File "36.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2021/Mua-Thuong-Nien/CN XIV TN/36.htm
File size: 44.02 KiB (45076 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật XIV - Thường Niên - Năm B</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật XIV - Thường Niên - Năm B"><style>
<!--
.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
{color:blue;
text-decoration:underline;
text-underline:single;
text-decoration:none underline;
text-line-through:none;
vertical-align:baseline}
span.apple-converted-space
{}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật XIV - Thường Niên - Năm B"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">
Chúa Nhật XIV - Thường Niên - Năm B</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
<b>
<span lang="VI" style="font-size: 12.0pt; ">
ĐÁ TẢNG ĐỨC TIN CỦA </span>
<span style="font-size: 12.0pt; ">TÔNG ĐỒ
</span>
<span lang="VI" style="font-size: 12.0pt; ">
PHÊ-RÔ</span></b></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
<span style="font-size: 8pt; font-family: Tahoma,sans-serif; font-style: italic">
LM ĐAN VINH - HHTM</span></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
<p align="center" style="text-align: center; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm">
<b>
<span lang="VI">
I. HỌC LỜI CHÚA</span></b></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm">
<b>
<span lang="VI">
1. TIN MỪNG: </span></b></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-bottom: 0cm">
<b>
<span lang="VI">
(13) Khi Đức Giê-su đến vùng kế cận thành Xê-da-rê Phi-líp-phê,
Người hỏi các môn đệ rằng: “Người ta nói con Người là ai ?”
(14) Các ông thưa: “Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì
bảo là ông Ê-li-a, có người lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một
trong các vị ngôn sứ”. (15) Đức Giê-su lại hỏi: “Còn anh em, anh
em bảo Thầy là ai ?” (16) Ông Si-mon Phê-rô thưa: “Thầy là Đấng
Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống”. (17) Đức Giê-su nói với ông:
“Này anh Si-mon con ông Giô-na, Anh thật là người có phúc, vì
không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều đó, nhưng là Cha của
Thầy, Đấng ngự trên trời. (18) Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết:
Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá. Trên Tảng Đá này, Thầy sẽ xây
Hội Thánh của Thầy. Và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.
(19) Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời. Dưới đất, anh
cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy. Dưới
đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như
vậy”.</span></b></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm">
<b>
<span lang="VI">
2. Ý CHÍNH: </span></b></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-bottom: 0cm">
<span lang="VI">
Sau khi Si-mon đại diện cho Nhóm Mười Hai khẳng định Người là
Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống (15-16), ông đã được khen là
có phúc (17), được đổi tên thành Phê-rô và được hứa xây Hội
Thánh trên nền tảng đức tin mà ông vừa tuyên xưng, tiên báo Hội
Thánh ấy sẽ trường tồn, bất chấp ma quỷ chống phá (18). Sau
cùng Người cũng trao cho ông chìa khóa Nước Trời với quyền cầm
buộc và tháo cởi (19).</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm">
<b>
<span lang="VI">
3. HỎI ĐÁP VÀ CHÚ THÍCH:</span></b></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm">
<b>
<span lang="VI">
HỎI 1: Khi thay mặt anh em tuyên xưng Đức Giê-su là “Con Thiên Chúa
hằng sống”, phải chăng Tông đồ Si-mon có ý nói về bản tính
Thiên Chúa của Người ?</span></b></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm">
<b>
<span lang="VI">
ĐÁP: </span></b></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-bottom: 0cm">
<span lang="VI">
Có lẽ khi tuyên xưng Đức Giê-su là “Con Thiên Chúa hằng sống”,
Phê-rô vẫn chưa hiểu rõ ý nghĩa của tước hiệu ông nói. Ông chỉ
muốn giải thích ý nghĩa của tước hiệu Đấng Ki-tô, theo lời
ngôn sứ Na-than tuyên sấm về người con sẽ nối nghiệp vua Đa-vít
như sau: “Khi ngày đời của ngươi đã mãn và ngươi đã nằm xuống
