File "13.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2020/Mua_Vong-Mua-GS/CN IV MV/13.htm
File size: 25.53 KiB (26144 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật IV mùa vọng - Năm A</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật IV mùa vọng - Năm A; Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta; Giuse-im-lặng; Mộng-báo-Thánh-Giuse; Đức-Trin"><style>
<!--
.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
{color:blue;
text-decoration:underline;
text-underline:single;
text-decoration:none underline;
text-line-through:none;
vertical-align:baseline}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật IV mùa vọng - Năm A">
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460">
<font size="2" color="#FF0000">Chúa Nhật IV mùa vọng - Năm A</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center"><b>
THIÊN SỨ BÁO TIN CHO GIUSE</b></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
<a name="_Toc280034493">
<span style="font-size: 8pt; font-style:italic; font-weight:400">Chú giải của Giáo
Hoàng Học Viện Đà Lạt</span></a></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">CÂU HỎI GỢI Ý</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">1. Ai là nhân vật chính của trình thuật:
Chúa Giêsu? Đức Maria? Thánh Giuse? Ai là chủ từ các câu xét về văn phạm?
Tại sao nơi câu 18, tác giả lại dùng kiểu nói thụ động (“bà đã chịu thai”)?
</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">2. Bí ẩn của trình thuật: thánh Giuse tỏ ra
công chính ở chỗ nào? phải chăng là công chính theo luật? Như vậy thì tại
sao ngài hành động cách bí mật? Phải chăng là lòng từ tâm? Vậy thì tại sao
ngài định ly dị Đức Maria nếu nghĩ rằng bà vô tội? Muốn trả lời, phải giải
quyết bí ẩn khác sau đây: thánh Giuse cho rằng Maria có tội hay vô tội? hay
ngài tôn kính bà như hòm bia Thiên Chúa? Có nền tảng văn chương nào cho
những lập trường ấy không? hay chỉ có những khó khăn không vượt qua được?</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">3. Việc hiện ra cho Giuse được tường thuật
với thể văn của các cuộc truyền tin, loại biến cố trong đó luôn có vấn đề
một dấu chỉ được mặc khải và một sứ mệnh được trao phó: so sánh với St
16,11; 17, 19; Tl 13, 3- 5; Is 7, 14; Lc 1, 26- 28. Trong trình thuật Mt, ta
có gặp lại những yếu tố của lược đồ chung ấy không?</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">4. Trong các lần hiện ra của thiên sứ sau
đó, Giuse có còn được gọi là “con Đavít” nữa không? Nơi Mt 1,1 phải chăng
Chúa Giêsu đã không được gọi là Con Đavít? Đối chiếu hai trường hợp.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">5. So sánh câu trích dẫn Is 7,14 trong Mt và
trong nguyên bản: đâu là chi giết thay đổi chính? Chi tiết này có ám chỉ
điều gì về ý nghĩa của trình thuật không?</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">6. Phải chăng không có đồng nhất cơ cấu giữa
sứ điệp (cc.20- 21), câu trích dẫn sấm ngôn (c. 23) và trình thuật (c.25)?
Hãy nhấn mạnh đến những hạn từ được lấy lại trong mỗi phần cửa ba phần câu
chuyện.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">7. So sánh viễn tượng của Mt và của Lc trong
các trình thuật thời thơ ấu. Lc muốn dạy về việc thụ thai đồng trinh và cho
thấy Thiên Chúa làm được mọi sự. Mt có mục đích khác không? (x. 1, 1- 17).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">8. Hãy thử tái lập lại cách dịch cc.20- 21:
chữ “vì” mở đầu câu nói đến việc thụ thai đồng trinh có ý nghĩa gì? </span>
</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">9. Nên gán cho đoạn văn tiêu đề nào: “Việc
thụ thai Chúa Giêsu cách đồng trinh” hay “Giuse đứng trước mầu nhiệm”? Có
thể tìm được một tiêu đề hay hơn không? Hãy tra cứu các ấn bản sách Tin
Mừng.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">10. Có thể so sánh Giuse với Gioan tiền hô
theo nghĩa nào? Đâu là vai trò của Giuse trong nhiệm cục cứu rỗi?</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">*******</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">CHÚ GIẢI CHI TIẾT</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">Qua tiêu đề bản văn (c.18a), Mt muốn ngỏ lời
với các tín hữu để xác định hoặc sửa sai quan niệm của họ về việc Chúa Giêsu
Kitô sinh ra. Mt không đưa ra một chỉ dẫn nào về Maria và Giuse; ông nói đến
các ngài như những người mà độc giả đều biết rõ. Chủ ý của ông chẳng phải là
trưng tài liệu song là dạy giáo lý. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">Câu 18b gợi ý (song không minh nhiên quả
quyết) rằng Giuse đã biết việc thụ thai con trẻ là do Chúa Thánh Thần.
