File "11.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2020/Mua-Thuong/CN XXX TN A/11.htm
File size: 22.41 KiB (22948 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật XXX&nbsp; thường niên - Năm A</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật XXX  thường niên - Năm A; Mến Chúa yêu người; Yêu thương là truyền giáo; Giới răn yêu thương; Luật trọng đại nhất; Hai điều răn; Trò chơi hòa bình; Luật yêu mến;"><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
	{color:blue;
	text-decoration:underline;
	text-underline:single;
	text-decoration:none underline;
	text-line-through:none;
	vertical-align:baseline}
span.apple-converted-space
	{}
h1
	{margin: 3.0pt 0cm;
	text-align:justify;
	page-break-after:avoid;
	font-size:13.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	color:red;
	}
.auto-style1 {
	text-indent: 36px;
}
.auto-style2 {
	font-size: 8pt;
}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật XXX  thường niên - Năm A"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">
	Chúa Nhật XXX&nbsp; thường niên - Năm A</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
		ĐIỀU RĂN TRỌNG NHẤT&nbsp;</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
		<a name="_Toc401432514">
		<span style="mso-bidi-font-family: &quot;Times New Roman&quot;" class="auto-style2">
		<em>Lm PX. Vũ Phan Long</em></span></a><span style="font-size: 14.0pt; mso-bidi-font-family: &quot;Times New Roman&quot;"><o:p></o:p></span></td></tr>
	<tr>
		<td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
		<p class="auto-style1"><span style="font-size: 14.0pt">Sự liên kết giữa 
		tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với người thân cận, đồng 
		thời sự khác biệt giữa hai tình yêu đó, giúp ngăn cản một sự tách biệt 
		giữa tôn giáo và xã hội, giữa bản tính bên trong và đời sống bên ngoài.<o:p></o:p></span></p>
		<p class="auto-style1"><b style="mso-bidi-font-weight: normal">
		<span style="font-size: 14.0pt">1.- Ngữ cảnh<o:p></o:p></span></b></p>
		<p class="auto-style1"><span style="font-size: 14.0pt">Trong cấu trúc 
		văn chương của TM Mt, đoạn văn 22,34-40 phải được coi như một bài tường 
		thuật về một cuộc tranh luận nữa của Đức Giêsu với các đối thủ, là các 
		đại diện Do Thái giáo chính thức. Họ tìm cách gài bẫy Đức Giêsu bằng 
		chính những lời nói của Người (cc. 15 và 35) về những vấn đề ngày càng 
		thêm quan trọng: nộp thuế cho Xêda, là vấn đề đặt đối lập các nhóm 
		Hêrôđê, Pharisêu và Nhiệt Thành (Quá Khích) với nhau; sự sống lại của kẻ 
		chết, là vấn đề được phái Xađốc đặt ra; điều răn lớn nhất, là mối bận 
		tâm của người Do Thái tuân thủ luật Môsê nghiêm nhặt, tức phái Pharisêu. 
		Các vấn đề ấy được đặt ra cho một vị Rabbi: “Thưa Thầy” (didaskale; x. 
