File "14.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2021/Mua-Thuong-Nien/CN III TN/14.htm
File size: 17.59 KiB (18014 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật III Thường Niên - Năm B</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật III Thường Niên - Năm B: Sám hối; Đáp trả lời mời; Cộng tác với ơn Chúa; Đôi tay của Chúa; Hãy theo tôi; Trở nên môn đệ; Nhìn về tương lai; Công khai rao giảng; Lời mơi gọi."><style>
<!--
.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
{color:blue;
text-decoration:underline;
text-underline:single;
text-decoration:none underline;
text-line-through:none;
vertical-align:baseline}
span.apple-converted-space
{}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật III Thường Niên - Năm B"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">
Chúa Nhật III Thường Niên - Năm B</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
TIN MỪNG CỦA THIÊN CHÚA</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
<a name="_Toc314598707">
<span style="font-size: 8pt; font-style: italic">Chú
giải mục vụ của Jacques Hervieux</span></a></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">Hai câu này khác nào một
“bản tóm lược”: một cái nhìn bao quát về sứ vụ của Chúa Giêsu như sẽ
diễn ra trong các trình thuật tiếp theo. Maccô đặt Chúa Giêsu trong
khuôn khổ những sinh hoạt chính yếu của Ngài tóm lược sứ vụ của Ngài
cách thật cô đọng.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">Mọi từ trong đoạn văn đều
đáng quan tâm (c. 14a). Chúng được cân nhắc cẩn thận. Trước hết ta được
cho hay rằng Chúa Giêsu chỉ khởi đầu sứ vụ khi Gioan chấm dứt sứ vụ của
ông và bị bắt giam. Như vậy là có một mối tương quan giữa sứ vụ của hai
người. Maccô không nói Chúa Giêsu từ hoang địa Giuđêa trở về (1,12).
Không một chuyển tiếp nào cả, ông cho thấy ngay Chúa Giêsu đi tới
Galilê. Đó là tỉnh miền bắc xứ Palestin, nơi Chúa Giêsu sinh trưởng (x.
Lc 4,14-16). Nhưng nhất là vì danh xưng Do Thái của nó, “Galilê” là
“miền đất ngoại bang” (Is 8,23). Từ nhiều thế kỷ đây là ngã ba đường của
các dân tộc. Vì những đoàn quân ngoại quốc và các thương gia đều phải
qua nơi này, nên Galilê là vùng đất chung đụng từ xưa giữa những người
Do Thái và dân ngoại. Trong Tin Mừng Maccô, Chúa Giêsu sẽ coi vùng đất
này như một trung tâm “truyền giáo” tuyệt hảo. Vì ranh giới của miền này
không rõ ràng nên người Israel dễ có liên hệ với những vùng đất dân
ngoại bao quanh: phía bắc có Tia và Siđon, Syrô-Phênêci (bây giờ là
Libăng), phía nam có miền Thập tỉnh (bây giờ là Gioocđani). Khi coi
Galilê là địa bàn hoạt động chính của Chúa Giêsu, Maccô muốn nhấn mạnh
rằng lời ngôn sứ mang tính phổ quát về Đấng Mêsia trong Isaia đã ứng
nghiệm: “Dân đi trong bóng tối đã nhận thấy ánh sáng rạng ngời, trên dân
cư của xứ sở một luồng sáng đã bừng lên” (Is 8,23-9,1).</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">Trong miền đất Galilê
này, Chúa Giêsu khởi sự “rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa” (c. 14b). Đó
là lời loan báo ơn cứu độ “đến” từ Thiên Chúa. Chúa Giêsu mang theo với
Ngài “Tin Mừng” này (1,1). Các độc giả của Maccô hiểu rất rõ diễn ngữ
“rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa”. Đó là nhiệm vụ các Tông đồ đã lãnh
nhận sau khi Chúa Giêsu Phục Sinh (1Tx 2,8). Nhiệm vụ này là làm cho mọi
