File "10.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2021/Mua-Thuong-Nien/CN XXV TN/10.htm
File size: 19.43 KiB (19893 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật XXV - Thường Niên - Năm B</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật XXV - Thường Niên - Năm B; Phục vụ; Đầy tớ; nền văn minh mới; Đường lối Chúa; Khiêm tốn; tính ghen ghét; Giá trị; Người lớn nhất."><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
	{color:blue;
	text-decoration:underline;
	text-underline:single;
	text-decoration:none underline;
	text-line-through:none;
	vertical-align:baseline}
span.apple-converted-space
	{}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật XXV - Thường Niên - Năm B"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">
	Chúa Nhật XXV - Thường Niên - Năm B</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
		KHUÔN MẶT MỘT CON TRẺ</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
		<a name="_Toc335727657">
		<span style="font-size: 8pt; font-style:italic; font-weight:400">Chú giải mục vụ của Jacques Hervieux</span></a></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">LẦN THỨ HAI LOAN BÁO VỀ CUỘC KHỔ NẠN</span></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		(9,29-32)</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Điểm khởi hành của Chúa Giêsu không được 
		xác định rõ. Tuy nhiên ghi chú địa lý lần trước cho thấy Ngài đang hiện 
		đang ở miền cực bắc xứ Phalestin tức miền Cêsarê Phillipphê (8,27). Như 
		thế là Chúa Giêsu băng ngang khắp miền Gialilê với các môn đệ Ngài (c. 
		30a) theo hướng bắc – nam. Ngài đang thực hiện điều mà người ta thường 
		gọi là “cuộc tiến về Giêrusalem”. Giống như Matthêu và Luca, Maccô chỉ 
		ghi nhận một hành trình duy nhất của Chúa Giêsu tiến về Giuđê và thủ đô 
		Israel (9.30-11,1). Cuộc hành trình tối hậu này sẽ dẫn Chúa Giêsu tới 
		định mệnh đẫm máu của Ngài. Nhưng Ngài “không muốn cho thiên hạ biết” 
		(c.30b). Luôn luôn quy luật “bí mật Mêsia” được nêu ra. Quần chúng 
		Galilê đã nhận được từ Chúa Giêsu những lời nói và phép lạ minh chứng 
		đầy đủ về sứ mệnh Mêsia của Ngài. Thế mà họ đã không hoán cải. Giờ đây 
		Chúa Giêsu phải cống hiến hoàn toàn cho việc dạy dỗ các môn đệ Ngài để, 
		nếu có thể, dẫn dắt họ đón nhận viễn cảnh một Đấng Mêsia bị dân tộc mình 
		ruồng bỏ (c.31a).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Đây là lần thứ hai Chúa Giêsu loan báo 
		cho các bạn hữu mình về cuộc khổ nạn. Ngài sử dụng lại các từ ngữ hầu 
		như y hệt lần trước (x. 8,31). “Con Người” sẽ bị “nộp vào tay người ta. 
		Động từ “nộp” dùng ở đây có nghĩa rất mạnh. Ngài sẽ bị ai nộp? Về sau 
		Maccô sẽ xác nhận rõ những người nào sẽ bị nộp Chúa Giêsu để đưa Ngài 
		đến cái chết: đó là Giuđa (14,10), các thượng tế (15,1) và Philatô 
		(15,15). Tuy nhiên, ở đây hình thức động từ nằm ở thể thụ động: Chúa 
		Giêsu sẽ “bị nộp”. Đây là một cách thức rất thông dụng dân Do Thái 
		thường dùng để chỉ Thiên Chúa là tác nhân mà tránh không nêu danh Người 
		ra vì lòng tôn kính. Cần phải nhớ kỹ rằng: Cái chết của Chúa Giêsu có 
		thể quy trách cho những kẻ tội lỗi gây ra trong lịch sử. Các Kitô hữu 
		cắt nghĩa “điều chướng kỳ” này bằng cách cho thấy nó nằm trong ý định 
		nhiệm mầu của Thiên Chúa. Đây là điều mà công thức đột ngột được dùng 
		trong lần loan báo đầu tiên muốn đề cập: con người “phải” chịu khổ và 
		chết (8,31). Cũng như lần trước, lần này lời hứa Phục sinh thêm vào ngay 
		sau đó (c.31b) cũng chẳng an ủi được các môn đệ trước viễn cảnh đớn đau 
		của cái chết. Các bạn hữu của Chúa Giêsu vẫn khư khư chẳng hiểu gì lời 
		giáo huấn của Thày mình (c. 32). Đây là chủ đề về “sự ngu muội” của các 
		môn đệ trước nỗ lực liên lỷ của Chúa Giêsu nhằm dẫn dắt họ hiểu ra được 
		định mệnh của Ngài. Như chúng ta từng thấy, Phêrô đã biểu lộ sự phản 
		kháng thực sự trước lời loan báo về cái chết của Chúa Giêsu (x. 8,32). 