		cc. 15.24.36); đây là danh hiệu cho thấy là họ hiểu Đức Giêsu đứng vào 
		vị trí nào. Vấn đề cuối cùng được chính Đức Giêsu nêu ra sẽ là vấn đề 
		“con vua Đavít” (22,41-46). Đây là bốn vấn đề thường được người Do Thái 
		thời Đức Giêsu tranh luận nhiều nhất.<o:p></o:p></span></p>
		<p class="auto-style1"><span style="font-size: 14.0pt">Có lẽ bản văn hôm 
		nay cũng phác lại một cuộc gặp gỡ nào đó giữa Đức Giêsu và một vị tôn sư 
		của Do Thái giáo; vị này hẳn là muốn làm sáng tỏ hoặc đào sâu các điều 
		răn. Ở Mc 12,28-34 và Lc 10,25-28, ta không thấy có giọng điệu bút chiến 
		như ở bản văn Mt (x. c. 34). Riêng trong bản văn Mt, vị thông luật hỏi 
		là để “thử” Đức Giêsu.<o:p></o:p></span></p>
		<p class="auto-style1"><b style="mso-bidi-font-weight: normal">
		<span style="font-size: 14.0pt">2.- Bố cục<o:p></o:p></span></b></p>
		<p class="auto-style1"><span style="font-size: 14.0pt">Bản văn có thể 
		chia thành ba phần:<o:p></o:p></span></p>
		<p class="auto-style1"><span style="font-size: 14.0pt">1) Câu chuyển 
		tiếp: Người Pharisêu quy tụ lại (22,34);<o:p></o:p></span></p>
		<p class="auto-style1"><span style="font-size: 14.0pt">2) Câu hỏi về 
		điều răn trọng nhất: mục tiêu và nội dung (22,35-36);<o:p></o:p></span></p>
		<p class="auto-style1"><span style="font-size: 14.0pt">3) Câu trả lời 
		của Đức Giêsu (22,37-40).<o:p></o:p></span></p>
		<p class="auto-style1"><b style="mso-bidi-font-weight: normal">
		<span style="font-size: 14.0pt">3.- Vài điểm chú giải<o:p></o:p></span></b></p>
		<p class="auto-style1"><b style="mso-bidi-font-weight: normal">
		<i style="mso-bidi-font-style: normal"><span style="font-size: 14.0pt">- 
		Điều răn nào là điều răn trọng nhất</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		(36): Do Thái giáo vẫn đang đi tìm một nguyên tắc thống nhất. Các kinh 
		sư cũng tìm cách xác lập một hệ thống tổng hợp với các đường hướng chủ 
		đạo: Đavít xác định mười một điều (Tv 15,2-5), Isaia sáu (Is 33,15), 
		Mikha ba (Mk 6,8), Amốt hai (Am 5,4), và Khabacúc một (Kb 2,4). Đây là 
		bản tóm lược của Rabbi Simbai (tk iii).<o:p></o:p></span></p>
		<p class="auto-style1"><b style="mso-bidi-font-weight: normal">
		<i style="mso-bidi-font-style: normal"><span style="font-size: 14.0pt">- 
		yêu mến</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> (37): Động từ 
		Híp-ri ’âhav có một loạt ý nghĩa, từ tình yêu tính dục đến tình yêu đới 
		với người trong gia đình, đối với bạn bè, sự trung thành trong đời sống 
		chính trị đến tình yêu đối với Thiên Chúa. Theo cách giải thích của 
		người Do Thái về Đnl 6,5, “tình yêu đối với Thiên Chúa” được diễn tả 
		trước tiên bằng những hành vi vâng phục, trung thành với Torah. Yêu mến 
		Thiên Chúa là hy sinh mạng sống vì các điều răn của Người.<o:p></o:p></span></p>
		<p class="auto-style1"><b style="mso-bidi-font-weight: normal">
		<i style="mso-bidi-font-style: normal"><span style="font-size: 14.0pt">- 
		hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		(37): Theo nhân học Híp-ri, “trái tim” (lòng) là cơ sở của tình cảm; còn 