người biết rằng Chúa Giêsu đã tỏ mình ra là Đấng Mêsia và là Con Thiên
Chúa được các ngôn sứ loan báo. Chính Ngài là “Đấng Cứu độ trần gian”
(Ga 4,42).</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">Tiếp theo, Maccô tóm lược
trong hai câu đề tài căn bản trong lời công bố của Chúa Giêsu. Trước hết
loan báo rằng giờ thi hành sứ vụ đã đến (c. 15a), nơi các Kitô hữu tiên
khởi, thành ngữ “thời kỳ đã mãn” đã trở thành cổ điển. Nó có nghĩa là
khi Chúa Giêsu đến là “thời gian đã đầy đủ” (Gl 4,4). Ý muốn cứu độ của
Thiên Chúa đã hoàn thành nơi Chúa Giêsu: Ngài là Đấng Mêsia đã đến để
đưa lịch sử tới hồi chung cuộc “Nước Thiên Chúa đã đến gần” cũng là một
xác tín của Thánh Kinh. Từ ngày thoát khỏi cảnh lưu đày ở Babilon,
Israel đặt tất cả hy vọng vào việc Thiên Chúa đích thân ngự đến và việc
thiết lập Vương Quốc Ngài trên mọi dân tộc. Nơi các ngôn sứ lòng mong
đợi này càng khẩn thiết hơn (Mi 4,7; So 3,15b; Za 14,9 v.v…). Với Chúa
Giêsu, Thiên Chúa hiện diện đang đích thân hoạt động. Vương Quốc Ngài đã
gần kề (Mt 12,28b).</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">Và Maccô kết thúc bản tóm
tắt sứ điệp của Chúa Giêsu bằng cách đặt nơi miệng Ngài một lời kêu gọi
cấp bách phải hoán cải để đón nhận trong đức tin biến cố hân hoan này
(c.15b). Hoán cải –theo sát tiếng Hy Lạp- có nghĩa là “thay đổi não
trạng”. Việc biến đổi này, một biến đổi cốt yếu nơi con người để trở lại
với Thiên Chúa, cũng chính là nền tảng trong lời giảng dạy của các ngôn
sứ (Am 4,6-12). Ở đây, Chúa Giêsu lặp lại một điểm nòng cốt trong sứ
điệp của Gioan Tẩy Giả (1,4). Nhưng cùng với sự hoán cải cần phải có
“niềm tin” vào Tin Mừng. Đó cũng là lời mời gọi của các Tông đồ khi lần
đầu tiên các ngài công bố sự kiện Chúa Giêsu Phục Sinh. Phaolô đã làm
thế ở Ephêsô: “Tôi kêu nài những người Do Thái và Hy Lạp trở lại với
Thiên Chúa và tin vào Chúa Giêsu” (Cv 21,21).</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">Không phải là ngẫu nhiên,
nếu ở đây Maccô nhấn mạnh tới mối liên tục giữa sứ vụ của Giáo Hội và sứ
vụ của Chúa Giêsu. Giữa hai sứ vụ này là cuộc sống, cái chết và sự Phục
Sinh của Chúa Giêsu. Người loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa lại trở nên
chính đối tượng của lời loan báo. Điều này không thể không gây ấn tượng
nơi độc giả.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>Gọi Các Môn Đệ Đầu
Tiên (1,16-20)</b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">Maccô vẽ nên bức họa huy
hoàng này vào đầu sứ vụ của Chúa Giêsu. Mấy tiếng đầu tiên gợi lên một
lời mời gọi hướng về biển khơi (c. 16a). Chúa Giêsu đang lên đường. Sứ
vụ Ngài thật cấp bách. Biển hồ Galilê –được biết đến nhiều hơn qua cái
tên hồ Tibêria là một biển nước mênh mông với 21 km chiều dài và 12 km
chiều rộng. Bờ hồ hướng về một chân trời rộng lớn mãi tới những miền đất
dân ngoại bên kia sông Giođan. Bờ hồ này thường được Maccô nói tới như
một chốn phát sinh lời mời gọi (trong đoạn văn này và ở 2, 13-14), và
lời loan báo Tin Mừng cho đám đông dân chúng (2,13; 3,7-12; 5,21). Nhưng
hoạt động của Chúa Giêsu ở đây lúc này chẳng khác nào như đặt nền cho
một công trình xây dựng.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">Ngài “thấy ông Simon với
người anh là Anrê đang quăng chài xuống biển, vì họ làm nghề đánh cá”