		Lần này, sự “khép lòng” của các môn đệ được ghi nhận qua nỗi sợ hãi 
		không dám “hỏi Ngài”, họ tránh né mọi cuộc trao đổi với Ngài về những 
		thử thách đang chờ đợi Ngài. Như thế, độc giả có thể hiểu được rằng quả 
		thực là khó khăn khi phải trực diện với cái chết.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">VẤN ĐỀ ĐỊA LÝ TRONG PHÚC ÂM MACCÔ</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Tác giả Phúc Âm đã đóng khung cuộc đời 
		Chúa Giêsu trong môt ranh giới rất đơn giản ở đó người ta thấy lộ rõ ra 
		hai cực: Galilê và Giêrusalem. Thực thế, sau khi chịu phép rửa ở sông 
		Giođan (1,9). Chúa Giêsu đã thi hành sứ vụ của mình ở Galilê, nằm ở mạn 
		bắc xứ Palestin (1,14-9,29). Chỉ mãi về sau Ngài mới băng ngang Galiê 
		theo hướng nam để “lên” Giêrusalem, thủ phủ xứ Giuđêa (9,30). Chính ở đó 
		Ngài sẽ đương đầu với các nhà cầm quyền tôn giáo của dân tộc mình để rồi 
		trải qua cuộc khổ nạn và Phục Sinh (11,10-16,8).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Lộ trình theo sát đường kẻ kiểu này chắc 
		chắn là sản phẩm của một sự “khái quát hóa”, bởi vì theo như Phúc Âm của 
		Gioan cho biết, sứ vụ của Đấng Mêsia trải dài trên hoặc ba năm. Chắc hẳn 
		Chúa Giêsu đã lên Giêrusalem nhiều lần theo như tập tục vào các dịp lễ 
		của người Do Thái (x. Ga 5,1; 7,2; 10,22; 12,12).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Như thế, nơi Phúc Âm Maccô, địa lý đã 
		được dùng để “phục vụ” cho một ý đồ cao siêu. Quả thực đối với Maccô, 
		Galilê và Giêrusalem là hai địa danh đối kháng nhau, mỗi nơi mang một ý 
		nghĩa riêng biệt. Galilê là nơi Chúa mở đầu sứ vụ và đồng thời là nơi 
		Chúa thi hành sứ vụ, rao giảng cho dân ngoại. Từ thời Cựu Ước, thành phố 
		mạn bắc này từng chịu nhiều cuộc xâm lăng của ngoại bang. Chỉ danh xưng 
		của nó cũng nói lên được điều này: đây là một “khu vực thuộc các dân 
		tộc” chen vai thích cánh với nhau (Is 8,23). Vậy mà chính tại Galilê 
		Chúa Giêsu đã được dưỡng nuôi (ở Nadaret: Lc 4,16). Tại đây Ngài đã khai 
		mạc sứ vụ (1,14). Ngài đã thiết lập ở Caphanaum và bên bờ hồ Tibêria, 
		căn cứ hoạt động và giảng dạy của Ngài (1,16; 2,1.13; 4,1). Ở phần đầu 
		Phúc Âm, người ta thấy đoàn lũ dân chúng Galilê hồ hởi đón nghe và theo 
