom hầu cho từ rày về sau, không ai
được đưa con trai hay con gái mình qua lửa cho Môlóc” (2V 23,10). Một
khi thung lũng ấy đã bị công bố là ô uế, nó bị đặt riêng ra làm nơi đổ
rác và đốt rác của thành phố Giêrusalem. Kết quả là nó trở thành một nơi
dơ dáy đáng ghê tởm, đầy rác rến giòi bọ, khói và lửa cháy âm ỉ không
ngừng giống như một lò thiêu vĩ đại. Câu nói về nơi giòi bọ chẳng hề
chết và lửa chẳng hề tắt có xuất xứ từ Israel 66,24, mô tả về số phận kẻ
thù gian ác của dân Israel, vì tất cả các lý do trên đây, thung lũng
Hinnom, Gehenna, trở thành một loại biểu tượng cho địa ngục, là nơi linh
hồn kẻ ác sẽ bị hành hạ, hủy diệt. Nó được dùng như thế trong kinh
Talmud “Tội nhân không tuân hành luật lệ, cuối cùng phải xuống địa ngục
(gehenna)”. Vậy, địa ngục tượng trưng cho nơi giam phạt, và từ này gợi
lên trong tâm trí người Israel những hình ảnh ảm đạm và khủng khiếp
nhất.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Nhưng vì mục đích gì mà chúng ta có thể
hy sinh mọi sự? Có lần nói về sự sống và một lần vì Nước Trời. Có thể
định nghĩa Nước Trời như thế nào? Chúng ta lấy câu định nghĩa cho chúng
ta trong Kinh Cầu Nguyện Chung. Kinh cầu nguyện ấy, có hai lời cầu xin
đã được đặt bên cạnh nhau “Nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất
cũng như trên trời”. Một đặc điểm trong ngữ pháp Do Thái, là thể loại
song hành. Trong thể loại song hành người ta viết hai câu cạnh nhau, mà
câu này nhấn mạnh, bàn rộng, giải thích hoặc khai triển câu kia. Ta có
thể lấy bất cứ bài nào trong Thánh Vịnh để minh họa cho phương pháp đó.
Vậy, trong Kinh Cầu Nguyện Chung, chúng ta có thể hiểu là lời cầu xin
này đã giải thích và bàn rộng, triển khai lời cầu xin kia. Khi xếp hai
câu chung với nhau, chúng ta có câu định nghĩa là “Nước Thiên Đàng là
một xã hội trần gian, trong đó, ý Chúa được thực hiện trọn vẹn dưới đất
cũng như trên trời”. Có thể nói thật đơn giản, người nào hoàn toàn vâng
theo ý Chúa là công dân Nước Chúa. Nếu lấy câu đó làm ứng dụng cho đoạn
sách chúng ta đang nghiên cứu, nó sẽ có nghĩa là “làm theo ý Cha là điều
xứng đáng cho mọi hy sinh, mọi trường hợp khép mình vào kỷ luật, mọi
trường hợp từ chối mình”. Chỉ có việc làm theo ý Chúa chúng ta mới có
được sự sống đích thực, có được bình an tối hậu, hoàn toàn và mãn
nguyện.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Origen đã hiểu ý này theo nghĩa biểu
tượng. Ông bảo có lẽ cần phải khai trừ vài kẻ theo tà giáo hoặc vài kẻ
gian ác nào đó, không được hiệp thông trong Hội Thánh để giữ thân thể
Chúa Kitô được thuần khiết. Nhưng câu này ngụ ý dạy chúng ta phải ứng
dụng nó cho chính mình trước nhất. Nó ngụ ý dạy chúng ta cần từ bỏ, khai
trừ một thứ xấu, từ bỏ một thú vui, tuyệt giao với một số bạn bè, cắt
đứt một điều nào đó vốn rất thiết thân với chúng ta để vâng phục trọn
vẹn ý Chúa. Đây không phải là một điều mà bất cứ ai cũng có thể làm đối
với người khác. Nó là vấn đề lương tâm mỗi cá nhân, và nó có nghĩa là
nếu có bất cứ việc gì ngăn trở chúng ta vâng phục hoàn toàn ý Chúa, thì
dù vật hay người ấy vốn rất thân thiết với chúng ta, dù thói quen phong
tục tập quán đó đã trở thành một phần của chính đời sống. Thì chúng ta
cũng phải nhổ bỏ tận gốc. Việc dứt bỏ đó có thể gây đau đớn như một cuộc
giải phẫu, có thể giống như phải chặt bỏ đi một chi thể. Nhưng nếu muốn
được sự sống đích thực, hạnh phúc đích thực và bình an đích thực, chúng
ta phải quyết tâm thi hành. Câu nói nghe có vẻ lạnh lùng, nghiêm khắc,
nhưng thật ra, đó là thái độ phải đối diện với các sự kiện của đời sống.</span></td></tr><tr>
<td width="474" height="56"><p style="text-align: center">
<a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://tinmung.net/">
<img src="../CN%20XXIII%20TN/LOGOtinmung.gif" width="72" height="38"></a> <a style="text-decoration: none" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/suyniemINDEX3.htm"><img alt="" src="../CN%20XXIII%20TN/LOGOtinmung2.gif" width="78" height="38"></a> </td></tr></table><p style="text-align: center">
</p>