File "06.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2020/Mua-Thuong/CN XXV TN A/06.htm
File size: 20 KiB (20476 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật XXV thường niên - Năm A</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật XXV thường niên - Năm A; Chủ vườn nho; Đừng so sánh; Tôi không bất công; Lòng tốt Thiên Chúa; Lòng quảng đại;"><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
	{color:blue;
	text-decoration:underline;
	text-underline:single;
	text-decoration:none underline;
	text-line-through:none;
	vertical-align:baseline}
span.apple-converted-space
	{}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật XXV thường niên - Năm A"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">
	Chúa Nhật XXV thường niên - Năm A</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
	<b>
		TÌNH YÊU VƯỢT XA CÔNG LÝ</b></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
		<a name="_Toc303679752">
		<span style="font-size: 8pt; font-style:italic; font-weight:400">Chú giải của Fiches Dominicales</span></a></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">1. Bảo vệ quyền lợi và đặc quyền</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Sau khi Phêrô tuyên xưng đức tin tại 
		Xêsarê Philipphê, Đức Giêsu trước khi lên Giêrusalem, đã loan báo lần 
		đầu tiên về cuộc khổ nạn sắp tới, Ngài không quên cảnh báo các môn đệ: 
		“Ai muốn theo Thầy, hãy bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Thầy”. Tại 
		Caphanaum, Ngài đã phác hoạ khuôn mặt của cộng đoàn mà Ngài sáng lập 
		phải có, nếu cộng đoàn ấy muốn phản ánh hình ảnh của “Cha trên trời”. 
		Một cộng đoàn biết quan tâm tới “những kẻ bé mọn”; một cộng đoàn huynh 
		đệ biết giúp đỡ thương xót và tha thứ cho nhau.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Hôm nay Ngài đến Giuđêa, bên kia sông 
		Giođăng (19,1) tại đó Ngài bắt đầu dạy cho những kẻ theo Ngài biết sự 
		đảo nghịch mà họ phải đi tới. Sự đảo nghịch có trong mọi lãnh vực đời 
		sống, đời sống vợ chồng, thái độ với trẻ em, mối liên hệ với của cải vật 
		chất (19, 3-39). Dụ ngôn những người thợ làm vườn nho giờ thứ mười một 
		-Phúc âm Chúa nhật XXV Thường niên- cho ta một minh hoạ về sự đảo nghịch 
		Phúc âm này. Thoạt tiên, dụ ngôn này gây phẫn nộ nơi công chúng quen có 
		mặt trong các buổi quy tụ ngày Chúa nhật, vẫn nhạy cảm với việc bảo vệ 
		quyền lợi xã hội và với vết thương do nạn thất nghiệp gây ra. Đức Cha L. 
		Daloz tự hỏi: “Dụ ngôn đó không chống lại tất cả những quy tắc về công 
		bình phân phối và về quản lý tốt đẹp đó sao. Ai đời đi thuê mướn thợ vào 
		các giờ giấc khác nhau rồi cuối cùng trả lương cho người cuối cùng cũng 
		bằng người đầu tiên! Tự nhiên ta dễ đồng ý với những người mong được trả 
		nhiều hơn, lẩm bẩm kêu trách chủ: “Những người đến sau cùng chỉ làm việc 
		có một giờ mà ông đối xử cũng thư chúng tôi, trong khi chúng tôi phải 
		chịu vất vả, nóng nực suốt ngày”. Nếu dụ ngôn muốn dạy ta rằng đó là 
		cung cách hành xử của Thiên Chúa, thì chúng ta phải thất vọng. Trong 
		Phúc âm, có những lời của Đức Giêsu rất bí hiểm, nếu không nói là gây 
		vấp phạm ta cảm thấy đồng ý với phản ứng của người anh của đứa con phung 
		phá khi nó trở về, người cha dọn tiệc ăn mừng, dù nó đã phung phí hết 
		tiền bạc. Ta không hiểu làm sao những phường trộm cắp, đĩ điếm lại vào 
		Nước Trời trước chúng ta. Ta khó mà chấp nhận cung cách hành xử của 
		người chủ vườn nho. Để kết thúc dụ ngôn, Đức Giêsu đã rút ra, một kết 
		luận: “Vậy những kẻ sau cùng sẽ trở lên trước hết, và những kẻ trước hết 
		sẽ trở lên sau cùng”. Ta muốn la lên: không công bình! Vậy thì trung 
		tín, chung thuỷ có ích gì? Tội gì mà chịu cực giữ luật Thiên Chúa, nếu 
		Ngài ban Nước Trời cho những kẻ đến sau cùng, chẳng chịu nắng nôi khó 
		nhọc gì, ta cần phải tìm hiểu dụ ngôn này.”</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Việc quan trọng nhất là phải xác định cử 
		tọa mà dụ ngôn nhằm nói với. Ở đây Đức Giêsu nói với người Do Thái, đúng 
		hơn, với những thành phần ưu tuyển trong tôn giáo của họ: những biệt 
		phái và luật sĩ vừa tức giận vì thái độ của Đức Giêsu đối với những 
		người thu thuế, những người tội lỗi, vừa ghen tương vì sự quan tâm mà 
		Đức Giêsu bày tỏ với họ. Một bối cảnh rất gần với dụ ngôn người cha và 
		hai con trai ở Lc 15 mà dụ ngôn này có nhiều điểm tương đồng. Đức Giêsu 
		không hề muốn đụng chạm tới lãnh vực công bình xã hội. Điều Ngài tìm 
		kiếm là, qua dụ ngôn nghịch lý này, dẫn các thính giả tới chỗ tự tra vấn 
		về mối tương quan của họ với Thiên Chúa và với anh em: cả họ nữa, họ đã 
		chẳng bị cám dỗ co lại trong đặc quyền đặc lợi của họ, không còn biết 
		kinh ngạc trước lòng quảng đại kỳ diệu của Thiên Chúa đối với mọi người 
		và hoa trái của ân sủng Người nơi anh em họ đó sao?</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Câu chuyện khởi đầu rất bình thường. 