		dõi các phép lạ Chúa Giêsu ban phát cho họ.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Tuy nhiên, từ chỗ đó, Chúa Giêsu đã đưa 
		các môn đệ Ngài vượt qua các biên giới. Ngài cùng họ vượt hồ Tibêria, từ 
		bờ bên mạn tây thuộc Do Thái đi qua bờ mạn đông thuộc dân ngoại. Với 
		hành vi lặp đi lặp lại này, Ngài không ngừng kêu mời họ mở rộng tầm nhìn 
		để mang Tin Mừng đến với đám dân ngoại (xem toàn bộ từ 4,35-5,20). Càng 
		bành trướng sứ vụ Chúa Giêsu càng gia tăng việc di chuyển đến những vùng 
		không thuộc dân Do Thái chẳng hạn vùng Phênixi (hiện là Liban), vùng 
		Tirô và Siđon (7,24.31a) hay vùng Thập Tỉnh, hiện nay là Giocđani 
		(7,31b).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Qua việc thực hiện các chuyến đi ngắn 
		hoặc dài nơi vùng đất dân ngoại, Chúa Giêsu muốn tập cho các bạn hữu 
		mình quen với tư tưởng rằng Ngài không chỉ là Đấng Mêsia của dân Do Thái 
		mà còn của dân ngoại nữa. Các vị hữu trách tương lai của Giáo Hội phải ý 
		thức rằng Chúa Giêsu mang đến ơn cứu độ phổ quát. Đây chính là ý nghĩa 
		lần hóa bánh ra nhiều lần thứ hai được Chúa Giêsu thực hiện ở mạn đông 
		sông Giocđan (8,1-9), nơi đây Chúa Giêsu đã mở ra bàn tiệc Lời Ngài và 
		ân sủng Ngài cho một dân tộc bên ngoài dân riêng của Chúa. Cũng không 
		phải tình cờ mà ngay tại Betsaiđa, vùng đất dân ngoại, Chúa Giêsu đã mở 
		mắt cho một người mù (8,22-26), hành vi này được ví như khúc nhạc dạo 
		đầu cho sự khám phá ra thân thế Ngài (điều này được thực hiện ở Cêsarê 
		Philipphê, giữa vùng đất dân ngoại: 8,27-29). Như thế không nên ngạc 
		nhiên tại sao ngay khi vừa sống lại, Chúa Giêsu đã bảo các bạn hữu mình 
		đến gặp Ngài “ở Galilê” là nơi Ngài đang chờ họ để sai họ theo chân Ngài 
		ra đi mang Tin Mừng cho toàn thế giới (16,7-8.15).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Đối nghịch với Galilê, Maccô đã biến 
		Giêrusalem, thủ đô của Do Thái, thành một cực khép kín và chống lại Chúa 
		Giêsu. Ngay từ lúc Chúa Giêsu bắt đầu thi hành sứ vụ, nhóm luật sĩ và 
		Biệt phái “đến từ Giêrusalem” đã tố cáo là Ngài bị Satan nhập (3,22) nào 
		là Ngài để các môn đệ mình vi phạm các truyền thống cổ xưa (7,1). Chính 
		tại Giêrusalem, trung tâm đức tin Do Thái Chúa Giêsu sắp phải đương đầu 
		gay gắt nhất với đám thủ lĩnh tôn giáo của dân riêng Chúa (11,1-12,40). 