		“linh hồn” là phương diện sinh lực của con người. “Trí khôn” (dianoia) 
		là từ Hy Lạp cũng có ý nghĩa như “trái tim” theo ngôn ngữ Híp-ri. Tác 
		giả Mt đã lấy từ Mc 12,30 (“lòng, linh hồn, trí khôn và sức lực”), nhưng 
		bỏ “sức lực” và chọn giữ lại “trí khôn” để có bộ ba. Cả ba danh từ này 
		được dùng theo nghĩa tổng hợp: tình yêu đối với Thiên Chúa phải trọn 
		vẹn, huy động tất cả con người, thậm chí phải chết.<o:p></o:p></span></p>
		<p class="auto-style1"><b style="mso-bidi-font-weight: normal">
		<i style="mso-bidi-font-style: normal"><span style="font-size: 14.0pt">- 
		yêu người thân cận</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> (39): 
		Ngữ cảnh của Lv 19,11-18 là như sau: Đây là những điều khoản luân lý căn 
		bản của Thiên Chúa liên hệ đến người thân cận, kể cả người yếu thế về 
		mặt xã hội hoặc một đối thủ tại tòa án. Song song với “yêu” là: không 
		trộm cắp, cư xử sai lệch, nói dối, thề gian, lừa gạt, cướp đoạt, nguyền 
		rủa, xét xử bất công, vu khống, thù ghét. Lv 19,34 thêm: không vi phạm 
		quyền lợi của tha nhân.<o:p></o:p></span></p>
		<p class="auto-style1"><b style="mso-bidi-font-weight: normal">
		<i style="mso-bidi-font-style: normal"><span style="font-size: 14.0pt">- 
		thân cận</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> (39): Theo bản 
		văn căn bản Lv 19,18 và theo hầu như cách giải thích Lv 19,18 của toàn 
		thể Do Thái Paléttina, “thân cận” (đồng loại) đây là người Israel mà 
		thôi, những người đã được Thiên Chúa ban Lề Luật cho. Chỉ những người 
		ngoại quốc đang sống tại đất Israel, cũng đước áp dụng một nền công lý 
		này, mới được kể vào số “người thân cận” (Lv 19,34); sau này, chỉ những 
		người dự tòng mới được coi như thế. Đức Giêsu theo truyền thống Mt đã mở 
		rộng nghĩa của từ ngữ này mà áp dụng cho tất cả mọi người (x. Mt 
		5,43-48; 7,12; 19,19).<o:p></o:p></span></p>
		<p class="auto-style1"><b style="mso-bidi-font-weight: normal">
		<i style="mso-bidi-font-style: normal"><span style="font-size: 14.0pt">- 
		Tất cả Luật Môsê và các sách ngôn sứ</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		(40): Đức Giêsu không chỉ đặt hai điều răn này đứng đầu 613 quy định của 
		Luật Môsê, như thể ở bên cạnh các quy định ấy; Người còn làm thành một 
		tổng hợp. “Luật và các Ngôn sứ” là cách gọi tên bộ Kinh Thánh Do Thái 
		(tức Cựu Ước thu hẹp), cũng có thể hiểu là ý muốn của Thiên Chúa đã được 
		ghi giữ trong Kinh Thánh.<o:p></o:p></span></p>
		<p class="auto-style1"><b style="mso-bidi-font-weight: normal">
		<span style="font-size: 14.0pt">4.- Ý nghĩa của bản văn<o:p></o:p></span></b></p>
		<p class="auto-style1"><b style="mso-bidi-font-weight: normal">
		<i style="mso-bidi-font-style: normal"><span style="font-size: 14.0pt">* 
		Câu chuyển tiếp: Người Pharisêu quy tụ lại</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		(34)<o:p></o:p></span></p>
		<p class="auto-style1"><span style="font-size: 14.0pt">Bản văn hôm nay 
		vẫn nằm trong chiều hướng các cuộc tranh luận các nhóm đại diện Do Thái 