		“Nước Trời giống như ông chủ vườn nho sáng sớm ra chợ thuê người 
		làm...”? ông chủ vườn nho này “ra đi” nhiều lần (cũng như người cha. 
		trong dụ ngôn của Luca 15 ra nhiều lần) vào những giờ khác nhau để nhắc 
		lại lời mời gọi: “Hãy vào làm vườn nho cho ta”, chẳng có gì đặc biệt 
		khiến ta phải chú ý, cho tới lúc, bất chấp những luật lệ sơ đẳng về lợi 
		nhuận, ông còn ra chợ “vào lúc 5 giờ chiều”, trong khi mặt trời sắp lặn 
		nhường chỗ cho bóng đêm? Ta vẫn còn chưa hết ngạc nhiên! Vào lúc chiều 
		tối, thay vì trả công cho người làm sớm nhất và để cho họ ra về, ông chủ 
		lại ra lệnh cho viên quản lý trả lương &#39;bắt đâu từ những người làm sau 
		hết và kết thúc bằng những người làm đầu tiên”, họ sẽ là chứng nhân cho 
		cử chỉ của ông? Những người được thuê vào lúc 5 giờ chiều tiến đến và 
		nhận “mỗi người 1 đồng bạc”. Những người đầu tiên, đã chịu cực khổ suốt 
		ngày, tò mò quan sát cảnh tượng và hy vọng sẽ được trả “nhiều hơn”. 
		Nhưng khi đến phiên họ, họ cũng chỉ nhận được một đồng bạc như hợp đồng 
		lúc thuê mướn. Từ im lặng, ngạc nhiên đến “lẩm bẩm kêu trách”: “Họ lẩm 
		bẩm kêu trách ông chủ”. Những tiếng lẩm bẩm khiến ta nhớ lại tiếng lẩm 
		bẩm của đứa con trưởng khi cha long trọng đón tiếp đứa con phung phá trở 
		về (Lc 15). Những tiếng lẩm bẩm hoà nhịp với tiếng lẩm bẩm của con cái 
		Israel suốt thời gian băng qua sa mạc, và tiếng lẩm bẩm của bọn biệt 
		phái và luật sĩ khi nhìn thấy thái độ của Đức Giêsu đối với nhưng người 
		thu thuế và tội lỗi họ lẩm bẩm kêu trách Ngài: “Người này tiếp đón kẻ 
		tội lỗi là ăn uống với họ” (Lc 15). Điều khiến những người thợ đầu tiên 
		bất mãn đó là thấy những kẻ “chỉ làm việc một giờ” lại được đối xử ngang 
		hàng với họ: “ông đối xử với họ cũng như chúng tôi”. Việc làm đã xong, 
		những điều kiện trong đó họ làm việc chẳng đem lại cho họ đặc quyền đặc 
		lợi nào, so với những người khác, “những người cuối cùng này” mà họ nói 
		đến với sự khinh miệt y như đứa con trưởng trong dụ ngôn ở Luca 15: 
		“Thằng con trai cha đó” (Lc 15,30) hoặc người biệt phái trong Luca 18: 
		“tên thu thuế kia”.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">2) … hay ngây ngất vì ơn Thiên Chúa ban 
		nhưng không cho mọi người.</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Ông chủ vườn nho nói với người phát ngôn 
		của những người thợ bất mãn: “Hay là bạn bất bình vì tôi nhân lành”. 