		Cũng chính ở đó Ngài sẽ bị bắt, bị xét xử, bị kết án tử hình và bị hành 
		hình do lời xúi giục của các vị cầm quyền Do Thái cao cấp nhất 
		(14,1-15,47).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Như thế vấn đề địa lý trong Phúc Âm 
		Maccô chứa đựng một bài học sâu sắc: là người theo Chúa Giêsu, các Kitô 
		hữu không được để cho Phúc Âm bị đóng khung trong bất cứ loại thành 
		“Giêrusalem” nào! Họ phải luôn luôn liên kết với Đấng Phục Sinh là Đấng 
		từ bờ hồ Tibêria đã mời gọi họ “ra khơi”. Bởi vì “trong Chúa Kitô không 
		còn phân biệt ai là Do Thái, ai là Hy Lạp nữa” (Thư Phaolô gởi tín hữu 
		Galat 3,28). Ơn cứu độ phải được mang đi từ Giêrusalem và từ Galilê đến 
		tận cùng thế giới.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">THEO CHÚA GIÊSU NHƯ THẾ NÀO: CƯ XỬ VỚI 
		TRẺ EM</span></b><span style="font-size: 14.0pt"> (9,33-37)</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Mỗi lần Chúa Giêsu loan báo rõ ràng về 
		cuộc khổ nạn của Ngài (8,31; 9,31) Maccô đều nhấn mạnh đến sự “ngu muội” 
		không hiểu của các môn đệ (8,32; 9,32). Sau đó, Maccô cho thấy Chúa 
		Giêsu cố gắng nhồi nhét vào đầu óc của bạn hữu mình một bài học thích 
		hợp với chủ đề Ngài nêu: muốn bước theo Ngài họ phải trung thành tự hạ 
		như Ngài. Chúa Giêsu đã thực hiện việc dạy dỗ họ về chủ đề này sau lần 
		loan báo thứ nhất về cái chết của Ngài (x.8,34-9,1). Và giờ đây Ngài lại 
		tiếp tục dạy dỗ họ sau lần loan báo thứ hai.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Tác giả Phúc Âm gợi cho thấy đây là thời 
		gian được chọn lựa đặc biệt để thầy trò trao đổi (c.33). Chúa Giêsu và 
		các bạn Ngài về lại khu vực khởi đầu công việc dạy dỗ, ở tại Caphanaum 
		và tại căn nhà cũ (x.2,1-2). Đây là nơi lý tưởng để tiến hành việc dạy 
		dỗ riêng các môn đệ, xa đám đông ồn ào, về chủ đề mới mẻ nhưng khó khăn 
		liên quan đến Đấng Mêsia “Tôi Tớ”. Với tư cách vị Đạo Sư sành sỏi, Chúa 
		Giêsu khởi đầu bằng việc hỏi các môn đệ về đối tượng những “cuộc tranh 
		luận” của họ trong lúc đi đường. Người ta đều biết rằng trong lối giáo 
		dục của các kinh sư Do Thái, việc tranh luận đóng một vai trò quan 
		trọng. Điều mà trong lúc đi đường các môn đệ tranh luận với nhau mang 
		nhiều ý nghĩa. Nghe Chúa Giêsu hỏi, họ im lặng không trả lời. Thực ra họ 
		đã tranh nhau xem ai là người “lớn” nhất (c.34). Maccô thú nhận là các 
		vị này cảm thấy xấu hổ. Họ không dám thú nhận là đang lo tranh giành 
		nhau danh vọng trong lúc Thầy mình thì đang tiến về một tương lai đầy 
		khiêm hạ. Quả là tương phản rõ ràng!</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Chúa Giêsu thấy mình có bổn phận can 
		thiệp để tránh cho các môn đệ mình khuynh hướng đua đòi chay theo quyền 
		lực. Ngài cho họ một bài học sống động (c.35a). Maccô diễn tả cho thấy 
		Chúa Giêsu ngồi xuống để biểu lộ cung cách một vị Sư Phụ mà các đệ tử 
		phải chú tâm lắng nghe. Đây là tư thế của người giảng dạy đầy uy quyền 
		(x.4,1). Ngài quy tụ “ nhóm Mười Hai” lại. Lối nói này hiếm khi được 