(c. 16b). phía bắc hồ Tibêria nơi hai ông đang thả lưới là nơi nước ấm
hơn và có rất nhiều cá. Gần bờ có nhiều ngư dân sinh sống, họ đánh bắt,
ướp mặn và buôn bán cá. Chúa Giêsu hướng nhìn tới hai ngư phủ đang thả
lưới. Ngài gọi các ông: “Các anh hãy theo Tôi, Tôi sẽ làm cho các anh
thành những kẻ lưới người như lưới cá” (c. 17). Ta không biết những lời
mời gọi kiểu này đã gây ấn tượng gì nơi các ngư phủ ấy. Ở đây Chúa Giêsu
không ngại chơi chữ. Ngài dùng thứ ngôn ngữ của nghề đánh cá để thôi
thúc họ dấn thân vào sứ vụ tương lai: “lưới người như lưới cá”, kiểu nói
thật kỳ cục! Theo quan niệm của người “sémites”, trong lòng biển chất
chứa quyền lực đáng sợ của sự Dữ và Tử thần mà chỉ có một mình Thiên
Chúa mới chế ngự nổi (4,35-41). Khi gọi những ngư phủ này để họ trở nên
“kẻ lưới bắt” Chúa Giêsu mời họ theo Ngài đi vào trần gian giải thoát
con người khỏi mọi điều dữ. Ta phải ngạc nhiên khi thấy Simon và Anrê
mau lẹ đáp lại lời Chúa Giêsu kêu gọi (c. 18). Câu nói “bỏ chài lưới”
nêu bật sự kiện những ngư phủ này từ bỏ công việc họ đang theo đuổi, và
các ông bỏ dụng cụ hành nghề lại đó thật đột ngột khiến ta phải ngạc
nhiên. Chẳng có trao đổi gì giữa họ với Chúa Giêsu cả. Chỉ mình Ngài
nói, còn các ông thì thực hiện lời Ngài, chẳng khác gì những người máy.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">Còn phải ngạc nhiên hơn
nữa khi đọc tới đoạn văn thứ hai vắn gọn và hoàn toàn song # đối với
đoạn trên (c. 19-20). Lần này Chúa Giêsu không hề nói cho Giacôbê và
Gioan biết họ sẽ làm gì. Thế mà chẳng những các ông bỏ dụng cụ hành nghề
mà còn bỏ cả những người cùng chung sống nữa (cha già và những người làm
công).</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">Các chi tiết của hai
trình thuật trên đây diễn ra theo một trật tự giống hệt nhau:</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">- Chúa Giêsu đi ngang
qua.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">- Ngài thấy hai người là
anh em với nhau.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">- Ngài gọi họ.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">- Lập tức họ bỏ tất cả mà
đi theo Ngài.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">Không chắc chắn lắm là
biến cố đã xảy ra như vậy và một cách tự động như thế. Simon và Anrê,
Giacôbê và Gioan sẽ trở nên những cộng tác viên chính với Chúa Giêsu
trong sứ vụ của Ngài (3,16-17).</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">Phải chăng tình cờ mà họ
được gọi và họ cũng chẳng kịp tự do quyết định nữa? Chẳng ai lại dấn
thân vào một cuộc sống “khác” chỉ bằng một cái gật đầu rồi đi theo một
kẻ xa lạ, dù kẻ ấy có sức lôi cuốn tới đâu chăng nữa! Trình thuật về các
môn đệ đầu tiên trong Tin Mừng Gioan hẳn phải gắn với thực tế hơn (Ga
1,35-51). Trong đó ta thấy Chúa Giêsu mở cuộc đối thoại với những kẻ
Ngài gọi và cho họ có thì giờ để quyết định cách chín chắn, sau một thời
gian họ quen biết Ngài và đã ở với Ngài.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">Maccô không quan tâm gì
đến mặt tâm lý của sự kiện. Thế thì Maccô muốn cho trình thuật của ông
có ý nghĩa gì? Câu trả lời sẽ dễ dàng nếu ta biết rằng Maccô đã cảm hứng
từ một trình thuật mẫu về ơn gọi trong Thánh Kinh. Đó là câu truyện Elia