</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">Động từ <i>sunelthein</i>, theo tự nghĩa là
<i>“đến với, phối hợp với một người nào đó”</i>, có thể chỉ việc giao hợp
hoặc việc sống chung. Văn mạch gần phù hợp với nghĩa đầu hơn. Cô thiếu nữ Do
thái, được đính hôn vào khoảng tuổi 12, thoát khỏi quyền giám hộ của người
cha để ở dưới quyền giám hộ của người chồng vào lúc 13-14 tuổi (việc chuyển
tiếp này, khai mạc việc sống chung, làm nên lễ hôn phối). </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">“Do tự Thánh Thần”</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">:
giới từ “ek” ở đây nói đến một nguyên nhân lịch sử: do một hành động độc
nhất của Thánh Thần. Lc 1,35 thì loan báo một hoạt động tích cực hơn: Thánh
Thần “sẽ đến trên” Đức Maria. Từ ngữ của Mt, vì chỉ ghi nhận sự kiện, nên có
vẻ dè dặt hơn. Vả lại, Mt mỗi lần nói đến Thánh Thần, là để công bố hoạt
động cao siêu của Thiên Chúa, nhưng không giải nghĩa hoặc phân tích gì thêm
(3,11; 4,1; 10,20; 12,18; 12,28.31).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">“Giuse, chồng bà, vì là người công chính và
không muốn tố giác bà”</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">: sự
công chính của Giuse hệ tại chỗ nào? Giai thoại ta đang nghiên cứu đã làm
các nhà chú giải bối rối không ít. Phần lớn cho rằng sự công chính đó chính
là việc mặc khải cho Giuse biết Maria đã thụ thai bởi quyền năng Thánh Thần,
hầu chấm dứt mối băn khoăn nghi ngờ nơi ngài. Nhưng lập trường này đẩy ta
vào những vấn đề tâm lý giả tạo và khó giải quyết, những vấn đề hoàn toàn xa
lạ với tinh thần của tác giả và độc giả Tin Mừng. Đúng hơn là hình như Giuse
băn khoăn không phải về tiết hạnh của bạn mình, song là về mối liên hệ giữa
ngài và đứa trẻ, về nhiệm vụ ngài phải gánh vác đối với đứa bé đó. Giuse
không công chính theo nghĩa là ngài vâng lời Lề luật vì chả có luật nào buộc
phải ly dị vị hôn thê mới bị coi như là ngoại tình cả (Đnl 22,13-21.23-27
chỉ liên hệ tới hôn nhân hoàn hợp, như Đnl 24,1 làm chứng). Đàng khác, nếu
âm thầm ly dị Maria, thì Giuse lại càng bất tuân Lề luật, vì chứng thư ly dị
chỉ có giá trị pháp lý khi mang tính cách chính thức công khai (Đệ nhị luật
có nói đến việc ly dị tổ chức ở cửa thành). (Vẫn biết pháp chế của các tiến
sĩ luật có cho phép tổ chức việc ly dị riêng tư trước hai nhân chứng -
x.Mishnah, Sotah 1, 5- song hình như pháp chế ấy nằm sau thời Chúa Giêsu;
hơn nữa, kiểu ly dị như vậy không thể là điều Giuse nghĩ tới, vì bản văn Mt
rõ ràng nói đến một việc ly dị “âm thầm, bí mật” - từ ngừ hy lạp lathra,
theo Zorelle, Bauer..., chỉ có ý nghĩa ấy - với lại ly dị mà có hai nhân
chứng thì sức mấy giữ được bí mật lâu trong một ngôi làng nhỏ như
Nadarét...). Sau cùng, mọi lối giải thích sự công chính của Giuse như là
“công chính chiếu luật” sẽ đẩy ta vào chỗ tiến thoái lưỡng nan. Thật vậy nếu
