File "13.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2020/Mua_Vong-Mua-GS/CN IV MV/13.htm
File size: 25.53 KiB (26144 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật IV mùa vọng&nbsp; - Năm A</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật IV mùa vọng  - Năm A; Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta; Giuse-im-lặng; Mộng-báo-Thánh-Giuse; Đức-Trin"><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
	{color:blue;
	text-decoration:underline;
	text-underline:single;
	text-decoration:none underline;
	text-line-through:none;
	vertical-align:baseline}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật IV mùa vọng  - Năm A">
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460">
	<font size="2" color="#FF0000">Chúa Nhật IV mùa vọng&nbsp; - Năm A</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center"><b>
		THIÊN SỨ BÁO TIN CHO GIUSE</b></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
	<a name="_Toc280034493">
		<span style="font-size: 8pt; font-style:italic; font-weight:400">Chú giải của Giáo 
	Hoàng Học Viện Đà Lạt</span></a></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">CÂU HỎI GỢI Ý</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">1. Ai là nhân vật chính của trình thuật: 
	Chúa Giêsu? Đức Maria? Thánh Giuse? Ai là chủ từ các câu xét về văn phạm? 
	Tại sao nơi câu 18, tác giả lại dùng kiểu nói thụ động (“bà đã chịu thai”)?
	</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">2. Bí ẩn của trình thuật: thánh Giuse tỏ ra 
	công chính ở chỗ nào? phải chăng là công chính theo luật? Như vậy thì tại 
	sao ngài hành động cách bí mật? Phải chăng là lòng từ tâm? Vậy thì tại sao 
	ngài định ly dị Đức Maria nếu nghĩ rằng bà vô tội? Muốn trả lời, phải giải 
	quyết bí ẩn khác sau đây: thánh Giuse cho rằng Maria có tội hay vô tội? hay 
	ngài tôn kính bà như hòm bia Thiên Chúa? Có nền tảng văn chương nào cho 
	những lập trường ấy không? hay chỉ có những khó khăn không vượt qua được?</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">3. Việc hiện ra cho Giuse được tường thuật 
	với thể văn của các cuộc truyền tin, loại biến cố trong đó luôn có vấn đề 
	một dấu chỉ được mặc khải và một sứ mệnh được trao phó: so sánh với St 
	16,11; 17, 19; Tl 13, 3- 5; Is 7, 14; Lc 1, 26- 28. Trong trình thuật Mt, ta 
	có gặp lại những yếu tố của lược đồ chung ấy không?</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">4. Trong các lần hiện ra của thiên sứ sau 
	đó, Giuse có còn được gọi là “con Đavít” nữa không? Nơi Mt 1,1 phải chăng 
	Chúa Giêsu đã không được gọi là Con Đavít? Đối chiếu hai trường hợp.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">5. So sánh câu trích dẫn Is 7,14 trong Mt và 
	trong nguyên bản: đâu là chi giết thay đổi chính? Chi tiết này có ám chỉ 
	điều gì về ý nghĩa của trình thuật không?</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">6. Phải chăng không có đồng nhất cơ cấu giữa 
	sứ điệp (cc.20- 21), câu trích dẫn sấm ngôn (c. 23) và trình thuật (c.25)? 