với cha ông, Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi một
người do chính ngươi sinh ra, và Ta sẽ làm cho vương quyền nó
được vững bền. Chính nó sẽ xây một nhà để tôn kính Danh Ta,
và Ta sẽ làm cho ngai vàng của nó vững bền mãi mãi. Đối với
nó, Ta sẽ là Cha. Đối với Ta, nó sẽ là con” (2 Sm 7,12-14). Lời
ấy đã không ứng nghiệm nơi Sa-lô-mon, con vua Đa-vít. Từ đó, dân
Do thái hằng trông mong Đấng Thiên Sai thuộc dòng dõi vua Đa-vít
sẽ đến. Về sau, trong cuộc khải hoàn vào thành Giê-ru-sa-lem,
Đức Giê-su cũng được dân chúng ca tụng bằng tước hiệu "Con Vua
Đa-vít" này (x. Mt 21,9). Khi tuyên xưng tước hiệu "Con Thiên Chúa
hằng sống", Phê-rô chưa hiểu ý nghĩa lời ông nói. Sau đó, Đức
Giê-su đã cho biết ý nghĩa tước hiệu này là nói về bản tính
Thiên Chúa, qua lời khen ông có phúc vì đã được Chúa Cha thương
mặc khải cho biết sự thật ấy (x Mt 16,17).</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm">
<b>
<span lang="VI">
HỎI 2: Tại sao Đức Giê-su đổi tên Si-mon thành Phê-rô ? Việc đổi
tên chính xác xảy ra vào lúc nào: Khi vừa gặp mặt (x Ga 1,42),
khi thành lập Nhóm Mười Hai (x Mc 3,16; Lc 6,14) hay sau khi Phê-rô
tuyên xưng đức tin (x Mt 16,18) ? </span></b></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm">
<b>
<span lang="VI">
ĐÁP:</span></b></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-bottom: 0cm">
<span lang="VI">
Cũng có thể Đức Giê-su đã đặt tên Phê-rô cho Si-mon khi vừa gặp
mặt (x. Ga 1,42), hay khi thành lập Nhóm Mười Hai (x. Mc 3,16; Lc
6,14). Tuy nhiên có lẽ việc đổi tên xảy ra sau lời tuyên xưng đức
tin của Si-mon là hợp lý nhất (x. Mt 16,18), vì sau khi đổi tên,
Đức Giê-su đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của ông trong Hội
Thánh: Đức tin của Phê-rô vào Đức Giê-su chính là tảng đá vững
chắc mà trên đó, Người xây dựng Hội Thánh của Người. Ngoài ra
Đức Giê-su còn trao tối thượng quyền cho ông để ông cầm buộc và
tháo cởi (x. Mt 16,18-19). Người cũng cho Phê-rô đứng đầu Nhóm
Mười Hai (x Mt 10,2), và hứa sẽ cầu nguyện để ông kiên vững đức
tin, hầu chu tòan sứ mệnh củng cố đức tin cho các anh em (x. Lc
22,32). Cuối cùng, Người còn trao quyền chăn dắt đoàn chiên Hội
Thánh cho ông nữa (x.Ga 21,15-17).</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm">
<b>
<span lang="VI">
HỎI 3: Một số người cho rằng: Si-mon Phê-rô là một người đầy
khuyết điểm và đã từng phạm tội chối Thầy ba lần, thì làm
sao xứng đáng lãnh đạo Hội Thánh và thi hành quyền cầm buộc
và tháo cởi được ?</span></b></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm">
<b>
<span lang="VI">
ĐÁP:</span></b></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-bottom: 0cm">
<span lang="VI">
Từ ngày được Đức Giê-su gọi theo làm môn đệ, Si-mon đã phạm
nhiều sai lầm. Chẳng hạn: Ông bị Thầy quở trách vì đã suy
nghĩ theo kiểu khôn ngoan của loài người (x. Mt 16,23); Bị trách
là kẻ hèn tin khi đang đi trên mặt nước (x. Mt 14,31); Bị Thầy
cảnh báo không được dự phần với Thầy, vì đã từ chối không cho
Thầy rửa chân (x. Ga 13,8-10); Nhất là vì quá tự tin vào sức mình
nên ông đã hèn nhát chối Thầy ba lần, dù đã được Thầy cảnh
báo trước (x. Mc 14,30.66-72).</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-bottom: 0cm">
<span lang="VI">
Nhưng Si-mon Phê-rô cũng có những ưu điểm xứng đáng được Đức
Giê-su tín nhiệm trao quyền lãnh đạo Hội Thánh. Chẳng hạn: tại
thành Xê-da-rê Phi-líp-phê, ông đã tuyên xưng đức tin: “Thầy là
Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống”, nên đã được Chúa đổi tên
thành Phê-rô, và được trao quyền tối thượng cầm buộc và tháo
cởi (x. Mt 16,18-19). Có lần ông được Đức Giê-su hứa sẽ cầu
nguyện cho để luôn kiên vững đức tin, và trao thêm sứ mệnh củng
cố đức tin cho các anh em (x. Lc 22,32). Phê-rô cũng rất nhiệt
tình, thường đại diện anh em trả lời những vấn nạn của Thầy
(x. Lc 5,3-10), đại diện Nhóm Mười Hai tuyên xưng đức tin vào lời
dạy về Bánh Thánh Thể, đang khi nhiều môn đệ khác chán nản
rút lui (x. Ga 6,68). Nhờ kiên vững đức tin, nên ông đã được Đức
Giê-su đặt đứng đầu Nhóm Mười Hai (x. Mt 10,2), được đi trên mặt