theo con mắt của Giuse, Maria phạm tội ngoại tình, thì ta hiểu ngay là ngài
đã nghĩ tới chuyện ly dị, song ta không thấy tại sao ngài lại nghĩ đến việc
ly dị âm thầm, vì bấy giờ việc ly dị sẽ chẳng có hiệu lực pháp lý và lại
không thể giữ bí mật được lâu. Đàng khác, nếu Giuse coi Maria vô tội, thì ta
không thấy tại sao ngài lại nghĩ đến chuyện ly dị bà, vì pháp luật đâu cho
phép và vì, xét như là hôn phu, người có bổn phận bảo vệ vị hôn thê vô tội
chống lại mọi nghi ngờ vô bằng cứ của kẻ khác. Thành ra không thể cắt nghĩa
sự công chính của Giuse như là “công chính theo luật” được. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">Vấn đề ở đây là sự công chính tôn giáo, sự
công chính đòi hỏi Giuse tôn trọng công trình Thiên Chúa nơi Maria và cấm
ông không được đoạt lấy công lao của một hành động thần linh: Giuse nghĩ
rằng mình không được quyền đem về nhà một kẻ mà Giavê đã dành riêng cho
Ngài. Trước mầu nhiệm ấy, Giuse muốn rút lui, và vì tế nhị đối với Thiên
Chúa. Ngài cẩn thận không muốn “tiết lộ” mầu nhiệm thần linh nơi Maria
(tiếng deigmatisai, theo Origène và Eusèbe, không bao hàm ý nghĩa xấu tố
giác? bêu nhục) như tiếng paradeigmatisai; Jouon cũng dịch là tiết lộ, bày
tỏ “). Ngài phản ứng như hết thảy mọi kẻ công chính trong Thánh Kinh trước
việc Thiên Chúa can thiệp vào đời họ: như Môisen cởi giày trước bụi gai rực
cháy, như Isaia khiếp đảm truởc sự xuất hiện của vị Thiên Chúa ba lần thánh,
như Elidabét tự hỏi tại sao mình được mẹ Chúa viếng thăm, như viên bách quản
trong Tin Mừng, như Phêrô cúi mình tâu: “Lạy Chúa, xin hãy xa con, vì con là
kẻ tội lỗi “... Như “Abel người công chính”, Giuse đã tỏ mình ra là kẻ hết
dạ tôn thờ Thiên Chúa tabel là người “công chính” duy nhất được Mt gọi tên
trong Tin Mừng của ông, 23, 36, công chính không phải vì tuân hành Lề luật,
vì Lề luật chỉ được công bố với Môisen!). </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">Lối giải thích này được văn mạch chung của
chương 1 Mt xác nhận. Thật vậy, trong đoạn văn đầu tiên, Mt kể lại gia phả
của Chúa Giêsu bắt đầu từ Abraham và Đavít, đi ngang qua Giuse. Nhưng chính
gia phả ấy lại gặp một vấn đề hóc búa nơi Giuse. Hóc búa là vì Chúa Giêsu
chẳng phải là con Giuse theo xác thịt. Thành ra bản văn chúng ta đây có mục
đích giải thích làm sao Chúa Giêsu thuộc về dòng dõi Đavít, mặc dù Người
chẳng phải là con Giuse. Và lời giải thích nằm ngay trong việc Giuse thừa
nhận Chúa Giêsu trước mặt pháp lý. Do đó ta thấy rõ trình thuật không có mục
đích bênh vực việc thụ thai đồng trinh cho bằng là chứng minh làm sao Chúa
Giêsu đã trở nên con cháu Đavít và là Đấng Thiên sai dòng dõi Đavít, mặc dầu
Người được mang thai đồng trinh, một yếu tố đã gây nên vấn nạn lớn lao. Hai
phần của chương đầu Mt như thế làm nên hai vế của cùng một chứng minh vậy.