gọi Elisê đi làm môn đệ ông (IV 19,19-21). Trong trình thuật này ta thấy
người được gọi đã từ bỏ ngay mọi việc để đi theo thầy. Người ấy cũng
chẳng được vị ngôn sứ cho phép về từ biệt cha mẹ nữa. Ngay tức thời, ông
từ bỏ gia đình và nghề nghiệp: “Ông chỗi dậy và đi làm môn đệ Elia”.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">Khi mô phỏng đoạn Thánh
Kinh này để diễn tả ơn gọi của các môn đệ đầu tiên, Maccô muốn nêu bật
điều căn bản trong việc làm môn đệ Đấng Mêsia. Ông nhấn mạnh hai điều:
Trước hết sáng kiến về lời mời gọi đến hoàn toàn từ Chúa Giêsu. Sau đó
là chính lời mời gọi này: nó mang tính hiệu nghiệm tuyệt đối của Lời
Thiên Chúa: “Ngài phán…và đã có” (x. St 1,3 v.v…). Hiệu quả của lời mời
gọi đó là việc từ bỏ hẳn gia đình và nghề nghiệp. Chúng ta cần ghi nhận
rằng không phải mọi người đều được yêu cầu cắt đứt những mối dây liên hệ
cốt yếu và chính đáng này. Lời kêu mời chỉ được gửi tới một số người có
ơn gọi rất đặc biệt. Simon (Phêrô) và Anrê, Giacôbê và Gioan là người
được gọi để trở thành “cộng tác viên” gần gũi với Chúa Giêsu trong sứ vụ
rao giảng Tin Mừng (x. Thiết lập nhóm Mười Hai: 3,16-19).</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">Chắc chắn khi đặt trình
thuật này như một “khai mở” cho toàn bộ cuốn Tin Mừng, Maccô đã có những
ý định rõ rệt. Ý thứ nhất là Chúa Giêsu thi hành một tác vụ “nay đây mai
đó”, đòi hỏi một cuộc sống và một sinh hoạt hết sức tự do. Theo quan
điểm này, những ràng buộc với nghề nghiệp và gia đình sẽ gây cản trở.
Tiếp đến, Maccô muốn hợp thức hóa sứ vụ Tông đồ như được trình bày. Sau
khi thành lập nhóm Mười Hai, các môn đệ được sai đi từng hai người một,
theo cách thức chính Chúa Giêsu đã dùng (x. Sai đi rao giảng: 6,7). Sau
cùng, để đi theo Chúa, Phêrô và nhóm Mười Hai đã nêu gương từ bỏ tuyệt
đối (x. 10,28). Có lẽ Maccô cũng muốn gợi ý với Giáo Hội Rôma, mà ông
viết Tin Mừng cho, rằng trong cuộc bách đạo các Kitô hữu tân tòng cũng
có thể được mời gọi từ bỏ những điều quý giá nhất: vị trí trong xã hội
và những liên hệ gia đình.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">Qua suốt dòng lịch sử của
mình, Giáo Hội đã đọc được nơi những trang Tin Mừng này lời mời gọi
những ai muốn theo sát bước chân Chúa Giêsu từ bỏ những của quý giá
nhất.</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">Trình thuật vừa đọc cho
ta cảm tưởng rằng những sự kiện ấy xảy ra cách dồn dập. Nó khác nào phần
rút gọn của cả một cuốn phim sẽ diễn ra trong suốt Tin Mừng. Lời Chúa
Kitô mời gọi khiến các môn đệ “cất bước đi theo Ngài và vận dụng hết
nghị lực để phục vụ Ngài. Cần ghi chú rằng, đối với nhiều người, bút
pháp của Maccô gây một cảm giác mau lẹ thúc bách người đọc. Ông sử dụng
cả một lô trạng từ “lập tức”. Hai lần trong đoạn văn trên đây (c. 18a và
20a) và tới mười một lần chỉ nguyên trong chương thứ nhất thôi. Rất
thường những tiếng “lập tức” này không hề có giá trị thời gian. Chúng
chỉ tương đương với liên từ “và”.</p>
</td></tr><tr>
<td width="474" height="56"><p style="text-align: center"> <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a> <a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/SuyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../../_Nam_A/2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a> </td></tr></table><p style="text-align: center">
</p>