nước (x Mt 14,28-32), trở thành một trong ba môn đệ thân tín nhất
chứng kiến cuộc hiển dung của Người (x. Mt 17,1), chứng kiến phép
lạ bé gái mới chết được Người cho sống lại (x. Mt 5,37), và
nhất là chứng kiến lúc Thầy hấp hối trong vườn Cây Dầu (x. Mt
26,37).</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-bottom: 0cm">
<span lang="VI">
Tuy có lần sa ngã phạm tội, nhưng Phê-rô đã lập tức sám hối
(x. Mt 26,69-75). Nhờ yêu Chúa nhiều hơn anh em, nên ông đã được
Người tha thứ và trao nhiệm vụ chăn dắt đoàn chiên (x. Ga
21,15-17). Chính lòng yêu mến Đức Giê-su đã thúc bách Phê-rô
chạy thi với Gio-an ra mồ và đã sớm đạt được đức tin vào mầu nhiệm
phục sinh của Thầy (x. Ga 20,1-9). Phê-rô cũng được Chúa Phục Sinh
hiện ra (x. Lc 24,34), được cùng anh em lãnh nhận ơn Thánh Thần
và đi rao giảng Tin Mừng khắp nơi (x. Cv 2,14-36), có khả năng chữa
lành nhiều bệnh nhân (x. Cv 9,33-35.40-41), chủ tọa công nghị
Giê-ru-sa-lem năm 49 (x. Cv 15,5-29). Cuối cùng ông đã can đảm quay
vào thành Rô-ma để bị bắt và chịu khổ hình thập giá, dưới
thời hoàng đế Nê-rô (năm 64-67). Cái chết của Phê-rô chứng tỏ
lòng mến Chúa cao độ, và nêu gương đức tin vững như đá tảng, để
các tín hữu chúng ta học tập noi theo.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm">
<b>
<span lang="VI">
II. SỐNG LỜI CHÚA:</span></b></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm">
<b>
<span lang="VI">
1. LỜI CHÚA: “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: Anh là Phê-rô,
nghĩa là Tảng Đá, trên Tảng Đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh
của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ
trao cho anh chìa khóa Nước Trời. Dưới đất, anh cầm buộc điều
gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy. Dưới đất, anh tháo
cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (Mt 16,18-19).</span></b></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm">
<b>
<span lang="VI">
2. CÂU CHUYỆN: </span></b></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm">
<b>
<span lang="VI">
1) SỨC MẠNH CỦA TÌNH YÊU TRONG VIỆC BIẾN ĐỔI LÒNG NGƯỜI :</span></b></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-bottom: 0cm">
<span lang="VI">
Nữ tu Antoinette được bề trên sai đến phục vụ tại một bệnh viện lớn. Tại
đây có một ông già cực kỳ khó tính. Tiếp xúc với ai ông cũng nạt nộ la
mắng. nhất là khi gặp chuyện trái ý, ông lại to tiếng ầm ĩ khiến mọi
người chung quanh đều khó chịu xa lánh.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-bottom: 0cm">
<span lang="VI">
Ngày nọ, khi đang mải mê làm việc giúp các bệnh nhân khác, nữ tu
Antoinette nghe thấy tiếng hét lớn của ông già khó tính: “Mau mau mang
ra đây cho tôi một quả trứng luộc". Các y tá khác đều lảng tránh sang
phòng bên, riêng nữ tu Antoinette đã mau mắn đến nhà bếp đem quả trứng
đến cho ông già này.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-bottom: 0cm">
<span lang="VI">
- Sao trứng chưa chín mà đã đem cho tôi hả? Bộ muốn tôi đau bụng chết
sao? Ông lão khó tính cau có trách mắng. Nữ tu Antoinette không đáp lại
mà đem trứng xuống bếp luộc lại. </span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-bottom: 0cm">
<span lang="VI">
- Trứng gì mà luộc chín quá vậy? Sao lại làm ăn vô ý vô tứ như vậy hả ?</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-bottom: 0cm">
<span lang="VI">
Antoinette chẳng biết phải làm gì để chiều ý ông lão. Chị liền đi lấy
một cái bếp lò đến kê bên giường và trao cho ông già khó tính một trái
trứng để luộc cho vừa ý. Thấy thế ông ta liền nổi nóng đạp đổ bếp lò,
quăng quả trứng kia xuống nền gạch và lớn tiếng: "Cô không biết tôi là
bệnh nhân sao? Bệnh nhân mà lại phải tự luộc trứng hả?"</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-bottom: 0cm">
<span lang="VI">
Nữ tu Antoinette không nói nửa lời. Chị im lặng đi lấy chổi và cây lau
nhà đến quét dọn và lau sạch sàn nhà… Lát sau, chị đem đến cho lão già
khó tính một trái trứng khác và nói: "Ông cố gắng dùng thử trứng này,
tôi đã luộc vừa chín tới thôi?" Bất giác, ông lính già rùng mình cảm
động, nói lí nhí trong miệng: "Tôi thật có lỗi vì đã vô lý quát mắng cô.