	Hãy nhấn mạnh đến những hạn từ được lấy lại trong mỗi phần cửa ba phần câu 
	chuyện.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">7. So sánh viễn tượng của Mt và của Lc trong 
	các trình thuật thời thơ ấu. Lc muốn dạy về việc thụ thai đồng trinh và cho 
	thấy Thiên Chúa làm được mọi sự. Mt có mục đích khác không? (x. 1, 1- 17).</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">8. Hãy thử tái lập lại cách dịch cc.20- 21: 
	chữ “vì” mở đầu câu nói đến việc thụ thai đồng trinh có ý nghĩa gì? </span>
	</p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">9. Nên gán cho đoạn văn tiêu đề nào: “Việc 
	thụ thai Chúa Giêsu cách đồng trinh” hay “Giuse đứng trước mầu nhiệm”? Có 
	thể tìm được một tiêu đề hay hơn không? Hãy tra cứu các ấn bản sách Tin 
	Mừng.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">10. Có thể so sánh Giuse với Gioan tiền hô 
	theo nghĩa nào? Đâu là vai trò của Giuse trong nhiệm cục cứu rỗi?</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">*******</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">CHÚ GIẢI CHI TIẾT</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Qua tiêu đề bản văn (c.18a), Mt muốn ngỏ lời 
	với các tín hữu để xác định hoặc sửa sai quan niệm của họ về việc Chúa Giêsu 
	Kitô sinh ra. Mt không đưa ra một chỉ dẫn nào về Maria và Giuse; ông nói đến 
	các ngài như những người mà độc giả đều biết rõ. Chủ ý của ông chẳng phải là 
	trưng tài liệu song là dạy giáo lý. </span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Câu 18b gợi ý (song không minh nhiên quả 
	quyết) rằng Giuse đã biết việc thụ thai con trẻ là do Chúa Thánh Thần.
	</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Động từ <i>sunelthein</i>, theo tự nghĩa là
	<i>“đến với, phối hợp với một người nào đó”</i>, có thể chỉ việc giao hợp 
	hoặc việc sống chung. Văn mạch gần phù hợp với nghĩa đầu hơn. Cô thiếu nữ Do 
	thái, được đính hôn vào khoảng tuổi 12, thoát khỏi quyền giám hộ của người 
	cha để ở dưới quyền giám hộ của người chồng vào lúc 13-14 tuổi (việc chuyển 
	tiếp này, khai mạc việc sống chung, làm nên lễ hôn phối). </span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt"><b><i>
	<span style="font-size: 14.0pt">“Do tự Thánh Thần”</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">: 
	giới từ “ek” ở đây nói đến một nguyên nhân lịch sử: do một hành động độc 
	nhất của Thánh Thần. Lc 1,35 thì loan báo một hoạt động tích cực hơn: Thánh 
	Thần “sẽ đến trên” Đức Maria. Từ ngữ của Mt, vì chỉ ghi nhận sự kiện, nên có 
	vẻ dè dặt hơn. Vả lại, Mt mỗi lần nói đến Thánh Thần, là để công bố hoạt 
	động cao siêu của Thiên Chúa, nhưng không giải nghĩa hoặc phân tích gì thêm 
	(3,11; 4,1; 10,20; 12,18; 12,28.31).</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt"><b><i>
	<span style="font-size: 14.0pt">“Giuse, chồng bà, vì là người công chính và 
	không muốn tố giác bà”</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">: sự 
	công chính của Giuse hệ tại chỗ nào? Giai thoại ta đang nghiên cứu đã làm 
	các nhà chú giải bối rối không ít. Phần lớn cho rằng sự công chính đó chính 
	là việc mặc khải cho Giuse biết Maria đã thụ thai bởi quyền năng Thánh Thần, 
	hầu chấm dứt mối băn khoăn nghi ngờ nơi ngài. Nhưng lập trường này đẩy ta 
	vào những vấn đề tâm lý giả tạo và khó giải quyết, những vấn đề hoàn toàn xa 
	lạ với tinh thần của tác giả và độc giả Tin Mừng. Đúng hơn là hình như Giuse 
	băn khoăn không phải về tiết hạnh của bạn mình, song là về mối liên hệ giữa 
	ngài và đứa trẻ, về nhiệm vụ ngài phải gánh vác đối với đứa bé đó. Giuse 
	không công chính theo nghĩa là ngài vâng lời Lề luật vì chả có luật nào buộc 
	phải ly dị vị hôn thê mới bị coi như là ngoại tình cả (Đnl 22,13-21.23-27 