		Giống như anh cả của đứa em hoang đàng, những người thợ làm giờ đầu tiên 
		là biểu tượng cho tất cả những ai nhân danh quyền lợi tự cho là nhận 
		được từ Thiên Chúa, nhân danh cái gọi là đặc quyền, ngạc nhiên và vấp 
		phạm vì thái độ của Đức Giêsu đối với những người tội lỗi: đó là những 
		người biệt phái và luật sĩ của hôm qua… và cả hôm nay nữa. Làm như ơn 
		cứu độ không phải là ân huệ ngoại thường và nhưng không, vượt xa sự xứng 
		đáng của ta muôn trùng. Đức Giêsu tự đứng về phía ông chủ vườn nho cũng 
		như về phía người cha đón tiếp đứa con trai đã mất mà nay lại tìm thấy. 
		Thái độ của hai nhân vật này phản ánh lối sống của họ, lối sống bị người 
		ta chê trách. Với những người phản đối thái độ của Ngài đối với người 
		tội lỗi Ngài dám tuyên bố: Thiên Chúa không hành động khác hơn! Thiên 
		Chúa giống như người Cha ăn mừng đứa con trở lại, như ông chủ vườn nho 
		trả lương cho người thợ làm sau cùng cũng bằng người thợ làm đầu tiên. 
		Chắc chắn khi thuật lại dụ ngôn này của Đức Giêsu, Matthêu muốn áp dụng 
		nó vào Giáo Hội thời đó: “Những người đầu tiên” là những người Do Thái; 
		“những người cuối cùng”, dân ngoại đã nhận được cái mà Israel coi như 
		đặc quyền. Claude Tassin kết luận: Vậy, dụ ngôn nhắm tới những người có 
		phản ứng giống như phản ứng của đứa con trai cả trong truyện người con 
		phung phá. Thiên Chúa đã quyết định tỏ sự âu yếm đối với những người tội 
		lỗi đó là lý do tại sao Đức Giêsu, sứ giả của Ngài, lại thích gần những 
		người này đến thế, điều đó gây phẫn nộ cho một số người công chính vì họ 
		tự coi mình có quyền được Thiên Chúa quan tâm hơn những phường chẳng ra 
		gì kia, đâu quan tâm gì đến phục vụ Trời - làm như thể khi cứu vớt những 
		người tội lỗi, Thiên Chúa đã lấy đi điều gì của những kẻ trung thành. 
		Trái với bài học mà tác giả Phúc âm rút ra. Dụ ngôn không hạ “những 
		người đầu tiền” xuống hàng “những người sau cùng”, nhưng dụ ngôn chỉ 
		nhấn mạnh đến sự bình đẳng làm phát sinh ơn phúc lạ thường cho người tội 
		lỗi.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">BÀI ĐỌC THÊM:</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">1. Công bình kỳ cục</span></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		(G. Boucher, La terre parle au ciel) Công bình! Ta gọi ngươi bằng tất cả 
		khát vọng. Ta đấu tranh vì một thế giới công bình hơn. Ta phát động cách 
		mạng để đập tan bất công. Thậm chí ta còn nói tới thật là ghê tởm- cuộc 
		chiến tranh chính nghĩa. Các toà án của ta đó để thực thi công bình. Lời 
		cầu nguyện của ta kêu lên tới Chúa để cho người nghèo, người bị bóc lột 
		được lắng nghe. Niềm vinh dự của các xã hội, các quốc gia là tạo lập 
		được một hiến pháp, nhưng luật lệ và những cơ chế giúp cho trật tự công 
		bình tiến bộ. Do đâu dụ ngôn Phúc âm bắt ta làm ngược lại? Do đâu khi 
		đọc dụ ngôn lần đầu ta khó chịu như những người thợ làm đầu tiên dã khó 
		chịu, họ tự cho mình và nạn nhân của một sự bất công. Đối với con người, 
		thực thi công bình không phải là trả cho mỗi người điều gì thuộc về họ, 
		theo sức lao động và giả trị của họ sao? Nhưng trong khuôn khổ Nước Trời 
		lại là chuyện khác: có một Đấng tên là Thiên Chúa, là sự viên mãn? ban 
		cho mọi người những gì chính đáng. Thiên Chúa công chính hoá những ai 
		mong muốn. Ngay từ giờ đầu tiên. Ngay từ phút khởi đầu. Nhưng cũng có 
		khi ở nữa đời người, thâm chí cả ở phút chót của cuộc đời nữa. Thiên 
		Chúa kêu mời mọi người hãy đến để được công chính hoá như người ta nhận 
		một quà tặng, một ân ban. Có người trả lời ngay tức khắc từ lúc rạng 
		đông. Có kẻ chỉ nghe được lời đề nghị ở giữa ngày. Đôi khi mãi đến cuối 