		Maccô sử dụng(3,14; 6,7). Và khi sử dụng nó Maccô muốn nói rằng các tông 
		đồ là những vị hữu trách tương lai của Giáo Hội. Chúa Giêsu nói với họ 
		một cách hoàn toàn rõ ràng (c.35b). Đại khái trong lời ngỏ với các vị 
		thủ lãnh tương lai của dân Chúa, Chúa Giêsu đã đảo ngược trật tự thông 
		thường của phẩm trật nhân loại. Muốn làm đầu thì phải làm cuối mọi 
		người, muốn chỉ huy thì phải làm “tôi tớ tất cả”. Nghịch lý này rõ ràng 
		chỉ có ý nghĩa qua tấm gương Chúa Giêsu biểu lộ nơi thân thể và sứ mệnh 
		của Ngài. Là Đấng Thủ Lãnh, Ngài đã đặt mình vào vị trí rốt hết để phục 
		vụ mọi người. Sứ điệp của Ngài liệu có được người ta nghe không? Chúa 
		Giêsu tin rằng cần phải minh hoạ lời Ngài nói bằng một cử chỉ có ý 
		nghĩa. Ngài đặt một em bé vào giữa họ rồi ôm lấy em (c.36a). cử chỉ này 
		tạo ra một ảnh hưởng bất ngờ. Dắt một em bé vào giữa đám môn đệ rồi ôm 
		hôn nó: tất cả điều này đi ngược với tập tục đương thời. Xã hội thời xưa 
		không quan tâm đặc biệt đến trẻ em. Ngược lại, trẻ em không được người 
		lớn đối xử như là những “nhân vật” còn non trẻ, người ta thường xem 
		chúng là những sinh vật vô nghĩa. Chúng mà biết nói năng, lý luận gì cho 
		ra trò. Thậm chí họ còn thường xua đuổi, khai trừ chúng ra khỏi cộng 
		đồng tôn giáo vì cho rằng chúng ngu dốt không biết lề luật.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Như thế Chúa Giêsu đã thực hiện hành 
		động phục hồi mang hai chiều kích (con người và tôn giáo) khi Ngài đặt 
		đứa bé – tiêu biểu một hạng người bị khai trừ – vào giữa đám bạn hữu 
		Ngài. Và Ngài nhấn mạnh hành động này bằng một lời nói nặng trĩu ý nghĩa 
		(c.37a). Cộng đoàn Kitô hữu sẽ phải nhớ tới lời này. Nhân danh Chúa 
		Giêsu tiếp nhận một đứa trẻ – ở đây tượng trưng cho kẻ nghèo khó vào mọi 
		kẻ bị khai trừ – chính là tiếp nhận chính Chúa Giêsu. Đây là câu trả lời 
		đầy kinh ngạc Chúa Giêsu dùng để đáp lại câu hỏi được các môn đệ tranh 
		cãi nhau trong lúc đi đường: “Ai là kẻ cao trọng nhất?”. Việc đua đòi 
		danh vọng đã trở nên sỗ sàng đối với những kẻ bước theo Chúa Giêsu vào 
		lúc Ngài đang đi trên con đường khiêm hạ dẫn đến đau khổ và cái chết. 
		Trở nên “tôi tớ” mọi người, mở rộng vòng đai khép kín của Giáo Hội đến 
		tận những kẻ hèn mọn nhất, trơ trụi nhất chính là “sứ vụ” Chúa Giêsu uỷ 
		thác cho các môn đệ Ngài. Để nhấn mạnh thêm bài học trang trọng này Chúa 
		Giêsu đã kết luận bằng một từ nói về “Sự tiếp đón” (c.37b): Chúa Giêsu 
		chính là sứ giả của Thiên Chúa. Đón nhận Ngài trong bản thân những kẻ bé 
		nhỏ chính là đón nhận chính Thiên Chúa. Thiên Chúa mang khuôn mặt một 
		con trẻ, đó là sứ điệp bất ngờ, rất tân kỳ của trang Phúc Âm khả ái này.</span></td></tr><tr>
		<td width="474" height="56"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; 
		<img src="../CN%20XXIII%20TN/LOGOtinmung.gif" width="72" height="38">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<img alt="" src="../CN%20XXIII%20TN/LOGOtinmung2.gif" width="78" height="38">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">
&nbsp;</p>

PHP File Manager