Giờ đây tôi sẽ ăn quả trứng này cũng để cám ơn lòng tốt của cô !"</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm">
<span lang="VI">
Tình yêu có sức biến đổi lạ lùng hơn bất cứ một sự biến đổi lạ kỳ nào,
nhất là nó có khả năng biến đổi cả lòng những con người độc ác nữa. Ước
gì chúng ta biết noi gương theo Thầy Chí Thánh Giê-su luôn nhìn thấy
những điều tốt đẹp nơi con người và luôn hy vọng vào những người đang
lầm lạc trong cuộc đời này để dùng tình yêu biến đổi cảm hoá họ.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm">
<b>
<span lang="VI">
2)</span></b><span lang="VI">
<b>PHẢI LÀM GÌ ĐỂ NÊN GIỐNG CHÚA GIÊ-SU ?</b></span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-bottom: 0cm">
<span lang="VI">
Ngày xưa, một ông vua nước Hy Lạp tổ chức một cuộc thi làm
tượng ảnh nghệ thuật: các nghệ nhân sẽ tạc tượng hoặc làm
tranh tượng về chân dung của nhà vua. Vua hứa sẽ ban phần thưởng
lớn cho những tác phẩm giống ngài nhất. Nghe thông báo, các
nghệ nhân từ khắp các nước chung quanh đã ùn ùn kép đến Hy Lạp
xin vào hoàng cung ứng thí. Nghệ nhân Ấn-độ thì mang theo dụng
cụ để chạm trổ đồ kim hoàn vàng bạc và các loại ngọc trai
quý giá. Nghệ nhân Ai Cập thì mang theo đồ nghề đục đẽo đá
quý và một khối đá cẩm thạch rất đẹp. Ai cũng quyết tâm dành
được giải thưởng của nhà vua. Riêng nghệ nhân nước chủ nhà Hy Lạp
chỉ đến ứng thí với bộ đồ gọt dũa đánh bóng đơn giản.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm">
<span lang="VI">
Mỗi đoàn dự thi được ban tổ chức bố trí chỗ ở và làm việc
tại một phòng trong khu hoàng cung. Tới ngày thi, nhà vua ra
lệnh mỗi đoàn phải hoàn thành tác phẩm trong thời gian một
tuần lễ. Thế là các nghệ nhân vội vàng bắt tay vào việc. Họ
đục đẽo, chà sát, đánh bóng để khắc họa chân dung nhà vua Hy
Lạp cho giống như người thật. Khi một tuần trôi qua, nhà vua
truyền đem các tác phẩm đến trưng bày tại đại sảnh lớn trong
hoàng cung để nhà vua và bá quan trong triều đến chấm điểm. Nhà
vua hết sức hài lòng, khi chiêm ngưỡng các tác phẩm dự thi họa
lại chân dung của mình, do các nghệ nhân Ấn Độ, Ai Cập và
nhiều nước khác sáng tác. Mỗi bức tượng, tranh tượng hay phù
điêu đều có những đường nét tinh vi sắc sảo, nhìn giống hệt
khuôn mặt của ngài. Các tác phẩm ấy được tạc vẽ từ đất nung,
từ đá cẩm thạch, hay các loại vàng bạc quý kim khác. Cuối
cùng khi đến chỗ trưng bày của các nghệ nhân Hy Lạp thì nhà vua
và bá quan rất ngạc nhiên vì không thấy bất cứ bức tượng hay
tranh tượng nào được trưng bày, mà chỉ thấy một phiến đá cẩm
thạch trắng, được các nghệ nhân đánh bóng. Nhà vua liền hỏi
tác phẩm đâu, thì một người đã đưa ngài đến đứng trước phiến
đá và chỉ vào chân dung của ngài hiện ra trong đó. Nhìn thấy
hình ảnh trung thực của mình, nhà vua đã hiểu ra và hết sức
cảm động. Ngài nhận xét các bức tranh hay tượng khác, dù có
giống ngài nhưng chúng không sống động và trung thực bằng hình
ảnh được phản chiếu từ chính con người thật của ngài. Nhà vua
đã chấm cho tác phẩm của đoàn nghệ nhân Hy Lạp hạng nhất. Còn
các tác phẩm khác cũng được xếp hạng và đều có phần thưởng
tương xứng với giá trị của chúng. Sau đó, tất cả các tác
phẩm đều được trưng bày tại viện bảo tàng quốc gia cho dân
chúng tự do đến chiêm ngưỡng.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm; background: white">
<b>
<span lang="VI" style="color: #222222">
3) THAY ĐỔI LỐI SỐNG LÀ PHƯƠNG CÁCH SÁM HỐI HỮU HIỆU NHẤT:</span></b></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-bottom: 0cm; background: white">
<span lang="VI" style="color: #222222">
Tại một vùng miền quê nước Mỹ, có hai anh em nhà kia vì cùng quẫn đã trở
thành kẻ đạo tặc là cùng nhau đi ăn cắp cừu của một trang trại trong
vùng. Chẳng may cả hai anh em đều bị bắt. Hội đồng xét xử ra án phạt xăm
lên trán họ hai chữ “ST”, có nghĩa là tên trộm cừu (viết tắt của
chữ Sheep Thief). Không chịu nổi sự nhục nhã này, người anh đã trốn sang
một vùng khác sinh sống để mong chôn chặt dĩ vãng. Thế nhưng, anh luôn
phải bối rối và ấp úng khi nhiều người cứ thắc mắc hỏi anh về ý nghĩa
của hai chữ ST xâm tên trán anh.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-bottom: 0cm; background: white">
<span lang="VI" style="color: #222222">
Còn người em đã tự nhủ: “Ta cần chi phải trốn đi nơi khác. Điều cần làm
là ta phải thay đổi lối sống thành một người lương thiện thì chắc chắn
ta sẽ sớm lấy lại lòng tin yêu của dân làng. Thế là anh quyết định ở lại
quê hương. Anh đã lao động vất vả bằng đôi tay của mình và dành một phần
hoa lợi giúp đỡ cho người nghèo. Anh sống chan hoà yêu thương với mọi
người dân làng. Sau một thời gian tuy hai chữ “ST” vẫn còn in dấu trên
vầng trán của anh, nhưng chẳng mấy ai để ý đến ý nghĩa hai chữ ST đó.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-bottom: 0cm; background: white">
<span lang="VI" style="color: #222222">
Ngày nọ, một doanh nhân từ xa nghe tiếng tốt về anh đã đến tận nơi tìm
hiểu để sẽ hợp tác làm ăn với anh. Sau khi ra về ông ta gặp một cụ già
trong làng và hỏi về ý nghĩa hai chữ ST trên trán của anh. Cụ già suy
nghĩ một chút rồi trả lời: “Tôi không biết rõ lai lịch của hai chữ ấy.