</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">Một luận cứ xác nhận khác là chính lời của
thiên sứ (cc 20-21), nếu được hiểu đúng. Cách dịch hay nhất có lẽ như thế
này: “Hỡi Giuse, con Đavít, chớ sợ đem Maria về nhà làm vợ vì quả thật (Hy
ngữ: gar; pháp ngữ: can certes) thai sinh nơi bà là công thành của Thánh
Thần, nhưng (Hy ngữ: dé) bà sẽ sinh một con trai mà ông sẽ đặt tên là Giêsu;
vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội lỗi “. Đúng vậy, lối dịch chữ gar ra
vì quả thật thường được thấy trong Tân ước (1 Cr 9, 19; 2 Tx 2, 20; Mt 18,
7; 22,14; 24,6...). Thành ra qua lời mình, thiên sứ giả thiết là Giuse đã
biết Maria mang thai đồng trinh rồi và chính việc thụ thai này đã thúc đẩy
ngài rút lui trước sự can thiệp của Thiên Chúa; tuy nhiên thiên sứ ra lệnh
cho ông dù sao (“nhưng”) cũng phải chấp nhận đặt tên cho đứa trẻ và đưa nó
vào dòng dõi Đavít. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">“Giêsu”</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">:
tên chỉ định con người và, đặc biệt trong Kinh Thánh, chỉ định chức vụ mà
Thiên Chúa đặt định cho trong lịch sử cứu rỗi. Iêsous là phiên âm hy lạp của
tiếng hy bá Yehôshua (Xh 24, 1 3) hoặc Yéthua (Nhm 7, 7), “Giavê là sự cứu
độ”, một tên riêng khá phổ thông trong Cựu ước và Tân ước. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">“Vì</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">
(từ ngữ mở đầu câu nói về ơn gọi, cái ơn gọi được diễn tả qua danh tánh mà
Thiên Chúa truyền phải đặt cho đứa trẻ) <b><i>chính Người sẽ cứu”</i></b>
(động từ “cứu” cũng tái xuất hiện trong ba Tin Mừng Nhất Lãm: 15- 15- 17 là
n trong Mt-Mc-Lc, trong khi chỉ mình Lc gán cho Chúa Giêsu tước hiệu “Đấng
Cứu Thế” nơi chương 2, 11 và dùng chữ “ơn cứu độ “) <b><i>dân mình</i></b>
tức Giáo Hội, Israel đích thực; lao, “dân”, là một từ ngữ riêng của Mt (14
lần, trong lúc Mc chỉ dùng hai lần) dùng để chỉ dân Thiên Chúa) khỏi tội lỗi
(x.Tv 130, 8; ta không được bảo toàn thể Do thái giáo đương thời Tân ước đều
mong chờ một Đấng Thiên sai thuần túy có tính cách quốc gia và chính trị;
Thánh vịnh Salomon 17 vẫn hy vọng rằng Con Đavít sẽ quy tụ dân Người, thanh
tẩy và thánh hóa họ). </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">“Mọi sự này xảy ra...”</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">
(cc.22-23). Công thức quen thuộc này của Mt không muốn quả quyết rằng giữa
các bản văn Cựu ước và thực tai của Tân ước có một cái gì bình đẳng. Mt cho
rằng bao giờ cũng vẫn là chính Thiên Chúa điều khiển lịch sử thánh, nhưng
các thực tại Tân ước mới là đích điểm và là sự viên mãn của Cựu ước. </span>
</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">“Này đây, Trinh nữ sẽ thụ thai”</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">:
Mt trích Is 7,14 (x.2V 16, 5- 9) theo bản 70 với chữ parthenos, “tính nữ”,
trong lúc nguyên bản dùng chữ almâ, là tiếng vừa chỉ một thiếu nữ, vừa chỉ
một người vợ trẻ. Vì thế, dựa vào Is 7,14, Do thái giáo miền Palestine không
mong chờ một Đấng Thiên sai sinh hạ đồng trinh, nhưng dù vậy Đấng Thiên sai
cũng sẽ là một người con đầu lòng (Lc 2,7). Trong hoàn cảnh lịch sử của Is
7,14, vị ngôn sứ chỉ loan báo một biến cố sắp gây chưng hửng cho vua Achaz
cũng lòng tin. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">“Emmanuel”</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">:
Mt chẳng cố ý nêu ra một tên mới của Đấng Thiên sai, song chỉ muốn nói lên ý
nghĩa của con người và của công cuộc Người thực hiện. Chính Is 7,14, bản văn
ông trích dẫn, và 8,8 cũng đã không nhấn mạnh đến sự hiện diện đơn thuần của
Thiên Chúa, điều mà cả Kinh Thánh đều giả thiết, nhưng đến sự hiện diện tích
cực, hằng cứu giúp của Ngài. Như vậy, qua Chúa Giêsu, Thiên Chúa sẽ hiện
diện giữa dân Ngài để cứu vớt họ. Lời hứa long trọng của Chúa Kitô vinh hiển
“Ta sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”, 28,20) đánh dấu việc thể
hiện hoàn toàn lời loan -báo trên. Như thế, Tin Mừng Mt mở đầu và kết thúc
với ý tưởng này là: Thiên Chúa đã hiện diện tích cực với nhân loại trong con