	chỉ liên hệ tới hôn nhân hoàn hợp, như Đnl 24,1 làm chứng). Đàng khác, nếu 
	âm thầm ly dị Maria, thì Giuse lại càng bất tuân Lề luật, vì chứng thư ly dị 
	chỉ có giá trị pháp lý khi mang tính cách chính thức công khai (Đệ nhị luật 
	có nói đến việc ly dị tổ chức ở cửa thành). (Vẫn biết pháp chế của các tiến 
	sĩ luật có cho phép tổ chức việc ly dị riêng tư trước hai nhân chứng - 
	x.Mishnah, Sotah 1, 5- song hình như pháp chế ấy nằm sau thời Chúa Giêsu; 
	hơn nữa, kiểu ly dị như vậy không thể là điều Giuse nghĩ tới, vì bản văn Mt 
	rõ ràng nói đến một việc ly dị “âm thầm, bí mật” - từ ngừ hy lạp lathra, 
	theo Zorelle, Bauer..., chỉ có ý nghĩa ấy - với lại ly dị mà có hai nhân 
	chứng thì sức mấy giữ được bí mật lâu trong một ngôi làng nhỏ như 
	Nadarét...). Sau cùng, mọi lối giải thích sự công chính của Giuse như là 
	“công chính chiếu luật” sẽ đẩy ta vào chỗ tiến thoái lưỡng nan. Thật vậy nếu 
	theo con mắt của Giuse, Maria phạm tội ngoại tình, thì ta hiểu ngay là ngài 
	đã nghĩ tới chuyện ly dị, song ta không thấy tại sao ngài lại nghĩ đến việc 
	ly dị âm thầm, vì bấy giờ việc ly dị sẽ chẳng có hiệu lực pháp lý và lại 
	không thể giữ bí mật được lâu. Đàng khác, nếu Giuse coi Maria vô tội, thì ta 
	không thấy tại sao ngài lại nghĩ đến chuyện ly dị bà, vì pháp luật đâu cho 
	phép và vì, xét như là hôn phu, người có bổn phận bảo vệ vị hôn thê vô tội 
	chống lại mọi nghi ngờ vô bằng cứ của kẻ khác. Thành ra không thể cắt nghĩa 
	sự công chính của Giuse như là “công chính theo luật” được. </span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Vấn đề ở đây là sự công chính tôn giáo, sự 
	công chính đòi hỏi Giuse tôn trọng công trình Thiên Chúa nơi Maria và cấm 
	ông không được đoạt lấy công lao của một hành động thần linh: Giuse nghĩ 
	rằng mình không được quyền đem về nhà một kẻ mà Giavê đã dành riêng cho 
	Ngài. Trước mầu nhiệm ấy, Giuse muốn rút lui, và vì tế nhị đối với Thiên 
	Chúa. Ngài cẩn thận không muốn “tiết lộ” mầu nhiệm thần linh nơi Maria 
	(tiếng deigmatisai, theo Origène và Eusèbe, không bao hàm ý nghĩa xấu tố 
	giác? bêu nhục) như tiếng paradeigmatisai; Jouon cũng dịch là tiết lộ, bày 
	tỏ “). Ngài phản ứng như hết thảy mọi kẻ công chính trong Thánh Kinh trước 
	việc Thiên Chúa can thiệp vào đời họ: như Môisen cởi giày trước bụi gai rực 
	cháy, như Isaia khiếp đảm truởc sự xuất hiện của vị Thiên Chúa ba lần thánh, 
	như Elidabét tự hỏi tại sao mình được mẹ Chúa viếng thăm, như viên bách quản 
	trong Tin Mừng, như Phêrô cúi mình tâu: “Lạy Chúa, xin hãy xa con, vì con là 
	kẻ tội lỗi “... Như “Abel người công chính”, Giuse đã tỏ mình ra là kẻ hết 
	dạ tôn thờ Thiên Chúa tabel là người “công chính” duy nhất được Mt gọi tên 
	trong Tin Mừng của ông, 23, 36, công chính không phải vì tuân hành Lề luật, 
	vì Lề luật chỉ được công bố với Môisen!). </span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Lối giải thích này được văn mạch chung của 
	chương 1 Mt xác nhận. Thật vậy, trong đoạn văn đầu tiên, Mt kể lại gia phả 
	của Chúa Giêsu bắt đầu từ Abraham và Đavít, đi ngang qua Giuse. Nhưng chính 
	gia phả ấy lại gặp một vấn đề hóc búa nơi Giuse. Hóc búa là vì Chúa Giêsu 
	chẳng phải là con Giuse theo xác thịt. Thành ra bản văn chúng ta đây có mục 
	đích giải thích làm sao Chúa Giêsu thuộc về dòng dõi Đavít, mặc dù Người 
	chẳng phải là con Giuse. Và lời giải thích nằm ngay trong việc Giuse thừa 
	nhận Chúa Giêsu trước mặt pháp lý. Do đó ta thấy rõ trình thuật không có mục 
	đích bênh vực việc thụ thai đồng trinh cho bằng là chứng minh làm sao Chúa 
	Giêsu đã trở nên con cháu Đavít và là Đấng Thiên sai dòng dõi Đavít, mặc dầu 
	Người được mang thai đồng trinh, một yếu tố đã gây nên vấn nạn lớn lao. Hai 
	phần của chương đầu Mt như thế làm nên hai vế của cùng một chứng minh vậy.