Nhưng cứ nhìn vào đời sống tốt lành của anh ta, tôi đoán hai chữ đó có
nghĩa là một người “thánh thiện” (Saint)”.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-bottom: 0cm">
<span lang="VI">
Cuộc đời của hai vị thánh Phê-rô và Phao-lô cũng nhiều tội lỗi: Phê-rô
có lần bị Chúa quở là “Satan” vì dám cản Thầy làm theo ý Chúa Cha, rồi
ông cũng đã ba lần chối không biết Thầy trước mặt người khá. Còn Phao-lô
đã từng chống lại Chúa Giê-su khi mang quân đi lùng bắt các tín hữu ở
thành Đa-mát. Cũng chính Phao-lô đã can dự vào việc ném đá ông
Stê-pha-nô, vị tử đạo tiên khởi của Hội Thánh. Nhưng điều chúng ta cần
học tập các ngài là sự sám hối: Các ngài đã mau mắn trỗi dậy sau khi vấp
ngã và chuộc lỗi lầm bằng việc can đảm làm chứng cho Chúa.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm">
<b>
<span lang="VI">
3. SUY NIỆM:</span></b></p>
<p style="line-height: normal; margin-bottom: 0cm">
Hôm
nay, Hội Thánh mừng kính 2 vị Tông đồ là Phêrô và Phaolô chung trong một
ngày lễ. Chúng ta cùng suy nghĩ về cuộc đời của hai Tông đồ trụ cột này
của Hội Thánh để thấy được sức mạnh tình thương của Thiên Chúa trong
việc biến đổi lòng người.</p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm">
<b>
<span lang="VI">
1) Về ơn kêu gọi của hai Tông đồ Phê-rô và Phao-lô:</span></b></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm; background: ivory">
<b>
<span lang="VI" style="color: black">
- Phê-rô</span></b><span lang="VI" style="color: black"> làm
nghề đánh cá tại làng Bet-sai-đa, gần hồ Ga-li-lê. </span>
<span lang="FR" style="color: black">
Phê-rô tên thật là Si-mon, có em là An-rê. Khi An-rê được thầy mình là
Gio-an Bao-ti-xi-ta giới thiệu về Đức Giê-su thì"Trước hết ông gặp anh
mình là Si-mon và nói : Chúng tôi đã gặp được Đấng Mê-si-a. Rồi ông dẫn
anh mình đến gặp Đức Giê-su. Đức Giê-su nhìn Phê-rô và nói: "Anh là
Si-mon, con ông Gio-na, anh sẽ được gọi là Kê-pha nghĩa là Đá" (Ga
1,41-42). Sau đó ít ngày, đang lúc Đức Giê-su đi trên bờ hồ
Gê-nê-sa-rét, có đám đông dân chúng đi theo. Người thấy ông Si-mon đang
giặt lưới dưới thuyền, nên Người đã xuống thuyền ấy mà giảng dạy dân
chúng ngồi trên bờ hồ. Giảng xong, Người bảo Si-mon chèo thuyền ra giữa
hồ đánh cá. Mặc dù suốt đêm vất vả mà không bắt được con nào, nhưng
Si-mon vẫn vâng lời Thầy: Ông chèo thuyền ra khơi thả lưới và đã bắt
được mẻ cá lạ lùng. Trước sự lạ ấy, Si-mon tỏ vẻ kính sợ, nhưng Người
bảo ông: "Đừng sợ, từ nay anh sẽ là kẻ chài lưới người ta.<i> </i>Thế là
ông đưa thuyền vào bờ rồi đi theo làm môn đệ Người” (Lc.5,10-11).</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm; background: ivory">
<b>
<span lang="FR" style="color: black">
- Phao-lô</span></b><span lang="FR" style="color: black"> tên
thật là Sao-lê quê thành Tác-sô, miền Ki-li-ki-a. Theo học với ông thầy
nổi tiếng là Ga-ma-li-en. Sao-lê giữ luật Mô-sê nghiêm chỉnh. Tuy là
người Do Thái nhưng ông cũng có quốc tịch Ro-ma. Sao-lê rất sùng đạo Do
thái nên rất ghét đạo mới của Đức Giê-su. Nghe tin ở Đa-mát có nhiều tín
hữu Ki-tô, Sao-lê đã xin lệnh của thượng tế, đem quân đến thành Đa-mát