		giáo chính thức gây ra với Đức Giêsu. Tuy vậy, các hoàn cảnh tiêu cực 
		này vẫn không ngăn cản Đức Giêsu cống hiến những mạc khải hoặc giáo huấn 
		quan trọng.<o:p></o:p></span></p>
		<p class="auto-style1"><span style="font-size: 14.0pt">Để đáp lại tin 
		tức về sự thất bại của phái Xađốc, người Pharisêu đã họp nhau lại.<o:p></o:p></span></p>
		<p class="auto-style1"><b style="mso-bidi-font-weight: normal">
		<i style="mso-bidi-font-style: normal"><span style="font-size: 14.0pt">* 
		Câu hỏi về điều răn trọng nhất (35-36)<o:p></o:p></span></i></b></p>
		<p class="auto-style1"><span style="font-size: 14.0pt">Một người thông 
		luật trong nhóm đã hỏi để “thử” (peirazôn) Người (c. 35), như họ đã từng 
		làm (x. Mt 22,15.18). Tuy nhiên, câu hỏi này cũng có lý do của nó: các 
		trường phái và các vị thầy Israel vẫn đang cống hiến những lối phân phối 
		và giải thích Lề Luật (Torah) khác nhau. Họ đã phân tích Luật ra thành 
		613 điều khoản khác nhau. Các kinh sư đã chọn chủ trương giữ luật thật 
		chi li (“vị luật”). Xu hướng vị luật tỉ mỉ này làm phát sinh khi thì 
		niềm vui do tuân giữ được trọn vẹn các điều khoản, khi thì sự tự mãn 
		kiểu Pharisêu (x. Lc 15,29), khi thì sự lo lắng vì không tuân giữ được 
		tất cả (x. Mt 19,18). Dù sao, cần phải tìm ra một nguyên tắc thống nhất 
		giúp người ta biết định hướng trong cuộc đời và nhất là biết cách quyết 
		định trong các chọn lựa thực tiễn. Vì thế, câu hỏi của vị thông luật để 
		“thử” Đức Giêsu có lý do: không chỉ là một tranh luận lý thuyết nhà 
		trường, nhưng cũng có một nhu cầu thực tế. Bởi vì có khi họ đã phải chỉ 
		cho biết những điều răn nào không được vi phạm, cho dù người ta có bị 
		giết, hoặc phải dạy điều gì là quan trọng nhất đối với Lề Luật và các 
		điều răn này dẫn xuất từ các điều răn khác thế nào. Vì vậy, họ có nói 
		tới một kơlal (tiếng Híp-ri có nghĩa là phổ quát tính, nguyên tắc căn 
		bản, tóm tắt, danh hiệu) và một guph (tiếng Híp-ri có nghĩa là phần 
		thân, phần cốt yếu) trong Lề Luật.<o:p></o:p></span></p>
		<p class="auto-style1"><b style="mso-bidi-font-weight: normal">
		<i style="mso-bidi-font-style: normal"><span style="font-size: 14.0pt">* 
		Câu trả lời của Đức Giêsu (37-40)<o:p></o:p></span></i></b></p>
		<p class="auto-style1"><span style="font-size: 14.0pt">Câu trả lời của 
		Đức Giêsu cũng chẳng độc đáo, dù là trong lời nhắc lại giới răn tình yêu 
		đối với Thiên Chúa, hay trong lời nhắc nhớ về tình yêu đối với người 
		thân cận. Cả hai điều răn này đều được nói đến trong Lề Luật, và bất cứ 
		người Israel tốt lành nào cũng đều ghi nhớ mà tuân giữ. Đức Giêsu đã chỉ 
		làm một việc là trích sách Đệ nhị luật (6,4-5) và Lêvi (19,18). Nếu có 
		lạ là ở chỗ Người đã đặt hai điều răn này ngang hàng với nhau: “cũng 
		giống” (homoia) có nghĩa là điều răn thứ hai cũng đáng được quan tâm 
		tuân giữ như đối với điều răn thứ nhất, tức là Người nối kết hai điều 
		răn với nhau và dành cho chúng vị trí cao nhất. Hơn nữa, Đức Giêsu còn 