	</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Một luận cứ xác nhận khác là chính lời của 
	thiên sứ (cc 20-21), nếu được hiểu đúng. Cách dịch hay nhất có lẽ như thế 
	này: “Hỡi Giuse, con Đavít, chớ sợ đem Maria về nhà làm vợ vì quả thật (Hy 
	ngữ: gar; pháp ngữ: can certes) thai sinh nơi bà là công thành của Thánh 
	Thần, nhưng (Hy ngữ: dé) bà sẽ sinh một con trai mà ông sẽ đặt tên là Giêsu; 
	vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội lỗi “. Đúng vậy, lối dịch chữ gar ra 
	vì quả thật thường được thấy trong Tân ước (1 Cr 9, 19; 2 Tx 2, 20; Mt 18, 
	7; 22,14; 24,6...). Thành ra qua lời mình, thiên sứ giả thiết là Giuse đã 
	biết Maria mang thai đồng trinh rồi và chính việc thụ thai này đã thúc đẩy 
	ngài rút lui trước sự can thiệp của Thiên Chúa; tuy nhiên thiên sứ ra lệnh 
	cho ông dù sao (“nhưng”) cũng phải chấp nhận đặt tên cho đứa trẻ và đưa nó 
	vào dòng dõi Đavít. </span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt"><b><i>
	<span style="font-size: 14.0pt">“Giêsu”</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">: 
	tên chỉ định con người và, đặc biệt trong Kinh Thánh, chỉ định chức vụ mà 
	Thiên Chúa đặt định cho trong lịch sử cứu rỗi. Iêsous là phiên âm hy lạp của 
	tiếng hy bá Yehôshua (Xh 24, 1 3) hoặc Yéthua (Nhm 7, 7), “Giavê là sự cứu 
	độ”, một tên riêng khá phổ thông trong Cựu ước và Tân ước. </span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt"><b><i>
	<span style="font-size: 14.0pt">“Vì</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
	(từ ngữ mở đầu câu nói về ơn gọi, cái ơn gọi được diễn tả qua danh tánh mà 
	Thiên Chúa truyền phải đặt cho đứa trẻ) <b><i>chính Người sẽ cứu”</i></b> 
	(động từ “cứu” cũng tái xuất hiện trong ba Tin Mừng Nhất Lãm: 15- 15- 17 là 
	n trong Mt-Mc-Lc, trong khi chỉ mình Lc gán cho Chúa Giêsu tước hiệu “Đấng 
	Cứu Thế” nơi chương 2, 11 và dùng chữ “ơn cứu độ “) <b><i>dân mình</i></b> 
	tức Giáo Hội, Israel đích thực; lao, “dân”, là một từ ngữ riêng của Mt (14 
	lần, trong lúc Mc chỉ dùng hai lần) dùng để chỉ dân Thiên Chúa) khỏi tội lỗi 
	(x.Tv 130, 8; ta không được bảo toàn thể Do thái giáo đương thời Tân ước đều 
	mong chờ một Đấng Thiên sai thuần túy có tính cách quốc gia và chính trị; 
	Thánh vịnh Salomon 17 vẫn hy vọng rằng Con Đavít sẽ quy tụ dân Người, thanh 
	tẩy và thánh hóa họ). </span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt"><b><i>
	<span style="font-size: 14.0pt">“Mọi sự này xảy ra...”</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
	(cc.22-23). Công thức quen thuộc này của Mt không muốn quả quyết rằng giữa 
	các bản văn Cựu ước và thực tai của Tân ước có một cái gì bình đẳng. Mt cho 
	rằng bao giờ cũng vẫn là chính Thiên Chúa điều khiển lịch sử thánh, nhưng 
	các thực tại Tân ước mới là đích điểm và là sự viên mãn của Cựu ước. </span>
	</p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt"><b><i>