bắt các tín hữu mang về Giê-ru-sa-lem trị tội. Nhưng khi đến cửa thành,
Sao-lê đã bị một làn chớp sáng đánh trúng bị té xuống ngựa, mắt ông bị
loà không nhìn thấy gì. Ông nghe thấy tiếng Chúa Giê-su hiện ra hạch hỏi
và ông đã khuất phuc Người. Rồi ông được một người trong thành là
A-na-ni-a đón vào thành và dạy đạo. Sau khi được chịu phép rửa tội,
Sao-lê lại được sáng mắt và được đổi tên thành Phao-lô. Ông còn được
Chúa Phục Sinh hiện ra dạy dỗ cách riêng và trao cho sứ mệnh làm tông đồ
rao giảng Tin Mừng (x. TĐCV 22,3-21). Thế là từ một người cuồng tín đi
bắt đạo, Phao-lô đã được ơn Chúa biến đổi thành một Tông đồ dân ngoại.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm">
<b>
<span lang="FR">
2) Tính cách của hai vị Tông đồ Phê-rô và Phao-lô:</span></b></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm; background: ivory">
<b>
<span lang="FR" style="color: black">
- Tông đồ Phê-rô</span></b><span lang="FR" style="color: black">
khi đi theo Đức Giê-su gần ba năm, thường đại diện Nhóm 12 trả lời Thầy.
Khi Người hỏi: “Người ta nói Thầy là ai?” Phê-rô đã đại diện anh em thưa
rằng: "Thầy là Đức Ki-tô Con Thiên Chúa hằng sống". Có lần Phê-rô ngăn
cản Thầy đừng đi Giê-ru-sa-lem chịu khổ nạn, và ông đã bị Thầy nặng lời
quở trách. Phê-rô đã được các tác giả Tân Ước đề cập tới 195 lần. Ông có
tính tình nóng nảy và yêu mến Thầy. Khi nghe Đức Giê-su cho biết các môn
đệ sắp hèn nhát bỏ Thầy chạy trốn, Ông đã hứa với Thầy: “Dù moi người bỏ
thầy, còn Phê-rô sẽ không bao giờ".<i> </i>Tuy nhiên, ông cũng là một
người yếu đuối, nên ông đã phạm tội chối Thầy 3 lần: "Tôi không biết ông
Giê-su là ai". Đến khi nghe tiếng gà gáy và Đức Giê-su bị trói đi ngang
qua chỗ ông và Người nhìn ông, thì ông đã xúc động ra ngoài khóc lóc
thảm thiết. Đức Giê-su sau khi sống lại, đã hiện ra hỏi Phê-rô ba lần có
mến Thầy hơn những người này không, thì cả ba lầm ông đều tuyên xưng
lòng mến: "Thưa Thầy, có. Thầy biết con mến Thầy”. Mỗi lần như thế, Chúa
đều trao cho ông trách nhiệm chăn dắt đàn chiên của Người (x. Ga
21,15-19)</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm; background: ivory">
<b>
<span lang="FR" style="color: black">
b) Tông đồ Phao-lô</span></b><span lang="FR" style="color: black">
sau khi trở lại với Chúa, đã hết lòng loan báo Tin Mừng. Ông đã đi khắp
vùng Đế Quốc Rô-ma rao giảng cho dân ngoại tin theo Chúa, chấp nhận mọi
gian nan chống đối gặp phải: bị bắt bớ xét xử, bị đánh đòn, đắm tầu, đói
rét, ở trần… vì Danh Chúa. Nhờ sự soi dẫn của Chúa Thánh Thần, Phao-lô
đã viết nhiều bức thư để tiếp tục giáo huấn về cách ăn nết ở cho các tín
hữu trong các giáo đoàn đã nghe ngài giảng mà tin theo Chúa Giê-su, nhằn
răn dạy họ bỏ các tội lỗi mà sống tốt lành theo Chúa Giê-su. Ông cũng
dạy họ đào sâu về nhiều mặt như: Kinh Thánh, tín lý, luân lý, phụng vụ…
Phao-lô còn nêu gương sẵn sàng chịu mọi đau khổ hơn mọi người vì danh
Chúa Giê-su như ông đã viết: “Họ là người phục vụ Đức Ki-tô ư? Tôi nói
như người điên: Tôi còn hơn họ nữa! Hơn nhiều vì công khó, hơn nhiều vì
ở tù, hơn gấp bội vì chịu đòn, bao lần suýt chết. Năm lần tôi bị người
