File "36.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2020/Mua-Thuong/CN XX TN A/36.htm
File size: 12.75 KiB (13053 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật XIX thường niên - Năm A</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật XIX thường niên - Năm A; Con thuyền Giáo hội; Biển đời; Đức tin sóng gió; Xin cứu tôi; gió yên lặng; Chúa đi trên biển."><style>
<!--
.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
{color:blue;
text-decoration:underline;
text-underline:single;
text-decoration:none underline;
text-line-through:none;
vertical-align:baseline}
span.apple-converted-space
{}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật XIX thường niên - Năm A"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">Chúa Nhật XX thường niên - Năm A</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
Chúa nhật XX thường niên, năm A: «DÂN NGOẠI»<br>
Quốc Vũ<br>
<br>
Bài đọc 1: Isaia 56, 1.6-7<br>
Bài đọc 2: Rôma 11, 13-15.29-32<br>
Tin Mừng: Matthêu 15, 21-28<br>
<br>
«DÂN NGOẠI» <br>
<br>
Bài đọc I: Đặc tính toàn cầu của ơn cứu độ<br>
Đây là đoạn mở ra phần thứ III của sách Isaia. Thự ra, đây là một bộ sưu
tập gồm nhiều bài ca được soạn tác bởi nhiều tác giả khác nhau «theo
trường phái ngôn sứ» sau thời lưu đày, vốn chịu ảnh hưởng bởi giáo lý
của Isaia đệ nhị.<br>
Một trong những nhiệm vụ của cộng đoàn sau thời lưu đày là tổ chức lại
việc phụng tự đền thờ theo giáo huấn của Isaia đệ nhị, khi mà «sự công
chính» của Thiên Chúa đã gần kề và ơn cứu độ sắp được thực hiện (x. Is
51,5; 45,21-25) để không chỉ khôi phục lại Israel, mà còn trở thành «ánh
sáng cho mọi dân» (Is 49,6).<br>
Bài đọc trong phụng vụ hôm nay đã chọn một số câu mặc dù cho thấy những
dấu hiệu bất đồng về quan điểm, nhưng nó thuật lại quá trình toàn cầu
hóa ơn cứu độ, vốn đã manh nha từ Isaia đệ nhị, và trở nên rõ ràng hơn
trong Isaia đệ tam.<br>
Câu 1, là sự phản chiếu những lời của Isaia đệ nhị, nhưng nghĩa của nó
lại hoàn toàn khác. Bởi lẽ, theo Isaia II, «sự công chính» của Thiên
Chúa đã được thực hiện qua biến cố dân Israel trở về sau lưu đày, nhưng
đối với tác giả của câu thơ này thì lại cho thấy «sự công chính» ấy phải
được mạc khải trong đời sống của cộng đoàn ngay lúc này.<br>
Ngoài ra, đề tài về niềm vui được nói trong câu 7 vốn là nét đặc thù của
Isaia II: đó là một «bài ca mới» (42,10-13) tương ứng với «những điều
mới» (51,11; 55,12). Nhưng ở đây, niềm vui lại được diễn tả qua việc
phụng tự trong đền thờ.<br>
Hơn nữa, trong câu 7b, chúng ta tìm thấy một lời sấm diễn tả nguyên lý
nền tảng để cấu trúc mọi hành vi phụng tự trong đền thờ. Điều đó còn gặp
thấy trong Is 2,2-4 khi mà Israel được giới thiệu như là thày dạy của
nhân loại, nhằm ngụ ý nói về một tôn giáo toàn cầu, cũng như Thiên Chúa
của toàn nhân loại, trong một tôn giáo duy nhất, trong đó mọi dân đều
chỉ tôn thờ một mình Giavê Thiên Chúa: «vì nhà của Ta sẽ được gọi là nhà
cầu nguyện của muôn dân».<br>
<br>
Bài đọc II: Lòng thương xót của Thiên Chúa không loại trừ ai.<br>
Trong những chương này, điều mà Thánh Phaolô quan tâm nhất đó là sự cứng
lòng tin của dân Israel. Tuy nhiên, bên cạnh đó, ở chương 9,27, ngài
cũng đã bóng gió nói về một tia hy vọng rằng «số sót sẽ được cứu độ». Và
hôm nay (11, 1-36), ngài nhắc lại hy vọng này, đồng thời giải thích cặn
kẽ hơn rằng không phải tất cả dân Israel đều cứng lòng tin, nhưng chỉ là
một phần rất nhỏ (11,1-10). Vì thế, việc Thiên Chúa sẽ cứu dân không
phải là chuyện của ngày sau hết, mà là ngay bây giờ (11, 11-24), và
trong chương trình cứu độ, lòng thương xót được mở ra cho mọi người, cả
những người Dothái bị loại bỏ (11, 25-32).<br>
Từ nhãn quan này của Thánh Phaolô, ta sẽ nhìn ra được chủ ý của Giáo hội
khi chọn đoạn thư này (11, 13-15. 29-32) cho phần phụng vụ hôm nay. Ở
đây ta thấy Phaolô rất hãnh diện vì được làm tông đồ cho dân ngoại.