		tuyên bố rằng “tất cả Luật (Môsê) và các sách ngôn sứ đều tùy thuộc vào 
		hai điều răn ấy”, có nghĩa là hai điều răn này diễn tả trọn vẹn thánh ý 
		Thiên Chúa trong Kinh Thánh, do đó hàm chứa tất cả mọi điều răn khác, 
		hay là tất cả các điều răn khác quy về hai điều răn này. Như thế yêu mến 
		người thân cận có nghĩa là phải dành cho người thân cận một sự chăm sóc, 
		một tình yêu y như dành cho Thiên Chúa. Nói cách khác, người thân cận 
		cũng phải được yêu mến “hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn”. Không 
		cần phải phân biệt giữa ba từ ngữ này, bởi vì hy-ngữ thường dùng hai từ 
		“trái tim” và “trí khôn” để dịch từ lev Híp-ri (= trái tim). Câu văn có 
		nghĩa là phải vận dụng tất cả bản thân mà yêu mến Thiên Chúa.<o:p></o:p></span></p>
		<p class="auto-style1"><span style="font-size: 14.0pt">Như vậy, câu trả 
		lời của Đức Giêsu đã rõ. Phải yêu mến người khác với trọn vẹn bản thân 
		mình, tức là trong thực tế không chỉ bằng lời nói, còn về phương diện 
		con người, bằng cách giúp đỡ tận tình, nồng nhiệt. Cách đặt ngang hàng 
		hai điều răn như thế, chúng ta đã thấy trong Bài Giảng trên núi, trong 
		đó Đức Giêsu mời gọi người ta làm hành vi phượng tự sau khi đã giao hòa 
		với người anh em (5,23-24) và yêu mến cả kẻ thù như Thiên Chúa yêu họ 
		(5,44-48).<o:p></o:p></span></p>
		<p class="auto-style1"><span style="font-size: 14.0pt">Có thể nói ở c. 
		40, tác giả Mt tóm tắt cái nhìn của ngài về hai điều răn trọng nhất. 
		Công thức “ Luật (Môsê) và các sách ngôn sứ” đưa chúng ta trở lại với 
		hai đoạn trung tâm ở 5,17 và 7,12. Ở đó, bản văn nói rằng Đức Giêsu làm 
		trọn Lề Luật và các ngôn sứ, và cả hai khối này tập trung vào hoàng kim 
		quy tắc. Như vậy, c. 40 hàm ý là Lề Luật và các sách ngôn sứ được hoàn 
		tất qua Đức Giêsu. Đồng từ “tùy thuộc vào” (kremannymi en) cho chúng ta 
		biết quan niệm của tác giả Mt về Lề Luật. Hai điều răn này, cũng như 
		hoàng kim quy tắc, chính là nguyên tắc căn bản hướng dẫn việc giải thích 
		bài Giảng trên núi, cũng như Lề Luật và các sách ngôn sứ.<o:p></o:p></span></p>
		<p class="auto-style1"><b style="mso-bidi-font-weight: normal">
		<span style="font-size: 14.0pt">+ Kết luận<o:p></o:p></span></b></p>
		<p class="auto-style1"><span style="font-size: 14.0pt">Câu trả lời của 
		Đức Giêsu không phải là câu trả lời của một kinh sư, dù Người được các 
		người Pharisêu coi như thế. Đây là câu trả lời của vị Chúa Tể Lề Luật. 
		Chính Người công bố Luật và chính Người hoàn tất Luật (x. 5,17). Chính 
		do sự kiện Đức Giêsu hoàn tất Luật mà Người mang lại cho Luật tính chất 
		mới mẻ đích thật. Tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với tha 
		nhân không phải chỉ là những thái độ con người bị buộc phải có; hai tình 
		yêu này nhập thể nơi bản thân Đức Giêsu. Chính vì Người đã đến dùng cuộc 
		đời, cái chết và sự sống lại của Người mà hoàn tất “Luật và các Ngôn 
		sứ”, mà Người có thể công bố với giọng uy quyền rằng toàn thể Giao ước 
		cũ đều “tùy thuộc” vào việc yêu mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân. 