Do thái đánh bốn mươi roi bớt một. Ba lần bị đánh đòn, một lần bị ném
đã, ba lần bị đắm tàu, một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi… (2 Cr
11,23-25…)</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm">
<b>
<span lang="FR">
3) Về lòng mến Chúa của hai vị Tông đồ Phê-rô và Phao-lô:</span></b></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm; background: ivory">
<b>
<span lang="FR" style="color: black">
- Tông đồ Phê-rô:</span></b><span lang="FR" style="color: black">
Theo sách Công vụ Tông đồ, vào lễ Ngũ Tuần, sau khi đón nhận đầy ơn
Thánh Thần, Phê-rô đã cùng các Tông đồ bắt đầu thi hành sứ vụ loan báo
Tin Mừng. Ông đã giảng một bài đầu tiên tại Giê-ru-sa-lem. Nhờ ơn Chúa
Thánh Thần tác động, đã có 3 ngàn người xin tòng giáo. Sau đó Phê-rô
cùng Nhóm 11 chọn ông Mat-thi-a thế chỗ cho Giu-đa phản bội. Ông cũng
được Thánh Thần ban ơn làm nhiều phép lạ cứu nhân độ thế kèm theo lời
giảng. Ông đã chữa cho một người què tại cửa Đền thờ, và đón nhận dân
ngoại vào Hội Thánh. Người ta tin rằng chỉ cần cái bóng của ông lướt qua
bệnh nhân cũng đủ chữa lành cho họ. Phê-rô và các Tông đồ trong Nhóm 12
ưu tiên loan báo Tin Mừng cho dân Do thái. Ông đã bị các đầu mục dân Do
thái bắt bớ xét hỏi nhiều lần và cấm rao giảng Danh Đức Giê-su. Nhưng
ông đã tuyên bố trước Thượng Hội Đồng rằng: Phải vâng lời Thiên Chúa hơn
là vâng lời người phàm… Về những sự kiện đó, chúng tôi xin làm chứng
cùng với Thánh Thần” (Cv 5,29-32). Vào lúc cuối đời, khi đang ở Rô-ma và
có nguy cơ bị bắt, Phê-rô đã nghe lời các tín hữu để cải trang và đã
trốn thoát ra ngoài thành Rô-ma để tiếp tục lãnh đạo Hội Thánh. Nhưng
sau đó ông đã gặp Đức Giê-su đang vác thánh giá đi về thành. Ông hỏi
Người: “Quo vadis ?” (Thầy đi đâu?). Chúa trả lời: “Ta vào thành Rô-ma
để chịu đóng đanh một lần nữa” rồi Chúa biến mất. Phê-rô hiểu ý Chúa
muốn ông ở lại Rô-ma để làm chứng cho Chúa giữa các tín hữu, nên ông lại
đi vào thành. Sau đó Phê-rô bị bắt và bị kết án tử hình thập giá vào năm
65 dưới thời hoàng đế Nê-rông. Khi chịu đóng đinh, để tỏ lòng tôn kính
Chúa Giê-su, ông xin lính đóng đinh và quay ngược đầu xuống đất. Ngày
nay một ngôi Đền thờ Thánh Phêrô to lớn trong thành Rô-ma, có chứa mộ
phần của thánh Phê-rô. Trong thời gian giảng đạo ở Rô-ma, thánh Phê-rô
đã viết 2 bức thư cho các tín hữu miền Tiểu Á đang chịu bách hại, khuyên
dạy họ hãy can đảm sống đức tin bằng việc thực thi sự hiệp nhất yêu
thương nhau, vâng phục các mục tử, đoạn tuyệt tội lỗi và chờ đợi ngày
Chúa quang lâm sắp đến.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm; background: ivory">
<b>
<span lang="FR" style="color: black">
- Tông đồ Phao-lô:</span></b><span lang="FR" style="color: black">
Phao-lô thực là dụng cụ Chúa dùng để đưa nhiều người về với Chúa. Ông là
một người trung thành, can đảm, thẳng thắn… Là cầu nối kết giữa dân Do
thái và dân ngoại, giữa Cựu ước và Tân ước. Nhờ Phao-lô mà dân ngoại
trong đó có chúng ta không phải chịu nghi thức cắt bì của đạo Do Thái và
không phải mang “ách Luật Mô-sê” như dân Do thái xưa. Từ khi gặp Chúa và
theo làm Tông đồ của Chúa, Phao-lô có lòng yêu mên Chúa cách đặc biệt.