Phaolô và những người Dothái đương thời xem sự cứng lòng tin của những
người Dothái gốc dân ngoại như là một sự phản nghịch và bất tuân. Tuy
nhiên, chính vì sự bất tuân đó lại là lý do để mạc khải lòng thương xót
của Thiên Chúa trên họ: «Quả thế, Thiên Chúa đã giam hãm mọi người trong
tội không vâng phục, để thương xót mọi người» (c. 32). Đó là lòng nhân
hậu của Thiên Chúa được mại khải cho toàn dân Israel cũng như những
người ngoại giáo, không trừ một ai (x. 8, 19-21).<br>
Điều này cho thấy tính phổ quát rõ ràng trong ngôn ngữ của Phaolô, mặc
dù tính phổ quát đó chưa được thực hiện cách tròn đầy.<br>
<br>
Bài Tin Mừng: Ai tin sẽ được cứu.<br>
Bối cảnh của câu truyện mà Matthêu kể cho chúng ta hôm nay là phần tiếp
theo sau cuộc tranh luận của Đức Giêsu với các kinh sư về vấn đề giữ
luật trong sạch khi ăn uống (15,1-20). Và câu truyện hôm nay là một
trong những cuộc tiếp xúc hiếm có của Đức Giêsu với những người ngoại
giáo (15, 21-28). Phải công nhận rằng, từ cuộc đối thoại của Đức Giêsu
với người đàn bà Cannaan, đưa chúng ta đến một sự bối rối thực sự về
thái độ tàn nhẫn của Người, khi mà bà đến nài xin Người cứu con gái bà
khỏi quỷ ám một cách rất thống thiết. Đó là lời cầu xin của một người mẹ
đứng trước nỗi đau của đứa con gái mình: «Lạy Ngài là con vua Đavít, xin
dủ lòng thương tôi! Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm» (c. 22).<br>
Người đàn bà Cannaan này đã gọi Đức Giêsu bằng danh xưng «Con vua
Đavít», là một điều không thể xảy ra đối với người ngoại giáo. Nhưng, ở
đây điều đó đã xảy ra, cho thấy thánh sử Matthêu muốn nhấn mạnh đến sự
sẵn sàng nhận biết và đón nhận tính cách Messia của Đức Giêsu nơi những
người dân ngoại, điều mà người người Dothái đã từ chối.<br>
Tuy nhiên, Đức Giê su vẫn từ chối giúp đỡ bà bằng lời khẳng định: «Tôi
chỉ được sai đến với những con chiên lạc nhà Israel mà thôi» (c. 24).