người Chúa Giêsu. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">Nơi câu 24-25, Mt ghi nhận: sau khi được
Thiên Chúa báo mộng, Giuse không còn thụ động nữa; ngài “tỉnh giấc” hay
“chỗi dậy” tuân hành răm rắp lệnh truyền. Chi tiết các câu 24- 25 tương ứng
sít sao với lời dạy của thiên sứ (cc.20-21) và với lời giải thích cùng trích
dẫn sấm ngôn (cc.22-23). Như câu 23, câu 25 nhận xét rằng Maria còn đồng
trinh lúc hài thi sinh ra; thành ra kiểu nói “ông đã không biết bà cho tới
ngày bà sinh con” không phủ nhận cũng chẳng ám chỉ sự đồng trinh sau đó. Vả
lại ta nên nhớ mẫu tính đồng trinh của Đức Maria không có ý nghĩa sinh vật
học (mặc dầu sự kiện có thật) song là Kitô học, nghĩa là diễn tả đức tin của
Giáo Hội vào thần tính và nhân tính của Chúa Giêsu. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">KẾT LUẬN </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">Ở hai đầu của lịch sử Lời hứa, có hai ơn gọi
làm âm vang cho nhau và bổ túc nhau: ơn gọi Abraham, cha của Lời hứa, và ơn
gọi Giuse, kẻ mà lòng vâng phục mệnh lệnh thần linh đã giúp thực hiện lời
Thiên Chúa hứa là cho Đấng Emmanuel tới. Và nhờ được Giuse đưa vào dòng dõi
Đavít, kẻ thụ thác Lời hứa, Chúa Kitô từ nay liên hệ trực tiếp với mỗi người
con cháu Abraham, đón con cháu đông như sao trên trời chẳng ai đếm nổi (St
15, 5).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">1.</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">
<b><i>Sự công chính của thánh Giuse</i></b> không nằm ở chỗ ngài muốn bí mật
ly dị Đức Maria. Thật ra nó nằm ở chỗ thánh nhân từ chối coi mình là cha đứa
trẻ mà ngài biết là Con Thiên Chúa. Ngài sợ mang tiếng chiếm đoạt vai trò mà
Chúa không ủy thác. Sở dĩ ngài muốn ly dị Đức Maria đó là vì tế nhị, vì vâng
theo thánh ý Chúa, Đấng không giao cho ngài sứ mạng gì đối với Đức Maria và
Hài nhi cả. Đối với Giuse, Thiên Chúa có mặt trong công chuyện này. Thiên
Chúa đã sử dụng vị hôn thê của ngài, và vì thế ngài muốn rút êm để khỏi làm
cản trở việc thực hiện một chương trình ngài không hiểu thấu. Nói cho đúng,
sự “công chính” của thánh Giuse chính là ý thức của ngài về Thiên Chúa, là
sự tôn trọng của ngài đối với mầu nhiệm và thánh ý Thiên Chúa. Người Kitô
hữu cũng phải có lòng kính trọng sâu xa như vậy đối với các dự tính của
Thiên Chúa về mình, phải có ý thức về sự siêu việt của Thiên Chúa mỗi khi
Ngài cho ta cảm nhận sự hiện diện của Ngài trong đời sống thường ngày: qua
niềm vui, qua Thánh Thể, qua thử thách, qua lời kêu van giúp đỡ của tha nhân
v.v... </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">2.</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">
<b><i>Thánh Giuse đã đón nhận Chúa Giêsu Kitô hằng sống</i></b>. Chúng ta
cũng phải đón nhận Người như thế, vì Chúa đang thực sự sống động trong Giáo
Hội; nhờ Giáo Hội mà Người tự thông ban cho ta qua Thánh Kinh và Thánh Thể.
Ngày nay, tin vào sự hiện diện sống động của Chúa trong Thánh Kinh và Thánh
Thể không khó hơn việc thánh Giuse tin rằng con trẻ mà vị hôn thê của ngày
chờ đợi thật là Con Đấng Tối Cao..</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">3.</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">
<b><i>Thánh Giuse im lặng</i></b>: Thánh Kinh không ghi lại một lời nào của
ngài, một kẻ dù sao vẫn là con cháu Đavít và đã cho Chúa Giêsu được nên con
Đavít. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">4. Emmanuel:</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">
Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Giêsu: Thiên-Chúa-cứu. Sở dĩ Thiên Chúa ở với
chúng ta, đó là để luôn luôn cứu chúng ta. Sự hiện diện của Người trong đời
ta là nguồn bình an và hoan lạc lớn lao nhất. Ngày nay, Chúa Giêsu là
Emmanuel đối với chúng ta hơn bao giờ hết, vì sau khi sống lại, người đã hứa
ớ với chúng ta cho đến tận thế.</span></td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center"> <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a> <a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/suyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a> </td></tr></table><p style="text-align: center"> </p>