Ông đã nêu gương sáng về lòng tin yêu Chúa Giê-su để các tín hữu noi
theo. Chẳng hạn: “Đối với tôi sống là Đức Ki-tô” (Pl 1,21) “Tôi coi mọi
sự như phân tro, để chỉ mong được lời lãi Tình yêu Chúa Ki-tô" (Pl
3,8).- "Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô? Phải
chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo? …
Tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma
vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, chiều
cao hay vực thẳm, hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách
được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô
Giê-su, Chúa chúng ta” (Rm 8,35-39). "Tôi sống nhưng không còn phải là
tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi" (Gl 2,20). Cuối cùng, trong thời kỳ
người Rô-ma bách hại đạo Công giáo, Phao-lô đã bị bắt tù, và sau cùng
ngài đã bị án chém đầu ở ngoài thành Rô-ma vào năm 67.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm">
<b>
<span lang="FR">
4) Sống “hiệp nhất” để làm chứng cho Chúa noi gương hai vị Phê-rô và
Phao-lô:</span></b></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm">
<b>
<span lang="FR">
- Hiệp nhất trong đức tin:</span></b><span lang="FR">
Hai vị Tông đồ đã hiệp nhất một lòng một ý trong sứ mệnh rao giảng Tin
Mừng. Mặc dù còn có nhiều khác biệt về bản thân, tính tình, về ơn gọi
theo Chúa, về xu hướng truyền giáo… nhưng cả hai đã tạo nên một sự hiệp
nhất trong đa dạng, qua việc cùng trở thành nền tảng xây dựng toà nhà
Hội Thánh, sẵn sàng chết vì Danh Chúa. Hai vị đã được Hội Thánh tôn vinh
trong một ngày đại lễ. Các ngài đã trở nên biểu tượng của sự hiệp nhất
trong đa dạng của Hội Thánh: “Khác nhau trong điều phụ, hiệp nhất trong
điều chính, yêu thương trong tất cả”. Đó chính là khuôn vàng thước ngọc
cho các tín hữu noi theo. </span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm">
<b>
<span lang="FR">
- Hiệp nhất trong lòng mến:</span></b><span lang="FR">
Ngày nay muốn trở nên tông đồ của Chúa Giê-su, các tín hữu chúng
ta phải có lòng mến Chúa noi gương hai vị Tông đồ. Nhờ lòng mến Chúa
thôi thúc, chúng ta sẽ được ơn Chúa thanh luyện khỏi những đam mê, thói
hư, các vết nhơ tội lỗi. Nhờ siêng năng nghe Lời Chúa và tham dự
thánh lễ rước lễ mỗi ngày, xét mình mỗi tối trước khi đi ngủ,
học tập theo Chúa Giê-su… chúng ta cũng sẽ có thể nhìn tha nhân bằng
ánh mắt bao dung nhân hậu, sẽ ăn nói điềm đạm, vui vẻ chân thành,
ứng xử hiền hòa và khiêm tốn phục vụ … Nhờ đó chúng ta sẽ nên
tông đồ giáo dân nhiệt thành làm chứng cho Chúa, noi gương hai vị Tông
đồ Phê-rô và Phao-lô.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm">
<b>
<span lang="FR">
4. THẢO LUẬN: </span></b></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-bottom: 0cm">
<b>
<span lang="FR">
Đối với bạn, Đức Giê-su là ai ? (Là một ngôn sứ, để xin Người
cầu bầu với Chúa Cha cho ta; hay là một thần tượng để ta chiêm
ngưỡng thán phục; hay chính là Đấng Thiên Sai Con Thiên Chúa, để
ta tin theo và sẵn sàng bỏ mọi sự theo làm môn đệ Người, sẵn
sàng vác thập giá là đón nhận các đau khổ gặp phải, kết hiệp
với sự đau khổ của Người trên cây thập giá để góp phần cứu rỗi tha
nhân ?)</span></b></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm">
<b>
<span lang="FR">
5. NGUYỆN CẦU:</span></b></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-bottom: 0cm">
<span lang="FR">
LẠY CHÚA GIÊ-SU. </span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-bottom: 0cm">
<span lang="FR">
Tòa nhà Hội Thánh sau hai ngàn năm đến nay vẫn đang tiếp tục
được xây dựng những chỗ còn dang dở. Xin Chúa giúp mỗi tín hữu
chúng con tích cực góp phần xây dựng để ngôi nhà Hội Thánh
sớm hoàn thành. Xin cho chúng con luôn sống yêu thương hòa thuận
để gia đình và Giáo xứ chúng con trở thành một cộng đoàn yêu
thương hiệp nhất và bình an. Nhờ đó nhiều người sẽ nhận biết
Chúa và cùng được chia sẻ niềm vui ơn cứu độ với chúng con.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm">
<span lang="FR">
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON</span></p>
<p align="right" style="text-align: right; line-height: normal; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 6.0pt; margin-bottom: 0cm"> </td></tr><tr>
<td width="474" height="56"><p style="text-align: center">
<img border="0" src="../../../LOGOtinmung-80.gif" width="80" height="48"> <img border="0" src="../../../LOGOtinmung2.gif" width="80" height="48"> </td></tr></table><p style="text-align: center">
</p>