	<span style="font-size: 14.0pt">“Này đây, Trinh nữ sẽ thụ thai”</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">: 
	Mt trích Is 7,14 (x.2V 16, 5- 9) theo bản 70 với chữ parthenos, “tính nữ”, 
	trong lúc nguyên bản dùng chữ almâ, là tiếng vừa chỉ một thiếu nữ, vừa chỉ 
	một người vợ trẻ. Vì thế, dựa vào Is 7,14, Do thái giáo miền Palestine không 
	mong chờ một Đấng Thiên sai sinh hạ đồng trinh, nhưng dù vậy Đấng Thiên sai 
	cũng sẽ là một người con đầu lòng (Lc 2,7). Trong hoàn cảnh lịch sử của Is 
	7,14, vị ngôn sứ chỉ loan báo một biến cố sắp gây chưng hửng cho vua Achaz 
	cũng lòng tin. </span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt"><b><i>
	<span style="font-size: 14.0pt">“Emmanuel”</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">: 
	Mt chẳng cố ý nêu ra một tên mới của Đấng Thiên sai, song chỉ muốn nói lên ý 
	nghĩa của con người và của công cuộc Người thực hiện. Chính Is 7,14, bản văn 
	ông trích dẫn, và 8,8 cũng đã không nhấn mạnh đến sự hiện diện đơn thuần của 
	Thiên Chúa, điều mà cả Kinh Thánh đều giả thiết, nhưng đến sự hiện diện tích 
	cực, hằng cứu giúp của Ngài. Như vậy, qua Chúa Giêsu, Thiên Chúa sẽ hiện 
	diện giữa dân Ngài để cứu vớt họ. Lời hứa long trọng của Chúa Kitô vinh hiển 
	“Ta sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”, 28,20) đánh dấu việc thể 
	hiện hoàn toàn lời loan -báo trên. Như thế, Tin Mừng Mt mở đầu và kết thúc 
	với ý tưởng này là: Thiên Chúa đã hiện diện tích cực với nhân loại trong con 
	người Chúa Giêsu. </span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Nơi câu 24-25, Mt ghi nhận: sau khi được 
	Thiên Chúa báo mộng, Giuse không còn thụ động nữa; ngài “tỉnh giấc” hay 
	“chỗi dậy” tuân hành răm rắp lệnh truyền. Chi tiết các câu 24- 25 tương ứng 
	sít sao với lời dạy của thiên sứ (cc.20-21) và với lời giải thích cùng trích 
	dẫn sấm ngôn (cc.22-23). Như câu 23, câu 25 nhận xét rằng Maria còn đồng 
	trinh lúc hài thi sinh ra; thành ra kiểu nói “ông đã không biết bà cho tới 
	ngày bà sinh con” không phủ nhận cũng chẳng ám chỉ sự đồng trinh sau đó. Vả 
	lại ta nên nhớ mẫu tính đồng trinh của Đức Maria không có ý nghĩa sinh vật 
	học (mặc dầu sự kiện có thật) song là Kitô học, nghĩa là diễn tả đức tin của 
	Giáo Hội vào thần tính và nhân tính của Chúa Giêsu. </span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">KẾT LUẬN </span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Ở hai đầu của lịch sử Lời hứa, có hai ơn gọi 
	làm âm vang cho nhau và bổ túc nhau: ơn gọi Abraham, cha của Lời hứa, và ơn 
	gọi Giuse, kẻ mà lòng vâng phục mệnh lệnh thần linh đã giúp thực hiện lời 
	Thiên Chúa hứa là cho Đấng Emmanuel tới. Và nhờ được Giuse đưa vào dòng dõi 
	Đavít, kẻ thụ thác Lời hứa, Chúa Kitô từ nay liên hệ trực tiếp với mỗi người 
	con cháu Abraham, đón con cháu đông như sao trên trời chẳng ai đếm nổi (St 
	15, 5).</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt">