		ngày có người mới nhận ra cơ may Chúa ban mà theo ngôn ngữ bác học, ta 
		gọi là ân sủng. Thiên Chúa làm cho nên công chính như ta trở nên trong 
		suất khi ta ở trong ánh sáng. Thiên Chúa biến ta nên công chính như 
		chính Ngài là Đấng công chính, điều đó không có gì giống với những mô 
		hình nhân loại. Bởi vậy ai nhận biết mình được Thiên Chúa công chính hoá 
		sẽ chỉ có thể mừng vui khi thấy ân phúc đó đến với người láng giềng, 
		người đối thủ, người đối địch... vì lối sống của Thiên Chúa đã thấm nhập 
		đời anh. Thời giờ chẳng có gì quan trọng. Ta chỉ có thể cầu mong cho mọi 
		người biết nắm lấy cơ may của mình, những người cùng sống trong chung cư 
		những bạn đồng nghiệp, những người thân và cả những người không thân 
		nữa. Sự công bình theo nghĩa của Thiên Chúa chỉ được thực hiện khi ta 
		biết nắm bắt cơ may của mình, như người thợ giờ thứ 11 đã chọn đi làm 
		việc. Và qua kinh nghiệm, ta biết rằng, để lãnh được lô độc đắc của 
		Thiên Chúa, không có gì bằng một biến cố thúc bách ta, một chứng từ chất 
		vấn ta, phần ta hãy biết đón nhận ân sủng mà Thiên Chúa ban cho và sống 
		sao cho mọi người chung quanh ta khao khát được ân sủng ấy, lương bổng 
		ấy.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">2. Một ví dụ khiêu khích bắt ta phải tự 
		vấn</span></b><span style="font-size: 14.0pt"> (MGT. L. Daloz, Le Règne 
		des cieux siest approché DDB).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Đức Giêsu lấy làm gương thái độ của 
		người chủ đối với thợ của mình, thực là một ví dụ khiêu khích, chứng 
		minh điều Thiên Chúa không là, không giống như ta tưởng. Ngài hành động 
		không theo cách ta làm. Ngài tốt lành vượt xa các ông bố trần gian muôn 
		trùng. Nhờ đó, Đức Giêsu cho ta chứng nghiệm được tình yêu của ta hẹp 
		hòi biết bao: “Bạn bất bình vì tôi nhân lành ư?”. Dụ ngôn này dạy ta 
		biết Thiên Chúa, nhưng cũng biết chính mình. Nếu ta thấy đồng tình với 
		những người thợ lẩm bẩm kêu trách, không phải vì ta đã tưởng tượng Thiên 
		Chúa theo thước đo của ta, và muốn đóng khung Ngài trong những quan niệm 
		chật hẹp của tình yêu giới hạn của ta sao? Dụ ngôn của Đức Giêsu trước 
		hết là nói với dân Do Thái, họ là những người được kêu gọi trước hết, 
		rồi mới tới dân ngoại. Dụ ngôn soi sáng tình trạng các cộng đoàn đầu 
		tiên, trong đó những người từ đa thần giáo tới sau cũng có cùng quyền 
		lợi như các tín hữu gốc Do Thái. Ngày nay, vấn đề vẫn còn đó, tuy hoàn 
		cảnh có khác Giáo huấn của Đức Giêsu vẫn luôn có cùng mục đích, cùng 
		hiệu quả: Ngài mạc khải sự cao thượng của tình yêu Thiên Chúa “chiều 
		cao, chiều rộng và chiều sâu của tình yêu ấy”. Tình yêu ấy thay đổi 
		đường lối của ta, mở rộng lòng ta. Phản ứng của ta thường là giới hạn 
		tình yêu ấy theo khuôn thước của ta. Nhưng “giới hạn của tình yêu là yêu 
		không giới hạn”! Sau cùng, sứ điệp của dụ ngôn phải chăng không nằm 
		trong những từ ngữ đơn sơ này, chúng nói với ta về Thiên Chúa: “Ta nhân 
		lành”. Hơn cả lương bổng, điều quan trọng là tiếng gọi, luôn luôn đổi 
		mới từng ngày, từng giờ, ở mọi thời trong lịch sử cũng như ở mọi lứa 
		tuổi của đời người, tiếng gọi này không gạt ai ra ngoài lề đó là ân sủng 
		cho những người đầu tiên cũng như cho những người cuối cùng, tiếng gọi 
		của Thiên Chúa nói với con người mà Ngài yêu thương không mỏi mệt và 
		Ngài muốn rằng không ai bị bỏ quên: “Nào, cả anh nữa, hãy đến làm vườn 
		nho cho tôi”.</span></p>
		</td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/SuyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">&nbsp;</p>

PHP File Manager