Điều này cho thấy Đức Giêsu vẫn xếp phần ưu tiên được cứu độ cho những
dân Dothái trên những người dân ngoại, mặc dù người Dothái luôn từ chối
tin vào Người.<br>
Trước thái độ dửng dưng của Đức Giêsu, người đàn bà Canaan vẫn không nao
núng; trái lại, bà càng tiến sát hơn đến Đức Giêsu bằng một cuộc đối
thoại đơn thành. Chính từ sự đơn thành trong niềm tin mà bà đã chiến
thắng. Và thánh sử Matthêu đã khép lại câu truyện bằng một kết thúc có
hậu: người đàn bà vui mừng xiết bao vì bà đã được toại nguyện.<br>
Đỉnh điểm của câu truyện này không nằm ở phép lạ, nhưng nằm ở việc người
đàn bà đã tuyên xưng đức tin của mình cách chân thành vào Đức Giêsu.
Điều này soi sáng và củng cố Giáo hội trong sứ vụ loan báo Tin Mừng cho
những vùng dân ngoại, nơi mà chính Đức Giêsu không bao giờ từ chối bất
cứ ai dám tuyên xưng và đặt trọn niềm tin vào Người: «Này bà, lòng tin
của bà mạnh thật! Bà muốn thế nào, sẽ được như vậy» (c. 33).<br>
<br>
SUY NIỆM<br>
+ Kiên trì trong cầu nguyện <br>
Câu truyện về người đàn bà xứ Canaan đã cho ta nhận ra nhiều điều trong
chính cuộc sống đức tin của mình và nơi những người khác. Quả thật, sở
dĩ người đàn bà này đạt được điều bà van xin, là vì bà đã vượt qua được
mọi trở ngại, bằng sự kiên trì, nhẹ nhàng, bình thản, nhưng cương quyết.
Động lực để bà kiên trì van xin chính là tình thương đối với đứa con nhỏ
yếu đuối. Bà trở thành đại diện cho nó; bà cũng trở thành đại diện cho
những người không thể tự mình diễn tả ra vấn đề của họ. Bà là phát ngôn
viên của những người cô thế cô thân.<br>
Trong khi đó, khi nhìn lại mình, tôi thấy dường như tôi dễ buông xuôi
trước một khó khăn, dường như tôi không có xác tín mãnh liệt về ơn gọi
của tôi để sống cho đúng mức. Quả thật, tôi lùi bước tức khắc khi vừa bị
từ chối. Có mấy khi tôi làm tốt cho một người đã cậy nhờ tôi cầu nguyện.
Dường như tôi chẳng dám lên tiếng cho những người cô thế cô thân, vì tôi
sợ liên lụy, sợ mất quyền lợi, mất chỗ đứng, mất sự tín nhiệm...<br>
<br>
+ Giáo hội – ngôi nhà chung cho mọi người<br>
Các bản văn hôm nay cho phép hiểu rằng tư cách của chúng ta là người đã
được rửa tội không phải là một quyền để chúng ta có thể phê phán hoặc
khinh bỉ người khác. Tư cách này thật ra là một ơn Thiên Chúa ban cho
chúng ta. Riêng Ngài, Thiên Chúa không hề bị ràng buộc vào bất cứ cấu
trúc tôn giáo nào hay bất cứ tư cách nào của con người. Thiên Chúa khẳng
định ý muốn của Người là muốn cứu độ mọi người và mọi dân nước. Người đã
chia sẻ ơn cứu độ cho cả dân ngoại. Người không muốn chúng ta có thái độ
hẹp hòi kỳ thị một ai. Người muốn Nhà của Người là Giáo hội phải trở
thành Nhà cầu nguyện của hết mọi dân tộc.<br>
Do đó, Giáo hội sống giữa Dân ngoại, có nhiệm vụ công bố sứ điệp của Đức
Giêsu cho họ. Như Đức Giêsu đã không giam hãm Thiên Chúa bên trong biên
cương của Israel, nhưng đã để chính mình được đánh động bởi lòng tin của
người phụ nữ ngoại giáo. Chúng ta không được gây cản trở cho một ai đến
với Giáo hội, nhưng phải luôn sẵn sàng nói và giới thiệu Chúa cho những
ai thành tâm thiện chí.<br>
<br>
Quốc Vũ</td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center"> <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a> <a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/SuyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a> </td></tr></table><p style="text-align: center"> </p>