	<span style="font-size: 14.0pt">Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt"><b><i>
	<span style="font-size: 14.0pt">1.</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">
	<b><i>Sự công chính của thánh Giuse</i></b> không nằm ở chỗ ngài muốn bí mật 
	ly dị Đức Maria. Thật ra nó nằm ở chỗ thánh nhân từ chối coi mình là cha đứa 
	trẻ mà ngài biết là Con Thiên Chúa. Ngài sợ mang tiếng chiếm đoạt vai trò mà 
	Chúa không ủy thác. Sở dĩ ngài muốn ly dị Đức Maria đó là vì tế nhị, vì vâng 
	theo thánh ý Chúa, Đấng không giao cho ngài sứ mạng gì đối với Đức Maria và 
	Hài nhi cả. Đối với Giuse, Thiên Chúa có mặt trong công chuyện này. Thiên 
	Chúa đã sử dụng vị hôn thê của ngài, và vì thế ngài muốn rút êm để khỏi làm 
	cản trở việc thực hiện một chương trình ngài không hiểu thấu. Nói cho đúng, 
	sự “công chính” của thánh Giuse chính là ý thức của ngài về Thiên Chúa, là 
	sự tôn trọng của ngài đối với mầu nhiệm và thánh ý Thiên Chúa. Người Kitô 
	hữu cũng phải có lòng kính trọng sâu xa như vậy đối với các dự tính của 
	Thiên Chúa về mình, phải có ý thức về sự siêu việt của Thiên Chúa mỗi khi 
	Ngài cho ta cảm nhận sự hiện diện của Ngài trong đời sống thường ngày: qua 
	niềm vui, qua Thánh Thể, qua thử thách, qua lời kêu van giúp đỡ của tha nhân 
	v.v... </span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt"><b><i>
	<span style="font-size: 14.0pt">2.</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">
	<b><i>Thánh Giuse đã đón nhận Chúa Giêsu Kitô hằng sống</i></b>. Chúng ta 
	cũng phải đón nhận Người như thế, vì Chúa đang thực sự sống động trong Giáo 
	Hội; nhờ Giáo Hội mà Người tự thông ban cho ta qua Thánh Kinh và Thánh Thể. 
	Ngày nay, tin vào sự hiện diện sống động của Chúa trong Thánh Kinh và Thánh 
	Thể không khó hơn việc thánh Giuse tin rằng con trẻ mà vị hôn thê của ngày 
	chờ đợi thật là Con Đấng Tối Cao..</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt"><b><i>
	<span style="font-size: 14.0pt">3.</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">
	<b><i>Thánh Giuse im lặng</i></b>: Thánh Kinh không ghi lại một lời nào của 
	ngài, một kẻ dù sao vẫn là con cháu Đavít và đã cho Chúa Giêsu được nên con 
	Đavít. </span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 1.0cm; margin-top: 12.0pt"><b><i>
	<span style="font-size: 14.0pt">4. Emmanuel:</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
	Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Giêsu: Thiên-Chúa-cứu. Sở dĩ Thiên Chúa ở với 
	chúng ta, đó là để luôn luôn cứu chúng ta. Sự hiện diện của Người trong đời 
	ta là nguồn bình an và hoan lạc lớn lao nhất. Ngày nay, Chúa Giêsu là 
	Emmanuel đối với chúng ta hơn bao giờ hết, vì sau khi sống lại, người đã hứa 
	ớ với chúng ta cho đến tận thế.</span></td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/suyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">&nbsp;</p>

PHP File Manager