		Chính nơi Người mà không những Lề Luật, dưới dạng điều răn, mà cả lời 
		hứa ân phúc, được các Ngôn sứ loan báo, đã được thực hiện trọn vẹn.<o:p></o:p></span></p>
		<p class="auto-style1"><b style="mso-bidi-font-weight: normal">
		<span style="font-size: 14.0pt">5.- Gợi ý suy niệm<o:p></o:p></span></b></p>
		<p class="auto-style1"><span style="font-size: 14.0pt">1. Khi tuyên bố 
		về điều răn trọng nhất (“hai trong một”), Đức Giêsu đã công bố sự giải 
		phóng tuyệt vời cho con người. Bây giờ, ta chỉ còn phải tuân giữ hai 
		điều mà thôi. Người nào chu toàn thật sự những gì được yêu cầu trong hai 
		điều răn này thì có thể chắc chắn là đã hoàn tất Lề Luật và thực hiện ý 
		muốn của Thiên Chúa (x. Mt 7,12; Gl 5,14; Rm 13,8-10). Đây chính là điều 
		Thiên Chúa nhắm khi tạo thành con người. Họ được tạo nên để vâng phục 
		Thiên Chúa như chủ và chúa của mình, và cũng để yêu thương Người như cha 
		của mình. Thế mà sự vâng phục chỉ nên trọn vẹn trong tình yêu mà thôi.<o:p></o:p></span></p>
		<p class="auto-style1"><span style="font-size: 14.0pt">2. Người thân cận 
		không phải chỉ là người thuộc về cùng một dân tộc, ở trong cùng một quốc 
		gia, nói cùng một ngôn ngữ. Bất cứ ai cũng có thể là người thân cận của 
		tôi, nhưng không phải lúc nào cũng thế. Tránh né luật yêu thương bằng 
		cách nói đến những người thân cận ở xa, để lơ đi những người ở bên mình 
		đang cần được mình quan tâm, là một cám dỗ dễ rơi vào. Chính tình yêu 
		của chúng ta đối với Thiên Chúa và tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng 
		ta phải là mẫu mực cho tình yêu của con người đối với nhau.<o:p></o:p></span></p>
		<p class="auto-style1"><span style="font-size: 14.0pt">3. Yêu thương anh 
		em không phải chỉ bởi vì Thiên Chúa yêu cầu, để vâng lời Thiên Chúa. 
		Liên hệ giữa hai tình yêu này không phải là một liên hệ pháp lý, võ 
		đoán, mà là liên hệ nội tại: ta không thể yêu mến Thiên Chúa nếu không 
		yêu thương anh em. Trong khi yêu thương người khác vì chính họ, ta yêu 
		mến Thiên Chúa vì chính Người. Chỉ có một tình yêu duy nhất, vì con 
		người chỉ có một con tim. Ta có thể suy ngẫm lại bài thánh ca đức mến 
		của thánh Phaolô để thêm xác tín về điểm này (1 Cr 13,4-6).<o:p></o:p></span></p>
		<p class="auto-style1"><span style="font-size: 14.0pt">4. Sự liên kết 
		giữa tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với người thân cận, 
		đồng thời sự khác biệt giữa hai tình yêu đó, giúp ngăn cản một sự tách 
		biệt giữa tôn giáo và xã hội, giữa bản tính bên trong và đời sống bên 
		ngoài. Yêu mến bản thân mình có thể được nhờ tình yêu đối với Thiên 
		Chúa; chính tình yêu đối với Thiên Chúa đưa tới chỗ không tuyệt đối hóa 
		bản thân, mà lại có một sự nội tâm hóa mới, đồng thời có một tình yêu 
		nồng nàn hơn đối với người thân cận.<o:p></o:p></span></p>
		</td>
	</tr>
	<tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
		&nbsp;</td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/SuyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">
&nbsp;</p>

PHP File Manager